Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

ĐÒN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC Ở SÀI GÒN - GIA ĐỊNH XUÂN MẬU THÂN 1968

 

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Sài Gòn-Gia Định là trọng điểm lớn nhất của đòn tiến công chiến lược.


Đây là nét đặc sắc về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo sáng tạo, tài mưu lược của Đảng; biểu tượng sáng ngời về ý chí và sức mạnh chiến đấu quật cường của quân và dân ta, thể hiện trên một số nội dung sau:


Một là, xác định hướng, mục tiêu táo bạo, bất ngờ và hình thức, phương pháp tiến công phù hợp. Trong các hoạt động tác chiến trước đây, ta thường chọn những nơi địch tương đối yếu ở các vùng nông thôn, đồng bằng và rừng núi làm mục tiêu tiến công chủ yếu. Lần này, ta chọn hướng tiến công chủ yếu là thành thị, nhất là các thành phố lớn, trong đó, Sài Gòn-Gia Định là hướng tiến công trọng điểm với những mục tiêu trọng yếu: Bộ Tổng Tham mưu, dinh Độc Lập, đài phát thanh, Đại sứ quán Mỹ, Bộ tư lệnh Hải quân, Biệt khu Thủ đô... Đánh vào các mục tiêu này sẽ gây tiếng vang, tác động đến cục diện chiến tranh, có lợi cho ta. Về hình thức và phương pháp tiến công, ta chọn phương thức tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt dưới nhiều hình thức, bằng nhiều lực lượng, trên các địa bàn chiến lược. Tại Sài Gòn-Gia Định, ta chia thành 6 phân khu, trong đó Phân khu 6 (các quận nội thành) tổ chức 3 cụm bảo vệ những mục tiêu được giao. Các Phân khu 1, 2, 3, 4 và 5 tổ chức thành những tiểu đoàn mũi nhọn, hình thành 5 mũi tiến công vào nội thành.


Ở vùng ven Sài Gòn, 3 sư đoàn 5, 7, 9 chủ lực Miền có nhiệm vụ đánh chặn, không cho địch cơ động ứng cứu nội thành. Chọn phương thức tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt dưới nhiều hình thức, bằng nhiều lực lượng, ta buộc địch phải căng kéo lực lượng đối phó ở khắp nơi. Điều này thể hiện nét sáng tạo độc đáo tư duy chiến lược của Đảng về chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn-Gia Định Xuân Mậu Thân 1968.


Hai là, sử dụng lực lượng tinh nhuệ đánh bất ngờ vào các cơ quan đầu não của bộ máy chiến tranh Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Để đạt mục tiêu chiến lược đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, Đảng ta chủ trương sử dụng một lực lượng đặc công, biệt động mạnh cùng lúc bất ngờ tiến công chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của địch. Theo kế hoạch, 2 giờ ngày 31-1-1968, các đơn vị đặc công, biệt động và các tiểu đoàn mũi nhọn trang bị gọn nhẹ, từ 5 hướng thọc sâu vào nội thành. Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ tư lệnh Hải quân, đài phát thanh-những nơi được coi là “bất khả xâm phạm” đều bị ta tiến công và đã giữ được một thời gian lâu hơn nhiều so với kế hoạch.


Phối hợp với biệt động, lực lượng vũ trang, bán vũ trang của các ban, ngành, đoàn thể (thanh niên, công đoàn, phụ vận...) đánh địch trên những đường phố Sài Gòn và phát động quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ ở một số khu vực nội thành; đồng thời, lực lượng vũ trang các Phân khu 1, 2, 3, 4 và 5 ở vùng ven đô và lân cận tiến công đánh chiếm một số mục tiêu của địch. Ở vòng ngoài, Sư đoàn 9 tập kích Trung tâm huấn luyện Quang Trung, kiềm chế Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ ở Đồng Dù; Sư đoàn 5 tập kích sân bay Biên Hòa, khu kho Long Bình, sở chỉ huy bộ tư lệnh dã chiến Mỹ. Sư đoàn 7 đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Mỹ ở Phú Giáo, kiềm chế Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ, không cho địch đưa lực lượng từ ngoài vào ứng cứu nội thành. Từ ngày 17 đến 24-2, ta tiếp tục tiến công, pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhất, trụ sở cơ quan viện trợ Mỹ, bộ tư lệnh quân dù, nha cảnh sát đô thành, Biệt khu Thủ đô, Trung tâm radar Phú Lâm... đồng thời đánh địch càn quét giải tỏa vùng ven, gây cho chúng nhiều thiệt hại.


Ba là, phát huy “thế trận lòng dân”, phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, tạo nguồn sức mạnh to lớn. “Thế trận lòng dân” ở Sài Gòn-Gia Định được triển khai cả diện rộng và chiều sâu. Toàn thành phố xây dựng được 19 “lõm chính trị”, “lõm căn cứ” gồm 325 gia đình công nhân và lao động trung kiên. Phối hợp với đòn tiến công quân sự, nhân dân Sài Gòn-Gia Định nổi dậy, giành quyền làm chủ, tạo thế trận hiểm hóc ở cả chính diện và sau lưng địch. Đây là chỗ dựa vững chắc để các đơn vị chủ lực ta đánh địch. Nhiều đơn vị chủ lực bí mật đứng vững tại cửa ngõ Sài Gòn bởi dựa vững chắc vào dân, vào các tổ chức đảng và cơ sở cách mạng địa phương. Nhân dân còn trực tiếp tham gia chiến đấu, tiếp tế lương thực, che chở và nuôi dưỡng bộ đội. Ở Củ Chi, nhân dân xã Nhuận Đức nhận nuôi 700 thương binh, nhân dân xã Bình Mỹ nuôi toàn bộ thương binh cánh quân đánh vào Bộ Tổng Tham mưu ngụy. Trên cửa ngõ Tây Nam Sài Gòn, từng đợt 330-700 dân công nối tiếp nhau lên đường phục vụ bộ đội chiến đấu.


Xét tương quan lực lượng, địch hơn hẳn, ta khó có thể đánh tiêu diệt lớn quân địch. Đòn tiến công chiến lược đánh thẳng vào trung tâm đầu não chính trị, quân sự của địch trong nội thành Sài Gòn là quyết định sáng suốt, táo bạo của Đảng ta. Dù còn một số hạn chế nhưng việc xác định đúng hướng, mục tiêu, hình thức, phương pháp tiến công; sử dụng lực lượng đặc công, biệt động, lực lượng vũ trang tại chỗ và bộ đội chủ lực, phát huy “thế trận lòng dân” thể hiện nét đặc sắc về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong tác chiến ở Sài Gòn-Gia Định Xuân Mậu Thân 1968. Ngày nay, những nét đặc sắc ấy vẫn nguyên giá trị, cần được nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./. 

ST


BẢN SẮC ĐỊA PHƯƠNG: CHÌA KHÓA ĐỂ HỘI NHẬP

 Trong nền văn hóa giàu bản sắc của nước ta, có nhiều phong tục, tập quán đại diện cho bản sắc văn hóa của các địa phương và có khả năng lan tỏa mạnh mẽ đến bạn bè quốc tế thông qua hoạt động du lịch. Đó là nguồn tài nguyên quý giá, là sức sống góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tăng chiều sâu của sự phát triển văn hóa - xã hội trong thời đại hội nhập.

Thực tế trong vài năm gần đây cho thấy, mỗi địa phương của Việt Nam đều ra sức nâng cao hình ảnh, thương hiệu của tỉnh, thành phố để trở thành điểm đến quan trọng. Cùng với đó là công tác tuyên truyền, tăng cường mở rộng quan hệ với các đối tác trong khu vực và thế giới đang được thực hiện bài bản, có chiều sâu. Đơn cử, tỉnh Ninh Bình đã hết lòng giới thiệu văn hóa, cuộc sống, hình ảnh các điểm tham quan, quảng bá mạnh hình ảnh quần thể di sản Tràng An, cố đô Hoa Lư với các đối tác châu Âu tại Hội chợ du lịch quốc tế ITB 2023 (tổ chức ở Berlin, CHLB Đức) để các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp thấy sự đổi thay và đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng du lịch của mình. Hay như Quảng Nam đã tận dụng lợi thế có hai di sản văn hóa thế giới là Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn để quảng bá mạnh mẽ tới các nước trên thế giới. Tiếng vang từ các chương trình quảng bá, xúc tiến du lịch Quảng Nam tại Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… với sự tập trung vào giới thiệu bản sắc văn hóa độc đáo đã góp phần giúp tăng mạnh lượng khách du lịch đến với địa phương.
Tết Nguyên đán Giáp Thìn sắp đến, cũng là một sự kiện trọng đại mỗi năm chỉ có một lần và là cơ hội rất tốt để các địa phương của Việt Nam tăng cường phát triển du lịch từ các hoạt động giới thiệu văn hóa. Cũng cần phải tiếp tục khắc phục “điểm yếu” cơ sở vật chất, hạ tầng du lịch; bỏ tư duy “ăn xổi”; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân lực ngành du lịch am hiểu làm văn hóa, có khả năng sáng tạo không ngừng, đủ đáp ứng vai trò và trách nhiệm to lớn về hội nhập văn hóa thông qua du lịch. Và quan trọng là phải giữ vững tinh thần tận tâm của tất cả các cấp, các sở, ngành cho đến đội ngũ làm du lịch để giữ vững nền móng, đã tạo đà phát triển cho du lịch trên nền tảng văn hóa.
Báo Nhân Dân

SỨC MẠNH TỔNG HỢP

 

Trong những năm qua, Chính phủ, ngành Giáo dục luôn quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh và phòng chống bạo lực học đường.


Nhiều văn bản chỉ đạo được ban hành. Có thể kể đến: Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015 - 2020”;


Nghị định số 80/2017/NĐ-CP quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 3/10/2018 phê duyệt Đề án “Xây dựng Văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018 - 2025”;


Quyết định số 5886/QĐ-BGDĐT ngày 28/12/2017 ban hành Chương trình hành động phòng chống bạo lực học đường trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên giai đoạn 2017 - 2021;


Chỉ thị số 993/ CT-BGDĐT ngày 12/4/2019 về tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực học đường trong cơ sở giáo dục; Thông tư số 06/2019/TT-BGDĐT quy định Quy tắc ứng xử trong cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên…


Những kết quả đạt được là không thể phủ nhận. Nhận thức về tầm quan trọng của phòng chống bạo lực học đường nâng lên rõ rệt và trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, công nghệ, Internet, tình trạng bạo lực học đường, tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật trong học sinh, sinh viên diễn biến phức tạp hơn với hình thức ngày càng đa dạng.


Bạo lực học đường hiện nay không giới hạn về không gian và vị trí địa lý, đặc biệt với bạo lực trên không gian mạng. Điều này không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam, mà là nỗi lo mang tính toàn cầu.


Một điều khiến chúng ta trăn trở là dường như ngành Giáo dục, nhà trường còn khá đơn độc trong công cuộc phòng chống bạo lực học đường - vấn đề vốn có nguyên nhân phức tạp, liên quan nhiều chiều. Vẫn còn quan điểm, suy nghĩ cho rằng đây là trách nhiệm của ngành Giáo dục, nhà trường.


Trên thực tế, khi có sự việc xảy ra, dù trong hay ngoài trường học, trong năm học hay nghỉ hè, dư luận vẫn quy trách nhiệm cho nhà trường. Quy chế phối hợp, trách nhiệm các bên liên quan trong phòng chống bạo lực học đường vẫn là “nút thắt” khó tháo gỡ.


Có lẽ, đây cũng là lý do dù có nhiều văn bản chỉ đạo nhưng ngày 26/1/2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 02/CT-TTg về việc “Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong phòng chống bạo lực học đường, phòng ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội trong học sinh, sinh viên”. Điểm nhấn, khác biệt của văn bản này chính là Thủ tướng giao nhiệm vụ cụ thể cho các địa phương, bộ, ngành liên quan, không chỉ Bộ GD&ĐT.


Những đơn vị được “điểm danh”, ngoài Bộ GD&ĐT, còn có: Bộ Công an; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Y tế; Bộ Tài chính; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra, Chỉ thị đề nghị công tác phối hợp từ Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Khuyến học Việt Nam.


Chỉ thị cũng nêu rõ “tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục với việc đảm bảo an toàn trường học do mình phụ trách”. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng cần nhấn mạnh cả trách nhiệm người đứng đầu bộ, ngành, địa phương… liên quan để có sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt hơn.


Chỉ thị này chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi mỗi địa phương, bộ, ngành có kế hoạch triển khai và phân công trách nhiệm cụ thể, thậm chí ký kết liên tịch để chặt chẽ hơn công tác phối hợp. Phòng chống bạo lực học đường sẽ có hiệu quả khi chúng ta thực sự tập hợp được mọi lực lượng trong xã hội, cùng gánh vác trách nhiệm, có giải pháp phù hợp, triển khai quyết liệt để thực hiện nhiệm vụ được giao./.

ST


TỰ HÀO CÓ ĐẢNG QUANG VINH!

 Hôm nay (3-2-2024), kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng là thời khắc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vui trong niềm hân hoan sau một năm nước nhà gặt hái nhiều thành công to lớn. Cũng bởi thế, mỗi công dân Việt Nam càng thêm tự hào khi “đời ta có Đảng”-Đảng cách mạng chân chính do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ 20.
94 năm qua, Đảng đã vượt lên muôn vàn khó khăn, thử thách, đưa ra những quyết định lãnh đạo đúng đắn, chèo lái con thuyền cách mạng cập bến những thắng lợi vẻ vang. Đặc biệt, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, càng minh chứng cho bản lĩnh, trí tuệ, tài năng của Đảng; không chỉ tạo dựng niềm tin vững chắc cho toàn dân tộc vào vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn được bạn bè thế giới ghi nhận, cảm phục.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhất là trong năm 2023, Đảng tiếp tục đẩy mạnh tự chỉnh đốn, tự đổi mới để hoàn thành ngày càng tốt hơn sứ mệnh lịch sử của mình. Đảng sáng suốt lãnh đạo, đưa kinh tế nước nhà có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN). Việt Nam không chỉ là điểm hẹn hòa bình mà còn có nhiều đóng góp tích cực vào hòa bình thế giới, sự tiến bộ của nhân loại và cộng đồng quốc tế.
Những năm tới, đất nước tiếp tục đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới, cần sự quyết tâm chính trị rất lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đặc biệt, năm 2024 với đầy ắp sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, đất nước và Quân đội, hơn lúc nào hết, cả hệ thống chính trị và toàn dân tộc phải chung sức, đồng lòng bứt tốc cán đích các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; đồng thời làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ mới, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Nhiệm vụ chính trị là hết sức nặng nề, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, triệu người Việt Nam như một luôn đặt trọn niềm tin son sắt vào tính tất thắng của cách mạng nước nhà.
Vững tin là bởi Đảng ta luôn biết cách gìn giữ, phát huy truyền thống tốt đẹp; có đủ tâm và tầm lãnh đạo toàn dân tộc vượt qua mọi ghềnh thác, sóng gió. Đảng luôn chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đảng không ngừng tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân; là hạt nhân quy tụ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và dân chủ XHCN.
Lãnh đạo đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế nhanh, bền vững; ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; thúc đẩy hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế, uy tín của Đảng và đất nước trên trường quốc tế.
Quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Gần 80 năm qua, Quân đội ta luôn trung thành với Đảng, hiếu nghĩa với nhân dân, không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công chói lọi. Trong thời kỳ mới, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển mới.
Để Quân đội luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, Đảng bộ Quân đội và toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị gắn với xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; đẩy nhanh tiến độ, chất lượng xây dựng Quân đội, đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Đón chào xuân mới và đón chào tuổi mới của Đảng, chúng ta có quyền tự hào về Đảng quang vinh và nguyện một lòng theo Đảng để viết tiếp hành trình của những thắng lợi vẻ vang!
Báo Quân đội nhân dân

 KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY NỀN TẢNG LÝ LUẬN CỦA ĐỀ CƯƠNG VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM NĂM 1943 TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY


Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) là văn kiện mang tầm cương lĩnh của Đảng ta về văn hóa. Trong suốt hơn 80 năm qua, Đảng ta luôn kế thừa và phát huy nền tảng lý luận của văn bản quan trọng này trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam.


Những giá trị lý luận cốt lõi của bản Đề cương về văn hóa Việt Nam


Ra đời năm 1943, bản Đề cương về văn hóa Việt Nam (gọi tắt là Đề cương) do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo đã đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam trong tình thế khó khăn và cấp bách lúc bấy giờ. Với hệ thống các khái niệm, phạm trù, quan điểm chỉ đạo, mục đích, nguyên tắc của cuộc vận động văn hóa Việt Nam, những nhiệm vụ cần kíp để thực hiện các mục tiêu đề ra được trình bày một cách khoa học, Đề cương đã thể hiện khái quát sự nắm bắt sâu, rộng những vấn đề lý luận và thực tiễn của văn hóa Việt Nam khi đó, đặt nền móng căn bản và định hướng lâu dài cho sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam.


Tuy mới ở dạng “đề cương” với các luận điểm vắn tắt, ngắn gọn, song Đề cương đã đề cập nhiều nội dung then chốt của văn hóa Việt Nam, như: Mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, văn hóa với chính trị; vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng; chức năng của văn hóa, nghệ thuật; nội dung cuộc đấu tranh về học thuyết, tư tưởng; phương thức chống lại các xu hướng văn hóa bảo thủ, chiết trung, lập dị, bi quan; sự ưu thắng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử... Chính vì thế, bản Đề cương có ý nghĩa lớn lao góp phần thống nhất tư tưởng, nhận thức, học thuật, định hướng cho giới văn nghệ sĩ, trí thức đang hoang mang, bi quan, mất phương hướng khi đó, đồng thời trở thành kim chỉ nam dẫn đường cho công cuộc xây dựng nền văn hóa mới sau này.


Đề cương đã xác định rất chuẩn xác ba nguyên tắc cơ bản của cuộc vận động văn hóa Việt Nam là dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa; đồng thời chỉ ra các nhiệm vụ, cách thức, giải pháp cụ thể để đạt được các mục tiêu đó, như: Chống văn hóa phát xít, phong kiến, thoái hóa, nô dịch, văn hóa ngu dân và phỉnh dân; phát huy văn hóa tân dân chủ Đông Dương; tranh đấu về học thuyết, tư tưởng, tông phái văn nghệ; tranh đấu cho tiếng nói, chữ viết, thống nhất và làm giàu tiếng nói dân tộc, cải cách chữ quốc ngữ, chống nạn mù chữ; tuyên truyền và xuất bản, tổ chức các nhà văn; tranh đấu giành quyền lợi cho các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ... Đây vừa là những nền tảng lý luận then chốt, vừa có ý nghĩa thực tiễn thiết thực giúp dẫn dắt, định hướng hành động cho những người làm văn hóa, văn nghệ khi đó.


Về nguyên tắc “dân tộc hóa”: “Dân tộc hóa” theo tinh thần của Đề cương là nhằm chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, chống lại văn hóa thực dân, phát xít, phong kiến, thoái hóa, nô dịch, văn hóa ngu dân và phỉnh dân, từ đó giúp cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập. Tại thời điểm đó, nguyên tắc “dân tộc hóa” với cách hiểu như vậy là hoàn toàn đúng đắn và xác đáng. Sự khát khao có một nền văn hóa độc lập đã tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thể hiện trong nỗ lực chống lại âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc, tiếp đó là thực dân Pháp và phát xít Nhật. Tất cả những kẻ xâm lược đều thực hiện chính sách văn hóa nô dịch, kìm hãm dân chúng trong vòng ngu tối để dễ bề cai trị, đề cao văn hóa ngoại lai, hạ thấp văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh đó, nguyên tắc “dân tộc hóa” là vô cùng cần thiết và đúng đắn để thức tỉnh giới văn nghệ sĩ và các tổ chức văn hóa, đấu tranh với các quan điểm lệch lạc, sai trái, từ đó hướng tới xây dựng một nền văn hóa độc lập, tự chủ. “Dân tộc hóa” là đấu tranh để bảo vệ, làm giàu tiếng nói dân tộc, cải cách chữ quốc ngữ; là kiên quyết bảo vệ, giữ gìn tinh hoa văn hóa dân tộc, chống lại văn hóa ngoại lai.


Từ sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi đất nước giành được độc lập, chủ quyền và trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong thời kỳ hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước, nguyên tắc “dân tộc hóa” đã góp phần khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, từ đó đấu tranh chống lại mọi ảnh hưởng, tàn dư của văn hóa phong kiến, tư sản, nô dịch, tạo nên diện mạo mới cho văn hóa Việt Nam, hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


Về nguyên tắc “đại chúng hóa”: “Đại chúng hóa” theo tinh thần của Đề cương là nhằm chống mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa rời quần chúng. “Đại chúng” ở đây được hiểu là quảng đại quần chúng, quần chúng nhân dân. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam khi đó, đây là một nguyên tắc rất mới và tiến bộ khi lần đầu tiên trong lịch sử văn hóa dân tộc, quần chúng nhân dân lao động được xác định vừa là đối tượng phản ánh, vừa là chủ thể sáng tạo, hưởng thụ của văn hóa, nghệ thuật; đối lập với tính đẳng cấp, đặc quyền, đặc lợi trong thời phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc, cũng như tính chất xa đại chúng, phản đại chúng của văn hóa, nghệ thuật lúc bấy giờ ở nước ta (thể hiện ở xu hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, thái độ coi khinh người lao động trong các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật). Nguyên tắc đại chúng hóa đã kế thừa quan điểm truyền thống bao đời của dân tộc Việt Nam khi đề cao tư tưởng “lấy dân làm gốc”, thể hiện sự coi trọng vai trò, giá trị của quảng đại quần chúng nhân dân. Quan điểm tiến bộ này đã góp phần khẳng định tính dân chủ, nhân dân của nền văn hóa mới, nhờ đó mà Đảng ta đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc để giành được những thắng lợi vẻ vang trong lịch sử.


Về nguyên tắc “khoa học hóa”: “Khoa học hóa” theo tinh thần của Đề cương là chống lại tất cả những gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ, như mọi hình thức lạc hậu, thần bí, phản khoa học, cản trở sự phát triển của văn hóa; từ đó đề cao tư tưởng, học thuật, phát triển các ngành khoa học, những giá trị văn hóa mới, tiến bộ, góp phần làm cho văn hóa nước nhà ngày càng phát triển. Khoa học trở thành nền tảng của nhận thức và hành động để phê phán những di hại của quá khứ, đấu tranh với những luận thuyết phản động để định hướng phát triển nền văn hóa mới. Nhìn lại lịch sử có thể thấy trong suốt thời kỳ phong kiến, đất nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, trì trệ với lối học hành khoa cử, chưa quan tâm đến khoa học thực nghiệm, trình độ hiểu biết về khoa học của nhân dân rất hạn chế. Do vậy, tại thời điểm những năm 40 của thế kỷ XX, “khoa học hóa” là một nguyên tắc có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ tính đúng đắn khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cũng như trong việc đấu tranh mạnh mẽ chống những quan niệm, học thuyết sai lạc, bảo thủ, duy tâm, từ đó đổi mới và nâng cao nhận thức của tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ.


Lịch sử đã chứng minh, việc triển khai ba nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa trong thực tiễn cách mạng Việt Nam đã có tác dụng lớn lao, giúp nền văn hóa nước ta từ một nền văn hóa chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa phong kiến, thực dân, nô dịch trở thành một nền văn hóa độc lập, tự chủ, vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc sau này.


Kế thừa và phát huy những giá trị lý luận cốt lõi của Đề cương trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam


Những vấn đề lý luận then chốt đặt ra trong Đề cương đã trở thành nền tảng định hướng đường lối phát triển của văn hóa Việt Nam. Trong suốt hơn 80 năm qua, Đảng ta luôn quán triệt tinh thần của bản Đề cương, đồng thời có sự điều chỉnh, bổ sung, vận dụng sáng tạo phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đất nước và bối cảnh thời đại trong từng giai đoạn cách mạng.


Năm 1948, trong báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” do Tổng Bí thư Trường Chinh đọc tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai, ba nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa được diễn giải là: Văn hóa dân chủ mới Việt Nam phải gồm đủ ba tính chất: dân tộc, khoa học và đại chúng. Năm 1957, trong thư gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, đồng chí Trường Chinh thay mặt Trung ương Đảng cũng giải thích rõ hơn: Văn nghệ phải có tính dân tộc, khoa học, đại chúng, hay nói một cách khác, có tính chất dân tộc, hiện thực, nhân dân. Những nội dung này tiếp tục không ngừng được điều chỉnh, bổ sung qua các kỳ đại hội của Đảng. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ III, IV, V thống nhất đề cao tính dân tộc, tính Đảng, tính nhân dân trong văn hóa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” xác định quan điểm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó yếu tố tiên tiến dựa trên thế giới quan khoa học và hệ tư tưởng tiên tiến. Tiên tiến còn hàm nghĩa những giá trị văn minh, hiện đại, tiến bộ của nhân loại. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI (năm 2014) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã tổng hợp những điều chỉnh, bổ sung, phát triển các nguyên tắc nêu trên thành bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam, gồm: dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học.


Trong bối cảnh hiện nay, có thể nói, các nguyên tắc mà Đề cương đề ra vẫn giữ nguyên giá trị và phát huy tác dụng đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, nội hàm của nó cần được hiểu rộng và sâu hơn, đa chiều và đa nghĩa hơn.


Trước tiên, dân tộc hóa không chỉ là “chống” các ảnh hưởng xấu từ bên ngoài, mà còn tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc và kiểm nghiệm để làm giàu có, phong phú cho nền văn hóa dân tộc. Dân tộc hóa là cần coi trọng những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và phát huy những giá trị di sản văn hóa - nguồn tài nguyên nhân văn, nguồn vốn quý giá trong phát triển kinh tế - xã hội (nhất là trong phát triển du lịch văn hóa). Bên cạnh đó, dân tộc hóa không có nghĩa là độc tôn văn hóa, chỉ đề cao văn hóa của dân tộc mình, cách nghĩ, cách cảm của dân tộc mình, mà cần tôn trọng sự đa dạng, phong phú của các biểu đạt văn hóa, sự tự do trong sáng tạo văn học, nghệ thuật với các trào lưu, khuynh hướng, trường phái văn hóa, văn học, nghệ thuật trên thế giới. Đặc biệt, nguyên tắc có sự gắn kết chặt chẽ với bản sắc văn hóa dân tộc, kết tinh trong hệ thống các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, tạo nên cốt cách, tinh hoa, “quốc hồn, quốc túy” cho văn hóa Việt Nam, góp phần gia tăng “sức mạnh mềm” văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hiện nay, dân tộc hóa được gắn với quốc tế hóa. Khi các giá trị văn hóa dân tộc được quảng bá rộng rãi ra thế giới giúp nâng tầm văn hóa quốc gia - dân tộc; đồng thời qua đó tạo điều kiện để văn hóa dân tộc được tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới để làm giàu cho văn hóa nước nhà, củng cố bản sắc dân tộc, có những đóng góp nhất định vào bức tranh chung của văn hóa nhân loại. Bài học Hallyu của Hàn Quốc là một ví dụ. Thời gian qua, các sản phẩm văn hóa của nước ta, như múa rối nước, xiếc tre, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, áo dài, phở, nem... ngày càng chinh phục thế giới. Chúng ta cần thúc đẩy để quá trình này trở nên đa dạng và rộng rãi hơn, bao gồm cả những sản phẩm đương đại, như đưa phim Việt, nghệ thuật biểu diễn Việt, mỹ thuật Việt thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường quốc tế.


Thứ hai, nguyên tắc đại chúng hóa cũng luôn được Đảng ta không ngừng hoàn thiện, điều chỉnh, bổ sung trong quá trình lãnh đạo văn hóa, văn nghệ. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ở thế kỷ XX, quần chúng nhân dân, nhất là lực lượng công - nông - binh đã trở thành đối tượng chính của sự phản ánh và thưởng thức văn hóa, nghệ thuật. Sau này, đại chúng hóa được phát triển thành tinh thần dân chủ trong văn hóa Việt Nam. Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Do đó, người dân được bảo đảm các quyền cơ bản, trong đó có quyền sáng tạo, tiêu dùng và thụ hưởng văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa được tạo dựng bởi nhân dân, do nhân dân là chủ thể sáng tạo, dành cho nhân dân và vì lợi ích của nhân dân. Trong bối cảnh mới, nguyên tắc đại chúng hóa của nền văn hóa còn thể hiện ở việc nâng cao đời sống văn hóa của toàn dân, xóa bỏ sự bất bình đẳng và những chênh lệch trong cơ hội sáng tạo, tiếp cận, thụ hưởng và tiêu dùng văn hóa giữa các tầng lớp nhân dân cũng như giữa các vùng, miền trong cả nước. Vấn đề này luôn được Đảng ta khẳng định nhất quán trong các văn kiện của Đảng và nỗ lực hiện thực hóa trong thực tiễn. Hiện nay, với sự phổ cập của giáo dục và văn hóa, trình độ dân trí của nhân dân đã được cải thiện, đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó, cần chú trọng vun đắp, bồi dưỡng, phát triển văn hóa tinh hoa, văn hóa bác học, văn hóa đỉnh cao của bộ phận ưu tú trong xã hội, kết tinh được tinh hoa, trí tuệ của nhân dân, tạo ra bước ngoặt về tư tưởng, học thuật, khoa học..., góp phần phát triển đất nước.


Thứ ba, đối với nguyên tắc khoa học hóa, trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay, nhất là khi đứng trước các cơ hội và thách thức đặt ra từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nguyên tắc này càng cần được chú trọng và đề cao, đồng thời cần được vận dụng linh hoạt, có bổ sung, phát triển để phù hợp với điều kiện và bối cảnh mới. Tính chất khoa học của nền văn hóa nước ta được phát triển thành tính chất tiên tiến với hàm nghĩa là một nền văn hóa phát triển hiện đại, tiến bộ dựa trên thế giới quan khoa học và hệ tư tưởng tiến bộ, khoa học và cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Khoa học hóa không chỉ chống lại những gì trái khoa học, phản tiến bộ, cổ hủ, lạc hậu, mà còn là phát huy những thuần phong, mỹ tục, khai thác những tri thức dân gian, tri thức địa phương trên nhiều lĩnh vực để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời cần không ngừng học hỏi để bổ sung, hoàn thiện nhận thức khoa học, tiếp thu những thành tựu mới của tư tưởng, học thuật, khoa học của thế giới; tạo dựng một môi trường lành mạnh, tự do, dân chủ trong nghiên cứu khoa học.


Cùng với việc kế thừa, phát huy và phát triển những giá trị lý luận cốt lõi của Đề cương, trong điều kiện hiện nay, Đảng ta còn bổ sung thêm những giá trị mới phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập, như giá trị nhân văn. Nhân văn hàm nghĩa nền văn hóa đề cao tình yêu thương con người, lòng nhân ái, khoan dung, nghĩa tình, coi trọng con người. Nhân văn là luôn hướng đến sự hoàn thiện, đến chân - thiện - mỹ, bảo vệ con người, tôn trọng các quyền của con người, hướng tới xây dựng một xã hội bền vững, tiến bộ. Văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay là nền văn hóa trọng nghĩa tình, đề cao nhân phẩm, yêu thương con người, yêu thương đồng loại: “Thương người như thể thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “lá lành đùm lá rách”. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường khắc nghiệt hiện nay, lối sống vị kỷ, vô cảm, chà đạp lên tình nghĩa đang có chiều hướng gia tăng. Do vậy, rất cần củng cố, vun đắp giá trị nhân văn để bồi đắp lòng nhân ái, nghĩa tình, những nét đẹp vốn có trong truyền thống văn hóa Việt Nam.


Hiện nay, bối cảnh hội nhập quốc tế với nhiều biến động phức tạp, khó lường đòi hỏi chúng ta phải phát triển và vận dụng Đề cương một cách sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tình hình mới để thực hiện được mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./. 

ST

HÀ NỘI Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TOP 1 THẾ GIỚI LIỆU CÓ ĐÚNG?

 Bụi là khái niệm để gọi chung những gì bị "tán" nhỏ ra mà có thể "bay lơ lửng trong không khí, kể cả nó là sắt hay thép. Độ "lớn nhất" của vật chất được gọi là "bụi" khi nó có "độ lớn" đạt mức: 90 mesh. 1 mesh = 24.500 micrometers (micron).

Bụi tịnh là những hạt bụi "nặng" có độ lớn trung bình 7.000 - 10.000 mesh, tức chỉ tính được bằng nanomet... do vậy mà mắt thường không thể nhìn thấy được.... nó chỉ "lắng đọng và tích tụ" khi ở trạng thái không gian thật sự tĩnh!
Trong bầu khí quyển, bụi sẽ lơ lửng dưới tầng bình lưu, nên nó sẽ di chuyển theo "phương ngang" so với mặt đất, đó là do quả đất tự quay, và cấu trúc của bầu khí quyển. Vì vậy, bụi không "lắng đọng" mà nó sẽ di chuyển.
Bụi tịnh thì ngược lại, do nó có "trọng lượng" nặng, dù kích thước siêu nhỏ, nên nó bị "đẩy văng" ra tầng điện ly, và tồn tại ngoài đó... đa phần bụi tịnh được sinh ra từ khói thải của ngành công nghiệp nặng, bởi chỉ ở đó, khói thải mới "dư kim loại" trong đó.
Còn "sương mù" là một hiện tượng tự nhiên của bầu khí quyển, nó được sinh ra bởi độ ẩm, hơi nước và sự "thay đổi đột ngột" về nhiệt độ môi trường... sương mù không phải là bụi hay bụi tịnh...
Không khí ô nhiễm được hiểu đúng là khi "vùng khí quyển" bị một lượng bụi tịnh tích tụ và thâm nhập quá dày đặc, gây ra hiện tượng che lấp tầm nhìn (che cả ánh sáng mặt trời). Nên về hiện tượng, sương mù đôi lúc bị "hàm oan" là bụi tịnh.
Việt Nam có ngành công nghiệp nặng phát triển từ khi nào vậy?!?!
Có chăng là một số nhà báo mà mũi có khuyên???
Nguồn: XÂY DỰNG ĐẢNG

BỆNH VÔ CẢM LEN LỎI TRONG GIỚI TRẺ THỜI ĐẠI SỐ

 Trong cuộc sống, bên cạnh những con người biết đồng cảm, chia sẻ, luôn nghĩ đến người khác còn có những kẻ thờ ơ, lãnh đạm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân. Những suy nghĩ như "mặc kệ nó", "mạnh ai nấy sống" hay "chuyện thường ngày ở huyện"... đôi khi khiến đâu đó, lòng trắc ẩn trước nỗi đau người khác, sự phẫn nộ trước cái xấu trở nên hiếm hoi. Căn bệnh vô cảm đang len lỏi vào một bộ phận xã hội, đặc biệt là giới trẻ trong thời đại số.

Thói quen bó hẹp giao tiếp, chỉ giao lưu với người ảo qua các trò chơi trực tuyến, nhiều chuyên gia cảnh báo, những cảnh bạo lực, chém giết man rợ, đầy rẫy trong các trò chơi điện tử, trong truyện tranh hay video clip trên mạng xã hội đang làm lệch lạc cảm xúc, suy nghĩ của một bộ phận giới trẻ. Mãi mê với thế giới số, nên nhiều bạn trẻ thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm gì đến thế giới thưc, tới người xung quanh. Đây là hệ lụy không tránh khỏi.
Nhip sống hối hả, rồi lo toan cơm áo gạo tiền, lối sống quá nặng tính cá nhân khiến con người ngày càng ít để tâm đến người khác, có nhiều người thấy không cần giúp ai cả, và lâu dần hình thành tâm lý sống "chỉ biết mình". Trong nhiều trường hợp, sự vô cảm còn bắt nguồn cả ở sự sợ vạ lây, "không phải đầu cũng phải tai". Gần đây trên mạng xã hội lan truyền một đoạn clip một người đàn ông trước khi giúp người bị tai nạn đã phải đưa điện thoại nhờ người khác quay xác nhận rằng mình không phải là thủ phạm gây tai nạn mà chỉ là người giúp đỡ. Vừa quay clip, vừa khẳng định rằng quay lại cho chắc chắn để tránh vạ lây. Hành động này cho thấy một thực trạng đáng buồn rằng đôi khi lòng tốt lại trở thành thứ phiền phức.
"Bệnh vô cảm" không phải là tội ác, nhưng rất có thể nó là con đường dẫn đến tội ác. Hơn nữa, nó có nguy cơ lây lan trong cộng đồng. Một người vô cảm thì mọi người xung quanh sẽ vô cảm theo, và cuối cùng có thể là cả một xã hội vô cảm. Vô cảm còn bị ví như căn bệnh "ung thư tâm hồn", khiến sư tử tế, sự nhân văn cạn kiệt. Một nhà văn Nga đã từng nói nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương. Vì thế, chỉ có tình yêu thương, lòng trắc ẩn với mọi người, dù là người thân hay người xa lạ gặp khó khăn, gặp sự cố... mới có thể làm ấm nóng cảm xúc... Khi nhiều lòng tốt, giản dị cộng lại, sự vô cảm sẽ không còn đất sống.
Nguồn: VTV.vn

HỌC BÁC ĐỂ NHỮNG MÙA XUÂN THÊM TƯƠI ĐẸP 

 

Việc thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã tiếp tục được thực hiện nền nếp, hiện quả, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị.


Ban TVTU và các cấp ủy xác định thực hiện Kết luận số 01-KL/TW là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; đồng thời đưa vào trong chương trình công tác của cấp uỷ các cấp. Quá trình tổ chức triển khai, chỉ đạo kết hợp với thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) và các quy định của Đảng, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; chấn chỉnh, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tăng cường bản lĩnh chính trị, tu dưỡng rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nâng cao chất lượng công tác, hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ được giao. Ban TVTU chỉ đạo các cấp ủy tiến hành rà soát, bổ sung và thực hiện nghiêm quy chế làm việc của cấp uỷ, cơ quan, đơn vị; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong lãnh đạo, điều hành và thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Duy trì, thực hiện nghiêm nguyên tắc sinh hoạt Đảng, chế độ giao ban, hội họp; mở rộng dân chủ trong lãnh đạo tập thể, đề cao trách nhiệm cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ. 


Để hoạt động làm theo Bác có hiệu quả hơn, rõ nét giữa việc học Bác, làm theo Bác và nêu gương, Ban TVTU tiếp tục mở các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, phát động đợt sinh hoạt chính trị về xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị với chủ đề “Tự soi, tự sửa” gắn với việc học chuyên đề hàng năm. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TU về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng; tăng cường kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2021-2025; Ban TVTU thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tỉnh, góp phần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong Đảng bộ tỉnh. Đặc biệt, để tiếp tục cụ thể hoá, triển khai thực hiện hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban TVTU đã chỉ đạo tổ chức chuỗi các hoạt động kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nam Định, như: Hội thảo khoa học “Nam Định 60 năm thực hiện lời dạy của Bác”; Tổ chức triển lãm “Nam Định in dấu chân Người” tại Bảo tàng tỉnh Nam Định; tổ chức đợt sinh hoạt chính trị gắn với các phong trào thi đua yêu nước; Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nam Định; phát động Cuộc thi viết “Bác Hồ với Nam Định, Nam Định với Bác Hồ” nhân dịp kỷ niệm 133 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nam Định. Chuỗi các hoạt động kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nam Định đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong tỉnh, góp phần lan toả ý nghĩa, giá trị cao đẹp của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tạo sự phấn khởi, niềm tin tưởng và khát vọng đối với sự phát triển của tỉnh nhà trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh.


Việc học và làm theo Bác gắn với thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã phát huy hiệu quả rõ nét. Tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp trọng tâm, đột phá phục vụ cho phát triển kinh tế như: Nâng cấp chất lượng công tác quy hoạch và đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế; đẩy mạnh thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp; cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu; khai thác tiềm năng, thế mạnh kinh tế biển; đẩy mạnh xây dựng đô thị văn minh và phát triển trung tâm công nghiệp, dịch vụ thành phố Nam Định... Đồng thời chỉ đạo các địa phương, đơn vị đẩy mạnh thực hiện các phong trào thi đua yêu nước của Trung ương và của tỉnh phát động. Hưởng ứng các phong trào thi đua, các ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương đã tổ chức triển khai với nhiều bước đổi mới, nội dung phong phú, bám sát các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị của từng ngành, đơn vị. Nhiều phong trào thi đua đã đạt được kết quả rõ nét, tiêu biểu như: Phong trào “Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch COVID-19”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Nam Định chung sức xây dựng nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu” giai đoạn 2021-2025, “Đẩy mạnh cải cách hành chính tỉnh Nam Định” giai đoạn 2021-2025, “Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”… Trong quá trình triển khai các phong trào thi đua, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến như: Xã Giao Phong (Giao Thủy); xã Hải Châu (Hải Hậu); xã Nghĩa Minh (Nghĩa Hưng); Trung đoàn BB 180 KTT (Bộ CHQS tỉnh); Công ty TNHH Cường Tân (Trực Ninh); thành phố Nam Định; cán bộ và nhân dân thôn Đông Chiền, xã Hồng Quang (Nam Trực); tập thể Hội Nông dân xã Phúc Thắng (Nghĩa Hưng); chị Hoàng Thị Hải, Nhà máy Sợi Tô Hiệu (Tổng Công ty Cổ phần Dệt May Nam Định); nữ tu Phạm Thuý Cậy, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Bề trên Mến thánh giá Kiên Lao - Bùi Chu; cô giáo Phạm Thị Long Quân, Hiệu trưởng Trường Mầm non 8-3 (thành phố Nam Định); thầy giáo Nguyễn Sỹ Hiệp, Trường THCS Đào Sư Tích (Trực Ninh); bà Nguyễn Thị Hải, xóm 11, xã Nghĩa Lâm (Nghĩa Hưng); ông Lê Thanh Hà, thôn Phận, xã Yên Bằng (Ý Yên)... Đặc biệt ba tấm gương điển hình tiêu biểu của cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Tâm, xã Yên Quang (Ý Yên) được vinh danh trong Chương trình “Hồ Chí Minh - Hành trình khát vọng năm 2023”; ông Nguyễn Đức Chính, tổ dân phố số 8, thị trấn Thịnh Long (Hải Hậu) được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen và em Bùi Hải An học sinh lớp 11A4 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Hải Hậu được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen về hành động dũng cảm cứu người gặp nạn, nêu gương sáng cho thanh niên trong cả nước và trên địa bàn tỉnh học tập... 


Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với công tác xây dựng Đảng, thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta đã góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng các cấp đã đề ra. Từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay, bình quân hàng năm Đảng bộ tỉnh có gần 95% tổ chức cơ sở Đảng và gần 90% đảng viên được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Kinh tế của tỉnh duy trì ổn định và phát triển, tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2021-2023 bình quân ước đạt 8,8%/năm. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Thu hút đầu tư đạt kết quả tốt, đã thu hút được một số dự án đầu tư lớn, công nghệ cao, thân thiện với môi trường, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư và tập trung chỉ đạo thực hiện, nhiều công trình, dự án trọng điểm đang được triển khai khi hoàn thành sẽ tạo diện mạo mới, động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới. Đặc biệt, đến hết năm 2023, toàn tỉnh có 191/204 xã, thị trấn (chiếm 93,6%) đạt chuẩn NTM nâng cao và 25/188 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu (đạt 13,3%). Ngành Giáo dục và Đào tạo giữ vững thành tích gần 30 năm liên tục trong tốp dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục... Tất cả những thành công và kết quả đó đã khẳng định ý nghĩa, hiệu quả thiết thực của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.


Chào đón Xuân Giáp Thìn 2024, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nam Định hân hoan về những thành tựu đạt được sau hơn nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX. Kết quả đó là nguồn sinh khí tiếp thêm sức mạnh cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh tiếp tục cố gắng, nỗ lực học tập, rèn luyện và lao động để chung sức đồng lòng xây dựng tỉnh Nam Định ngày càng giàu mạnh, văn minh theo mong muốn của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng tỉnh Nam Định thành một tỉnh giàu mạnh, làm kiểu mẫu cho toàn miền Bắc”./. 

ST


PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, XÂY DỰNG NƯỚC VIỆT NAM GIÀU MẠNH, HẠNH PHÚC, VĂN MINH.

 

Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam, được hun đúc, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời đại. Đến lượt mình, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam được trang bị bởi thế giới quan, phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát huy mạnh mẽ, nâng cao giá trị đoàn kết của dân tộc lên một tầm cao mới, là nguồn sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta, khởi xướng và thực hành đoàn kết, trước hết thể hiện ở việc đoàn kết các giai tầng xã hội, thống nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng của sự đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, đoàn kết quốc tế vì mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giải phóng con người khỏi ách nô lệ, hướng tới tự do, ấm no, hạnh phúc. Khó có một từ ngữ ngắn gọn nào có thể diễn tả hết tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết. Có một số liệu thống kê gây ấn tượng về điều này: đó là trong 1.921 bài nói, bài viết của Bác Hồ thì có tới 839 bài Người đề cập đến vấn đề "đoàn kết thống nhất" và có tới 1.809 lần Bác dùng từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết”.


Trước khi "đi xa", trong bản Di chúc ngắn gọn nhưng đầy xúc tích, sâu sắc của mình, chưa đầy 20 dòng nói về Đảng nhưng đã có đến 5 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến “đoàn kết”. Người khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Không chỉ nói đoàn kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói đến ba cụm từ: “Đoàn kết chặt chẽ”, “Đoàn kết nhất trí”, “Đoàn kết và thống nhất” và đặc biệt là Người dùng hình ảnh “con ngươi của mắt” để ví với vấn đề giữ gìn sự đoàn kết nhất trí. “Đoàn kết là một truyền thống cực kì quí báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”;  “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.


Có thể khẳng định rằng, thời đại Hồ Chí Minh là thời đại huy hoàng bậc nhất về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam-hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công".


Kế thừa, phát huy giá trị truyền thống đoàn kết của dân tộc, tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng đổi mới, phát triển tư duy về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là yếu tố cốt lõi trong đường lối chiến lược cách mạng, có ý nghĩa sống còn, bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trải qua gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta luôn luôn nhất quán, khẳng định giá trị trường tồn, sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về đại đoàn kết toàn dân tộc với quan điểm nổi bật là: Đại đoàn kết dân tộc nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.


Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định  “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân" và bổ sung phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thành "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra,  dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, nhờ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đại đoàn kết toàn dân tộc, nước ta đã tập trung thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước thu hẹp khoảng cách giàu-nghèo giữa các vùng, miền; quan tâm phát triển toàn diện khu vực miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, giữ vững sự ổn định chính trị-xã hội. Do vậy, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, mở rộng và phát huy; đồng thuận xã hội được tăng cường, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố và nhân lên; các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động được đẩy mạnh, qua đó động viên nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, huy động được những nguồn lực, tiềm năng to lớn trong nhân dân vào phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, với việc tăng cường đoàn kết quốc tế, tạo không gian quan hệ mở rộng, tranh thủ được sự ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, trên cơ sở triển khai đồng bộ và toàn diện đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, phát triển quan hệ tốt đẹp với nhiều chính đảng, chính phủ, quốc hội các nước, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới. Công tác đối ngoại nhân dân góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Đảng và đất nước, sự coi trọng của các nước đối với Việt Nam; tranh thủ nhiều nguồn lực từ bên ngoài cho sự phát triển của đất nước; tích cực bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, tham gia đấu tranh với những âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực liên quan đến chủ quyền, dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền...


Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận những mặt còn hạn chế, có giải pháp khắc phục nhằm phát huy hơn nữa truyền thống yêu nước và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hiện có nhiều hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, nổi lên hai vấn đề lớn:


Cùng với sự chuyển hóa của các giai cấp và tầng lớp xã hội, xuất hiện sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp nhân dân… Một trong những khó khăn, bất cập ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc hiện là sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng. Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng”; “Chênh lệch giàu - nghèo còn lớn; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai”; “khoảng cách phát triển giữa các địa phương, vùng, miền còn khá lớn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”. Vì vậy, từ lâu, Đảng ta đề ra quan điểm: "Bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội...".


Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”.


Là đảng duy nhất cầm quyền, Đảng phải xây dựng, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết”; “Kinh nghiệm của ta, cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi là do lực lượng đoàn kết, trước hết là đoàn kết trong Đảng". Sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng là điều kiện tiên quyết để Đảng thật sự là hạt nhân đoàn kết của cả dân tộc, của toàn xã hội. Tuy nhiên, tình trạng chạy theo chủ nghĩa cá nhân, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận là một trong những nguy cơ đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng, nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ.


Do vậy, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh được Đảng ta đặc biệt coi trọng, kiên trì thực hiện, đạt được những kết quả quan trọng. Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực chính là điều kiện, cơ sở vững chắc để giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, đồng bộ; kiên quyết, kiên trì xử lý nghiêm tổ chức, đảng viên vi phạm, nhiều vụ án tham nhũng được xét xử kịp thời, nghiêm minh, song cũng rất nhân văn, qua đó tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Chống tiêu cực, tham nhũng trong Đảng thành công chính là tiền đề để xây dựng Đảng ta đoàn kết, thống nhất, dân chủ, đạo đức, văn minh.


Cùng với các giải pháp đồng bộ khác thì Đảng cần dựa vào dân, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy dân chủ, cụ thể hoá phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh chính là yếu tố rất quan trọng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng Việt Nam thành một nước "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh"./.

ST


KINH TẾ PHÁT TRIỂN, ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN NGÀY CÀNG NÂNG CAO

 

Trong suốt 94 năm qua (1930-2024), dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử và thời đại, làm thay đổi cuộc đời mỗi con người và vận mệnh cả một dân tộc. 


Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn về phát triển kinh tế-xã hội. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. GDP bình quân đầu người tăng 58 lần, lên mức khoảng 4.300 USD năm 2023…/.

ST


QUAN TÂM, CHĂM LO ĐỂ CÁC ĐỐI TƯỢNG CHÍNH SÁCH, NGƯỜI CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN ĐƯỢC HƯỞNG TẾT TRỌN VẸN

 

Sáng 4/2, tại thành phố Cần Thơ, Thủ tướng Phạm Minh Chính tham dự Chương trình Lãnh đạo Đảng, Nhà nước thăm, tặng quà gia đình chính sách, hộ nghèo, công nhân lao động, người cao tuổi, trẻ em khó khăn nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 trên địa bàn thành phố. Cùng dự có đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương.


Thời gian qua, thành phố Cần Thơ đã luôn dành sự quan tâm thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, đã huy động được sự tham gia tích cực của các địa phương, cộng đồng và các tổ chức phi chính phủ; tăng cường sự tương tác và gắn kết giữa các cơ quan nhà nước với các đơn vị liên quan trong việc giải quyết vấn đề nghèo đói và phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng khó khăn; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố.


Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố vẫn còn 764 hộ nghèo (tỷ lệ 0,21%, thấp nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long). Thành phố Cần Thơ đã quan tâm, chăm lo chu đáo, có nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa cho công nhân lao động, hộ nghèo; đến ngày cuối tháng 1/2024, Thành phố đã trao tặng 73.902 suất quà với tổng số tiền trị giá hơn 74 tỷ đồng...


Phát biểu ý kiến tại Chương trình, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ sự phấn khởi trong những ngày đầu năm mới 2024, chuẩn bị đón Tết cổ truyền của dân tộc - Tết Nguyên đán Giáp Thìn được đến dự Lễ tặng quà Tết Nguyên đán Giáp Thìn cho công nhân lao động, hộ nghèo trên địa bàn thành phố Cần Thơ.


Điểm lại những thành tựu nổi bật trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Thủ tướng khẳng định, dịp Tết này, Lãnh đạo Đảng, Nhà nước rất quan tâm, đi thăm hỏi, tặng quà Tết cho các gia đình chính sách, hộ nghèo, công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn tại các địa phương. Đây được coi là chiến dịch an sinh xã hội bao trùm, rộng khắp trên cả nước.


Thủ tướng khẳng định, trong thành tựu chung của cả nước, có sự đóng góp quan trọng của thành phố Cần Thơ, thủ phủ của miền Tây, đánh dấu mốc son triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng và Đại hội Đảng bộ Thành phố, nhất là làm tốt công tác an sinh xã hội.


Thủ tướng nêu rõ, năm mới 2024 đã đi qua 1 tháng, tình hình có những khởi sắc; mong thành phố Cần Thơ phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, khắc phục hạn chế, bất cập, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố, góp phần cùng cả nước hoàn thành mục tiêu mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra, từ đó cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vì Đảng bộ Thành phố Cần Thơ là đầu tàu trong thực hiện các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội trong vùng.


Thủ tướng mong muốn cấp ủy, chính quyền thành phố Cần Thơ cần nỗ lực giữ vững ổn định chính trị trên địa bàn thành phố, góp phần cùng cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cả nước giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm an ninh trật tự, an toàn, an dân.


Thủ tướng đề nghị các cấp chính quyền thành phố rà soát lại trên địa bàn các chế độ, chính sách của các đối tượng chính sách được hưởng bảo trợ, kịp thời có hỗ trợ, nhất là những gia đình chính sách, có hoàn cảnh khó khăn, những đối tượng yếu thế, những người ốm đau trong dịp Tết này.


Thủ tướng lưu ý các lực lượng vũ trang trên địa bàn cần bảo đảm Tết an toàn, an ninh; hạn chế tai nạn giao thông, hạn chế tình trạng uống rượu say mà vẫn điều khiển phương tiện giao thông. Các lực lượng chức năng phải tăng cường kiểm soát chặt việc này, kiểm soát, trấn áp các loại tội phạm; các lực lượng chức năng như công an, bệnh viện, phòng cháy chữa cháy… phải tăng cường ứng trực dịp này để người dân được hưởng cái Tết vui vẻ, an lành, lành mạnh, nghĩa tình.


Thủ tướng đề nghị cấp ủy, chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể thành phố Cần Thơ tiếp tục chung tay chăm lo Tết cho người dân.


Nhân dịp Xuân mới Giáp Thìn 2024, Thủ tướng chúc Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Cần Thơ một năm mới hạnh phúc, mạnh khỏe và thành công./.

ST


HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN: "SỰ LỰA CHỌN CHO ỔN ĐỊNH, TỰ DO, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM"

 

Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân.


Tại Việt Nam, vào cuối thập niên 20 của thế kỷ trước, cùng với sự phát triển của các phong trào yêu nước, các tổ chức cộng sản đảng đã ra đời mà tiêu biểu là An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Tân Việt Cách mạng Đảng. Sau khi ra đời 3 tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên sự xuất hiện và tồn tại 3 tổ chức cộng sản đảng cùng hoạt động cách mạng đã dẫn đến sự chia rẽ nguồn lực. Sự chia rẽ của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thời kỳ này đã gây tổn hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng và gây nên tâm trạng nghi ngờ, hoang mang trong quần chúng.


Để chấm dứt sự chia rẽ và công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản, đầu tháng giêng năm 1930, được sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03-02-1930 là minh chứng lịch sử cho chúng ta thấy cách thức tổ chức một đảng duy nhất cầm quyền, đây là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với đặc trưng văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta.


So với thể chế đa đảng đối lập, nhiều quan điểm cho rằng các quốc gia có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước đó là “chế độ độc đảng toàn trị”. Hằng năm, các báo cáo về chỉ số tự do dân chủ (Democracy Index) vẫn dựa vào tiêu chí đa đảng đối lập để đánh giá mức độ tự do, dân chủ của một quốc gia. Dựa vào các báo cáo này, họ rao giảng rằng các quốc gia như Việt Nam có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo đất nước thì xu hướng chung “đảng đó sẽ độc chiếm quyền lực, tiếm đoạt các chức năng của nhà nước, kiểm soát toàn bộ đời sống của xã hội nói chung, của cá nhân nói riêng”. Họ "khuyến cáo" rằng, "Việt Nam cần phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để thực hiện dân chủ"(!).


Tuy nhiên phải hiểu rằng, dù đề cập đến dân chủ như một giá trị tốt đẹp, dân chủ như một hình thức cai trị, một cách thức ra các quyết định chung hay dân chủ như một chế độ chính trị thì tất cả các ngữ nghĩa này đều không bắt nguồn từ cách thức tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Dù là chế độ một đảng nhưng chúng ta đã, đang thực hiện dân chủ theo những cách riêng, phù hợp với đặc trưng văn hóa, tập quán, lối sống và năng lực thực hành dân chủ của người dân Việt Nam.


Lịch sử đấu tranh cách mạng ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo đất nước, đó là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với phong tục, tập quán, năng lực thực hành dân chủ của người Việt. Nếu ai đó nói với chúng ta rằng Việt Nam cần phải học hỏi các quốc gia trên thế giới, phải xóa bỏ chế độ độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam để tổ chức đời sống chính trị theo chế độ đa đảng, nhất là đa đảng đối lập giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới thì chúng ta đừng hoang mang, dao động, mà hãy nhìn vào đời sống chính trị của các quốc gia theo chế độ đa đảng. Hãy nhìn vào cuộc sống hiện tại của người dân ở các quốc gia đã trải qua "mùa xuân Ả Rập" hay trải qua "cách mạng sắc màu", những người đã tin theo những lời xúi giục đó, họ đang khát khao như thế nào về một cuộc sống yên bình, ổn định, không có xung đột, đói nghèo và tội phạm gia tăng để cân nhắc quan điểm và lựa chọn hành động cho đúng.


Cho đến hiện nay, chế độ đa đảng, đặc biệt là đa đảng đối lập với đại diện theo tỷ lệ vẫn được các quốc gia phương Tây sử dụng như một “tiêu chuẩn của các nền dân chủ tiên tiến”. Lịch sử tổ chức đời sống chính trị trên thế giới lại cho chúng ta thấy rằng, dân chủ không bắt nguồn từ cách thức chúng ta tổ chức các đảng chính trị như thế nào. Nếu bạn đọc ở đâu đó hay nghe ai đó thuyết giảng rằng Việt Nam cần phải xây dựng chế độ đa đảng giống như mô hình của nhiều quốc gia phương Tây, thì bạn hãy nhớ rằng: Hiện nay, trên thế giới đang có hàng chục quốc gia lựa chọn thể chế "đa nguyên, đa đảng" nhưng đang chìm trong đói nghèo, khủng hoảng chính trị triền miên. Chúng ta có lợi thế hơn họ bởi chúng ta có những tấm gương trước mắt để học hỏi và lựa chọn. Sự lựa chọn đúng đắn nhất của chúng ta là: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đây là sự lựa chọn cho sự ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam./.

ST


Nâng cao tính đảng và phát huy vai trò của người đứng đầu trong xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa - Kết quả và nhiệm vụ chủ yếu

 Người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương là người lãnh đạo, quản lý, chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm cao nhất của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương đó. Người đứng đầu được trao thẩm quyền sử dụng một số quyền lực để thi hành chức trách, nhiệm vụ được giao. Đó là quyền lực của tập thể và họ là người đại diện cho quyền lực của tập thể để thực thi công vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Quyền lực mà họ đang nắm giữ, đang thực thi, không phải là của cá nhân họ và do vậy, để phòng, tránh nguy cơ “tha hóa quyền lực”, người đứng đầu phải luôn đề cao và giữ nghiêm tính đảng của người đảng viên.

Tính đảng của cán bộ, đảng viên được hiểu là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng, mục tiêu cách mạng của Đảng; sự tuân thủ tính tổ chức và tính kỷ luật; là những chuẩn mực đạo đức cách mạng trong mọi cử chỉ, hành vi, lời nói trong các hoạt động xã hội. Trong bất kỳ giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, việc nâng cao tính đảng của người cán bộ, đảng viên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nhằm tạo ra sự đồng thuận về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; sự thống nhất, đoàn kết trong hành động; bảo đảm vai trò tiên phong và là tấm gương sáng có sức thu hút, động viên, dẫn dắt quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ.

Nhận thức được vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng đó, nhiều  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đã thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao tính đảng, phát huy vai trò của người đứng đầu trong công tác xây dựng Đảng và đạt được những kết quả tích cực, cụ thể như sau:

Công tác xây dựng Đảng luôn được chú trọng và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trên các mặt công tác.

Nhìn chung, các đảng bộ doanh nghiệp, từ tập thể cấp ủy đến mỗi đảng viên, luôn đoàn kết và nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình. Đoàn kết giữa bí thư và các thành viên trong cấp ủy, đoàn kết giữa đảng viên, người lao động và đồng nghiệp ở các phòng ban, đơn vị làm việc, công tác; đoàn kết với các đơn vị thành viên, chính quyền và nhân dân địa phương luôn được đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chú trọng và coi đó là nội dung trọng tâm trong hoạt động của tổ chức đảng và lãnh đạo doanh nghiệp. Đoàn kết trước hết là ở sự thống nhất mục tiêu, kế hoạch nhân sự, sản xuất kinh doanh hằng năm, hằng quý, hằng tháng của doanh nghiệp trên cơ sở công khai, minh bạch để thống nhất trong hành động, nâng cao quyết tâm hành động. Vì vậy, các đảng bộ xác định rõ, tổ chức cơ sở đảng luôn là nền móng của Đảng, có vai trò hạt nhân chính trị cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc và người lao động.

Trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, để nâng cao vị thế, vai trò lãnh đạo của Đảng, thì điều quan trọng là cấp ủy, người đứng đầu và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự nêu cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác nêu gương và năng lực thực thi công việc hoàn thành nhiệm vụ, để quần chúng, người lao động noi theo. Trong cơ chế mới, để đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh, cấp ủy và hội đồng quản trị luôn nỗ lực tạo sự đồng thuận cao trong việc nâng cao năng lực thực hiện công việc cho mọi cán bộ, đảng viên và người lao động, tạo điều kiện cho mỗi người tự giác học tập, như mở các lớp tập huấn về luật pháp, nghiệp vụ kinh doanh. Nhờ đó, năng lực giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh và đề ra chủ trương, nghị quyết của thành viên cấp ủy được nâng cao, sát với thực tế, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của mình, tạo sự đồng thuận cao giữa cấp ủy và hội đồng quản trị. Xác định sức thuyết phục của cán bộ, đảng viên đối với quần chúng, người lao động là năng lực công tác, hiểu biết phù hợp với thời đại khoa học - công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, hiểu đúng và làm việc theo pháp luật, nên doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chú trọng nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ cho cán bộ ở các phòng, ban. Nhờ đó, quá trình sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong thời kỳ kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh được thuận lợi hơn, đạt hiệu quả thiết thực.

Đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn tích cực đổi mới công tác quản trị nhân sự, từ vấn đề nhân sự trong công tác cán bộ, sắp xếp lại và kiện toàn đội ngũ cán bộ từ cấp doanh nghiệp đến các phòng, ban phù hợp với cương vị lãnh đạo, yêu cầu chuyên môn của từng vị trí công việc. Việc học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, đảng viên trong nhiều doanh nghiệp đã trở thành phong trào, có tính tự giác cao. Hằng năm, các đảng ủy doanh nghiệp nhà nước cổ phẩn hóa chú trọng công tác phát triển đảng, cử quần chúng ưu tú học lớp tìm hiểu về Đảng, các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới.

Xây dựng và tạo lập được mối quan hệ tốt giữa cấp ủy, bí thư cấp ủy với hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, ban giám đốc doanh nghiệp.

Nhờ có sự đồng thuận giữa cấp ủy và hội đồng quản trị trong đánh giá năng lực làm việc của từng người, có chế độ khen thưởng công bằng, minh bạch đối với những người làm việc có hiệu quả thường xuyên hoặc đột xuất, nên không khí, môi trường làm việc, tinh thần phấn đấu, cống hiến cho doanh nghiệp, vì sự phát triển của doanh nghiệp của cán bộ, đảng viên, người lao động càng rõ nét, khởi sắc. Thực tế tại nhiều  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa cho thấy, đội ngũ đảng viên đảm nhận hầu hết vị trí quan trọng ở các phòng, ban và lãnh đạo doanh nghiệp, nên tính đảng được phát huy và thể hiện ở ý thức trách nhiệm đối với công việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên này. Trong bối cảnh cán bộ, người lao động thường xuyên thay đổi công việc do nhu cầu cá nhân hoặc từ nguyên nhân khách quan, các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn chủ động công tác nhân sự, bảo đảm đội ngũ cán bộ tại chỗ đủ tiêu chuẩn và năng lực để bổ sung, thay thế, đề bạt kịp thời, không để xảy ra sự hụt hẫng về cán bộ quản lý.

Tại các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa mà Nhà nước không nắm giữ cổ phần chi phối, công tác lãnh đạo, quản lý của hội đồng quản trị và đảng ủy các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đều được thực hiện tốt; đảng viên và người lao động dù ở vị trí, cương vị nào đều luôn tuân thủ, chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy chế, kỷ luật hoạt động của doanh nghiệp mình. Với tinh thần “chi bộ là gốc rễ của Đảng trong quần chúng, chi bộ tốt thì mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều được thi hành tốt”, các chi bộ thường xuyên đổi mới nội dung sinh hoạt, bảo đảm thiết thực, sát với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, tuân thủ định hướng chiến lược hoạt động của doanh nghiệp mà hội đồng quản trị đã đề ra. Mọi đảng viên đều có thể đóng góp ý kiến vào việc sản xuất, kinh doanh, bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích người lao động. Đảng viên thực hiện tốt, nghiêm các quy định về những điều đảng viên không được làm. Trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không ngừng bịa đặt, xuyên tạc chống phá Đảng trên không gian mạng, cấp ủy, đảng viên trong đảng bộ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn quán triệt sâu sắc, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng và không tham gia phát tán, truyền bá tin tức không phù hợp, chưa được kiểm chứng. Các chi bộ không ngừng đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, chú trọng tuyên truyền những điểm mới trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đảng viên yên tâm với công việc, người lao động say mê lao động và cống hiến, biến lời nói thành hành động. Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn xác định, việc học tập, lao động hiệu quả, theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là thước đo chuẩn mực đạo đức, phẩm chất của cán bộ, đảng viên.

Sản xuất sợi quang tại Công ty cổ phần Thiết bị bưu điện (Postef)_Ảnh: TTXVN

Gắn chặt công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và người đứng đầu trong các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa thường xuyên duy trì nền nếp công tác kiểm tra, giám sát. Trước hết, cấp ủy, bí thư cấp ủy luôn nhận thức rõ: Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy; qua đó, giúp đảng viên nâng cao ý thức chính trị, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, uốn nắn, không để xảy ra tình trạng đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật... Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, trên cơ sở nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, của doanh nghiệp, ngay từ đầu các nhiệm kỳ, cấp ủy, ban thường vụ đảng ủy tiến hành xây dựng quy chế làm việc của ban chấp hành đảng bộ. Một mặt, công tác kiểm tra được cụ thể hóa thành mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, xử lý những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa chủ đầu tư và quyền lợi khách hàng, bảo đảm hài hòa quyền lợi, đúng pháp luật với các địa phương nơi dự án triển khai,... Mặt khác, cấp ủy luôn lắng nghe ý kiến của tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, phòng, ban nghiệp vụ. Công đoàn và đoàn thanh niên chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên cán bộ, đoàn viên, người lao động tích cực hưởng ứng, tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh. Tổ chức đảng, công đoàn và đoàn thanh niên phối hợp chặt chẽ, tạo ra sức mạnh cộng hưởng, vừa giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh, vừa đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho người lao động và giữ vững sự ổn định của doanh nghiệp, giúp cho đảng bộ doanh nghiệp có được vai trò, uy tín cao đối với chủ đầu tư và người lao động.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa còn nhiều bất cập, hạn chế. Đó là việc một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc quan điểm, chủ trương về công tác xây dựng Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa; từ đó, hoạt động của tổ chức đảng ở những nơi này chậm đổi mới, nội dung chưa hấp dẫn và phương thức hoạt động ít nhiều còn mang tính hình thức. Thời gian tới, để nâng cao tính đảng và tăng cường xây dựng Đảng trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, cấp ủy, người đứng đầu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh.

Cấp ủy và ban giám đốc doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Phối hợp chặt chẽ, nâng cao tinh thần đồng thuận giữa người đứng đầu với cấp ủy và các phòng, ban chuyên môn trong quản lý, chỉ đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ xây dựng chiến lược đầu tư phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như hiện nay.

Hai là, nâng cao thẩm quyền, trách nhiệm của bí thư đảng ủy, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc doanh nghiệp.

Chú trọng xây dựng những quy định gắn với trách nhiệm người đứng đầu trước doanh nghiệp, đoàn thể, người lao động. Để nâng cao được tính đảng trong đảng bộ các doanh nghiệp, thì điều quan trọng là phải phát huy hiệu quả vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cả về năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức, ý thức pháp luật. Muốn phát huy tốt, khẳng định vai trò của mình, người đứng đầu, tập thể cấp ủy và lãnh đạo phải bám sát cuộc sống, không ngừng đổi mới sáng tạo, đặt lợi ích tập thể, lợi ích người lao động lên trên hết, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Theo đó, một yêu cầu không thể thiếu đối với người đứng đầu là phải hết sức quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đội ngũ lãnh đạo các cấp.

Quyền lực và trách nhiệm là hai mặt của một vấn đề trong công tác cán bộ; do đó, cấp ủy khi phân công và giao nhiệm vụ cho cán bộ thì phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu công việc.

Ba là, chú trọng công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên, nâng cao tính đảng cho cán bộ, đảng viên

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ như hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên do thiếu trách nhiệm, nên thờ ơ, thậm chí cổ xúy cho những thông tin tiêu cực; vì vậy, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải đẩy mạnh đấu tranh chống tin tức xuyên tạc, xấu, độc, nguy cơ làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Để tổ chức đảng trong doanh nghiệp phát triển tương xứng và hiệu quả, đảng bộ các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa phải luôn chú trọng công tác phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên, lấy ý thức trách nhiệm với tập thể, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao và có uy tín trong quần chúng làm tiêu chuẩn và thước đo hàng đầu trong kết nạp đảng viên.

Nâng cao tính đảng xuất phát từ yêu cầu tự thân của Đảng, nhằm luôn giữ vững bản chất, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Tính đảng cần được nhận thức không chỉ là giá trị tự thân của mỗi đảng viên, mà còn là niềm tự hào của gia đình, dòng họ, cộng đồng làng xã, thôn xóm để mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự giác nỗ lực, phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cao cả mà mình đã lựa chọn. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất cao trong toàn Đảng. Củng cố và nâng cao hơn nữa tính đảng sẽ nhân thêm sức mạnh nội lực của Đảng; đồng thời, tạo ra thế và lực mới trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta giành thêm những thắng lợi mới.

Bốn là, tuân thủ nghiêm tính tổ chức và tính kỷ luật của Đảng, của doanh nghiệp.

Tăng cường kiện toàn và thắt chặt tính tổ chức, quán triệt, duy trì nghiêm khắc tính kỷ luật nhằm tạo sự chủ động trong công tác xây dựng Đảng, thực hiện đồng bộ và triệt để các giải pháp nhằm tạo chuyển biến căn bản trong nhận thức cũng như hành động của cán bộ, đảng viên. Trong công tác xây dựng Đảng, người đứng đầu phải biết lắng nghe ý kiến đóng góp, nhắc nhở của cấp ủy, tổ chức đảng; kịp thời điều chỉnh hành vi và ứng xử trong quan hệ với tổ chức đảng, cấp ủy và trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ với thẩm quyền và chức trách của mình.

Đặc điểm, phạm vi hoạt động của nhiều doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, liên quan rất nhiều đến quy định của pháp luật, đồng thời có nhiều mối liên hệ với chính quyền các địa phương, lợi ích của người dân. Do đó, các doanh nghiệp này phải luôn nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Ngoài ra, việc thường xuyên tiếp xúc, đối thoại với người dân là một trong những yêu cầu quan trọng của công tác lãnh đạo, quản lý, nhằm kịp thời giải quyết vướng mắc, khó khăn ngay từ đầu, không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho địa phương hay các cơ quan quản lý của Nhà nước.

Năm là, xây dựng quy chế phối hợp, tạo mối quan hệ gắn bó, hài hòa giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) doanh nghiệp.

Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa cấp ủy với hội đồng quản trị, bí thư cấp ủy với chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc); bảo đảm vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, chức năng quản lý của hội đồng quản trị, sự điều hành của ban giám đốc. Cấp ủy chủ động trao đổi với hội đồng quản trị, ban giám đốc doanh nghiệp về việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng; ý kiến của cán bộ, đảng viên, người lao động về việc thực hiện nhiệm vụ và chính sách, chế độ trong doanh nghiệp. Hội đồng quản trị, ban giám đốc trao đổi với cấp ủy về hoạt động của doanh nghiệp để cấp ủy thảo luận, ra nghị quyết lãnh đạo cán bộ, đảng viên, quần chúng thực hiện. Bí thư cấp ủy phải chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng và cấp ủy cấp trên về hoạt động của tổ chức đảng, các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp. Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc (giám đốc) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và tổ chức đảng (nếu là đảng viên) khi để xảy ra vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong doanh nghiệp.

Công tác xây dựng Đảng ở doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa có vai trò phát huy sức sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước với tinh thần phục vụ lợi ích của xã hội, của người dân, góp phần phát triển đất nước. Trên lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, các  doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa luôn động viên, cổ vũ cán bộ, đảng viên, người lao động tích cực tìm kiếm và nắm bắt cơ hội do công nghệ và thị trường mang lại. Mặc dù còn phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhưng với sự đoàn kết, đồng thuận, quyết tâm cao của cán bộ, đảng viên và người lao động, doanh nghiệp  nhà nước cổ phần hóa luôn chú trọng xây dựng chiến lược sản xuất, kinh doanh, đầu tư, phối hợp để phát huy tiềm năng, thế mạnh, nguồn nhân lực, nguồn lực kinh tế, khoa học - công nghệ, nhằm tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước./.

LHQ-ST