Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2022

Luật pháp và chính sách có lồng gép vấn đề BĐG

 


* Bộ luật lao động năm 2012 (2012)

- Điều 4: “Bảo đảm nguyên tắc BĐG; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao dộng nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao dộng chưa thành niên”

-Chương X: bàn về những quy định riêng đối với lao động nữ; nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ; bảo vệ thai sản đối với lao động nữ; quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản; bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản; trợ cấp khi nghỉ để chăm sóc con omms, khám thai, thực hiện các biện pháp tránh thai; công viecj không được sử dụng lao động nữ

- Liên quan đến tuổi nghỉ hưu, Bộ luật lao dọng năm 2012 quy định “người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiemr xã hội theo quy dịnh của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”. Bộ luật này cũng quy định “người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 năm so với quy định”

- Một điểm mới trong Bộ luật lao động sửa đổi năm 2012 là quy định lao động là người giúp việc gia đình. Những quy dịnh cụ thể về hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình; nghĩa vụ của người lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình; những hành vi nghiêm cấm đối với người sử dụng lao dộng giúp việc…được xem là một bước tiến trong việc bảo đảm quyền lợi của lao động nữ vì hầu hết lao động giúp việc gia đình là phụ nữ.

* Luật bầu cử đại biểu quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015

- Lần đầu tiên trong Luật bầu cử đại biểu quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 đã quy định về tỷ lệ nữ trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu quốc họi và đại biểu HĐND ít nhất là 35%. Quy định này là một bước cụ thể hóa quy định và là một bước tiến so với quy định được ban hành trong Luật bầu cử đại biểuHĐND năm 2003

* Luật đất đai năm 2013 (hiệu lực 1/7/2014)

- Điều 4 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật nay”. Tại khoản 2 Điều 5 về “Người sử dụng đất” gồm “hộ gia đình cá nhân trong nước”. Như vậy Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất, trong đó có hộ gia đình, các nhân, không phân biệt nam hay nữ.

- Quy định tại khoản 4 điều 98 “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn lienf với đất là tài sản chung của vợ, chồng mà giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ tê của vợ, hoặc chồng thì dduwpowcj cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.

- Quy định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở ghi cả tên vợ và chòng là cơ sở pháp lý cho sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc quyết định sử dụng, quản lý tài sản đất đai, đồng thời tạo quyền cho phụ nữ trong việc đồng sở hữu tài sản gồm đất đai và sở hữu nhà ở.

* Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Mở rộng phạm vi các văn bản cần lồng gép vấn đề BĐG đến nghị định, quyết định của TTCP, thông tư của bộ trưởng, cơ quan ngang bộ; các luật, pháp lệnh, nghị quyết của quốc hội…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét