Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

ÔNG CHA ĐÁNH GIẶC: LƯỠNG QUỐC TƯỚNG QUÂN NGUYỄN SƠN VÀ LỜI CẢNH BÁO THÀNH SỰ THẬT!

“LIỆU ĐẤY, KHÔNG KHÉO PHÁP NÓ NHẢY BỔ THẲNG LÊN ĐẦU CHO MÀ XEM!”
     Đó là lời cảnh báo thẳng thắn của Khu trưởng Khu 4 Nguyễn Sơn tại thời điểm quân Pháp đang chuẩn bị một cuộc tiến công lớn trong thu - đông năm 1947. Điều đáng nói là khi ấy, khả năng địch đánh lên Việt Bắc không phải hoàn toàn không được tính đến. Nhưng phần lớn các nhận định vẫn cho rằng đây là một nước cờ quá mạo hiểm, còn Nguyễn Sơn lại đặc biệt nhấn mạnh khả năng địch có thể đánh thẳng vào khu vực trung tâm, nơi các cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến đang đứng chân.

Tại Hội nghị Quân sự họp cuối tháng 9-1947, Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp nhận định địch sẽ đánh mạnh trong thu - đông và chiến trường chính sẽ là Bắc Bộ. Hội nghị cũng đặt ra khả năng địch đánh Việt Bắc nhưng cho rằng chúng phải rất mạo hiểm mới dám thực hiện phương án ấy. Bộ Tổng Tham mưu nhận định quân Pháp khó có khả năng tập trung tới hai sư đoàn để đánh lên Việt Bắc; việc đổ quân bằng đường không xuống Bắc Kạn cũng được xem là khó khả thi vì địa bàn này quá xa các căn cứ của địch ở đồng bằng. Mặt trận chính vì thế vẫn được dự kiến trên hướng Phúc Yên - Vĩnh Yên - Phú Thọ - Thái Nguyên, với phương án tổ chức chiến thuật “be bờ”.

Chính trong bối cảnh ấy, Nguyễn Sơn cảnh báo một khả năng táo bạo hơn, chúng có thể bỏ qua các hướng tiến công dự kiến, dùng lực lượng đường không thọc sâu vào trung tâm căn cứ địa, đánh thẳng vào “đầu não” của cuộc kháng chiến.

Rạng sáng 7-10-1947, quân Pháp bất ngờ đổ quân bằng đường không xuống thị xã Bắc Kạn, thọc sâu vào trung tâm căn cứ địa Việt Bắc. Cánh quân dù xuất hiện ở một địa bàn sâu như vậy thực sự gây bất ngờ cho ta, bởi ta chưa dự đoán địch có thể táo bạo đến mức ấy.

Cho đến nay, những sách báo, tài liệu đã được công bố vẫn chưa cho phép xác định thật rõ cơ quan tình báo Pháp đã biết đến mức nào về vị trí đứng chân của các cơ quan đầu não kháng chiến. Chỉ biết rằng, đúng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, tại đây có mặt nhiều cán bộ quan trọng của ta. Tổng Bí thư Trường Chinh vừa đến công tác trong đêm 6-10. Có cụ Nguyễn Văn Tố, nguyên Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, lúc đó là Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ. Có Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái...

Cuộc đổ quân bất ngờ lập tức khiến tình hình trở nên đặc biệt nguy hiểm. Tổng Bí thư Trường Chinh phải xuống hầm tránh địch. Nhiều cán bộ, nhân dân bị bắt, trong đó có cụ Nguyễn Văn Tố.
Quân Pháp thoạt đầu tưởng đã bắt được Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo hồi ký Chiến đấu trong vòng vây của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thấy cụ Tố chững chạc, nói tiếng Pháp và yêu cầu chấm dứt chiến tranh xâm lược, chúng tưởng đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi biết đã bắt nhầm, chúng vẫn sát hại cụ lúc cụ tìm cách chạy thoát. Sự hy sinh của cụ Nguyễn Văn Tố là một tổn thất lớn đối với cách mạng.

Tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, tình thế cũng hết sức khẩn cấp. Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp và Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đều đang ở ngoài cơ quan. Trước tình hình địch bất ngờ thọc sâu vào Việt Bắc, Trưởng phòng Tác chiến Đào Văn Trường lập tức cử người đi tìm các thủ trưởng, yêu cầu trở về cơ quan gấp để tổ chức đối phó.

Nhưng bất ngờ không đồng nghĩa với bị động lâu dài. Ngay sau những phút đầu chao đảo, các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy của ta nhanh chóng nắm lại tình hình, tổ chức lực lượng, chuyển các cơ quan và cán bộ đến nơi an toàn, đồng thời triển khai đối phó với các cánh quân Pháp. Từ thế bị bất ngờ trước đòn thọc sâu, quân và dân ta từng bước giành lại quyền chủ động trên chiến trường./.
Theo dausungtrangtreo
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: CUỘC CHIẾN GIỮ GÌN KÝ ỨC LỊCH SỬ CHƯA BAO GIỜ NGƠI NGHỈ (HAY SỰ ĐÊ TIỆN CỦA NHỮNG GS TS LẬT SỬ KHI ĐÒI CÔNG NHẬN NGỤY QUYỀN SÀI GÒN TRONG BỘ QUỐC SỬ 30 TẬP)!

     Sáng nay lướt web, vô tình thấy những trang tin tức về Đại hội Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nhìn dòng chữ "Bộ Quốc sử 27.000 trang sắp được xuất bản" công bố vào ngày 30/09/2026 vừa qua, tôi bỗng thấy nhói lòng, một cảm giác nghẹn ngào, chua chát dâng lên tận tâm can.

Người ta hồ hởi reo hò trước một công trình đồ sộ, nào là "Bộ quốc sử 30 tập", nào là "công trình thế kỷ 27.000 trang" ... nhưng mấy ai nhìn thấu những vết dao sắc lạnh đang âm thầm găm vào phần linh hồn thiêng liêng nhất của đất nước? Đọc qua những nội dung "sử" mang danh nghĩa "đổi mới tư duy", "góc nhìn đa chiều", tôi thấy tim mình rỉ máu.

Hóa ra, đằng sau lớp vỏ bọc mỹ miều mang tên "khách quan khoa học" và “đổi mới tư duy” là cả một âm mưu lật sử thâm độc và tinh vi của nhóm tác giả biên soạn. Họ nhân danh góc nhìn đa chiều để thực hiện một chiến dịch "thay máu" ký ức dân tộc. Hãy nhìn vào cái cách họ cố tình tẩy trắng cho hành vi bán nước, "cõng rắn cắn gà nhà" của Nguyễn Ánh - Gia Long. Một kẻ vì lợi ích dòng tộc mà sẵn sàng rước 2 vạn quân Xiêm vào giày xéo bờ cõi, ký kết hiệp ước cắt đất cho thực dân Pháp, nay lại được đặt lên bàn cân để "giảm nhẹ tội tình", nâng tầm công trạng. Sự tráo trở ấy đi liền với việc hạ bệ vương triều Tây Sơn, công kích và phần nào phủ nhận thiên tài quân sự của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ. Người ta đang cố tình đảo lộn trắng đen, biến kẻ rước ngoại bang về nhà thành công thần, và đẩy người có công quét sạch ngoại xâm vào bóng tối của sự định kiến.

Nhưng đỉnh điểm của sự phản bội ký ức chính là mưu đồ xóa bỏ cụm từ "Ngụy quân, Ngụy quyền" để thay bằng "Chính quyền Sài Gòn". Đọc đến đây, tim tôi như thắt lại. Họ ngụy biện rằng đó là vũ khí pháp lý quốc tế để bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa. Ôi chao, một cái bẫy ngụy biện sơ đẳng và nực cười làm sao! Luật pháp quốc tế vốn dĩ là do kẻ mạnh viết ra bằng cường quyền và lợi ích. Việc chúng ta tự tay công nhận tính chính danh cho một chế độ tay sai, một bộ máy bù nhìn sống bằng bầu sữa viện trợ và đô la của đế quốc Mỹ, chính là hành vi phản bội lại xương máu của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ đã ngã sống.

Nhất là, chúng ta cần nên nhớ, dân tộc Việt Nam là một, Tổ quốc Việt Nam là một dải gấm hoa, không bao giờ - và không được phép công nhận 1 chế độ tay sai chó săn của ngoại bang là chính danh. Vì như thế là khốn nạn, vô ơn, tráo trở và đê tiện, dẫm đạp lên xương máu cha ông, phủ nhận cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc.

Bất chợt, ký ức đưa tôi quay trở về câu chuyện ba năm trước mùa thu năm 2021, về một bài đăng của Gs Nguyễn Cảnh Toàn. Giữa căn phòng họp nghiêm trang tại Văn phòng Chính phủ ở số 16 Lê Hồng Phong (Ba Đình, Hà Nội), một cuộc đối thoại nảy lửa và đầy căm phẫn đã diễn ra. Ba bên ngồi đó đối diện nhau trước sự chứng kiến của Phó Thủ tướng khi ấy là Vũ Đức Đam, sắm vai “Người phán xử”. Một bên là các vị tướng lĩnh quân đội, các cựu chiến binh can trường: Thượng tướng Võ Tiến Trung, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn và Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, tạm gọi là bên nguyên. Bên thứ ba là GS. Vũ Minh Giang và ê-kíp lật sử, tạm gọi là bên bị. Nội dung cuộc chiến ấy chỉ gói gọn trong một lý tưởng độc nhất: Bộ Quốc sử và những sai lầm lịch sử, quyết liệt chống bóp méo, làm sai lệch và xuyên tạc lịch sử.

Tôi nhớ mãi những lời chia sẻ đầy tâm huyết và kiên định của GS. Nguyễn Cảnh Toàn cùng các vị tướng lĩnh hôm ấy. Họ đứng lên không phải vì danh lợi, mà vì danh dự của hàng triệu đồng bào đã nằm lại dưới lòng đất mẹ. Các cựu chiến binh và tướng lĩnh tiền bối đã thẳng thắn chất vấn về mưu đồ xóa bỏ bản chất của chế độ tay sai. Hãy lật lại những trang sử vàng do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng. Suốt cuộc đời cách mạng, trong các văn kiện quan trọng, các bài viết và lời kêu gọi quốc dân, Bác Hồ đã rất nhiều lần khẳng định đanh thép rằng: Nhất định phải gọi chế độ tay sai ấy là Ngụy quyền Sài Gòn. Đó không phải là một sự áp đặt cảm xúc, mà là sự định danh chính xác nhất về mặt bản chất chính trị. Lời Bác dạy là chân lý, là kim chỉ nam, sao nhóm tác giả ngày nay lại dám ngụy biến, dám phản bội lại tư tưởng của Người?

Sau khi nghe bên nguyên và bên bị trình bày quan điểm, phản biện lẫn nhau, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã chăm chú lắng nghe, phân tích sự việc và đi đến kết luận: Trong khi Bộ Chính trị và Trung ương chưa có kết luận chính thức, đề nghị các anh nhất là bên thứ ba không làm cho diễn biến tình hình phức tạp thêm; và bên thứ ba cần mở một hội nghị khoa học và mời bên thứ hai đến dự, tranh luận và phản biện sòng phẳng.

Vậy mà cay đắng thay, kết quả sau 3 năm trôi qua, chỉ thị của Phó Thủ tướng vẫn bị phớt lờ. Bên thứ ba vẫn không hề tổ chức hội nghị khoa học hoặc mời bên thứ hai đến để trao đổi, tranh luận, phản biện về học thuật và quan điểm của Hồ Chí Minh cũng như của Đảng và Nhà nước ta về chế độ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn. Có thể "anh tao VVT" đang lúc đó ngồi ở ghế cao hơn, quyền lực hơn nên kẻ lật sử Vũ Minh Giang và đồng bọn vẫn bình chân như vại chăng? Nay "anh tao VVT" đã bị hất đổ khỏi chiếc ghế quyền lực, bọn chúng mới tạm im ắng nghe ngóng thời cuộc.

Nhìn vào những gì đang diễn ra, tôi lại chợt nghĩ đến kinh nghiệm xương máu của nước Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin. Nước Nga đã từng có một giai đoạn hỗn loạn khi buông lỏng mặt trận lịch sử, để các thế lực xét lại quá khứ bóp méo sách giáo khoa nhằm tẩy não thế hệ trẻ. Nhận rõ hiểm họa mất nước từ bên trong, Tổng thống Putin đã phải dùng bàn tay sắt để chấn hưng sử học, loại bỏ toàn bộ những cuốn sách xuyên tạc để lấy lại niềm tự hào dân tộc. Bài học ấy vẫn còn nóng hổi. Nếu chúng ta thỏa hiệp với luận điệu của nhóm tác giả này, chúng ta sẽ tự tay dâng nộp thế hệ tương lai cho sự băng hoại về lý tưởng.

Cuộc chiến đấu của người dân yêu nước, của các cựu chiến binh trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược vẫn tiếp diễn. Dù rằng nó có thể kéo dài năm năm, mười lăm năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng chúng tôi - những người kiên quyết giữ gìn ký ức lịch sử dân tộc vẫn tiếp tục chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, đến khi đất nước ta sạch bóng bè lũ bóp méo, xuyên tạc lịch sử. 

Lịch sử Việt Nam từng được viết bằng máu của những người anh hùng, bằng lệ của những người quả cảm - không bao giờ được phép định đoạt bởi ngòi bút của những kẻ phản bội ký ức dân tộc!
#QV-ST!

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

TỰ HÀO VIỆT NAM: HOÀN CẢNH RA ĐỜI ĐẶC BIỆT CỦA "ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI"!

     Có lẽ đây là lần đầu, là dịp hiếm hoi lắm những người thân của cố nhạc sĩ Huy Du chia sẻ, bày tỏ một cách gần gũi, chân thành và tường tận về ca khúc bất hủ "Đường chúng ta đi".

PGS.TS Nguyễn Huy Phương - Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, con trai nhạc sĩ Huy Du - cho biết, “Đường chúng ta đi” là một trong những tác phẩm tiêu biểu và đỉnh cao trong sự nghiệp của bố anh, đồng thời gắn liền trực tiếp với chiều dài lịch sử đất nước.

Nhắc về hoàn cảnh ra đời đặc biệt của bài hát, Nhạc sĩ Huy Phương nhớ lại câu chuyện từng được bố kể. Theo đó, khoảng năm 1968, Đài Tiếng nói Việt Nam giao cho 3 nhạc sĩ Quân đội: Huy Du, Doãn Nho và Lê Lan sáng tác một bản hợp xướng lớn gồm 3 chương, để chuẩn bị cho sự kiện của dân tộc (Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968). Tuy nhiên, bản hợp xướng chưa kịp dàn dựng thì Tết Mậu Thân diễn ra.

Sau đó, bố anh mới trích phần ông viết trong bản hợp xướng đó, phát triển thành ca khúc riêng Đường chúng ta đi. Bài hát có những câu như dự đoán về mùa xuân thống nhất của dân tộc: “Đường ta về trong nắng ấm ban mai
Việt Nam, Việt Nam, qua từng bước gian nan
Lớn lên rồi đẹp những mùa xuân”...

Trong trí nhớ của Huy Phương, có lần anh nghe bố trò chuyện với các nhà thơ, nhà văn, trong đó có nhà văn Đỗ Chu. Ông đặc biệt ấn tượng khi mọi người nhắc đến Đường chúng ta đi. Anh kể lại: 

“Chú Đỗ Chu khen Đường chúng ta đi như một khải hoàn ca. Chú nói rằng, bố tôi có một tình yêu đặc biệt, và tình yêu ấy hiện hữu trong tác phẩm. Có lẽ nhờ thế mà ông có thể vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất. Dù đi trong chiến dịch, từng bị thương, ông vẫn luôn giữ được sự lạc quan và tìm thấy một vẻ đẹp nào đó giữa bom đạn”

Còn trong ký ức của ông Nguyễn Huy Long - em trai nhạc sĩ Huy Du - sức lan tỏa, phổ biến của ca khúc thể hiện rõ nhất vào thời điểm ký kết Hiệp định Paris. Lúc bấy giờ, phát thanh viên cứ đọc xong một đoạn nội dung điều khoản của hiệp định, Đài lại phát Đường chúng ta đi.

Trong những ngày tháng lịch sử đó, việc phát sóng liên tục suốt ngày đêm trên đài phát thanh - nguồn tiếp cận thông tin gần như duy nhất - đã giúp bài hát được phổ cập sâu rộng. Đến mức, hầu như toàn dân đều thuộc lòng, mà không cần qua trường lớp hay buổi học nào.

Ông Long tâm sự, sinh thời, bố của ông từng không muốn anh trai Huy Du đi theo con đường nghệ thuật. Nhưng khi Đường chúng ta đi cùng nhiều sáng tác khác được công chúng đón nhận, ông cụ rất mãn nguyện và tự hào về người con trai của mình.

Nói sâu hơn về ca khúc "Đường chúng ta đi", người con trai của cố nhạc sĩ nói: “Tác phẩm của bố tôi không chỉ đòi hỏi kỹ thuật thanh nhạc cao mà còn hòa quyện chất hào sảng, rực rỡ với nét lãng mạn, sâu lắng, qua đó phần nào thể hiện trọn vẹn diện mạo, di sản âm nhạc của ông”. 

Để có được bản nhạc của thế kỷ, tạo thêm sức mạnh, động lực, quyết tiến quyết chí của Đường chúng ta đi. Hậu thế ngày hôm nay không thể quên đi những lời thơ của Nhà thơ Xuân Sách (Ngô Xuân Sách) sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. 
• Phổ nhạc: Nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng cùng tên vào năm 1968.
• Ca khúc nổi tiếng: Bài hát này đã trở thành một trong những tác phẩm đi cùng năm tháng của âm nhạc cách mạng Việt Nam, được thể hiện thành công qua các giọng ca như NSƯT Kim Oanh, NSND Doãn Tần hay tam ca Đăng Dương - Trọng Tấn - Việt Hoàn...

Và hơn tất thảy, 100 năm ngày sinh của Huy Du, bên cạnh niềm tự hào về Di sản âm nhạc của Huy Du, gia đình cố nhạc sĩ mong muốn rằng, đây sẽ là dịp chia sẻ nhiều hơn những câu chuyện mà khán giả "chưa có dịp" được biết, được giãi bày để thêm hiểu, thêm yêu, thêm tự hào về con người và âm nhạc của Huy Du./.
#QV-ST!

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇻🇳 ĐẰNG SAU MỘT VỊ ĐẠI TƯỚNG VĨ ĐẠI LÀ MỘT NGƯỜI MẸ VĨ ĐẠI!

     Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ra tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cha ông là cụ Võ Quang Nghiêm, một nhà nho đức độ; mẹ là cụ Nguyễn Thị Kiên, xuất thân từ một gia đình có truyền thống chống ngoại xâm.

Nếu người cha góp phần tạo dựng nền nếp học vấn, thì người mẹ lại có ảnh hưởng sâu sắc đến những năm tháng đầu đời của Võ Nguyên Giáp. Không biết chữ nhưng cụ Kiên có trí nhớ đặc biệt, thuộc nhiều truyện thơ và thường kể cho các con nghe những câu chuyện về quê hương, phong trào Cần Vương và cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp.

Đại tướng từng hồi tưởng: “Tuổi thơ tôi đã được tắm mình trong những tình cảm yêu nước sâu sắc.”

Đó không chỉ là một ký ức về gia đình, mà còn cho thấy cách những giá trị yêu nước được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua lời kể, ký ức và chính cuộc sống của người thân.

Cụ Kiên cũng là một người phụ nữ tảo tần. Trong hoàn cảnh gia đình khó khăn, bà vừa làm ruộng, chạy chợ, chèo đò, vừa chăm lo cho các con ăn học. Võ Nguyên Giáp từng nhớ những lần theo mẹ chở thóc đi trả nợ: mẹ đội thóc chạy lên chạy xuống dưới trời nắng, còn cậu bé ngồi dưới thuyền chờ đợi từ sáng đến trưa.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, bà cùng các con và cháu tản cư lên chiến khu. Từ nơi sơ tán, bà gửi thư cho người con trai đang tham gia kháng chiến. Những lời lẽ mộc mạc trong thư chủ yếu là hỏi thăm sức khỏe và bày tỏ nỗi nhớ con. Đằng sau những câu chữ giản dị ấy là tình cảm của một người mẹ chấp nhận xa con giữa những năm tháng chiến tranh đầy gian khó.

Năm 1952, cụ Kiên ra Việt Bắc theo nguyện vọng của Đại tướng và phu nhân Đặng Bích Hà. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, bà về Hà Nội sống cùng con cháu cho đến khi qua đời năm 1961.

Nhìn lại cuộc đời của cụ bà Nguyễn Thị Kiên, có thể thấy sự hình thành một nhân cách lớn không tách rời khỏi gia đình, quê hương và truyền thống lịch sử. Bà không trực tiếp tạo nên những chiến công của người con, nhưng đã góp phần đặt những nền móng đầu tiên về tình cảm gia đình, nghị lực sống và lòng yêu nước.

Đằng sau những bước chân của một vị Đại tướng là bóng dáng của một người mẹ - bình dị, tảo tần và âm thầm trao cho con những giá trị theo suốt cuộc đời./.
#QV-ST!

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: TÂY KHEN LÀ CHUẨN MỰC, HẢ ÔNG TRẦN ĐĂNG KHOA?

     Những ngày qua, bênh vực Nỗi buồn chiến tranh, có ý kiến của một số người trong giới văn chương đưa ra một lập luận nghe có vẻ rất “thuyết phục”: tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng, được độc giả nước ngoài biết đến, được giới văn chương quốc tế đánh giá cao... vậy thì tại sao người Việt Nam lại phải tranh luận?

Xin thưa, chính chỗ này mới cần phải tranh luận!

Một tác phẩm được nước ngoài dịch, được nước ngoài khen, được một giải thưởng nước ngoài ghi nhận... đó là một dữ kiện về sự tiếp nhận quốc tế, chứ không phải giấy chứng nhận chân lý về tư tưởng, lịch sử hay giá trị xã hội của tác phẩm.

Nếu cứ “Tây khen” là mặc nhiên đúng thì hóa ra người Việt Nam không còn quyền tự đánh giá văn chương của chính mình?

Vậy những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam được phương Tây ca ngợi, nhưng có cách nhìn khác với lịch sử và ký ức của dân tộc, chúng ta cũng phải cúi đầu công nhận?

Không thể có thứ logic như vậy!

Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng lập luận rằng không phải ngẫu nhiên Nỗi buồn chiến tranh được dịch ra hàng chục thứ tiếng và phát hành ở nhiều quốc gia. TS Hà Thanh Vân thì nhấn mạnh việc tác phẩm mở rộng biên độ tự do sáng tạo và đặt bi kịch con người ở trung tâm chiến tranh.

Nhưng xin hỏi: dịch được nhiều thứ tiếng thì chứng minh điều gì?

Nó chứng minh tác phẩm có sức lan tỏa quốc tế.

Hết!

Nó không tự động chứng minh rằng mọi quan niệm lịch sử trong tác phẩm đều đúng. Càng không thể lấy thị hiếu của một bộ phận độc giả nước ngoài làm thước đo duy nhất để đánh giá một tác phẩm khi tác phẩm ấy được đưa vào đời sống giáo dục Việt Nam.

Văn chương có quyền hư cấu.

Văn chương có quyền đau đớn.

Văn chương có quyền viết về mất mát, tình yêu, sự ám ảnh và những góc khuất của con người.

Nhưng tự do sáng tạo không đồng nghĩa với quyền biến một cách nhìn cá nhân thành sự thật lịch sử duy nhất.

Đặc biệt, khi tác phẩm được đưa vào SGK, vấn đề lại càng khác.

Đó không còn đơn thuần là chuyện một người lớn mua sách về đọc rồi thích hay không thích. Đó là vấn đề lựa chọn ngữ liệu cho học sinh. Và khi ấy phải đặt thêm những câu hỏi về độ phù hợp với lứa tuổi, giá trị giáo dục, ngôn ngữ, bối cảnh lịch sử và tác động nhận thức.

Chính Tổng Chủ biên một bộ SGK Ngữ văn còn cho rằng khó tìm tác phẩm nào phù hợp hơn Nỗi buồn chiến tranh cho yêu cầu chương trình lớp 12.

Vậy thì càng phải hỏi: phù hợp ở điểm nào? Phù hợp với mục tiêu giáo dục nào? Những giới hạn nào của tác phẩm đã được cân nhắc? Và học sinh sẽ được hướng dẫn tiếp nhận nó như thế nào?

Không thể lấy hai chữ “sáng tạo” làm cái ô che cho mọi tranh luận.

Cũng không thể lấy “thế giới công nhận” làm chiếc gậy để bịt miệng những người có cách nhìn khác.

Một nền văn học trưởng thành phải chịu được tranh luận.

Một nền giáo dục có trách nhiệm càng phải chịu được chất vấn.

Và một dân tộc có lịch sử đau thương, có hàng triệu người đã hy sinh, càng có quyền đòi hỏi khi văn học viết về chiến tranh phải phân biệt thật rõ: đâu là quyền hư cấu của nhà văn, đâu là cách nhìn nghệ thuật, đâu là nhận thức lịch sử và đâu là những giá trị mà giáo dục cần truyền lại cho thế hệ sau.

Điều đáng nói hơn nữa là câu chuyện “vinh danh” cũng không phải đã khép lại theo cách những người bênh vực mong muốn. Ngày 8/1/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 14/QĐ-BVHTTDL đưa Nỗi buồn chiến tranh ra khỏi danh sách 50 tác phẩm tiêu biểu, sau khi rà soát tiêu chí, quy trình bình chọn và tiếp nhận ý kiến của tác giả.

Vậy thì có lẽ đã đến lúc thôi dùng lập luận:

“Nước ngoài khen, thế giới công nhận, nên Việt Nam phải công nhận.”

Không!

Người Việt Nam có quyền tự đánh giá văn chương của mình.

Có quyền trân trọng tài năng của một nhà văn nhưng đồng thời đặt câu hỏi về tác phẩm.

Có quyền công nhận giá trị nghệ thuật nhưng không mặc nhiên chấp nhận mọi thông điệp lịch sử, chính trị hay xã hội nằm trong đó.

Văn chương cần tự do, nhưng tự do không có nghĩa là đứng ngoài trách nhiệm với xã hội.

Đó mới là điều cần tranh luận cho đến cùng./.
#QV-ST!

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: "NGÀI"GIA LONG - NGUYỄN ÁNH ĐÃ BÁN NƯỚC BAO NHIÊU LẦN? XIN THƯA, CHỈ CÓ... 4 LẦN!!!

     Sinh thời, Vua Minh Mạng (con trai của Gia Long) đã từng lên án Gia Long và trừng phạt Lê Văn Duyệt:
- Đối với Gia Long, ông nói:
"Trấn Ninh vốn là bờ cõi cũ của ta, xưa đức Tiên đế(Gia Long) đem cho Vạn Tượng" (trích Đại Nam Thực Lục).
- Đối với Lê Văn Duyệt, ông cho lệch trừng phạt: với 7 tội đáng chém (xử trảm), cùng 2 tội thắt/cổ và 1 tội sung quân.
======
TRONG LỊCH SỬ, GIA LONG ĐÃ BÁN NƯỚC 4 LẦN :
LẦN 1: Nguyễn Ánh thảo hợp đồng với triều đình Pháp để bán Hội An đổi lấy 4 tàu chiến và vài trăm lính Pháp da đen, nhưng hợp đồng này chưa xong thì vua Pháp (Louis 16) bị quân cách mạng Pháp chém đầu ...tuy nhiên bản hợp đồng này sau đó đã tạo cái cớ hoàn hảo cho Napoleon đệ III thuyết phục quốc hội Pháp chấp thuận việc xâm lược Đại Nam. 

LẦN 2: khi quân Thanh qua để “bảo vệ nhà Lê”, Nguyễn Ánh lập tức điều thuyền chở gạo ra tiếp tế cho quân Thanh, ủng hộ nhà Thanh đem quân vào Việt Nam. Cũng may sau đó quân Thanh đã bị Quang Trung đánh cho tan tác..

LẦN 3: Nguyễn Ánh rước quân Xiêm la (Thái lan) qua để đánh Tây Sơn. Trong lúc đóng quân, bọn Xiêm đã bắt, cướp, hiếp, giết dân Nam Bộ.. nhưng Ánh làm ngơ vì mục đích hạ bệ Tây Sơn, khiến lòng dân Nam Bộ từ ủng hộ sang ác cảm với Nguyễn Ánh. Và vẫn lại là Quang Trung chiến thần đập cho Xiêm la nhừ tử ... đến nổi từ đó nhắc đến Việt Nam là quân Xiêm kinh hồn tán đởm.

LẦN 4: Nguyễn Ánh đem vùng Trấn Ninh (rộng khoảng 45.000 km²) cắt cho vương quốc Vạn Tượng (Lào) chỉ nhằm để lôi kéo sự ủng hộ của họ ..vùng này hiện là... một nửa nước Lào ngày nay (ảnh 4-bản đồ)

 ✅ Với việc cắt thành công vùng đất Trấn Ninh cho Lào, Nguyễn Ánh là ông vua trao lãnh thổ đất nước cho ngoại quốc nhiều thứ 2 trong lịch sử Việt Nam (kém hơn Chắt nội là Tự Đức đã cắt cả Nam Kỳ Lục tỉnh cho thực dân Pháp). Nhưng Nam Kỳ Lục Tỉnh thì chúng ta đã lấy lại được còn Trấn Ninh thì... thôi rồi!!😞

✅Trong lịch sử nước Việt nghìn năm: thắng bại đều có đủ, nhưng chưa có ông vua nào giữ vững ngai vàng bằng cách mượn quân nước ngoài, thậm chí bán cả đất cha ông để lấy lòng giặc! vua như thế có đáng được nhân dân trọng vọng chăng ? 
    💖Cái gì ra cái đó, công tội phải rõ ràng: không thể phủ nhận công lao mở cõi của các Chúa Nguyễn dưới thời Lê Trung Hưng (Đàng Trong - Đàng Ngoài) nhưng cần nói cho rõ công đó là của các Chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên..):Nguyễn Hữu Cảnh mở cõi Đất Phương Nam vào năm 1698, theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược vùng đất này-Trấn Biên (Biên Hòa) Phiên Trấn (Gia định) chứ đừng mập mờ là của triều đình nhà Nguyễn ( Gia Long 1762 mới sinh ra).
 👉Còn công thống nhất đất nước ư? Nguyễn Ánh không thể làm gì được nếu hoàng đế Quang Trung không đánh bại mọi thế lực cát cứ (Trịnh, Nguyễn v.v..) và can thiệp (Xiêm, Thanh). Có thể nói Quang Trung mới là Người thống nhất đất nước. Tiếc là Quang Trung qua đời sớm, mặc nhiên đã dọn cỗ, dọn đường cho Ánh bước lên ngôi cửu đỉnh nhờ sự giúp sức của đạn pháo Pháp.
👉Chỉ những người không học lịch sử mới nói Gia Long xác lập chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Việc xác lập đã có từ thời Hậu Lê!
#QV-ST!

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: MỸ HAY IRAN LÀ KHỦNG BỐ SAU KHI NGHE TỔNG THỐNG HAI NƯỚC PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC!

     Trong bài phát biểu của Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lần thứ 81, trong đó ông ta đe dọa: “Tôi sẽ tiêu diệt Iran, một chế độ độc tài, tàn bạo và khủng bố. Họ sẽ phải thỏa thuận với tôi, hoặc tôi sẽ xóa sổ họ, đưa họ xuống địa ngục”. Xét về tổng thể và chi tiết, bài phát biểu của ông ta chẳng đáng giá gì, thậm chí còn ít hơn thế.

Ngày hôm sau, Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian cũng đã có bài phát biểu ngắn gọn vạch trần sự đạo đức giả và thói hai mặt của Mỹ. Trong bài phát biểu này, Pezeshkian đã chỉ rõ: “Tổng thống Hoa Kỳ đã nói rằng chúng tôi là những kẻ khủng bố. Nhưng trên thực tế, chúng tôi là nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố. Hoa Kỳ đã vô cớ tấn công xâm lược đất nước chúng tôi, ám sát các nhà lãnh đạo của chúng tôi. Họ đã phóng tên lửa một trường học có rất nhiều trẻ em đang theo học ở đó. Họ tấn công chúng tôi, nhưng chúng tôi không khuất phục trước họ. Chúng tôi đáp trả các cuộc tấn công của họ, nhưng chúng tôi không nhắm mục tiêu vào thường dân. Đây là một thế giới nơi những kẻ quyền lực, thay vì nghĩ đến người dân, nhân đạo, công lý và dân chủ, lại trở thành tác nhân của sự hủy diệt, tàn phá và đổ nát. Và khi họ muốn tiêu diệt ai đó, họ sẽ gán cho người đó cái mác khủng bố. Trong 200 năm qua, Iran chưa từng tấn công bất kỳ quốc gia nào. Trong suốt 200 năm qua, chúng tôi luôn tự vệ. Vậy mà giờ đây chúng tôi lại bị cáo buộc là khủng bố và bị cho là nguồn gốc gây bất ổn trong khu vực. Điều này đã dẫn chúng tôi đến việc lựa chọn một chiến lược cho chính mình: Phải có sức mạnh để có thể tự vệ. Ông ta nên hiểu rằng Iran sẽ không khuất phục trước sức mạnh và sẽ khiến những kẻ xâm lược phải hối hận về hành động của mình. Hoa Kỳ nên biết rằng những lời đe dọa chống lại quốc gia chúng tôi chỉ khiến chúng tôi đoàn kết hơn, mạnh mẽ hơn và quyết tâm hơn trong cuộc kháng chiến”.

Masoud Pezeshkian kết luận: “Chủ đề của diễn đàn này là xây dựng lại lòng tin. Lòng tin không thể chỉ được xây dựng bằng lời nói, nó đòi hỏi phải từ bỏ tiêu chuẩn kép và thói hai mặt. Đây là điều mà Trump và bất cứ ai khác đều phải hiểu”.

Tiếp theo là về Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres. Không nghi ngờ gì, Guterres là một chính trị gia chuyên nghiệp. Trước đây ông ta từng có bản lĩnh, nhưng giờ thì không còn nữa. Ông ta cũng tuân theo quan điểm của Mỹ về vấn đề Iran. Trong bài phát biểu của mình, Guterres gọi cuộc chiến Mỹ - Iran là “sự leo thang quân sự” thay vì bản chất rõ ràng của nó: Một cuộc chiến tranh xâm lược vô cớ kèm theo những hành động tàn bạo chống lại thường dân. Iran chưa hề tấn công bất cứ ai vào thời điểm Mỹ và Israel tấn công xâm lược Iran. Tuy nhiên, Guterres đã sử dụng từ “chủ quyền” một cách rõ ràng để lên án các cuộc tấn công trả đũa sau đó của Iran nhằm vào “chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của các quốc gia như Bahrain, Kuwait, UAE…, những quốc gia đang cho phép Mỹ đặt căn cứ quân sự để từ đó tấn công Iran, và do đó đóng vai trò đồng lõa theo Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc.

Vậy Guterres đang làm việc cho ai? Ông ta đã trốn tránh trách nhiệm của mình. Hãy nhìn thẳng vào vấn đề: Liên Hợp Quốc luôn là vỏ bọc cho chủ nghĩa bá quyền của Mỹ kể từ Thế chiến II. Liên Hợp Quốc hoàn toàn vô dụng với tư cách là một tổ chức đảm bảo hòa bình và ổn định cho thế giới. Tại sao nhiều người vẫn cứ tin rằng con cá sấu muốn tạo ra một nơi trú ẩn an toàn cho những con cá nhỏ?
#QV-ST!

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI: AI MUỐN THEO MỸ?

     Mọi người hãy xem video khi Tổng thống Trump và Thủ tướng Israel Benjamin phát biểu. Sau khi đọc bài viết để hiểu bản chất Mỹ đế bố đời xã hội đen nhé. Chú thích nội dung video: 

✍️Trump phát biểu tại Đại Hội đồng LHQ thông báo việc bắt Maduro là cướpp dầu của Venezuela chứ không có băng đảng Maituy nào và tiếp tục đòi lật đổ Chính phủ Cuba. Chỉ còn mấy nước cchư hầu châu Âu ngồi nghe, còn lại các nước thành viên bỏ hội nghị về hết. Đúng là tấu hài.

✍️Trở lại bài viết:

Đảng viên Hoàng Thị Quỳnh Anh (fb Hương Huệ Hoàng) nguyên phó giám đốc sở VHTT&DL tỉnh Nghệ An trong một bình luận trên mạng xã hội đã khẳng định rằng có đến 98% người dân Việt Nam muốn theo Mỹ. 

Chẳng biết bà căn cứ vào đâu để đưa ra con số không tưởng như vậy?

Tôi hoàn toàn bác bỏ phát ngôn bịa đặt sai sự thât của bà Hoàng Huệ Hương. Sau đây tôi sẽ làm rõ vấn đề này.

Dân số nước ta hiện nay có trên 100 triệu người, xin lấy tròn 100 triệu để dễ tính phần trăm. 

✍️Ai không muốn theo Mỹ?

Theo số liệu tra cứu trên google, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, có từ 2 - 4 triệu người dân vô tội bị Mỹ - ngụy giết hại; gần 1,2 triệu anh hùng liệt sĩ hy sinh để "đánh cho Mỹ cút, đánh ngụy nhao", giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; hiện tại có khoảng 800.000 thương binh, 200.000 bệnh binh. Các đối tượng người có công với cách mạng khoảng 9,5 triệu người.

Nếu tính cả thân nhân là con cháu của các đối tượng này sau 50 năm chấm dứt chiến tranh, thì con số có thể lên tới hàng chục triệu người. Con số vài chục phần trăm người dân này nếu không cho rằng họ căm thù thực dân, đế quốc thì thôi, chứ họ không bao giờ và không bao giờ muốn làm nô lệ, tay sai cho kẻ thù. Dân số còn lại vốn mang dòng máu Lạc Hồng, yêu nước thương nòi, ghét ngoại xâm, họ cũng không muốn theo Mỹ.

Đảng cộng sản Việt Nam có khoảng 5,7 triệu đảng viên, Đoàn thanh niên Hồ Chí Minh có khoảng 5,6 triệu đoàn viên. Lực lượng chính tri này là đối tượng không muốn theo Mỹ, trừ một số người thoái hóa biến chất, phản Đảng, phản quốc, hại dân.

Trong 100 triệu dân số nước ta có 13 tôn giáo. Đạo phật là một tôn giáo ngoại nhập có khoảng 8 triệu tín đồ, các tôn giáo bản địa như Cao đài, Hòa hảo.v.v.... có hàng vạn tín đồ, gộp chung với đạo phật là khoảng gần 9 triệu tín đồ, ứng với 9% dân số là không muốn theo Mỹ. Bởi trước 1975, Mỹ - ngụy đàn áp dã man các tôn giáo này, do vậy mà các tôn giáo này căm thù Mỹ.

 ✍️Ai muốn theo Mỹ?

Sự thật lịch sử ghi nhận: thực dân Pháp đô hộ nước ta gần 100 năm, đế quốc Mỹ xâm lược nước ta hơn 20 năm. Pháp dùng người của Thiên chúa giáo để dựng lên chính phủ bù nhìn QGVN nhằn mục đích làm tay sai, sau này đế quốc Mỹ "phục dựng" thành VNCH. Chúng ưu ái dành "đặc quyền đặc lợi" cho Thiên chúa giáo, do vậy mà giáo dân đội ơn, từ đó tuyệt đối trung thành với Pháp, Mỹ. Những đối tượng thành phần làm việc cho chế độ bù nhìn Sài Gòn, còn gọi là ngụy quyền, ngụy quân VNCH trước 1975, và hậu duệ của họ hiện nay vì "hận thù cộng sản" nên muốn theo Mỹ, tiếp tục làm tay sai cho Mỹ, CCCĐ. Chưa hẳn tất cả giáo dân muốn theo Mỹ, nhưng cứ cho là tất cả giáo dân muốn theo Mỹ, thì bất quá cũng chỉ chiếm khoảng trên dưới 7 - 8% dân số cả nước mà thôi. Thêm đạo Tin lành có khoảng 1% nữa, cộng lại là khoảng 9%.

Ngoài ra, các đối tượng giang hồ, thành phần bất hảo, hổ báo cáo chồn... trong xã hôi, kể cả các đối tượng là đảng viên cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng, cơ hội chính trị, phản quốc... vì sợ pháp luật nghiêm trị, nên có thể số người này muốn trốn ra nước ngoài nhằm trốn tránh, chạy tội. Số người trong các thành phần này, bất quá chỉ nằm ở con số hàng ngàn mà thôi.

Như vậy, tất tần tật số người Việt Nam muốn theo Mỹ khoảng trên dưới 9% dân số. Thôi thì cứ chiếu cố lấy tròn 10 triệu, ứng với 10% dân số nước ta có thể muốn theo Mỹ.

 ✍️Ấy vậy mà... Nực cười lắm thay!...Bà Hoàng Thị Quỳnh Anh (fb Hoàng Huệ Hương) phó giám đốc sở VHTT&DL tỉnh Nghệ An lại hồ đồ, ngoa ngôn phóng đại lên đến 98% người dân Việt Nam muốn theo Mỹ.

Dân tộc Việt Nam ta có bề dày lịch sử hào hùng bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, đặc biệt trong gần 100 năm khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo, dân tộc ta không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục trước mọi kẻ thù, đã đánh đuổi hai kẻ thù sừng sỏ nhất hành tinh, xây dựng đất nước ta, như cố Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ tươi đẹp như bây giờ, vị thế nước ta được nâng cao trên trường quốc tế. 

Thế là đã gần một thế kỷ trôi qua, Đảng và dân tộc ta sáng suốt lựa chọn, kiên định đi theo con đường duy nhất đúng đắn, bất di bất dịch là tiến lên chủ nghĩa xã hội, ly khai, đoạn tuyệt với chủ nghĩa đế quốc. Bởi vậy, nhân dân ta không có lý do gì muốn theo đế quốc Mỹ!

Vâng! Dân tộc ta giàu lòng yêu nước, tôn trọng đạo lý uống nước nhớ nguồn. Người dân Việt Nam được sống trên Tổ quốc tươi đep, hòa bình ngày nay và mai sau luôn biết ơn những thế hệ cha ông đã đổ xương máu để giành lại độc lâp tự do hạnh phúc cho nhân dân. Họ luôn luôn biết ơn tin tưởng và mãi mãi đồng hành đi theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ tốt đep, không có lựa chọn nào khác!


#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI VĂN ĐẦY “NGÁO ĐÁ” CỦA TỈNH PHÚ THỌ - HỆ QUẢ TẤT YẾU CỦA “NỀN GIÁO DỤC HỖN MANG”!

     Các cuộc thi Học sinh giỏi cấp tỉnh, vốn là cái nơi để tìm kiếm và tôn vinh những tư duy sắc sảo, vậy nên đề thi càng cần rõ ràng, khoa học và hay.

Thế nhưng ngữ liệu trong đề thi môn văn của Sở GD&ĐT Phú Thọ (ngày 18/09 vừa qua) lại khiến người ta ngỡ ngàng như đang lạc vào một cơn "mộng du văn học" đầy hoang mang. Tôi đọc qua, ban đầu còn nghĩ đây là một sản phẩm giả mạo lố bịch để chế giễu sự thối nát của giáo dục nước nhà cơ, thật lòng thế các bạn ạ.

Khoan nói đến chuyện thơ ca thì cần phải có vần điệu và tính nhạc. Sự phi lý đầu tiên đến từ màn đối thoại mang tầm vóc "bi - hài kịch" giữa một Thượng đế toàn năng, đấng tạo hóa của vũ trụ, nhưng lại đi đôi co, chấp nhặt với một viên đá. Ngài hỏi từ độ cứng, tính lấp lánh, cho đến những khái niệm thời thượng như "vật chất tối", "tiền ảo" hay "kinh tế duy tâm" - những thuật ngữ được nhồi nhét một cách thô kệch, tạo nên một nồi "lẩu thập cẩm" chữ nghĩa đầy diêm dúa mà rỗng tuếch.

Đáng buồn thay, sự ngáo ngơ mang danh nghĩa "đổi mới" này không phải hiện tượng cá biệt, mà là một căn bệnh hệ thống đang di căn thẳng vào Sách Giáo Khoa (SGK) mới. Người ta đã và đang ngang nhiên dọn sạch những áng văn chương chuẩn mực để nhường chỗ cho những "rác phẩm" tân thời vô nghĩa. Từ những bài thơ Bắt nạt của Nguyễn Thế Hoàng Linh với câu từ ngô nghê, quái gở như trò đùa con trẻ, chuỗi ký âm vô nghĩa "Triu... uýt... huýt... tu... hìu" mô phỏng chim chào mào mũ đỏ dị hợm của Mai Văn Phấn, cho đến những cấu trúc vần điệu lổn nhổn, khùng điên của Nguyễn Quang Thiều. Tất cả những thứ tạp nham đó được đóng khung trang trọng, rồi ép học sinh phải ra sức phân tích, bình luận và "ngửi" ra cái gọi là "vẻ đẹp nghệ thuật ẩn giấu".

Sự nguy hại lớn nhất của lối giáo dục này nằm ở ma trận đáp án và biểu điểm thi - nơi hợp thức hóa cho trò chơi "vẽ rắn thêm chân" đầy giả tạo. Người ta ép học sinh phải dùng những bộ công cụ lý luận văn học đao to búa lớn để uốn nắn, gọt giũa và thần thánh hóa những câu chữ rỗng tuếch. Trò không hiểu, thầy không phục, nhưng tất cả đều phải cúi đầu trước cái gọi là "đáp án chính thức". Để có điểm, những bộ óc xuất sắc nhất buộc phải tự huyễn hoặc bản thân, viết ra những lời tán dương sáo rỗng cho một ngữ liệu vô giá trị. Lối tư duy này dạy người trẻ cách nói dối có hệ thống, biến việc cảm thụ văn chương thành hành vi ngụy biện vụng về để chiều lòng những nhà làm đề "thích thể hiện".

Áp dụng đúng tâm lý học hành vi: một lời nói dối nếu lặp đi lặp lại đủ nhiều, liên tục từ ngày này qua tháng nọ trên giảng đường, bỗng chốc sẽ được xã hội thừa nhận như một chân lý. Khi thứ thẩm mỹ méo mó, dị hợm này được hợp thức hóa bằng quyền lực giáo dục, nó đang âm thầm bức tử khả năng cảm thụ văn học thực sự của cả một thế hệ. 

Hậu quả là tư duy văn học của một bộ phận lớn học sinh Việt Nam đang bị uốn cong một cách tội nghiệp. Chúng không còn biết thế nào là một câu thơ hay, một tứ văn đẹp đúng nghĩa, mà chỉ biết cung kính tán dương những điều quái dị, rỗng tuếch theo những hướng dẫn chấm bài rập khuôn. Mang thứ ngôn từ què quặt này để thử thách học sinh, các nhà làm giáo dục không chỉ đang đánh đố, mà là đang đầu độc thẩm mỹ của những bộ óc tương lai đất nước, biến văn chương - thánh đường của tâm hồn - thành một xưởng chế bản của những tư duy phong trào đầy dị hợm.

Đau đớn thay, nền văn học của Việt Nam đang dần bị bức tử bởi một lũ "người không ra người, ngợm chẳng ra ngợm"!
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: MAY MẮN QUÁ, HẠNH PHÚC QUÁ, KHI CÓ MỘT XUẤT BẢN PHẨM CỦNG CỐ NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN!

     Đời tôi cũng như nhiều người, là “con mọt sách” nên mê đọc sách, nhưng thật bất hạnh khi sách giáo khoa nay không còn 5 điều Bác Hồ dạy; thơ thấm đẫm tình yêu quê hương của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Giang Nam, Thu Bồn... cũng vắng bóng; văn của Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Nguyễn Tuân... không còn nữa. Thay vào đó là những thứ “tạp pín lù” như “Những người trồng hoa” của Nguyễn Quang Thiều, hay các sách của NXB Hội Nhà Văn như “Đức Thánh Trần” của Trần Thanh Cảnh, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh... Báo chí cũng lắm điều không vui, như báo Sài Gòn Giải Phóng - Cơ quan của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân TPHCM số ra thứ sáu 11/9/2026 loan tin Bí thư Thành ủy và Chủ tịch UBND TPHCM đều gửi “lễ vật dâng Đức Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt”!

May mắn thay, tháng 5/2026, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật đã in xong và nộp lưu chiểu tác phẩm “Lịch sử nước ta” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sách in 10.000 bản, khổ 12x19 cm, là tập truyện tranh do Phòng Xuất bản Điện tử và Dữ liệu số minh họa, lời thơ chính là bài thơ “Lịch sử nước ta” do Việt Minh Tuyên truyền bộ xuất bản tháng 02/1942.

Lịch sử là hồn cốt dân tộc hơn bốn nghìn năm. Để giáo dục tinh thần yêu nước, phát huy tự hào dân tộc, động viên toàn dân đoàn kết tham gia Mặt trận Việt Minh giành độc lập, trong thời gian ở Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác diễn ca “Lịch sử nước ta” theo thể lục bát gồm 210 câu và bảng “Những năm quan trọng”.

Bác viết rõ về tội của nhà Nguyễn:
“Tự mình đã chẳng có tài, / Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây... / Nay ta mất nước thế này, / Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà, / Khác gì cõng rắn cắn gà, / Rước voi dày mả, thiệt là ngu si... / Năm Tự Đức thập nhất niên, / Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây. / Hăm lăm năm sau trận này, / Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan, / Ngàn năm gấm vóc giang san, / Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!”

Theo “Đại cương Lịch sử Việt Nam toàn tập” của GS Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn - NXB Giáo Dục: “Triều Nguyễn thành lập là sự thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản động trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ đối với triều đại Tây Sơn... Ngay sau khi lên ngôi (1802), Nguyễn Ánh lấy niên hiệu Gia Long và các vua tiếp theo ngày càng đi sâu vào con đường phản động”.

Chủ soái của Lê Văn Duyệt chính là Nguyễn Ánh. Lê Văn Duyệt từng tháp tùng Nguyễn Ánh sang Xiêm xin quân đánh Tây Sơn. Sách “Giai thoại Văn học Việt Nam” cũng ghi Lê Văn Duyệt là quan rất hống hách. Vậy ai, tổ chức nào không hỏi ý dân mà tự phong hoạn quan này là “Đức Thượng công Tả quân”? Sao lãnh đạo TPHCM lại dâng lễ vật cho giỗ này, mà không dâng cho Thánh Gióng, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi...?

Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã thực hiện được Di nguyện “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, đất nước thống nhất 30/4/1975. Nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/194 nước thành viên LHQ, hai lần là Ủy viên không thường trực HĐBA với số phiếu rất cao.

Mừng cho vị thế đất nước và mừng hơn nữa khi NXB Chính trị Quốc gia Sự thật đã xuất bản “Lịch sử nước ta” của Bác Hồ - một xuất bản phẩm củng cố lòng tin của nhân dân giữa tình hình bát nháo của báo chí, xuất bản hiện nay. Xin cảm ơn sự lãnh đạo của Bộ Chính trị đứng đầu là đồng chí Tô Lâm và cảm ơn NXB./.
Ảnh: Nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn (lượm lặt trên mạng xã hội).
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: AI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN PHÚ THỌ?

     Đề thi môn Ngữ văn, chọn đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026 của tỉnh Phú Thọ, ngày 18/9/2025, đang đặt ra một vấn đề đáng suy nghĩ.

Câu 1 trị giá 8 điểm sử dụng đoạn thơ “Cái đẹp” của Nguyễn Vĩnh Tiến, trích Hỗn độn và khu vườn, NXB Hội Nhà văn, 2024, rồi yêu cầu học sinh nghị luận về “Cái đẹp đích thực trong cuộc sống”.

Trước hết phải nói rõ: nhà thơ có quyền sáng tạo, thể nghiệm và sử dụng những cách biểu đạt khác thường. Người đọc có thể thích hoặc không thích tác phẩm. Đó là chuyện của văn chương.

Nhưng quyền sáng tạo của nhà thơ không đồng nghĩa với việc làm ngữ liệu cho một đề thi tuyển chọn học sinh giỏi.

Đoạn thơ trong đề sử dụng cuộc đối thoại giữa “Chúa trời” và “viên kim cương”, với những liên tưởng như “siêu cứng”, “lấp lánh”, “vật chất tối”, “kinh tế duy tâm”, “tiền ảo”... Đây có thể là một lối viết thể nghiệm, nhưng khi đưa vào đề thi 8 điểm, cần đặt câu hỏi: ngữ liệu này có thật sự bảo đảm tính chính xác, khoa học, trong sáng, mạch lạc và tính sư phạm để đánh giá học sinh giỏi hay không?

Học sinh giỏi cần được tiếp cận văn học đương đại, nhưng cái mới không có nghĩa là cứ mới là phù hợp với đề thi. Ngữ liệu thi phải có giá trị tư tưởng, nghệ thuật và đặc biệt phải tạo được chuẩn đánh giá công bằng, rõ ràng giữa các thí sinh.

Vì vậy, điều dư luận cần biết không phải chỉ là “bài thơ hay hay dở”, mà là:

Ai lựa chọn ngữ liệu này? Căn cứ vào tiêu chí nào? Ai thẩm định giá trị tư tưởng, nghệ thuật và tính sư phạm? Ai phản biện? Ai duyệt đề?

Nếu quy trình đã được thực hiện đầy đủ, Sở GD&ĐT Phú Thọ càng có cơ sở để công khai, giải thích rõ với giáo viên, học sinh và dư luận.

Không nên vội quy kết cá nhân khi chưa có hồ sơ và kết luận chính thức. Nhưng cũng không thể xem đây đơn thuần là chuyện “gu văn học”.

Đề thi học sinh giỏi không phải một bài đăng văn nghệ.

Đó là công cụ tuyển chọn những học sinh xuất sắc. Vì vậy, mỗi ngữ liệu được đưa vào đề phải chịu một chuẩn mực cao hơn về tính chính xác, tính khoa học, tính sư phạm và khả năng phân loại.

Tôi kính đề nghị Sở GD&ĐT Phú Thọ làm rõ tiêu chí lựa chọn ngữ liệu và toàn bộ quy trình ra đề, phản biện, phê duyệt, để trả lời thỏa đáng những băn khoăn đang đặt ra./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: GS PHAN HUY LÊ - SỬ TẶC TRẢ THÙ? MƯỜI NĂM CHƯA MUỘN!

     Năm 2018, tôi viết bài này. Khi ấy, nhiều người cho rằng tôi quá gay gắt, thậm chí có người bảo tôi như bác sỹ nhìn đâu cũng thấy vi trùng.

Nhưng đã 8 năm trôi qua... Những điều tôi nêu khi ấy, không một tổ chức nào, một nhà sử học nào, một chuyên gia nào, hay Ban Tuyên giáo các cấp chính thức phản biện những vấn đề tôi đặt ra?

Đó là lý do mà hôm nay tôi đăng lại bài cũ 8 năm trước.

Lúc bấy giờ Dư luận đặt ra một câu hỏi khó gỡ:
Phải chăng GS Phan Huy Lê có một sự thiên kiến đặc biệt khi ông ta nhìn lại lịch sử dân tộc. có liên quan đến trực tiếp đến lịch sử gia đình,Đến người anh ruột Phan Huy Quát là sự thật hiển nhiên.

Ông Quát từng giữ nhiều chức vụ cao trong chính quyền ngụy Sài gòn, trong đó có chức Thủ tướng...

Trong khi hàng triệu người Việt Nam cầm súng chống thực dân Pháp rồi chống Mỹ. 

Phan Huy Quát lại chọn con đường chính trị đi ngược lại truyền thống quê hương Làng Đỏ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, ông tiếp tục làm việc trong bộ máy ngụy quyền miền Nam được Mỹ hậu thuẫn và cuối cùng trở thành Thủ tướng ngụy chính quyền Sài gòn.
Đó là lịch sử truyền thống gia đình không chối cãi.

Có phải vì thế mà người em trai GS sử học Phan Huy Lê mang trong mình một món nợ gia đình, nợ lịch sử, một lời nguyền và một sự phục thù lịch sử ?

Tôi cũng như nhiều người chỉ đặt câu hỏi, chứ mình đâu có quyền phán xét thay lịch sử.
Nhưng những gì xảy ra sau đó khiến người ta có quyền đặt câu hỏi.

●Phan Huy Lê từng công khai đặt vấn đề đòi xét lại hình tượng Anh hùng Lê Văn Tám.

Ông ta cho rằng cần tìm lại tư liệu gốc, xác minh sự kiện và xem xét cách ứng xử với biểu tượng Bó Đuốc Sống.

Nhưng với một biểu tượng đã đi vào ký ức của nhiều thế hệ, cách đặt vấn đề của Lê không tránh được sự hoài nghi, ngờ vực của Xã hội, gây bất bình trong giới Sử học chân chính.

Để rộng đường xét lại Lịch sử, với danh nghĩa đứng đầu ngành sử, ông cùng các tỉnh, thành phố 
tổ chức hàng loạt cuộc hội thảo, tọa đàm về Trương Vĩnh Ký, Phan thanh Giản và về triều Nguyễn, về Nguyễn Ánh, Lê văn Duyệt...và về những nhân vật lịch sử còn nhiều tranh cãi.

Chính vì đó, Tôi không phản đối việc nghiên cứu lại lịch sử bằng tư liệu chính thống tin cậy.

Nhưng nghiên cứu lại không có nghĩa là ĐẢO NGƯỢC TRẮNG THÀNH ĐEN và NGƯỢC LẠI càng không thể vì hai chữ “KHÁCH QUAN” mà quên mất hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Đến bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập, vấn đề càng trở nên rõ ràng hơn.
Ở những tập viết về thời kỳ 1954–1975, cách gọi các lực lượng, ngụy quyền miền Nam đều bị Lê đánh tráo khái niệm.

Vứt bỏ những thuật ngữ quen thuộc như “ngụy quân”, “ngụy quyền”, “tay sai”, “đánh thuê cho Mỹ” trong giai đoạn chống Mỹ (1954-1975).

Có người nói: đó là thay đổi cách tiếp cận mới, để sử học khách quan hơn.

Tôi xin hỏi ông Lê và các học trò, đệ tử ruột cuả ông

Nếu một chính quyền được thành lập và sống còn nhờ đồng đôla của Hoa Kỳ. 
Nếu Mỹ trực tiếp đưa quân vào Việt Nam, tiến hành chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam, thì khi viết lịch sử về giai đoạn ấy, có nên xóa bỏ hoàn toàn những khái niệm đã từng được sử dụng để phản ánh bản chất quan hệ ấy không?

Nếu không dùng chữ “ngụy”, xin hãy giải thích.

Tôi không cho rằng cứ bỏ một chữ là có thể thay đổi được bản chất một giai đoạn lịch sử.

Nhưng chữ dùng trong sách sử không được phép tùy tiện..
Một chữ có thể thay đổi sự nhìn nhận về lịch sử và cuộc chiến của thế hệ sau.

Năm 2018, những tranh luận quanh Bộ Quốc sử 30 tập cũng đã bùng lên.

Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Thượng tướng Võ Tiến Trung và GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn đã trực tiếp gặp Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam để trình bày những ý kiến của mình.

GS.TS Vũ Minh Giang và đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ cũng tham dự cuộc làm việc.

Điều đáng chú ý là tại thời điểm ấy, chính Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết bộ Quốc sử vẫn đang trong quá trình biên soạn, phải qua quy trình nghiệm thu, những vấn đề phức tạp phải được xem xét và báo cáo cấp có thẩm quyền.

Những ý kiến ấy được tiếp thu đến đâu?
- Điểm nào được sửa?

- Điểm nào không sửa?

- Ai chịu trách nhiệm trả lời?

Đến nay vẫn chưa thấy một văn bản công khai nào trả lời đầy đủ những câu hỏi ấy.

Và 
Năm 2021, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trong chuyến thăm Hoa Kỳ đã tặng bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập cho chương trình Việt Nam học tại Đại học Columbia.

Tôi không phản đối việc quảng bá lịch sử Việt Nam ra thế giới.

Nhưng trong nước đã và đang có những tranh luận gay gắt về cách viết, cách dùng thuật ngữ, và những vấn đề còn phải thẩm định, thì câu hỏi về quy trình nghiệm thu và trách nhiệm học thuật càng cần được trả lời rõ ràng.

Một bộ sử được đem làm quà tặng đối ngoại thì đương nhiên phải là sản phẩm mà Nhà nước hoàn toàn yên tâm về nội dung và quy trình khoa học.

- Vậy ai nghiệm thu?
- Nghiệm thu khi nào?

- Nội dung nào đã được thẩm định?

- Những kiến nghị phản biện năm 2018 được xử lý ra sao?

Có người đã hỏi tôi:

“Ông viết bài này từ năm 2018. Phan Huy Lê đã mất nhiều năm rồi, còn đào lại làm gì?”

Nhưng tôi lại nghĩ khác.

Người đã mất thì không thể trả lời. 
- Nhưng những công trình lịch sử thì vẫn còn đó.
- Sách vẫn còn đó.
- Những câu chữ vẫn còn đó.
- Những quan điểm được công bố vẫn còn đó.

Và lịch sử thì không có thời hạn 5 năm, 10 năm hay 100 năm.

Tôi là một người lính đã đi qua chiến tranh.
Tôi hiểu một điều rất đơn giản:

- Một dân tộc có thể mở cửa với thế giới.

- Có thể hòa giải.
- Có thể hợp tác.
- Có thể nhìn lại quá khứ bằng một tâm thế tự tin hơn đàng hoàng hơn.

- Nhưng hòa giải không đồng nghĩa với xóa nhòa lịch sử.

- Khách quan không đồng nghĩa với cào bằng chính nghĩa và phi nghĩa.
Và càng không thể lấy danh nghĩa “tôn trọng sự thật lịch sử” để né tránh những sự bảo vệ anh trai và gia đình./.




#QV-ST!

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: THƯ NGỎ: ĐÔI LỜI GỞI ĐẾN LÃNH ĐẠO BỘ GIÁO VÀ DỤC ĐÀO TẠO!

⁃ Kính thưa quý Đồng chí lãnh đạo của Bộ!
⁃ Thưa các vị chuyên gia đã và đang tham mưu cho Bộ về Chương trình giáo dục phổ thông các cấp!

Cách đây hơn ba tuần trên Chương trình thời sự buổi sáng của VTV1 đã đưa tin: Vào năm học 2022-2023 trở đi trong bảy môn học bắt buộc cho lớp 10 và PTTH không có môn lịch sử. Nghe xong thông tin này tôi bán tín, bán nghi phải chăng VTV đưa tin nhầm, hay tôi nghe không rõ. Bởi vì tôi cảm nhận không thể Ngành giáo dục Việt Nam, với quan điểm giáo dục Mác xít và lấy Tư tưởng của Bác Hồ làm nền tảng lại có chuyện lạ đời như vậy, đặc biệt là sau sự kiện 2012, khi mà cũng quý Bộ đã đề xuất bỏ môn sử mà tích hợp nội dung lịch sử vào các môn học khác như giáo dục công dân, giáo dục QPAN ...đã bị dư luận xã hội phản đối mạnh mẽ, thậm chí có người mạnh miệng cho rằng trong Bộ GDĐT có người đã tự diễn biến, tự chuyển hoá, phá hoại nền giáo dục XHCN của chúng ta. Trước dư luận đó Quốc hội phải đưa ra thảo luận và nếu tôi nhớ không nhầm thì QH buộc phải ra một Nghị quyết chuyên đề yêu cầu không được bỏ môn lịch sử ... và lúc đó khi nói chuyện thời sự, với tinh thần thẳng thắng tôi đã nói “nếu tôi được làm Thủ tướng, tôi sẽ cách chức ngay Bộ trưởng Bộ GDĐT và người tham mưu bỏ môn sử“. Thế cho nên nay nghe Thông tin các vị gián tiếp bỏ môn sử, tôi thực sự thấy lạ lùng và nghĩ rằng không thế có điều này. Chính vì vậy mà tôi đề nghị với các đồng chí có trách nhiệm nắm lại thử có điều đó hay không, và câu trả lời là đúng đã có quyết định như vậy của Bộ nhà. (Một anh bạn của tôi đã nhắn tin hỏi một lãnh đạo của Bộ và đã được trả lời chính xác như vậy đồng thời cũng đã được nghe lý giải vì sao không đưa môn lịch sử thành môn học bắt buộc ở cấp PTTH- nội dung giải thích đúng như nội dung ông Nguyễn Minh Thuyết với tư cách là Tổng chủ biên Chương trình giáo dục mới trả lời phỏng vấn trên VTC News đã bị cộng đồng mạng tuyệt đại phản đối).

Như vậy là đã rõ, lại một lần nữa Bộ lại tìm cách “bỏ“ môn lịch sử, lần này là ở cấp PTTH. Tôi xin quý đồng chí đừng vội giải thích rằng chúng tôi không bỏ hoặc quy cho tôi vu khống Bộ vì không bỏ mà nói “bỏ“. Thực ra các vị đã muốn bỏ từ lâu, song sức ép của xã hội và của người dân yêu nước các vị không dám công khai bỏ mà tìm cách gián tiếp bỏ ở cấp cao nhất của giáo dục phổ thông, đó là đưa môn sử trở thành môn tự chọn, và tất nhiên học sinh sẽ rất ít và rất rất ít em chọn môn sử (tôi còn nhớ tại thành phố Đà Nẵng đã có năm Hội đồng thi PTTH chỉ có một thí sinh dự thi môn lịch sử).

Một câu hỏi đặt ra: Tại sao Bộ Giáo dục Đào tạo lại tìm mọi cách để hạ thấp vai trò, vị trí của môn Lịch sử trong suốt 10 năm qua? Một môn mà bất cứ quốc gia nào cũng quan tâm (Trung Quốc xác định Lịch sử là một trong ba môn học quan trọng nhất, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ cũng xác định là môn bắt buộc học trong tất cả các cấp học...), và đặc biệt nền giáo dục XHCN với quan điểm dạy chữ là dạy người, giáo dục là nền tảng để đào tạo ra những con người mới XHCN, những con người yêu nước, yêu CNXH, có phẩm chất đạo đức và có năng lực hoạt động, vừa hồng, vừa chuyên góp phần xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì càng phải quan tâm đặc biệt đến môn Lịch sử.

Để trả lời câu hỏi này, tôi hoàn toàn không thể có câu trả lời nào khác là các đồng chí lãnh đạo Bộ đã xa rời Tư tưởng về giáo dục của Bác Hồ “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam", xa rời quan điểm về Văn hoá của Đảng ta mà mới nhất ngay đầu năm tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc đã nhắc lại “”Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội: Văn hoá còn dân tộc còn; phải giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc ...” và đặc biệt với cách làm đó đã vô tình hay cố ý tiếp tay cho những kẻ xét lại lịch sử (bởi vì khi đã làm cho xã hội mù sử thì đó là mãnh đất tốt để gieo mầm đổi trắng thay đen trong lịch sử, mà cuộc xung đột vũ trang ở Ucraina là tấm gương nhãn tiền trong việc nã đại bác vào lịch sử để rồi đưa cả dân tộc vào thảm họa), đồng thời cũng nằm trong âm mưu Diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch mà Mỹ là ông trùm xét lại lịch sử thế giới.

Thưa các đồng chí lãnh đạo của Bộ, mong các vị hãy vào mạng xã hội để nghe ai bảo vệ quan điểm loại môn sử ra khỏi môn học bắt buộc và ai phản đối mạnh mẽ sự việc này, để từ đó mà tự bạch lòng mình đã có trách nhiệm với lịch sử dân tộc hay chưa. Tôi xin khẳng định bất cứ ai hạ thấp xem thường và cố tình làm mù lịch sử đều là những người vô trách nhiệm với tiền nhân , vô cảm với thực tại và gây hậu quả tai hại với tương lại.

Với tấm lòng yêu nước của một người cháu của Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, là con của hai Liệt sĩ, là chiến sĩ Biệt động giải phóng hoạt động trong lòng thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi chân thành đề nghị các đồng chí hãy nhìn lại mình, nhận ra sai lầm khuyết điểm để tự sửa khi còn chưa muộn, đừng cho đây là việc nhỏ chỉ là một môn học mà hãy nhớ rằng lịch sử là cội nguồn dân tộc, lịch sử còn văn hoá còn, lịch sử mất văn hoá mất, văn hoá mất dân tộc mất, do vậy vấn đề học sử là vấn đề đại sự quốc gia xin chớ có xem thường.

Cuối thư xin gởi đến các đồng chí lãnh đạo của Bộ lời chào trách nhiệm!
Chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam!
Bài và ảnh:Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nguyên cục trưởng cục tuyên huấn QĐNDVN.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: CON EM CHÚNG TA ĐANG HỌC “NGỮ VĂN” TỪ NHỮNG TÁC GIẢ NHƯ THẾ NÀO???

     Dạy văn, suy cho cùng, là dạy người. Văn học không chỉ nuôi dưỡng tâm hồn, cảm thụ cái đẹp, mà còn góp phần hình thành nhân cách, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước và ý thức trách nhiệm với cộng đồng.

Bởi vậy, một tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa không còn đơn thuần là một sản phẩm văn chương, mà trở thành một giá trị giáo dục được trao vào tay thế hệ tương lai. Và nhìn vào một số tác phẩm đang hiện diện trong sách giáo khoa thời gian qua, không khỏi khiến người ta phải đặt câu hỏi: Con em chúng ta đang học Ngữ văn từ những tác giả như thế nào?

Và câu chuyện về tác giả bài thơ “Bắt nạt” đang gây bức xúc thời gian qua lại một lần nữa khiến câu hỏi ấy trở nên nóng bỏng và cần một lời giải hơn bao giờ hết.

Mấy ngày nay, câu chuyện về bài thơ “Bắt nạt” lại xôn xao trên các diễn đàn mạng xã hội. Về việc bài thơ ấy hay dở thế nào thôi khỏi bàn nhé, bởi đọc vào thì ai cũng thấy rồi, tôi cũng vào trang FB cá nhân tác giả, đọc xem hắn ta đang viết gì, nghĩ gì và đối thoại với những người không đồng tình với bài thơ của hắn ra sao. Đọc những dòng trạng thái, lướt qua những câu trả lời dưới phần bình luận, thú thật, đập vào mắt mình là hình ảnh của một con người vô cùng tầm thường, mang nặng tính ái kỷ, lúc nào cũng tự đề cao bản thân đến mức ngạo mạn.

Một kẻ có phông văn hóa thấp, văn hóa giao tiếp và ứng xử cực kỳ kém cỏi, luôn giữ thái độ trịch thượng, bề trên. Ở đó, người ta bắt gặp những ngôn từ chợ búa, miệt thị thô lỗ khi hắn ta gọi những ai dám chê bai tác phẩm của mình là lũ "a dua", "bọn đần độn", "đọc hiểu kém", "láo như nồi thất học", thậm chí trịch thượng thách thức cả cộng đồng bằng câu nói cửa miệng "thử làm xem, thách cả họ nhà mày".

Nhưng dừng lại ở đó thì vẫn chưa đủ để thấy hết mức độ bất thường của con người này. Bắt đầu xuất hiện những luồng thông tin trên mạng xã hội liên quan đến thái độ chính trị đầy vấn đề và góc khuất tư tưởng của nhân vật. Cảm thấy có điều gì đó cần phải làm sáng tỏ, mình quyết định lội ngược dòng thời gian để kiểm chứng tận gốc trước khi đặt bút viết những dòng này.

Và càng lội về quá khứ, bức tranh về nhân vật ấy càng hiện lên rõ mồn một với một chuỗi những phát ngôn ngông cuồng, xấc xược, mang tư tưởng lệch lạc. Hóa ra, câu chuyện của Nguyễn Thế Hoàng Linh chưa bao giờ chỉ dừng lại ở một bài thơ ngô nghê trong sách giáo khoa. Đằng sau cái tên đó là một cá nhân từng không ít lần công khai đăng tải những bài viết công kích trực diện hệ thống chính trị và chủ quyền quốc gia.

Hắn ta từng viết tút công khai châm biếm Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất của Việt Nam “họp như lảng tránh…toàn bọn dối gian”!??? Đến cao điểm năm 2018 xung quanh Dự thảo Luật Đặc khu, bản chất xuyên tạc càng lộ rõ khi hắn ta rêu rao rằng những người đứng đầu Chính phủ đang "nóng lòng dâng 3 hòn đảo quan trọng làm đặc khu cho nhà đầu tư nước ngoài trong 99 năm mà ứng cử viên tiềm năng nhất là TQ".

Không dừng lại ở đó, hắn ta còn dùng những từ ngữ bẩn thỉu để thóa mạ bộ máy quản lý, cho rằng "với những thứ sai trái ngang nhiên như BOT…chúng ta thừa hiểu chính phủ… vừa tham, vừa hèn, vừa bẩn thế nào", hay thậm chí quy chụp trơ trẽn rằng "điều khó khăn lớn nhất hiện tại của người Việt Nam là sinh tồn với một chính phủ hạ đẳng sẵn sàng bán nước như vậy" và "nếu không có sức ép bên ngoài từ Mỹ, từ Trung Quốc, từ viện trợ của Nhật, Đức…chính phủ còn lộng hành hơn nhiều". 

Trong các bài viết về ngoại giao, tay trái thì viết tút bài bác Trung Quốc, nhưng tay phải hắn ta đã kịp đưa ra luận điệu phi lý cho rằng Việt Nam phải nhờ Mỹ bảo kê, đưa tàu chiến quanh biển Đông, thậm chí nên “cho Mỹ thuê các đặc khu này làm một lớp lá chắn bảo kê ". Đỉnh điểm của sự ngạo mạn lố bịch là khi hắn ta viết những lời nhắn gửi với giọng điệu bề trên đối với nhà lãnh đạo nước ngoài rằng "và điều anh muốn nói với Tập Cận B là anh với chú đều là cao thủ thế giới... Anh vẫn chưa nỡ ghi thơ mắng chú nên chú đừng để anh phải làm như vậy. Anh cảm ơn"!??

Nếu hắn ngạo mạn, phát ngôn ngông cuồng như vậy, thì đây đơn thuần là vấn đề của cơ quan chức năng xác minh, xử lý, nhưng điều đáng nói hơn là bài thơ "Bắt nạt" của hắn lại chễm chệ nằm trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 (Tập 1).

Đặt sự việc này vào bức tranh rộng hơn của đời sống văn học, nghệ thuật và giáo dục, dư luận càng có lý do để đặt câu hỏi về bộ lọc trong lựa chọn, biên soạn và thẩm định ngữ liệu sách giáo khoa của cơ quan có thẩm quyền.

Và "Bắt nạt" không phải trường hợp cá biệt.

Vẫn còn đó “Đường vào trung tâm vũ trụ” (trích Thiên Mã) của Hà Thủy Nguyên - kẻ đã có những bài viết, bài nói có dấu hiệu xuyên tạc, xúc phạm vô văn hóa đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường xuyên giao du với số cơ hội, trở cờ như Nguyễn Q.A, Nguyên N, Chu H mà không ít lần VTV, ANTV đã đưa lên bản tin và gạch mặt; vẫn còn đó truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh - người từng vấp phải nhiều tranh luận về cách nhìn chiến tranh, lịch sử và người lính; vẫn còn đó bài thơ "Tiếng vọng" của Nguyễn Quang Thiều - người đã bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét vi phạm và kỷ luật cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng liên quan đến những sai phạm nghiêm trọng tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn trong vụ phát hành ấn phẩm tai tiếng Chuyện với Thanh (mà tác giả của nó là Nguyễn Thành Nam đã bị khởi tố về tội xâm phạm an ninh quốc gia).

Nghiêm trọng hơn, dư luận thời gian qua cũng đặt ra không ít nghi vấn và bức xúc vì trong các vị trí chủ biên, ban biên soạn chương trình sách giáo khoa lại xuất hiện những cái tên được cho là nằm trong “Nhóm 72” từng có kiến nghị đòi “đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp”.

Rõ ràng đây không phải những hiện tượng đơn lẻ. Đặc biệt trong bối cảnh giáo dục luôn là mũi tấn công hàng đầu trong chiến lược "diễn biến hòa bình" hòng làm phai nhạt lý tưởng thế hệ trẻ, tạo nguồn cho các cuộc "cách mạng màu", bạo loạn và lật đổ, dư luận hoàn toàn có quyền đặt ra những dấu hỏi lớn: Phải chăng cơ quan thẩm định đã thiếu đi sự nhạy bén chính trị tối thiểu, hay đằng sau đó còn có những toan tính, động cơ gì trong khâu tuyển chọn ngữ liệu?

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi". Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa đối với sự trường tồn của dân tộc. Và rất đáng chú ý, mới đây, tại buổi làm việc về kết quả một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu rà soát, hoàn thiện sách giáo khoa và học liệu; kịp thời điều chỉnh những nội dung bất cập, nhất là ở các môn học trực tiếp góp phần hình thành nhân cách, lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến, trong đó có Tiếng Việt, Ngữ văn.

Thế nhưng, nhìn lại những gì đang diễn ra, dư luận không khỏi bàng hoàng đặt câu hỏi: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiếp thu những chỉ đạo sâu sắc ấy như thế nào trong công tác biên soạn và thẩm định? Làm sao có thể vun đắp lòng yêu nước, xây dựng nhân sinh quan và tư tưởng tốt đẹp cho thế hệ trẻ, nếu như trong những trang sách giáo khoa chính thống vẫn dung dưỡng tác phẩm của những người có nhân cách lệch lạc, tư tưởng bất mãn với chế độ?

Văn chương có thể đa dạng. Nghệ thuật có thể khác biệt. Nhưng giáo dục thì không thể vô nguyên tắc. Học chữ phải đi cùng học làm người, học yêu Tổ quốc. Sách giáo khoa không phải là bãi rác để dung túng cho những sản phẩm kém chất lượng và càng không thể là nơi dung dưỡng mầm mống tư tưởng phản trắc, bất mãn. Hệ lụy của sự buông lỏng này sẽ vô cùng nguy hại nếu chúng ta tiếp tục để tâm hồn thế hệ tương lai rơi vào những “bộ lọc” lỏng lẻo và thiếu trách nhiệm.

Đã đến lúc cần một câu trả lời nghiêm túc, minh bạch từ những cơ quan có trách nhiệm. Văn chương chân chính luôn cần sự khiêm nhường, và sự tôn trọng nhân dân, tôn trọng đất nước chính là thước đo phẩm giá bền vững nhất của người cầm bút. Sách giáo khoa của quốc gia cần phải được làm sạch từ gốc, bắt đầu từ một bộ lọc thật sự khắt khe, công tâm và vì sự trường tồn của Tổ quốc!
#QV-ST!

ĐÔI LỜI VỀ NHÂN VẬT LÊ VĂN DUYỆT!

     Lê Văn Duyệt, vị đại thần triều Nguyễn, người có công lớn giúp Nguyễn Ánh thắng quân Tây Sơn, thành lập vương triều nhà Nguyễn. Mấy năm gần đây, chẳng hiểu vì sao người ta lại hoành tráng hoá, đưa Lê Văn Duyệt từ nhân vật gây tranh cãi trở thành Anh hùng dân tộc. Tổ chức, cá nhân một số địa phương tổ chức cúng tế linh đình, xem Lê Văn Duyệt chẳng khác nào đấng cứu thế của cả dân tộc có bề dày lịch sử gần 5000 năm. Xin có đôi lời như sau:

Lê Văn Duyệt theo Nguyễn Ánh từ những ngày đầu. Nếu như Gia Long được xem là chúa tể “cõng rắn cắn gà nhà/rước voi giày mả tổ” thì Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức…là những trợ thủ đắc lực cho người cầm đầu ấy. Sau khi Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, Lê Văn Duyệt là trợ thủ đắc lực oogn được giao nhiều trọng trách. Tháng 6 (âm lịch) năm 1812, vua Gia Long cho triệu tổng trấn Gia Định thành Nguyễn Văn Nhơn về, cử Lê Văn Duyệt vào thay (kiêm lĩnh cả 2 trấn Bình Thuận, Hà Tiên) và cho Trương Tấn Bửu làm phó tổng trấn, Ngô Nhân Tịnh làm hiệp (tổng) trấn. 

Khi Gia Long qua đời, Lê Văn Duyệt bất phục vua Minh Mạng, đi ngược chính sách triều đình. Minh Mạng lấy nho học làm nền tảng, trong khi đó Lê Văn Duyệt chủ trương thân thiện với người Pháp, Anh. Lê Văn Duyệt là kích động Người Chăm ly kha khỏi Đại Nam. Sau ngày từ trần của Po Klan Thu vào năm 1828, vua Minh Mệnh tìm cách đưa người trung thành với mình lên làm quốc vương Champa trong khi đó Lê Văn Duyệt quyết định giao quyền quốc vương Champa cho Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) tức là phó vương dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) và cũng là con của vua Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), một vị chiến hữu của vua Gia Long.

Sau ngày lên ngôi của Po Phaok The vào năm 1828, vương quốc Champa chấm dứt mối liên hệ với triều đình Huế, chỉ gửi triều cống cho Lê Văn Duyệt. Kể từ đó, nhân dân Champa hoàn toàn đặt dưới quyền che chở của tổng trấn Gia Định Thành, không còn phục tùng vua Minh Mệnh. Nếu Lê Văn Duyệt thành công trong việc chia cắt đất nước thì có lẽ là thế cục "Trịnh Nguyễn phân tranh" lần hai sẽ xẩy ra. Hồng phúc cho đất nước là Lê Văn Duyệt khi đó đã già và sớm ra đi. Kết quả là sau khi Lê Văn Duyệt mất, con nuôi là Lê Văn Khôi tạo phản và bị Minh Mạng tru diệt. Lê Văn Duyệt bị vua Minh Mạng cho đào mồ cuốc mả. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc Minh Mạng tận diệt người Chăm Pa năm 1832. Chính Lê Văn Duyệt chứ không phải ai khác, là kẻ kích động chia rẽ, thù địch dân tộc, dẫn đến các cuộc nội chiến sau này; đất nước bị hoang tàn vì khói lửa chiến tranh, Gia Định thành bị tàn phá nặng nề, nhân dân lầm than. Khi vua Minh Mạng đánh bại Lê Văn Khôi thì quốc lực theo đó suy giảm. Minh chứng là sau khi vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị nối ngôi đã không đủ lực để duy trì và buộc phải rút quân khỏi Trấn Tây Thành. Nếu cha con Lê Văn Duyệt không tạo phản, ly khai thì bản đồ nước ta không nhỏ hẹp như hôm nay. Không hiểu Lê Văn Duyệt có công lao gì với Gia Định Thành, có công lao gì với đất nước để được thần thánh hóa như hôm nay?

Lê Văn Duyệt được hoành tráng hoá, thần thánh hóa và hàng năm được tổ chức giỗ linh đình, chẳng hiểu vì lý do gì . Lê Văn Duyệt không xứng được nhận lễ nghi tôn kính bậc nhất Việt Nam như thế. Việt Nam có hàng ngàn, hàng vạn người công cao hơn Lê Văn Duyệt. Nếu nói về công lao khai phá và mạch nguồn cho dòng chảy Gia định thành, Sài Gòn - Gia Định hay thành phố Hồ Chí Minh thì người đầu tiên phải được nhắc đến là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh chứ không phải Lê Văn Duyệt.

Theo Đại Nam thực lục tiền biên thì vào tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu phong Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất, cử vào kinh lược xứ Đồng Nai. Theo đường biển, thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai đến ở tại Cù lao Phố. Từ đấy, Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Đất đai mở rộng ngàn dặm, cho chiêu mộ lưu dân từ Bố Chánh châu (Quảng Bình) trở vào, đến ở khắp nơi, đặt ra phường, ấp, xã, thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh, điền và lập bộ tịch đinh điền. Từ đó con cháu người Hoa ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch.

Sách Đại Nam liệt truyện (Tiền biên, quyển 1) ghi công: Nguyễn Hữu Cảnh đã chiêu mộ dân phiêu tán từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vào Nam vào đất ấy (tức đất Trấn Biên và Phiên Trấn), rồi đặt xã thôn, phường ấp, định ngạch tô thuế và ghi tên vào sổ đinh. Và cũng theo Trịnh Hoài Đức thì nhờ Nguyễn Hữu Cảnh mà đất đai mở rộng hơn ngàn dặm, dân số có thêm bốn vạn hộ. Vậy nên người có có công lao khai phá, mở rộng và ổn định vùng đất phía nam phải là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Lê Văn Duyệt tội nhiều hơn công, sao lại cúng tế linh đình; nâng tầm như thể là anh hùng dân tộc? Thật khó hiểu./.
---------
P/s: Tài liệu tham khảo:
1. Tiền biên, quyển 8, tr. 14a dẫn theo Danny.
Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục Chính Biên, Đệ nhất kỷ, bản dịch của Viện Sử học, tái bản lần 1, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, tr. 306

2. Quốc Triều Chính Biên Toát yếu, bản tiếng Việt do Quốc Sử Quán dịch - Nhà xuất bản Nghiên cứu Sử Địa Việt nam 1972, tr. 81.

3. Công trình nghiên cứu khoa học về 33 năm cuối của Vương quốc Chăm-pa của Giáo sư người gốc Chăm Po Dharma , kể từ năm 1802, năm lên ngôi của Nguyễn Ánh tại Huế với danh hiệu Gia Long, người đã có công tái lập lại cơ chế độc lập của Champa, cho tới năm 1835 với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa cuối cùng do Ja Thak Wa lãnh đạo, dẫn đến việc vua Minh Mạng sát nhập phần lãnh thổ cuối cùng của Chăm-pa vào nước Đại Nam./.
#QV-ST!