Trong kỷ nguyên thông tin bùng nổ, khi mạng xã hội trở thành không gian tranh luận công khai, việc bảo vệ sự thật lịch sử cách mạng không chỉ là trách nhiệm học thuật mà còn là cuộc đấu tranh tư tưởng thiết yếu nhằm giữ vững nền tảng tinh thần của dân tộc. Cuốn sách Chuyện với Thanh gần đây lan truyền với những nhận định mỉa mai, hạ thấp hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành - Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã khơi dậy nhiều tranh luận. Việc gọi Người là “điêu đốm”, “phượt”, “lang thang ngoan mục” hay coi việc làm phụ bếp trên tàu chỉ là “job để chu du thiên hạ” không chỉ là sự thiếu tôn trọng đối với một vĩ nhân mà còn là sự bóp méo lịch sử có chủ đích, có nguy cơ gây nhầm lẫn nghiêm trọng trong nhận thức của thế hệ trẻ.
Để hiểu rõ bản chất vấn đề, cần đặt hành trình năm 1911 vào đúng bối cảnh lịch sử khách quan. Trước khi rời Tổ quốc, Nguyễn Tất Thành đã có một nền tảng học vấn và tư chất hiếm có trong điều kiện thuộc địa lúc bấy giờ. Năm 17 tuổi, Người thi đỗ vào Trường Quốc học Huế – ngôi trường chỉ tuyển khoảng 200 học sinh mỗi năm từ khắp Trung Kỳ. Thời điểm đó, tỷ lệ dân số biết chữ chỉ dao động từ 10-15%, tỷ lệ viết chữ quốc ngữ khoảng 2-3%, và tỷ lệ tốt nghiệp Thành chung (tương đương THCS ngày nay) chỉ khoảng 0,1%. Việc đỗ vào Quốc học Huế đòi hỏi năng lực vượt trội đặc biệt. Ngay cả việc tốt nghiệp tiểu học chung lúc đó cũng đã là thành tích đáng nể, đủ để trở thành thầy giáo, viết báo hay trở thành trí thức có uy tín ở địa phương. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà yêu nước nổi tiếng thời đó chỉ học hết bậc tiểu học. Năm 20 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã vào dạy học tại Trường Dục Thanh - một trong những cơ sở giáo dục uy tín nhất Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ, với đội ngũ giáo viên là những sĩ phu yêu nước uyên bác. Sau đó, Người tiếp tục theo học tại Trường Bá Nghệ (nay là Trường Cao đẳng Cao Thắng) ở Sài Gòn để tiếp cận kiến thức kỹ thuật, máy móc. Đặc biệt, trước khi ra đi, Người đã thông thạo tiếng Pháp, tiếng Việt và chữ Hán - điều cực kỳ hiếm hoi trong bối cảnh thuộc địa, khi chưa có hệ thống giáo dục ngoại ngữ hiện đại như ngày nay. Sau này, qua lao động thực tế ở nước ngoài, Người còn tự rèn luyện để đạt trình độ thành thạo như người bản địa.
Như vậy, năm 1911, khi mới 21 tuổi, Nguyễn Tất Thành ra đi không phải từ chỗ “thất nghiệp, bất tài” hay “lang thang vô định”, mà từ một xuất phát điểm học vấn và tư chất thuộc hàng đỉnh cao của thời đại. Hành trình ấy diễn ra trong bối cảnh đất nước mất độc lập, nhân dân lầm than dưới ách thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước trước đó như Cần Vương, Đông Du, Yên Bái đều thất bại. Là một thanh niên có học, từng chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, Người đã chọn con đường “ra nước ngoài xem họ làm như thế nào” để tìm con đường cứu nước đúng đắn. Việc làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche-Tréville chỉ là phương tiện duy nhất để rời khỏi đất nước chứ không phải mục đích. Hành trình 30 năm bôn ba sau đó - từ phụ bếp, thợ vườn, thợ sơn, thợ ảnh đến viết báo, hoạt động chính trị tại Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc - tuyệt nhiên không phải là “chu du thiên hạ” mà là quá trình quan sát hệ thống, nghiên cứu thực tiễn bóc lột của chủ nghĩa tư bản và tìm ra con đường cách mạng vô sản.
Năm 1930, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1945, Người lãnh đạo nhân dân giành chính quyền, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược thắng lợi. Tất cả bắt nguồn từ hành trình tìm đường cứu nước năm 1911 - một hành trình đầy ý thức, gian khổ và hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Thực tiễn hôm nay đã khẳng định rõ ràng con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn là đúng đắn. Từ một nước thuộc địa nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam đã vươn lên thành nền kinh tế năng động, hội nhập quốc tế sâu rộng. Năm 2025, GDP tăng trưởng 8,02%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người khoảng 5.026 USD; tỷ lệ nghèo đa chiều giảm còn 1,3%. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế đất nước trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đó là thành quả của sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng do Người sáng lập và rèn luyện.
Những luận điệu mỉa mai, hạ thấp hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn sách “Chuyện với Thanh” không chỉ thiếu cơ sở lịch sử mà còn có nguy cơ gây nhầm lẫn trong nhận thức của một bộ phận người đọc. Lịch sử là khách quan, không thể bị bóp méo hay xuyên tạc. Việc tôn trọng và bảo vệ sự thật lịch sử chính là trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức và công dân, đặc biệt trong bối cảnh các thế lực thù địch đang ra sức chống phá tư tưởng, xuyên tạc lịch sử cách mạng.
Công an tỉnh Quảng Ngãi kêu gọi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần tỉnh táo, nhận diện và kiên quyết bác bỏ những luận điệu sai trái. Chúng ta tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người đã cống hiến trọn đời mình vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Hành trình tìm đường cứu nước của Người mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng giải phóng dân tộc. Đó là chân lý lịch sử không thể phủ nhận./.
Theo báo Công An Quảng Ngãi.
QV-ST!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét