Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

MỘT CHIẾN DỊCH BÀI BẢN!

     Xâu chuỗi các “sự kiện” lại chúng ta thấy rằng nó không tự phát, đơn lẻ mà là một chiến dịch bài bản, có tổ chức.

Hãy xem:
Bắt đầu từ “Nhóm 72” đòi sửa đổi Hiến pháp; xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; phi chính trị hoá lực lượng vũ trang Quân đội, Công an.

Xuyên tạc lịch sử, viết lại lịch sử, công nhận tính chính danh cho chính quyền Sài Gòn (Việt Nam Cộng hoà) trong Bộ: “Lịch Sử Việt Nam”.

Rửa mặt, đặt tên đường cho các kẻ tay sai bán nước.

Phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thông qua việc vinh danh cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, bôi xấu hình ảnh QĐND Việt Nam.

Phân hoá hệ tư tưởng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc bằng các video, hình ảnh, bài viết xuyên tạc trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động người dân biểu tình, bạo loạn.

Tấn công vào lĩnh vực văn hoá, giáo dục dưới hình thức khai phóng; đưa các nội dung độc hại vào các tác phẩm văn học, sách giáo khoa.

Bôi nhọ, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua các bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc thân thế, sự nghiệp và gần đây nhất chúng đang xuyên tạc về đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chúng ta phải nhận diện, không thể lơi là, hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với các âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của các đối tượng xấu trong nước và các thế lực ở nước ngoài.

Một cuộc chiến rất khó khăn đòi hỏi bản lĩnh, kiên trì, đoàn kết để tạo nên sức mạnh để chiến thắng. 

Chúng ta nhất định sẽ chiến thắng vì chính nghĩa luôn đứng về chúng ta./.










QV-ST!

HỌ ĐÃ NHẦM!

     Tôi viết bài này không phải để người đương thời đọc. Vì đã là những người đương thời thì tự mình có thể vạch mặt những kẻ cơ hội, dù chúng đã chết hay còn sống. Tôi viết để những đứa cháu bé bỏng của tôi biết, thời của ông của chúng đã từng có những kẻ khốn nạn như vậy.

Trước hết, nói về những kẻ cơ hội, được gắn cho cái danh “chiêu hồi”. Đó là những kẻ đã có một thời đứng trong hàng ngũ những người cách mạng, cũng từng cầm súng ra trận, nhưng lại thiếu một trái tim kiên định, một khi thấy cách mạng gặp khó khăn, những tưởng cách mạng sẽ thất bại, nên đã vội quay súng đầu hàng giặc. Điển hình trong những kẻ này là Sáu Phan (đã chui vào tận Bộ Chính trị của đảng CS, tên Tám Hà, chỉ huy một đơn vị ở miền đông Nam Bộ trong những tháng năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Thế nhưng Tám Hà đã nhầm! Kẻ thất bại không phải những người cách mạng mà chính là kẻ xâm lược và đám tay sai.

Kẻ cơ hội điển hình nhất và biết tính xa nhất là Bùi Tín, một sĩ quan quân đội, một lãnh đạo ban biên tập báo Quân đội nhân dân. Nhưng khi ông ta thấy sự sụp đổ của Liên Xô, ông ta dự đoán phe XHCN sẽ không còn và Việt Nam cũng không đứng ngoài trào lưu ấy. Thế là ông ta bỏ đảng, bỏ nước ra đi, sang nước Pháp để chờ Pháp quay trở lại và ban cho ông ta một chức quan lớn nào đó. Nhưng ông thật “lớn cái nhầm”! Năm 1986, đảng Cộng sản đã đổi mới đường lối xây dựng đất nước, từ đó con đường đi lên của dân tộc đã rộng mở. Còn ông? Bỏ xác nơi đất khách quê người không có lấy một dòng cáo phó.

Thời nhà Trần có Trần Ích Tắc, một kẻ phản quốc, đưa cả gia đình sang Trung quốc để đầu hàng nhà Nguyên Mông. Về nhân vật này, hiện có một ông nhà văn ở Hà Nội đang cố tạo cho Trần Ích Tắc một gương mặt là một “điệp viên nằm trong lòng giặc”, và ông ấy ví Trần Ích Tắc như Vũ Ngọc Nhạ thời ta chống Mỹ. Tất cả những lý lẽ của nhà văn đó chỉ là suy luận chủ quan chứ chả có một sử liệu nào. Giả thử Trần Ich Tắc là nội gián do vua Trần Thánh Tôn cài vào triều đình Nguyên Mông, thi sau khi ông ấy chết, chí ít thì vua Trần phải có truy tặng gì đó, và con trai của Ích Tắc là Trần A cũng phải được phong chức tước gì đó chứ nhỉ, song tất cả chỉ còn là con số “0”!

Cũng là phản quốc còn có Hoàng Văn Hoan, cũng chạy sang Trung quốc để mong có cơ hội gì đó được trở về lãnh đạo nước ta dưới sự bảo trợ của Trung quốc. Cũng như Trần Ích Tắc, ông Hoan cũng lại phải gởi nắm xương bên xứ người. Đó là số phận của những kẻ cơ hội.

Rồi đến một lũ gồm 72 tên, trong đó có những tên từng ở cương vị cao, nào bộ trưởng, thứ trưởng, nào giáo sư tiến sĩ, nào nhà văn nhà báo và một vài con nòng nọc mới đứt đuôi trở thành cóc nhái, cũng “theo đóm ăn tàn”. Lũ này lập kiến nghị đòi bỏ sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Bỏ đảng Cộng sản thì đảng nào sẽ lãnh đạo đất nước? Sẽ có nhiều đảng, mỗi đảng đại diện cho một nhóm quyền lợi, và thế là chúng đấu đá lẫn nhau và thế là xã hội đi vào thời kỳ mất ổn định, cuối cùng là dân khổ.

Mưu đồ của tất cả bọn này là chúng không muốn trở thành người khiêng kiệu, chiếc kiệu mang tên “Tổ quốc vĩ đại” mà chúng muốn trở thành một ông vua thời phong kiến, coi giang sơn là của riêng và chỗ ngồi của ông ta phải là trong chiếc kiệu đó, và tất cả chỉ còn là nô bộc; người dân khiêng chiếc kiệu “Tổ quốc vĩ đại” đi trên con đường mà các bậc tiền nhân, các anh hùng dân tộc đã mở ra, để rồi sau đó chúng nhận đó là công lao của chúng và chúng cắn lấy phần lớn nhất từ chiếc bánh “dân tộc”.

Tất cả bọn chúng đã nhầm, chủ nghĩa cá nhân đã làm mờ mắt chúng. Tổ quốc là nhân dân và nhân dân là dân tộc. Tất cả mọi người trong bộ máy nhà nước chỉ là “công bộc của nhân dân” (lời Hồ Chủ tịch), vì thế, mỗi người đều có trách nhiệm khiêng chiếc kiệu “Tổ quốc vĩ đại” đến nơi vinh quang nhất, nếu ai đó cứ đứng ngoài không ghé vai cùng mọi người thì trước sau gì cũng bị đào thải.

Trong số 72 tên nói trên, đã có gần chục tên từ bỏ thế giới này mà không có một dòng cáo phó, mặc dù trong quá khứ chúng đã từng giữ các chức vụ cao. Thay vì cáo phó với dòng chữ “vô cùng thương tiếc”, trong bộ nhớ của nhân dân có một ngăn chứa danh sách những tên phản bội, tên của chúng sẽ bị xóa đi theo thời gian, rồi nhân dân sẽ quên những cái tên ấy đi như tên một con c.hó chết đã từng được chủ nuôi yêu quý./.
Hình trong bài: Bùi Tín, kẻ cơ hội đê tiện.
QV-ST!

KẺ TRỌC PHÚ THIỂU NÃO NGÔNG CUỒNG...!

1000 năm mới sinh ra Thánh Nhân.
100 năm mới sinh ra Vĩ Nhân.
10 năm mới sinh ra Hiền Nhân.
Còn bọn Cô hồn Trọc phú, lật sử, phản quốc thì cứ 10 phút lại lòi ra 1 thằng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc Thánh Nhân, là AHDT kiệt xuất, là danh nhân văn hoá thế giới... Tư tưởng, đạo đức & phong cách của Người không còn giới hạn ở Việt Nam mà đã vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ, trở thành biểu tượng tôn kính thời đại, của mọi dân tộc bị áp bức...

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là bậc Vĩ Nhân, một trong những vị tướng lỗi lạc nhất mọi thời đại, được Nhân dân Việt Nam gọi là Đại tướng của Nhân dân...

Từ cổ chí kim chưa một kẻ phàm phu nào hạ bệ được thần tượng của bậc Thánh Nhân cả. Canh gác giấc ngủ của Người là hàng 100 triệu trái tim của con dân đất Việt, là hồn thiêng sông núi, là quyền năng tâm linh hàng triệu triệu hồn cốt của Anh hùng liệt sỹ...

Những kẻ Trọc phú, đám cô hồn lật sử, ký sinh trùng cơ hội như thằng Nam Trọc chỉ là “hạt sạn rác rưởi” không bao giờ chạm đến chân lông của bậc Thánh Nhân...!


QV-ST!

KHI BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM BỊ THA HÓA: TƯỢNG ĐÀI ANH HÙNG BỊ LÃNG QUÊN VÀ KẺ TỘI ĐỒ ĐƯỢC ĐÁNH BÓNG!

     Nền báo chí cách mạng Việt Nam được khai sinh và rèn luyện trong khói lửa chiến tranh, dưới sự dìu dắt trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại của những người làm báo. Bác từng căn dặn: "Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ". 

Thế nhưng, thực tế đầy nhức nhối trong đời sống truyền thông thời gian qua, đặc biệt là làn sóng dư luận xung quanh các nhân vật lịch sử và việc bảo vệ hình tượng lãnh tụ, đang gióng lên một hồi chuông cảnh báo đanh thép về sự tha hóa, biến chất của một bộ phận báo chí hiện nay.

Từ một vũ khí sắc bén bảo vệ giai cấp, bảo vệ nhân dân, truyền thông đang có nguy cơ tự đánh mất bản sắc, sa đà vào xu hướng "me Tây", "tầm thường hóa" lịch sử và ngập tràn thông tin rác.

1. Nghịch lý truyền thông: Bảo vệ kẻ bán nước, quay lưng với tiếng nói yêu nước

Lịch sử dân tộc đã phân định sòng phẳng công và tội. Người dân yêu nước dựa trên các tư liệu lịch sử chính thống không thể quên việc Nguyễn Ánh (Gia Long) từng "cõng rắn cắn gà nhà", dẫn Xiêm vào giày xéo bờ cõi, gánh gạo cống quân Thanh, ký kết các điều ước nhượng bộ với Pháp. Dưới trướng Ánh, Lê Văn Duyệt vừa là tay sai đắc lực gây nợ máu với nhân dân, cũng vừa là kẻ tiếp tay cho các thế lực truyền giáo phương Tây bén rễ sâu vào đất Nam Bộ, tạo tiền đề cho mạng lưới gián điệp thực dân xâm nhập nước ta, đồng thời có những hành động chuyên quyền suýt đẩy đất nước vào cảnh nội chiến sau khi Nguyễn Ánh qua đời.

Thế nhưng, một nghịch lý đau lòng đã xảy ra ngay giữa lòng thành phố mang tên Bác. Khi những người dân có tinh thần yêu nước, những cây viết độc lập (như Én Bạc, Phan Trung Can, Nguyễn Thanh Tuấn ... )cất tiếng nói thẳng thắn vạch trần bản chất bán nước và nợ máu của tập đoàn phong kiến này, họ không nhận được sự đồng tình của truyền thông. Ngược lại, hàng loạt tờ báo lớn tại TP. Hồ Chí Minh lại đồng loạt ra quân, dùng những ngôn từ đao to búa lớn để "đe dọa", dồn ép, thậm chí đòi cơ quan công an vào cuộc để trừng trị những người dám nói lên sự thật lịch sử. 

Hay việc những người dân yêu nước lên tiếng tố cáo, vạch trần bản chất độc hại, lệch lạc của "rác phẩm" Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thì báo chí Việt Nam vẫn thờ ơ, thậm chí nhiều tờ còn lên tiếng bên vực. Chỉ tận đến khi vì "rác phẩm" ấy bẩn quá, thối quá, tanh tưởi quá ... ko thể che giấu được nữa, thì những cái loa trơ trẽn ấy mới câm mồm thôi luận điệu "đa chiều" để bênh Bảo Ninh và Nỗi buồn chiến tranh của lão. 

Tức là, "báo chí cách mạng" Việt Nam, thay vì đứng về phía nhân dân để giữ gìn dòng máu chống ngoại xâm, lại quay sang làm lá chắn, tìm mọi cách "tẩy trắng", "đánh bóng" và thần thánh hóa những nhân vật phong kiến đầy tì vết. Đây là biểu hiện rõ ràng của sự lung lay lập trường tư tưởng, khi góc nhìn giai cấp bị thay thế bằng tư duy xét lại lịch sử.

2. Sự im lặng đáng sợ trước những hành vi bôi nhọ lãnh tụ

Đỉnh điểm của sự tha hóa không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ các nhân vật phong kiến bán nước tay sai như Gia Long, Lê Văn Duyệt, Trương Vĩnh Ký ... mà là thái độ bàng quan, thờ ơ trước những phát ngôn và ấn phẩm "tầm thường hóa" hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong khi các cơ quan báo chí có thể lập tức dậy sóng, huy động hàng chục bài viết để tấn công một ý kiến trái chiều về Lê Văn Duyệt hay Gia Long, thì trước những cuốn sách, những bài viết trên không gian mạng mang tính chất "tầm thường hóa", thậm chí llaf xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ, người ta lại thấy một sự im lặng đáng sợ. Không có một chiến dịch truyền thông đanh thép nào từ các cơ quan báo chí chính thống để đập tan các luận điệu lạc điệu, không có sự sục sôi bảo vệ nền tảng tư tưởng như cách họ bảo vệ các "ông quan, ông chúa" thời phong kiến.

Thậm chí, đau lòng thay, những tờ báo ấy thậm chí trước kia đã từng hà hơi tiếp sức cho những ấn phẩm độc hại. Chúng tung hô, giới thiệu, tô vẽ về cuốn sách độc hại "Chuyện với Thanh" (của Nguyễn Thành Nam) như một tác phẩm xuất sắc, góc nhìn hiện đại ... với đầy ngôn từ hoa mỹ. Phải đến khi người dân căm phẫn, vạch trần từng chi tiết xuyên tạc, từng ẩn ý xấu xa, từng tư tưởng độc hại được cài cắm tinh vi ... trong "Chuyện với Thanh", thì đám báo chí ấy mới chịu gỡ bài, kiểu "Xin lỗi vì bị phát hiện".

Sự phân biệt đối xử này chứng minh một bộ phận nhà báo, tổng biên tập ngày nay đã quên mất người khai sinh ra thẻ nhà báo của mình là ai. Họ sợ chạm đến những vấn đề nhạy cảm, sợ đấu tranh trực diện nhưng lại rất hung hăng khi đàn áp dư luận nhân dân.

3. Thực tế nhức nhối: Căn bệnh "me Tây", sùng bái phương Tây và làn sóng tin rác.

Nhìn rộng ra toàn cảnh mặt báo hiện nay, người ta không khỏi rùng mình trước sự rẻ rúng của thông tin. Để chạy theo thị hiếu tầm thường, câu view và trục lợi kinh tế, các trang báo điện tử ngập tràn những "tin rác": từ chuyện ngoại tình, bóc phốt của giới giải trí cho đến những tiêu đề giật gân, vô nghĩa.

Bên cạnh việc đảo ngược các giá trị phong kiến, sự tha hóa của một bộ phận báo chí còn được phơi bày rõ nét qua thái độ sùng bái mù quáng và thiếu khách quan đối với một số học giả, nhân vật công chúng có tư tưởng gây tranh cãi. Công luận không khỏi đặt dấu hỏi lớn khi thấy truyền thông liên tục dành những vị trí trang trọng, những lời tán dương hoa mỹ để tô vẽ, thần thánh hóa cho các nhân vật như Phan Huy Lê, Nguyễn Minh Thuyết, Dương Trung Quốc, hay Nguyễn Thành Nam…

Đáng báo động ở chỗ, thay vì giữ vai trò độc lập, phản biện và phân tích lịch sử, giáo dục bằng một nhãn quan khoa học, đúng đắn, báo chí lại hoàn toàn tước bỏ góc nhìn công tâm từ phía nhân dân. Họ cố tình lờ đi, thậm chí bưng bít những sai lầm hệ thống, những tư tưởng "xét lại lịch sử" phá hoại nền tảng nhận thức của giới trẻ, hay những dự án cải cách giáo dục rối ren, đầy bất cập từng bị xã hội phản ứng dữ dội. Bằng cách biến các diễn đàn truyền thông thành sân khấu độc diễn cho một nhóm lợi ích học thuật, những tờ báo này đã tự tước bỏ chức năng "vũ khí tư tưởng" của báo chí cách mạng, dung túng cho các quan điểm lệch lạc nhởn nhơ bóp méo sự thật, đồng thời chà đạp lên quyền được tiếp cận sự thật khách quan của toàn xã hội.

Nghiêm trọng hơn là căn bệnh "me Tây" kinh niên. Báo chí sẵn sàng ca ngợi vô điều kiện các lối sống, các giá trị văn hóa và tiêu chuẩn từ phương Tây, cổ xúy cho tư duy thực dụng, ích kỷ của chủ nghĩa cá nhân. Nếu không phải là dịch từ báo Tây, thì họ sẽ viết bài ca ngợi những giá trị ngoại lai nhưng lại sẵn sàng đem những biểu tượng thiêng liêng, những trang sử thấm máu của cha ông ra để mổ xẻ, giễu nhại dưới danh nghĩa "tự do học thuật" và "đổi mới tư duy".

Nền báo chí ấy đã quên mất rằng, sức mạnh của một quốc gia độc lập nằm ở lòng tự tôn dân tộc và sự kiên định về tư tưởng. Khi dòng chảy thông tin bị dẫn dắt bởi những cái đầu rỗng tuếch về lịch sử và tràn ngập tư duy sùng ngoại, nền tảng đạo đức xã hội sẽ bị xói mòn từ bên trong.

*Có thể nói, báo chí cách mạng Việt Nam đang đứng trước một khúc quanh sinh tử của sự tự chuyển hóa. Sự việc đe dọa người dân yêu nước phê phán Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, phê phán Nỗi buồn chiến tranh ... đặt cạnh sự thờ ơ trước việc bảo vệ hình tượng Bác Hồ là một minh chứng không thể chối cãi cho sự lệch lạc này. 

Đã đến lúc các cơ quan quản lý nhà nước và toàn xã hội phải nhìn thẳng vào sự thật, thực hiện một cuộc "thanh lọc" quyết liệt đối với nền báo chí nước nhà. Phải trả lại cho báo chí đúng tính chất "cách mạng", một nền báo chí phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, kiên quyết đấu tranh với các thế lực phản động và giữ gìn sự trong sáng của lịch sử dân tộc. Hãy để cây bút của người phóng viên cháy lên bằng ngọn lửa yêu nước chân chính, chứ không phải bằng sự ích kỷ, me Tây và tha hóa đạo đức...!




QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM!

Ngày 15/6/2026, Cục Xuất bản, In và Phát hành ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam do xuất bản cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” của tác giả Nguyễn Thành Nam có nội dung sai sự thật nghiêm trọng.

Theo quyết định xử phạt, cuốn sách có một số thông tin, nhận định không chính xác về một số nhân vật, sự kiện lịch sử; đồng thời sử dụng ngôn ngữ thể hiện chưa phù hợp khi viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng.

Nhà xuất bản Hội Nhà văn bị phạt tiền 100 triệu đồng và đình chỉ hoạt động trong thời hạn 2 tháng để rà soát, chấn chỉnh toàn diện hoạt động chuyên môn. Bên cạnh đó, nhà xuất bản phải tiêu hủy toàn bộ số xuất bản phẩm bị thu hồi và nộp lại toàn bộ số lợi bất hợp pháp thu được từ việc phát hành cuốn sách.

Trước đó, Cục Xuất bản, In và Phát hành đã yêu cầu Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam đình chỉ phát hành, thu hồi toàn bộ số sách trên thị trường; đồng thời có văn bản đề nghị các địa phương rà soát, thu hồi, ngăn chặn việc phát hành cuốn sách và đề nghị hệ thống thư viện không đưa cuốn sách vào phục vụ bạn đọc./.

QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: TIN CŨNG VUI KHI PHÁP LUẬT ỦNG HỘ TIẾNG NÓI NGƯỜI DÂN...

     Tuy chưa triệt để, chưa mở rộng, chưa đủ sức răn đe nhưng bước đầu đã có cơ sở để dân có chút tin tưởng vào công lý.

Giờ khai tử đã điểm cho Nguyễn Thành Nam ( chuyện của Thanh ) Phạt NXB Hội Nhà văn 100 triệu, đình chỉ 2 tháng

tiêu hủy toàn bộ sách "Chuyện với Thanh" vì có nội dung sai sự thật nghiêm trọng.

Cục Xuất bản, In và Phát hành hôm 15-6 đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nhà xuất bản Hội Nhà văn do liên quan tới việc xuất bản cuốn sách Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng của tác giả Nguyễn Thành Nam.

Theo quyết định xử phạt, cuốn sách có một số thông tin, nhận định không chính xác về một số nhân vật, sự kiện lịch sử; đồng thời sử dụng ngôn ngữ thể hiện chưa phù hợp khi viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số đồng chí lãnh đạo tiền bối của Đảng.

Ngoài số tiền phạt vi phạm hành chính 100 triệu đồng, Nhà xuất bản Hội Nhà văn bị đình chỉ hoạt động trong thời hạn 2 tháng để rà soát, chấn chỉnh toàn diện hoạt động chuyên môn.

Bên cạnh đó, nhà xuất bản phải tiêu hủy toàn bộ số xuất bản phẩm đã thu hồi và nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất hợp pháp thu từ việc phát hành cuốn sách này.

Trước đó, Cục Xuất bản, In và Phát hành đã yêu cầu Nhà xuất bản Hội Nhà văn đình chỉ phát hành, thu hồi toàn bộ số sách trên thị trường.

Đồng thời cục cũng có văn bản đề nghị các địa phương rà soát, thu hồi, ngăn chặn việc phát hành cuốn sách và đề nghị hệ thống thư viện không đưa cuốn sách vào phục vụ bạn đọc./.

QV-ST!

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

KHI “KHAI PHÓNG” TRỞ THÀNH LỚP VỎ BỌC CHO SỰ XÉT LẠI LỊCH SỬ!

     Không quá bất ngờ khi một trường đại học Mỹ như Fulbright chọn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh làm tọa đàm học thuật, nhưng điều này lại gợi lên một nghịch lý. Trong tác phẩm này, bản chất của cuộc chiến tranh xâm lược dường như bị che phủ bởi lớp ngôn từ bịa đặt khiến hình ảnh người chiến sĩ Giải phóng quân hiện lên bạc nhược, dung tục thậm chí méo mó. Phải chăng chính là điều mà một trường đại học Mỹ như Fulbright mong muốn và chúng ta quá vô thức, đang để cho kẻ từng gây nên bi kịch, từ phi nghĩa chúng trở thành chính nghĩa.

Ngược dòng quá khứ, vào ngày 21/5/2019, nhà văn Hoàng Ấu Phương (bút danh Bảo Ninh) đã đến Trường Đại học Fulbright Việt Nam để tham dự buổi tọa đàm về tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”. Thật trùng hợp hoặc có thể là một sự sắp đặt có chủ ý tại ngôi trường này, cùng thời điểm đó, đang diễn ra buổi trình chiếu bộ phim “Chiến tranh Việt Nam” do Ken Burns và Lynn Novick (Mỹ) sản xuất. Trước đó, trong tập 9 của bộ phim này nói về giai đoạn từ tháng 5/1970 đến tháng 3/1973, khi được phỏng vấn, Bảo Ninh đã có phát biểu hợm mình: “Chúng tôi ăn cùng một loại gạo, uống cùng một loại nước, chia sẻ cùng một nền văn hóa, cùng một loại âm nhạc. Chúng tôi đã hèn nhát theo cùng một cách, đã dũng cảm theo cùng một cách. Không có gì khác biệt, đó là một cuộc nội chiến.”

Điều này gợi lên một câu hỏi lớn: phải chăng tồn tại hai con người, hai vai trò nhưng chung một mục đích? Đó là Đàm Bích Thủy, Chủ tịch sáng lập Đại học Fulbright Việt Nam, và Bảo Ninh, nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhắc đến Đàm Bích Thủy, không thể tách khỏi câu chuyện về Đại học Fulbright Việt Nam (FUV), một mô hình giáo dục khai phóng theo chuẩn Mỹ, nhưng cũng gây nhiều tranh luận. Nhiều ý kiến lo ngại rằng qua các hoạt động giao lưu và chương trình học, có thể xuất hiện xu hướng “tẩy trắng lịch sử” hoặc đánh đồng bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam.

Được biết, trước đây ở Liên Xô, học bổng Fulbright đã từng là mầm mống của sự sụp đổ Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, dưới thời Nikita Sergeyevich Khrushchev làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, 17 người thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô được cử đi sang Mỹ du học một năm bằng học bổng Fulbright. Trong số đó có 14 người là sĩ quan KGB, còn lại là làm công tác đảng trong đó có Alexander Yakovlev.

Theo học bổng Fulbright, A. Yakovlev theo học chương trình thực tập sinh tại Đại học Columbia (Hoa Kỳ) dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Chính trị học Hoa Kỳ David Truman, một trong những người sáng lập học thuyết đa nguyên chính trị và là một chuyên gia chống cộng khét tiếng. Theo hồi ký của cựu Chủ tịch KGB V. Kryuchkov, A. Yakovlev được cơ quan tình báo Hoa Kỳ tuyển mộ trong thời gian đang là học viên của Viện hàn lâm khoa học xã hội sang Hoa Kỳ thực tập tại Đại học Columbia. Việc A. Yakovlev bị cơ quan tình báo nước ngoài tuyển mộ cũng được trung tướng Y. Pitovranov và cựu Chủ tịch KGB Viktor Chebrikov xác nhận.

Tại một buổi chia sẻ, bà Đàm Bích Thủy cho biết nhiều sinh viên Fulbright đã “rất xúc động, thậm chí bật khóc”, khi xem phim tài liệu “Chiến tranh Việt Nam” của Ken Burns và Lynn Novick. Bà ta nói rằng, “Chúng tôi chưa bao giờ biết người Mỹ phải chịu đựng nhiều như vậy. Trước đây, chúng tôi chỉ nghĩ người Việt Nam mới là bên chịu thiệt thòi.”

Phát biểu này đã gây ra nhiều tranh luận. Một số ý kiến cho rằng cách tiếp nhận như vậy có thể vô tình làm lu mờ bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, khi người xem chỉ nhìn qua lăng kính cảm xúc của lính Mỹ. Tuy nhiên, dù sự đồng cảm là điều đáng trân trọng, sự thật lịch sử vẫn cần được đặt đúng vị trí: trong cuộc chiến ấy, người lính Mỹ là lực lượng xâm lược, còn nhân dân Việt Nam là nạn nhân và là người kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.

Điều đáng lo ngại là, qua những phát ngôn và hoạt động của một số cá nhân, khái niệm “nội chiến” dần được đưa vào như một cách “xét lại lịch sử”. Nếu không cẩn trọng, thế hệ trẻ sẽ bị dẫn dắt đến chỗ hiểu sai bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, một cuộc chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược, chứ không phải cuộc xung đột ý thức hệ giữa hai miền.

Lịch sử đã chứng minh, nỗi đau của nhân dân Việt Nam trong chiến tranh không thể so sánh với bất kỳ “nỗi đau” nào của kẻ xâm lược. Hậu quả của chất độc da cam, bom mìn còn sót lại, và những tổn thất về người và của đến nay vẫn hiện hữu. Vì vậy, mọi cách gọi khác đi đều là sự đánh tráo bản chất lịch sử.

Trong bối cảnh ấy, những phát biểu như của Bảo Ninh, “chúng tôi cùng ăn, cùng uống, cùng văn hóa… đó là một cuộc nội chiến”, mang tính nguy hiểm khi được lan truyền trong môi trường học thuật, đặc biệt là ở các trường như Fulbright, nơi đào tạo thế hệ trí thức trẻ.

Không ai phủ nhận quyền tự do sáng tạo hay học thuật, nhưng tự do không đồng nghĩa với việc xuyên tạc hoặc làm mờ ranh giới chính - tà, xâm lược - kháng chiến. Văn học có thể đa chiều, nhưng lịch sử thì chỉ có một sự thật: nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh để giành độc lập dân tộc.

Đây không còn là câu chuyện học thuật đơn thuần, mà là vấn đề bảo vệ nền tảng lịch sử và bản sắc dân tộc. Khi lịch sử bị bẻ cong, thế hệ trẻ sẽ mất phương hướng, và tương lai dân tộc sẽ phải trả giá.

Bảo Ninh có quyền viết, Fulbright có quyền mời. Nhưng không ai có quyền nhân danh “nhân văn” để xóa nhòa tội ác chiến tranh hay đánh đồng đế quốc xâm lược với đất nước bị xâm lược. Trách nhiệm của các cơ sở giáo dục Việt Nam là truyền đạt sự thật lịch sử một cách khách quan, trung thực, và có trách nhiệm với dân tộc mình, trước khi hướng tới bất kỳ “chuẩn mực quốc tế” nào.

Lịch sử dân tộc là ký ức thiêng liêng, được viết bằng máu và nước mắt của hàng triệu con người. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm làm mờ bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến chính nghĩa giành độc lập, tự do cho dân tộc, đều là sự xúc phạm đối với quá khứ và là mối nguy cho tương lai.

Giáo dục, học thuật hay văn học đều cần tôn trọng sự thật lịch sử. Mọi diễn giải, dù dưới danh nghĩa “tự do tư tưởng” hay “góc nhìn nhân văn”, nếu đi đến chỗ đánh đồng chính – tà, xâm lược – tự vệ, thì đều vượt qua giới hạn của đạo đức và trách nhiệm công dân.

Lịch sử không chỉ là ký ức của dân tộc, mà còn là nền tảng để mỗi quốc gia định hình bản sắc và định hướng tương lai. Khi sự thật lịch sử bị bóp méo, không chỉ những trang quá khứ bị tổn thương, mà niềm tin và ý thức dân tộc của thế hệ trẻ cũng dần lung lay. Một khi giới trẻ không còn phân biệt được đâu là kẻ xâm lược, đâu là người bảo vệ Tổ quốc, thì ranh giới giữa chính nghĩa và phi nghĩa sẽ bị xóa nhòa.

Đó chính là nguy cơ sâu xa của “chủ nghĩa xét lại lịch sử”, khi những sai lầm, thậm chí tội ác, được khoác lên lớp áo “nhân văn” hay “học thuật”, khiến ký ức dân tộc bị đánh tráo bằng những câu chuyện cảm xúc nhưng thiếu sự thật. Và nếu chúng ta im lặng trước những diễn giải sai lệch ấy, thì sự im lặng đó sẽ trở thành một dạng đồng lõa nguy hiểm.

Giáo dục là nơi gieo mầm cho nhận thức và niềm tin của thế hệ tương lai. Nhưng khi những giá trị lệch lạc được đưa vào giảng đường, dù dưới danh nghĩa “tự do học thuật” hay “tư duy phản biện”, thì đó không còn là khai phóng, mà là sự đầu độc nhận thức tinh vi. Không thể gọi là khai phóng nếu sinh viên bị dẫn dắt đến chỗ cảm thông với kẻ xâm lược hơn là thấu hiểu nỗi đau của chính dân tộc mình. Một nền giáo dục chân chính không chỉ dạy con người biết nghĩ, mà còn phải dạy họ nghĩ đúng, dựa trên sự thật, lòng trung thực và tình yêu Tổ quốc.

Nếu lịch sử bị bóp méo trong trường học, hậu quả không chỉ dừng ở nhận thức lệch lạc, mà còn dẫn đến sự thờ ơ với cội nguồn, sự nghi ngờ với truyền thống, và cuối cùng là sự lạc hướng của cả một thế hệ, khi dân tộc bị tước đi quyền tự kể câu chuyện của chính mình.

Đã đến lúc xã hội, giới học thuật và cơ quan quản lý phải có tiếng nói rõ ràng, khách quan và có trách nhiệm để ngăn chặn mọi biểu hiện của chủ nghĩa xét lại lịch sử dưới lớp vỏ “giáo dục khai phóng”. Bởi khi giáo dục đi chệch khỏi sự thật, thế hệ trẻ sẽ đánh mất la bàn giá trị; và khi ấy, cái giá mà dân tộc phải trả sẽ không chỉ là sự hiểu lầm, mà là sự phai nhạt căn cước và tinh thần dân tộc.

Giữ gìn sự thật lịch sử trong giáo dục không phải là khép kín tư tưởng, mà là bảo vệ nền tảng đạo lý, niềm tự hào và linh hồn của dân tộc, những điều không thể vay mượn, và càng không thể để người khác viết thay./.
Ảnh 1: Bảo Ninh, tác giả tuyết thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”
Ảnh 2: Bảo Ninh và sinh viên Đại học Fullbright ngày 21/5/2019.

Ảnh 3: Nếu lịch sử bị bóp méo trong trường học, hậu quả không chỉ dừng ở nhận thức lệch lạc, mà còn dẫn đến sự thờ ơ với cội nguồn, sự nghi ngờ với truyền thống, và cuối cùng là sự lạc hướng của cả một thế hệ, khi dân tộc bị tước đi quyền tự kể câu chuyện của chính mình.
QV-ST!

VĂN HÓA PHẢI TRỞ THÀNH “LÁ CHẮN MỀM” CỦA QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Không gian số ngày nay không chỉ là kênh trao đổi thông tin, mà đã trở thành môi trường hình thành, lan tỏa và va chạm của các giá trị văn hóa, quan điểm xã hội và nhận thức lịch sử. Sự bùng nổ của đời sống văn hóa trên không gian mạng mở ra những cơ hội lớn để kết nối, sáng tạo và chia sẻ tri thức. Tuy nhiên, cùng với đó là những thách thức không nhỏ khi thông tin sai lệch, tranh luận cực đoan và cách ứng xử thiếu chuẩn mực có thể lan truyền với tốc độ chóng mặt. Trong bối cảnh ấy, xây dựng văn hóa ứng xử trên không gian số không còn là câu chuyện giao tiếp đơn thuần, mà trở thành một yêu cầu cấp thiết về chính trị - xã hội, một mặt trận quan trọng trong việc bảo vệ hệ giá trị, nền tảng tư tưởng và chuẩn mực văn hóa của cộng đồng.

Không gian số - môi trường văn hóa mới của xã hội
Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của Internet cùng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, TikTok đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong phương thức giao tiếp và tiếp nhận thông tin của xã hội Việt Nam. Từ một công cụ kết nối đơn thuần, không gian số đã nhanh chóng trở thành một bộ phận hữu cơ của đời sống xã hội, nơi diễn ra hàng loạt hoạt động trao đổi tri thức, thảo luận học thuật, bày tỏ quan điểm cá nhân và hình thành các xu hướng dư luận. Trong môi trường này, thông tin được truyền tải gần như tức thời, vượt qua mọi rào cản không gian và thời gian, tạo nên một không gian tương tác rộng mở chưa từng có trong lịch sử truyền thông.

Đặc tính “phẳng” của không gian mạng cùng mức độ ẩn danh tương đối của người dùng đã hình thành nên một hệ sinh thái văn hóa mới, nơi ranh giới giữa người tiếp nhận và người sản xuất thông tin ngày càng trở nên mờ nhạt. Mỗi cá nhân không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn có thể trở thành một “nhà xuất bản” với khả năng lan tỏa quan điểm, hình ảnh và dữ liệu tới hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người chỉ trong thời gian ngắn. Điều này tạo nên sự phong phú, đa dạng trong đời sống thông tin và văn hóa xã hội, đồng thời thúc đẩy sự hình thành của các cộng đồng trực tuyến với những hệ giá trị và cách biểu đạt riêng. Tuy nhiên, chính sự cởi mở và phi tập trung này cũng khiến việc kiểm chứng và kiểm soát nội dung trở nên phức tạp hơn bao giờ hết.

Không gian số vì thế trở thành một diễn đàn rộng lớn, nơi người dân có thể tiếp cận nhanh chóng các nguồn thông tin và tham gia thảo luận về nhiều vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, từ chính sách kinh tế, cải cách hành chính đến các vấn đề dân sinh, văn hóa và giáo dục. Sự tham gia tích cực của công chúng vào các cuộc thảo luận trực tuyến góp phần mở rộng không gian phản biện xã hội, thúc đẩy tinh thần dân chủ và tăng cường sự kết nối giữa nhà nước với người dân. Tuy nhiên, tính mở cùng tốc độ lan truyền theo cấp số nhân của môi trường mạng cũng khiến không gian này dễ trở thành “điểm nóng” của những biểu hiện lệch chuẩn. Những tranh luận gay gắt, những nhận định thiếu kiểm chứng hoặc những cách diễn đạt cực đoan có thể nhanh chóng lan rộng, giống như những “virus thông tin” tác động tiêu cực đến nhận thức và tâm lý đám đông. Nhiều nghiên cứu cho thấy các thông tin tiêu cực, giật gân hoặc gây tranh cãi thường có tốc độ lan truyền nhanh hơn nhiều lần so với các thông tin chính thống, đặt ra thách thức không nhỏ đối với công tác định hướng dư luận xã hội.

Trong bối cảnh đó, các vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hóa và chính trị ngày càng trở thành tâm điểm của nhiều “làn sóng tranh luận” trên không gian mạng. Những cuộc thảo luận này phản ánh sự quan tâm ngày càng lớn của xã hội đối với các vấn đề liên quan đến bản sắc văn hóa và vận mệnh dân tộc. Tuy nhiên, nếu thiếu một “màng lọc” tri thức vững chắc cùng bản lĩnh chính trị cần thiết, những tranh luận này rất dễ bị dẫn dắt theo những hướng sai lệch. Các thế lực thù địch và những nguồn thông tin thiếu thiện chí có thể lợi dụng đặc điểm lan truyền nhanh của mạng xã hội để bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử, kích động tâm lý cực đoan hoặc làm suy giảm niềm tin xã hội. Sự thiếu hụt kiến thức lịch sử, sự tiếp cận phiến diện hoặc cảm tính đối với các vấn đề phức tạp có thể dẫn đến những cách hiểu sai lệch về các giá trị truyền thống, từ đó làm xói mòn niềm tin của một bộ phận giới trẻ đối với những thành quả cách mạng và con đường phát triển mà dân tộc đã lựa chọn.

Từ thực tế đó có thể thấy, không gian số ngày nay không chỉ đơn thuần là một môi trường truyền thông hay công nghệ, mà đã trở thành một trận địa văn hóa tư tưởng quan trọng của xã hội hiện đại. Những giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức và định hướng nhận thức xã hội đang được định hình, tranh luận và lan tỏa ngay trong môi trường này. Vì vậy, việc xây dựng văn hóa ứng xử trên không gian số không chỉ là vấn đề về giao tiếp hay phép lịch sự trực tuyến, mà còn là một yêu cầu mang tính chiến lược đối với sự phát triển bền vững của xã hội. Điều đó đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa việc thượng tôn pháp luật, đặc biệt là các quy định của Luật An ninh mạng và hệ thống pháp luật liên quan với việc nâng cao nhận thức, giáo dục đạo đức, bồi đắp lòng tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm công dân trong môi trường số. Chỉ khi xây dựng được một hệ chuẩn mực văn hóa lành mạnh trên không gian mạng, xã hội mới có thể phát huy tối đa những giá trị tích cực của công nghệ số, đồng thời bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa và những giá trị cốt lõi của đất nước trong thời đại số hóa.

Những thách thức đối với hệ giá trị xã hội trên không gian số
Trong những năm gần đây, không gian mạng đã chứng kiến nhiều làn sóng tranh luận gay gắt liên quan đến việc nhìn nhận và diễn giải các vấn đề lịch sử. Không ít cuộc “khẩu chiến” trực tuyến đã nổ ra xoay quanh những chủ đề vốn mang ý nghĩa căn cốt đối với nhận thức lịch sử dân tộc, như vị trí của môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông hay cách đánh giá bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Một bộ phận người dùng mạng xã hội, do thiếu nền tảng tri thức lịch sử vững chắc hoặc bị tác động bởi những nguồn thông tin sai lệch, đã sử dụng các thuật ngữ và cách diễn đạt không phản ánh đúng bản chất của các sự kiện lịch sử. Trong khi đó, đối với bộ máy chính trị tồn tại tại Sài Gòn trước năm 1975, cách gọi chính xác phải là “Chính quyền Ngụy Sài Gòn” hoặc “Ngụy quyền Sài Gòn”, còn lực lượng quân sự phải gọi là “quân ngụy Sài Gòn”, nhằm phản ánh đúng bản chất phụ thuộc và vai trò tay sai trong cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam. Việc sử dụng sai hoặc làm mờ nhạt những khái niệm này không chỉ gây nhiễu loạn nhận thức lịch sử mà còn tiềm ẩn nguy cơ làm lệch lạc cách hiểu của thế hệ trẻ về những giai đoạn đấu tranh đầy hy sinh của dân tộc.

Bên cạnh đó, nhiều cuộc tranh luận trên không gian mạng ngày càng trở nên căng thẳng khi các quan điểm khác biệt được thể hiện trong trạng thái thiếu kiềm chế, thậm chí chuyển thành công kích cá nhân hoặc lan truyền những lời lẽ xúc phạm. Hiện tượng “rác mạng”, “tin giả” (fake news) cùng các trào lưu thông tin lệch chuẩn đang đặt ra thách thức nghiêm trọng đối với hệ chuẩn mực đạo đức và văn hóa truyền thống của xã hội. Khi thông tin chưa được kiểm chứng có thể lan truyền với tốc độ chóng mặt, mạng xã hội dễ trở thành môi trường để các thông tin giật gân, kích động cảm xúc tiêu cực hoặc xuyên tạc sự thật phát tán rộng rãi. Trong những điều kiện nhất định, không gian mạng thậm chí có thể bị lợi dụng như một công cụ của chiến tranh tâm lý, phục vụ các chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm gây hoang mang trong dư luận, khoét sâu những khác biệt quan điểm và từng bước làm suy giảm sự đồng thuận xã hội.

Không ít tranh luận liên quan đến văn học chiến tranh hoặc các nhân vật lịch sử cũng phản ánh sự đa dạng trong cách tiếp cận của xã hội hiện đại. Sự đa dạng này, nếu được đặt trên nền tảng khoa học và thái độ tôn trọng lịch sử, có thể góp phần làm phong phú thêm nhận thức của xã hội. Tuy nhiên, khi các quan điểm cá nhân được diễn giải một cách cực đoan, thiếu căn cứ hoặc mang tính suy diễn cảm tính, chúng dễ dẫn đến những biểu hiện như “hạ bệ thần tượng”, phủ nhận các giá trị đã được lịch sử kiểm chứng. Những cách tiếp cận như vậy không chỉ gây nhiễu loạn nhận thức của công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, mà còn thể hiện sự thiếu trách nhiệm đối với di sản tinh thần mà các thế hệ đi trước đã dày công xây dựng. Lịch sử dân tộc, với những trang đấu tranh gian khổ và chính nghĩa của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, là dòng chảy khách quan đã được khẳng định bằng thực tiễn và bằng chứng lịch sử; vì vậy, không thể bị bóp méo hay làm mờ bởi những luận điệu phiến diện và thiếu cơ sở.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một văn hóa tranh luận lành mạnh trên không gian số trở thành yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển ổn định của xã hội. Một môi trường thảo luận dựa trên tinh thần tôn trọng sự thật, lập luận khoa học và thái độ xây dựng không chỉ giúp công chúng tiếp cận thông tin chính thống một cách khách quan hơn mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với những giá trị nền tảng của đất nước. Đồng thời, việc chủ động nhận diện, phân tích và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng cần được xem là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của mỗi cán bộ, đảng viên và công dân có trách nhiệm. Chỉ khi mỗi người dùng Internet ý thức rõ vai trò của mình trong việc bảo vệ sự thật và giữ gìn chuẩn mực văn hóa, không gian số mới thực sự trở thành một môi trường lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của xã hội Việt Nam.

Định hướng của Đảng trong xây dựng hệ giá trị xã hội
Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu và động lực quan trọng của quá trình phát triển. Trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng qua nhiều nhiệm kỳ, văn hóa luôn được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc xây dựng con người và bồi đắp sức mạnh nội sinh của dân tộc. Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã xác định rõ: văn hóa phải thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng định hướng hành vi và chuẩn mực ứng xử của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. Quan điểm này không chỉ có ý nghĩa trong đời sống thực tiễn mà còn trở thành kim chỉ nam cho việc xây dựng chuẩn mực ứng xử của con người Việt Nam trong môi trường số đang phát triển mạnh mẽ hiện nay.

Tiếp nối tinh thần đó, ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Nghị quyết khẳng định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, củng cố bản lĩnh văn hóa và năng lực thích ứng của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đây là định hướng chiến lược nhằm bảo đảm rằng quá trình phát triển kinh tế và chuyển đổi số của đất nước luôn gắn liền với việc giữ gìn bản sắc văn hóa và các giá trị cốt lõi của dân tộc.

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, không gian mạng ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của đời sống xã hội. Hàng triệu người dân tham gia tương tác, trao đổi thông tin và bày tỏ quan điểm mỗi ngày trên các nền tảng trực tuyến. Chính vì vậy, những định hướng của Đảng về xây dựng hệ giá trị xã hội và phát triển văn hóa có thể được ví như “ngọn hải đăng” định hướng nhận thức và hành vi của xã hội trong môi trường thông tin rộng mở nhưng đầy phức tạp. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thời đại số không chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu hay phong trào mang tính hình thức, mà cần được cụ thể hóa bằng những hành động thiết thực trong đời sống hằng ngày, đặc biệt là trên không gian mạng: lan tỏa những thông tin tích cực, nói lời văn minh, ứng xử có trách nhiệm, sẻ chia những giá trị nhân văn và kiên quyết đấu tranh với những hành vi sai trái, phản văn hóa, đi ngược lại lợi ích quốc gia và dân tộc.

Thực tiễn cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và nhất quán của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm cho không gian mạng Việt Nam phát triển theo hướng lành mạnh, tích cực và phục vụ lợi ích chung của xã hội. Việc thực hiện nghiêm túc các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trên mạng xã hội không chỉ góp phần xây dựng môi trường thông tin trong sạch mà còn tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân. Khi mỗi cán bộ, đảng viên thực sự trở thành một “pháo đài tư tưởng” vững chắc trên không gian mạng, các giá trị xã hội tốt đẹp sẽ được củng cố và bảo vệ, đồng thời góp phần tạo nên sức đề kháng mạnh mẽ trước những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng để xây dựng một môi trường văn hóa số lành mạnh, qua đó phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước trong thời đại mới.

Văn hóa ứng xử trên không gian số và trách nhiệm xã hội
Xây dựng văn hóa ứng xử trên không gian số trước hết bắt nguồn từ ý thức và trách nhiệm tự thân của mỗi cá nhân. Trong môi trường mạng, mỗi dòng trạng thái, mỗi bài viết, mỗi lượt “thích” (like) hay “chia sẻ” (share) đều mang theo một thông điệp nhất định và để lại dấu vết trong không gian số. Những hành động tưởng chừng nhỏ bé ấy, khi được nhân lên bởi hàng triệu người dùng, có thể tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần định hình bầu không khí thông tin và văn hóa của toàn xã hội. Vì vậy, mỗi người khi tham gia mạng xã hội cần thấm nhuần tinh thần “trung thực, trách nhiệm, văn minh”, biết cân nhắc trước khi phát ngôn, chia sẻ thông tin có chọn lọc và tôn trọng sự thật. Đặc biệt, các thế hệ đi trước, những người có uy tín và ảnh hưởng trong gia đình và cộng đồng cần nêu gương trong việc sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đồng thời tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật khi tham gia môi trường số.

Bên cạnh trách nhiệm cá nhân, vai trò của giáo dục và truyền thông giữ vị trí then chốt trong việc hình thành và củng cố văn hóa ứng xử trên không gian mạng. Nhà trường cần trang bị cho học sinh, sinh viên những kỹ năng cần thiết để nhận diện và phân biệt thông tin, xây dựng cho các em một “bộ lọc” tri thức giúp phân biệt tin thật, tin giả, từ đó hình thành tư duy phản biện và bản lĩnh chính trị vững vàng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Việc giảng dạy lịch sử và văn hóa dân tộc cần được đổi mới theo hướng sinh động, hấp dẫn, gắn với thực tiễn đời sống, nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác khoa học. Khi hiểu đúng về lịch sử dân tộc và giá trị truyền thống, thế hệ trẻ sẽ thêm tự hào về nguồn cội, đồng thời có đủ khả năng nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử hoặc bóp méo sự thật từ các nguồn thông tin thiếu thiện chí.

Trong bối cảnh đó, các cơ quan báo chí và truyền thông chính thống phải tiếp tục phát huy vai trò là dòng chảy thông tin chủ đạo, định hướng dư luận xã hội và cung cấp những thông tin chính xác, kịp thời trước các vấn đề được công chúng quan tâm. Khi thông tin chính thống được truyền tải nhanh chóng, minh bạch và có sức thuyết phục, những tin đồn thất thiệt hay thông tin sai lệch sẽ dần bị đẩy lùi. Đồng thời, đội ngũ trí thức, nhà khoa học, bác sĩ, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực cũng cần tích cực tham gia vào không gian số, chia sẻ tri thức, phổ biến kiến thức khoa học và lan tỏa những giá trị nhân văn. Sự hiện diện ngày càng nhiều của các nguồn tri thức đáng tin cậy sẽ góp phần làm phong phú đời sống văn hóa số, nâng cao trình độ nhận thức xã hội và từng bước hình thành một môi trường thông tin lành mạnh.

Xây dựng văn hóa ứng xử trên không gian số vì thế không chỉ là nhiệm vụ của từng cá nhân mà còn là một cuộc vận động sâu rộng của toàn xã hội, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình và mỗi công dân. Đây không đơn thuần là vấn đề quản lý kỹ thuật hay kiểm soát thông tin, mà sâu xa hơn là quá trình bồi đắp những giá trị văn hóa, đạo đức và bản lĩnh của con người Việt Nam trong thời đại số. Khi mỗi người dùng Internet đều ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với cộng đồng, không gian số sẽ trở thành một môi trường tích cực, nơi các giá trị tốt đẹp được lan tỏa, tinh thần sáng tạo được khơi dậy và sức mạnh đoàn kết của xã hội được củng cố. Từ đó, không gian mạng không chỉ phục vụ sự phát triển trong nước mà còn góp phần tăng cường giao lưu, hợp tác và thắt chặt tình hữu nghị giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Khát vọng phát triển và nền tảng giá trị xã hội

Một quốc gia muốn phát triển bền vững và vươn tầm thế giới cần có một nền tảng giá trị xã hội vững chắc làm bệ đỡ. Những giá trị cốt lõi như lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, sự tôn trọng sự thật lịch sử và thái độ ứng xử văn minh chính là sức mạnh mềm giúp dân tộc ta vượt qua mọi sóng gió của thời đại. Trong kỷ nguyên số, khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh của công nghệ hiện đại với chiều sâu của văn hóa truyền thống, yếu tố đã làm nên bản lĩnh dân tộc suốt hàng nghìn năm lịch sử.

Việc bảo vệ và phát huy những giá trị ấy không chỉ dừng lại ở đời sống thực mà phải được hiện thực hóa mạnh mẽ trên không gian mạng. Xây dựng văn hóa ứng xử trên không gian số chính là bảo vệ “phần hồn” của dân tộc trong thời đại 4.0. Đó là quá trình gieo mầm những giá trị tốt đẹp, nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm công dân, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và khẳng định bản sắc Việt Nam trên bản đồ số toàn cầu.

Nhìn xa hơn trong tầm nhìn phát triển của đất nước, đặc biệt hướng tới hai dấu mốc lịch sử quan trọng: kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 2030 và 100 năm thành lập nước vào năm 2045, không gian số sẽ ngày càng trở thành một phần cấu trúc của đời sống xã hội. Khi đó, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng kinh tế hay khoa học công nghệ mà còn bằng sức sống của hệ giá trị văn hóa mà quốc gia đó gìn giữ và phát triển. Một xã hội có nền tảng giá trị vững chắc sẽ có khả năng tự bảo vệ trước những biến động của thời đại và tạo ra sức mạnh đoàn kết bền vững cho các thế hệ tương lai.

Đối với Việt Nam, tầm nhìn dài hạn ấy gắn liền với khát vọng xây dựng một nền văn hóa số lành mạnh, nơi mỗi công dân vừa là người sáng tạo tri thức vừa là người gìn giữ những chuẩn mực văn hóa của dân tộc. Khi các giá trị yêu nước, nhân ái, trung thực và trách nhiệm được lan tỏa mạnh mẽ trên không gian mạng, chúng sẽ trở thành nền móng tinh thần cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

Trong hành trình hướng tới tương lai đó, mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và toàn xã hội đều có trách nhiệm góp phần xây dựng một môi trường số văn minh, nhân văn và giàu bản sắc. Đó không chỉ là nhiệm vụ của hôm nay mà còn là sự chuẩn bị cho tương lai nhiều thập niên phía trước, nơi bản lĩnh văn hóa Việt Nam tiếp tục tỏa sáng và đồng hành cùng sự phát triển của đất nước.

Khát vọng phát triển và nền tảng giá trị xã hội

Một quốc gia muốn phát triển bền vững và vươn tầm trên trường quốc tế không chỉ cần sức mạnh kinh tế hay tiến bộ khoa học công nghệ, mà trước hết phải có một nền tảng giá trị văn hóa, xã hội vững chắc làm bệ đỡ tinh thần. Lịch sử đã chứng minh rằng chính những giá trị cốt lõi như lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý thức tôn trọng sự thật lịch sử và chuẩn mực ứng xử văn minh đã tạo nên sức mạnh nội sinh giúp dân tộc Việt Nam vượt qua nhiều thử thách khắc nghiệt của thời đại. Trong kỷ nguyên số, khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc càng đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh của công nghệ hiện đại với chiều sâu của văn hóa truyền thống, yếu tố đã hun đúc nên bản lĩnh dân tộc suốt hàng nghìn năm lịch sử.

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống văn hóa hiện nay cũng cho thấy không ít biểu hiện đáng suy ngẫm. Trong quá trình hội nhập và phát triển, một bộ phận hoạt động văn hóa, truyền thông đang chịu ảnh hưởng của xu hướng lai căng, chạy theo thị hiếu dễ dãi hoặc đề cao yếu tố gây cười, gây chú ý mà xem nhẹ chiều sâu giá trị. Không ít sản phẩm văn hóa trên không gian mạng được xây dựng theo logic “câu view”, “câu like”, khai thác những yếu tố giải trí đơn thuần nhưng thiếu chuẩn mực thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn. Khi những nội dung như vậy lan tỏa mạnh mẽ, chúng có nguy cơ làm nhạt dần bản sắc văn hóa dân tộc, khiến những giá trị cốt lõi bị che lấp bởi các trào lưu nhất thời. Bên cạnh đó, công tác quản lý, định hướng và phát triển văn hóa trong một số lĩnh vực vẫn còn thiếu sự đồng bộ, chưa theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng của môi trường số, dẫn tới khoảng trống trong việc bảo vệ và lan tỏa các giá trị văn hóa tích cực.

Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ và phát huy hệ giá trị văn hóa của dân tộc không chỉ là yêu cầu của đời sống thực mà còn phải được khẳng định mạnh mẽ trên không gian mạng, môi trường ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng tới nhận thức xã hội. Xây dựng văn hóa ứng xử trên không gian số vì thế không chỉ là vấn đề giao tiếp hay đạo đức cá nhân, mà còn là quá trình gìn giữ “phần hồn” của dân tộc trong thời đại số. Đó là hành trình bền bỉ nhằm gieo mầm những giá trị tốt đẹp, nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm công dân, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và khẳng định bản sắc Việt Nam trong dòng chảy thông tin toàn cầu.

Nhìn xa hơn trong tầm nhìn phát triển của đất nước, đặc biệt hướng tới hai dấu mốc lịch sử quan trọng: kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 2030 và 100 năm thành lập nước vào năm 2045, không gian số sẽ ngày càng trở thành một phần cấu trúc của đời sống xã hội. Khi đó, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay trình độ khoa học công nghệ, mà còn được thể hiện ở sức sống của hệ giá trị văn hóa mà quốc gia đó gìn giữ và phát triển. Một dân tộc có nền tảng văn hóa vững chắc sẽ có khả năng tự bảo vệ trước những biến động phức tạp của thời đại, đồng thời tạo nên sức mạnh đoàn kết bền vững cho các thế hệ tương lai.

Đối với Việt Nam, tầm nhìn dài hạn ấy gắn liền với khát vọng xây dựng một nền văn hóa số lành mạnh, nơi mỗi công dân không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn là người sáng tạo và lan tỏa các giá trị tích cực. Khi các giá trị như yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm và tôn trọng sự thật được lan tỏa mạnh mẽ trên không gian mạng, chúng sẽ trở thành nền móng tinh thần vững chắc cho sự phát triển lâu dài của đất nước.

Trong hành trình hướng tới tương lai đó, mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và toàn xã hội đều có trách nhiệm chung tay xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh và giàu bản sắc. Đó không chỉ là nhiệm vụ của hiện tại mà còn là sự chuẩn bị cho nhiều thập niên phía trước, nơi bản lĩnh văn hóa Việt Nam tiếp tục tỏa sáng, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần bền bỉ đồng hành cùng sự phát triển của đất nước và khẳng định vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế./.
QV-ST!

TRÙM TUYÊN GIÁO YAKOLEV VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA NHÀ NƯỚC LIÊN XÔ!

     Ngoài Gorbachev thì còn một kẻ khác không kém phần quan trọng thúc đẩy quá trình Liên Xô sụp đổ, đó chính là Trưởng Ban Tuyên truyền Đảng Cộng sản Liên Xô Alexander Yakovlev. Alexander Yakovlev, “kiến trúc sư cải tổ” Liên Xô đã bị vạch mặt là “điệp viên có ảnh hưởng” của Mỹ.

Yakovlev sinh ngày 2/12/1923 trong một gia đình nông dân ở một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Volga gần thành phố Yaroslavl của tỉnh Yaroslavl của Liên Xô. Nhờ thành tích chiến đấu trong Chiến tranh Vệ quốc, Yakovlev được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô vào năm 1944.

Học bổng Fulbright và mầm mống của sự sụp đổ Đảng Cộng sản Liên Xô.
Năm 1958, dưới thời Nikita Sergeyevich Khrushchev làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, 17 người thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô được cử đi sang Mỹ du học một năm bằng học bổng Fulbright. Trong số đó có 14 người là sĩ quan KGB, còn lại là làm công tác đảng trong đó có Alexander Yakovlev.

Theo học bổng Fulbright, A. Yakovlev theo học chương trình thực tập sinh tại Đại học Columbia (Hoa Kỳ) dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Chính trị học Hoa Kỳ David Truman, một trong những người sáng lập học thuyết đa nguyên chính trị và là một chuyên gia chống cộng khét tiếng. Theo hồi ký của cựu Chủ tịch KGB V. Kryuchkov, A. Yakovlev được cơ quan tình báo Hoa Kỳ tuyển mộ trong thời gian đang là học viên của Viện hàn lâm khoa học xã hội sang Hoa Kỳ thực tập tại Đại học Columbia. Việc A. Yakovlev bị cơ quan tình báo nước ngoài tuyển mộ cũng được trung tướng Y. Pitovranov và cựu Chủ tịch KGB Viktor Chebrikov xác nhận.

Trở về Liên Xô vào năm 1960, A. Yakovlev theo học chương trình nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội và bảo vệ Luận án Phó Tiến sĩ với đề tài “Phê bình văn học tư sản Mỹ về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1953-1957”. Năm 1967, A. Yakovlev bảo vệ Luận án Tiến sĩ với đề tài “Khoa học chính trị Hoa Kỳ và các chính sách đối ngoại của đế quốc Mỹ giai đoạn 1945-1966”.

Vào năm 1972, vì viết bài báo “Chống chủ nghĩa phản lịch sử” trên báo Văn học nên Yakovlev bị thuyên chuyển đi Canada làm đại sứ trong 10 năm (1973 - 1983). Trong thời gian làm Đại sứ tại Canada, A. Yakovlev có dịp tiếp xúc gần gũi và kết thân với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachev trong thời gian ông thăm chính thức Canada.

Theo hồi ký của Trung tướng KGB Y. Pitovranov, Phòng Thương mại và công nghiệp Liên Xô, một tổ chức được thành lập vào năm 1969, với nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo thông qua các doanh nhân phương Tây quan tâm hoạt động kinh tế ở Liên Xô, đã từng gửi báo cáo về Moscow rằng trong thời gian làm Đại sứ Liên Xô ở Canada, A. Yakovlev đã nhận những món quà tặng có giá trị vượt quá xa tiền lương và cả kinh phí được Chính phủ phân bổ cho Đại sứ quán.

Đáng chú ý là, do tiết lộ của A. Yakovlev trong thời gian ông làm Đại sứ tại Canada, có tới 17 nhân viên đại sứ quán Liên Xô bị Chính phủ Canada trục xuất với cáo cuộc “hoạt động gián điệp dưới vỏ bọc ngoại giao”. Nhận được báo cáo này, Chủ tịch KGB Yu. Andropov chuẩn y bản báo cáo về A. Yakovlev và gửi tới Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô L. Brezhnev. Tuy nhiên, sau khi đọc xong báo cáo, L. Brezhnev nói: “Là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, A. Yakovlev không thể là kẻ phản bội”. Mặc dù vậy, Yu. Andropov vẫn đề nghị bãi miễn chức Đại sứ của A. Yakovlev. Tuy nhiên, M. Suslov - Trưởng Ban Tổ chức Trung ương - đã bác bỏ đề nghị này với lý do “bổ nhiệm hay bãi miễn chức Đại sứ không phải là chức năng của KGB mà là của Ban Bí thư và Bộ chính trị.

Trong phiên toà “Vụ án Đảng Cộng sản Liên Xô” tại Toà án Hiến pháp năm 1992, Yakovlev đã đề nghị F.M.Rudinski (luật sư bảo vệ Đảng Cộng sản Liên Xô) rằng: “Tôi đề nghị ông đừng hỏi tôi về những năm 1973 – 1983. Tôi đã vắng mặt ở đây trong mười năm đó. Còn vào những thời điểm khác, mới ông cứ tự nhiên”. Cho đến khi Rudinski đưa ra câu hỏi: “Ngài có phải là điệp viên CIA không?” thì Yakovlev đã tỏ ra vô cùng lúng túng, cằm xệ xuống.

Sau khi trở về Liên Xô, A. Yakovlev được M.S. Gorbachev tiến cử vào chức Viện trưởng Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế. Đề xuất của M. Gorbachev được Yu. Andropov chấp nhận. Dưới sự lãnh đạo của A. Yakovlev, Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đưa ra nhiều kiến nghị gửi Ban Chấp hành Trung ương về cải cách nền kinh tế Liên Xô theo hướng thành lập xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Kể từ khi M. Gorbachev thực hiện chính sách cải tổ Liên Xô vào năm 1985, A. Yakovlev được bổ nhiệm làm Trưởng ban Tuyên truyền của Ban Chấp hành Trung ương chuyên trách về công tác tư tưởng, thông tin và văn hóa, đồng thời được bầu vào Bộ Chính trị.

Từ 1986 đến 1988, với sự tác động của Yakovlev, một loạt cán bộ chủ chốt lý luận nòng cốt của các tờ báo ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay bởi những người ủng hộ chủ trương “cải tổ” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã “quạt gió châm lửa” khuynh đảo dư luận. Một số tờ báo và tạp chí đặc biệt cấp tiến như Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow, dần dần đi theo xu hướng bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng của nhân dân bị đảo lộn, ngày càng trở nên tiếng nói của các thế lực thù địch bên ngoài chống lại Liên Xô.

Các hội đoàn tư nhân tự phát ra đời ngày càng lớn mạnh, đối đầu trực tiếp với các cơ quan tổ chức nhà nước thời bấy giờ. Các tờ báo Liên Xô được cởi trói không ngừng đánh mạnh vào hệ thống chính quyền Xô Viết, phủ nhận thành quả cách mạng của Lê Nin. Công kích chính quyền và hệ tư tưởng, tôn sùng chủ nghĩa Phương tây. Và kết quả cuối cùng ai cũng biết, đó là sự sụp đổ của Liên Xô.

A.Yakovlev còn được giao đảm nhiệm Trưởng ban chuẩn bị nghị quyết “Về công khai hóa” và phụ trách chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 10/1988, A. Yakovlev được Bộ chính trị bổ nhiệm làm Trưởng ban chuyên trách nghiên cứu các tài liệu liên quan tới “chiến dịch thanh trừng” trong những năm 1930-1940 và đầu những năm 1950 dưới thời J. Stalin. Dưới sự lãnh đạo của A. Yakovlev, bộ máy truyền thông Liên Xô tiến hành chiến dịch xuyên tạc vai trò của J. Stalin và vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Năm 1989, A.Yakovlev được giao nhiệm vụ Trưởng ban soạn thảo Cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong thời gian này, A. Yakovlev đã cấp phép lưu hành và phổ biến 30 bộ phim từng bị cấm trình chiếu trước đây và cho xuất bản trên báo Sự Thật – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô, những công trình của các nhà triết học Nga từng bị cấm lưu hành.

Cũng trong năm 1989, tại Đại hội đại biểu nhân dân toàn Liên Xô, A. Yakovlev trình bày bản báo cáo về những hậu quả của Hiệp ước Xô – Đức về không tấn công lẫn nhau năm 1939 (còn gọi là Hiệp ước Molotov – Ribbentrov). Trên cơ sở nghị quyết này, một chiến dịch rộng lớn được triển khai nhằm xuyên tạc lịch sử Chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít. Dựa vào chiến dịch này, báo chí phương Tây ra sức tuyên truyền nhằm cáo buộc J. Stalin và Hitler đều có tội gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong những năm cải tổ ở Liên Xô, A. Yakovlev hiện nguyên hình là kẻ chống chủ nghĩa xã hội. Báo Nước Nga Xô Viết (số ra ngày 7/5/1991) đã đăng bức thư ngỏ của G.Zyuganov (về sau là Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga) gửi A. Yakovlev với tiêu đề “Kiến trúc sư trưởng bên đống đổ nát”. Sau khi bức thư này được công bố, báo chí Nga gọi A. Yakovlev là “kiến trúc trưởng công cuộc cải tổ” dẫn tới sự sụp đổ Liên Xô.

Cựu Chủ tịch KGB V. Kryuchkov từng viết trong cuốn Hồ sơ cá nhân (xuất bản năm 1994) như sau: “Tôi chưa bao giờ nghe thấy A. Yakovlev nói một lời ấm áp nào hay thể hiện niềm tự hào về Tổ quốc, chí ít là về chiến thắng của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Điều này khiến tôi đặc biệt ngạc nhiên vì chính A. Yakovlev là người đã từng tham gia cuộc chiến tranh này. Tôi cũng chưa bao giờ nghe A. Yakovlev nói một lời tử tế nào về nhân dân Nga. Đối với A. Yakovlev, khái niệm nhân dân hoàn toàn không hề tồn tại”.

Về sau, trong hồi ký của mình, A. Yakovlev tiết lộ: “Chúng tôi sẽ phải xóa bỏ hệ thống chính trị Xôviết bằng các phương thức khác nhau như ủng hộ và tôn vinh những người bất đồng chính kiến. Nhưng biện pháp này không triệt để và không có hiệu quả. Cần phải phá hoại Liên Xô từ bên trong và cách duy nhất đúng để đạt mục tiêu đó là sử dụng chính cơ chế quản lý toàn trị của hệ thống đó để phá bỏ nó và chúng tôi đã thành công”.

Năm 2001, A.Yakovlev là người viết lời giới thiệu cho cuốn “Sách đen về chủ nghĩa cộng sản” được xuất bản ở nhiều nước châu Âu, A.Yakovlev đã xuyên tạc thậm tệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và cho rằng chủ nghĩa cộng sản là “căn bệnh xã hội của thế kỷ XX”. Với lập luận xuyên tạc đó, A.Yakovlev chủ trương xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản. Chiến thuật hành động của A.Yakovlev được ông mô ta như sau: “Vào thời kỳ đầu của cải tổ, chúng tôi buộc phải núp dưới những khẩu hiệu nhằm “đẩy mạnh hoàn thiện chủ nghĩa xã hội” và “xây dựng chủ nghĩa xã hội nhân đạo. Không còn cách nào khác”. Theo A.Yakovlev, mục tiêu của cải tổ là từng bước tái cấu trúc hệ thống toàn trị, tiến tới phá bỏ hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô.

A.Yakovlev cho rằng, chế độ toàn trị ở Liên Xô chỉ có thể bị phá hủy từ bên trong, bằng cách kết hợp công khai hóa với việc áp dụng cơ chế kỷ luật toàn trị của Đảng. Dùng chính cơ chế kỷ luật của Đảng để loại bỏ những kẻ chống lại cải tổ. Chiến thuật này của A.Yakovlev đã giúp ông và các cộng sự thành công trong cải tổ j là xóa bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Năm 1994, nhà văn Boldarev khi nhìn lại tình cảnh của thời kỳ này đã nói: “Trong sáu năm, báo chí đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm 1940. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ, đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi trùng”.

Năm 2005, trong thông điệp trước Quốc hội Liên bang Nga, Tổng thống Nga Putin đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô như thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ trước.

“Tôi thường nghe những lời chỉ trích về sự thật rằng tôi rất tiếc về sự sụp đổ của Liên Xô. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là trong một đêm sau sự sụp đổ của Liên Xô, 25 triệu người Nga đột nhiên thấy mình đã ở nước ngoài. Đó là một trong những thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ 20”.

“Sau đó cuộc nội chiến toàn diện bắt đầu. Tất nhiên, tất cả điều này, tôi chứng kiến toàn bộ, đặc biệt là khi tôi trở thành giám đốc Cơ quan An ninh liên bang. Hệ thống an sinh xã hội hoàn toàn bị phá hủy, toàn bộ lĩnh vực của nền kinh tế dừng lại, cũng như hệ thống chăm sóc sức khỏe và quân đội. Hàng triệu người sống trong tình trạng nghèo đói. Chúng tôi không quên những sự kiện này” - Tổng thống Nga nói thêm./.
Ảnh 1: A. Yakovlev (trái) và M.Gorbachev (phải)-“cặp bài trùng” trong cải tổ ở Liên Xô trong những năm 1985-1991.

Ảnh 2: Alexander Yakovlev, “kiến trúc sư cải tổ” Liên Xô đã bị vạch mặt là “điệp viên có ảnh hưởng” của Mỹ.
QV-ST!

VĂN HỌC ĐỨNG Ở ĐÂU TRƯỚC LỊCH SỬ VÀ VẬN MỆNH DÂN TỘC!

     Những tranh luận kéo dài và sự kiện trao rồi thu hồi giải thưởng đối với “Nỗi buồn chiến tranh” và tập thơ “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng” không chỉ dừng lại ở số phận của vài tác phẩm văn học. Đằng sau đó là những lệch chuẩn đáng suy ngẫm trong cách nhìn về chiến tranh, hình ảnh người lính và hệ giá trị văn học đương đại. Khi văn học bị tách rời khỏi lịch sử và lý tưởng dân tộc, không chỉ giá trị nghệ thuật bị đặt dấu hỏi, mà trách nhiệm tư tưởng của người cầm bút và các hội đồng trao giải cũng trở thành vấn đề không thể né tránh.

