Tư tưởng “chủ động giữ nước”, bảo vệ nền độc lập dân tộc ngay trong thời bình - khi đất nước chưa xảy ra chiến tranh xâm lược là một di sản quý báu mà Tổ tiên ta để lại cho muôn đời con cháu. Những kế sách chủ động, kịp thời của vua tôi các triều đại phong kiến Đại Việt đã góp phần tạo nên sức mạnh, ý chí quyết thắng quân xâm lược, bảo vệ toàn vẹn giang sơn bờ cõi nước ta.
Ngay từ thời Văn Lang - Âu Lạc, tổ tiên ta đã có ý thức phải giữ gìn lấy quốc gia dân tộc. Khi lên ngôi, Thục Phán An Dương Vương vừa động viên trăm họ phát triển cây lúa nước, đồng thời vừa huy động toàn dân đắp thành Cổ Loa, sửa sang giáo mác, rèn đúc tên đồng sẵn sàng bảo vệ đất nước. Trước lúc lâm chung, vua Lý Nhân Tông đã căn dặn Thái tử cùng quần thần: “Nên sửa sang giáo mác để phòng việc bất ngờ”. Thượng tướng Trần Quang Khải khi chỉ đạo quân dân Đại Việt chuẩn bị kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285), đã nhắc nhở: Thái bình nên gắng sức/ Non nước vững nghìn thu. Đến thời nhà Lê, sau 10 năm gian lao cùng toàn dân kháng chiến thần thánh, giành lại nền độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ từ tay quân xâm lược nhà Minh, vua Lê Thái Tổ nhắc nhở con cháu “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”. Giữa thế kỷ XV, trước nhiệm vụ giữ nước còn rất nặng nề, vua Lê Thánh Tông đã nhắc nhở: “Phàm có nhà nước tất có võ bị”, và ra chỉ dụ khuyên các tướng sĩ phải biết quý trọng gìn giữ, bảo vệ từng thước núi, tấc sông do cha ông để lại, năng luyện rèn sẵn sàng đối phó với giặc ngoài… Như vậy, lịch sử dân tộc đã cho thấy: “Chủ động giữ nước -Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy” là tư tưởng chiến lược, mang tính chủ động rất cao, đã trở thành một quy luật trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc ta, thể hiện trên một số vấn đề sau:
Một là, phát triển kinh tế làm cho “quốc phú binh cường”. Đánh tan ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập tự chủ, trước hết là thành tựu của sức mạnh quân sự. Tuy nhiên, thành tựu ấy có được là nhờ vào sức mạnh tổng hợp của cả nước, của hậu phương với quá trình chuẩn bị lâu dài, ngay từ trong thời bình, trong đó yếu tố kinh tế giữ vai trò nền tảng.
Hai là, vua tôi đồng lòng, cả nước chung sức chống thù trong, giặc ngoài. Cùng với chuẩn bị sức mạnh về vật chất, việc chuẩn bị về sức mạnh chính trị - tinh thần cho nhân dân các dân tộc (trước hết là trong dòng tộc) cũng được Tổ tiên ta hết sức coi trọng, và xem như là nhân tố then chốt của kế sách chủ động giữ nước. Tiêu biểu cho sức mạnh đó là việc thực thi tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, cả nước chung sức”, là tư tưởng cố kết trong nội bộ lãnh đạo, xây dựng quân đội theo tư tưởng “phụ tử chi binh” (quân đội cha con) nhằm tạo sự đoàn kết, thống nhất ý chí trong chống giặc ngoại xâm.
Ba là, đối sách mềm dẻo, bang giao phòng ngừa. Đây là một nội dung chiến lược mà Tổ tiên ta đã vận dụng có hiệu quả, nhằm chủ động giữ nước khi nước chưa nguy. Nội dung sinh động của nó được thể hiện trên các vấn đề như: ngoại giao tại biên, ngăn chặn các âm mưu phản loạn từ ngoài biên giới; ngoại giao thăm dò đối phương, nêu cao khí phách của ta; hòa giảng trên thế thắng; ngoại giao sau chiến thắng...
Bốn là, phát hiện từ sớm, tuần phòng từ xa, ngăn ngừa ý định xâm lược. Đây là một nội dung rất quan trọng của tư tưởng “Chủ động giữ nước - Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy” mà Tổ tiên ta đã thực hiện. Sử cũ chép rằng, dưới sự chỉ huy của Lê Hoàn nhân dân Đại Việt đánh bại uân Tống (năm 981), sau chiến thắng, “Lê Hoàn dốc sức chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước. Bên trong, chống cát cứ, xây dựng cơ sở của nền kinh tế. Đối với bên ngoài, thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo nhưng kiên quyết bảo vệ nền độc lập của đất nước”; mặt khác, “Các tướng trong triều được cử đi tuần xét núi sông và kiểm tra việc biên phòng”, “cho xây dựng phòng tuyến chủ yếu bằng ràng buộc các dân tộc thiểu số”... Nhờ đó, đẩy lùi các nguy cơ xâm lược, phản loạn.
Kế thừa và phát huy tư tưởng giữ nước mang tính chủ động cao của cha ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Đảng ta xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”./.
Yêu nước ST.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét