Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

SINH VIÊN HỌC ĐƯỢC GÌ KHI BÁC HỒ BỊ “TẦM THƯỜNG HÓA”?

     Quanh cuốn sách "Chuyện với Thanh", nay đầu tuần lướt mạng thấy người ta bênh vực cũng nhiều, lí lẽ cũng chỉ xoay quanh “quyền sáng tạo”, là cách “kể chuyện bằng ngôn ngữ Gen Z” để kéo lịch sử lại gần giới trẻ. Thậm chí, không ít người còn tìm cách ca tụng học vị Tiến sĩ Toán học, mác "người đi đầu trong công nghệ" của tác giả, cố tình nâng tầm ông lên thành một dạng "vĩ nhân thời đại mới" để hợp thức hóa cho cái quyền được đánh giá, phán xét một lãnh tụ thiên tài như Bác Hồ. Những điều đó, có lẽ những người bức xúc, phản đối đã nói đủ nhiều và bản thân mình cũng đã có bài phân tích góc độ an ninh chính trị trước đó.

Thế nhưng, bên cạnh những câu chuyện gây bức xúc về cách dùng từ giễu nhại, tầm thường hóa hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ, với tư cách là một giảng viên đã gần chục năm đứng lớp đại học, mình lại thấy có một vấn đề khác cũng băn khoăn không kém. Đó là chuyện trách nhiệm của người thầy và quy trình quản lý trên bục giảng, đặc biệt khi nghe thông tin tác giả cuốn sách từng giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhiều người nghĩ đứng lớp đại học là nơi giảng viên được “tự do bay nhảy”. Thực ra, giảng viên hoàn toàn có quyền chủ động sáng tạo phương pháp, làm chủ giảng đường, ứng dụng các mô hình sư phạm tiên tiến hay đổi mới cách kể chuyện để bài giảng thêm sinh động, giúp sinh viên dễ tiếp thu. 

Tuy nhiên, mọi sự đổi mới mang tính sáng tạo ấy tuyệt đối không phải là sự tự trị vô tổ chức, mà bắt buộc phải vận hành trong một khuôn khổ quy chế nghiêm ngặt. Trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, một học phần trước khi đến với sinh viên phải trải qua quy trình kiểm soát chất lượng và thẩm định khoa học theo quy định từ Luật Giáo dục: từ chương trình khung, chuẩn đầu ra học phần (CLO), đề cương chi tiết, giáo án, kế hoạch giảng dạy, đến hệ thống đánh giá và ngân hàng đề thi, kiểm tra. Tất cả đều phải được Bộ môn, cấp Khoa và Hội đồng khoa học Nhà trường phê duyệt.

Do đó, một nguyên lý cốt lõi là: giảng viên không thể thích gì giảng nấy. Mỗi nội dung truyền đạt trên bục giảng không phải là quan điểm cá nhân ngẫu hứng, mà phải bám sát mục tiêu môn học và cam kết chuẩn đầu ra đã được phê duyệt.

Điều này càng mang tính nguyên tắc tuyệt đối với các môn Lý luận chính trị, đặc biệt là môn Tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là môn học cung cấp kiến thức, mà là bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục chính trị - tư tưởng quốc gia, giữ vai trò định hình thế giới quan, phương pháp luận, nhân cách và lập trường cho thế hệ trí thức tương lai của đất nước.

Chính vì tính chất đặc biệt quan trọng của môn học, quy định về tiêu chuẩn giảng viên Lý luận chính trị tại Việt Nam luôn đòi hỏi sự chuẩn hóa ở mức khắt khe. Khi nghe thông tin dư luận nhắc rằng tác giả cuốn sách có xuất phát điểm là Tiến sĩ Toán học, nhiều người trong ngành giáo dục chúng tôi không khỏi đặt ra dấu hỏi lớn về tính chính đáng của tư cách sư phạm.

Một điều tôi rất tán đồng với Đại tá, PGS.TS Triết học Nguyên Hà, đó là khoa học hiện nay sử dụng một hệ thống phân định ngành, chuyên ngành rạch ròi, tuyệt đối không có cơ chế “phiên ngang” tùy tiện. Một Tiến sĩ ngành khoa học tự nhiên, dù học vị cao đến đâu, cũng không mặc nhiên có quyền đứng lớp định hướng tư tưởng cho sinh viên. 

Muốn giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh một cách hợp pháp, giảng viên phải trải qua đào tạo chính quy, có văn bằng chuyên ngành phù hợp hoặc chứng chỉ bồi dưỡng giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh theo quy định của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Mình có ông anh Tiến sĩ Luật khi chuyển công tác sang khoa Triết học vẫn phải đi học lại, chuẩn hóa lại toàn bộ văn bằng chuyên môn theo đúng mã ngành đào tạo. 

Vậy thì, một cơ sở giáo dục nào đã kiểm duyệt hồ sơ khoa học và thông qua tư cách đứng lớp học phần Tư tưởng Hồ Chí Minh cho một người không có chuyên môn gốc thuộc khối ngành khoa học chính trị?

Còn nếu tác giả đảm bảo điều đó, thì thật thiếu sót nếu trong trang bìa quyền sách không thể hiện được điều này, và những người đang bênh vực cũng không tội gì bỏ qua chi tiết này thay vì chỉ tung hô tác giả là Tiến sĩ Toán học.

Nhưng văn bằng vẫn chỉ là một khía cạnh mà thôi.

Điều quan trọng hơn là, nếu đúng là tác giả từng đảm nhiệm giảng dạy môn này, thì nội dung truyền đạt dựa trên đề cương và giáo trình chuẩn quốc gia nào? Những cách nói “cá nhân hóa”, giễu nhại, tầm thường hóa hành trình tìm đường cứu nước của Bác – nếu từng xuất hiện trong bài giảng – thì nó phục vụ cho chuẩn đầu ra nào của môn học?

Gần chục năm giảng dạy, mình hiểu rằng chuẩn đầu ra không chỉ quy định sinh viên biết cái gì sau khi học xong môn học, mà còn quy định họ phải hình thành được những phẩm chất, thái độ và năng lực gì. Vậy nếu một học phần mang tên Tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng người học sau khi kết thúc môn học lại hình thành cách nhìn tầm thường hóa về thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, thì chuẩn đầu ra của học phần đó đã được thực hiện theo cách nào? Đây là câu hỏi mà với tư cách một giảng viên đại học, rất nhiều người thực sự muốn được nghe lời giải thích rõ ràng. 

Thật lòng mà nói, mục tiêu của môn Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không cao siêu gì, đó là giúp sinh viên hiểu sâu giá trị tư tưởng của Bác, hun đúc lòng yêu nước và niềm tin vào Đảng. Chứ không phải để hạ thấp hành trình bôn ba cứu nước đầy hy sinh, gian khổ thành kiểu “đi phượt” hay “kiếm job để đi đây đi đó”. Nếu những cách tiếp cận như vậy đã len vào bài giảng thực tế, thì đây không còn là chuyện cá nhân của người thầy nữa.

Trên bục giảng, lời thầy nói không bao giờ chỉ là của riêng thầy. Đằng sau là cả một hệ thống gác cổng: Tổ bộ môn, Khoa chuyên môn, Phòng Quản lý đào tạo, Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, cùng sự giám sát của thanh tra giáo dục. Hệ thống này có dự giờ thường xuyên, thanh tra giảng dạy, kiểm định chất lượng và lấy ý kiến phản hồi từ sinh viên. Nếu những nội dung đang gây bức xúc trong dư luận xã hội thực sự từng xuất hiện trong quá trình giảng dạy chính khóa, hoặc nếu việc phân công giảng dạy chưa bảo đảm đầy đủ các yêu cầu chuyên môn theo quy định, thì rõ ràng cần phải xem xét lại quy trình quản lý, thẩm định và giám sát học thuật của cơ sở giáo dục đó.

Hơn nữa, với tư cách là người từng giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, trách nhiệm càng cao hơn. Sự kính yêu Bác Hồ thật sự không phải mượn danh Người để thể hiện cái tôi hoặc suy nghĩ chủ quan của mình, mà là sống và học tập theo tấm gương của Người. Bác luôn chọn ngôn từ phù hợp, sâu sắc khi nói với mọi tầng lớp nhân dân, chưa bao giờ dùng cách giễu nhại hay hạ cấp. Bác cầu thị, biết nhận lỗi, lắng nghe dân và tạo đồng thuận, chứ không đổ lỗi hay huy động lực lượng tấn công thậm chí chê bai trình độ quần chúng khi họ có những ý kiến phê bình.

Ngôn từ ta dùng để nói về Bác chính là phản ánh nhân cách và mức độ tôn kính thực sự. Khi dùng ngôn từ tầm thường để nói về hành trình cứu nước của Người, dù trong sách hay trên bục giảng, đều là điều rất đáng suy ngẫm.

Học đường phải là pháo đài vững chắc nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng và sự thật lịch sử. Không thể để bục giảng trở thành nơi thử nghiệm những cách nhìn làm phai nhạt niềm tin của sinh viên vào Bác và Đảng.

Bởi xét đến cùng, đây không chỉ là câu chuyện của một cuốn sách hay một tác giả. Đây là câu chuyện về những giá trị nào đang được truyền lại cho thế hệ trẻ trên giảng đường đại học. Và đó là câu hỏi mà không một cơ sở giáo dục nào được phép né tránh./.
QV-ST!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét