Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

KỶ NIỆM 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM THỐNG NHẤT TỔ QUỐC: TRÍ TUỆ QUÂN SỰ SẮC BÉN VÀ TÍNH NHÂN VĂN SÂU SẮC!

     Sau đòn “điểm huyệt” Buôn Ma Thuột của ta, Quân đội Sài Gòn bắt đầu sụp đổ theo hiệu ứng “Domino”. Phân tích thế và lực giữa ta và địch, nắm vững thời cơ, ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền nam ngay trong năm 1975.

Các quân đoàn chủ lực gồm nhiều binh chủng hiện đại tiến về Sài Gòn theo tinh thần Mệnh lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền nam. Quyết chiến và toàn thắng!”.

Phát huy tinh thần chủ động tiến công, mưu trí sáng tạo, bộ đội ta đã có nhiều biện pháp để tăng cường sức chiến đấu. Một trong những biện pháp đó là tuyển dụng nhân viên của địch để giúp ta làm chủ vũ khí của địch.

Lấy xe tăng địch đánh địch

Ngày 1/4/1975, trận tiến công thị xã Tuy Hòa nổ ra. Binh lính Quân đội Sài Gòn không thể ngờ rằng quân giải phóng có một đội hình 8 xe tăng M-41 “made in USA” do chiến sĩ quân giải phóng điều khiển, với lợi thế trọng lượng nhẹ, tốc độ cao, hỏa lực mạnh đã nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự. Suốt quá trình chiến đấu, số xe tăng M-41 này không hề có sự cố kỹ thuật nào, tham gia từ đầu đến cuối, đạt hiệu suất chiến đấu rất cao.

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, nguyên chiến sĩ lái xe tăng số 380, Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203 đánh chiếm Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 thuật lại:

Sau gần một tháng chiến đấu liên tục từ Đức Lập-Buôn Ma Thuột đến Nông Trại-Phước An, Cheo Reo-Phú Bổn, nhiều xe tăng của ta bị tổn thất, hư hỏng. Trong khi đó, sau cuộc “rút lui chiến lược” - thực chất là cuộc tháo chạy, Quân đoàn 2 Sài Gòn đã bỏ lại hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp các loại.

Phòng Tăng-Thiết giáp B3 xin phép Bộ Tư lệnh Mặt trận cho tận dụng số xe tăng này đưa vào biên chế, tăng sức mạnh chiến đấu cho đơn vị. Được trên đồng ý, ngày 21/3/1975 Trung đoàn Xe tăng 273 lệnh cho Đại đội 9 thuộc Tiểu đoàn 3 bàn giao số xe T-54 còn lại cho các đơn vị khác để tổ chức thu gom xe chiến lợi phẩm, huấn luyện chuyển loại, sau 10 ngày phải tham gia chiến đấu được!

Sau 2 ngày, đơn vị đã gom được hơn 40 xe tăng M-48 và M-41. Nhưng số xe này có nhiều chi tiết quan trọng, như khóa nòng pháo, kính ngắm... bị lính Sài Gòn tháo đi hoặc phá hỏng. Theo đề nghị của Đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng, trung đoàn đã cử cán bộ tới địa điểm tập trung tù, hàng binh tại thị xã Cheo Reo, chọn lựa được 12 hàng binh, đủ cả trưởng xe, lái xe, xạ thủ và thợ sửa chữa của hai loại xe M-48, M-41.

Chiến sĩ Vũ Công Hoan, nhân viên văn thư - quân lực Tiểu đoàn 1 được giao quản lý số hàng binh. Anh đã tổ chức cho họ có nơi ăn nghỉ chu đáo. Qua thực tế, họ đã rất tin vào bộ đội ta và thật sự muốn lập công chuộc tội, bắt tay vào sửa chữa, khôi phục xe. Sau mấy ngày làm việc, Trung đội Kỹ thuật này đã khôi phục được 10 xe M-41 và 6 xe M-48 đủ điều kiện tham gia chiến đấu. Và chỉ sau 3 ngày được “chuyển giao công nghệ”, cán bộ, chiến sĩ Đại đội Xe tăng 9 đã sử dụng tương đối thành thạo cả hai loại xe M-48 và M-41.

Mấy hôm sau, Tiểu đoàn Xe tăng 1 cùng Đại đội Xe tăng 9 trang bị 8 xe M-41, với sự hỗ trợ của Trung đội kỹ thuật gồm hàng binh, đã tăng cường cho Sư đoàn Bộ binh 320 tiến công thị xã Tuy Hòa thắng lợi.

Kết thúc trận đánh, Trung đoàn 273 tổ chức phóng thích cho hàng binh sau khi cấp cho mỗi người một “Giấy chứng nhận đã có công giúp đỡ quân giải phóng”, một “Giấy đi đường” và một số gạo, thực phẩm. Mặc dù chỉ mới cùng ăn ở, cùng làm việc với nhau chục ngày song phút chia tay giữa những người anh em vốn ở hai bờ chiến tuyến vẫn bịn rịn. Có 4 hàng binh quê ở miền Tây tình nguyện tiếp tục đi cùng Đại đội Xe tăng 9 vào phía nam để giải phóng quê nhà.

Bây giờ ở quê nhà Trà Giang, Kiến Xương, Thái Bình cũ (nay là xã Trà Giang, tỉnh Hưng Yên), cựu chiến binh Vũ Công Hoan vẫn nhớ những ngày tháng 3 năm 1975 ấy và mong có ngày biết được thông tin về những người bạn cùng Trung đội Kỹ thuật hơn 50 năm trước.

Người hàng binh đặc biệt

Ngày 29/3/1975, quân giải phóng tiến vào Đà Nẵng, thu được rất nhiều máy bay do địch bỏ chạy để lại, trong đó có 17 chiếc A-37. Binh lính Sài Gòn bỏ chạy lên tàu thủy ra biển, một số phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa lái máy bay vào nam, chạy sang Thái Lan...

Tuy nhiên cũng có nhiều người ở lại, không di tản, trong đó có Trần Văn On, Trung úy Phi tuần phó Phi đoàn 550 Không lực Việt Nam Cộng hòa. Sau khi ra trình diện, Trần Văn On được trưng dụng để giúp phi công ta tìm hiểu cách sử dụng máy bay A-37, một loại máy bay cường kích phản lực trong biên chế không quân Sài Gòn mà ta thu được.

Ban đầu Trần Văn On rất sợ, nhưng khi tiếp xúc với phi công giải phóng, thấy anh em hòa nhã, lịch sự cho nên bình tĩnh lại. Được tin tưởng giao việc, Trần Văn On và một hàng binh không quân là Nguyễn Văn Sanh, sau có thêm Nguyễn Thành Trung, người lái máy bay F-5 ném bom dinh Tổng thống chính quyền Sài Gòn ngày 8/4, đã tận tình giúp bộ đội giải phóng làm quen với máy bay Mỹ. Anh đã dịch các ký hiệu trên bảng điều khiển máy bay A-37 ra tiếng Việt, viết lên giấy rồi dán lên các nút bấm, công tắc điều khiển. Trần Văn On cũng bay kèm để phi công ta làm quen với máy bay mới lạ. Chỉ sau hơn 3 ngày, phi công quân giải phóng đã điều khiển được máy bay ném bom A-37.

Ngày 28/4/1975, viên trung úy hàng binh được tin cậy có mặt trong đội hình Phi đội Quyết thắng, ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 24 máy bay, tiêu diệt hàng trăm sinh lực địch, khiến sân bay Tân Sơn Nhất hoàn toàn tê liệt.

Sau ngày 30/4/1975, Trần Văn On tham gia chiến dịch biên giới Tây Nam đánh quân Polpot, năm 1977 anh về quê làm ruộng, cuộc sống khó khăn vất vả. Đến năm 2008, Trần Văn On mới gặp lại những người bạn cùng Phi đội Quyết thắng và được nhận tấm Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, việc thu dung, sử dụng hiệu quả đội ngũ sĩ quan, nhân viên kỹ thuật của địch là một điểm nhấn đặc sắc về nghệ thuật quân sự và chính sách nhân văn của quân giải phóng.

Chủ trương ấy bắt nguồn từ truyền thống đại nghĩa của dân tộc, phản ánh chính sách hòa hợp dân tộc của cách mạng. Chính sự kết hợp giữa trí tuệ quân sự sắc bén và tính nhân văn sâu sắc đã góp phần làm nên thắng lợi trọn vẹn, không chỉ trên chiến trường mà cả trong lòng người./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 800 NĂM LƯU LẠC VÀ QUYẾT ĐỊNH BỎ LẠI TẤT CẢ "NẾU CÓ C.H.Ế.T, TÔI CŨNG MUỐN C.H.Ế.T TRÊN QUÊ CHA ĐẤT TỔ!"

     Bạn sẽ làm gì nếu biết mình là hậu duệ của một vương triều vĩ đại cách đây 8 thế kỷ?

Câu chuyện về ông Lý Xương Căn (Lee Chang-geun) - Hậu duệ đời thứ 31 của Vua Lý Thái Tổ - Và thứ 26 của hoàng thúc Lý Long Tường, chắc chắn sẽ khiến bạn xúc động!

🌊 Cuộc hội ngộ sau 8 thế kỷ đứt đoạn, Trong bài viết về Lý Long Tường hôm qua kênh đã đề cập:
Vào thế kỷ 13, để bảo toàn huyết mạch, Hoàng thúc Lý Long Tường đã vượt biển sang Cao Ly (Hàn Quốc ngày nay). Trải qua 800 năm lịch sử thăng trầm, dòng máu hoàng tộc họ Lý tưởng chừng đã chìm vào dĩ vãng. Thế nhưng, năm 1993, định mệnh đã gõ cửa! Mang theo cuốn tộc phả quý giá, ông Lý Xương Căn đã gõ cửa Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, chính thức nối lại mối lương duyên đứt gãy suốt 8 thế kỷ.

✈️ Chuyến bay lịch sử và quyết định "ngược dòng" gây sốc
Năm 1994, khi lần đầu đặt chân về Đền Đô (Bắc Ninh), sự chào đón nồng nhiệt của người dân quê hương đã khiến ông rơi nước mắt. Đặc biệt, sau cuộc gặp gỡ lịch sử và nghe lời dặn dò từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Cháu là người Việt Nam, mang dòng máu Việt Nam...", ông đã đưa ra một quyết định chấn động!

Năm 2000, ông BÁN SẠCH TÀI SẢN, từ bỏ sự nghiệp kỹ sư đang thăng hoa tại Hàn Quốc để đưa vợ và 3 con nhỏ về Việt Nam lập nghiệp. Bạn bè chê cười bảo ông "liều lĩnh", người quen can ngăn vì Việt Nam lúc đó còn nhiều khó khăn, nhưng ông kiên quyết: "Sinh ra ở Hàn Quốc nhưng hồn tại Việt Nam".

🇻🇳 Hành trình bám rễ và cống hiến không mệt mỏi
Không cho con học trường quốc tế, ông cho các con học trường công để "sống như người Việt Nam thực thụ". Vượt qua rào cản ngôn ngữ và bao khó khăn lúc khởi nghiệp, ông không chỉ xây dựng doanh nghiệp vững mạnh mà còn chính thức nhập quốc tịch Việt Nam vào năm 2009.

Hơn thế nữa, ông tự bỏ tiền túi để xúc tiến du lịch, đảm nhận vai trò Đại sứ Du lịch Việt Nam tại Hàn Quốc suốt 3 nhiệm kỳ liên tiếp!

🗣️ "Trong dòng máu tôi, sau 31 đời, chỉ có 0,01% là gốc Việt, 99,99% là gốc Hàn nhưng tình yêu Việt Nam trong tôi luôn mạnh mẽ. Nửa phần đời trước tôi đã ở Hàn Quốc, nửa phần đời còn lại tôi muốn dành trọn cho Việt Nam. Có c.h.ế.t cũng phải c.h.ế.t trên quê cha đất tổ!" - Lời tâm sự chạm đến trái tim của hàng triệu người.

Cội nguồn không chỉ nằm ở những dòng gia phả, mà nằm ở nhịp đập của trái tim. Một quốc gia biết tôn trọng và trân quý quá khứ chắc chắn sẽ rực rỡ trong tương lai!

👇 Bạn nghĩ sao về quyết định từ bỏ vinh hoa để về quê hương của hậu duệ nhà Lý? Hãy để lại bình luận và CHIA SẺ câu chuyện đầy tự hào này để lan tỏa tinh thần dân tộc nhé! ❤️


QV-ST!

TRAO ĐỔI: “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” VỚI FB LÊ THỊ HUYỀN!

     Chiều tối nay tôi có đọc bài viết và xem Livestream trên facebook của Lê Thị Huyền, cũng như lần lại bài viết của chị ngày 17/1/2026 thể hiện quan điểm cá nhân về tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh. Bởi chị tự coi mình là người yêu nước, trân trọng máu xương của cha ông mình đã đổ xuống cho Tổ quốc để chị có ngày hôm nay và trong chương trình livestream chiều nay chị khẳng định đến giờ chị vẫn thích tác phẩm NBCT của Bảo Ninh. “Thích” là quyền của cá nhân chị nhưng khi chị đã tự nhận mình là người yêu nước thì quan điểm và lập trường chính trị không thể có cách nhìn trung lập.

Tôi xin trao đổi với chị Lê Thị Huyền về tác phẩm NBCT của Bảo Ninh. 

1. NỖI BUỒN CHIỀN TRANH của Bảo Ninh - Gáo nước lạnh dội lên đầu Người lính.

“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh toát lên nỗi đau qua những ký ức ám ảnh của Kiên - một người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông nhập ngũ năm 1969 từng trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Nam trước năm 1975; Chiến đấu tại mặt trận B3, Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10.

“Nỗi buồn chiến tranh” ra đời năm 1987, xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1990, là một trong ba tiểu thuyết được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải trong năm 1991, tuy nhiên sau đó giải thưởng đã bị thu hồi do sự phản đối của công chúng. Cuốn tiểu thuyết này gặp nhiều chỉ trích do tác giả hư cấu nhiều tình tiết xúc phạm, bịa đặt về người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam và những nhận xét mang tính bôi nhọ cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. Năm 1993, “Nỗi buồn chiến tranh” đã được dịch ra tiếng Anh với tên "The Sorrow of War" sau đó được chuyển ngữ tại nhiều quốc gia trên thế giới.

"Nỗi buồn chiến tranh" kể về cuộc đời của Kiên, một người lính trở về từ chiến tranh mang theo những ký ức đau thương ám ảnh, mất mát về thể xác, nỗi đau tinh thần sau chiến tranh. Tiểu thuyết mở đầu bằng một không gian mờ mịt, lạnh giá. Kiên nhìn ra màn mưa xối xả, xám xịt nhớ đến anh em đồng đội qua những kí ức hãi hùng bom nổ, đạn rơi xoáy vào tâm trí. Kí ức đau buồn cứ dặt vặt trong tâm tưởng thôi thúc Kiên cầm bút chép lại một đoạn đời đặc biệt. Tâm lý thường trực của Kiên không can trường như bao người lính khác mà luôn trong trạng thái mơ màng, đăm chiêu, âu sầu với những cảm xúc tiêu cực hồn xiêu phách lạc, ý thức mờ mịt, lú lẫn, cô quạnh. Trong đầu Kiên không phải là những trận chiến khốc liệt, đầy hy sinh quả cảm của người lính mà luôn hiện lên những tang thương, tàn khốc. Rời xa cuộc chiến tranh không như bao đồng đội khác trở về cuộc sống đời thường đoàn tụ bên người thân, xóm làng mà Kiên chọn lối sống khác người. Kiên tiếc nuối cuộc đời tuổi trẻ trong chiến tranh, để giờ đây anh sống như một kiếp tạm. Con tim của Kiên trở nên thờ ơ, vô cảm trước cuộc sống của đồng loại và những giá trị hy sinh mất mát của đồng đội, đồng chí của mình. Kiên thể hiện qua từng trang tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” bằng những kí ức đứt gãy, bi ai, xiêu vẹo, nhạt nhòa. 

“Nỗi buồn chiến tranh” là vấn đề muôn thuở. Đó không chỉ là vết thương về thể xác mà còn là nỗi đau tinh thần của hàng triệu gia đình Việt Nam khi con em mình nằm lại chiến trường; khi hàng triệu người lính vẫn còn quằn quại nỗi đau vết thương trên thể xác, khi hàng triệu người lính dâng hiến tuổi thanh xuân mình cho Tổ quốc sau hơn nửa thế kỷ vẫn là “Liệt sĩ chưa biết tên” hoặc chưa tìm thấy mộ. Sự nhân văn ở chỗ cả dân tộc Việt Nam đã biết cách vượt qua “Nỗi đau của chiến tranh” để sát cánh bên nhau tạo nên bức trường thành vững chắc, sức mạnh của cả một dân tộc để kết thúc chiến tranh thắng lợi, đánh đuổi Đế quốc Mỹ xâm lược ra khỏi bờ cõi, thống nhất đất nước, đem lại hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân. Cái đáng trân trọng ở chỗ không như Kiên, khi kết thúc chiến tranh, những người lính vẫn phát huy được tố chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, hàng triệu cựu chiến binh tàn mà không phế, họ luôn tự hào đã đóng góp một phần thân thể của mình để đem lại độc lập tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

“Mưa Đỏ” của Nhà Văn Quân đội Chu Lai như một thiên anh hùng ca về một cuộc chiến tranh chống Mỹ, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, đã khơi dậy lòng yêu nước, tình đoàn kết dân tộc, hàn gắn nỗi đau sau chiến tranh thì “Nỗi đau chiến tranh” của Bảo Ninh như một gáo nước lạnh dội lên đầu các tướng lĩnh và các Cựu chiến binh về cách nhìn tiêu cực, khắc họa lại một cuộc chiến tranh tàn khốc, đau buồn; một trường ca bi ai, một gam màu tối trong nền văn học nghệ thuật dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng của Kiên, cách nhìn của Kiên, cách sống của Kiên là tiêu cực, là nhu nhược không thể hiện đúng bản chất của người lính Cụ Hồ, Vì vậy, khi “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh được Hội Nhà Văn Việt Nam trao giải, không chỉ bây giờ gặp phải sự chỉ trích dữ dội của dư luận đặc biệt là các tướng lĩnh, Cựu chiến binh những nhân chứng sống trong cuộc chiến tranh chống Mỹ vẫn còn đó. Tạp chí Cộng sản có bài phê phán:
“Bằng sự bôi nhọ sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta, Bảo Ninh không chỉ xúc phạm đến những người đang sống… Tác giả Nỗi buồn chiến tranh còn muốn giết chết hẳn những người đã vĩnh viễn nằm xuống để cho “dân tộc quyết sinh”… Đó là sự khai tử của một ngòi bút quá nhẫn tâm đã coi họ là vật hy sinh mù quáng cho những cuồng vọng của con người”. Nên nhớ, trước sự phản đối dữ dội của dư luận, Ban Lãnh đạo Hội Nhà Văn Việt Nam khi đó đã phải tự phê bình bằng văn bản, đọc trước toàn Đại hội lần thứ V. Riêng Nhà văn Vũ Tú Nam, lãnh đạo cao nhất của Hội, khi trả lời phỏng vấn đã nhận trách nhiệm: “Trách nhiệm thuộc về toàn thể Ban Chấp hành, nhưng tôi là người chịu trách nhiệm trước nhất. Sự phê phán của công luận sau đó là chính đáng”.

2. “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH ĐÁNH VÀO NỖI ĐAU CỦA NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI

Các cuộc chiến tranh đã trôi qua, nỗi buồn về di chứng chiến tranh vẫn còn đó, nỗi đau lại giằng xé con tim những người còn lại. Trên thế giới này không có đất nước nào phải gánh chịu hàng trăm cuộc chiến tranh tàn khốc do kẻ thù xâm lược gây ra suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước như dân tộc Việt Nam?

Trên thế giới này có dân tộc nào chịu nhiều đau thương mất mát trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa tàn bạo do kẻ thù xâm lược gây ra như dân tộc Việt Nam? Một dân tộc đã đứng lên, lấy xương máu của mình để bảo vệ phẩm giá: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì chúng ta phải quyết tâm đánh thắng, quét sạch chúng đi”. Và dân tộc đó đã viết nên những trang sử vẻ vang đánh bại tất cả kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới bằng máu và hoa của mình. Máu của sự hy sinh quả cảm và hoa khát vọng của một dân tộc để dân được tự do. Và để có được độc lập, tự do đó hàng triệu người đã ngã xuống cho dân tộc trường tồn. Họ nằm xuống suốt chiều dài đất nước trong nghĩa trang liệt sĩ, trong những nấm mồ không tên tuổi. Hàng triệu bà mẹ mất con, hàng triệu phụ nữ mất chồng; hàng triệu người vẫn đau đớn quằn quại do di chứng chiến tranh để lại. Đó là nỗi buồn chiến tranh mà cả dân tộc phải chấp nhận để có được sự yên bình cho thế hệ mai sau.

Nhưng nỗi đau bây giờ không phải từ di chứng, hậu quả chiến tranh để lại cho những người lính còn sống may mắn trở về sau cuộc chiến và những người còn sót lại sau chiến tranh mà chính là ký ức một thời hoa đỏ của họ đã bị nhuộm đen bằng sự vô ơn của những kẻ phản bội đồng loại; bằng sự đánh tráo đổi trắng thay đen trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc; bằng sự hoen ố trong những trang sách giáo khoa định hướng giáo dục cho học sinh; bằng sự phục dựng, tôn vinh, đặt tên đường cho những kẻ tội đồ của dân tộc. Không có nỗi đau nào bằng nỗi đau của một dân tộc khi lương tri, phẩm giá của cuộc kháng chiến chính nghĩa bị đánh đồng với cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa và những kẻ tay sai bán nước được vinh danh, ngang hàng với anh hùng dân tộc.

Nhân dân Việt Nam không cho phép ai viết lại lịch sử dân tộc; phủ nhận máu xương của thế hệ cha anh mình đã ngã xuống. Bất cứ kẻ nào có hành động đi ngược lại lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân sẽ bị trả giá, ngàn đời nguyền rủa.

3. “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH KHÔNG THỂ THAY THẾ NỖI ĐAU CUẢ CẢ MỘT DÂN TỘC

Cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược bảo vệ Tổ quốc đã trôi qua nửa thế kỷ nhưng vẫn hằn sâu trong ký ức của mỗi người dân Việt Nam. Có lẽ trên thế giới này không có nước nào như Việt Nam, chiến tranh là đề tài tốn biết bao nhiêu giấy mực của bao thế hệ, trong những trang nhật ký của người lính nằm lại chiến trường và những cuốn sách của những người lính trở về sau cuộc chiến.

Mỗi người một góc nhìn. Người day dứt về nỗi buồn chiến tranh, người mang nặng nỗi đau từ cuộc chiến đem lại. Những ký ức ấy cứ dằn vặt, dày vò qua từng trang sách về chiến trường khói lửa chống quân xâm lược vô cùng khốc liệt, đau thương, mất mát. Những trang nhật ký dang dở trên đường hành quân hay từng dòng nhật ký viết vội sau một trận đánh, những cuốn nhật ký của những người lính nằm lại chiến trường đã phủ màu thời gian nhưng vẫn còn nguyên máu, nước mắt, nụ cười toát lên nghị lực phi thường, bản lĩnh sống, sự hy sinh, ước mơ lý tưởng, ý chí chiến đấu và niềm tin tất thắng về sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của dân tộc.

Có lẽ trên thế giới này không có dân tộc nào chịu đau thương mất mát như dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược dù đã trôi qua mấy chục năm nhưng NỖI ĐAU CHIẾN TRANH vẫn còn đó. Hình ảnh đạn bom, khói lửa, hy sinh, mất mát trong chiến tranh vẫn day dứt trong tim những người ở lại. Nước mắt của sự mừng vui, đoàn tụ ngày độc lập có là bao so với giọt nước mắt của hàng triệu người mẹ khóc con chết trận, người vợ mất chồng và nước mắt của hàng chục ngàn cha mẹ trước sự quằn quại của những đứa con do di chứng chiến tranh. Vượt qua NỖI BUỒN chính là NỖI ĐAU của dân tộc, nỗi đau chiến tranh từ những giọt nước mắt giữa thời bình. Chiến tranh đã qua đi nhưng tàn dư mà nó để lại còn ĐAU hơn nỗi BUỒN do cuộc chiến bởi sự đau thương đó không chỉ ngấm xương vào tuỷ mà ngấm vào tâm trí của con người. Nhưng chính cốt cách, phẩm giá của một dân tộc đã giúp cho con người biết gác lại NỖI BUỒN riêng để chia sẻ NỖI ĐAU chung, gắng sức để tồn tại, để vươn lên chờ đón ngày chiến thắng.

Và bây giờ, những người lính đã vượt qua lằn ranh sinh tử, may mắn còn sống trở về. Họ viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc về đồng đội mình, về những kỷ niệm chiến trường, về một thời hoa đỏ đầy tính nhân văn, “Cái tôi” của họ biết hạ xuống để gắn chặt số phận mình với số phận nhân dân, số phận Tổ quốc, số phận đồng loại. Không bi ai, uỷ mị cái “Chất lính” vẫn toát lên qua từng dòng, từng trang sách khí phách hào hùng của dân tộc Việt Nam và cả trách nhiệm với những người đã hi sinh cho tổ quốc mình.

Một tác phẩm văn học cách mạng phải phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Văn chương không thể tách rời chính trị. Một tác phẩm đã bị dư luận xã hội phản đối; cựu chiến binh Việt Nam lên án; nhà nước cấm xuất bản, thu hồi vinh danh không cho phép đại diện các tác phẩm văn học tiêu biểu xuất sắc sau ngày thống nhất đất nước thì không thể “thích” đối với những người tự cho mình là yêu nước, yêu Tổ quốc và càng không thể biện minh “cách nhìn trung lập” về một rác phẩm bị xã hội nguyền rủa, lên án./.


QV-ST!

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC ' RUỘNG MƯỜI NGƯỜI - CÂU CHUYỆN BI TRÁNG VỀ CHIẾN SĨ TIỂU ĐOÀN ĐẶC CÔNG 409!

     Ngày 23-4-1969 (âm lịch), rồi tiếp đó là tháng 8 cùng năm, Tiểu đoàn đặc công 409 đã có hai trận tập kích vào căn cứ Tuần Dưỡng (huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cũ).

Trận đánh đầu tiên vào căn cứ Mỹ và lính nguỵ không thành công vì bị lộ. Tại đó, mười chiến sĩ đặc công của đơn vị tôi đã anh dũng ngã xuống. Hài cốt của các anh nay đã được quy tập về nghĩa trang xã Bình An như một sự trở về bình yên sau những năm tháng chiến trường khốc liệt.

Tôi may mắn sống sót. Đêm ấy, tôi nằm tiền nhập trong khu thông tin của tiểu đoàn thiết giáp Mỹ, sát mé bờ ruộng, vuông góc với hướng tiến công của mũi số 1. Một khoảng cách rất nhỏ đã giữ tôi ở lại với cuộc đời này. Chỉ cần lệch hướng đôi chút, có lẽ tôi cũng đã yên nghỉ cạnh các đồng đội, dưới mảnh ruộng khiêm nhường kia.

Điều khiến tôi day dứt suốt nhiều năm không chỉ là sự mất mát mà là khí phách của các anh. Những người từng sát cánh bên tôi đều rất trẻ, có người chưa tròn đôi mươi. Thế nhưng, khi đối diện với kẻ thù mạnh hơn nhiều lần, không ai lùi bước. Các anh bước vào trận địa với tâm thế của người chiến sĩ hiểu rõ con đường mình chọn, bảo vệ Tổ quốc bằng tất cả những gì mình có, kể cả sự sống cuối cùng.

Người dân địa phương ngày ấy đã chứng kiến 10 chiến sĩ đặc công của ta bị giặc Mỹ sát hại và 2 thương binh bị bắt giữ. Chính những người nông dân chân lấm tay bùn ấy đã đặt tên cho thửa ruộng nơi mười chiến sĩ hy sinh bằng một cái tên mộc mạc mà thắt lòng “Ruộng Mười Người”.

Cái tên ấy không chỉ để gọi một địa điểm. Nó là nén hương tưởng nhớ, là cách người dân giữ lại ký ức cho thế hệ sau. Ở nơi ấy, mỗi nhánh lúa mọc lên như nhắc nhớ về mười con người đã gửi lại tuổi trẻ trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc. 

Không dừng lại sau thất bại, đơn vị chúng tôi tiếp tục mở trận tập kích thứ hai vào căn cứ Tuần Dưỡng từ hướng tây. Trận đánh ấy đã tiêu diệt hơn 250 lính Mỹ, nguỵ, thể hiện bản lĩnh, sự quyết đoán và tinh thần không lùi trước mất mát của Tiểu đoàn đặc công 409. Chiến thắng ấy khẳng định rằng sự hy sinh của mười chiến sĩ đã không vô nghĩa.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Ruộng vẫn là ruộng, những mùa lúa vẫn tuần hoàn, nhưng cái tên “Ruộng Mười Người” thì vẫn nguyên vẹn như lời khắc ghi rằng nơi đây từng có mười người con kiên trung đã nằm xuống để đất nước được bình yên./.
Ảnh: Nghĩa trang Liệt sĩ xã Bình An (nay là xã Thăng Điền) nơi 10 chiến sĩ đặc công yên nghỉ. Cách đó không xa là "Ruộng Mười Người".

Ảnh sưu tầm;
Theo lời kể của Nhà văn, cựu chiến binh Vũ Bình Lục.
Theo ĐSTT
QV-ST!

CẢ ĐỜI NGƯỜI LÀ CỦA NƯỚC NON: 🇻🇳 HỒ CHÍ MINH - MỘT CUỘC ĐỜI, MỘT LÝ TƯỞNG, MỘT DÂN TỘC 🇻🇳

     Có những con người mà khi nhắc đến, không chỉ là một cái tên… mà là cả một niềm tin. Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ đã dành trọn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam - chính là biểu tượng thiêng liêng như thế.

Sinh ra trong bối cảnh đất nước chìm trong cảnh mất nước, Người sớm mang trong tim nỗi đau của một dân tộc bị áp bức. Nhưng thay vì chấp nhận số phận, Người đã lựa chọn một con đường khác: ra đi tìm đường cứu nước. Đó không chỉ là một quyết định táo bạo… mà là bước ngoặt làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc 🌍

Những năm tháng bôn ba nơi đất khách không hề dễ dàng. Đó là hành trình của thử thách, của gian nan, của những đêm dài không quê hương bên cạnh. Nhưng chính trong gian khó ấy, ý chí và niềm tin của Người càng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bởi trong tim Người luôn có một điều duy nhất: làm sao để nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc ❤️

Và rồi, ánh sáng đã xuất hiện. Người đã tìm ra con đường đúng đắn cho dân tộc - con đường dẫn đến độc lập, tự do. Dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã đứng lên, vượt qua muôn vàn thử thách để giành lại quyền làm chủ đất nước mình. Những trang sử hào hùng đã được viết nên từ chính niềm tin và ý chí ấy ✨

Nhưng điều khiến Hồ Chí Minh trở nên vĩ đại không chỉ là những chiến công… mà còn là cách Người sống. Một vị lãnh tụ nhưng luôn giản dị, gần gũi, đặt lợi ích của nhân dân lên trên tất cả. Từng hành động, từng lời nói đều xuất phát từ tấm lòng vì dân, vì nước - một tấm gương sáng cho mọi thế hệ noi theo 🌱

Thời gian có thể trôi qua, nhưng những giá trị mà Người để lại sẽ không bao giờ phai nhạt. Hồ Chí Minh không chỉ là một phần của lịch sử… mà còn là nguồn cảm hứng, là động lực để mỗi người Việt Nam hôm nay tiếp tục bước về phía trước 🇻🇳

💬 Có những cuộc đời khép lại… nhưng lý tưởng thì còn mãi. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh - chính là một lý tưởng sống mãi cùng dân tộc Việt Nam./.
QV-ST!

KỶ NIỆM 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT TỔ QUỐC: ĐẶC CÔNG NƯỚC NHẬN MẬT LỆNH GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA!

     Rạng sáng ngày 11-4-1975, trong làn gió biển còn mằn mặn hơi đêm, biên đội ba tàu Không số mang số hiệu 673, 674 và 675 của Đoàn 125 lặng lẽ rẽ sóng ra khơi. Không còi, không đèn, chỉ có mệnh lệnh ngắn gọn: hành quân bí mật giải phóng Trường Sa. Trên Tàu 675, Sở chỉ huy được thiết lập, và trực tiếp chỉ huy chiến dịch là Trung đoàn trưởng Mai Năng dày dạn trận mạc.

Ba ngày lênh đênh, đến 17 giờ ngày 13-4, biên đội tiếp cận mục tiêu đầu tiên: đảo Song Tử Tây. Hòn đảo nhỏ nằm chơ vơ giữa biển Đông, Tàu 673 được lệnh vòng vào trinh sát. Sau đó, cả biên đội lùi ra xa, âm thầm chuẩn bị cho đòn đánh quyết định.

Trong khoang tàu chật hẹp, đồng chí Đào Mạnh Hồng lệnh chỉ huy Phân đội 1, mũi tiến công đầu tiên. Đây đã là trận đánh thứ 16 trong đời lính của Đào Mạnh Hồng nhưng cảm giác khác hẳn. Đó là lần đầu tiên họ đánh chiếm một hòn đảo xa lạ, chưa từng đặt chân tới, chưa có tiền lệ trong chiến thuật đặc công hải quân. Những người lính vốn quen đánh cầu, đánh tàu, đánh kho ven sông giờ phải đối mặt với một chiến trường hoàn toàn mới. Suốt hành trình, bộ đội phải nằm dưới hầm tàu ngột ngạt, say sóng đến kiệt sức. Nhưng khi nhận lệnh chiến đấu, tất cả như bừng tỉnh. Ý chí lấn át mọi cơn mệt mỏi.

19 giờ ngày 13-4, Tàu 673 áp sát đảo lần đầu nhưng bị địch bắn pháo sáng xua đuổi. Con tàu lùi ra, thả trôi giữa sóng tối. Hai tàu còn lại cơ động giữ vị trí sẵn sàng chi viện. Phải chờ đến 1 giờ sáng ngày 14-4, khi đêm xuống dày đặc nhất, Tàu 673 mới tắt hết đèn, lặng lẽ tiến vào lần nữa. Người thuyền trưởng giàu kinh nghiệm điều khiển con tàu len lỏi tìm điểm đổ bộ thuận lợi nhất.

Xuồng cao su hạ xuống biển. Khi còn cách đảo khoảng 5 km, các chiến sĩ nhảy xuống nước, bắt đầu hành trình bơi trong đêm tối. Sóng liên tục đánh dạt, nước mặn xộc vào miệng, vào mắt. Họ phải mất tới ba giờ mới vào được vị trí đã định.

4 giờ 30 phút sáng, trong khoảnh khắc tĩnh lặng trước bình minh, mệnh lệnh tấn công được phát ra. Ba phát B41 xé toạc màn đêm, nhắm thẳng vào ăng-ten sở chỉ huy địch. Đó là tín hiệu khai hỏa. Ngay lập tức, ba tổ chiến đấu đồng loạt xung phong, lựu đạn, thủ pháo dội vào các lô cốt.

15 phút đầu tiên, trận đánh diễn ra ác liệt đến nghẹt thở. Địch từ các công sự bắn trả dữ dội. Ngoài khơi, Tàu 673 cũng nổ súng chi viện. Không còn ranh giới giữa tiến hay lùi, cả hai phía đều bị dồn vào thế sống còn. Nhưng khí thế của những người lính giải phóng đang dâng cao theo nhịp thắng lợi từ đất liền, còn phía bên kia, tinh thần đã lung lay trước những tin tức thất bại liên tiếp.

Sau 30 phút giằng co, thế trận nghiêng hẳn. Địch co cụm về phía Tây Nam đảo. Đúng 5 giờ 15 phút, Song Tử Tây hoàn toàn được giải phóng. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh cột cờ, giữa gió biển lồng lộng. 

Chiến thắng ấy không trọn vẹn niềm vui. Hạ sĩ Tống Văn Quang, 22 tuổi, đã ngã xuống ngay trên đảo. Đồng đội chôn cất anh trong cát, dùng tăng võng làm áo quan, nổ súng tiễn biệt giữa trùng khơi. Một người khác là Ngô Văn Quyền - người đã lao lên che đạn cho chỉ huy của mình, bị thương nặng và hy sinh hai ngày sau đó, khi chưa kịp trở lại đất liền.

Sau trận đánh, một nhóm nhỏ đặc công được lệnh ở lại giữ đảo. Những ngày tiếp theo là chuỗi thử thách khắc nghiệt: thiếu lương thực, thiếu nước ngọt, thời tiết dữ dội, đêm mưa như bão. Họ sống bằng trứng chim, rau dại và khẩu phần ít ỏi mang theo. Nhưng điều đáng sợ nhất không phải là đói hay bệnh mà là nguy cơ bị lực lượng nước ngoài chiếm lại đảo.

Để đánh lừa những con tàu lạ lảng vảng quanh đảo, họ đắp ụ cát, dựng thân dừa giả làm pháo, phủ bạt ngụy trang như trận địa thật. Những “khẩu pháo” im lặng ấy đã khiến đối phương chùn bước, sau nhiều ngày thăm dò rồi rút đi./.
QV-ST!

LẠI MỘT LẦN NỮA - CHIÊU TRÒ CŨ KÍCH ĐỘNG CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC!

     Lại một lần nữa, trên mạng xã hội xuất hiện những hình ảnh, khẩu hiệu tưởng như “đòi quyền lợi” nhưng thực chất lại ẩn chứa thông điệp sai lệch, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Tấm banner lan truyền với nội dung kêu gọi “người Kinh chấm dứt gọi chúng tôi là dân tộc” thoạt nhìn có vẻ là một ý kiến phản ánh, nhưng thực chất đã bị chỉnh sửa có chủ đích, cắt ghép phiến diện, đánh tráo khái niệm nhằm bóp méo thông tin và dẫn dắt nhận thức theo hướng tiêu cực.

Trước hết cần khẳng định rõ: Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh là một bộ phận cấu thành. Khái niệm “dân tộc” trong hệ thống pháp lý và khoa học không mang ý nghĩa phân biệt hay đối lập, mà nhằm xác định đặc trưng văn hóa, lịch sử của từng cộng đồng trong tổng thể thống nhất. Việc cố tình phủ nhận hoặc bóp méo khái niệm này không phải là cách tiếp cận khoa học, mà là biểu hiện của việc tạo ra mâu thuẫn từ những điều vốn dĩ không tồn tại mâu thuẫn.

Không khó để nhận ra, đây là những luận điệu cũ rích đã nhiều lần xuất hiện trên không gian mạng, chỉ thay đổi hình thức thể hiện để tạo cảm giác “mới”. Từ các khẩu hiệu ngắn gọn, hình ảnh dễ lan truyền cho đến cách đặt vấn đề mang tính cảm xúc, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là khơi gợi tâm lý so sánh, từng bước tạo ra sự nghi ngờ, chia rẽ giữa các cộng đồng dân tộc.

Thực tế cho thấy, chính sách dân tộc của Việt Nam luôn nhất quán trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và hỗ trợ cùng phát triển. Nhiều chương trình, chính sách lớn đã được triển khai nhằm cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, từ đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế đến bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Những kết quả đạt được là minh chứng rõ ràng rằng không tồn tại sự phân biệt như các luận điệu xuyên tạc cố tình dựng lên.

Việc sử dụng những khẩu hiệu mang tính cực đoan như trong hình ảnh không chỉ là sự hiểu sai vấn đề, mà còn là chiêu trò nguy hiểm nhằm khoét sâu khác biệt, làm suy giảm niềm tin và phá vỡ nền tảng đoàn kết. Khi một thông tin bị bóp méo và lặp đi lặp lại nhiều lần, nó có thể tạo ra hiệu ứng tâm lý sai lệch nếu người tiếp nhận không đủ tỉnh táo để kiểm chứng.

Cần thấy rằng, sự đa dạng về dân tộc là một giá trị, không phải là rào cản. Việc nhận diện đúng bản chất vấn đề và hiểu đầy đủ bối cảnh chính sách là điều cần thiết để không bị dẫn dắt bởi những thông tin phiến diện. Không có cái gọi là “đòi lại danh xưng” ở đây, mà chỉ có sự cố tình bóp méo khái niệm để phục vụ mục đích chia rẽ.

Những luận điệu như vậy không mới, chỉ là bản sao cũ được khoác lên hình thức mới. Điều quan trọng là mỗi người cần tỉnh táo trước các nội dung mang tính kích động, không tiếp nhận một chiều và không để những thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc - nền tảng quan trọng của sự ổn định và phát triển đất nước./.
QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: 🇻🇳 HANG PÁC BÓ - NƠI KHỞI NGUỒN CỦA DÒNG THÁC CÁCH MẠNG!

     Bức ảnh ghi lại một khoảnh khắc lặng lẽ mà thiêng liêng: Người ngồi đó, đôi chân gầy guộc ngâm dưới làn nước suối Lê-nin lạnh giá tại hang Pác Bó. Giữa đại ngàn Cao Bằng, nơi "bàn đá chông chênh dịch sử Đảng", bóng dáng tiều tụy vì sương gió của Bác hiện lên thật gần gũi nhưng cũng đầy nỗi niềm trăn trở.

Trong hang đá ẩm thấp, bên dòng suối vắng, mỗi bước chân của Người đều mang theo vận mệnh cả một quốc gia. 

Những năm tháng ấy, "Ông Ké" không cô đơn. Người sống trong hơi ấm của đồng bào Việt Bắc, trong từng bắp ngô, củ sắn nhường cơm sẻ áo. Sự chở che của nhân dân chính là bức tường thành vững chãi nhất, là niềm tin sắt son để Bác vượt qua gian khổ, chèo lái con thuyền dân tộc qua cơn bão táp để tìm lại ánh sáng độc lập. 

Ánh mắt Người nhìn xuống dòng nước, như đang soi thấu nỗi đau mất nước và quyết tâm giành lại tự do cho muôn đời con cháu.🇻🇳

Bức ảnh trên là một tác phẩm hình ảnh minh họa được phục dựng dựa trên những tư liệu lịch sử quý giá về quãng thời gian Bác Hồ hoạt động cách mạng tại hang Pác Bó (Cao Bằng) năm 1941

❤️Chúng con xin nghiêng mình tri ân Người - vị lãnh tụ đã hy sinh trọn đời mình cho mùa xuân của đất nước. Đời đời nhớ ơn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: CÂU CHUYỆN BÁC HỒ ỐM NẶNG "THẬP TỬ NHẤT SINH" TRƯỚC TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945!

     Khi ở lán Nà Lừa, điều kiện làm việc của Bác Hồ hết sức gian khổ và khó khăn, với những bữa ăn đạm bạc, chỉ có măng rừng chấm muối, cơm chan nước chè xanh. Cuộc sống nơi hang sâu lạnh lẽo giữa rừng già vô cùng gian khổ, vất vả, cộng thêm rừng thiêng nước độc, nên sức khỏe của Bác giảm sút. Cuối tháng 07-1945, trong khi tình hình trong nước và quốc tế diễn biến có lợi cho cách mạng, Bác Hồ của chúng ta đã lâm bệnh nặng, có thể nói đây là một trận ốm "thập tử nhất sinh". Y tế của chúng ta đã cố gắng hết sức để chữa trị cho Người nhưng không hiệu quả.

Bác biết bản thân bị bệnh nặng, ngoại trừ thời gian sốt cao và mê man, Người luôn trăn trở đến sự nghiệp cách mạng. Bác đã gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến và căn dặn: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập". Có thể coi đó là một lời di chúc nếu Người không qua khỏi. 

Nhưng may sao sau đó đã xuất hiện một cụ thầy lang người dân tộc Tày đến chữa bệnh cho Bác. Cụ lang thăm bệnh của Bác rất lâu, sau khi bắt mạch, cụ đi vào rừng và đem về một thứ củ gì đó rất lạ, đốt cháy, hòa vào cháo loãng mời Bác uống. Kỳ lạ thay, ăn thứ thuốc hòa cháo đó vào, Bác Hồ của chúng ta nhanh chóng hồi phục và tiếp tục làm việc. Và từ đó Người tiếp tục lãnh đạo con đường cách mạng cho đến lúc "trở về với Thế giới Người Hiền" vào năm 1969. 

Cụ lang người Tày đó sau này chúng ta cố gắng tìm lại nhưng không thể nào tìm được, cho dù đã dùng rất nhiều cách. Cũng có thể đó là "người Trời phái xuống" để cứu nguy cho vị anh hùng dân tộc lỗi lạc của chúng ta. 

Dân tộc ta mãi ghi nhớ công ơn to lớn đó của cụ!
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGUYỄN CAO KỲ NÓI GÌ VỀ PHẠM NGỌC THẢO?

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGUYỄN CAO KỲ NÓI GÌ VỀ PHẠM NGỌC THẢO?

     “Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi” - lời ông Nguyễn Cao Kỳ nói.

Năm 1962, sau khi thôi làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa, sang Mỹ học một khóa quân sự cao cấp, Phạm Ngọc Thảo được bổ nhiệm làm Thanh tra Ấp chiến lược, trực thuộc Phủ Tổng thống. Thời gian này mối quan hệ giữa ông với ông Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang càng thân thiết. Với sức thuyết phục mạnh mẽ của một nhà quân sự vừa có trình độ, vừa chân thành vốn có, ông được nhiều sĩ quan có tinh thần dân tộc ngưỡng mộ.

Trong những năm 1962 - 1963, giữa lúc phong trào Đồng khởi lan rộng ở nông thôn, chính trường miền Nam Việt Nam trở nên rối ren. Gia đình họ Ngô vừa cai trị độc tài, vừa muốn thoát khỏi sự can thiệp của người Mỹ, tình hình này khiến cho phong trào đấu tranh của quần chúng ở đô thị dâng cao. Người Mỹ thì muốn gạt bỏ gia đình họ Ngô để thay vào đó giới lãnh đạo thân Mỹ nhằm biến miền Nam thực sự là một tiền đồn chống cộng. Biết trước sau gì gia đình họ Ngô cũng bị người Mỹ lật đổ để dựng lên một chính quyền nguy hiểm hơn, Phạm Ngọc Thảo cùng với Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang lên một kế hoạch đảo chính với mục tiêu “cải sửa” chế độ nhằm vô hiệu hóa ý đồ của người Mỹ. Theo kế hoạch này, lực lượng đảo chính sẽ vẫn giữ Ngô Đình Diệm làm tổng thống, chỉ buộc Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch bị lộ, Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm lãnh sự ở Ai Cập. Ngô Đình Nhu không tin Phạm Ngọc Thảo tham gia kế hoạch này, thứ nhất là ông Nhu không tin ông Thảo phản bội, thứ hai là ông Thảo “không có quân”. Thực ra lúc đó ông Thảo đã được nhiều sĩ quan chỉ huy ở Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, một số đơn vị biệt động quân, bảo an hậu thuẫn. Cuộc đảo chính không thành chủ yếu do thành phần đảo chính không phải là những người mà người Mỹ có thể nắm được.

Và như chúng ta đã biết, ngày 1.11.1963, một nhóm tướng lĩnh do Mỹ bật đèn xanh, đã tiến hành đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Anh em ông Diệm, ông Nhu bị ch,ết thảm. “Hội đồng quân nhân cách mạng” (HĐQNCM) do tướng Dương Văn Minh đứng đầu lên cầm quyền. Phạm Ngọc Thảo dù không chủ động tham gia cuộc đảo chính này, vẫn được HĐQNCM cử làm tùy viên báo chí, sau đó được cử sang Mỹ tu nghiệp. HĐQNCM cầm quyền được 2 tháng, đã bị tướng Nguyễn Khánh và tướng Trần Thiện Khiêm 2 lần “chỉnh lý”, thâu tóm mọi quyền lực.

Lên cầm quyền, Nguyễn Khánh rút Phạm Ngọc Thảo về nước, cử làm giám đốc báo chí, phát ngôn viên chính phủ, lúc này ông đã được thăng đại tá. Mâu thuẫn giữa các tướng lĩnh trong giới cầm quyền ngày càng gay gắt, Nguyễn Khánh tiếp tục loại Trần Thiện Khiêm, đưa ông tướng này đi làm đại sứ tại Mỹ. Phạm Ngọc Thảo cũng được đưa sang Mỹ làm tùy viên văn hóa, quân sự vào đầu tháng 10.1964. Ông đưa luôn vợ con sang (họ định cư ở Mỹ cho đến ngày nay). Tuy nhiên, sau đó do nghi ngờ Phạm Ngọc Thảo, nên cuối năm 1964, Nguyễn Khánh ra lệnh triệu hồi Phạm Ngọc Thảo về nước, với ý đồ sẽ bắt ông tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phạm Ngọc Thảo đã khôn khéo không về đúng giờ bay dự định nên thoát. Có mặt ở Sài Gòn, ông bí mật móc nối tổ chức lực lượng, kéo tướng Lâm Văn Phát và hàng chục sĩ quan khác tiến hành cuộc đảo chính ngày 19.2.1965.

Điều kỳ lạ là lúc đó Phạm Ngọc Thảo, tuy là đại tá nhưng không cầm quân và đang bị Nguyễn Khánh truy bắt, lại có thể tổ chức và chỉ huy một lực lượng không dưới một sư đoàn làm binh biến (gồm các đơn vị thiết giáp với 45 xe tăng và thiết giáp, các đơn vị địa phương quân, lực lượng của Trường bộ binh Thủ Đức và chủ lực là trung đoàn 46 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh). Cuộc binh biến do tướng Lâm Văn Phát cầm đầu về danh nghĩa, còn thực tế do Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy, sau này người ta gọi ông là “Tư lệnh hành quân 19.2”.

Chỉ trong 1 ngày, lực lượng đảo chính đã chiếm Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô (trại Lê Văn Duyệt), Đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Đáng tiếc là do một số sơ sót trong hợp đồng tác chiến, Nguyễn Khánh đã được Tư lệnh Không quân lúc đó là Nguyễn Cao Kỳ cứu thoát.

Chúng tôi có dịp gặp ông Nguyễn Cao Kỳ năm 2008. Hỏi về sự kiện này, ông Nguyễn Cao Kỳ nói: “Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi”. Ngẫm nghĩ một hồi, ông Kỳ nhớ lại: “Cuộc đảo chính diễn ra bất ngờ đến mức tôi không kịp mặc áo, chỉ mặc may ô chui hàng rào thép gai ra lấy máy bay chạy về Biên Hòa. Sau đó ông Thảo lên Biên Hòa gặp tôi, cùng đi có một đại tá Mỹ. Ổng thuyết phục tôi ủng hộ quân đảo chính. Nói thật là tôi không ưa gì Nguyễn Khánh, nhưng quân đội đánh nhau tôi không đồng ý. Tôi bảo các anh phải cho quân về ngay doanh trại, đến 5 giờ chiều mà không rút quân tôi sẽ cho máy bay ném b,om”. Đó là lý do khiến cuộc đảo chính thất bại.

Tuy nhiên, Nguyễn Khánh cũng bị loại. Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và một số tướng lãnh được sự hậu thuẫn của người Mỹ đã lựa gió phất cờ, họp Hội đồng tướng lãnh buộc Nguyễn Khánh từ chức và trục xuất ông này ra nước ngoài với danh nghĩa là “đại sứ lưu động”, cử tướng Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống đảo chính, ra lệnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát cùng 13 sĩ quan “đầu sỏ” tham gia đảo chính trong vòng 24 giờ phải ra trình diện. Phạm Ngọc Thảo, tướng Lâm Văn Phát, trung tá Lê Hoàng Thao (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46) bỏ trốn.

Tháng 6.1965, Hội đồng tướng lĩnh giải tán chính phủ dân sự của Phan Huy Quát, đưa tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia (tương đương quốc trưởng), tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương (tương đương thủ tướng). Chính quyền Thiệu - Kỳ lập tòa án quân sự để xử những người tham gia đảo chính. Phạm Ngọc Thảo bị kết án t,ử hình vắng mặt, ông bị treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được ông.

Lúc này tuy ông phải lẩn tránh sự truy bắt của chính quyền, nhưng vẫn còn nắm được 1 tiểu đoàn. Ông liên lạc với ông Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt gặp ông và gợi ý ông ra chiến khu cho an toàn, có thể dẫn theo tiểu đoàn này với danh nghĩa binh biến ly khai. Tuy nhiên, ông cho biết ông vẫn còn có khả năng tổ chức đảo chính để ngăn chặn chính quyền quân phiệt rước quân viễn chinh Mỹ vào gây tội ác. Ông Võ Văn Kiệt đồng ý.

Phạm Ngọc Thảo tiếp tục hoạt động bí mật ở Sài Gòn, cho xuất bản tờ “Việt Tiến” để tập hợp lực lượng. Ông được các giám mục, linh mục, giáo dân Công giáo cùng nhiều bạn bè trong và ngoài quân đội giúp đỡ, bảo vệ.

Còn Nguyễn Văn Thiệu, sau khi lên nắm chính quyền, thấy rõ Phạm Ngọc Thảo là mối đe dọa nguy hiểm đến vị trí quyền lực của mình, nên quyết tìm mọi cách tiêu d,iệt ông để trừ hậu họa. 

Cuối cùng Thiệu cũng bắt được Đại tá Phạm Ngọc Thảo, ông đã hy sinh anh dũng và bi tráng. Vì nhiều lý do, nhất là phải đảm bảo an toàn cho vợ con ông đang ở nước ngoài, phải đến rất lâu sau ngày thống nhất đất nước, thân phận của ông mới được hé lộ. Và người ta ngưỡng mộ, sững sờ trước ván bài lật ngửa mà ông từng chơi, từng đùa cợt với hiểm nguy như chốn không người. Cái chết đối với ông nhẹ tựa lông hồng. Nhưng khúc tráng ca sẽ còn ngân vang mãi…
QV-ST!

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

XÂY DỰNG NƯỚC TA ĐÀNG HOÀNG HƠN, TO ĐẸP HƠN: NHỮNG CÂU NÓI CỦA NGUYÊN THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHẠM MINH CHÍNH!

     Ánh mắt ấy đã tạo nên một niềm tin. Bác rời chính trường nhưng để lại trong lòng mỗi người dân sự tiếc nuối và kính trọng.

🇻🇳 Những câu nói đi đôi với hành động của bác Phạm Minh Chính được nhiều người thuộc lòng: 
1. Chỉ bàn làm, không bàn lùi
2. Ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương
3. Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm
4. Vượt nắng, thắng mưa, thực hiện ba ca, bốn kíp
5. Biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể
6. Đã nói là làm, đã cam kết là phải thực hiện
7. Làm việc nào dứt việc đó, làm đến nơi đến chốn
8. Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả
9. Lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ
10. Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết
11. Càng khó khăn càng phải đoàn kết. Càng áp lực càng phải bản lĩnh
12. Không để ai bị bỏ lại phía sau
13. Việc khó mấy cũng phải làm, đã làm là phải xong
14. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, không trông chờ, không ỷ lại./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CƠN MƯA" ĐÔ LA TỪ TRUNG QUỐC ĐÃ RỬA SẠCH "BÀN TAY MÁU" CỦA KHMER ĐỎ MỘT CÁCH TRƠ TRẼN NHƯ THẾ NÀO?

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CƠN MƯA" ĐÔ LA TỪ TRUNG QUỐC ĐÃ RỬA SẠCH "BÀN TAY MÁU" CỦA KHMER ĐỎ MỘT CÁCH TRƠ TRẼN NHƯ THẾ NÀO?

     Trung Quốc đã mua sự im lặng của Campuchia như thế nào?
Hãy nhìn vào Campuchia của năm 2026:

Những tòa nhà chọc trời soi bóng xuống dòng Tonle Sap, những tuyến cao tốc nghìn tỷ nối liền Phnom Penh đến "đặc khu" Sihanoukville, và đại dự án kênh đào Funan Techo đang vẽ lại bản đồ địa chính trị khu vực. 

Đứng sau sự lột xác ấy là một "bầu sữa" khổng lồ mang tên Trung Quốc. Khăng khít đến mức giới quan sát phương Tây gọi đây là một "chư hầu bọc vàng" của cường quốc tỷ dân.

Nhưng, nếu lật ngược cỗ máy thời gian về đúng 50 năm trước, ta sẽ thấy một sự thật nghiệt ngã bị che lấp dưới những lớp nhựa đường thênh thang: 

Trung Quốc chính là kiến trúc sư trưởng đứng sau "Cánh đồng chết", và giờ đây, họ đang dùng chính những đồng đô la để rửa sạch vết máu trên tay mình một cách thực dụng đến tàn nhẫn.

1. Quá khứ: Khi "Bản nháp" của tư tưởng được viết bằng máu

Nguồn gốc tội ác của Khmer Đỏ không tự nhiên sinh ra. Nó là sản phẩm của một sự sùng bái tư tưởng lệch lạc. Năm 1965, Pol Pot lặn lội sang Bắc Kinh để "hấp thụ" lý thuyết về đấu tranh giai cấp cực đoan. 

Trong cuộc gặp năm 1975, Mao Trạch Đông đã khen ngợi Pol Pot: "Các đồng chí đã đạt được chỉ trong một lần điều mà chúng tôi chưa làm được".

Và cái "điều" đó chính là biến cả một quốc gia thành một phòng thí nghiệm người thật tàn khốc nhất thế kỷ 20. Trung Quốc đã nuôi dưỡng con quái vật này bằng một chế độ "ưu đãi" kinh hoàng:

• Hậu thuẫn tuyệt đối: 90% viện trợ nước ngoài của Campuchia Dân chủ (1975-1979) đến từ Bắc Kinh.

• Kho vũ khí hủy diệt: 13.300 tấn vũ khí, từ súng đạn đến xe tăng, đại pháo đều đóng dấu "Made in China".

• Những người thầy tàn nhẫn: Hơn 5.000 cố vấn Trung Quốc có mặt để dạy quân đội Pol Pot cách vận hành máy móc chiến tranh và cả những phương thức tra tấn tàn bạo nhất tại nhà tù Tuol Sleng.

🧐Campuchia chính là "bản nháp" lỗi của một tư tưởng ngoại lai. Trong khi người lính tình nguyện Việt Nam mang theo cơm nắm và xương máu để hồi sinh một dân tộc từ tro tàn; thì Bắc Kinh mang theo giáo điều và lưỡi cuốc để biến đất nước này thành một nghĩa trang tập thể.

2. Nghệ thuật "Tráo bài" và sự lạnh lùng của Địa chính trị

Lịch sử chứng kiến một màn "lật mặt" vĩ đại khi giá trị của con tốt Pol Pot hết hạn. Khi Việt Nam tiến quân giải phóng Campuchia năm 1979, Trung Quốc đã lạnh lùng từ chối cứu viện trực tiếp cho Pol Pot để bảo toàn kế hoạch "Bốn hiện đại hóa" của Đặng Tiểu Bình.

Nhưng họ cũng không để Campuchia yên bình. Suốt thập niên 80, Bắc Kinh bắt tay với phương Tây để nuôi dưỡng tàn quân Khmer Đỏ tại biên giới, biến đất nước này thành một "vết thương hở" nhằm tiêu hao sinh lực Việt Nam. 

👉🏻Đó là đỉnh cao của sự trơ trẽn: Vừa là kẻ tạo ra quái vật, vừa là kẻ duy trì hơi thở cho quái vật để mặc cả trên bàn đàm phán quốc tế.

3. Cơn mưa Đô la: 

Khi tiền bạc thay thế lời sám hối
Làm thế nào để những nhà lãnh đạo Campuchia hiện tại lại có thể vui vẻ gọi kẻ từng hậu thuẫn cho kẻ thù là "người bạn sắt son"? Câu trả lời nằm ở chiến lược "Tiền đổi Sự im lặng":

• Tẩy trắng lịch sử: 

Tại Trung Quốc, sách giáo khoa xóa sạch mọi dấu vết về sự dính líu đến Khmer Đỏ. Cựu đại sứ Trung Quốc từng trơ tráo tuyên bố: "Bắc Kinh chỉ hỗ trợ thực phẩm và cuốc xẻng". Một lời nói dối xúc phạm đến 1,7 triệu linh hồn đã nằm xuống.

• Ngoại giao sổ séc: 

Bắc Kinh bơm hàng chục tỷ USD mà không kèm điều kiện về nhân quyền. Họ dùng tiền để mua đứt sự tha thứ và lòng trung thành của một quốc gia đang khát khao tái thiết.

Một sự tương phản đau đớn: 

Ngay dưới chân những con đường cao tốc trị giá hàng tỷ đô, sâu dưới lòng đất vài mét, vẫn là xương cốt của những nạn nhân chưa được tìm thấy. Những chiếc xe sang trọng hôm nay lăn bánh trên đúng lộ trình của những "cuộc hành quân chết chóc" năm xưa. Đồng tiền đang cố gắng "trám" lại những hố chôn người, nhưng mùi rỉ sắt của máu trên những lưỡi cuốc - thứ từng được đúc từ các lò luyện thép phương Bắc - thì vẫn còn đó, âm ỉ và nhức nhối.

4. Kết luận: Công lý không thể bị hòa tan

Hiện nay, khoảng 40% nợ công của Campuchia nằm trong tay Trung Quốc. Quốc gia này đang đứng trước một nghịch lý: Dùng tiền của kẻ từng hại mình để xây dựng tương lai. Nó giống như một người đang "uống thuốc độc để giải khát".

Những nghĩa trang quân tình nguyện Việt Nam vẫn nằm đó, im lìm và khiêm nhường, như chứng tích của một tình anh em hiến dâng cả mạng sống. Trong khi đó, các đài kỷ niệm hữu nghị Trung - Campuchia mọc lên sừng sững, dát vàng rực rỡ bằng những khoản vay tín dụng.

👉🏻 Người ta có thể xây một cây cầu bằng tiền trong 2 năm, nhưng không thể xây lại một linh hồn đã mất bằng vàng bạc. Lịch sử Campuchia giống như một cuốn sách bị xé mất những trang đau thương nhất để dán đè lên đó những tờ chi phiếu xanh đỏ. 

Nhưng dù "cơn mưa" đô la có dày đến đâu, sự thật vẫn là sự thật. Trung Quốc nợ người dân Campuchia một lời xin lỗi, và Campuchia nợ lịch sử một cái nhìn sòng phẳng.

Công lý có thể bị mua chuộc bởi đô la, nhưng chân lý thì không bao giờ bị hòa tan! 

👍Người ta nói: 'Kẻ mạnh viết lên lịch sử, kẻ giàu tẩy xóa những trang sử'. Theo bạn, liệu những thế hệ tương lai của xứ Chùa Tháp sẽ nhớ về Trung Quốc như một 'ân nhân' hay một 'kẻ nợ máu'? Hãy chia sẻ bài viết này nếu bạn tin rằng: Sự thật là thứ duy nhất không thể bị hòa tan bởi đô la. 

🤝Này bạn tôi ơi! Lịch sử có thể bị che mờ bởi những lớp bụi của tiền bạc, nhưng những sự thật được viết bằng máu thì không bao giờ biến mất. 

Nếu cùng chung góc nhìn, hãy chia sẻ để thông điệp này đi xa hơn. Một lượt Like hay Share của bạn chính là sự ủng hộ cho những giá trị sự thật không thể mua bằng đô la!
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: MÌNH ĐÃ NGHĨ OAN CHO DUYỆT RỒI, DUYỆT ƠI!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: MÌNH ĐÃ NGHĨ OAN CHO DUYỆT RỒI, DUYỆT ƠI!

     Tối 26.4.1975, sau khi nhận nhiệm vụ trở về, trưởng xe Nguyễn Đình Luông gọi cả bốn chúng tôi lại. Ánh đèn dầu leo lét trong buồng xe hắt lên gương mặt anh một vẻ nghiêm nghị khác thường. Anh ghé sát, nói gần như thì thầm, nhưng từng lời lại nặng như mệnh lệnh: “Chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã chính thức mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. Vài ngày tới sẽ nổ súng. Đại đội ta nằm trong đội hình thọc sâu, đánh chiếm Dinh Độc Lập”!

Ngay sau đó, mọi công việc chuẩn bị được triển khai gấp gáp. Ai cũng hiểu trận đánh này sẽ vô cùng ác liệt. Kẻ địch sẽ chống trả đến cùng. Ngoài cơ số đạn sẵn có, chúng tôi được cấp thêm mười viên đạn xuyên. Buồng chiến đấu vốn đã chật, giờ càng ngột ngạt hơn. Để nhường chỗ cho số đạn ấy, chúng tôi buộc phải bỏ lại tất cả những gì không thật sự cần thiết.

Những chiếc ba lô lần lượt được buộc ra sau tháp pháo. Cả những vật gắn bó như kỷ niệm cũng phải rời đi, trong đó có cây đàn ghi-ta của Duyệt.

Ba lô của Luông, Thọ và tôi đã gọn gàng ngoài tháp pháo, chỉ còn Duyệt vẫn loay hoay trong buồng chiến đấu. Anh cứ cúi xuống, nhét lên, xoay trở cái ba lô như cố giấu một điều gì đó.

Luông sốt ruột:
- Mày làm gì mà lâu thế? Nhanh lên!

Thọ thì quát thẳng:
- Đời lính có gì mà giấu như vàng thế? Buộc ra ngoài như bọn tao!

Duyệt không đáp. Chỉ lặng lẽ, kiên trì với cái ba lô của mình.
Chúng tôi khi ấy, không ai hiểu.

Trên đường hành quân đến ngày 28.4.1975, xe tăng 380 bị trúng đạn quân địch, xe vẫn chạy được nhưng anh Luông và Duyệt bị thương.

Sau khi đưa anh Luông và Duyệt xuống giao cho trạm quân y, pháo thủ Thọ và tôi mới ra xem lại xe. Thì ra xe tôi bị trúng một quả đạn pháo cỡ lớn làm thủng chóp quạt gió trên tháp pháo. Có lẽ đó là một quả đạn nổ chứ ko phải đạn xuyên. Khẩu 12 ly 7 đã bị bay đi mất, khẩu đại liên K53 bẹp dúm, pháo cũng bị kẹt cứng không quay được, mấy cái ba lô buộc ngoài tháp pháo cũng bay mất.

Tại nơi cấp cứu, trưởng xe Luông nằm thiêm thiếp mê man, có điều lạ quả đạn nổ chỉ cách anh chưa đầy một mét, cái đài vô tuyến điện phía trong anh thủng lỗ chỗ mà chỉ có vài mảnh đạn trúng người anh. Anh bị nặng thế kia chắc chỉ do sức ép và chấn thương do va đập vào vành tháp pháo. Còn anh Duyệt máu me đã được lau đi, cả một nửa người tơi tả vì mảnh đạn nhưng lại rất tỉnh, Duyệt nắm tay tôi thều thào: “Tao đau lắm. Chắc tao không sống được” .

Kinh nghiệm chiến trường làm tôi thấy lo vì những ai bị thương nặng mà tỉnh táo thường khó qua khỏi, song lúc này tôi không dám nghĩ đến điều đó mà chỉ biết động viên anh yên tâm điều trị. Tôi bảo Thọ đi xin cho Duyệt cốc sữa. Vừa bón cho Duyệt từng thìa sữa nhỏ tôi vừa thủ thỉ chuyện trò, nhắc lại những câu chuyện mà chúng tôi đã từng nói với nhau những lúc dừng chân trên đường hành quân.

Uống gần hết cốc sữa thì Duyệt thiu thiu như ngủ. Lúc này đồng chí trợ lý chính sách của Lữ đoàn cũng đã có mặt, anh truyền đạt lệnh của trên là bàn giao thương binh ở lại đây, còn chúng tôi phải trở về vị trí tập kết ngay để khôi phục xe chuẩn bị chiến đấu tiếp.
Tôi và anh Thọ lên xe lấy tư trang để lại cho Duyệt. Moi cái ba lô nặng trịch từ vành tháp pháo ra anh Thọ lẩm bẩm: “Chẳng hiểu nó có cái gì mà nặng thế. Mà lại còn ấn vào tận vành tháp pháo nữa chứ”. Vừa nói hắn vừa lật cái nắp ba-lô lên. Nhưng rồi cả hai chúng tôi cùng lặng người đi, trong cái ba lô cũ kỹ, mà có lúc chúng tôi đã từng nghĩ là những của quý Duyệt nhặt nhạnh từ Huế và Đà Nẵng chỉ có bộ quần áo cũ, cái võng và một bó sách! Lật qua vài quyển sách tôi thấy toàn sách học tiếng Anh, tiếng Pháp và từ điển Anh- Việt, Việt- Anh, Pháp- Việt.... Nhớ lại những lời tâm sự của Duyệt mắt tôi rơm rớm nước, còn Thọ trầm ngâm: “Thế mà có lúc mình đã nghĩ oan cho nó. Bây giờ phải xin lỗi nó mới được”.

Mang cái ba- lô vào chỗ Duyệt chúng tôi thấy anh vẫn nằm thiêm thiếp như đang ngủ. Sau đó, chúng tôi nghe tin Duyệt đã hy sinh. Tôi lặng người đi vì buồn và thương bạn quá. Thế là anh Duyệt đã không thể trở về để thực hiện ước mơ của mình./.
(Theo lời kể của Đại tá, Nhà văn Nguyễn Khắc Nguyệt).
QV-ST!

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇻🇳 🇨🇳 TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM VÀ PHU NHÂN LÊN ĐƯỜNG THĂM CẤP NHÀ NƯỚC ĐẾN TRUNG QUỐC!

     Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Phu nhân, ngày 14/4/2026, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Hà Nội lên đường thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14-17/4/2026!

Đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trên cương vị Lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, diễn ra đúng một năm sau chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình (từ ngày 14-15/4/2025), đồng thời là lần thứ ba trong thời gian ngắn chưa đầy hai năm, hai đồng chí Lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước tiến hành thăm song phương.

Tham gia Đoàn có các đồng chí: Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành Ủy Hà Nội; Nguyễn Hải Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Hồng Diên, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Lê Khánh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Hoàng Thanh Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Ngô Văn Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính; Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương; Trịnh Việt Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Trần Hồng Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng; Lâm Thị Phương Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Hoàng Minh Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tô Ân Xô, Trợ lý Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư; Phạm Thanh Bình, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TỪ HORMUZ NHỚ LẠI SUEZ - NHỮNG CON TIN LÂU NHẤT LỊCH SỬ HÀNG HẢI!

     Nếu việc đóng eo biển Hormuz đã sang ngày 42 hay sự cố tàu Ever Given chắn ngang kênh đào Suez 2021 làm cả thế giới nín thở thì có thể tìm hiểu về Hạm đội Vàng lẫy lừng hơn 60 năm trước. Nó không chỉ là sự cố hàng hải mà là một trong những chương kỳ lạ nhất trong lịch sử địa chính trị thế giới.

Đó là sự kiện tại kênh đào Suez, bắt đầu từ cuộc chiến 6 ngày giữa Ai Cập - Israel.

Buổi sáng định mệnh: Không kịp quay tàu

Sáng 5/6/1967, 15 con tàu từ nhiều nước đang lững thững đi qua kênh đào Suez thì Ai Cập và Israel nhảy vào tẩn nhau. Đề phòng Hải quân Israel chiếm kênh đào, Ai Cập đánh chìm xà lan, tàu nạo vét và bê tông, chặn nhiều điểm trên kênh đào. Chiếc bẫy chuột khổng lồ sập xuống, 14 con tàu bỗng mắc kẹt ở vùng rộng nhất kênh đào là hồ Great Bitter, chiều ngang khoảng 10km. Chiếc còn lại nằm ở hồ Timsah bên cạnh. Nhiệm vụ hàng này của họ là đếm tên lửa trên đầu và thi đoán máy bay bên nào bay qua.

Cuộc chiến 6 ngày qua đi như một cơn gió, bất ngờ hơn cả lúc nó bắt đầu. Các chủ tàu nghĩ rằng sau vài tuần là Ai Cập sẽ khơi thông lại kênh Suez.

Đời không như mơ

Dù ngừng chiến nhưng Israel kịp chiếm bán đảo Sinai và không chịu rút quân. Suez trở thành chiến tuyến 2 bên. Bất kỳ con thuyền nào mon men ra giữa kênh đều bị 2 bên dốc hoả lực vì sợ đối phương tạo cứ điểm.

14 con tàu từ các quốc gia Mỹ, Anh, Đức, Na Uy, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bulgary là 2 khối Đông - Tây trong chiến tranh lạnh. Mỗi con tàu như hình ảnh quốc gia nên không tàu nào tự bỏ vị trí. Cùng với yêu cầu của hợp đồng bảo hiểm khiến chủ tàu phải duy trì thuyền viên.

Hạm đội Vàng

Ở đây gió thổi rất mạnh mang theo cát sa mạc. Khắp thân tàu, cửa sổ, tháp ăng ten dính cát sa mạc óng ánh, nhìn từ xa như những con tàu dát vàng, nên được gọi là Hạm đội Vàng.

Để duy trì tinh thần, các con tàu ghép lại với nhau như chợ nổi Cần Thơ và lập ra hiệp hội Hồ Bitter. Họ trao đổi thực phẩm không cần tiền, kiểu Ba Lan có thịt hộp, Pháp có vang, Tiệp có bia. Cuối tuần làm thêm bữa buffet đa quốc gia. Dù không hiểu ngôn ngữ nhưng họ hiểu nhau qua li rượu: 1, 2, 3 zô.

Năm 1968 diễn ra thế vận hội Mexico, tại đây họ cũng tổ chức thế vận hội hồ Bitter, cờ quạt đầy đủ, chỉ thiếu rước đuốc vì có nhiều tàu chở dầu. Họ tháo xuồng cứu sinh trên các con tàu, lắp thêm buồm làm cuộc đua thuyền buồm. Ngoài ra còn thi câu cá, đá bóng. Điều lệ duy nhất của trận bóng là cấm đá ra biên vì không có người nhặt bóng dưới biển.

Thấy sự cố Suez phức tạp, các chủ tàu bố trí trực luân phiên, đổi ca vài tháng/lần. Nhiệm vụ chính của thủy thủ là cạo rỉ và đánh bài. Thủy thủ trên tàu ngày đó viết thư tay về nhà và tự vẽ tem. Thú vị là các bưu điện trên thế giới đều chấp nhận, và sau này còn có đấu giá tem hồ Bitter.

Khai thông 𝐯𝐚̀ 𝐭𝐫𝐨̛̉ 𝐯𝐞̂̀

Đến 6/1975, sau những dấu hiệu hoà bình với Israel, Ai Cập mới gỡ mìn, trục vớt xác tàu đắm để khơi thông Suez. Chỉ còn 2 con tàu của Đức là khởi động được máy và tự bò về nhà trong sự chào đón như anh hùng của hàng vạn người dân Hamburg. Những Robinson hiện đại có chuyến đi biển kéo dài 8 năm 3 tháng. 

Các con tàu khác thì liệt giường, phải thuê tàu đến kéo vì rỉ sét, hỏng máy. Nhiều công ty bảo hiểm méo mặt vì sự kiện này. Với họ, hồ Bitter đúng nghĩa với cái tên Hồ Đắng cho những hoá đơn bảo hiểm dài nhất lịch sử.

Sự kiện này cũng tác động đến kinh tế châu Âu khi chi phí vận tải tăng lên do tàu thuyền phải đi qua mũi Hảo vọng. Nó cũng là nguồn gốc khai sinh ra thế hệ tàu chở dầu siêu trường siêu trọng (VLCC, ULCC) với sức chứa >2 triệu thùng.

Từ Suez nhìn sang Hormuz

Ngành hàng hải từng có kỳ nghỉ hè dài nhất lịch sử thì việc đóng eo biển Hormuz, có lẽ, sẽ phải tính bằng đơn vị Quý trở lên, cho đến khi có kết quả cho phía Iran. Cũng giống kênh đào Suez, liên quan đến tồn vong của Ai Cập trước Israel, họ sẵn sàng cho thế giới theo dõi Hạm đội Vàng thì ngày nay, sẽ là hạm đội Kim cương trên eo biển Hormuz.

Tổng thể địa chính trị khu vực này còn rất phức tạp, đặc biệt với Iran, sẽ phải sống mái với eo biển Hormuz. Đội tàu trong vịnh Ba Tư cũng là một phần con tin để đánh đổi tài sản bị phong toả ở các nước phương Tây, giống Nga đã làm với phương Tây qua vụ Ukraina. Lác đác vài con tàu đi qua mỗi ngày chỉ là những tín hiệu lẻ tẻ nhưng đôi khi duy trì sự hy vọng cho thế giới về một dấu hiệu mong manh từ eo biển Hormuz.

Vẫn phải chờ trận quyết chiến Mỹ - Iran để giải quyết dứt điểm eo biển Hormuz. Ngừng bắn chỉ là khoảng lặng để điều quân, nạp vũ khí cả 2 bên. Trong lúc đó, tìm hiểu những câu chuyện thú vị về Hạm đội Vàng để có những niềm vui trong thế giới VUCA hiện nay./.










QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CHÂU ÂU HÂN HOAN KHI ORBÁN RA ĐI - LIỆU CÓ LÀ TÍN HIỆU MỪNG ĐỐI VỚI EU?

     Orbán đã ra đi, châu Âu hân hoan. Nhưng EU không nên mừng quá sớm: Người kế nhiệm xuất thân từ cùng một chuồng ngựa chính trị với người tiền nhiệm!


Tóm tắt:
Orbán thất bại trong cuộc bầu cử, và sự ủng hộ của Trump nhiều khả năng là một yếu tố khiến ông thêm bất lợi.

Magyar không phải là nhân vật thân châu Âu và thân Ukraine như Brussels đang kỳ vọng — ông hoài nghi về tư cách thành viên NATO/EU của Kiev và phản đối cung cấp vũ khí.

Khác với Tusk ở Ba Lan, Magyar xuất thân từ cùng truyền thống chính trị với Orbán, nên sự thay đổi thực chất về chính sách có thể sẽ không lớn như mong đợi.

Chắc chắn sẽ có tiếng nổ của những chai sâm-panh tại khu phố châu Âu ở Brussels. 

Nhanh hơn và rõ ràng hơn dự kiến, Viktor Orbán đã thua cuộc bầu cử và đã chúc mừng Péter Magyar người chiến thắng.

Đúng như cách ứng xử của một quý ông và một người dân chủ và hoàn toàn khác với cách mà phần còn lại của châu Âu đã đối xử với ông ta.

Đòn kết liễu cho chiến dịch tranh cử của ông nhiều khả năng đến từ Donald Trump và Phó Tổng thống của ông ta. Hay Orbán thực sự tin rằng sự ủng hộ từ vị Tổng thống Mỹ bị khinh thường nhất hiện nay sẽ có lợi cho mình? Một sự tính toán sai lầm đầy hậu quả.

Thế nhưng, giờ đây chính EU cũng sẽ rơi vào cái bẫy đó. Niềm vui trước Magyar người mang vẻ ngoài của một nhân vật thân châu Âu bóng bẩy đã làm mờ đi những sự thật khó chịu: Người đàn ông mới này thực ra không thân châu Âu đến vậy.

Đặc biệt là không thân Ukraine. Magyar đã nhiều lần bày tỏ nói một cách lịch sự là sự hoài nghi của ông đối với việc Kiev gia nhập NATO và EU. Và ông cũng không ủng hộ việc cung cấp vũ khí cho Ukraine.

Khác với Ba Lan, nơi Donald Tusk là cực đối lập về ý thức hệ so với đảng PiS hoài nghi EU, Magyar lại xuất thân từ cùng một chuồng ngựa chính trị với Orbán. Và chính vì vậy, Brussels không nên mừng quá sớm./.
QV-ST!