Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

COI TRỌNG PHẢN BIỆN ĐỂ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

BÀI 1: CẦN XÂY DỰNG, KHUYẾN KHÍCH HỆ SINH THÁI PHẢN BIỆN!

     Kiểm soát quyền lực là điều kiện tiên quyết để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân. Để tối ưu hóa kiểm soát quyền lực, đòi hỏi sự vận hành tổng hòa các giải pháp trong cơ chế công khai, minh bạch, thượng tôn pháp luật, coi trọng kỷ cương, kỷ luật đảng. Với tinh thần lấy “xây” để “chống”, việc xây dựng, khuyến khích một hệ sinh thái phản biện trong Đảng, hệ thống chính trị và đời sống xã hội chính là giải pháp góp phần kiểm soát quyền lực hiệu quả, bền vững...

Bài học lịch sử và đòi hỏi khách quan

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trong phần đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đã thẳng thắn chỉ rõ: Công tác cán bộ còn một số bất cập, trước hết là khâu đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ cấp chiến lược có mặt còn hạn chế...

Kiểm soát quyền lực là hệ thống các giải pháp, quy trình và cơ chế, trọng tâm là công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát... nhằm theo dõi, đánh giá, ngăn chặn sự tha hóa, độc đoán, lạm quyền, vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật Nhà nước trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị các cấp. Mục đích cao nhất của kiểm soát quyền lực là để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh; để đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp, thực sự là công bộc của dân như lời Bác Hồ dạy.

Nhìn lại hai nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng, chúng ta thấy rõ, với tinh thần kiên trì, quyết liệt, việc kiểm soát quyền lực gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những kết quả mang tính đột phá. Tuy nhiên, việc kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược vẫn còn những hạn chế nhất định. Những đánh giá được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng mang tính khách quan, thể hiện tinh thần cầu thị, thẳng thắn nhìn vào sự thật để xây dựng quyết tâm chính trị chiến lược của Đảng. Công tác quy hoạch cán bộ, đánh giá cán bộ và kiểm soát quyền lực có mối quan hệ biện chứng, thống nhất trong một chỉnh thể. Vì vậy, quá trình kiểm soát quyền lực không thể tách rời khỏi công tác cán bộ, nhất là khâu quy hoạch, quản lý, đánh giá cán bộ. Lựa chọn, quy hoạch cán bộ đúng, quản lý tốt, đánh giá thực chất thì kiểm soát quyền lực sẽ hiệu quả. Ngược lại, bất cứ một khâu nào làm sai, sẽ gây hệ lụy đến cả hệ thống.

Cần thấy rằng, yêu cầu kiểm soát quyền lực và những hạn chế trong lĩnh vực này không phải đến Đại hội XIV Đảng ta mới đặt ra, mà nó là vấn đề mang tính lịch sử, tồn tại xuyên suốt trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp của mọi quốc gia, dân tộc. Đất nước càng phát triển, xã hội càng tiến lên văn minh, hiện đại thì mục tiêu, yêu cầu kiểm soát quyền lực càng đặt ra cao hơn, toàn diện hơn. Trong xã hội hiện đại, quyền lực trong bộ máy cầm quyền có sức hấp dẫn lớn. Nếu không có cơ chế giám sát, kiểm soát đủ mạnh và hiệu quả, lợi ích mà quyền lực mang lại sẽ là tác nhân khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ rơi vào chuyên quyền, độc đoán, tham nhũng, lợi ích nhóm, tha hóa đạo đức, có hại cho đất nước. Mức độ nguy hại sẽ tăng lên gấp bội, gây hệ lụy khôn lường nếu tha hóa quyền lực xảy ra trong đối tượng cán bộ cấp chiến lược. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần sử dụng cách nói hình tượng “Nhốt quyền lực trong chiếc lồng cơ chế” để khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của kiểm soát quyền lực và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Đảng ta đã dũng cảm, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ và đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực một cách đồng bộ, hiệu quả hơn trong nhiệm kỳ mới. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Từ Đại hội XIV, yêu cầu kiểm soát quyền lực đặt ra rất cao và có nhiều điểm mới mang tính đột phá, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao cơ chế giám sát với hệ thống giải pháp mang tính khoa học, thực tiễn. Trong tổng thể các giải pháp, việc xây dựng, khuyến khích một hệ sinh thái phản biện chính là một trong những phương thức kiểm soát quyền lực, ngăn chặn suy thoái, tiêu cực từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. Cùng với những công cụ mang tính pháp lý như thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, xử lý..., phản biện chính là kênh thông tin giúp chúng ta nhận diện sớm những biểu hiện lệch lạc trong tư duy, tư tưởng của cán bộ, đảng viên; giúp các quyết định quan trọng được soi chiếu đa chiều, hạn chế chuyên quyền, độc đoán, chủ quan, duy ý chí...

Nhìn lại 40 năm đổi mới, chúng ta thấy rõ dấu ấn của phản biện gắn liền với những dấu mốc quan trọng của đất nước, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị và triển khai đường lối đổi mới từ Đại hội VI của Đảng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm đầu thập niên 1980, nhiều ý kiến phản biện xuất phát từ thực tiễn cơ sở đã mạnh dạn chỉ ra những bất cập của cơ chế quản lý cũ, đòi hỏi phải có cách nghĩ, cách làm mới mang tính đột phá. TP Hồ Chí Minh với vai trò “đầu tàu”, đã mạnh dạn, dũng cảm thoát ra và vượt lên cung cách quản lý cũ, thể nghiệm thành công những mô hình mới về kinh tế thị trường. Sự đột phá, “vượt rào” ấy bắt nguồn từ tư duy phản biện, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của thành phố lúc bấy giờ. Những cách làm linh hoạt trong quản lý kinh tế, lưu thông chuỗi cung ứng sản xuất, kinh doanh là kết quả của tư duy phản biện xuất phát từ yêu cầu bức thiết, cấp bách của thực tiễn. Chính những bước đi đột phá ấy đã góp phần hình thành đường lối đổi mới được Đại hội VI khởi xướng, mở ra giai đoạn phát triển mới cho đất nước.

Lịch sử đã chứng minh, trong những bước ngoặt trọng đại của dân tộc, trước khi ban hành quyết định chính thức, cha ông ta luôn có những “Hội nghị Diên Hồng” để lắng nghe ý kiến đề xuất, phản biện, hiến kế từ các tầng lớp nhân dân. Chỉ khi quy tụ lòng dân về một mối, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc mới được phát huy cao nhất, giúp sự nghiệp cách mạng thành công. Từ những bài học lịch sử và yêu cầu mới đặt ra, chúng ta thấy, khi phản biện được khuyến khích thực hiện trên tinh thần thượng tôn pháp luật và xuất phát từ lợi ích chung, sẽ giúp Đảng, Nhà nước điều chỉnh, hoàn thiện chủ trương, quyết sách, tránh được những sai lầm mang tính hệ thống. Coi trọng phản biện để kiểm soát quyền lực, vì thế, là một yêu cầu mang tính khách quan, vừa cấp bách, vừa là chiến lược lâu dài...

Phản biện khoa học thúc đẩy phát triển

Trong tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước những năm tới, Nghị quyết Đại hội XIV nêu rõ quan điểm chỉ đạo: Tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trọng tâm là cấp chiến lược và cấp cơ sở, nhất là người đứng đầu. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, nhất là tăng cường giám sát thường xuyên...

Quan điểm chỉ đạo từ Đại hội XIV của Đảng là sự kế thừa, phát huy những thành tựu, bài học kinh nghiệm từ các kỳ đại hội trước, đặc biệt là trong hai nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII. Đồng thời, Đảng ta tiếp tục bổ sung, nhấn mạnh sự liên kết các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực. Đáng chú ý là sự nhấn mạnh việc tăng cường giám sát thường xuyên. Với cơ cấu quyền lực đa tầng từ Trung ương đến các địa phương, việc giám sát thường xuyên cũng đòi hỏi phải được tiến hành theo phương châm đa tầng, đa chủ thể, đa phương thức. Xây dựng và khuyến khích phát triển một hệ sinh thái phản biện lành mạnh, đa tầng, đa chủ thể, trước hết là trong Đảng và hệ thống chính trị, tiếp đến là phản biện nhân dân, chính là cách để duy trì giám sát thường xuyên, liên tục. Đó chính là một hệ sinh thái phản biện khoa học. Từ hành vi phản biện, thái độ phản biện đến văn hóa phản biện phải luôn luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết. Phản biện để đi đến thống nhất nhận thức và hành động. Phản biện để hiến kế, kiến tạo xây dựng. Đó chính là nguyên tắc và văn hóa phản biện trong hệ sinh thái dân chủ, kỷ cương, văn minh, tiến bộ. Ở đâu, lúc nào coi nhẹ hoặc triệt tiêu phản biện khoa học, sự tha hóa quyền lực sẽ như mầm nấm độc, trỗi dậy và gây hại...
(còn nữa)
QV-ST!

COI TRỌNG PHẢN BIỆN ĐỂ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

BÀI 2: “XÂY” và “CHỐNG” TRONG PHẢN BIỆN, KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
(Tiếp theo và hết)

     Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ là: Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa...

Phản biện để hiến kế, kiến tạo, xây dựng

Với quan điểm xuyên suốt lấy “xây” để “chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ sinh thái phản biện trong Đảng, hệ thống chính trị và đời sống xã hội cũng phải nhất quán quan điểm lấy “xây” để “chống”. Khi tham gia phản biện, dù là ai, ở đâu, phản biện nội dung gì, phản biện theo cách nào... cũng phải xuất phát từ động cơ trong sáng, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc, phục vụ quyền lợi của nhân dân.

Trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, phản biện là để góp phần làm cho chủ trương, đường lối, chính sách được ban hành đúng, trúng và sát yêu cầu thực tiễn. Sau thành công tốt đẹp của Đại hội XIV, nhiệm vụ của toàn Đảng lúc này là phải nhanh chóng đưa nghị quyết đi vào cuộc sống bằng những chương trình, kế hoạch hành động tổng thể và cụ thể. Phản biện giúp chúng ta nhìn rõ những bất cập, điểm nghẽn, hạn chế trong triển khai nghị quyết để cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng vào thực tiễn nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp... Trong kiểm soát quyền lực, phản biện giúp chúng ta phát hiện sớm các biểu hiện lạm quyền, độc đoán, lợi ích nhóm, chồng chéo, lãng phí... từ đó điều chỉnh hành vi quyền lực ngay từ khi các biểu hiện suy thoái mới manh nha. Phản biện xây dựng, bên cạnh cái tâm trong sáng, động cơ không vụ lợi, đòi hỏi chủ thể phản biện phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn phù hợp và tinh thần trách nhiệm cao. Người phản biện không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra cái sai, cái dở, cái hạn chế, mà quan trọng hơn là từ những điều đó phải có tiếng nói hiến kế, góp phần kiến tạo giải pháp. Khi phản biện được thực hiện với động cơ trong sáng, vì lợi ích chung sẽ trở thành nguồn lực quan trọng giúp Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực, hiệu quả cầm quyền trong bối cảnh mới.

Chống lợi dụng phản biện và né tránh phản biện

Song song với việc khuyến khích phản biện, cần kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lợi dụng phản biện để phục vụ động cơ cá nhân, đấu đá nội bộ, hạ bệ lẫn nhau hoặc tiếp tay cho các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Những kiểu “phản biện” gieo rắc hoài nghi, gây mất đoàn kết nội bộ cần được nhận diện rõ và xử lý nghiêm minh. Một trong những thách thức trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay chính là những hành vi lợi dụng không gian mạng, lợi dụng môi trường dân chủ và tự do ngôn luận để tuyên truyền chống phá Đảng, chống phá chế độ. Thủ đoạn phổ biến của chúng là núp bóng “phản biện”, “đấu tranh” để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền công kích, nói xấu, bôi đen hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phủ nhận, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Diện mạo của truyền thông “bẩn” trên không gian mạng trước, trong và sau Đại hội XIV của Đảng cho thấy, việc lợi dụng phản biện xã hội để gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây mất đoàn kết nội bộ, đánh vào niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước... do các phần tử cơ hội thực hiện, diễn biến ngày càng tinh vi. Các đối tượng này thường sử dụng chiêu bài so sánh, đối trọng, đối đầu... trong bình luận, đánh giá về công tác cán bộ của Đảng để tạo uy tín giả, tạo niềm tin giả nhằm lèo lái dư luận đi theo cái bẫy dân túy. Cái gọi là “phản biện”, “đấu tranh vì tương lai dân tộc”..., hoàn toàn không phải là phản biện mà thực chất là những con bài đầy toan tính trong thao túng nhận thức, lũng đoạn tâm lý xã hội...

Để có một hệ sinh thái phản biện văn minh, lành mạnh, tiến bộ, chúng ta rất cần những tiếng nói thẳng thắn, khách quan, có hàm lượng khoa học và trải nghiệm thực tiễn từ các giới chuyên gia, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà quản lý, doanh nhân... trong nước và kiều bào ở nước ngoài. Tuy nhiên, đó phải là những con người có thiện chí và những ý kiến phản biện khoa học, mang tinh thần xây dựng. Mọi biểu hiện lợi dụng, núp bóng phản biện vì động cơ cá nhân, phản trắc, phản bội... đều phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ.

Phản biện phản khoa học, phản biện vì động cơ cá nhân, lợi dụng phản biện để cấu kết, móc nối với các thành phần, tổ chức phản động để chống phá Đảng, chống phá chế độ... rất nguy hại, nhưng chúng ta vẫn có phương thức, giải pháp nhận diện, đấu tranh. Còn kiểu né tránh phản biện, thủ tiêu đấu tranh... thì nó vừa nguy hại, lại vừa khó nhận diện, đấu tranh. Thực chất, đây là những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Nó là thuộc tính của những kiểu cán bộ cầu an, “mũ ni che tai”, đạo đức giả, phông bạt làm màu... Đó là kiểu người luôn có xu hướng cuộn mình trong tổ kén, núp bóng chờ thời, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ. Trong công tác cũng như trong cuộc sống, họ mang hội chứng “makeno” (mặc kệ nó), bàng quan với nỗi lo của dân, không quan tâm đến thời cuộc, chỉ nói dựa theo ý lãnh đạo, làm cho vừa lòng cấp trên cốt để êm đường thăng tiến. Đây cũng chính là một dạng của tha hóa quyền lực. Kiểu người này mà càng leo cao, chui sâu vào bộ máy lãnh đạo thì nguy cơ tha hóa quyền lực càng cao. Coi trọng phản biện để kiểm soát quyền lực đòi hỏi ngay từ mỗi tổ chức Đảng phải “đọc vị” cho được, chỉ cho ra những dấu hiệu này để đấu tranh phê bình, tự phê bình, làm căn cứ lựa chọn, giới thiệu, bổ nhiệm, quản lý, đánh giá cán bộ. Tuyệt đối không để kẻ cơ hội có cơ hội thực hiện mưu đồ, động cơ cá nhân.

Đại hội XIV của Đảng đã hoạch định đường lối, chiến lược, sách lược lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá đã được xác định rõ với những dấu mốc rất quan trọng trong nhiệm kỳ và tầm nhìn đến năm 2045. Để Đảng ta hội tụ đủ bản lĩnh, sức mạnh, uy tín, niềm tin lãnh đạo đất nước, việc kiểm soát quyền lực phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi, gắn với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên. Để phản biện thực sự là một thành tố trong cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, cần triển khai đồng bộ các giải pháp. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế bảo vệ người phản biện đúng đắn, vì lợi ích chung. Không để người dám nói, dám phản biện vì lợi ích chung bị cô lập hoặc chịu áp lực không đáng có. Cùng với đó, cần nâng cao chất lượng phản biện, coi trọng phản biện khoa học, có luận cứ, luận chứng rõ ràng, gắn chặt với thực tiễn và thượng tôn pháp luật. Phản biện phải đi liền với hiến kế, đề xuất giải pháp cụ thể, tránh sa vào phê phán chung chung hoặc lợi dụng phản biện để chống phá. Cần phát huy vai trò của báo chí cách mạng, nhất là hệ thống các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện giữ vai trò định hướng dư luận trong việc mở rộng không gian phản biện khoa học, góp phần xây dựng văn hóa phản biện lành mạnh trong Đảng, hệ thống chính trị và đời sống xã hội.

Kiểm soát quyền lực bằng hệ sinh thái phản biện khoa học là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao cùng bản lĩnh và trí tuệ tập thể. Khi phản biện được coi trọng đúng mức, quyền lực sẽ luôn được soi chiếu, điều chỉnh, vận hành đúng mục tiêu vì nhân dân, vì sự phát triển bền vững, hưng thịnh của quốc gia, dân tộc./.
QV-ST!

THẤM NHUẦN GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN MINH CỦA ĐẢNG ĐỂ PHÒNG NGỪA SUY THOÁI

     Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã làm từ nhiều năm nay góp phần ngăn chặn, đẩy lùi được một phần sự suy thoái ở một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên làm giảm uy tín của Đảng. Trong hoàn cảnh mới, để hoàn thành trọng trách trước đất nước, nhân dân để xứng đáng đảng cầm quyền thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì Đảng phải tự vượt lên mình để củng cố và hoàn thiện tấm gương văn hóa soi rọi con đường phát triển cho toàn dân tộc.

1. Câu “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ở Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 với tư cách là Chủ tịch Đảng. Nhắc lại thời điểm ra đời của câu nói này để nhận thức sâu hơn tư tưởng của Hồ Chí Minh về một Đảng cầm quyền đang lãnh trách nhiệm to lớn trước đất nước. Trong hoàn cảnh thời đó, nguy cơ về sự tha hóa quyền lực và những biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, đảng viên chưa lớn (tha hóa đạo đức, quyền lực, tư tưởng chính trị, lối sống...) nhưng trong các bài viết khác nhau của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những năm trước và cả sau thời điểm này, Người đã nhấn mạnh đến vai trò gương mẫu, hành vi nêu gương của đảng viên, đạo đức cách mạng, về mục tiêu tối thượng của Đảng...

Trong những lời cuối cùng trước khi từ biệt thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự lo lắng đầu tiên “nói về Đảng”-một đảng cầm quyền, về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về tinh thần đoàn kết để xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ của nhân dân. Điều đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn ở Đảng không chỉ ở chỗ Đảng đã nắm quyền lãnh đạo mà điều quan trọng hơn là quyền lực đạo đức, quyền lực uy tín, quyền lực của sự tín nhiệm và sự gắn bó với nhân dân mới là quan trọng nhất của một tổ chức chính trị. Đó là nền tảng lâu bền nhất với một đảng cầm quyền. Chưa biết cụ thể khi nào cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn về lâu dài, Đảng cần có kế hoạch “nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” (Di chúc).

Nhắc lại thế để khẳng định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tới đạo đức và văn minh của Đảng không chỉ từ yêu cầu đạo đức của một đảng cầm quyền, mà còn nói tới sự văn minh của cách cầm quyền không đơn giản chỉ là một đảng chính trị mà ở sự gắn bó máu thịt với đất nước, nhân dân, ở mục tiêu duy nhất phấn đấu vì nhân dân, dân tộc. Đây là cốt lõi của vấn đề, là cái gốc tạo nên sự bền vững của quyền lực Đảng. Quyền lực ấy không vì mục đích tự thân mà để phụng sự đất nước.

2. Từ thực tiễn hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự phân biệt rõ ràng giữa đảng cộng sản cầm quyền với các đảng phái chính trị khác ở mấy khía cạnh: Đảng cộng sản tuy nắm quyền lãnh đạo nhưng không phải là một “đảng cai trị” như các đảng phái chính trị khác, không phải là một tổ chức quyền lực dù được luật pháp bảo trợ, càng không phải là một nhóm lợi ích mà là một lực lượng lãnh đạo chịu trách nhiệm về mọi vấn đề của đất nước trước Tổ quốc và nhân dân.

Các đảng phái chính trị khác trong các tuyên ngôn của mình cũng nói tới họ phụng sự nhân dân, đất nước, nhưng cần phân biệt ở cái gốc, ở đây là: Đảng ấy vì ai mà tồn tại, hành động nhằm mục đích gì, đại diện cho ai? Trách nhiệm và đạo đức của Đảng ở chỗ là bộ tham mưu, là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng, là lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của nhân dân, đất nước, là ý Đảng luôn hòa với lòng dân, được nhân dân yêu mến và ủng hộ từ tư tưởng chính trị, đường hướng hoạt động đến những tổ chức và con người cụ thể trong quan hệ với dân.

Một đảng hay tổ chức chính trị có thể giành được chính quyền bằng luật pháp, nhưng sự cầm quyền ấy có được ủng hộ lâu dài hay không lại là chuyện khác. Cách dùng từ “Đảng ta” không chỉ có các thành viên của Đảng mới dùng mà nhân dân nói chung, người ngoài Đảng cũng nói không phải như một thói quen mà nói lên sự gắn bó và tin yêu Đảng, nói về uy tín của Đảng trong xã hội.

3. Trong hoàn cảnh hiện nay, mệnh đề “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” được nhắc lại gắn với yêu cầu đổi mới sâu sắc, toàn diện để đất nước Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là việc nhắc lại một mệnh đề cũ mà phải đặt nó trong một bối cảnh xã hội khác trước, khi Đảng đã có kinh nghiệm lãnh đạo đất nước hơn 80 năm, đã trải qua nhiều kinh nghiệm, thành công về nhiều mặt và cả chưa thành công trên một số mặt, khi hoàn cảnh xã hội đã đặt ra cả những thuận lợi và những thách thức khác trước. Ở đây có vấn đề cần nhìn lại, nhận thức đúng thế và lực đã có, cần tạo ra sinh lực mới cho sự phát triển. Mục tiêu vào năm thứ 100 (tức năm 2045), kinh tế nước nhà là một trong những nền kinh tế hàng đầu, đất nước hiện đại, nhân dân hạnh phúc.

Mục tiêu ấy đặt ra trách nhiệm vô cùng lớn cho Đảng. Với tư cách là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của đất nước gần một thế kỷ qua, không thể không thừa nhận những chiến công huy hoàng, nhưng cũng không thể không nhận thấy một số khuyết tật, yếu kém của hệ thống mà Đảng phải chịu trách nhiệm chính. Sự suy thoái ở cả tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận của Đảng (tổ chức, cá nhân, đại diện...), tình trạng tham nhũng, lối sống xa dân, hưởng thụ, mất ý chí chiến đấu... như virus tàn phá cơ thể Đảng. 

Đảng đã chỉ ra căn nguyên của các bệnh lạm dụng quyền lực, thiếu kiểm soát quyền lực, suy thoái tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức, xa dân, nói không đi đôi với làm, thiếu gương mẫu khi thực thi công vụ và đời sống cá nhân xa hoa thì Đảng sẽ tìm ra những giải pháp mang tính đột phá để xử lý. Đó là con đường duy nhất để lấy lại vị thế, lòng tin với nhân dân. Không phải trở lại với những điều tốt đẹp như trước đây mà còn phải mới hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn vì thời đại mới đòi hỏi những yêu cầu, tiêu chuẩn mới.

Ba vấn đề lớn nhất, dễ gây ra những sai lầm nhất của Đảng cầm quyền nếu làm không tốt là ở đạo đức chính trị, văn hóa chính trị và quan hệ với nhân dân. Dễ nhận thấy nhất ở những tổ chức và cá nhân vi phạm kỷ luật, phạm pháp những năm qua là vấn đề kiểm soát quyền lực không thực sự chặt chẽ, quyết liệt, nghiêm minh. Có cán bộ và tổ chức có quyền lực đã lạm dụng quyền lực để thao túng các quan hệ xã hội vì lợi ích cá nhân và phe nhóm. Văn minh chính trị, văn minh quyền lực chưa được xây dựng thành những cơ chế giám sát hiệu quả, còn nặng về hô hào, khích lệ. Nhiều tổ chức và cá nhân tự cho mình quyền đứng cao hơn luật pháp, đồng nhất tổ chức và cá nhân họ là pháp luật. Họ ban phát đúng sai, nhân danh chân lý trong nhiều vấn đề xã hội và chuyên môn sâu. Nhiều vấn đề không tường minh. Nhiều chính sách bị điều chỉnh không theo nguyên tắc, quy định, pháp luật, không vì lợi ích đất nước, nhân dân. Phần lớn các quyết định của Đảng khi kỷ luật tổ chức, cá nhân thường có nội dung “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ”, “làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của tổ chức và cá nhân” chứng tỏ tổ chức, địa phương ấy đã đứng ngoài, đứng trên pháp luật, không minh bạch trách nhiệm, bao che cho nhau tạo nên một “tổ hợp” quyền lực để dễ bề thao túng. Nhiều cấp ủy cấp tỉnh như Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Bắc Ninh... và Bình Dương, Vĩnh Phúc (trước đây)... thời gian qua là những bằng chứng về sự vi phạm này.

Nhiều người hay nói xử lý tham nhũng không có vùng cấm, nhưng cơ chế để che giấu, kết bè cánh vi phạm, lũng đoạn chính quyền, sự bắt tay giữa cơ quan quyền lực với các doanh nghiệp thời gian qua đã gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế, xâm phạm quyền lợi của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức chính trị, uy tín của Đảng, lòng tin của nhân dân. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiện nay thực chất là một trong những giải pháp căn cơ để khôi phục tính chính danh và tính chất đạo đức, văn minh của Đảng.

4. Một trong những nội dung quan trọng của đạo đức và văn minh của Đảng chính là văn hóa chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh lợi ích của giai cấp, dân tộc là lợi ích của Đảng. Thời kỳ vận mệnh quốc gia như "chỉ mành treo chuông", Người đã nêu vấn đề “Tổ quốc trên hết” như tư tưởng bao trùm, nguyên tắc nền tảng của văn hóa chính trị. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên tất cả nên Đảng đã nhân lên sức mạnh và trở thành tổ chức chính trị được nhân dân tin cậy, yêu mến và ủng hộ. Đảng không đứng trên pháp luật dù cầm quyền, đảng lãnh đạo bằng pháp luật chứ không bằng mệnh lệnh, càng không vì đặc quyền và từ đặc quyền. Tinh thần thượng tôn pháp luật và nêu gương của các thành viên của Đảng đem lại uy tín cho Đảng. Trong suốt sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, có thành công, có thất bại, có đúng, có sai lầm, khuyết điểm, Đảng đã nhận những khuyết điểm của mình và khắc phục những sai lầm, khuyết điểm công khai. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”. Soi vào thực tiễn thì đây là một bài học lớn sâu sắc về văn minh chính trị.

Đảng là một tổ chức chính trị nhưng có các thành viên giữ những cương vị lãnh đạo chủ chốt từ cấp cao nhất xuống cơ sở. Các cá nhân ấy như những biểu tượng của Đảng. Họ thực hiện tốt trách nhiệm của mình thì đạo đức và văn minh của Đảng được đề cao. Trong quan hệ với nhân dân, họ là biểu tượng cho tổ chức. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những lãnh tụ của Đảng rất mẫu mực, dù làm gì, đến thăm ai, đi đâu cũng được nhân dân quý mến, kính trọng. Nhân dân tin yêu lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng vì họ nhìn thấy sự gắn bó máu thịt giữa cán bộ cấp cao với nhân dân, thấy mọi việc người lãnh đạo làm đều vì nhân dân, đất nước.

Lắng nghe dân, biết dân cần gì thì tìm cách đáp ứng bởi với mỗi người, mỗi tổ chức đều thấm nhuần tư tưởng điều gì có lợi cho dân thì gắng sức làm, điều gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Đạo đức và văn minh của Đảng là ở đó, hiện hữu rất cụ thể vì họ thực sự vì nước, vì dân cả trong tình cảm lẫn hành động. Trong giai đoạn mới của đất nước, trách nhiệm của Đảng với việc củng cố, tăng cường tinh thần đạo đức và văn minh càng phải được đề cao bởi những trọng trách và kỳ vọng nhân dân đặt vào Đảng.

Lâu nay, trong nhận thức, từ cơ sở đến Trung ương, thường chỉ tồn tại quan niệm lãnh đạo nhân dân mà không thấy rằng trong lãnh đạo cũng cần học dân. Nhiều ví dụ cụ thể chứng minh rằng trong kinh tế, khoa học, tổ chức đời sống..., người dân có những sáng kiến mang tính đột phá. Thực tế cho thấy, có nhiều doanh nghiệp tư nhân quản lý và tổ chức sản xuất thành công hơn một số doanh nghiệp nhà nước. Nhiều nhà khoa học có những phát minh, sáng chế hơn hẳn một số cơ sở nghiên cứu do Nhà nước lập ra, điều hành. Học nhân dân để vì nhân dân cũng là một biểu hiện đạo đức, văn minh của văn hóa chính trị. Nhân dân kỳ vọng đất nước vươn mình vào kỷ nguyên mới vì có Đảng biết vượt lên chính mình để cống hiến cho đất nước, nhân dân./.
QV-ST!

TỪ NGỘ NHẬN VỀ “THIÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN” ĐẾN VẾT NỨT NIỀM TIN!

     Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và không gian số bùng nổ, việc so sánh mô hình phát triển giữa các quốc gia là nhu cầu tự nhiên. Tuy nhiên, khi những so sánh ấy bị giản lược, phiến diện, thậm chí bị dẫn dắt có chủ ý, chúng không còn là công cụ tham khảo khoa học mà trở thành “cái bẫy tư tưởng”, âm thầm khoét sâu vào nền tảng niềm tin chính trị. Thực tiễn cho thấy, không ít biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay bắt nguồn từ sự ngộ nhận, thần tượng hóa cái gọi là “thiên đường phát triển” ở bên ngoài, trong khi phủ nhận hoặc hoài nghi con đường phát triển mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn.

Từ nhu cầu so sánh đến nguy cơ lệch chuẩn nhận thức

So sánh là một phương pháp phổ biến trong khoa học xã hội và quản lý phát triển. Đảng ta chưa bao giờ phủ nhận việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Ngược lại, nhiều văn kiện quan trọng khẳng định rõ yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi việc so sánh bị tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa, trình độ phát triển, thậm chí bị giản lược thành những đối chiếu cảm tính: Nước này “giàu hơn”, xã hội kia “tự do hơn”, mô hình nọ “văn minh hơn”. Nguy hiểm hơn, một số luận điệu cố tình tuyệt đối hóa ưu điểm, che giấu mâu thuẫn nội tại, khiếm khuyết xã hội của các quốc gia đó, từ đó gieo rắc tâm lý tự ti, hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, từng nhấn mạnh: “So sánh phát triển nếu không đặt trong chỉnh thể lịch sử-văn hóa-thể chế sẽ rất dễ trở thành công cụ dẫn dắt nhận thức lệch lạc, nhất là trong môi trường truyền thông đa chiều hiện nay”.

Thực tế cho thấy, những biểu hiện “tự diễn biến” về tư tưởng không xuất hiện đột ngột, mà thường bắt đầu từ các vết nứt nhỏ trong nhận thức: Nghi ngờ mô hình phát triển, giảm sút niềm tin vào năng lực lãnh đạo, từ đó dần xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định rõ: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời chỉ ra nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) nhấn mạnh yêu cầu chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó cảnh báo rõ thủ đoạn lợi dụng so sánh mô hình phát triển, thể chế chính trị để gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động niềm tin. Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) tiếp tục chỉ rõ: Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị ngày càng tinh vi, thường núp bóng dưới các luận điệu “khách quan”, “so sánh”, “tham khảo mô hình nước ngoài”... Đây là căn cứ lý luận-chính trị quan trọng để nhận diện đúng bản chất của những quan điểm thần tượng hóa cái gọi là "thiên đường phát triển".

“Thiên đường phát triển” - một khái niệm được tô vẽ có chủ ý

Không phải ngẫu nhiên mà các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị thường xuyên khai thác hình ảnh “thiên đường phát triển” ở một số quốc gia phương Tây hay khu vực khác. Đây là thủ pháp quen thuộc: Lấy một vài chỉ số kinh tế, phúc lợi xã hội hoặc quyền tự do cá nhân được phóng đại, tách khỏi những mặt trái như phân hóa giàu-nghèo, khủng hoảng nhập cư, bạo lực xã hội, bất ổn chính trị... để tạo ra một bức tranh lý tưởng hóa. Trong khi đó, những thành tựu phát triển to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam sau 40 năm đổi mới lại bị cố tình làm mờ, thậm chí xuyên tạc. Từ một nước nghèo, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, kinh tế tăng trưởng thuộc nhóm cao của khu vực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội phân tích: “Cái gọi là “thiên đường phát triển” thực chất chỉ tồn tại trong những lát cắt truyền thông có chọn lọc. Không có mô hình nào hoàn hảo, càng không có con đường phát triển chung cho mọi quốc gia. Nguy hiểm là ở chỗ người ta cố tình biến sự khác biệt thành cái cớ để phủ nhận con đường mà một dân tộc đã lựa chọn bằng lịch sử và hy sinh”.

Những luận điệu thần tượng hóa này, nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, sẽ từng bước bào mòn niềm tin, tạo ra tâm lý “so bì”, “đứng núi này trông núi nọ”, từ đó dẫn tới "tự diễn biến" trong tư duy chính trị.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, không ít biểu hiện dao động về nhận thức chính trị bắt nguồn từ việc tiếp nhận thông tin so sánh quốc tế một chiều, thiếu kiểm chứng, đặc biệt trên không gian mạng. Nhiều nội dung truyền thông cố tình lựa chọn các chỉ số bề nổi về thu nhập, phúc lợi, tự do cá nhân, trong khi né tránh hoặc làm mờ các vấn đề nội tại như phân hóa xã hội, bất ổn chính trị, suy giảm niềm tin công chúng tại chính những quốc gia được ca ngợi. Trong công tác xây dựng Đảng đã xuất hiện hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ trẻ bộc lộ tâm lý so bì, ngộ nhận, từ đó giảm sút ý chí phấn đấu, ngại va chạm, né tránh đấu tranh bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng. Đây không phải biểu hiện chống đối trực diện, nhưng là những “vết nứt âm thầm” trong niềm tin, nếu không được nhận diện và uốn nắn kịp thời sẽ tiềm ẩn nguy cơ "tự diễn biến" về tư tưởng. Ở chiều ngược lại, chính thực tiễn Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn, thách thức lớn đã cho thấy tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng ta lựa chọn, củng cố niềm tin xã hội và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống.

Một đặc điểm nguy hiểm của “tự diễn biến” hiện nay là tính âm thầm, mềm hóa, phi đối kháng trực diện. Không ít người vẫn khẳng định mình “không chống Đảng, không chống chế độ”, nhưng lại thường xuyên đặt câu hỏi theo hướng phủ định: Vì sao ta không đi theo con đường khác? Vì sao mô hình này không giống mô hình kia? Vì sao nước ngoài làm được mà ta không làm như họ?...

Những câu hỏi ấy nếu xuất phát từ tinh thần xây dựng, nghiên cứu khoa học thì là điều bình thường. Nhưng khi chúng được lặp đi lặp lại trong một hệ quy chiếu lệch chuẩn, thiếu nền tảng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiếu hiểu biết về thực tiễn Việt Nam thì rất dễ trở thành mầm mống của "tự diễn biến". Thực tiễn công tác xây dựng Đảng cho thấy, ở một số nơi, một số cán bộ, đảng viên dao động về nhận thức, giảm sút ý chí phấn đấu, ngại bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng, thậm chí né tránh đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Đây chính là hệ quả của quá trình bị tác động lâu dài bởi những so sánh lệch chuẩn và hình ảnh “thiên đường phát triển” được tô vẽ.

Đại tá, PGS, TS Cao Văn Trọng, Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định: “Tự diễn biến" nguy hiểm nhất không phải ở lời nói công khai chống đối, mà ở sự thay đổi hệ giá trị bên trong con người. Khi niềm tin bị xói mòn, hành động lệch lạc chỉ còn là vấn đề thời gian”.

Thực tiễn thế giới: Không có mô hình phát triển “vạn năng”

Nhìn ra thế giới một cách khách quan sẽ thấy, nhiều quốc gia từng được coi là “hình mẫu phát triển” cũng đang đối mặt với khủng hoảng sâu sắc: Bất ổn chính trị kéo dài, xung đột xã hội, phân hóa giàu-nghèo gia tăng, niềm tin của người dân vào thể chế suy giảm. Ngay trong lòng các nước phát triển, phong trào phản đối, chia rẽ xã hội, cực đoan hóa chính trị diễn ra ngày càng gay gắt. Trong khi đó, Việt Nam kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy con người làm trung tâm, không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Đó không phải là con đường dễ dàng, nhưng là con đường phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) nhiều lần nhấn mạnh: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tìm tòi, vừa làm vừa tổng kết, không rập khuôn, không giáo điều, nhưng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây chính là lời giải đáp thuyết phục nhất cho những luận điệu đòi “đổi hướng”, “đi theo mô hình khác” một cách giản đơn.

GS, TS Tạ Ngọc Tấn, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: “Không có mô hình phát triển nào mang tính khuôn mẫu cho mọi quốc gia. Việc so sánh nếu thiếu nền tảng lý luận và hệ quy chiếu khoa học rất dễ dẫn tới ngộ nhận, từ đó làm suy giảm niềm tin chính trị và nảy sinh biểu hiện "tự diễn biến" về tư tưởng”.

TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng nhấn mạnh: “Hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với sao chép mô hình. Mỗi con đường phát triển phải xuất phát từ điều kiện lịch sử, văn hóa và thể chế cụ thể của từng quốc gia”.

Nhận diện và hóa giải “ảo ảnh thiên đường phát triển”

Để ngăn chặn nguy cơ "tự diễn biến" từ những ngộ nhận về mô hình phát triển, trước hết cần nâng cao năng lực nhận diện trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. So sánh phải dựa trên cơ sở khoa học, toàn diện, đặt trong bối cảnh cụ thể, tuyệt đối tránh tâm lý sùng bái hay phủ định sạch trơn. Bên cạnh đó, công tác giáo dục lý luận chính trị cần tiếp tục được đổi mới theo hướng gắn lý luận với thực tiễn sinh động của đất nước, giúp người học thấy rõ vì sao con đường Đảng và nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, phù hợp và có tính tất yếu lịch sử. Quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự xây dựng cho mình “sức đề kháng tư tưởng”, không dao động trước những luận điệu hào nhoáng, không để những so sánh phiến diện dẫn dắt nhận thức và hành động.

Niềm tin chính trị không phải là khái niệm trừu tượng, mà được xây dựng từ thực tiễn phát triển đất nước, từ sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, từ hiệu quả quản trị quốc gia. Đấu tranh với quan điểm thần tượng hóa “thiên đường phát triển” cũng chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ.

Trong bối cảnh mới, khi thông tin đa chiều vừa là cơ hội vừa là thách thức, việc giữ vững niềm tin càng đòi hỏi bản lĩnh chính trị, sự tỉnh táo và trách nhiệm xã hội của mỗi người. Nhận diện đúng “ảo ảnh”, bóc tách những so sánh lệch chuẩn chính là cách để vá lại những “vết nứt âm thầm”, củng cố nền tảng tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có “thiên đường phát triển” nào được sao chép nguyên xi, chỉ có con đường phù hợp nhất với mỗi dân tộc. Với Việt Nam, đó là con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã, đang và sẽ kiên định lựa chọn./.
QV-ST!

TRÁCH NHIỆM PHẢI LÀM, SAO LẠI BAN ƠN?

     Một trong những việc khiến nhiều người dân bất bình và các thế lực thù địch, đối tượng bất mãn lợi dụng chống phá là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thiếu tinh thần phục vụ nhân dân; nhất là “biến” những việc thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm mình phải làm thành quyền “ban phát” cho người dân, doanh nghiệp và cấp dưới, buộc đối tượng lẽ ra được phục vụ phải mang ơn, thậm chí phải hối lộ, “bôi trơn”...

Chuyện khiến nhiều người dân va vấp và bức xúc nhất có lẽ là việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) lần đầu, vì hầu như hộ dân nào cũng phải làm sổ đỏ. Trách nhiệm giải quyết việc này thuộc chính quyền địa phương, trực tiếp là cán bộ địa chính phải hướng dẫn người dân làm các thủ tục cần thiết, kiểm tra đủ điều kiện để cấp sổ đỏ thì trình cấp có thẩm quyền ký duyệt; nếu không đủ điều kiện phải thông báo rõ lý do và hướng dẫn người dân cần phải làm gì tiếp theo.

Thế nhưng thực tế nhiều trường hợp phải chạy vạy, nhờ vả, phải thông qua “cò”, tốn nhiều tiền thì mới được cấp sổ đỏ-dù đó là quyền lợi hợp pháp của công dân, cơ quan chức năng phải có trách nhiệm thực hiện. Đặc biệt, có trường hợp người dân không khỏi thắc mắc, bức xúc khi thấy mảnh đất gần nhà mình có nguồn gốc tương tự, thậm chí là đất lấn chiếm, đất nông nghiệp... lại nhanh được cấp sổ đỏ (!)

Còn nhiều việc khác bị không ít cán bộ, công chức, viên chức “biến” từ nghĩa vụ, trách nhiệm phải làm thành sự “ban phát” cho người dân, doanh nghiệp, như: Giải quyết các thủ tục hành chính; cung cấp những thông tin theo quy định (thông tin quy hoạch, các chính sách, hướng dẫn...); các tập thể, cá nhân đề nghị huân chương hoặc hình thức khen thưởng khác; cấp các loại giấy phép; đăng ký kinh doanh, sản phẩm... Ví dụ điển hình là vừa qua, một số cán bộ Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã bị xử lý vì đặt ra “cơ chế ngầm”, mỗi hồ sơ của doanh nghiệp phải nộp vài triệu đồng mới được ký duyệt, nếu không sẽ bị trả lại không rõ lý do. Việc cán bộ, nhân viên các cơ quan chức năng cố tình đặt ra cơ chế “xin-cho”, “gây khó để có... phong bì” đã tạo nên nạn “tham nhũng vặt” khiến nhân dân rất bất bình, các thế lực thù địch có cớ chống phá, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Ngoài ra, trong giải quyết công việc của một số cơ quan, tổ chức cũng có tình trạng cấp trên “hành” cấp dưới, biến những việc thuộc trách nhiệm của mình thành “ban ơn”. Ví dụ như trong việc cấp kinh phí và trang thiết bị thuộc tài sản công, điều động, bổ nhiệm, nâng lương, khen thưởng, mượn nhà công vụ hay thuê, mua nhà ở xã hội... Những việc này theo quy định thì cấp trên phải làm trên cơ sở xem xét khách quan, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho cấp dưới; nhưng không hiếm cán bộ tự cho mình có quyền ưu tiên, thiên vị hoặc gây khó, tạo tình huống xin-cho, thậm chí còn chỉ đạo cấp dưới làm không đúng quy định để “đặc cách” người nhờ vả mình, hình thành lệ xấu chạy chọt, xin xỏ. Hệ lụy là những người ngay thẳng, không quỵ lụy "đi cửa sau" thì thiệt thòi, nảy sinh tư tưởng chán nản, bất mãn, nội bộ mất đoàn kết.

Tư tưởng “ban phát” làm cho nhiều cán bộ mặc nhiên coi những người được mình “ban ơn” phải mang ơn và trả ơn; nếu không thì sẽ bị quy chụp là vô ơn, không biết điều, thậm chí bị rêu rao là “ăn cháo đá bát”. Thói xấu này làm cho cấp dưới bức xúc vì thực tế họ có đủ tiêu chuẩn được nhận những quyền lợi hợp pháp do tập thể thống nhất đề nghị chứ không cần cấp trên “ban ơn”, tạo điều kiện.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Kiên quyết xóa bỏ cơ chế "xin-cho", giảm tối đa thủ tục hành chính... Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh... Đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: Phải tăng cường kiểm soát quyền lực, không để người dân phải xin những gì lẽ ra được hưởng. Mô hình quản trị quốc gia phải dựa trên pháp luật minh bạch, dữ liệu tin cậy, hạ tầng số hiện đại, bộ máy tinh gọn, cán bộ liêm chính, kỷ cương đi đôi với phục vụ. Đó mới là quản trị kiến tạo phát triển, không phải quản trị xin-cho.

Như vậy, Đảng, Nhà nước ta đã xác định rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân; phải quan tâm chăm lo, bảo đảm những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo phẩm chất, năng lực, hiệu quả công việc của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Quan điểm này được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ.

Tuy nhiên, trước thực tế một bộ phận cán bộ, nhân viên các cơ quan công quyền vẫn cố tình phớt lờ bổn phận, trách nhiệm, gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân, Đảng, Nhà nước cần có biện pháp xử lý dứt điểm, kiên quyết không để “con sâu làm rầu nồi canh”, gây ảnh hưởng xấu tới kỷ cương, phép nước và đặc biệt là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trong giai đoạn cách mạng mới, với sự chống phá ngày càng quyết liệt, tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, chúng ta càng phải chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, càng phải tăng cường kỷ luật thực thi công vụ để thể hiện rõ tinh thần vì nhân dân phục vụ. Kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng những vụ việc cán bộ, công chức tiêu cực, “hành dân” để thổi phồng, suy diễn, quy chụp Đảng, Nhà nước ta “nói hay, làm dở”, “nói một đằng, làm một nẻo” hòng thực hiện mưu đồ nham hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động tâm lý bất mãn, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ là đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận mà quan trọng nhất là phải bắt đầu từ những việc cụ thể trong thực thi công vụ hằng ngày. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải nhận thức rõ: Phục vụ nhân dân là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình chứ không phải sự ban phát; không thể biến trách nhiệm, việc phải làm thành đặc quyền cho hay không cho, khiến người dân, doanh nghiệp và cấp dưới phải xin xỏ, nhờ vả và chạy chọt, từ đó nảy sinh tư tưởng bất mãn, bức xúc, mất niềm tin./.
QV-ST!

HỌ BUỘC CHÚNG TA TIẾP TỤC ĐẤU TRANH LOẠI BỎ "RÁC PHẨM" NỖI BUỒN CHIẾN TRANH!

     Vào hồi 09h35, ngày 27/2/2026, Chương trình Văn học Nghệ thuật phát trên VTV1 một lần nữa dành thời lượng đáng kể ngợi ca, tôn vinh "rác phẩm" Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Điều đáng nói là VTV1, Đài THVN là kênh chính luận số 1, không phải là kênh truyền thông "trung tính", ất ơ. Vì thế đừng vin cớ là tác phẩm được xuất bản hợp pháp để làm "điểm tựa" định vị giá trị cho "rác phẩm" đã bị hàng triệu người bóc mẽ, lên án suốt thời gian qua. Nên nhớ, đã có vô vàn hàng giả đủ loại được cấp phép của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, làm hại sức khoẻ thể chất, tinh thần của người tiêu dùng đã bị phát hiện, xử lý theo pháp luật. Và hàng giả không vì thế mà bị triệt tiêu. Vì lợi nhuận, nó vẫn tiếp tục luồn lách, nẩy nở như nấm sau mưa đầu Hạ.
      Chúng ta đều biết, văn học cách mạng Việt Nam, ngay từ đầu đã hình thành, phát triển trên cơ sở "vị nhân sinh", vì cuộc sống con người; phụng vụ sự nghiệp đấu tranh dành độc lập, tự do, thống nhất dân tộc. Đó là tôn chỉ, mục đích đã được định vị, chứ không phải là thứ văn học trừu tượng, nhân văn phi lịch sử. Vì thế không thể lấy quan điểm "hậu hiện đại" lỗi thời, cũng như không thể lấy quan điểm "giải thiêng” của một số trào lưu văn học nghệ thuật phương Tây để soi chiếu đánh giá văn học viết về chiến tranh cách mạng Việt Nam, nhằm bảo vệ "rác phẩm" Nỗi buồn chiến tranh. 
     Cách làm của VTV1 là sự khiên cưỡng, ngụy biện lại gây sóng gió dữ dội trên cộng đồng mạng. Sau nhiều sai sót trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ đạo làm rõ, xử lý những sai sót của VTV1 để lấy lại lòng tin của công chúng. Việc lấy lại lòng tin do sai sót trước chưa được khẳng định, thì VTV1 lại "sai sót" mới bổ sung. Theo nhiều khán giả, thì việc bào chữa "rác phẩm" Nỗi buồn chiến tranh không phải là "sai sót" mà là là sự sắp đặt có kế hoạch để bịt miệng những người đấu tranh bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ sự thật lịch sử, danh dự Quân đội Nhân dân Việt Nam và xương máu của hàng triệu chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất dân tộc./.

QV-ST!

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 03 THÁNG 3 NĂM 1959!

     “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ.

Thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam còn luôn chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ để góp phần quan trọng tới việc hoàn thành nhiệm vụ, tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nắm vững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đạo đức của người cán bộ cách mạng trong giai đoạn mới để quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện thật sự khoa học, công tâm, theo một quy trình dân chủ, trong đó chú trọng việc xây dựng cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành có trình độ chuyên môn giỏi, thật sự kiên định vững vàng, tin cậy về bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ, năng động, sáng tạo, có kiến thức cơ bản trong điều hành tổ chức, giải quyết mọi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

QV-ST!

TỈNH TÁO VỚI CHIÊU trò MƯỢN CÁC DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ ĐỂ CHỐNG PHÁ!

     Trong thời đại công nghệ số với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, tư tưởng của con người rất dễ bị chi phối bởi các dòng thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là khi nó được thế lực thù địch, cơ hội chính trị mượn các diễn ngôn chính trị làm phương tiện để thao túng. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện và phê phán những chiêu trò ẩn giấu sau những diễn ngôn chính trị là rất cần thiết, có ý nghĩa góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những hệ lụy khôn lường từ diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”

Diễn ngôn chính trị là kiểu diễn ngôn đề cập đến các vấn đề quản lý xã hội, khi nó thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề quản lý nhà nước. Diễn ngôn chính trị không chỉ giới hạn trong phát biểu của các chính trị gia mà còn được thể hiện qua các văn kiện pháp lý, chiến dịch truyền thông, các cuộc tranh luận công khai và hiện nay nó tồn tại cả ở các phương tiện truyền thông đại chúng, trên các nền tảng mạng xã hội hiện đại. Do tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại” bởi các chủ thể khác nhau nên diễn ngôn chính trị luôn chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực.

“Đồng phục tư tưởng” là một diễn ngôn chính trị đã xuất hiện từ lâu, nhưng gần đây nhất nó được các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến mang tâm thế chống phá “diễn lại” qua một số bài viết trên mạng xã hội. Ẩn chứa đằng sau cụm từ gợi hình này là những chiêu trò mang vẻ “khoa học giả định” nhưng lại nhằm mục đích phê phán, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi nhắc đến “đồng phục tư tưởng”, nhiều người, nhất là những người thiếu nhãn quan chính trị sắc bén sẽ dễ dàng chấp nhận nó và xem đó là cách “đặt lại vấn đề” về sự đa dạng tư tưởng, dung nạp chính trị và sự tôn trọng lịch sử đa chiều, mà đâu biết rằng nó đã và đang tạo ra những hệ lụy hết sức nguy hại trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, tạo ra sự hoài nghi đối với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi sử dụng diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”, các thế lực thù địch đã cố tình dùng lối nói bóng bẩy nhằm gán ghép sự lãnh đạo tư tưởng của Đảng thành thứ gì đó “áp đặt”, “độc đoán”. Đây là cách họ tiêm nhiễm công chúng, khiến một số người, nhất là giới trẻ và những người chưa có hiểu biết lý luận dần nghi ngờ và không còn tin tưởng vào hệ tư tưởng của Đảng. Một khi sự nghi ngờ len lỏi, họ sẽ nghĩ rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “đã lỗi thời” hoặc “không còn phù hợp” và dần mất niềm tin. Khi gán nhãn “đồng phục tư tưởng” lên Chủ nghĩa Mác-Lênin và tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch còn hướng tới phủ định công lao và nỗ lực phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không tỉnh táo trước diễn ngôn này, người dân sẽ ngộ nhận rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam không có sự đổi mới trong tư duy, tư tưởng mà chỉ có sự rập khuôn máy móc, chỉ có “một màu duy nhất”, và khi đó, niềm tin vào nỗ lực đổi mới của Đảng bị suy giảm, không chỉ trong nhân dân, mà thậm chí còn cả trong chính nội bộ Đảng.

Thứ hai, chia rẽ và kích hoạt xung đột nhận thức. Khi bị tiêm nhiễm vào cái gọi là “đồng phục tư tưởng”, nhiều người sẽ cho rằng sự thống nhất trong công tác tư tưởng là “sự ép buộc” và không thấy được sự cần thiết của tính thống nhất trong đường lối cách mạng. Diễn ngôn này đã và đang tạo ra sự xung đột, phân hóa giữa các thế hệ và các vùng miền. Chẳng hạn, một bộ phận những người từng gắn bó với chế độ cũ (hoặc thế hệ kế cận họ), khi nghe đến cụm từ “đồng phục tư tưởng”, họ dễ liên tưởng đến hình ảnh bị “áp đặt”.

Trong khi đó, một số người hoặc các thế hệ trẻ lớn lên trong thời bình, ít va chạm trực tiếp với quá khứ lại không chia sẻ cảm xúc hoặc ít đồng cảm. Hệ quả là, thay vì tìm thấy mẫu số chung để hòa giải ký ức và tăng cường gắn kết, các bên lại sa vào những tranh luận không đáng có, nhất là khi lại dựa trên cảm xúc lịch sử nhiều hơn lý trí và sự thấu hiểu toàn diện. Điều này vô tình “đóng băng” những mâu thuẫn lịch sử vốn có thể được hóa giải qua đối thoại và xây dựng niềm tin. Diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” đã lợi dụng chính những vết rạn lịch sử và cảm xúc chia rẽ, biến nó thành chất xúc tác cho xung đột ý thức hệ, từ đó kích động và khơi dậy những nghi ngờ đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ ba, tạo ra nguy cơ “phân mảnh” hệ giá trị trong một xã hội đang cần sự đồng thuận cao. Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, khi những biến động địa-chính trị, xung đột lợi ích, khủng hoảng giá trị và âm mưu “diễn biến hòa bình” len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống, thì sự nhất quán trong hệ giá trị cốt lõi càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Với Việt Nam, hệ giá trị đó chính là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Đây không phải là khuôn mẫu khép kín, mà là nền tảng linh hoạt, dẫn dắt tiến trình đổi mới tư duy và hành động một cách kiên định... Vậy nên, diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” chính là thủ đoạn nhằm gieo rắc sự hoài nghi đối với tính chính danh và khả năng quy tụ niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, làm lệch hướng phản biện, dễ dẫn tới phản kháng cực đoan hoặc thờ ơ chính trị. Khi “đánh đồng” tư tưởng và công tác tư tưởng là một dạng “đồng phục”, các thế lực thù địch đã sử dụng thủ pháp đánh tráo khái niệm nhằm tầm thường hóa tư tưởng (vốn là nền tảng nhận thức, lập trường và phương hướng hành động) như một dạng hình thức bề ngoài có thể thay đổi tùy hứng. Bởi trong lẽ thông thường, “đồng phục” thường gợi liên tưởng về sự đồng đều, thống nhất, nhưng đồng thời cũng ngầm ám chỉ sự đồng hóa, mất cá tính. Đây là cách họ dẫn dắt đến luận điểm: Nếu tư tưởng chỉ là “đồng phục” thì nên được “đổi mẫu”, “thay mới” theo mùa, theo thời gian, vì thế, nó cũng khiến người dân rơi vào tình trạng thờ ơ chính trị và cho rằng “tư tưởng nào cũng được, không cần quan tâm”.

Thực tiễn ở Việt Nam không có cái gọi là “đồng phục tư tưởng”

Về bản chất, diễn ngôn chính trị thường mang tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại”. Tuy nhiên, cái nguy hại không thể hiện ở diễn ngôn, mà nằm ở cách diễn ngôn đó được dùng để đánh tráo khái niệm. Vậy nên, chúng ta cần lý trí tỉnh táo để nhận diện, cần bản lĩnh để phản biện và cần tri thức để lý giải thấu đáo, khoa học.

Trước hết, cần nói rằng, tư tưởng không phải “đồng phục”, mà là cốt lõi của bản lĩnh dân tộc. Tư tưởng là những suy nghĩ, quan điểm, niềm tin mang tính cá nhân. Nhưng khi vượt ra khỏi giới hạn cá nhân để hòa quyện với những đòi hỏi sâu xa của thời đại, với nhu cầu vận động của xã hội và lịch sử thì nó không còn là tư tưởng đơn lẻ mà trở thành hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng không phải là sản phẩm tức thời hay ngẫu nhiên. Nó được hình thành qua quá trình kết tinh lịch sử: Từ điều kiện vật chất-xã hội cụ thể, từ lợi ích và yêu cầu chính đáng của các giai cấp, từ chiều sâu văn hóa-lịch sử và đặc biệt từ vai trò sáng tạo, tổng kết, lý giải thực tiễn của con người. Vì thế, hệ tư tưởng không thể bị giản lược, không thể xếp vào thứ “trang phục” tinh thần theo kiểu “khoác lên” rồi “cởi bỏ”. Ví von tư tưởng là “đồng phục” để rồi hô hào “cởi bỏ” là một chiêu trò nhằm tầm thường hóa những gì thuộc về chiều sâu lý luận chính trị khoa học và bản lĩnh dân tộc. 

Với Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn. Đây không phải là “bộ cánh của quá khứ” mà là kim chỉ nam, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và tiếp tục soi đường trong kỷ nguyên mới.

Trong dòng chảy lịch sử, thế giới từng chứng kiến nhiều mô hình chính trị khắc nghiệt, nơi tư tưởng bị đồng hóa, sáng tạo bị trấn áp và phản biện trở thành điều cấm kỵ. Nhưng tại Việt Nam, thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã cho thấy một hướng đi khác: Không gian tư tưởng không bị bóp nghẹt mà được nuôi dưỡng trong tinh thần đổi mới, khoa học và nhân văn. Đảng không chỉ kiên định với nền tảng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn chủ động cập nhật yêu cầu thời đại, mở rộng cánh cửa cho phản biện xây dựng và sáng tạo đổi mới. Phản biện không bị xem là đối lập mà được xem là nghĩa cử có trách nhiệm với sự nghiệp phát triển đất nước. Sáng tạo không bị gò bó, mà được khơi nguồn từ chính thực tiễn đời sống sôi động, từ tiếng nói của nhân dân, của trí thức, nhà khoa học, cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn 40 năm đổi mới của Việt Nam đã chứng minh rõ ràng: Đất nước không ngừng hoàn thiện, tự điều chỉnh và phát triển dựa trên một nền tảng tư tưởng vững chắc, linh hoạt, sáng tạo. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nền tảng trụ cột, định hướng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. 

Những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua không chỉ là sự tăng lên của các chỉ số, chỉ tiêu mà còn là chứng cứ sống động cho thấy tư duy lãnh đạo của Đảng không rập khuôn, không giáo điều và luôn vận động, sáng tạo để thích nghi và dẫn dắt Nhà nước và xã hội. Từ một quốc gia nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ, sau 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong những nền kinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) duy trì ở mức ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; đời sống người dân không ngừng cải thiện, chỉ số phát triển con người (HDI) tăng liên tục. Những kết quả này là nhờ Đảng ta kịp thời nắm bắt những chuyển biến của tình hình và xử lý thích ứng, linh hoạt với sự biến động bất thường, tận dụng các cơ hội, vượt qua thách thức, lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển đất nước, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Những thành tựu mà chúng ta đạt được là những minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định, ở Việt Nam hoàn toàn không tồn tại cái gọi là “đồng phục tư tưởng” mà các thế lực thù địch rêu rao, bịa đặt./.
QV-ST!

TỈNH TÁO TRƯỚC ÂM MƯU LỢI DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỂ XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ CỦA QUÂN NHÂN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Các ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI) xuất hiện đã mang lại nhiều lợi ích trong cuộc sống, nhưng cũng gây ra không ít tác hại đáng quan ngại khi con người sử dụng với ý đồ xấu để gieo rắc những tiêu cực trong xã hội. Thời gian qua, một số đối tượng xấu sử dụng công nghệ AI để xuyên tạc mối quan hệ quân nhân và tán phát trên không gian mạng. Do vậy, nhận diện và đấu tranh với những hành vi này là việc làm cần thiết để giữ gìn phẩm giá và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình hiện nay.

Bóc mẽ thủ thuật lợi dụng AI để tung tin, hình ảnh giả mạo

AI ra đời mang lại những lợi ích thiết thực cho con người trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong giáo dục, nghệ thuật, giải trí, y tế, nghiên cứu khoa học, giao thông vận tải... Các ứng dụng của AI đã dần thay thế một số hoạt động, kỹ năng của con người và tiệm cận đến đời sống thực tế khiến chúng ta đôi khi khó có thể phân biệt được đâu là sản phẩm của công nghệ AI và đâu là đời sống thực. Nhiều sản phẩm của ứng dụng AI tạo ra hình ảnh, âm thanh, video, bản tin một cách tinh xảo, sát thực tế đến kinh ngạc. Hiện nay, các ứng dụng AI này được quảng cáo hướng dẫn sử dụng một cách công khai trên các trang mạng xã hội, nhất là các website, Facebook, Zalo, TikTok... Do dễ dàng tiếp cận và sử dụng các ứng dụng công nghệ của AI nên người dùng có thể tự tạo ra cho mình những hình ảnh, video theo ý muốn từ những hình ảnh, video đã chụp, quay từ trước hoặc tạo ra những hình ảnh, video hoàn toàn mới nếu người dùng cung cấp mô tả một cách chi tiết hình ảnh, video hoặc bản tin mà mình muốn tạo ra.

Thời gian qua, một số đối tượng đã lợi dụng hình ảnh quân nhân nhằm mục đích câu view, câu like hoặc xuyên tạc, vu khống, nhất là khi có vụ việc đang trong quá trình điều tra, xử lý. Họ sử dụng các ứng dụng AI để chỉnh sửa, cắt ghép hình ảnh quân nhân với khuôn mặt bầm tím, bị thương,... sau đó tung lên mạng xã hội. Những hình ảnh này thường đi kèm với thông tin sai lệch, vu khống quân nhân bị đồng đội hoặc cấp trên hành hung. Với các kỹ thuật xử lý đơn giản, không khó để các đối tượng sử dụng công nghệ AI tạo nên các video clip cảnh đánh nhau “như thật” giữa hai quân nhân sau đó tung lên không gian mạng khiến người xem không thể phân biệt được thật-giả. Hoặc thủ thuật tạo dựng hình ảnh, video giả mạo (deepfake) để tạo ra video có hình ảnh và giọng nói của quân nhân với các phát ngôn tiêu cực hoặc thực hiện những hành vi không tốt tạo nên sự quan tâm của dư luận xã hội.

Ngoài ra, các đối tượng có thể sử dụng Chatbot AI để tạo ra các cuộc hội thoại giữa quân nhân với nhau hoặc với người thân nhằm truyền bá tư tưởng lệch lạc, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và kỷ luật Quân đội. Bên cạnh đó, đối tượng xấu có thể sử dụng AI để viết bài, tạo tin tức giả nhằm bôi nhọ nhân phẩm, đạo đức của quân nhân hoặc thổi phồng, bóp méo sự việc liên quan đến mâu thuẫn giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới nhằm chia rẽ đoàn kết nội bộ đơn vị. Nguy hại hơn, lợi dụng việc quân nhân tử vong do bệnh tật gần đây, một số đối tượng đã sử dụng công nghệ AI để tạo ra hình ảnh, video clip, đoạn ghi âm giả mạo, các bản tin... làm “bằng chứng” và vu khống rằng quân nhân bị cấp trên, bị đồng đội hành hung nhằm thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, kích động người dân gây rối.

Những hệ lụy khôn lường

Việc các đối tượng xấu lợi dụng công nghệ AI để xuyên tạc, bôi nhọ mối quan hệ giữa quân nhân với nhau hoặc giữa quân nhân với người dân gây ra những hệ lụy hết sức phức tạp.

Thứ nhất, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý đối với quân nhân đang tại ngũ. Khi thông tin xuyên tạc được lan truyền, có thể khiến các quân nhân hiểu lầm, nghi kỵ lẫn nhau, gây nên tâm lý e dè giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới và giữa hạ sĩ quan, chiến sĩ đối với cán bộ chỉ huy đơn vị. Ngoài ra, thông tin xuyên tạc còn gây tâm lý hoang mang, lo sợ đối với thanh niên đến tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự dẫn đến một số trường hợp trốn tránh nghĩa vụ quân sự. 

Thứ hai, làm tổn hại danh dự, uy tín cá nhân và tập thể. Những thông tin, hình ảnh, video... mà những kẻ xấu sử dụng công nghệ AI tạo ra có thể nhằm vào cá nhân, tập thể cụ thể, thêu dệt những hành vi vi phạm kỷ luật, đạo đức, lối sống... Từ đó, làm tổn thương sâu sắc đến danh dự, uy tín, gây áp lực tâm lý cho quân nhân và gia đình họ.

Thứ ba, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Các thông tin giả mạo, xuyên tạc có thể khiến người dân hiểu sai về Quân đội, về quan hệ đồng chí, đồng đội trong quân ngũ, cho rằng nội bộ đơn vị có mâu thuẫn, mất đoàn kết, “thanh trừng” lẫn nhau, cán bộ suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống, từ đó gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Thứ tư, tạo dư luận xấu trong xã hội về chính sách nghĩa vụ quân sự. Những vụ việc giả mạo, xuyên tạc trên không gian mạng có thể bị “thổi phồng” nhằm kích động, tạo làn sóng dư luận tiêu cực, gây tâm lý hoài nghi của người dân đối với chính sách nghĩa vụ quân sự, nhất là các gia đình có con em trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự. Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyển quân của các địa phương.

Chủ động kiểm soát, phòng ngừa, đấu tranh

Lợi dụng các ứng dụng của AI để thực hiện các hành vi bôi nhọ, xuyên tạc đời sống quân nhân trong quân ngũ là một trong những thủ đoạn nham hiểm, tinh vi của âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm tiến công trực tiếp làm suy yếu sức mạnh đoàn kết nội bộ của Quân đội và đoàn kết quân dân trong giai đoạn hiện nay.

Để phòng, chống, đấu tranh với âm mưu đó, trước hết cần thường xuyên giáo dục tinh thần giữ gìn đoàn kết, yêu thương, gắn bó với nhau, nhất là giữa chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, giữa cán bộ với chiến sĩ. Bên cạnh đó, tăng cường giáo dục quân nhân về ý thức chấp hành kỷ luật Quân đội và trách nhiệm của từng quân nhân trong việc giữ gìn hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ ở mọi lúc, mọi nơi.

Coi trọng giáo dục pháp luật, kỷ luật Quân đội, các quy định của đơn vị khi tham gia các hoạt động trên không gian mạng, nhất là việc đưa hình ảnh và hoạt động của cá nhân và đơn vị lên không gian mạng, tránh để kẻ xấu lợi dụng. Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm của quân nhân khi sử dụng internet, mạng xã hội, không chia sẻ và bình luận đối với các thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội. Nâng cao “sức đề kháng”, hình thành khả năng “miễn nhiễm” của mỗi quân nhân trước các tin giả, thông tin xấu, độc và các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Trong bối cảnh mạng xã hội bùng nổ hiện nay, cần quan tâm bồi dưỡng cho quân nhân kỹ năng nhận diện chính xác những thủ đoạn lợi dụng công nghệ AI tạo ra những thông tin xuyên tạc, gây mất đoàn kết nội bộ của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu. Chủ động hướng dẫn cho quân nhân về kỹ năng phân biệt thông tin thật-giả thông qua phân tích nội dung, hình thức của bản tin; những kỹ xảo trong các hình ảnh, video, bản tin do công nghệ AI tạo ra. Hướng dẫn quân nhân cách nhận diện các website chính thức, chính thống với các website giả mạo; cách phân biệt tên miền ở trong nước với tên miền ở nước ngoài. Bồi dưỡng cho quân nhân về kỹ năng chọn lọc thông tin lành mạnh, tránh bị tin giả thao túng tâm lý, nhận thức.

Thực hiện phương châm “lấy đẹp để dẹp xấu”, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, thường xuyên lan tỏa hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ, về mối quan hệ đồng đội keo sơn gắn bó, tình cảm đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi... trên không gian mạng để không ngừng củng cố lòng tin của quân nhân tại ngũ và tình cảm của nhân dân đối với Quân đội.

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ thuật lợi dụng công nghệ AI để bôi nhọ, xuyên tạc mối quan hệ quân nhân, xuyên tạc đời sống quân ngũ trên không gian mạng là việc làm thiết thực, giải pháp quan trọng nhằm góp phần giữ vững những giá trị tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và môi trường văn hóa lành mạnh trong quân ngũ. Qua đó góp phần bảo vệ sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, bảo vệ sức mạnh và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam./.
QV-ST!

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BƯỚC ĐỔI MỚI QUAN TRỌNG VỀ TƯ DUY!

     Một trong những mục tiêu quan trọng được nêu trong Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản.

Đến năm 2045, có khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Toàn bộ doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD… Tiếp tục tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, đủ năng lực giữ vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh, các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá và hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường; gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội. Tách bạch sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với hoạt động sản xuất - kinh doanh.

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 79 là bước đổi mới quan trọng về tư duy. Cụ thể, khi nhiệm vụ chính trị, công ích và hoạt động kinh doanh được tách bạch rõ ràng, được hạch toán minh bạch theo nguyên tắc thị trường, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ được đánh giá chính xác hơn. Đó là khi Nhà nước giao cho doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ chính trị thì phải bảo đảm nguồn lực tương ứng, không thể vừa giao nhiệm vụ vừa yêu cầu doanh nghiệp tự bù lỗ. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp phải tuân theo quy luật thị trường, đo lường hiệu quả hoạt động thông qua năng suất, hiệu quả và khả năng sinh lời trên vốn.

Ở góc nhìn khác, một chuyên gia cho rằng, trước đây doanh nghiệp nhà nước phải mang trên mình “chiếc áo” hành chính quá chật so với “cơ thể” kinh doanh, dẫn đến bị mắc kẹt giữa vai trò vừa là thực thể của thị trường vừa đơn vị chấp hành mệnh lệnh hành chính. Tuy nhiên, với tinh thần của Nghị quyết 79, những điểm nghẽn này sẽ được tháo gỡ, mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp nhà nước phát triển đúng với chức năng.

Kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo, là đi trước mở đường trong các lĩnh vực chiến lược, dài hạn, những lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi khu vực tư nhân chưa đủ nguồn lực hoặc chưa sẵn sàng đầu tư nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa, kích hoạt chuỗi cung ứng, thúc đẩy hợp tác công - tư và mở rộng không gian phát triển cho toàn bộ nền kinh tế. Bên cạnh đó, kinh tế nhà nước còn bảo đảm các cân đối lớn, ổn định, điều tiết vĩ mô, thực hiện những nhiệm vụ chiến lược trung và dài hạn,

Điều này đã được chứng minh qua thực tiễn. Bởi vậy, như phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị diễn ra mới đây thì kinh tế nhà nước phải chiếm lĩnh được “những cao điểm chiến lược chỉ huy” của nền kinh tế.

Và để thực sự chiếm lĩnh “những cao điểm chiến lược” của nền kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước phải được cơ cấu lại mạnh mẽ, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn trọng yếu, có tính chiến lược và sức lan tỏa cao. Vai trò chủ đạo phải được chứng minh bằng năng lực dẫn dắt, bằng hiệu quả, bằng đóng góp thực chất cho ổn định vĩ mô, cho an ninh kinh tế và cho phát triển trung và dài hạn.

Lĩnh vực nào nhà nước cần nắm giữ thì phải nắm cho chắc, làm cho tinh, cho mạnh. Lĩnh vực nào nhà nước chỉ nên giữ vai trò dẫn dắt, tạo nền tảng, mở đường thì phải thiết kế cơ chế để khu vực tư nhân cùng tham gia, cùng cạnh tranh và cùng phát triển. Lĩnh vực nào nhà nước không cần thiết làm hoặc làm không hiệu quả thì phải kiên quyết sắp xếp lại theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, chống “lợi ích nhóm”, chống “sân sau”, chống “thao túng”, chống “trục lợi” chính sách - Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh./.
QV-ST!

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT CHỐNG PHÁ CỦA TRỊNH HỮU LONG THÔNG QUA CÁI GỌI LÀ “LUẬT KHOA TẠP CHÍ”!

     Trịnh Hữu Long sinh năm 1986, quê Thanh Hóa, từng học trường THPT chuyên Lam Sơn, tốt nghiệp Trường Đại học Luật Hà Nội nhưng lại sớm sa ngã, bộc lộ bản chất chống phá. Từ những năm 2014-2015, Long đã lập và điều hành trang facebook và kênh Youtube tự xưng là “Luật khoa tạp chí” với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước ta; y tự nhận mình là tổng biên tập “tạp chí”. Quá trình hoạt động chống phá, Trịnh Hữu Long còn cùng với hai đối tượng là Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn tham gia VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment), hay còn gọi là “Sáng kiến vì lương tâm người Việt hải ngoại”, một tổ chức ngoại vi của Việt Tân với mục đích hoạt động “thúc đẩy xã hội dân sự Việt Nam phát triển, vận động các chính sách và nhân quyền, và giúp tái định cư những người Việt tị nạn”. Tuy nhiên, bản chất chính của tổ chức này là chống phá chính quyền, truyền bá tư tưởng về xã hội dân sự, kích động người dân chống đối chính quyền, có mối liên hệ với hàng loạt các tổ chức phản động khác như: “Triều Đại Việt”; “Chính phủ quốc gia lâm thời”; VOICE ; “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”; “Hội anh em dân chủ”; Khối 8406; “Mạng lưới blogger Việt Nam”; Quỹ Người Thượng; Ủy ban cứu người vượt biên… Đến năm 2021, Phạm Đoan Trang bị bắt, Tòa án Nhân dân Tp Hà Nội tuyên phạt 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Nguyễn Anh Tuấn biệt tích; duy chỉ có Trịnh Hữu Long tiếp tục ở Đài Loan duy trì hoạt động chống phá thông qua cái gọi là “Luật khoa tạp chí”.

Nội dung phổ biển trên trang facebook và kênh Youtube “Luật khoa tạp chí” được Trịnh Hữu Long sử dụng thường xuyên đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc về các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta; bóp méo tình hình về dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam; bàn luận những vấn đề lịch sử Việt Nam dưới góc nhìn phiến diện, hoài nghi, chủ nghĩa xét lại sự thật của lịch sử. Đương nhiên trang mạng của Long thu hút nhiều nhân vật bất mãn và được sự hậu thuẫn tài chính của tổ chức Việt Tân để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Trang mạng này xưng là một tạp chí độc lập và phi lợi nhuận, không đặt quảng cáo, nhưng lại từng kêu gọi bạn đọc tài trợ từ “20 nghìn đồng trở lên”.

Với thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước của Trịnh Hữu Long thông qua “Luật khoa tạp chí” nhiều người dùng mạng xã hội facebook, youtube đã và đang bị lôi kéo, dẫn dắt, kích động, sinh ra tâm lý hoang mang, hoài nghi chính trị. Đây chính là mục đích cốt yếu của các tổ chức phản động, chống đối sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, phá hoại tư tưởng. Do vậy đối với mỗi người dùng internet và MXH cũng như người dân nói chung, phải biết "gạn đục khơi trong" khi tiếp cận thông tin trên internet và MXH; không vì thiếu hiểu biết hay vì sự bức xúc mà đơn giản tiếp tay cho những kẻ xấu lợi dụng để kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước./.

QV-ST!

“CÔNG ĐOÀN ĐỘC LẬP” - “MŨI TIẾN CÔNG SỐ MỘT”!

     Những năm gần đây, cụm từ “Công đoàn độc lập” được nhắc rất nhiều trên truyền thông đại chúng. Đặc biệt, từ cuối tháng 4, đầu tháng 5.2024, khi biết kế hoạch tổ chức Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và Hội nghị thượng đỉnh Geneva về nhân quyền và dân chủ tổ chức, hàng loạt câu hỏi đặt ra là: tại sao lại có hiện tượng này; tổ chức nào và ai là những kẻ đứng sau; thực hiện nhằm mục đích gì trong khi tại Việt Nam có đầy đủ hệ thống công đoàn được pháp luật quy định?

Tăng sức đề kháng cho công nhân lao động trước mặt trái của không gian mạng

Những năm gần đây, cụm từ “Công đoàn độc lập” được nhắc rất nhiều trên truyền thông đại chúng. Đặc biệt, từ cuối tháng 4, đầu tháng 5.2024, khi biết kế hoạch tổ chức Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc và Hội nghị thượng đỉnh Geneva về nhân quyền và dân chủ tổ chức, hàng loạt câu hỏi đặt ra là: tại sao lại có hiện tượng này; tổ chức nào và ai là những kẻ đứng sau; thực hiện nhằm mục đích gì trong khi tại Việt Nam có đầy đủ hệ thống công đoàn được pháp luật quy định?

Loạt bài “Tăng sức đề kháng cho công nhân lao động trước mặt trái của mạng xã hội” mong muốn lý giải những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này; đồng thời, đưa ra các khuyến cáo, kiến nghị, đề xuất xây dựng Công đoàn Việt Nam trong thời hội nhập.

Để đạt mưu đồ lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, con bài dân chủ, nhân quyền được các thế lực thù địch coi là “mũi tiến công chủ lực”. Một trong những giải pháp khá mới được áp dụng mấy năm nay để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là dùng “phong trào công nhân” để chia rẽ Đảng với công nhân, với người lao động, tiến tới phá vỡ hệ thống tổ chức từ bên trong và dẫn đến tự diệt vong. Từ đây, con bài “Công đoàn độc lập” được lựa chọn và dần phát triển trở thành “mũi tiến công số một”.

“Cầu nối” giữa Đảng với quần chúng

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Một trong những nội dung Đảng Cộng sản Việt Nam trung thành với lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin là lãnh đạo giai cấp công nhân. Theo đó, Đảng Cộng sản trung thành với quan điểm của Lênin, sự ra đời của tổ chức công đoàn là một tất yếu khách quan, đặc biệt tổ chức này còn tồn tại lâu dài, kể cả khi giai cấp vô sản đã giành được chính quyền và lãnh đạo chính quyền…

Đảng Cộng sản là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân - nhân tố chủ quan cơ bản nhất để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định đầu tiên bảo đảm cho giai cấp công nhân hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. Lê-nin đã khẳng định “Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội của Nhà nước đang thực hiện bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội”[1].

Một khi XHCN được xây dựng, việc củng cố chính quyền hướng đến nền chuyên chính vô sản thì không thể thiếu cán bộ công nhân trong bộ máy nhà nước, Lê-nin nêu rõ “chuyên chính vô sản đòi hỏi sự bổ nhiệm những công nhân vào những chức vụ Nhà nước quan trọng nhất; nếu làm khác đi quyền lực của chính phủ công nhân sẽ mất sức mạnh, nó sẽ không còn được quần chúng ủng hộ”[2].

Thực tế cho thấy, từ khi Đảng ra đời, tổ chức công đoàn càng đặc biệt quan trọng hơn, đó chính là “cầu nối” giữa Đảng với quần chúng, là kênh quan trọng để tập hợp, giáo dục quần chúng, kể cả đối với sự phát triển của Đảng. Đó chính là mối quan hệ qua lại khăng khít giữa Đảng với công đoàn, Đảng phải nắm lấy tổ chức quan trọng này vì đó chính là một tổ chức của giai cấp công nhân và chính là con đường duy nhất để giai cấp vô sản phát triển, thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình. Công đoàn là một tổ chức của công nhân, vì vậy Đảng không thể không lãnh đạo đối với công đoàn và Đảng phải lãnh đạo công đoàn là một tất yếu...

“Mũi tiến công số một”

Để đạt mưu đồ lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch có nhiều phương cách, trong đó con bài dân chủ, nhân quyền và được chúng coi là “mũi tiến công chủ lực”. Qua thời gian, một trong những giải pháp khá mới được áp dụng từ mấy năm nay để chống phá cách mạng Việt Nam, đó là dùng “phong trào công nhân” để chia rẽ Đảng với công nhân, với người lao động, tiến tới phá vỡ hệ thống tổ chức từ bên trong và dẫn đến tự diệt vong. Từ đây, con bài “Công đoàn độc lập” được lựa chọn và dần phát triển trở thành “mũi tiến công số một”.

Ở Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Quang A được biết là tiên phong cho hoạt động này. Nguyễn Quang A là thành viên tích cực của diễn đàn “xã hội dân sự” - một diễn đàn được hình thành dưới sự chỉ đạo giật dây của phương Tây, với mục tiêu cốt lõi là nhằm chống Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ XHCN. Theo tài liệu được cơ quan chức năng công bố, chính Nguyễn Quang A là kẻ đứng sau, chủ mưu chỉ đạo rất nhiều hoạt động của nhóm phản động No-U. Năm 2015, Nguyễn Quang A cùng nhóm “Diễn đàn XHDS 21” sang Suttgart, Đức trình bày kế hoạch về lật đổ chế độ ở Việt Nam.

Nguyễn Quang A tham gia nhiều cuộc hội thảo mang tính phản động và đưa ra nhiều luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc bóp méo tình hình về thực trạng đất nước Việt Nam. Trong đó, Nguyễn Quang A lấy vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm chiêu bài hạ uy tín của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Năm 2019, trong khi Việt Nam hoàn tất thủ tục ký kết EVFTA với Liên Minh Châu Âu thì Nguyễn Quang A cùng với một số thành phần phản động chống phá chế độ như Nguyễn Chí Tuyến, Nguyễn Anh Tuấn đã yết kiến Quốc vụ Khanh Bộ ngoại giao Đức - Michaelis để tố cáo “Việt Nam vi phạm nhân quyền” và yêu cầu Đức can thiệp, không ký EVFTA với Việt Nam, nhằm cản trở lộ trình đàm phán của Việt Nam với châu Âu.

Nhìn bề ngoài, chúng ta thấy việc các thế lực thù địch liên tục đưa ra các căn cứ Việt Nam vi phạm một cách có hệ thống về nhân quyền, ngăn trở phong trào công nhân chỉ hướng đến mục tiêu tốt đẹp là thúc đẩy tự do, dân chủ, nhân quyền. Điều này khiến nhiều kẻ nhẹ dạ, ảo tưởng bị mắc mưu và cuốn vào vòng mà chúng đã giăng sẵn đến không thể thoát ra để rồi thực hiện theo mưu đồ của chúng là hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế, xúi giục các nước can thiệp sâu, tác động để Việt Nam không được hưởng lợi trong thực hiện các Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA).

Con bài được lặp lại nhiều lần

Khi Hội nghị thượng đỉnh Geneva về nhân quyền và dân chủ tổ chức vào ngày 18.5.2024, tổ chức khủng bố Việt Tân liên tục tổ chức đưa tin trên trang web tiếng Việt và livestream, kêu gọi biểu tình ủng hộ đấu tranh dân chủ trong nước. Ngay trong lúc phiên họp ấy diễn ra, Việt Tân đã phỏng vấn Nguyễn Tiến Trung về các nỗ lực cho đấu tranh dân chủ khi ở trong nước.

Đây là con bài được lặp lại nhiều lần. Vì cách đó khoảng hai tuần, trước khi Việt Nam tham gia Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc vào ngày 7.5.2024; trên mạng xã hội Facebook, tổ chức khủng bố Việt Tân liên tục mở các buổi phát trực tiếp (livestream) về tình hình nhân quyền Việt Nam và việc người lao động bị cúp lương, mất việc làm nhưng không được công đoàn bảo vệ. Trong những buổi như thế, một kịch bản được lặp đi lặp lại là đưa những nhân vật từng bị án vì đấu tranh chống nhà nước mà chúng vẫn gọi là “tù nhân lương tâm” lên kể lại những nỗ lực đấu tranh và coi đó như là chiến tích.

Một câu hỏi đặt ra là, tại sao một thanh niên được học tập rất bài bản như Nguyễn Tiến Trung (từng học Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh, du học tại Pháp) lại có hành động đi ngược lợi ích quốc gia, dân tộc? Lật lại hồ sơ mới thấy rõ Trung đã bị “dắt mũi” để các thế lực thù địch, phản động thực hiện mưu đồ chống phá và hiện nay Trung trở thành “người hùng”, là “nhân chứng sống” để tiếp tục con bài môi giới, lôi kéo các đối tượng khác.

Với những bằng chứng thu thập được, Cơ quan an ninh đã chứng minh Nguyễn Tiến Trung cùng Hoàng Minh Chính và một số đối tượng chống đối khác tổ chức bàn, xây dựng đường lối hoạt động, nhân sự, cơ cấu tổ chức, phát triển lực lượng cho tổ chức phản động có tên gọi “Đảng Dân chủ Việt Nam”; tham gia dự thảo và phát tán trên trang web bản “hiến pháp” đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam; tham gia góp ý chỉnh sửa “cương lĩnh”, “điều lệ” và nhiều văn bản khác có nội dung chống Việt Nam của tổ chức phản động này./.
Ảnh: Những bài viết kêu gọi thành lập công đoàn độc lập đăng tải trên không gian mạng.

Ảnh: Đối tượng Nguyễn Tiến Trung thường xuyên kêu gọi chống phá cách mạng Việt Nam
---------------------
[1]. Lê Nin, Toàn tập, Nxb Matxcơva, 1980, tập 33, tr 164.
[2]. Lê Nin, Toàn tập, Nxb Matxcơva, 1980, tập 31, tr 167.
QV-ST!.