Văn học không có vùng trung lập
Văn học chưa bao giờ là một lãnh địa trung lập. Mỗi tác phẩm, dù có ý thức hay không, đều tồn tại trong một không gian lịch sử cụ thể và hàm chứa một cách nhìn nhất định về con người, dân tộc và thời đại. Khi văn học rời xa lịch sử, không chỉ ký ức tập thể bị xói mòn, mà hệ giá trị nền tảng của dân tộc cũng đứng trước nguy cơ lệch chuẩn. Bởi vậy, những tranh luận xoay quanh hai tác phẩm nói trên không đơn thuần là tranh luận nghệ thuật, mà là dấu hiệu của một vấn đề sâu xa hơn: văn học đang đứng ở đâu trong dòng chảy lịch sử và trong mối quan hệ với lý tưởng dân tộc. Như nhà phê bình Hà Thanh Vân từng chỉ ra: “Một giải thưởng có thể sửa sai bằng cách thu hồi, nhưng vết xước trong niềm tin thì không tự lành.”

Khi chiến tranh bị kể lại như một bi kịch thuần túy
Trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, chiến tranh được tái hiện chủ yếu qua những hình ảnh cực đoan của bạo lực và hủy diệt: rừng cháy trong “xăng đặc”, lửa “luyện ngục”, cái chết diễn ra trong máu me, hỗn loạn và ám ảnh. Không gian chiến tranh hiện lên như một địa ngục trần gian, nơi con người bị cuốn vào vòng xoáy tàn phá không lối thoát.

Ở tầng sâu hơn, hình ảnh người lính được đặt trong những trạng thái tâm lý và hành vi lệch chuẩn: cờ bạc, hưởng lạc, ảo giác, tìm quên trong chất gây nghiện để trốn chạy đói khổ, chết chóc và tương lai mờ mịt. Người lính, vì thế, dần bị tách khỏi nền tảng lý tưởng mà họ vốn đại diện. Họ không còn hiện lên chủ yếu như biểu tượng của ý chí giải phóng dân tộc, mà như những cá nhân lạc lối, suy đồi tinh thần trong một bi kịch kéo dài.

Vấn đề ở đây không nằm ở việc văn học có quyền phản ánh mặt tối của chiến tranh hay không. Văn học chân chính không né tránh đau thương và mất mát. Tuy nhiên, khi toàn bộ hình ảnh chiến tranh và người lính bị đặt trong cảm thức bi kịch tuyệt đối, khi lý tưởng và chính nghĩa bị đẩy xuống hậu cảnh, thì cách nhìn lịch sử đã bị dịch chuyển. Cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, vốn là một cuộc đấu tranh chính nghĩa chống xâm lược bị thu hẹp thành bi kịch cá nhân và sự tồn tại sinh học đơn thuần.

Sự dịch chuyển ấy không chỉ là một lựa chọn nghệ thuật. Nó tác động trực tiếp đến cách xã hội nhìn nhận lịch sử. Khi người lính bị tách khỏi lý tưởng, khi cuộc kháng chiến bị nhìn như chuỗi đau khổ vô nghĩa, ký ức lịch sử sẽ dần bị làm mờ. Khi đó, văn học, thay vì giữ vai trò gìn giữ và truyền dẫn ký ức dân tộc lại trở thành nơi tái cấu trúc lịch sử theo một hệ cảm xúc khác, với những hệ quả tư tưởng không thể xem nhẹ.

Khi cái chết trở thành thủ pháp gây sốc
Nếu “Nỗi buồn chiến tranh” đặt ra vấn đề về cách nhìn chiến tranh và hình ảnh người lính, thì tập thơ “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng” của Lâu Văn Mua lại gợi lên những câu hỏi đáng lo ngại về chuẩn mực sáng tạo và cảm quan thẩm mỹ trong văn học.

Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã tạo ra tranh cãi gay gắt. Không ít ý kiến cho rằng tên tập thơ gây cảm giác rùng rợn, khó tiếp nhận và tạo sự bất an trong cảm xúc. Khi cái chết được đưa vào ngôn ngữ một cách trần trụi, lạnh lùng, văn học không còn đóng vai trò nâng đỡ các giá trị nhân văn, mà đứng trước nguy cơ trở thành trò chơi ngôn từ nhằm gây sốc. “Xác em” bị vật thể hóa, chất chồng” gợi liên tưởng đến hàng hóa, còn “bảo tàng” trở thành không gian trưng bày ký ức chết chóc. Trong cấu trúc ngôn ngữ ấy, lịch sử không còn hiện lên như ký ức thiêng liêng, mà bị đặt vào một hệ hình lạnh lẽo và vô cảm.

Không dừng lại ở đó, tập thơ còn gây tranh luận về tính trung thực trong sáng tạo. Nhiều ý kiến chỉ ra sự tương đồng đáng chú ý giữa một số bài thơ của tác giả với các tác phẩm nước ngoài. Chẳng hạn, bài “Khi những ký ức khóc” có cấu trúc và hình ảnh gần như trùng khớp với “When Memories Cry!”, trong khi bài “Quá khứ” cho thấy nhiều chi tiết tương ứng với “The Past”. Những sự trùng hợp này không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay ảnh hưởng văn học, mà đặt ra câu hỏi nghiêm túc về chuẩn mực đạo đức sáng tạo và tính nguyên bản trong văn học.

Việc một tác phẩm được trao giải rồi sau đó bị thu hồi quyết định vì thế không thể xem là sự cố cá nhân. Nó buộc phải đặt lại vấn đề về trách nhiệm của hội đồng xét giải, về tiêu chí thẩm định giá trị văn học, và sâu xa hơn, về hệ giá trị mà văn học đang được định hướng. Khi một tác phẩm có dấu hiệu lệch chuẩn thẩm mỹ và nghi vấn về tính nguyên bản vẫn được tôn vinh, thì câu hỏi không chỉ dành cho tác giả, mà còn dành cho những người trao quyền công nhận.

Văn học không đứng ngoài lịch sử
Từ hai trường hợp trên có thể nhận diện một vấn đề chung: trong một bộ phận sáng tác và tiếp nhận hiện nay, văn học đang có xu hướng tách rời lịch sử và lý tưởng dân tộc. Khi chiến tranh bị kể lại như một bi kịch cá nhân thuần túy, khi hình ảnh người lính bị tách khỏi nền tảng lý tưởng, khi cái chết bị biến thành thủ pháp gây sốc, thì văn học không còn giữ được vai trò gìn giữ và truyền dẫn ký ức dân tộc. Nó dần trở thành không gian của những cảm thức cá nhân, những trò chơi ngôn ngữ và những cách nhìn lịch sử bị phân mảnh.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, văn học chưa bao giờ tồn tại như một hoạt động nghệ thuật thuần túy, tách biệt khỏi đời sống dân tộc. Văn học luôn gắn với vận mệnh đất nước, với các cuộc đấu tranh giành độc lập, với lý tưởng tự do và nhân phẩm con người. Văn học cách mạng đã xây dựng hình tượng người lính như biểu tượng của lý tưởng và chính nghĩa. Đó không phải là sự tô hồng giản đơn, mà là kết tinh của một thời đại lịch sử, nơi con người vượt lên giới hạn cá nhân để gắn số phận riêng với vận mệnh chung của dân tộc.

Bởi vậy, khi văn học rời xa lịch sử, nó đánh mất trục giá trị. Khi lịch sử bị làm mờ, văn học mất đi nền tảng ý nghĩa. Khi lý tưởng bị đẩy xuống hậu cảnh, văn học không còn khả năng định hướng tinh thần cho xã hội. Đó không chỉ là một khủng hoảng về nghệ thuật, mà sâu xa hơn, là một khủng hoảng về tư tưởng – điều mà văn học, với trách nhiệm xã hội vốn có, không thể và không nên làm ngơ.

Trách nhiệm của người viết và người trao giải trước lịch sử và vận mệnh của dân tộc
Văn học không chỉ là một lựa chọn nghệ thuật, mà trước hết là một lựa chọn lịch sử. Mỗi nhà văn, khi cầm bút, đều đứng trước những câu hỏi không thể né tránh: viết cho ai, viết từ đâu và đứng về phía nào trong dòng chảy của dân tộc. Tương tự, mỗi người trao giải, khi tôn vinh một tác phẩm, cũng đồng thời đưa ra một tuyên bố về giá trị. Không có giải thưởng nào trung lập, và cũng không có tác phẩm nào vô can với lịch sử.

Những tranh luận xoay quanh “Nỗi buồn chiến tranh” và “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng” cho thấy một thực tế đáng suy ngẫm: văn học không thể đứng ngoài lịch sử và dân tộc. Khi văn học lãng quên lịch sử, nó không còn là tiếng nói chung của cộng đồng, mà chỉ còn là tiếng vọng của những cảm thức cá nhân rời rạc. Khi văn học tách khỏi lý tưởng, nó không còn khả năng nâng đỡ con người, mà chỉ phản chiếu những đổ vỡ tinh thần không phương hướng.

Vấn đề đặt ra không phải là phủ nhận quyền tự do sáng tạo, mà là đặt lại câu hỏi về trách nhiệm của văn học. Văn học có thể đa dạng trong cách biểu đạt, nhưng không thể vô cảm với lịch sử. Nó có thể phản ánh bi kịch, nhưng không thể làm mờ chính nghĩa. Nó có thể phơi bày mặt tối của con người, nhưng không thể tách con người khỏi lý tưởng dân tộc đã hình thành nên bản sắc và sức mạnh tinh thần của cộng đồng.

Khi văn học rời xa lịch sử và đánh mất tính dân tộc, không chỉ văn học mất phương hướng, mà xã hội cũng đánh mất điểm tựa tinh thần. Và khi đó, câu hỏi không còn dành riêng cho nhà văn hay những người trao giải, mà trở thành câu hỏi của toàn bộ đời sống văn hóa: chúng ta muốn một nền văn học đứng ở đâu trong lịch sử của chính dân tộc mình?
Ảnh 1: Hoàng Ấu Phương và tiểu thuyết “Nỗi Buồn Chiến Tranh”.

Ảnh 2: Tập thơ “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng” của Lâu Văn Mua.


Ảnh 3, 4: Tập thơ “Dưới bóng Ô Lưu” của Nguyễn Quang Thiều bị chính Nhà xuất bản Hội nhà văn từ chối xuất bản.
QV-ST!