Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

TỈNH TÁO VỚI CHIÊU TRÒ MƯỢN CÁC DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ ĐỂ CHỐNG PHÁ!

     Trong thời đại công nghệ số với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, tư tưởng của con người rất dễ bị chi phối bởi các dòng thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là khi nó được thế lực thù địch, cơ hội chính trị mượn các diễn ngôn chính trị làm phương tiện để thao túng. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện và phê phán những chiêu trò ẩn giấu sau những diễn ngôn chính trị là rất cần thiết, có ý nghĩa góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những hệ lụy khôn lường từ diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”

Diễn ngôn chính trị là kiểu diễn ngôn đề cập đến các vấn đề quản lý xã hội, khi nó thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề quản lý nhà nước. Diễn ngôn chính trị không chỉ giới hạn trong phát biểu của các chính trị gia mà còn được thể hiện qua các văn kiện pháp lý, chiến dịch truyền thông, các cuộc tranh luận công khai và hiện nay nó tồn tại cả ở các phương tiện truyền thông đại chúng, trên các nền tảng mạng xã hội hiện đại. Do tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại” bởi các chủ thể khác nhau nên diễn ngôn chính trị luôn chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực.

“Đồng phục tư tưởng” là một diễn ngôn chính trị đã xuất hiện từ lâu, nhưng gần đây nhất nó được các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến mang tâm thế chống phá “diễn lại” qua một số bài viết trên mạng xã hội. Ẩn chứa đằng sau cụm từ gợi hình này là những chiêu trò mang vẻ “khoa học giả định” nhưng lại nhằm mục đích phê phán, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi nhắc đến “đồng phục tư tưởng”, nhiều người, nhất là những người thiếu nhãn quan chính trị sắc bén sẽ dễ dàng chấp nhận nó và xem đó là cách “đặt lại vấn đề” về sự đa dạng tư tưởng, dung nạp chính trị và sự tôn trọng lịch sử đa chiều, mà đâu biết rằng nó đã và đang tạo ra những hệ lụy hết sức nguy hại trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, tạo ra sự hoài nghi đối với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi sử dụng diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”, các thế lực thù địch đã cố tình dùng lối nói bóng bẩy nhằm gán ghép sự lãnh đạo tư tưởng của Đảng thành thứ gì đó “áp đặt”, “độc đoán”. Đây là cách họ tiêm nhiễm công chúng, khiến một số người, nhất là giới trẻ và những người chưa có hiểu biết lý luận dần nghi ngờ và không còn tin tưởng vào hệ tư tưởng của Đảng. Một khi sự nghi ngờ len lỏi, họ sẽ nghĩ rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “đã lỗi thời” hoặc “không còn phù hợp” và dần mất niềm tin. Khi gán nhãn “đồng phục tư tưởng” lên Chủ nghĩa Mác-Lênin và tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch còn hướng tới phủ định công lao và nỗ lực phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không tỉnh táo trước diễn ngôn này, người dân sẽ ngộ nhận rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam không có sự đổi mới trong tư duy, tư tưởng mà chỉ có sự rập khuôn máy móc, chỉ có “một màu duy nhất”, và khi đó, niềm tin vào nỗ lực đổi mới của Đảng bị suy giảm, không chỉ trong nhân dân, mà thậm chí còn cả trong chính nội bộ Đảng.

Thứ hai, chia rẽ và kích hoạt xung đột nhận thức. Khi bị tiêm nhiễm vào cái gọi là “đồng phục tư tưởng”, nhiều người sẽ cho rằng sự thống nhất trong công tác tư tưởng là “sự ép buộc” và không thấy được sự cần thiết của tính thống nhất trong đường lối cách mạng. Diễn ngôn này đã và đang tạo ra sự xung đột, phân hóa giữa các thế hệ và các vùng miền. Chẳng hạn, một bộ phận những người từng gắn bó với chế độ cũ (hoặc thế hệ kế cận họ), khi nghe đến cụm từ “đồng phục tư tưởng”, họ dễ liên tưởng đến hình ảnh bị “áp đặt”.

Trong khi đó, một số người hoặc các thế hệ trẻ lớn lên trong thời bình, ít va chạm trực tiếp với quá khứ lại không chia sẻ cảm xúc hoặc ít đồng cảm. Hệ quả là, thay vì tìm thấy mẫu số chung để hòa giải ký ức và tăng cường gắn kết, các bên lại sa vào những tranh luận không đáng có, nhất là khi lại dựa trên cảm xúc lịch sử nhiều hơn lý trí và sự thấu hiểu toàn diện. Điều này vô tình “đóng băng” những mâu thuẫn lịch sử vốn có thể được hóa giải qua đối thoại và xây dựng niềm tin. Diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” đã lợi dụng chính những vết rạn lịch sử và cảm xúc chia rẽ, biến nó thành chất xúc tác cho xung đột ý thức hệ, từ đó kích động và khơi dậy những nghi ngờ đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ ba, tạo ra nguy cơ “phân mảnh” hệ giá trị trong một xã hội đang cần sự đồng thuận cao. Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, khi những biến động địa-chính trị, xung đột lợi ích, khủng hoảng giá trị và âm mưu “diễn biến hòa bình” len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống, thì sự nhất quán trong hệ giá trị cốt lõi càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Với Việt Nam, hệ giá trị đó chính là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Đây không phải là khuôn mẫu khép kín, mà là nền tảng linh hoạt, dẫn dắt tiến trình đổi mới tư duy và hành động một cách kiên định... Vậy nên, diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” chính là thủ đoạn nhằm gieo rắc sự hoài nghi đối với tính chính danh và khả năng quy tụ niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, làm lệch hướng phản biện, dễ dẫn tới phản kháng cực đoan hoặc thờ ơ chính trị. Khi “đánh đồng” tư tưởng và công tác tư tưởng là một dạng “đồng phục”, các thế lực thù địch đã sử dụng thủ pháp đánh tráo khái niệm nhằm tầm thường hóa tư tưởng (vốn là nền tảng nhận thức, lập trường và phương hướng hành động) như một dạng hình thức bề ngoài có thể thay đổi tùy hứng. Bởi trong lẽ thông thường, “đồng phục” thường gợi liên tưởng về sự đồng đều, thống nhất, nhưng đồng thời cũng ngầm ám chỉ sự đồng hóa, mất cá tính. Đây là cách họ dẫn dắt đến luận điểm: Nếu tư tưởng chỉ là “đồng phục” thì nên được “đổi mẫu”, “thay mới” theo mùa, theo thời gian, vì thế, nó cũng khiến người dân rơi vào tình trạng thờ ơ chính trị và cho rằng “tư tưởng nào cũng được, không cần quan tâm”.

Thực tiễn ở Việt Nam không có cái gọi là “đồng phục tư tưởng”

Về bản chất, diễn ngôn chính trị thường mang tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại”. Tuy nhiên, cái nguy hại không thể hiện ở diễn ngôn, mà nằm ở cách diễn ngôn đó được dùng để đánh tráo khái niệm. Vậy nên, chúng ta cần lý trí tỉnh táo để nhận diện, cần bản lĩnh để phản biện và cần tri thức để lý giải thấu đáo, khoa học.

Trước hết, cần nói rằng, tư tưởng không phải “đồng phục”, mà là cốt lõi của bản lĩnh dân tộc. Tư tưởng là những suy nghĩ, quan điểm, niềm tin mang tính cá nhân. Nhưng khi vượt ra khỏi giới hạn cá nhân để hòa quyện với những đòi hỏi sâu xa của thời đại, với nhu cầu vận động của xã hội và lịch sử thì nó không còn là tư tưởng đơn lẻ mà trở thành hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng không phải là sản phẩm tức thời hay ngẫu nhiên. Nó được hình thành qua quá trình kết tinh lịch sử: Từ điều kiện vật chất-xã hội cụ thể, từ lợi ích và yêu cầu chính đáng của các giai cấp, từ chiều sâu văn hóa-lịch sử và đặc biệt từ vai trò sáng tạo, tổng kết, lý giải thực tiễn của con người. Vì thế, hệ tư tưởng không thể bị giản lược, không thể xếp vào thứ “trang phục” tinh thần theo kiểu “khoác lên” rồi “cởi bỏ”. Ví von tư tưởng là “đồng phục” để rồi hô hào “cởi bỏ” là một chiêu trò nhằm tầm thường hóa những gì thuộc về chiều sâu lý luận chính trị khoa học và bản lĩnh dân tộc. 

Với Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn. Đây không phải là “bộ cánh của quá khứ” mà là kim chỉ nam, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và tiếp tục soi đường trong kỷ nguyên mới.

Trong dòng chảy lịch sử, thế giới từng chứng kiến nhiều mô hình chính trị khắc nghiệt, nơi tư tưởng bị đồng hóa, sáng tạo bị trấn áp và phản biện trở thành điều cấm kỵ. Nhưng tại Việt Nam, thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã cho thấy một hướng đi khác: Không gian tư tưởng không bị bóp nghẹt mà được nuôi dưỡng trong tinh thần đổi mới, khoa học và nhân văn. Đảng không chỉ kiên định với nền tảng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn chủ động cập nhật yêu cầu thời đại, mở rộng cánh cửa cho phản biện xây dựng và sáng tạo đổi mới. Phản biện không bị xem là đối lập mà được xem là nghĩa cử có trách nhiệm với sự nghiệp phát triển đất nước. Sáng tạo không bị gò bó, mà được khơi nguồn từ chính thực tiễn đời sống sôi động, từ tiếng nói của nhân dân, của trí thức, nhà khoa học, cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn 40 năm đổi mới của Việt Nam đã chứng minh rõ ràng: Đất nước không ngừng hoàn thiện, tự điều chỉnh và phát triển dựa trên một nền tảng tư tưởng vững chắc, linh hoạt, sáng tạo. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nền tảng trụ cột, định hướng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. 

Những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua không chỉ là sự tăng lên của các chỉ số, chỉ tiêu mà còn là chứng cứ sống động cho thấy tư duy lãnh đạo của Đảng không rập khuôn, không giáo điều và luôn vận động, sáng tạo để thích nghi và dẫn dắt Nhà nước và xã hội. Từ một quốc gia nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ, sau 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong những nền kinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) duy trì ở mức ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; đời sống người dân không ngừng cải thiện, chỉ số phát triển con người (HDI) tăng liên tục. Những kết quả này là nhờ Đảng ta kịp thời nắm bắt những chuyển biến của tình hình và xử lý thích ứng, linh hoạt với sự biến động bất thường, tận dụng các cơ hội, vượt qua thách thức, lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển đất nước, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Những thành tựu mà chúng ta đạt được là những minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định, ở Việt Nam hoàn toàn không tồn tại cái gọi là “đồng phục tư tưởng” mà các thế lực thù địch rêu rao, bịa đặt./.
QV-ST!

CẢNH GIÁC TRƯỚC CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC TỰ ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XVI VÀ ĐẠI BIỂU HĐND CÁC CẤP!

     Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, ngày hội lớn của toàn dân. Tuy nhiên, lợi dụng quy định bầu cử dân chủ, khách quan và minh bạch của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước dịp bầu cử diễn ra, các thế lực thù địch sử dụng chiêu trò xuyên tạc tự ứng cử hòng chống phá.

1. Ngày 15-3-2026 tới đây, cử tri cả nước sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình là đi bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước và từng địa phương; được tổ chức vào thời điểm đất nước đã tiến hành thành công công cuộc đổi mới qua 40 năm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên tất cả lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng lớn mạnh.

Đặc biệt, cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương hai cấp tạo khí thế mới đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình, giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, thịnh vượng. Cùng với Đại hội XIV của Đảng, cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là những nhiệm vụ công tác trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong năm 2026; là đợt vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân để lựa chọn, bầu được những đại biểu ưu tú, đại diện cho nhân dân cả nước tại Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và các đại biểu đại diện cho nhân dân địa phương tại HĐND các cấp, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Vậy nhưng, trước sự kiện trọng đại của đất nước, những ngày gần đây, trên mạng xã hội, một số phần tử phản động, chống đối cố tình lặp lại điệp khúc “ở Việt Nam không thể tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND”! Luận điệu này hoàn toàn không đúng và trái với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Chúng ta có đầy đủ cơ sở để phản bác.

Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (năm 1946) cho đến tất cả những bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Việc thực hiện các quyền này được cụ thể hóa tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, quy định: Công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng các tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội.

Người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định rõ: Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên. Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 16-5-2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, nêu rõ: “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”.

Thực tế đã minh chứng, trong các nhiệm kỳ vừa qua, có nhiều người tự ứng cử được cử tri nơi cư trú tín nhiệm cao, vượt qua các vòng hiệp thương để vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và được cử tri nơi ứng cử tín nhiệm bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Danh sách cụ thể những người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn và danh sách những người tự ứng cử được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND các nhiệm kỳ đều công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng. Rõ ràng “ở Việt Nam không thể tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND” là luận điệu xuyên tạc, vu khống trắng trợn quyền tự ứng cử ở Việt Nam.

2. Ở chiều ngược lại, thực tế trước mỗi kỳ bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, triệt để lợi dụng quyền tự ứng cử, trên các trang mạng xã hội, internet, các thế lực thù địch, phản động còn ráo riết lập ra các hội, nhóm mạo danh “dân chủ”, hô hào ký tên ủng hộ, tung hô, cổ xúy cho những đối tượng tự xưng là “nhà dân chủ” ra ứng cử nhằm gây rối, phá hoại công tác chuẩn bị nhân sự của các địa phương, cơ quan chức năng và Quốc hội. Đằng sau chiêu trò “tự ứng cử” của các phần tử thù địch, phản động là “nếu trúng cử sẽ biến Quốc hội, HĐND trở thành diễn đàn cho chúng thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, gây rối hoạt động của cơ quan dân cử”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” ngay trong cơ quan dân cử, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong. Tuy nhiên, hy vọng hão huyền của chúng không thể che mắt, đánh lừa được cử tri nước ta. Bất kỳ cuộc bầu cử nào, chiêu trò “tự ứng cử” đều bị cử tri nơi cư trú vạch mặt thẳng thừng.

Cần phải biết, những người tham gia ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp. Chỉ thị số 46-CT/TW cũng nêu rõ: “Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, bảo thủ, tư tưởng bè phái, cục bộ, địa phương; các đối tượng đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm, đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, mất đoàn kết nghiêm trọng”. Hơn nữa, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH theo quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND được quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Theo đó, chỉ những người ứng cử đáp ứng đủ tiêu chuẩn mới có tên trong danh sách sau Hội nghị Hiệp thương lần thứ ba. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH, HĐND. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không. Đây là quy trình rất chặt chẽ, dân chủ, nhằm sàng lọc và loại bỏ những người ứng cử không đủ tiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND từ trước khi bầu cử.

Những phần tử chống đối, phá hoại bầu cử biết rất rõ mình không thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND, đặc biệt là các tiêu chuẩn như: Trung thành với Hiến pháp, gương mẫu chấp hành pháp luật... Cần nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc nghị sĩ (đại biểu Quốc hội) phải trung thành với Hiến pháp, tuân thủ pháp luật được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Vì thế, các thế lực phản động không thể qua mắt các quy trình về hiệp thương, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Riêng điều này đã thể hiện rõ sự kệch cỡm của chúng về những bản “tập hợp ký tên”. Khi không vượt qua được hội nghị cử tri nơi cư trú, chúng lu loa xuyên tạc rằng “hội nghị cử tri chỉ là nơi đấu tố, lên án để loại chúng ngay từ vòng đầu”.

3. Để ngày bầu cử sắp tới thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, các cấp, ngành, địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử; thấy rõ trách nhiệm của mỗi lá phiếu đối với tương lai đất nước. Các địa phương cần phát động phong trào thi đua, tổ chức diễn đàn, tiếp xúc cử tri, hội thi tìm hiểu pháp luật về bầu cử, tạo không khí phấn khởi, đồng thuận trong xã hội gắn với triển khai thực hiện nhiệm vụ của đất nước, bộ, ngành, địa phương, đơn vị và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Chú trọng tuyên truyền các quy định của pháp luật về bầu cử, tuyên truyền công tác chuẩn bị bầu cử và không khí dân chủ, đúng pháp luật trong bầu cử, nhất là ý thức tự giác trong thực hiện quyền lợi và trách nhiệm của cử tri.

Toàn hệ thống chính trị tập trung cao nhất cho công tác chuẩn bị, bảo đảm tổ chức cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự trở thành ngày hội của nhân dân. Trong đó, công tác nhân sự phải được tiến hành công khai, minh bạch, lắng nghe ý kiến rộng rãi từ cơ sở; gắn với quy hoạch cán bộ, kết quả đại hội đảng các cấp và yêu cầu tinh gọn bộ máy. Sàng lọc kỹ lưỡng, kiên quyết loại bỏ ngay từ đầu những người không đủ tiêu chuẩn cả về phẩm chất và năng lực. Cùng với đó, chủ động phản bác thông tin sai sự thật, nhất là những thông tin liên quan đến công tác bầu cử bằng lập luận khoa học, thực tiễn, thuyết phục. Kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc phá hoại cuộc bầu cử, lợi dụng bầu cử, “tự ứng cử” để kích động, gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước./.
Ảnh: Những luận điệu phản động trước kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
QV-ST!

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ VÙNG ĐỒNG BÀO KHMER TÂY NAM BỘ Ở NƯỚC TA!

     Nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, khu vực Tây Nam Bộ hiện nay gồm 6 tỉnh và một thành phố với tổng diện tích tự nhiên khoảng 4 triệu héc-ta, 27 dân tộc cùng sinh sống, chủ yếu là dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm; trong đó, dân tộc Khmer có số dân hơn 1,3 triệu người. Thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta, những năm qua, các tổ chức thù địch, phản động lưu vong, điển hình như: “Hội Ái hữu Khmer Kampuchea Krom”,“Hội sư sãi Khmer Kampuchea Krom”, “Liên đoàn Khmers Kampuchea-Krom”... đã coi vùng có đông đồng bào Khmer sinh sống ở Tây Nam Bộ là địa bàn trọng điểm để đẩy mạnh các hoạt động chống phá!

Qua nghiên cứu, có thể thấy, chúng thường tập trung vào một số phương thức, thủ đoạn sau đây:  

Một là, nhằm thực hiện chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” ở Tây Nam Bộ, các thế lực thù địch, phản động tìm cách lợi dụng "Phật giáo Nam Tông Khmer" để lôi kéo, mua chuộc đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ tham gia thành lập “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom”, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn.

Chúng đặc biệt chú ý móc nối, lôi kéo, mua chuộc người có uy tín trong đồng bào Khmer, học sinh, sinh viên, thanh niên người Khmer, nhất là những đối tượng người Khmer từng tham gia ngụy quân, ngụy quyền, những trí thức và cá nhân có tư tưởng cực đoan, bất mãn để biến họ thành lực lượng cốt cán hình thành bộ khung cho tổ chức phản động. Chúng còn tìm cách móc nối, tài trợ cho sư sãi, tăng sinh Khmer ra nước ngoài tu học hoặc lôi kéo, mua chuộc số sư, tăng Khmer tự ý ra nước ngoài học tập không xin phép để xây dựng “ngọn cờ” chống phá nước ta.

Hai là, chúng triệt để lợi dụng vấn đề về nguồn gốc lịch sử tộc người, những vấn đề phức tạp từ đặc điểm nội tại của đồng bào Khmer, những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, qua đó kích động tư tưởng ly khai, dân tộc hẹp hòi, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc để lôi kéo, vận động đồng bào Khmer chống lại việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương.

Đặc biệt, các thế lực thù địch ra sức chứng minh rằng: Người Khmer chính là chủ nhân của di chỉ khảo cổ Óc Eo (An Giang); lịch sử hình thành nhà nước Phù Nam (Chân Lạp)... để kích động, lôi kéo đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ. Chúng còn ra sức tô đậm hoặc bóp méo những yếu kém, vi phạm trong thực hiện chính sách, pháp luật, giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo, dân tộc ở địa phương để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp đồng bào Khmer...

Ba là, lợi dụng việc cả hệ thống chính trị đang thực hiện cuộc cách mạng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, chúng ráo riết sử dụng mạng xã hội, internet xuyên tạc rằng việc sáp nhập, tinh giản bộ máy và chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương 3 cấp sang 2 cấp là nhằm “xóa bỏ tiếng nói đại diện”, “thu hẹp không gian tín ngưỡng”, “việc sáp nhập địa giới hành chính đã làm mất tên gọi, địa bàn hoạt động” của các tổ chức tôn giáo.

Chúng còn tìm cách thổi phồng, bóp méo những trục trặc kỹ thuật trong thay đổi địa giới thành bằng chứng “phân biệt đối xử” hay “đàn áp tôn giáo” ở nước ta...    

Bốn là, chúng tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia - dân tộc với quyền của các dân tộc thiểu số để làm cho đồng bào ngộ nhận rằng, “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của riêng người Khmer, từ đó chúng kích động, lôi kéo đồng bào Khmer đòi thành lập “Nhà nước Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ.

Ở bên ngoài, kẻ địch ráo riết “quốc tế hóa” vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” để tạo sức ép từ cộng đồng quốc tế, đồng thời kích động các hoạt động chống đối Nhà nước ta từ bên trong. 

Năm là, chúng tổ chức các cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở vùng Tây Nam Bộ, qua đó nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chúng còn lợi dụng việc Nhà nước ta đấu tranh, xử lý một số đối tượng sư sãi cực đoan trong nước để ra sức rêu rao rằng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo, vi phạm nguyên tắc Hiến chương Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức nhân quyền quốc tế can thiệp.   

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch vẫn ráo riết tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá nước ta ở vùng đồng bào Khmer Tây Nam Bộ. Để phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả cần huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc triển khai thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp trên các lĩnh vực, trong đó, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:   

Một là, tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá cách mạng của kẻ địch đối với vùng đồng bào dân tộc Khmer Tây Nam Bộ; nâng cao ý thức tự giác của nhân dân trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; biết đề cao cảnh giác, không nghe theo kẻ xấu, không để cho kẻ địch lợi dụng; tích cực, tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động này.

Tiếp tục khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa đồng bào dân tộc Khmer với các dân tộc khác ở Tây Nam Bộ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Hai là, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào dân tộc Khmer nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người dân trên cơ sở pháp luật. Thực hiện hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nam Bộ. Chú trọng bảo tồn và phát huy bền vững giá trị các thiết chế văn hóa, làng nghề, nghề thủ công, lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc Khmer. 

Tiếp tục quan tâm chăm lo và phát huy hiệu quả vai trò của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước, Ban Quản trị, Ban Hoằng pháp các chùa và người có uy tín trong đồng bào dân tộc Khmer trong phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc tại địa phương. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của đồng bào Khmer không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm về dân tộc, tôn giáo. 

Ba là, không ngừng chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò của hệ thống chính trị ở vùng đồng bào Khmer dựa trên nền tảng khối liên minh công, nông, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, da dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh, góp phần làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp với đồng bào ngày càng gắn bó khăng khít. 

Quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ở vùng đồng bào dân tộc Khmer vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Bốn là, làm tốt công tác nắm chắc tình hình chủ động từ sớm, từ xa để kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động kích động ly khai, tự trị dân tộc để xâm phạm an ninh trật tự ở vùng tập trung đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ nước ta. 

Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”, các mâu thuẫn, khiếu kiện trong đồng bào các dân tộc thiểu số ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp, bảo đảm yêu cầu tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân, kiên quyết không làm phức tạp thêm tình hình, không sơ hở để địch lợi dụng vu cáo, xuyên tạc.

Tiếp tục quan tâm kiện toàn bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân tộc, tôn giáo; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người dân tộc thiểu số ở cơ sở.   

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta, trong đó có quyền của đồng bào Khmer ở Tây Nam Bộ.

Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại; tận dụng thế mạnh của các kênh thông tin nhằm chuyển tải tới cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; làm rõ bản chất luận điệu xuyên tạc về lịch sử vùng đất Nam Bộ nhằm kích động hận thù dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, gây mất ổn định chính trị, xã hội của nước ta.

Qua đó, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia, các chính khách quốc tế và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, góp phần đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, thù địch về vấn đề này đối với nước ta./.
Ảnh: Điệu múa trống Sa đăm là nét đẹp truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ.
QV-ST!

PHẢI "LỌC" THÔNG TIN!

     Sáng đầu tuần, bác Trung, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã đến trụ sở từ sớm. Đang ngồi thư thái đọc báo thì cậu Nam là cán bộ Đoàn thanh niên gõ cửa rồi rảo chân tiến lại, nói to:

- Bác ơi, bác xem này! Bà con vùng biên giới đời sống còn khó khăn mà lại xây cái trường học ở xã Si Pa Phìn (tỉnh Điện Biên) to đùng, hoành tráng. Trên mạng nhiều người bàn tán, bảo là lãng phí đấy bác ạ!

Bác Trung dõi theo những dòng chữ trên mạng xã hội từ chiếc điện thoại Nam giơ ra, thong thả nhấp ngụm trà rồi hỏi:

- Thế theo cháu, trường ở vùng cao, vùng biên giới thì phải thế nào? Phải tranh tre nứa lá, phải dột nát, tuềnh toàng thì mới đúng à?

Nam gãi đầu ấp úng:

- Thì... cháu không bảo phải dột nát. Nhưng xây to đẹp, hiện đại quá, như trường quốc tế thế kia thì có thật cần thiết không? Nếu bớt tiền đó để chia cho dân xây, sửa nhà và mua gạo, mua áo ấm thì có phải thiết thực hơn không?

Bác Trung đặt tờ báo xuống bàn, giọng nghiêm nghị:

- Cháu à, cái tư duy “chia gạo, chia áo” ngắn hạn lắm. Cháu có biết Si Pa Phìn là ở đâu không? Là biên giới, là "phên giậu" quốc gia đấy! Những kẻ gõ bàn phím bình luận thiếu tầm nhìn kia có biết việc quan trọng nhất để xóa đói, giảm nghèo là phải trang bị tri thức, nâng cao trình độ cho người dân, nghĩa là cung cấp cho bà con "cần câu" chứ không phải cho "con cá"? Có trường học nội trú khang trang thì thầy và trò vùng cao sẽ được ăn nghỉ, học tập tại trường, không phải lội suối băng rừng vất vả đến lớp thì mới yên tâm dạy tốt, học tốt chứ!

Thấy Nam im lặng lắng nghe, bác Trung nói tiếp:

- Cháu biết không, đây là công trình đầu tiên hiện thực hóa chủ trương của Bộ Chính trị về việc đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền đấy! Có thể khẳng định, đây là chủ trương rất đúng đắn.

Nam tròn mắt ngạc nhiên:

- Tận 248 trường cơ ạ? Cháu tưởng chỉ xây một cái thôi chứ?

- Đấy là cái nguy hiểm của tin giả, tin xấu độc đó. Đảng ta xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhất là đối với vùng biên, chăm lo giáo dục không chỉ để nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn là kế sách giữ nước.

Chỉ tay về tấm bản đồ hành chính treo trên tường, giọng bác Trung tâm huyết:

- Cháu thử nghĩ xem, muốn giữ biên cương thì phải giữ được dân. Muốn dân bám bản, bám biên thì phải lo cho họ sinh kế và quan trọng nhất là tương lai con em họ. Nếu trường lớp tạm bợ, con em thất học thì cái nghèo, cái đói và các tệ nạn xã hội, tà đạo sẽ bủa vây. Khi đó, lòng dân không yên, biên giới làm sao vững? Vì thế, đầu tư cho sự nghiệp "trồng người" là sự đầu tư căn cơ, chiến lược và sinh lời nhất, sao gọi là lãng phí được? Các đối tượng thù địch tung tin xuyên tạc, nhảm nhí thế mà cháu cũng tin à? 

Nam cúi mặt, vẻ ngượng ngùng:

- Bác phân tích thấu đáo thế thì cháu mới hiểu ra. Lần sau thấy thông tin kiểu này, cháu sẽ “lọc” ngay ạ!
Ảnh minh họa: Trường tiểu học và THCS Lý Tự Trọng tại xã biên giới Đắk Búk So, H.Tuy Đức, Đắk Nông (cũ), nay là tỉnh Lâm Đồng.
QV-ST!

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, CON NGƯỜI!

     Thời gian qua, các thế lực thù địch nuôi dưỡng âm mưu, dùng nhiều thủ đoạn, chiêu trò nhằm hạ thấp giá trị di sản văn hóa; tấn công vào đạo đức, lối sống và thuần phong mỹ tục dân tộc; xuyên tạc chính sách, thành tựu về quyền con người... Đó cũng là mục tiêu nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, tấn công trực tiếp vào nền tảng tinh thần, bản lĩnh và cốt cách của con người Việt Nam. Do vậy, chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Những luận điệu sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn hóa

Có thể nói, văn hóa, con người Việt Nam là một trong những lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm và luôn được các thế lực thù địch, phản động xác định là một trong những mũi nhọn xuyên tạc. Các đối tượng đã sử dụng rất nhiều “liệu pháp” nhằm từng bước xâm lấn, xâm thực, xâm lăng văn hóa qua việc lan truyền sản phẩm văn hóa phương Tây, lối sống Âu hóa, cá nhân chủ nghĩa, thực dụng... và ca ngợi đó mới là lối sống hiện đại, đáng mơ ước, cổ vũ.

Luận điệu các thế lực thù địch thường tung ra là công kích, đả phá văn hóa truyền thống hướng về nguồn cội. Các đối tượng đưa ra những học thuyết phủ nhận phong tục thờ cúng tổ tiên khi cho rằng người đã chết là hết. Việc thờ cúng chỉ thêm phiền phức, mất thời gian. Việc sử dụng vật phẩm từ lễ cúng tổ tiên là mất vệ sinh, không bảo đảm an toàn cho sức khỏe, không phù hợp với tri thức y học hiện đại và trình độ nhận thức tiên tiến trên thế giới. Khi một thế hệ tương lai không biết đến tổ tiên, dòng giống, không có tâm tri ân, không biết đến đạo lý ông bà, tổ tiên đồng nghĩa với mất gốc. Không có gốc gác, cội nguồn thì đấu tranh, bảo vệ cái gì? Tinh thần chiến đấu gìn giữ phong hóa dân tộc còn không? Đây chính là âm mưu tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch.

Ở mức độ thâm độc hơn, các đối tượng lợi dụng những vấn đề nhạy cảm hoặc những hạn chế nhất thời để đưa ra các luận điệu “phi chính trị hóa văn hóa”. Họ cho rằng văn hóa phải tách khỏi chính trị. Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng tồn tại độc lập với chính trị. Họ coi văn hóa chỉ là những hoạt động thuần túy về nghệ thuật, giải trí, tín ngưỡng... mà không cần sự định hướng, lãnh đạo của một đường lối chính trị cụ thể. Luận điệu tách văn hóa khỏi chính trị là cái cớ để các thế lực thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực văn hóa. Mục đích lớn nhất của chúng là nhằm làm suy yếu vai trò chủ đạo của văn hóa xã hội chủ nghĩa, gieo rắc nghi hoặc trong nhân dân, cán bộ, đảng viên, từ đó bày tỏ thái độ xem nhẹ nội dung xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa Đảng. Cũng với thủ đoạn “phi chính trị hóa văn hóa”, các thế lực thù địch sử dụng nó như chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm làm phai nhạt, tiến tới xóa bỏ vai trò chủ đạo của văn hóa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch phủ nhận thành tựu và chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Các đối tượng lợi dụng vấn đề nhân quyền để vu cáo Việt Nam đàn áp dân tộc thiểu số, trong khi thực tiễn Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, bảo đảm quyền con người và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách như: Chính sách bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số; chính sách bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch; chính sách về công tác thông tin, thư viện nhằm lưu trữ những văn bản cổ, về hoạt động nghe-nhìn, sáng tác văn học, nghệ thuật về chủ đề dân tộc thiểu số... 

Cố tình hạ thấp, bóp méo giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam

Về con người, các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc để xuyên tạc, bóp méo hình ảnh và giá trị con người Việt Nam nhằm mục đích làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ nhất, phủ nhận, bóp méo các giá trị cốt lõi của con người Việt Nam. Các đối tượng rêu rao luận điệu lệch lạc nhằm hạ thấp lòng yêu nước, tinh thần dân tộc Việt Nam. Thủ đoạn thường thấy là tìm cách xuyên tạc, phủ nhận những phẩm chất cao quý của người Việt Nam như lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quả cảm, kiên cường trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra, họ cố tình bóp méo những sự kiện lịch sử, gán ghép tinh thần yêu nước với chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Thứ hai, xoáy sâu vào những biểu hiện tiêu cực, những vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, làm lung lay niềm tin của nhân dân vào Đảng. Các đối tượng triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để truyền bá lối sống ngoại lai, không lành mạnh, đề cao chủ nghĩa cá nhân cực đoan, phủ nhận đạo đức truyền thống của con người Việt Nam; xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, từ đó kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ ba, ca tụng, cổ xúy những giá trị quyền con người phương Tây, nhân danh cái gọi là “quyền con người phổ quát”, coi phương Tây là trung tâm, chi phối quyền con người toàn thế giới. Họ ra sức tuyên truyền, cổ vũ cho luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”. Họ dùng chiến thuật “tự chuyển hóa” dần làm cho người dân Việt Nam xa rời chuẩn mực đạo đức văn hóa truyền thống; chạy theo lối sống lợi ích, thực dụng, đề cao cái tôi cá nhân để tự huyễn hoặc về hình ảnh con người hiện đại, Âu hóa.

Không thờ ơ trước “luồng gió độc hại” tiêm nhiễm vào văn hóa, con người Việt Nam

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ, cùng với chú trọng phát triển, lan tỏa các giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức; cần tăng cường “sức đề kháng” của văn hóa, chống lại mọi sự xâm lăng về văn hóa; bài trừ các hình thức văn hóa lai căng, hủ lậu ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục; đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng.

Trước sự tiến công, phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, con người, chúng ta cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn và quan trọng của lĩnh vực văn hóa cùng nhân tố con người trong chiến lược xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Chú trọng đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, lồng ghép những nội dung tuyên truyền qua chương trình giáo dục-đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân; qua tài liệu bồi dưỡng; qua hoạt động ngoại khóa; qua tọa đàm, hội thảo, nói chuyện chuyên đề; qua hệ thống biểu bảng, pa nô, áp phích và tuyên truyền trên không gian mạng. Bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao "sức đề kháng" để có thể miễn nhiễm trước những luận điệu sai trái, thông tin độc hại trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Bên cạnh đó, cần tăng cường, chủ động cung cấp thông tin chính thống về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, con người; đồng thời làm sáng tỏ những thành tựu to lớn của Đảng, Nhà nước ta trong việc xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng như những thành quả về quyền con người trên tất cả lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, điều có ý nghĩa then chốt là phải phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Quán triệt và hiện thực hóa quan điểm của Đảng là phát triển văn hóa phải ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội; không ngừng chăm lo, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân. Chú trọng quan tâm xây dựng và hiện thực hóa: 1) Hệ giá trị quốc gia Việt Nam gồm 9 thành tố: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc; 2) Hệ giá trị văn hóa Việt Nam gồm 4 thành tố: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; 3) Hệ giá trị gia đình Việt Nam gồm 4 thành tố: Ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; 4) Chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới gồm 8 thành tố: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo.

Với bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tổ chức vận hành trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, việc sử dụng các biện pháp pháp luật để xử lý nghiêm các trường hợp tung tin sai sự thật, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, con người là cần thiết. Không ai được lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để đăng tải những thông tin không đúng sự thật, sai sự thật, gây tâm lý nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân. Mọi hành vi lợi dụng internet và mạng xã hội để truyền bá thông tin sai lệch, gây nhiễu loạn tư tưởng, tạo ra các luồng ý kiến trái chiều, tiêu cực về những chủ trương, chính sách văn hóa của Đảng, làm mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước phải bị nghiêm trị kịp thời. 

Đặc biệt, mỗi người dân Việt Nam cần được nuôi dưỡng, làm giàu ý thức Việt Nam trong kỷ nguyên mới, đó là tự lực, tự chủ, tự cường, tự tôn và tự hào dân tộc; chung tay góp sức xây dựng, bảo vệ, phát triển nền văn hóa Việt Nam xứng đáng với một dân tộc có bề dày văn hiến hàng nghìn năm lịch sử. Đó cũng là cơ sở để chúng ta phát huy ý chí, khát vọng của hơn 100 triệu người Việt trong kỷ nguyên phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
Ảnh minh họa: Thiếu nữ đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trong không gian Lễ hội Hoa Ban, tỉnh Điện Biên.
QV-ST!

MÙA XUÂN CỦA NIỀM TIN, BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ VÀ TRÁCH NHIỆM!

     Xuân Bính Ngọ 2026 đến trong một bối cảnh có ý nghĩa đặc biệt đối với đất nước và dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp, đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận, tầm nhìn chiến lược và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam!

Trong thời khắc giao hòa của đất trời và lòng người, khi Tết Nguyên đán trở thành điểm hội tụ sâu sắc nhất của các giá trị văn hóa, đạo lý và niềm tin xã hội, yêu cầu bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên cấp thiết, vừa mang tính chiến lược lâu dài, vừa có ý nghĩa thời sự trực tiếp.

Thực tiễn cho thấy, sau mỗi kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội XIV, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại gia tăng hoạt động chống phá với cường độ cao hơn, phương thức tinh vi hơn. Chúng tập trung xuyên tạc kết quả Đại hội, bóp méo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; công kích Quốc hội và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tìm cách “phi chính trị hóa” Quân đội; lợi dụng thời điểm Tết Nguyên đán để kích động tâm lý bất mãn, làm xói mòn nền tảng văn hóa - tinh thần của xã hội.

Những luận điệu ấy không mới, song đặc biệt nguy hiểm ở chỗ được ngụy trang tinh vi dưới vỏ bọc “góp ý”, “phản biện xã hội”, “tự do học thuật”. Mục tiêu sâu xa của chúng là làm suy giảm niềm tin xã hội, từng bước làm lung lay vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn bằng cả lịch sử đấu tranh gian khổ, bằng máu xương, trí tuệ và khát vọng độc lập, tự do.

Trên lĩnh vực xây dựng Đảng, các thế lực thù địch cố tình đánh đồng những biểu hiện lệch lạc, sai phạm cá biệt với bản chất của Đảng, từ đó rêu rao rằng Đảng “xa dân”, “mất lý tưởng”, “suy giảm tính tiên phong”. Đây là sự xuyên tạc phi lịch sử, phi khoa học và trái ngược hoàn toàn với thực tiễn.

Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng không phải là trạng thái tĩnh, mà là một quá trình tự thân, liên tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn, được kiểm chứng bằng năng lực lãnh đạo và hiệu quả phục vụ nhân dân. Đại hội XIV đã nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh khuyết điểm, không tô hồng thành tích; chỉ rõ những nguy cơ, thách thức; thể hiện quyết tâm chính trị rất cao trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; đề ra hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Chính điều đó là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ mọi luận điệu cho rằng Đảng “bảo thủ”, “trì trệ” hay “đánh mất sức chiến đấu”.

Đối với Quốc hội Việt Nam, các thế lực thù địch cố tình bóp méo bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, áp đặt máy móc mô hình dân chủ phương Tây để vu cáo Quốc hội Việt Nam “hình thức”, “thiếu thực quyền”.

Thực chất, đó là sự phủ nhận một nền dân chủ lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu tối thượng. Thực tiễn hoạt động của Quốc hội ngày càng khẳng định rõ vai trò trung tâm trong lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; ngày càng gần dân, sát dân, chịu sự giám sát chặt chẽ của cử tri; tinh thần đổi mới, trách nhiệm giải trình và lắng nghe ý kiến nhân dân không ngừng được nâng cao. Dân chủ ở Việt Nam không được đo bằng sự ồn ào hình thức, mà bằng hiệu quả bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, bằng ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững. Mọi sự phủ nhận vai trò của Quốc hội Việt Nam, suy cho cùng, đều nhằm làm suy giảm niềm tin của cử tri, tiến tới phá hoại nền tảng chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. 

Nguy hiểm hơn cả là những luận điệu nhằm bôi nhọ, “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu thâm độc nhằm làm suy yếu bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Thực tiễn một lần nữa khẳng định: Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cả khi chiến tranh và hòa bình.

Những hình ảnh tại Triển lãm Quốc phòng quốc tế; các hoạt động diễu binh, diễu hành kỷ niệm những mốc son lịch sử trọng đại của dân tộc; hay gần gũi hơn là hình ảnh cán bộ, chiến sĩ trong "Chiến dịch Quang Trung" thần tốc xây dựng nhà mới, sửa chữa nhà bị hư hỏng cho đồng bào, hoàn thành toàn bộ trước Tết Nguyên đán, là câu trả lời sinh động, đanh thép và không thể phủ nhận. Một Quân đội “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” không thể bị bóp méo thành lực lượng “xa dân” hay “thuần túy nghề nghiệp” như các luận điệu xuyên tạc.

Đặc biệt, Tết Nguyên đán - giá trị văn hóa thiêng liêng của dân tộc đang bị các thế lực thù địch tìm cách xuyên tạc, biến thành một “mặt trận” chống phá mới. Chúng lợi dụng Tết để thúc đẩy xu hướng tách rời Tết khỏi cội nguồn văn hóa - tư tưởng của dân tộc; cổ súy lối sống thực dụng, lai căng; thậm chí lợi dụng khó khăn, thiên tai để kích động tâm lý bất mãn xã hội.

Cần khẳng định rõ: Tết Nguyên đán không chỉ là một phong tục, mà là kết tinh của lịch sử, đạo lý và bản sắc văn hóa Việt Nam; là thước đo sinh động mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là những người chịu thiệt hại do hậu quả chiến tranh, do thiên tai, để “không ai bị bỏ lại phía sau” trong dịp Tết, chính là biểu hiện tập trung bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, "Chiến dịch Quang Trung" do Chính phủ phát động không chỉ mang ý nghĩa an sinh xã hội, mà còn có giá trị chính trị - tư tưởng sâu sắc. Những mái nhà mới hoàn thành trước Tết là minh chứng thuyết phục cho một Nhà nước hành động, một Chính phủ vì dân, một Quân đội gắn bó máu thịt với nhân dân. Trước thực tiễn ấy, mọi luận điệu xuyên tạc về “Đảng xa dân”, “Nhà nước vô cảm”, “Quân đội bị chính trị hóa” đều trở nên vô nghĩa.

Vững vàng sau Đại hội XIV, với một Đảng trong sạch, bản lĩnh, một Quốc hội ngày càng thực chất, một Quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; cùng một nền văn hóa dân tộc được gìn giữ và phát huy, trong đó Tết Nguyên đán là biểu tượng kết tinh, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin tưởng vững chắc vào tương lai của đất nước, trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Mùa Xuân Bính Ngọ 2026 không chỉ là mùa xuân của đất trời, mà còn là mùa xuân của niềm tin, của bản lĩnh, của trí tuệ và trách nhiệm. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hôm nay không phải là khẩu hiệu chung chung, mà là hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi trí thức, nhà báo, văn nghệ sĩ và mỗi người dân yêu nước. Nói đúng, viết đúng, làm đúng; kiên quyết phản bác, lên án cái sai, cái xấu; chủ động lan tỏa những giá trị tích cực; không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Với bản lĩnh được tôi luyện qua lịch sử, với trí tuệ và sự gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước vững vàng vượt qua mọi thử thách, đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên của hòa bình, thịnh vượng và hạnh phúc. Đó chính là thông điệp mạnh mẽ nhất của mùa xuân, thông điệp của niềm tin, của chính nghĩa và của tương lai./.
Ảnh: “Chiến dịch Quang Trung do Thủ tướng Chính phủ phát động mang ý nghĩa an sinh xã hội, có giá trị chính trị - tư tưởng sâu sắc.
QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH ĐÃ ĐÁNH THẮNG 3 THỰC DÂN - ĐẾ QUỐC VÀ QUÂN BÀNH TRƯỚNG BÁ QUYỀN!

     Trong lịch sử Việt Nam không chỉ có Đức thánh Trần, Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn mới 3 lần chiến thắng giặc phương Bắc - Nguyên Mông mà sau này ở Thời đại Hồ Chí Minh & những học trò xuất sắc của mình cùng nhân dân Việt Nam cũng đã đánh bại 3 cường quốc chỉ trong chưa đầy một thế kỷ.

Vậy những con người Thời đại Hồ Chí Minh họ đã cùng nhân dân thắng Thực dân - Đế quốc - Bành trướng xâm lược như thế nào?

Hãy quay lại năm 1944 một đội quân chỉ với gậy tầm vông, giáo mác với chỉ 34 con người đc thành lập để rồi từ đó có đc một quân đội "Bách chiến - Bách thắng" như hôm nay QĐND Việt Nam 🇻🇳 - Bộ Đội Cụ Hồ - Đội quân nhà Phật.

Rồi đến 1954, khi đó, Việt Nam đã nằm dưới ách thống trị của Pháp gần 100 năm nhờ công "cõng rắn" của "Tập đoàn tội phạm lịch sử" Nguyễn Ánh.👊

Lúc ấy Thực dân Pháp tin rằng chúng có thể cai trị mảnh đất hình chữ S này mãi mãi.

Nhưng sau 9 năm kháng chiến khốc liệt, quân đội Việt Nam đã bao vây và đập tan tập đoàn cứ điểm của Pháp tại Điện Biên Phủ khiến Thực dân Pháp phải cúi đầu

Quả không hổ danh: "LỪNG LẪY NĂM CHÂU - CHẤN ĐỘNG ĐỊA CẦU"! Chiến thắng "ĐIỆN BIÊN PHỦ" đã khiến cả thế giới chấn động, bởi lần đầu tiên một Dân tộc thuộc địa nhỏ bé có thể đánh bại một đế quốc Châu Âu hiện đại trên chiến trường.

Pháp buộc phải rút quân, đó là cường quốc đầu tiên bị Việt Nam đánh cho tan tác, buộc phải rời đi.

Nhưng chiến tranh vẫn chưa kết thúc, vì không lâu sau khi Pháp rút lui, Đế quốc Mỹ bắt đầu can dự sâu hơn.

Lúc này, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền.

Miền Bắc do lãnh tụ Hồ Chí Minh đứng đầu, còn miền Nam, Ngụy nô VNCH được hậu thuẫn bởi một chính quyền thân phương Tây.

Hoa Kỳ viện trợ tiền bạc, vũ khí và đưa quân cùng "Chư hầu" vào miền Nam Việt Nam với mục tiêu ngăn chặn sự lan rộng của Chủ Nghĩa Cộng sản.

Đế quốc Mỹ lo ngại hiệu ứng Domino sẽ khiến cả Đông Nam Á đi theo con đường này.

Nhưng những gì diễn ra sau đó đã trở thành một trong những cuộc chiến dài và đẫm máu nhất của thời hiện đại.

Lực lượng QĐND Việt Nam, từ miền Bắc, triển khai chiến thuật linh hoạt và sáng tạo.

Dưới sự chỉ đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam 🇻🇳, QĐND Việt Nam đã cây dựng những hệ thống địa đạo chằng trịt dưới lòng đất, giăng bẫy khắp rừng sâu và tận dụng tối đa sự am hiểu địa hình để từng bước xông lên.

Còn quân Mỹ, chúng sở hữu công nghệ tối tân, bom đạn, máy bay và hỏa lực vượt trội.

Nhưng  quân & dân Việt Nam có sự bền bỉ, lợi thế địa hình và một ý chí không khuất phục.

Sau 20 năm Với hơn 58.000 binh sĩ Mỹ thiệt mạng, Hoa Kỳ cuối cùng buộc phải ký vào hiệp định Genève 1973. Đến 1975 sau sự kiện Ngụy nô VNCH tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, thì cũng là lúc Mỹ rút quân hoàn toàn.

Việt Nam thống nhất Tổ Quốc. 

Nhưng hòa bình dường như mới chỉ bắt đầu, Việt Nam vừa bận bịu tái thiết sau chiến tranh vừa phải giúp bạn thoát khỏi chế độ diệt chủng Khơ me đỏ thì chỉ 4 năm sau, năm 1979, sau "bữa tiệc máu giữa Mao Trạch Đông & Tổng thống Mỹ, Jimmy Carter. Trung Quốc bất ngờ mở cuộc tấn công vào biên giới phía Bắc Việt Nam.

Mục tiêu được Mao tuyên bố là "dạy cho Việt Nam một vài học vì đã đưa quân vào Campuchia và lật đổ chế độ diệt chủng của Pol Pot".

Trong lần "Bành trướng xâm lược" này Trung Quốc huy động hơn 200.000 binh sĩ cùng nhiều lực lượng đị phương khác tràn qua xâm chiếm toàn bộ phía Bắc Việt Nam. 

Nhưng do QĐND Việt Nam khi ấy đã được tôi luyện qua nhiều năm chiến tranh cùng với sự đồng lòng quyết tâm diệt giặc của quân & dân, một lần nữa, "lần thứ 3" những con người Thời đại Hồ Chí Minh, Vinh quang chiến thắng.

Dù sau những chiến thắng ấy cả Dân tộc phải trả cái giá quá đắt với bao Núi xương, Sông máu cùng cả sự thiệt hại, trì trệ về kinh tế cũng như sự phát triển, nhưng bằng tinh lực dòng giống Rồng tiên, bằng ý chí ngoan cường Việt Nam đã tự nỗ lực đi lên bằng chính đôi chân, bằng máu & nước mắt của mình để có đc hôm nay.

Ngày nay trong thời đại mới dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong các kỳ đại hội 11, 12, 13, cùng đường lối "Ngoại giao cây tre" dù mềm dẻo, linh hoạt nhưng vẫn đậm Hào khí Đông A & Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế vẫn mãi là con Rồng Châu Á cùng ánh nhìn, sự nể phục của thế giới trước nòi giống Lạc Hồng.

Hôm nay đây nhìn ra thế giới với bao ái ố, thăng trầm biến đổi nhưng Việt Nam vẫn mãi là mình không cúi đầu. 

Là hậu nhân, là con cháu của Rồng - Tiên xin được cúi đầu tri ân Tiên tổ, tri ân các bậc hiền nhân, các AHLS bao thế hệ đã vì một Việt Nam hôm nay, xin hứa sẽ là một Việt Nam không biết cúi đầu./.




QV-ST!

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

TIN GIẢ LỘNG HÀNH VÀ SỰ TIẾP TAY ĐÁNG SỢ CỦA ĐÁM ĐÔNG NHẸ DẠ!

     Trong những giờ qua, mạng xã hội chứng kiến một đợt lan truyền tin giả trắng trợn, khởi phát từ các tài khoản như Henry Thiện, với nội dung gắn mác “chính thức” rằng ông Nguyễn Thanh Nghị, Uỷ viên Bộ Chính trị bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, kèm theo hàng loạt suy diễn ác ý về nhân sự cấp cao và cục diện chính trị. Những dòng chữ được viết theo lối giật gân, cố tình pha trộn tin đồn, mỉa mai, chế giễu và kích động cảm xúc đã nhanh chóng thu hút hàng nghìn lượt tương tác, bình luận và chia sẻ, dù không hề có bất kỳ nguồn tin chính thống hay bằng chứng xác thực nào.

Thực tế diễn ra hoàn toàn trái ngược. Ngay trong thời điểm tin giả lan truyền mạnh, ông Nguyễn Thanh Nghị vẫn xuất hiện công khai, trực tiếp báo cáo chuyên đề và trình bày nội dung văn kiện tại hội trường trực tuyến do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tổ chức. Hình ảnh, tài liệu và đường truyền hội nghị được công bố minh bạch, rõ ràng, cho thấy ông vẫn đang làm việc bình thường, sức khỏe ổn định và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ được phân công. Sự thật hiển hiện rành rành, nhưng lại bị lấn át bởi những câu chữ bịa đặt được khoác áo “tin nóng”.

Chính sự đối lập này đã phơi bày bản chất xuyên tạc của các tài khoản tung tin, đồng thời gióng lên một hồi chuông cảnh báo đáng lo ngại: tin giả không chỉ nguy hiểm vì nó sai, mà vì có quá nhiều người sẵn sàng tin, sẵn sàng hùa theo và tiếp tay cho nó lan truyền với tốc độ chóng mặt. Chưa bao giờ việc dựng chuyện lại dễ dàng đến vậy, và cũng chưa bao giờ đám đông lại dễ dãi với sự giả dối đến thế.

Tin giả ngày nay không cần logic, không cần kiểm chứng, thậm chí không cần tự nhất quán. Trong cùng một bài viết, một nhân vật có thể vừa “bị tai nạn cực nặng”, vừa “đang xử lý công việc”, lại vừa “sắp về với tổ tiên”. Những mâu thuẫn lộ liễu ấy lẽ ra phải khiến người đọc cảnh giác, nhưng thực tế lại trở thành mảnh đất màu mỡ cho trí tưởng tượng vô trách nhiệm. Không ít người còn hào hứng bổ sung chi tiết, thêu dệt tình tiết mới, biến một câu chuyện bịa đặt thành “đại tiệc tin đồn” được tiêu thụ như một thứ giải trí rẻ tiền.

Đáng lo hơn, tin giả không còn là sản phẩm đơn lẻ của vài kẻ câu view bất chấp đạo đức. Nó đã trở thành một hiện tượng xã hội, nơi sự ác ý được bọc trong tiếng cười, còn sự vô cảm được ngụy trang bằng thái độ hả hê. Tai nạn, bệnh tật, thậm chí cái chết - dù hoàn toàn do bịa đặt - vẫn có thể bị đem ra đùa cợt, miễn là thỏa mãn cảm xúc chống đối và nhu cầu thể hiện bản thân của một bộ phận người dùng mạng.

Hệ lụy của tin giả không dừng lại ở việc xâm hại danh dự cá nhân hay gây nhiễu loạn thông tin. Nó bào mòn niềm tin xã hội, gieo rắc hoang mang, nghi kỵ và làm xói mòn khả năng phân biệt đúng - sai của cộng đồng. Khi thông tin vô căn cứ được chia sẻ nhanh hơn sự thật đã kiểm chứng, khi lời bịa đặt được tung hô hơn tiếng nói chính thống, đó không còn là câu chuyện riêng của mạng xã hội, mà là vấn đề nghiêm trọng về an ninh thông tin và văn hóa ứng xử.

Không thể tiếp tục đổ lỗi cho thuật toán hay nền tảng. Tin giả sống được vì có người nuôi nó. Mỗi cú nhấn chia sẻ thiếu suy nghĩ, mỗi bình luận hùa theo đầy ác ý đều là một lần tiếp tay cho sự giả dối. Chống tin giả, vì thế, không chỉ là trách nhiệm của cơ quan chức năng hay báo chí, mà trước hết là bài kiểm tra về tư duy, bản lĩnh và nhân cách của mỗi người dùng mạng. Một xã hội trưởng thành không được đo bằng lượt thích hay lượt xem, mà bằng khả năng tỉnh táo từ chối tin giả, dù nó có hấp dẫn đến đâu, trước khi chính mình trở thành nạn nhân tiếp theo của cơn lũ bịa đặt ấy./.


QV-ST!

NHÂN QUYỀN THỂ HIỆN CỤ THỂ QUA CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN!

     Những tháng cuối năm 2013, thông tin từ Việt Nam đã đem đến cho tôi nhiều niềm vui, nhưng cũng có nỗi buồn. Buồn vì trận bão Haiyan gây thiệt hại rất lớn cho nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có quê tôi. Tôi biết mỗi lần thiên tai như vậy, Nhà nước lại huy động một lượng tiền của, hàng hóa rất lớn để cứu trợ kịp thời, sau đó là tái thiết cơ sở hạ tầng bị tàn phá, giúp đỡ gia đình bị thiệt hại nhanh chóng ổn định cuộc sống. Ðó là biện pháp cấp tốc và lâu dài mà từ rất lâu rồi tôi đã nhận thấy trong chính sách kinh tế - xã hội nhất quán của Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Nhưng, lại có rất nhiều tin vui. Một trong số đó là thông tin ngày 12-11-2013, Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên mới, và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ. Với các tổ chức, cá nhân luôn lợi dụng vấn đề nhân quyền để phê phán hay chống phá Việt Nam thì sự kiện này là một thất bại rất lớn của họ. Từ việc ghi nhận các thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn những quyền của người dân trong các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo và tín ngưỡng,... cộng đồng quốc tế đã tin cậy và bầu Việt Nam vào một tổ chức quan trọng của LHQ.

Với người khác, nhân quyền có thể là một khái niệm trừu tượng, thiên về lý thuyết, hoặc đề cập tới những vấn đề lớn lao, nhưng với tôi, nhân quyền là điều khá cụ thể, gắn liền với cuộc sống của đất nước, con người. Ðể đánh giá về nhân quyền, cần có cách nhìn khách quan, đặt trong hoàn cảnh cụ thể với điều kiện đặc thù riêng ở mỗi nước. Suy nghĩ và nhận thức của tôi về nhân quyền thay đổi theo tuổi đời và sự trải nghiệm của bản thân trong cuộc sống. Nhớ thời còn đi chân đất đến trường ở quê tôi, một vùng biển Thanh Hóa thường xuyên có bão, lụt. Một tối, nghe Ðài Phát thanh tiếng nói Việt Nam đưa tin sóng biển có thể dâng cao, mọi người trong vùng đều lo lắng, cố gắng triển khai công việc phòng chống. Nhìn đoàn thuyền, bè, mảng làm bằng những cây luồng to mà các anh chị dân quân để ngay trước nhà, mẹ tôi bảo thế là yên tâm rồi. May mắn là năm đó sóng biển không cao lắm, nhưng tôi biết nếu tình huống xấu xảy ra, gia đình tôi cũng như mọi gia đình khác sẽ được chính quyền giúp đỡ một cách nhanh chóng. Giờ nhìn lại tôi nghĩ, đó là hành động thiết thực của chính quyền nhằm bảo vệ nhân quyền của người dân. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại miền bắc của đế quốc Mỹ, có năm nước sông Hồng lên cao, Thủ đô Hà Nội có thể bị ngập, tính mạng của hàng vạn người bị đe dọa nghiêm trọng, vì một số đoạn trong hệ thống đê điều từng bị bom phá hỏng. Vào thời điểm đó, người Mỹ tuyên bố không úp mở là sẽ ném bom "đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá". Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực hết sức để giúp nhân dân vượt qua thiên tai hiểm nghèo, khắc phục hậu quả bão lụt, vừa vận động nhân dân thế giới ngăn chặn hành động có tính chất hủy diệt, như ném bom đê điều. Tôi nghĩ đó cũng để bảo vệ quyền quan trọng nhất trong nhân quyền - là quyền được sống.

Từ năm 1972 đến năm 1975, tôi là chiến sĩ của QÐND Việt Nam đã trực tiếp chiến đấu tại tuyến đầu của mặt trận Quảng Trị. Tại đây, tôi đã tận mắt chứng kiến những trận bom rải thảm, những trận pháo kích có tính hủy diệt của "pháo đài bay" B52 và tàu chiến Hạm đội 7 Hoa Kỳ từ Biển Ðông. Ở đó, tôi không chỉ bị sức ép của bom, pháo mà còn rất nhiều lần khó thở đến ngất xỉu tưởng không tỉnh lại được vì đối phương sử dụng đạn pháo hóa học chứa hơi cay. Tôi đã đi qua những khu rừng bị hủy hoại do chất độc màu da cam của quân đội Mỹ rải xuống. Cũng ở đó, tôi đã từng chứng kiến những cái chết, gặp những người mẹ, người chị, những em bé cơ thể mang thương tích vì mảnh bom, pháo, bị vướng mìn của quân đội Mỹ và Sài Gòn. Thế mà nay lại có kẻ bịa đặt rồi làm rùm beng các sự kiện không có trong thực tế để vu cáo "Hà Nội vi phạm nhân quyền". La lối như vậy, họ cố tình quên ai là người mang bom đạn đến Việt Nam, và cố tình quên nhiều người dân Việt Nam chết hoặc bị thương do bom mìn còn sót lại; nhiều người phải chịu hậu quả của chất độc màu da cam. Họ cố tình làm như không biết là hiện nay, Nhà nước Việt Nam vẫn đang phải huy động nhiều sức người, tiền của để giải quyết hậu quả của chiến tranh xâm lược, như bom mìn chưa nổ, các khu vực còn ảnh hưởng của chất độc màu da cam. Tôi nghĩ, giải quyết hậu quả chiến tranh cũng là hành động vì nhân quyền, đấu tranh đòi các công ty hóa chất ở Hoa Kỳ bồi thường thiệt hại cho nạn nhân chất độc màu da cam cũng là hoạt động vì nhân quyền. Sau khi nước nhà thống nhất, Việt Nam bị cấm vận một thời gian dài, kinh tế khó khăn, Nhà nước không có đủ điều kiện cần thiết để thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Dù hôm nay đã chấm dứt, thì vẫn phải nói rằng cấm vận là một việc làm rất vô nhân đạo, cản trở sự phát triển, không tạo điều kiện, cơ hội để Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền con người. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện chủ trương "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai", tôi nhắc lại một vấn đề của quá khứ không phải là để khơi dậy hận thù, mà để nói rằng đang có những người đạo đức giả trong khi một mặt hò hét đấu tranh cho nhân quyền, yêu cầu "Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền", thì mặt khác họ lại tảng lờ tình trạng trong thời gian rất dài nhiều người bệnh ở Việt Nam không đủ thuốc điều trị, nhiều nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin đang sống trong bất hạnh, đau đớn, nhiều gia đình Việt Nam đói nghèo vì hậu quả của chiến tranh.

Tôi nghĩ, vì nhân quyền là tổng thể các quan hệ xã hội trực tiếp, cụ thể liên quan đến việc thực thi quyền con người, đồng thời lại liên quan chặt chẽ với quan niệm của mỗi dân tộc và mỗi nền văn hóa, nên có cảm nhận khác nhau từ góc độ quan sát của mỗi người. Nhận thức này tôi có được sau một lần cùng gia đình đi du lịch ở Dominica - một quốc đảo ở vùng Caribe (gần Hoa Kỳ) và có nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào Hoa Kỳ. Kết thúc chuyến du lịch, tôi hỏi con gái và con trai, cả hai đều sinh ra rồi lớn lên ở CHLB Ðức: "Hai con thấy chuyến đi có thú vị không?" và câu trả lời của các cháu là: "Phong cảnh và thế giới thực vật giống hệt như quê nội". Ðối với tôi, qua chuyến đi tôi lại có điều kiện so sánh và càng thấy Nhà nước Việt Nam rất quan tâm tới đời sống của mọi người dân, phần lớn người dân Việt Nam sinh sống ở nông thôn hiện đã có cuộc sống khấm khá hơn nhiều. Ðưa con về thăm quê hương, tôi kể cho các con tôi chuyện quê nội bị tàn phá như thế nào trong chiến tranh phá hoại của người Mỹ. Các con tôi đều muốn đến thăm ngôi trường lần đầu tiên tôi đi học, ngôi trường nhỏ bé của tôi ngày trước đã được thay thế bằng những khu nhà mới rộng rãi và khang trang. Về nước đi thăm nhiều nơi nên tôi biết, sau chiến tranh hầu như mọi trường học, bệnh viện, bưu điện,... đều được xây mới. Nhiều quan sát khác của các con tôi sau mỗi lần về thăm Việt Nam làm cho tôi hiểu thêm rằng, không nên máy móc lấy các con số (thí dụ là về tiền bạc) để đánh giá sự phát triển nhân quyền ở một quốc gia. Một lần về quê, con gái tôi hồn nhiên nói về một chi tiết khiến tôi phải suy nghĩ, cháu nói: "Ở chợ Việt Nam, khi không có khách hàng, những người bán hàng thường hay đếm tiền và con thấy nét mặt họ rất rạng rỡ. Qua nét mặt cũng thấy họ rất vui với những gì họ có được. Ðể có suy luận đó, con tôi cũng từng chứng kiến ở CHLB Ðức cảnh những người dân nhận tiền trợ cấp xã hội hằng tháng, nét mặt buồn thiu khi cầm trong tay 500 ơ-rô - một lượng tiền không nhỏ với một số gia đình nông dân Việt Nam. Các bà, các chị bán hàng ngồi đếm những đồng tiền có thể là không nhiều, nhưng họ có niềm vui, đó là niềm vui từ lao động. Nó giúp tôi hiểu thêm rằng nếu chỉ lấy đồng tiền làm thước đo sẽ không thể hiểu tại sao Hàn Quốc là quốc gia có mức sống không kém phương Tây, nhưng số người tự tử nhiều thứ hai thế giới; Ðan Mạch được xếp hạng nhất trên thế giới về bình quân thu nhập, nhưng ở đó số lượng người tự tử cao nhất trong khu vực Bắc Âu?

Ðảng và Nhà nước đã và đang đề ra, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HÐH, hội nhập quốc tế. Vì thế, vấn đề không phải là nước này, tổ chức quốc tế kia đánh giá hay bình chọn, vì người dân và cuộc sống con người luôn luôn là chủ thể, là mục tiêu cụ thể của mọi chính sách và hành động. Một việc làm thiết thực gần đây là sự phát triển quan trọng liên quan đến quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi. Từ sự kiện này, tôi càng tin đất nước ta sẽ tiếp tục đạt được nhiều thắng lợi trong thúc đẩy các giá trị quyền con người, người dân ngày càng được hưởng tốt hơn các giá trị vật chất, tinh thần do xã hội đem lại. Ðó là bằng chứng chứng minh sự đúng đắn của Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam trong việc xác định mục tiêu kinh tế - xã hội và quyết tâm cùng toàn dân hành động để đạt tới mục tiêu./.
"Với người khác, nhân quyền có thể là một khái niệm trừu tượng, thiên về lý thuyết, hoặc đề cập tới những vấn đề lớn lao. Nhưng với tôi, nhân quyền là điều khá cụ thể, gắn liền với cuộc sống của đất nước, con người". Ðó là ý kiến trong bài viết của tác giả Hồ Ngọc Thắng.
QV-ST!

LẠI XUẤT HIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU TRƠ TRẼN RỬA MẶT CHO NGUYỄN ÁNH

     Trong lịch sử dân tộc Việt Nam có rất nhiều triều đại được nhân dân ghi ơn nhờ công lao xây dựng, bảo vệ đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân nhưng riêng triều đại Gia Long lại là trường hợp đặc biệt gây nhiều tranh cãi. Công của ông không ai có thể phủ nhận nhưng tội ác của ông thì dân tộc và nhân dân không thể nào quên, một vết nhơ của lịch sử.

Dư luận xã hội mấy ngày gần đây lại dậy sóng phẫn nộ trước một số bài viết hạ thấp vai trò, công lao của Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ; ca ngợi Nguyễn Ánh là vị vua minh quân có công “giữ vững biên giới” dưới triều Nguyễn để đất nước yên bình. Đây là luận điệu xuyên tạc lịch sử cần phải vạch trần, lên án. Nên nhớ, Triều Nguyễn từ thời vua Gia Long thực hiện “Quan hệ bang giao triều cống” với Nhà Thanh để mưu cầu cho sự trị vì trong nước theo nguyên tắc "đối ngoại thì nhu, đối nội thì cương", một kiểu quan hệ nô lệ, phục tùng. Sử sách ghi rõ từ đầu thời Nguyễn (1803-1805), Gia Long đã phải thành lập đoàn sang cống nộp cho Nhà Thanh các sản vật quý hiếm của đất nước mình lụa là châu báu vàng, bạc, ngà voi, sừng tê, trầm hương, tốc hương, sa nhân… Quy chế cống nộp theo lệ cũ 2 năm cống 1 lần, 4 năm dâng 2 lễ cống. Sứ đoàn thường do các vị quan đại thần dẫn đầu, mang lễ vật sang Yên Kinh. Mục đích của việc cống nộp để nhà Thanh sắc phong vua Nguyễn, khẳng định sự chính thống đối với các triều đại trước và duy trì hòa bình biên giới. Đây là triều đại lệ thuộc với tư duy nô lệ của Nguyễn Ánh kéo dài suốt 80 năm dưới cái ô bảo hộ mà thực chất là cai trị của Nhà Thanh, tránh các cuộc tiến công của nhà Thanh bằng sự cúi đầu nhục nhã.

Ngoài sự cống nộp sản vật quý hiếm của đất nước mình cho Nhà Thanh để bảo vệ ngai vàng của mình, Triều đại Nguyễn Ánh còn cống nộp đất đai của dân tộc mình. Triều Nguyễn đã cắt Trấn Ninh (45.000 km²) cho vương quốc Vạn Tượng (Lào) để đổi sự ủng hộ. Năm 1827 cắt Sầm Nưa (Thanh Hóa) cho Ai Lao. Năm 1840 cắt ba huyện Cam Môn, Cam Cát, Cam Linh (Nghệ An); cắt Phủ Lạc Biên (sau này là Savannakhet) cho Lào. Đại Nam Thực Lục ghi rõ Gia Long mang Trấn Ninh “dâng cho Vạn Tượng”. Khi cầu viện Pháp để chống Tây Sơn, Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles (1787), hứa sẽ nhường cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho thực dân Pháp, cung cấp thực phẩm, tàu thuyền, lấy con trai hoàng tử Cảnh làm con tin để đổi lấy quân viện. Sau khi Nguyễn Ánh mất, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức tiếp tục nhượng đất. Hiệp ước Saigon 1862 cắt ba tỉnh Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và Côn Đảo cho Pháp. Hiệp ước Saigon 1874 khiến Việt Nam trở thành thuộc địa dưới quyền bảo hộ của Pháp…

Tội ác của Nguyễn Ánh và những kẻ tay sai bán nước trời không dung, đất không tha. Là vết nhơ lịch sử dân tộc không thế lực nào có thể tẩy xoá, gột rửa. Âm mưu tẩy trắng, rửa mặt cho triều đại Nguyễn Ánh ẩn nấp dưới danh nghĩa “khoa học” không chỉ là hành động xét lại lịch sử mà còn phục vụ mục đích chính trị đen tối, chuyển đổi hệ tư tưởng, chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc bước vào kỷ nguyên mới cần phải vạch mặt, lên án./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "VỀ CHUYỆN ÔNG TÔ LÂM ĐI MỸ"!

     Trong lúc thiên hạ rảnh rang ngồi pha trà, gõ phím trên Phây, chê bai từng cái nhíu mày, từng bước chân của người đứng đầu đất nước trong chuyến công du Hoa Kỳ, Anh Ba này lại nghĩ, thật lạ lùng thay, khi có những người Việt sẵn sàng bôi bác chính lãnh đạo của mình chỉ vì ông đang cố gắng gỡ một nút thắt kinh tế cho chính họ.

Anh em bảo đấy là tự do ngôn luận. Nhưng ngôn luận đúng là dùng lý lẽ để mổ xẻ chính sách, chứ không phải dùng cảm xúc để hạ thấp nỗ lực của cá nhân. Trí tuệ là chỉ ra phương án khác tốt hơn, chứ không phải đứng ngoài cuộc rồi ném đá vào người đang bước vào gian khổ.

Chính trị quốc tế chưa bao giờ là cuộc thi hùng biện. Nó là cuộc chơi của thế và lực. Ở đó, người ta không thắng bằng ngữ điệu, mà bằng khả năng khiến đối phương phải cân nhắc lại lợi ích của họ. Một nguyên thủ nói qua phiên dịch không hề yếu thế; yếu thế là khi quốc gia không có gì để mặc cả. Còn khi bàn đàm phán vẫn sáng đèn, khi đối tác vẫn phải tiếp, vẫn phải nghe, thì vấn đề không còn nằm ở ngôn ngữ, mà nằm ở vị thế.

Bản chất đây là hành trình tranh thủ từng cơ hội, từng giây phút có thể gặp một tổng thống siêu cường để gây thiện cảm, thể hiện quan điểm hài hoà của Việt Nam trong bối cảnh chính sách thuế quan đầy biến động.

Có người mỉa mai khả năng tiếng Anh của ông Tô Lâm. Tiếc thay trên bàn cờ quốc tế, ngôn ngữ chỉ là phương tiện. Quyền lực mới là nội dung. Vì nếu giỏi tiếng Anh mà đàm phán tốt thì chúng ta chỉ cần vào đại học ngoại ngữ bốc đại một giáo viên gửi đi đàm phán chứ cần gì đến nguyên thủ quốc gia?

Tập Cận Bình không đứng giữa hội trường mà thao thao tiếng Anh, nhưng Trung Quốc vẫn ký kết, vẫn mở rộng ảnh hưởng, vẫn định hình chuỗi cung ứng toàn cầu. Vladimir Putin có khả năng tiếng Đức và hiểu tiếng Anh, nhưng trong các hội nghị thượng đỉnh, ông gần như luôn phát biểu bằng tiếng Nga. Nga vẫn là một cường quốc hạt nhân, thành viên thường trực Hội đồng Bảo an, ảnh hưởng sâu rộng tới cục diện an ninh toàn cầu. Emmanuel Macron thì nói tiếng Anh tốt, nhưng trong các diễn đàn lớn ông vẫn ưu tiên tiếng Pháp. Thậm chí nhiều nguyên thủ châu Âu thông thạo ngoại ngữ vẫn chọn nói tiếng mẹ đẻ trong các hội nghị thượng đỉnh bởi ngôn ngữ quốc gia là một phần của chủ quyền.

Hình ảnh một người gần bảy mươi tuổi bay xuyên lục địa công tác ngay những ngày đầu năm mới khi tất cả những người bằng tuổi của ông đa phần đang nghỉ ngơi, sum họp với gia đình chỉ bấy nhiêu thôi cũng là đáng trân trọng. Nụ cười của ông chỉ xuất hiện khi đối tác gọi đúng chức danh đầy đủ của người đứng đầu phái đoàn Việt Nam. 

Từ một quốc gia đói nghèo và liên tục bị xâm lăng, đô hộ. Giờ đây không chỉ nguyên thủ quốc gia mà bất kỳ công dân Việt Nam nào cũng có thể đứng cạnh Tây mà không cần xuýt xoa, đứng canh Tầu mà không cần khúm núm. Như thế chưa đủ chứng minh vị thế nước nhà nâng tầm vượt bậc hay sao?

Thật ra, anh em không hề quan tâm kết quả có lợi cho dân hay không; thứ anh em cần là cảm giác mình thông minh hơn nè, giỏi tiếng Anh hơn người đang gánh trách nhiệm nè. Hehe. Anh Ba lạ gì cái bản chất cốt đột của anh em nữa mà chối. Phải hum nạ?

Anh Ba chỉ là một công dân bình thường với trí não hoạt động bình thường nhưng vẫn nhìn thấy một sự thật giản dị nếu thuế cao, hàng không bán được, doanh nghiệp phá sản, công nhân mất việc thì mới tốt đẹp hay sao?

Có thể anh em không đủ khôn để hiểu sự ảnh hưởng trực tiếp bởi vài điểm phần trăm thuế quan đến mức nào. Nhưng hàng triệu người lao động trong các khu công nghiệp thì có. Và chính vì vậy, những nỗ lực vận động qua kênh ngoại giao của ông Tô Lâm, dù kết quả ra sao, ít nhất cũng xứng đáng được nhìn nhận bằng thái độ công bằng.

Nếu hôm nay chúng ta còn có cơ hội mặc cả, còn có cửa đối thoại, còn có khả năng xoay chuyển, thì hãy nhớ: trên chuyến bay VN-01 xuyên đại dương ngày mùng 2 tết kia, không chỉ có một người đang di chuyển qua bên kia đại dương, mà là lợi ích của cả một dân tộc đang được gói gém trĩu nặng đi cùng.

Đường xa vạn dặm là vì gì nếu không vì khát vọng cho Tổ quốc vươn mình?
----------------
Nguồn Facebook Nguyen Khanh (Anh Ba Sài Gòn).
QV-ST!

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: LIÊN XÔ ĐÃ TỪNG GIÚP VIỆT NAM!

     Có lẽ không nhiều người biết rằng, Liên Xô đã giăng lưới sẵn ở Vịnh Bắc Bộ, sẵn sàng cho TQ nếm quả đắng nếu chúng tấn công bằng đường biển: 30 tàu chiến Liên Xô đã sẵn sàng ở Biển Đông.

Xin đăng kèm bức ảnh và bài báo cũ quanh sự kiện này:

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI 1979:
30 TÀU CHIẾN LIÊN XÔ ĐÃ SẴN SÀNG Ở BIỂN ĐÔNG!

 1. Tàu chiến Liên Xô sẵn sàng ở Biển Đông

Ít người biết được rằng ngoài việc cử đoàn chuyên gia quân sự cao cấp sang sát cánh bên chúng ta trong những ngày đầu chiến tranh biên giới, lập cầu hàng không, tổ chức các cuộc tập trận lớn gây sức ép với Trung Quốc sát biên giới với Mông Cổ, Liên Xô còn cử một lực lượng hải quân hùng hậu sang sẵn sàng chiến đấu cùng các bạn Việt Nam.

Nhà nghiên cứu, TS lịch sử Aleksandr Okorokov trong cuốn sách “Những trận chiến bí mật của Liên Xô” cho biết từ tháng 6/1978, khi Trung Quốc thường xuyên tổ chức các cuộc khiêu khích ở biên giới với Việt Nam, Liên Xô đã cử 2 tàu tuần dương và 2 tàu khu trục tập trận ở eo biển Bashi giữa Đài Loan và Philippines.

Đến tháng 1-2/1979, lực lượng này đã có mặt tại biển Đông để thể hiện sự ủng hộ Việt Nam, khi đang có những thông tin Trung Quốc đang muốn "dạy cho Việt Nam một bài học". Sau khi chiến tranh xảy ra vào tháng 2/1979, số tàu chiến của Liên Xô ở biển Đông đã tăng lên đến con số 13 và họ đang chờ một hải đoàn do tuần dương hạm "Đô đốc Senyavin" dẫn đầu sẽ đến.

Đến tháng 3/1979, đã có 30 tàu chiến Liên Xô luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu ở biển Đông. Có thể kể đến tàu "Đô đốc Senyavin", "Đô đốc Fokin", "Vasily Chapaev", "Sposobnyi", "Strogy", "Razyashi"...

Thuyền trưởng V.E.Glukhov nhớ lại:" Tôi được giao nhiệm vụ cấp tốc là chuẩn bị đón các tàu chiến của chúng ta vào cảng Việt Nam. Chúng tôi có 24 giờ chuẩn bị, và sau 5 ngày thì đã có mặt tại cảng Đà Nẵng. Nhiệm vụ của chúng tôi là khẩn trương xác định độ sâu, cách tiếp cận, dòng chảy, kiểm tra tình trạng các cầu cảng.

Và sau đó chúng tôi đến căn cứ Cam Ranh. Sau hơn một tháng làm việc, mọi việc đã sẵn sàng để đón các tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương. Thời điểm đó gió rất mạnh, nóng không chịu nổi. Các thợ lặn của chúng tôi sau này có kể lại là như đang ở trong nồi nước sôi...

Nếu như chiến sự lan rộng, đoàn tàu chiến của chúng ta sẽ tiến vào Vịnh Bắc Bộ. Và ở đó... ở đó có thể dẫn đến việc phóng tên lửa. Nhưng ơn trời là mọi việc đã không phải diễn ra".

2. Tàu ngầm Liên Xô trực chiến

Đoàn tàu chiến hùng hậu của Hải quân Xô viết còn ở biển Đông cho đến tháng 4/1979, tức là một tháng sau khi Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi Việt Nam. Không những thị uy Trung Quốc bằng lực lượng tàu chiến, Liên Xô đã vận chuyển thành công nhanh chóng một số lượng lớn vũ khí khí tài sang Việt Nam.

Cảng Hải Phòng lúc nào cũng có từ 5-6 tàu đang dỡ hàng, như "Georghi Chicherin", "Valery Mezhlauk", "Bela Kun"... Điều đặc biệt là để dỡ hàng nhanh trong thời chiến, Liên Xô đã gửi theo các tàu này đội vận tải bốc xếp của các cảng Nakhodka, Vladivostok, Korsakov, Vanin dưới sự chỉ huy giám đốc cảng Nakhodka G.I.Pikus.

Tổng cộng, các công nhân Xô viết đã bốc xếp trên 100.000 tấn hàng từ 26 tàu thủy tại cảng Hải Phòng và cảng Sài Gòn.

Cũng cần nói thêm, khi chiến tranh biên giới xảy ra, tàu chiến của Mỹ đã lân la vào biển Đông và Hải quân Liên Xô có thêm nhiệm vụ nữa là ngăn cản điều này. Hàng không mẫu hạm USS Constellation (CV-64), tàu tuần dương Learny (CG 16), tàu khu trục Morton (DD 948), tàu vận tải Takelma (ATF 113) khi đó đã có mặt ở biển Đông "để kiểm soát tình hình", theo như tuyên bố của phía Mỹ.

Để ngăn chặn các tàu Mỹ không cho tiến vào vùng có thể xảy ra chiến sự lan rộng, các tàu ngầm Liên Xô đã vào cuộc. Một số tàu ngầm náu mình dưới biển, còn một số thì được lệnh nổi trên mặt nước tạo thành một đường vành đai trên biển.

Kết quả là ngày 6/3/1979, đoàn tàu chiến của Mỹ dẫn đầu là hàng không mẫu hạm Constellation đã phải rời biển Đông, tiến về hướng vịnh Aden.

Vì lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng được thể hiện khi thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, 36 cá nhân của Hạm đội Thái Bình Dương đã được Chính phủ Liên Xô trao tặng các huân chương cao quý.
--------------
Bức ảnh quý từ lưu trữ cá nhân của nhà báo Aleksandr Mineev, nguyên trưởng phân xã TASS tại Việt Nam thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh biên giới 2/1979.

Đó là ảnh Phó đô đốc Yasakov, Phó Tư lệnh thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương (Liên Xô) trên tuần dương hạm "Đô đốc Fokin" tại Hải Phòng trong những ngày xảy ra chiến tranh. Tại sao một vị tướng hải quân Liên Xô lại có măt tại đây?
QV-ST!