Đi từ đổi mới đế đô đến đổi mới trong xã hội
Năm 1010,
Lý Công Uẩn lên ngôi. Đó cũng là thời điểm lịch sử mà sự nghiệp “đổi mới đế đô”
đã đến độ chín muồi. Đổi mới đế đô là một sự kiện lịch sử trọng đại, có quan hệ
đến tiền đồ, vận mệnh của quốc gia. “Chiếu dời đô” của Lý Thái Tổ đã nêu rõ:
“Ngày xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương
3 lần dời đô, há phải các vua đời Tam Đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy
đâu. Làm thế nào cốt để mưu nghiệp lớn, chọn chỗ ở giữa, làm kế cho con cháu
muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời
đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”.
Dời đô
“cốt để mưu nghiệp lớn…, cho vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”. Rõ ràng
việc dời đô ra Thăng Long có ý nghĩa kinh tế sâu sắc. Và thực tế là, Thăng Long
với thế “Rồng cuộn, hổ ngồi bốn phương tụ hội” như Chiếu dời đô nói, đã góp
phần đưa kinh tế Việt Nam, sau hơn 100 năm độc lập tự chủ (từ Khúc đến Tiền Lê,
907-1009) tiến lên đáng kể. Giao thông vận tải đã có dấu hiệu mở mang. Để thông
thương giữa miền Bắc và miền Trung các đoạn sông đào (được gọi chung là “Kênh
nhà Lê”) cứ tiếp nối nhau hoàn thành. Trước đã đào đến núi Đồng Cổ; năm 983 lại
đào từ Đồng Cổ đến sông Bà Hòa (Thanh Hóa), đến năm 1003 lại vét kênh Đa Cái
thông tới Hoan Châu (Nghệ An). Năm 1009, đào sông từ cửa ải Chi Long qua núi
Đinh Sơn đến sông Vũ Lũng (Thanh Hóa). Có thể nói, một thị trường dân tộc thống
nhất tiền tư bản chủ nghĩa xuất hiện đòi hỏi phải có một đô thị trung tâm là đế
đô. Nơi đó không đâu hơn là Thăng Long.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét