* Bộ luật lao động năm 2012
(2012)
- Điều 4: “Bảo đảm nguyên tắc
BĐG; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao dộng nữ, lao
động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao dộng chưa thành niên”
-Chương X: bàn về những quy định
riêng đối với lao động nữ; nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động
nữ; bảo vệ thai sản đối với lao động nữ; quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp
đồng lao động của lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản; bảo đảm việc làm cho
lao động nữ nghỉ thai sản; trợ cấp khi nghỉ để chăm sóc con omms, khám thai, thực
hiện các biện pháp tránh thai; công viecj không được sử dụng lao động nữ
- Liên quan đến tuổi nghỉ hưu, Bộ
luật lao dọng năm 2012 quy định “người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian
đóng bảo hiemr xã hội theo quy dịnh của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng
lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”. Bộ luật này cũng quy định “người
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản
lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng
không quá 5 năm so với quy định”
- Một điểm mới trong Bộ luật lao
động sửa đổi năm 2012 là quy định lao động là người giúp việc gia đình. Những
quy dịnh cụ thể về hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình; nghĩa
vụ của người lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình; những hành vi
nghiêm cấm đối với người sử dụng lao dộng giúp việc…được xem là một bước tiến
trong việc bảo đảm quyền lợi của lao động nữ vì hầu hết lao động giúp việc gia
đình là phụ nữ.
* Luật bầu cử đại biểu quốc hội
và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015
- Lần đầu tiên trong Luật bầu cử
đại biểu quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 đã quy định về tỷ lệ nữ
trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu quốc họi và đại biểu
HĐND ít nhất là 35%. Quy định này là một bước cụ thể hóa quy định và là một bước
tiến so với quy định được ban hành trong Luật bầu cử đại biểuHĐND năm 2003
* Luật đất đai năm 2013 (hiệu lực
1/7/2014)
- Điều 4 “Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao
quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật nay”. Tại khoản
2 Điều 5 về “Người sử dụng đất” gồm “hộ gia đình cá nhân trong nước”. Như vậy
Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất, trong đó có hộ gia đình, các nhân,
không phân biệt nam hay nữ.
- Quy định tại khoản 4 điều 98
“Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn lienf với đất
là tài sản chung của vợ, chồng mà giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ tê của vợ,
hoặc chồng thì dduwpowcj cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng
nếu có yêu cầu.
- Quy định quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu nhà ở ghi cả tên vợ và chòng là cơ sở pháp lý cho sự bình đẳng giữa
vợ và chồng trong việc quyết định sử dụng, quản lý tài sản đất đai, đồng thời tạo
quyền cho phụ nữ trong việc đồng sở hữu tài sản gồm đất đai và sở hữu nhà ở.
* Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2015
Mở rộng phạm vi các văn bản cần lồng
gép vấn đề BĐG đến nghị định, quyết định của TTCP, thông tư của bộ trưởng, cơ
quan ngang bộ; các luật, pháp lệnh, nghị quyết của quốc hội…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét