Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: "NGÀI"GIA LONG - NGUYỄN ÁNH ĐÃ BÁN NƯỚC BAO NHIÊU LẦN? XIN THƯA, CHỈ CÓ... 4 LẦN!!!

     Sinh thời, Vua Minh Mạng (con trai của Gia Long) đã từng lên án Gia Long và trừng phạt Lê Văn Duyệt:
- Đối với Gia Long, ông nói:
"Trấn Ninh vốn là bờ cõi cũ của ta, xưa đức Tiên đế(Gia Long) đem cho Vạn Tượng" (trích Đại Nam Thực Lục).
- Đối với Lê Văn Duyệt, ông cho lệch trừng phạt: với 7 tội đáng chém (xử trảm), cùng 2 tội thắt/cổ và 1 tội sung quân.
======
TRONG LỊCH SỬ, GIA LONG ĐÃ BÁN NƯỚC 4 LẦN :
LẦN 1: Nguyễn Ánh thảo hợp đồng với triều đình Pháp để bán Hội An đổi lấy 4 tàu chiến và vài trăm lính Pháp da đen, nhưng hợp đồng này chưa xong thì vua Pháp (Louis 16) bị quân cách mạng Pháp chém đầu ...tuy nhiên bản hợp đồng này sau đó đã tạo cái cớ hoàn hảo cho Napoleon đệ III thuyết phục quốc hội Pháp chấp thuận việc xâm lược Đại Nam. 

LẦN 2: khi quân Thanh qua để “bảo vệ nhà Lê”, Nguyễn Ánh lập tức điều thuyền chở gạo ra tiếp tế cho quân Thanh, ủng hộ nhà Thanh đem quân vào Việt Nam. Cũng may sau đó quân Thanh đã bị Quang Trung đánh cho tan tác..

LẦN 3: Nguyễn Ánh rước quân Xiêm la (Thái lan) qua để đánh Tây Sơn. Trong lúc đóng quân, bọn Xiêm đã bắt, cướp, hiếp, giết dân Nam Bộ.. nhưng Ánh làm ngơ vì mục đích hạ bệ Tây Sơn, khiến lòng dân Nam Bộ từ ủng hộ sang ác cảm với Nguyễn Ánh. Và vẫn lại là Quang Trung chiến thần đập cho Xiêm la nhừ tử ... đến nổi từ đó nhắc đến Việt Nam là quân Xiêm kinh hồn tán đởm.

LẦN 4: Nguyễn Ánh đem vùng Trấn Ninh (rộng khoảng 45.000 km²) cắt cho vương quốc Vạn Tượng (Lào) chỉ nhằm để lôi kéo sự ủng hộ của họ ..vùng này hiện là... một nửa nước Lào ngày nay (ảnh 4-bản đồ)

 ✅ Với việc cắt thành công vùng đất Trấn Ninh cho Lào, Nguyễn Ánh là ông vua trao lãnh thổ đất nước cho ngoại quốc nhiều thứ 2 trong lịch sử Việt Nam (kém hơn Chắt nội là Tự Đức đã cắt cả Nam Kỳ Lục tỉnh cho thực dân Pháp). Nhưng Nam Kỳ Lục Tỉnh thì chúng ta đã lấy lại được còn Trấn Ninh thì... thôi rồi!!😞

✅Trong lịch sử nước Việt nghìn năm: thắng bại đều có đủ, nhưng chưa có ông vua nào giữ vững ngai vàng bằng cách mượn quân nước ngoài, thậm chí bán cả đất cha ông để lấy lòng giặc! vua như thế có đáng được nhân dân trọng vọng chăng ? 
    💖Cái gì ra cái đó, công tội phải rõ ràng: không thể phủ nhận công lao mở cõi của các Chúa Nguyễn dưới thời Lê Trung Hưng (Đàng Trong - Đàng Ngoài) nhưng cần nói cho rõ công đó là của các Chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên..):Nguyễn Hữu Cảnh mở cõi Đất Phương Nam vào năm 1698, theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lược vùng đất này-Trấn Biên (Biên Hòa) Phiên Trấn (Gia định) chứ đừng mập mờ là của triều đình nhà Nguyễn ( Gia Long 1762 mới sinh ra).
 👉Còn công thống nhất đất nước ư? Nguyễn Ánh không thể làm gì được nếu hoàng đế Quang Trung không đánh bại mọi thế lực cát cứ (Trịnh, Nguyễn v.v..) và can thiệp (Xiêm, Thanh). Có thể nói Quang Trung mới là Người thống nhất đất nước. Tiếc là Quang Trung qua đời sớm, mặc nhiên đã dọn cỗ, dọn đường cho Ánh bước lên ngôi cửu đỉnh nhờ sự giúp sức của đạn pháo Pháp.
👉Chỉ những người không học lịch sử mới nói Gia Long xác lập chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Việc xác lập đã có từ thời Hậu Lê!
#QV-ST!

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: MỸ HAY IRAN LÀ KHỦNG BỐ SAU KHI NGHE TỔNG THỐNG HAI NƯỚC PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC!

     Trong bài phát biểu của Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lần thứ 81, trong đó ông ta đe dọa: “Tôi sẽ tiêu diệt Iran, một chế độ độc tài, tàn bạo và khủng bố. Họ sẽ phải thỏa thuận với tôi, hoặc tôi sẽ xóa sổ họ, đưa họ xuống địa ngục”. Xét về tổng thể và chi tiết, bài phát biểu của ông ta chẳng đáng giá gì, thậm chí còn ít hơn thế.

Ngày hôm sau, Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian cũng đã có bài phát biểu ngắn gọn vạch trần sự đạo đức giả và thói hai mặt của Mỹ. Trong bài phát biểu này, Pezeshkian đã chỉ rõ: “Tổng thống Hoa Kỳ đã nói rằng chúng tôi là những kẻ khủng bố. Nhưng trên thực tế, chúng tôi là nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố. Hoa Kỳ đã vô cớ tấn công xâm lược đất nước chúng tôi, ám sát các nhà lãnh đạo của chúng tôi. Họ đã phóng tên lửa một trường học có rất nhiều trẻ em đang theo học ở đó. Họ tấn công chúng tôi, nhưng chúng tôi không khuất phục trước họ. Chúng tôi đáp trả các cuộc tấn công của họ, nhưng chúng tôi không nhắm mục tiêu vào thường dân. Đây là một thế giới nơi những kẻ quyền lực, thay vì nghĩ đến người dân, nhân đạo, công lý và dân chủ, lại trở thành tác nhân của sự hủy diệt, tàn phá và đổ nát. Và khi họ muốn tiêu diệt ai đó, họ sẽ gán cho người đó cái mác khủng bố. Trong 200 năm qua, Iran chưa từng tấn công bất kỳ quốc gia nào. Trong suốt 200 năm qua, chúng tôi luôn tự vệ. Vậy mà giờ đây chúng tôi lại bị cáo buộc là khủng bố và bị cho là nguồn gốc gây bất ổn trong khu vực. Điều này đã dẫn chúng tôi đến việc lựa chọn một chiến lược cho chính mình: Phải có sức mạnh để có thể tự vệ. Ông ta nên hiểu rằng Iran sẽ không khuất phục trước sức mạnh và sẽ khiến những kẻ xâm lược phải hối hận về hành động của mình. Hoa Kỳ nên biết rằng những lời đe dọa chống lại quốc gia chúng tôi chỉ khiến chúng tôi đoàn kết hơn, mạnh mẽ hơn và quyết tâm hơn trong cuộc kháng chiến”.

Masoud Pezeshkian kết luận: “Chủ đề của diễn đàn này là xây dựng lại lòng tin. Lòng tin không thể chỉ được xây dựng bằng lời nói, nó đòi hỏi phải từ bỏ tiêu chuẩn kép và thói hai mặt. Đây là điều mà Trump và bất cứ ai khác đều phải hiểu”.

Tiếp theo là về Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres. Không nghi ngờ gì, Guterres là một chính trị gia chuyên nghiệp. Trước đây ông ta từng có bản lĩnh, nhưng giờ thì không còn nữa. Ông ta cũng tuân theo quan điểm của Mỹ về vấn đề Iran. Trong bài phát biểu của mình, Guterres gọi cuộc chiến Mỹ - Iran là “sự leo thang quân sự” thay vì bản chất rõ ràng của nó: Một cuộc chiến tranh xâm lược vô cớ kèm theo những hành động tàn bạo chống lại thường dân. Iran chưa hề tấn công bất cứ ai vào thời điểm Mỹ và Israel tấn công xâm lược Iran. Tuy nhiên, Guterres đã sử dụng từ “chủ quyền” một cách rõ ràng để lên án các cuộc tấn công trả đũa sau đó của Iran nhằm vào “chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của các quốc gia như Bahrain, Kuwait, UAE…, những quốc gia đang cho phép Mỹ đặt căn cứ quân sự để từ đó tấn công Iran, và do đó đóng vai trò đồng lõa theo Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc.

Vậy Guterres đang làm việc cho ai? Ông ta đã trốn tránh trách nhiệm của mình. Hãy nhìn thẳng vào vấn đề: Liên Hợp Quốc luôn là vỏ bọc cho chủ nghĩa bá quyền của Mỹ kể từ Thế chiến II. Liên Hợp Quốc hoàn toàn vô dụng với tư cách là một tổ chức đảm bảo hòa bình và ổn định cho thế giới. Tại sao nhiều người vẫn cứ tin rằng con cá sấu muốn tạo ra một nơi trú ẩn an toàn cho những con cá nhỏ?
#QV-ST!

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI: AI MUỐN THEO MỸ?

     Mọi người hãy xem video khi Tổng thống Trump và Thủ tướng Israel Benjamin phát biểu. Sau khi đọc bài viết để hiểu bản chất Mỹ đế bố đời xã hội đen nhé. Chú thích nội dung video: 

✍️Trump phát biểu tại Đại Hội đồng LHQ thông báo việc bắt Maduro là cướpp dầu của Venezuela chứ không có băng đảng Maituy nào và tiếp tục đòi lật đổ Chính phủ Cuba. Chỉ còn mấy nước cchư hầu châu Âu ngồi nghe, còn lại các nước thành viên bỏ hội nghị về hết. Đúng là tấu hài.

✍️Trở lại bài viết:

Đảng viên Hoàng Thị Quỳnh Anh (fb Hương Huệ Hoàng) nguyên phó giám đốc sở VHTT&DL tỉnh Nghệ An trong một bình luận trên mạng xã hội đã khẳng định rằng có đến 98% người dân Việt Nam muốn theo Mỹ. 

Chẳng biết bà căn cứ vào đâu để đưa ra con số không tưởng như vậy?

Tôi hoàn toàn bác bỏ phát ngôn bịa đặt sai sự thât của bà Hoàng Huệ Hương. Sau đây tôi sẽ làm rõ vấn đề này.

Dân số nước ta hiện nay có trên 100 triệu người, xin lấy tròn 100 triệu để dễ tính phần trăm. 

✍️Ai không muốn theo Mỹ?

Theo số liệu tra cứu trên google, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, có từ 2 - 4 triệu người dân vô tội bị Mỹ - ngụy giết hại; gần 1,2 triệu anh hùng liệt sĩ hy sinh để "đánh cho Mỹ cút, đánh ngụy nhao", giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; hiện tại có khoảng 800.000 thương binh, 200.000 bệnh binh. Các đối tượng người có công với cách mạng khoảng 9,5 triệu người.

Nếu tính cả thân nhân là con cháu của các đối tượng này sau 50 năm chấm dứt chiến tranh, thì con số có thể lên tới hàng chục triệu người. Con số vài chục phần trăm người dân này nếu không cho rằng họ căm thù thực dân, đế quốc thì thôi, chứ họ không bao giờ và không bao giờ muốn làm nô lệ, tay sai cho kẻ thù. Dân số còn lại vốn mang dòng máu Lạc Hồng, yêu nước thương nòi, ghét ngoại xâm, họ cũng không muốn theo Mỹ.

Đảng cộng sản Việt Nam có khoảng 5,7 triệu đảng viên, Đoàn thanh niên Hồ Chí Minh có khoảng 5,6 triệu đoàn viên. Lực lượng chính tri này là đối tượng không muốn theo Mỹ, trừ một số người thoái hóa biến chất, phản Đảng, phản quốc, hại dân.

Trong 100 triệu dân số nước ta có 13 tôn giáo. Đạo phật là một tôn giáo ngoại nhập có khoảng 8 triệu tín đồ, các tôn giáo bản địa như Cao đài, Hòa hảo.v.v.... có hàng vạn tín đồ, gộp chung với đạo phật là khoảng gần 9 triệu tín đồ, ứng với 9% dân số là không muốn theo Mỹ. Bởi trước 1975, Mỹ - ngụy đàn áp dã man các tôn giáo này, do vậy mà các tôn giáo này căm thù Mỹ.

 ✍️Ai muốn theo Mỹ?

Sự thật lịch sử ghi nhận: thực dân Pháp đô hộ nước ta gần 100 năm, đế quốc Mỹ xâm lược nước ta hơn 20 năm. Pháp dùng người của Thiên chúa giáo để dựng lên chính phủ bù nhìn QGVN nhằn mục đích làm tay sai, sau này đế quốc Mỹ "phục dựng" thành VNCH. Chúng ưu ái dành "đặc quyền đặc lợi" cho Thiên chúa giáo, do vậy mà giáo dân đội ơn, từ đó tuyệt đối trung thành với Pháp, Mỹ. Những đối tượng thành phần làm việc cho chế độ bù nhìn Sài Gòn, còn gọi là ngụy quyền, ngụy quân VNCH trước 1975, và hậu duệ của họ hiện nay vì "hận thù cộng sản" nên muốn theo Mỹ, tiếp tục làm tay sai cho Mỹ, CCCĐ. Chưa hẳn tất cả giáo dân muốn theo Mỹ, nhưng cứ cho là tất cả giáo dân muốn theo Mỹ, thì bất quá cũng chỉ chiếm khoảng trên dưới 7 - 8% dân số cả nước mà thôi. Thêm đạo Tin lành có khoảng 1% nữa, cộng lại là khoảng 9%.

Ngoài ra, các đối tượng giang hồ, thành phần bất hảo, hổ báo cáo chồn... trong xã hôi, kể cả các đối tượng là đảng viên cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng, cơ hội chính trị, phản quốc... vì sợ pháp luật nghiêm trị, nên có thể số người này muốn trốn ra nước ngoài nhằm trốn tránh, chạy tội. Số người trong các thành phần này, bất quá chỉ nằm ở con số hàng ngàn mà thôi.

Như vậy, tất tần tật số người Việt Nam muốn theo Mỹ khoảng trên dưới 9% dân số. Thôi thì cứ chiếu cố lấy tròn 10 triệu, ứng với 10% dân số nước ta có thể muốn theo Mỹ.

 ✍️Ấy vậy mà... Nực cười lắm thay!...Bà Hoàng Thị Quỳnh Anh (fb Hoàng Huệ Hương) phó giám đốc sở VHTT&DL tỉnh Nghệ An lại hồ đồ, ngoa ngôn phóng đại lên đến 98% người dân Việt Nam muốn theo Mỹ.

Dân tộc Việt Nam ta có bề dày lịch sử hào hùng bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, đặc biệt trong gần 100 năm khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo, dân tộc ta không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục trước mọi kẻ thù, đã đánh đuổi hai kẻ thù sừng sỏ nhất hành tinh, xây dựng đất nước ta, như cố Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ tươi đẹp như bây giờ, vị thế nước ta được nâng cao trên trường quốc tế. 

Thế là đã gần một thế kỷ trôi qua, Đảng và dân tộc ta sáng suốt lựa chọn, kiên định đi theo con đường duy nhất đúng đắn, bất di bất dịch là tiến lên chủ nghĩa xã hội, ly khai, đoạn tuyệt với chủ nghĩa đế quốc. Bởi vậy, nhân dân ta không có lý do gì muốn theo đế quốc Mỹ!

Vâng! Dân tộc ta giàu lòng yêu nước, tôn trọng đạo lý uống nước nhớ nguồn. Người dân Việt Nam được sống trên Tổ quốc tươi đep, hòa bình ngày nay và mai sau luôn biết ơn những thế hệ cha ông đã đổ xương máu để giành lại độc lâp tự do hạnh phúc cho nhân dân. Họ luôn luôn biết ơn tin tưởng và mãi mãi đồng hành đi theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ tốt đep, không có lựa chọn nào khác!


#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI VĂN ĐẦY “NGÁO ĐÁ” CỦA TỈNH PHÚ THỌ - HỆ QUẢ TẤT YẾU CỦA “NỀN GIÁO DỤC HỖN MANG”!

     Các cuộc thi Học sinh giỏi cấp tỉnh, vốn là cái nơi để tìm kiếm và tôn vinh những tư duy sắc sảo, vậy nên đề thi càng cần rõ ràng, khoa học và hay.

Thế nhưng ngữ liệu trong đề thi môn văn của Sở GD&ĐT Phú Thọ (ngày 18/09 vừa qua) lại khiến người ta ngỡ ngàng như đang lạc vào một cơn "mộng du văn học" đầy hoang mang. Tôi đọc qua, ban đầu còn nghĩ đây là một sản phẩm giả mạo lố bịch để chế giễu sự thối nát của giáo dục nước nhà cơ, thật lòng thế các bạn ạ.

Khoan nói đến chuyện thơ ca thì cần phải có vần điệu và tính nhạc. Sự phi lý đầu tiên đến từ màn đối thoại mang tầm vóc "bi - hài kịch" giữa một Thượng đế toàn năng, đấng tạo hóa của vũ trụ, nhưng lại đi đôi co, chấp nhặt với một viên đá. Ngài hỏi từ độ cứng, tính lấp lánh, cho đến những khái niệm thời thượng như "vật chất tối", "tiền ảo" hay "kinh tế duy tâm" - những thuật ngữ được nhồi nhét một cách thô kệch, tạo nên một nồi "lẩu thập cẩm" chữ nghĩa đầy diêm dúa mà rỗng tuếch.

Đáng buồn thay, sự ngáo ngơ mang danh nghĩa "đổi mới" này không phải hiện tượng cá biệt, mà là một căn bệnh hệ thống đang di căn thẳng vào Sách Giáo Khoa (SGK) mới. Người ta đã và đang ngang nhiên dọn sạch những áng văn chương chuẩn mực để nhường chỗ cho những "rác phẩm" tân thời vô nghĩa. Từ những bài thơ Bắt nạt của Nguyễn Thế Hoàng Linh với câu từ ngô nghê, quái gở như trò đùa con trẻ, chuỗi ký âm vô nghĩa "Triu... uýt... huýt... tu... hìu" mô phỏng chim chào mào mũ đỏ dị hợm của Mai Văn Phấn, cho đến những cấu trúc vần điệu lổn nhổn, khùng điên của Nguyễn Quang Thiều. Tất cả những thứ tạp nham đó được đóng khung trang trọng, rồi ép học sinh phải ra sức phân tích, bình luận và "ngửi" ra cái gọi là "vẻ đẹp nghệ thuật ẩn giấu".

Sự nguy hại lớn nhất của lối giáo dục này nằm ở ma trận đáp án và biểu điểm thi - nơi hợp thức hóa cho trò chơi "vẽ rắn thêm chân" đầy giả tạo. Người ta ép học sinh phải dùng những bộ công cụ lý luận văn học đao to búa lớn để uốn nắn, gọt giũa và thần thánh hóa những câu chữ rỗng tuếch. Trò không hiểu, thầy không phục, nhưng tất cả đều phải cúi đầu trước cái gọi là "đáp án chính thức". Để có điểm, những bộ óc xuất sắc nhất buộc phải tự huyễn hoặc bản thân, viết ra những lời tán dương sáo rỗng cho một ngữ liệu vô giá trị. Lối tư duy này dạy người trẻ cách nói dối có hệ thống, biến việc cảm thụ văn chương thành hành vi ngụy biện vụng về để chiều lòng những nhà làm đề "thích thể hiện".

Áp dụng đúng tâm lý học hành vi: một lời nói dối nếu lặp đi lặp lại đủ nhiều, liên tục từ ngày này qua tháng nọ trên giảng đường, bỗng chốc sẽ được xã hội thừa nhận như một chân lý. Khi thứ thẩm mỹ méo mó, dị hợm này được hợp thức hóa bằng quyền lực giáo dục, nó đang âm thầm bức tử khả năng cảm thụ văn học thực sự của cả một thế hệ. 

Hậu quả là tư duy văn học của một bộ phận lớn học sinh Việt Nam đang bị uốn cong một cách tội nghiệp. Chúng không còn biết thế nào là một câu thơ hay, một tứ văn đẹp đúng nghĩa, mà chỉ biết cung kính tán dương những điều quái dị, rỗng tuếch theo những hướng dẫn chấm bài rập khuôn. Mang thứ ngôn từ què quặt này để thử thách học sinh, các nhà làm giáo dục không chỉ đang đánh đố, mà là đang đầu độc thẩm mỹ của những bộ óc tương lai đất nước, biến văn chương - thánh đường của tâm hồn - thành một xưởng chế bản của những tư duy phong trào đầy dị hợm.

Đau đớn thay, nền văn học của Việt Nam đang dần bị bức tử bởi một lũ "người không ra người, ngợm chẳng ra ngợm"!
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: MAY MẮN QUÁ, HẠNH PHÚC QUÁ, KHI CÓ MỘT XUẤT BẢN PHẨM CỦNG CỐ NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN!

     Đời tôi cũng như nhiều người, là “con mọt sách” nên mê đọc sách, nhưng thật bất hạnh khi sách giáo khoa nay không còn 5 điều Bác Hồ dạy; thơ thấm đẫm tình yêu quê hương của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Giang Nam, Thu Bồn... cũng vắng bóng; văn của Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Nguyễn Tuân... không còn nữa. Thay vào đó là những thứ “tạp pín lù” như “Những người trồng hoa” của Nguyễn Quang Thiều, hay các sách của NXB Hội Nhà Văn như “Đức Thánh Trần” của Trần Thanh Cảnh, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh... Báo chí cũng lắm điều không vui, như báo Sài Gòn Giải Phóng - Cơ quan của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân TPHCM số ra thứ sáu 11/9/2026 loan tin Bí thư Thành ủy và Chủ tịch UBND TPHCM đều gửi “lễ vật dâng Đức Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt”!

May mắn thay, tháng 5/2026, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật đã in xong và nộp lưu chiểu tác phẩm “Lịch sử nước ta” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sách in 10.000 bản, khổ 12x19 cm, là tập truyện tranh do Phòng Xuất bản Điện tử và Dữ liệu số minh họa, lời thơ chính là bài thơ “Lịch sử nước ta” do Việt Minh Tuyên truyền bộ xuất bản tháng 02/1942.

Lịch sử là hồn cốt dân tộc hơn bốn nghìn năm. Để giáo dục tinh thần yêu nước, phát huy tự hào dân tộc, động viên toàn dân đoàn kết tham gia Mặt trận Việt Minh giành độc lập, trong thời gian ở Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác diễn ca “Lịch sử nước ta” theo thể lục bát gồm 210 câu và bảng “Những năm quan trọng”.

Bác viết rõ về tội của nhà Nguyễn:
“Tự mình đã chẳng có tài, / Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây... / Nay ta mất nước thế này, / Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà, / Khác gì cõng rắn cắn gà, / Rước voi dày mả, thiệt là ngu si... / Năm Tự Đức thập nhất niên, / Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây. / Hăm lăm năm sau trận này, / Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan, / Ngàn năm gấm vóc giang san, / Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!”

Theo “Đại cương Lịch sử Việt Nam toàn tập” của GS Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn - NXB Giáo Dục: “Triều Nguyễn thành lập là sự thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản động trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ đối với triều đại Tây Sơn... Ngay sau khi lên ngôi (1802), Nguyễn Ánh lấy niên hiệu Gia Long và các vua tiếp theo ngày càng đi sâu vào con đường phản động”.

Chủ soái của Lê Văn Duyệt chính là Nguyễn Ánh. Lê Văn Duyệt từng tháp tùng Nguyễn Ánh sang Xiêm xin quân đánh Tây Sơn. Sách “Giai thoại Văn học Việt Nam” cũng ghi Lê Văn Duyệt là quan rất hống hách. Vậy ai, tổ chức nào không hỏi ý dân mà tự phong hoạn quan này là “Đức Thượng công Tả quân”? Sao lãnh đạo TPHCM lại dâng lễ vật cho giỗ này, mà không dâng cho Thánh Gióng, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi...?

Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã thực hiện được Di nguyện “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, đất nước thống nhất 30/4/1975. Nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/194 nước thành viên LHQ, hai lần là Ủy viên không thường trực HĐBA với số phiếu rất cao.

Mừng cho vị thế đất nước và mừng hơn nữa khi NXB Chính trị Quốc gia Sự thật đã xuất bản “Lịch sử nước ta” của Bác Hồ - một xuất bản phẩm củng cố lòng tin của nhân dân giữa tình hình bát nháo của báo chí, xuất bản hiện nay. Xin cảm ơn sự lãnh đạo của Bộ Chính trị đứng đầu là đồng chí Tô Lâm và cảm ơn NXB./.
Ảnh: Nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn (lượm lặt trên mạng xã hội).
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: AI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN PHÚ THỌ?

     Đề thi môn Ngữ văn, chọn đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026 của tỉnh Phú Thọ, ngày 18/9/2025, đang đặt ra một vấn đề đáng suy nghĩ.

Câu 1 trị giá 8 điểm sử dụng đoạn thơ “Cái đẹp” của Nguyễn Vĩnh Tiến, trích Hỗn độn và khu vườn, NXB Hội Nhà văn, 2024, rồi yêu cầu học sinh nghị luận về “Cái đẹp đích thực trong cuộc sống”.

Trước hết phải nói rõ: nhà thơ có quyền sáng tạo, thể nghiệm và sử dụng những cách biểu đạt khác thường. Người đọc có thể thích hoặc không thích tác phẩm. Đó là chuyện của văn chương.

Nhưng quyền sáng tạo của nhà thơ không đồng nghĩa với việc làm ngữ liệu cho một đề thi tuyển chọn học sinh giỏi.

Đoạn thơ trong đề sử dụng cuộc đối thoại giữa “Chúa trời” và “viên kim cương”, với những liên tưởng như “siêu cứng”, “lấp lánh”, “vật chất tối”, “kinh tế duy tâm”, “tiền ảo”... Đây có thể là một lối viết thể nghiệm, nhưng khi đưa vào đề thi 8 điểm, cần đặt câu hỏi: ngữ liệu này có thật sự bảo đảm tính chính xác, khoa học, trong sáng, mạch lạc và tính sư phạm để đánh giá học sinh giỏi hay không?

Học sinh giỏi cần được tiếp cận văn học đương đại, nhưng cái mới không có nghĩa là cứ mới là phù hợp với đề thi. Ngữ liệu thi phải có giá trị tư tưởng, nghệ thuật và đặc biệt phải tạo được chuẩn đánh giá công bằng, rõ ràng giữa các thí sinh.

Vì vậy, điều dư luận cần biết không phải chỉ là “bài thơ hay hay dở”, mà là:

Ai lựa chọn ngữ liệu này? Căn cứ vào tiêu chí nào? Ai thẩm định giá trị tư tưởng, nghệ thuật và tính sư phạm? Ai phản biện? Ai duyệt đề?

Nếu quy trình đã được thực hiện đầy đủ, Sở GD&ĐT Phú Thọ càng có cơ sở để công khai, giải thích rõ với giáo viên, học sinh và dư luận.

Không nên vội quy kết cá nhân khi chưa có hồ sơ và kết luận chính thức. Nhưng cũng không thể xem đây đơn thuần là chuyện “gu văn học”.

Đề thi học sinh giỏi không phải một bài đăng văn nghệ.

Đó là công cụ tuyển chọn những học sinh xuất sắc. Vì vậy, mỗi ngữ liệu được đưa vào đề phải chịu một chuẩn mực cao hơn về tính chính xác, tính khoa học, tính sư phạm và khả năng phân loại.

Tôi kính đề nghị Sở GD&ĐT Phú Thọ làm rõ tiêu chí lựa chọn ngữ liệu và toàn bộ quy trình ra đề, phản biện, phê duyệt, để trả lời thỏa đáng những băn khoăn đang đặt ra./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: GS PHAN HUY LÊ - SỬ TẶC TRẢ THÙ? MƯỜI NĂM CHƯA MUỘN!

     Năm 2018, tôi viết bài này. Khi ấy, nhiều người cho rằng tôi quá gay gắt, thậm chí có người bảo tôi như bác sỹ nhìn đâu cũng thấy vi trùng.

Nhưng đã 8 năm trôi qua... Những điều tôi nêu khi ấy, không một tổ chức nào, một nhà sử học nào, một chuyên gia nào, hay Ban Tuyên giáo các cấp chính thức phản biện những vấn đề tôi đặt ra?

Đó là lý do mà hôm nay tôi đăng lại bài cũ 8 năm trước.

Lúc bấy giờ Dư luận đặt ra một câu hỏi khó gỡ:
Phải chăng GS Phan Huy Lê có một sự thiên kiến đặc biệt khi ông ta nhìn lại lịch sử dân tộc. có liên quan đến trực tiếp đến lịch sử gia đình,Đến người anh ruột Phan Huy Quát là sự thật hiển nhiên.

Ông Quát từng giữ nhiều chức vụ cao trong chính quyền ngụy Sài gòn, trong đó có chức Thủ tướng...

Trong khi hàng triệu người Việt Nam cầm súng chống thực dân Pháp rồi chống Mỹ. 

Phan Huy Quát lại chọn con đường chính trị đi ngược lại truyền thống quê hương Làng Đỏ.

Sau Hiệp định Giơnevơ, ông tiếp tục làm việc trong bộ máy ngụy quyền miền Nam được Mỹ hậu thuẫn và cuối cùng trở thành Thủ tướng ngụy chính quyền Sài gòn.
Đó là lịch sử truyền thống gia đình không chối cãi.

Có phải vì thế mà người em trai GS sử học Phan Huy Lê mang trong mình một món nợ gia đình, nợ lịch sử, một lời nguyền và một sự phục thù lịch sử ?

Tôi cũng như nhiều người chỉ đặt câu hỏi, chứ mình đâu có quyền phán xét thay lịch sử.
Nhưng những gì xảy ra sau đó khiến người ta có quyền đặt câu hỏi.

●Phan Huy Lê từng công khai đặt vấn đề đòi xét lại hình tượng Anh hùng Lê Văn Tám.

Ông ta cho rằng cần tìm lại tư liệu gốc, xác minh sự kiện và xem xét cách ứng xử với biểu tượng Bó Đuốc Sống.

Nhưng với một biểu tượng đã đi vào ký ức của nhiều thế hệ, cách đặt vấn đề của Lê không tránh được sự hoài nghi, ngờ vực của Xã hội, gây bất bình trong giới Sử học chân chính.

Để rộng đường xét lại Lịch sử, với danh nghĩa đứng đầu ngành sử, ông cùng các tỉnh, thành phố 
tổ chức hàng loạt cuộc hội thảo, tọa đàm về Trương Vĩnh Ký, Phan thanh Giản và về triều Nguyễn, về Nguyễn Ánh, Lê văn Duyệt...và về những nhân vật lịch sử còn nhiều tranh cãi.

Chính vì đó, Tôi không phản đối việc nghiên cứu lại lịch sử bằng tư liệu chính thống tin cậy.

Nhưng nghiên cứu lại không có nghĩa là ĐẢO NGƯỢC TRẮNG THÀNH ĐEN và NGƯỢC LẠI càng không thể vì hai chữ “KHÁCH QUAN” mà quên mất hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Đến bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập, vấn đề càng trở nên rõ ràng hơn.
Ở những tập viết về thời kỳ 1954–1975, cách gọi các lực lượng, ngụy quyền miền Nam đều bị Lê đánh tráo khái niệm.

Vứt bỏ những thuật ngữ quen thuộc như “ngụy quân”, “ngụy quyền”, “tay sai”, “đánh thuê cho Mỹ” trong giai đoạn chống Mỹ (1954-1975).

Có người nói: đó là thay đổi cách tiếp cận mới, để sử học khách quan hơn.

Tôi xin hỏi ông Lê và các học trò, đệ tử ruột cuả ông

Nếu một chính quyền được thành lập và sống còn nhờ đồng đôla của Hoa Kỳ. 
Nếu Mỹ trực tiếp đưa quân vào Việt Nam, tiến hành chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam, thì khi viết lịch sử về giai đoạn ấy, có nên xóa bỏ hoàn toàn những khái niệm đã từng được sử dụng để phản ánh bản chất quan hệ ấy không?

Nếu không dùng chữ “ngụy”, xin hãy giải thích.

Tôi không cho rằng cứ bỏ một chữ là có thể thay đổi được bản chất một giai đoạn lịch sử.

Nhưng chữ dùng trong sách sử không được phép tùy tiện..
Một chữ có thể thay đổi sự nhìn nhận về lịch sử và cuộc chiến của thế hệ sau.

Năm 2018, những tranh luận quanh Bộ Quốc sử 30 tập cũng đã bùng lên.

Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Thượng tướng Võ Tiến Trung và GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn đã trực tiếp gặp Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam để trình bày những ý kiến của mình.

GS.TS Vũ Minh Giang và đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ cũng tham dự cuộc làm việc.

Điều đáng chú ý là tại thời điểm ấy, chính Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết bộ Quốc sử vẫn đang trong quá trình biên soạn, phải qua quy trình nghiệm thu, những vấn đề phức tạp phải được xem xét và báo cáo cấp có thẩm quyền.

Những ý kiến ấy được tiếp thu đến đâu?
- Điểm nào được sửa?

- Điểm nào không sửa?

- Ai chịu trách nhiệm trả lời?

Đến nay vẫn chưa thấy một văn bản công khai nào trả lời đầy đủ những câu hỏi ấy.

Và 
Năm 2021, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trong chuyến thăm Hoa Kỳ đã tặng bộ Lịch sử Việt Nam 15 tập cho chương trình Việt Nam học tại Đại học Columbia.

Tôi không phản đối việc quảng bá lịch sử Việt Nam ra thế giới.

Nhưng trong nước đã và đang có những tranh luận gay gắt về cách viết, cách dùng thuật ngữ, và những vấn đề còn phải thẩm định, thì câu hỏi về quy trình nghiệm thu và trách nhiệm học thuật càng cần được trả lời rõ ràng.

Một bộ sử được đem làm quà tặng đối ngoại thì đương nhiên phải là sản phẩm mà Nhà nước hoàn toàn yên tâm về nội dung và quy trình khoa học.

- Vậy ai nghiệm thu?
- Nghiệm thu khi nào?

- Nội dung nào đã được thẩm định?

- Những kiến nghị phản biện năm 2018 được xử lý ra sao?

Có người đã hỏi tôi:

“Ông viết bài này từ năm 2018. Phan Huy Lê đã mất nhiều năm rồi, còn đào lại làm gì?”

Nhưng tôi lại nghĩ khác.

Người đã mất thì không thể trả lời. 
- Nhưng những công trình lịch sử thì vẫn còn đó.
- Sách vẫn còn đó.
- Những câu chữ vẫn còn đó.
- Những quan điểm được công bố vẫn còn đó.

Và lịch sử thì không có thời hạn 5 năm, 10 năm hay 100 năm.

Tôi là một người lính đã đi qua chiến tranh.
Tôi hiểu một điều rất đơn giản:

- Một dân tộc có thể mở cửa với thế giới.

- Có thể hòa giải.
- Có thể hợp tác.
- Có thể nhìn lại quá khứ bằng một tâm thế tự tin hơn đàng hoàng hơn.

- Nhưng hòa giải không đồng nghĩa với xóa nhòa lịch sử.

- Khách quan không đồng nghĩa với cào bằng chính nghĩa và phi nghĩa.
Và càng không thể lấy danh nghĩa “tôn trọng sự thật lịch sử” để né tránh những sự bảo vệ anh trai và gia đình./.




#QV-ST!

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: THƯ NGỎ: ĐÔI LỜI GỞI ĐẾN LÃNH ĐẠO BỘ GIÁO VÀ DỤC ĐÀO TẠO!

⁃ Kính thưa quý Đồng chí lãnh đạo của Bộ!
⁃ Thưa các vị chuyên gia đã và đang tham mưu cho Bộ về Chương trình giáo dục phổ thông các cấp!

Cách đây hơn ba tuần trên Chương trình thời sự buổi sáng của VTV1 đã đưa tin: Vào năm học 2022-2023 trở đi trong bảy môn học bắt buộc cho lớp 10 và PTTH không có môn lịch sử. Nghe xong thông tin này tôi bán tín, bán nghi phải chăng VTV đưa tin nhầm, hay tôi nghe không rõ. Bởi vì tôi cảm nhận không thể Ngành giáo dục Việt Nam, với quan điểm giáo dục Mác xít và lấy Tư tưởng của Bác Hồ làm nền tảng lại có chuyện lạ đời như vậy, đặc biệt là sau sự kiện 2012, khi mà cũng quý Bộ đã đề xuất bỏ môn sử mà tích hợp nội dung lịch sử vào các môn học khác như giáo dục công dân, giáo dục QPAN ...đã bị dư luận xã hội phản đối mạnh mẽ, thậm chí có người mạnh miệng cho rằng trong Bộ GDĐT có người đã tự diễn biến, tự chuyển hoá, phá hoại nền giáo dục XHCN của chúng ta. Trước dư luận đó Quốc hội phải đưa ra thảo luận và nếu tôi nhớ không nhầm thì QH buộc phải ra một Nghị quyết chuyên đề yêu cầu không được bỏ môn lịch sử ... và lúc đó khi nói chuyện thời sự, với tinh thần thẳng thắng tôi đã nói “nếu tôi được làm Thủ tướng, tôi sẽ cách chức ngay Bộ trưởng Bộ GDĐT và người tham mưu bỏ môn sử“. Thế cho nên nay nghe Thông tin các vị gián tiếp bỏ môn sử, tôi thực sự thấy lạ lùng và nghĩ rằng không thế có điều này. Chính vì vậy mà tôi đề nghị với các đồng chí có trách nhiệm nắm lại thử có điều đó hay không, và câu trả lời là đúng đã có quyết định như vậy của Bộ nhà. (Một anh bạn của tôi đã nhắn tin hỏi một lãnh đạo của Bộ và đã được trả lời chính xác như vậy đồng thời cũng đã được nghe lý giải vì sao không đưa môn lịch sử thành môn học bắt buộc ở cấp PTTH- nội dung giải thích đúng như nội dung ông Nguyễn Minh Thuyết với tư cách là Tổng chủ biên Chương trình giáo dục mới trả lời phỏng vấn trên VTC News đã bị cộng đồng mạng tuyệt đại phản đối).

Như vậy là đã rõ, lại một lần nữa Bộ lại tìm cách “bỏ“ môn lịch sử, lần này là ở cấp PTTH. Tôi xin quý đồng chí đừng vội giải thích rằng chúng tôi không bỏ hoặc quy cho tôi vu khống Bộ vì không bỏ mà nói “bỏ“. Thực ra các vị đã muốn bỏ từ lâu, song sức ép của xã hội và của người dân yêu nước các vị không dám công khai bỏ mà tìm cách gián tiếp bỏ ở cấp cao nhất của giáo dục phổ thông, đó là đưa môn sử trở thành môn tự chọn, và tất nhiên học sinh sẽ rất ít và rất rất ít em chọn môn sử (tôi còn nhớ tại thành phố Đà Nẵng đã có năm Hội đồng thi PTTH chỉ có một thí sinh dự thi môn lịch sử).

Một câu hỏi đặt ra: Tại sao Bộ Giáo dục Đào tạo lại tìm mọi cách để hạ thấp vai trò, vị trí của môn Lịch sử trong suốt 10 năm qua? Một môn mà bất cứ quốc gia nào cũng quan tâm (Trung Quốc xác định Lịch sử là một trong ba môn học quan trọng nhất, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ cũng xác định là môn bắt buộc học trong tất cả các cấp học...), và đặc biệt nền giáo dục XHCN với quan điểm dạy chữ là dạy người, giáo dục là nền tảng để đào tạo ra những con người mới XHCN, những con người yêu nước, yêu CNXH, có phẩm chất đạo đức và có năng lực hoạt động, vừa hồng, vừa chuyên góp phần xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì càng phải quan tâm đặc biệt đến môn Lịch sử.

Để trả lời câu hỏi này, tôi hoàn toàn không thể có câu trả lời nào khác là các đồng chí lãnh đạo Bộ đã xa rời Tư tưởng về giáo dục của Bác Hồ “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam", xa rời quan điểm về Văn hoá của Đảng ta mà mới nhất ngay đầu năm tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc đã nhắc lại “”Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội: Văn hoá còn dân tộc còn; phải giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc ...” và đặc biệt với cách làm đó đã vô tình hay cố ý tiếp tay cho những kẻ xét lại lịch sử (bởi vì khi đã làm cho xã hội mù sử thì đó là mãnh đất tốt để gieo mầm đổi trắng thay đen trong lịch sử, mà cuộc xung đột vũ trang ở Ucraina là tấm gương nhãn tiền trong việc nã đại bác vào lịch sử để rồi đưa cả dân tộc vào thảm họa), đồng thời cũng nằm trong âm mưu Diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch mà Mỹ là ông trùm xét lại lịch sử thế giới.

Thưa các đồng chí lãnh đạo của Bộ, mong các vị hãy vào mạng xã hội để nghe ai bảo vệ quan điểm loại môn sử ra khỏi môn học bắt buộc và ai phản đối mạnh mẽ sự việc này, để từ đó mà tự bạch lòng mình đã có trách nhiệm với lịch sử dân tộc hay chưa. Tôi xin khẳng định bất cứ ai hạ thấp xem thường và cố tình làm mù lịch sử đều là những người vô trách nhiệm với tiền nhân , vô cảm với thực tại và gây hậu quả tai hại với tương lại.

Với tấm lòng yêu nước của một người cháu của Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, là con của hai Liệt sĩ, là chiến sĩ Biệt động giải phóng hoạt động trong lòng thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi chân thành đề nghị các đồng chí hãy nhìn lại mình, nhận ra sai lầm khuyết điểm để tự sửa khi còn chưa muộn, đừng cho đây là việc nhỏ chỉ là một môn học mà hãy nhớ rằng lịch sử là cội nguồn dân tộc, lịch sử còn văn hoá còn, lịch sử mất văn hoá mất, văn hoá mất dân tộc mất, do vậy vấn đề học sử là vấn đề đại sự quốc gia xin chớ có xem thường.

Cuối thư xin gởi đến các đồng chí lãnh đạo của Bộ lời chào trách nhiệm!
Chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam!
Bài và ảnh:Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nguyên cục trưởng cục tuyên huấn QĐNDVN.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: CON EM CHÚNG TA ĐANG HỌC “NGỮ VĂN” TỪ NHỮNG TÁC GIẢ NHƯ THẾ NÀO???

     Dạy văn, suy cho cùng, là dạy người. Văn học không chỉ nuôi dưỡng tâm hồn, cảm thụ cái đẹp, mà còn góp phần hình thành nhân cách, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước và ý thức trách nhiệm với cộng đồng.

Bởi vậy, một tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa không còn đơn thuần là một sản phẩm văn chương, mà trở thành một giá trị giáo dục được trao vào tay thế hệ tương lai. Và nhìn vào một số tác phẩm đang hiện diện trong sách giáo khoa thời gian qua, không khỏi khiến người ta phải đặt câu hỏi: Con em chúng ta đang học Ngữ văn từ những tác giả như thế nào?

Và câu chuyện về tác giả bài thơ “Bắt nạt” đang gây bức xúc thời gian qua lại một lần nữa khiến câu hỏi ấy trở nên nóng bỏng và cần một lời giải hơn bao giờ hết.

Mấy ngày nay, câu chuyện về bài thơ “Bắt nạt” lại xôn xao trên các diễn đàn mạng xã hội. Về việc bài thơ ấy hay dở thế nào thôi khỏi bàn nhé, bởi đọc vào thì ai cũng thấy rồi, tôi cũng vào trang FB cá nhân tác giả, đọc xem hắn ta đang viết gì, nghĩ gì và đối thoại với những người không đồng tình với bài thơ của hắn ra sao. Đọc những dòng trạng thái, lướt qua những câu trả lời dưới phần bình luận, thú thật, đập vào mắt mình là hình ảnh của một con người vô cùng tầm thường, mang nặng tính ái kỷ, lúc nào cũng tự đề cao bản thân đến mức ngạo mạn.

Một kẻ có phông văn hóa thấp, văn hóa giao tiếp và ứng xử cực kỳ kém cỏi, luôn giữ thái độ trịch thượng, bề trên. Ở đó, người ta bắt gặp những ngôn từ chợ búa, miệt thị thô lỗ khi hắn ta gọi những ai dám chê bai tác phẩm của mình là lũ "a dua", "bọn đần độn", "đọc hiểu kém", "láo như nồi thất học", thậm chí trịch thượng thách thức cả cộng đồng bằng câu nói cửa miệng "thử làm xem, thách cả họ nhà mày".

Nhưng dừng lại ở đó thì vẫn chưa đủ để thấy hết mức độ bất thường của con người này. Bắt đầu xuất hiện những luồng thông tin trên mạng xã hội liên quan đến thái độ chính trị đầy vấn đề và góc khuất tư tưởng của nhân vật. Cảm thấy có điều gì đó cần phải làm sáng tỏ, mình quyết định lội ngược dòng thời gian để kiểm chứng tận gốc trước khi đặt bút viết những dòng này.

Và càng lội về quá khứ, bức tranh về nhân vật ấy càng hiện lên rõ mồn một với một chuỗi những phát ngôn ngông cuồng, xấc xược, mang tư tưởng lệch lạc. Hóa ra, câu chuyện của Nguyễn Thế Hoàng Linh chưa bao giờ chỉ dừng lại ở một bài thơ ngô nghê trong sách giáo khoa. Đằng sau cái tên đó là một cá nhân từng không ít lần công khai đăng tải những bài viết công kích trực diện hệ thống chính trị và chủ quyền quốc gia.

Hắn ta từng viết tút công khai châm biếm Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất của Việt Nam “họp như lảng tránh…toàn bọn dối gian”!??? Đến cao điểm năm 2018 xung quanh Dự thảo Luật Đặc khu, bản chất xuyên tạc càng lộ rõ khi hắn ta rêu rao rằng những người đứng đầu Chính phủ đang "nóng lòng dâng 3 hòn đảo quan trọng làm đặc khu cho nhà đầu tư nước ngoài trong 99 năm mà ứng cử viên tiềm năng nhất là TQ".

Không dừng lại ở đó, hắn ta còn dùng những từ ngữ bẩn thỉu để thóa mạ bộ máy quản lý, cho rằng "với những thứ sai trái ngang nhiên như BOT…chúng ta thừa hiểu chính phủ… vừa tham, vừa hèn, vừa bẩn thế nào", hay thậm chí quy chụp trơ trẽn rằng "điều khó khăn lớn nhất hiện tại của người Việt Nam là sinh tồn với một chính phủ hạ đẳng sẵn sàng bán nước như vậy" và "nếu không có sức ép bên ngoài từ Mỹ, từ Trung Quốc, từ viện trợ của Nhật, Đức…chính phủ còn lộng hành hơn nhiều". 

Trong các bài viết về ngoại giao, tay trái thì viết tút bài bác Trung Quốc, nhưng tay phải hắn ta đã kịp đưa ra luận điệu phi lý cho rằng Việt Nam phải nhờ Mỹ bảo kê, đưa tàu chiến quanh biển Đông, thậm chí nên “cho Mỹ thuê các đặc khu này làm một lớp lá chắn bảo kê ". Đỉnh điểm của sự ngạo mạn lố bịch là khi hắn ta viết những lời nhắn gửi với giọng điệu bề trên đối với nhà lãnh đạo nước ngoài rằng "và điều anh muốn nói với Tập Cận B là anh với chú đều là cao thủ thế giới... Anh vẫn chưa nỡ ghi thơ mắng chú nên chú đừng để anh phải làm như vậy. Anh cảm ơn"!??

Nếu hắn ngạo mạn, phát ngôn ngông cuồng như vậy, thì đây đơn thuần là vấn đề của cơ quan chức năng xác minh, xử lý, nhưng điều đáng nói hơn là bài thơ "Bắt nạt" của hắn lại chễm chệ nằm trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 (Tập 1).

Đặt sự việc này vào bức tranh rộng hơn của đời sống văn học, nghệ thuật và giáo dục, dư luận càng có lý do để đặt câu hỏi về bộ lọc trong lựa chọn, biên soạn và thẩm định ngữ liệu sách giáo khoa của cơ quan có thẩm quyền.

Và "Bắt nạt" không phải trường hợp cá biệt.

Vẫn còn đó “Đường vào trung tâm vũ trụ” (trích Thiên Mã) của Hà Thủy Nguyên - kẻ đã có những bài viết, bài nói có dấu hiệu xuyên tạc, xúc phạm vô văn hóa đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường xuyên giao du với số cơ hội, trở cờ như Nguyễn Q.A, Nguyên N, Chu H mà không ít lần VTV, ANTV đã đưa lên bản tin và gạch mặt; vẫn còn đó truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh - người từng vấp phải nhiều tranh luận về cách nhìn chiến tranh, lịch sử và người lính; vẫn còn đó bài thơ "Tiếng vọng" của Nguyễn Quang Thiều - người đã bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét vi phạm và kỷ luật cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng liên quan đến những sai phạm nghiêm trọng tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn trong vụ phát hành ấn phẩm tai tiếng Chuyện với Thanh (mà tác giả của nó là Nguyễn Thành Nam đã bị khởi tố về tội xâm phạm an ninh quốc gia).

Nghiêm trọng hơn, dư luận thời gian qua cũng đặt ra không ít nghi vấn và bức xúc vì trong các vị trí chủ biên, ban biên soạn chương trình sách giáo khoa lại xuất hiện những cái tên được cho là nằm trong “Nhóm 72” từng có kiến nghị đòi “đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp”.

Rõ ràng đây không phải những hiện tượng đơn lẻ. Đặc biệt trong bối cảnh giáo dục luôn là mũi tấn công hàng đầu trong chiến lược "diễn biến hòa bình" hòng làm phai nhạt lý tưởng thế hệ trẻ, tạo nguồn cho các cuộc "cách mạng màu", bạo loạn và lật đổ, dư luận hoàn toàn có quyền đặt ra những dấu hỏi lớn: Phải chăng cơ quan thẩm định đã thiếu đi sự nhạy bén chính trị tối thiểu, hay đằng sau đó còn có những toan tính, động cơ gì trong khâu tuyển chọn ngữ liệu?

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi". Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa đối với sự trường tồn của dân tộc. Và rất đáng chú ý, mới đây, tại buổi làm việc về kết quả một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu rà soát, hoàn thiện sách giáo khoa và học liệu; kịp thời điều chỉnh những nội dung bất cập, nhất là ở các môn học trực tiếp góp phần hình thành nhân cách, lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến, trong đó có Tiếng Việt, Ngữ văn.

Thế nhưng, nhìn lại những gì đang diễn ra, dư luận không khỏi bàng hoàng đặt câu hỏi: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiếp thu những chỉ đạo sâu sắc ấy như thế nào trong công tác biên soạn và thẩm định? Làm sao có thể vun đắp lòng yêu nước, xây dựng nhân sinh quan và tư tưởng tốt đẹp cho thế hệ trẻ, nếu như trong những trang sách giáo khoa chính thống vẫn dung dưỡng tác phẩm của những người có nhân cách lệch lạc, tư tưởng bất mãn với chế độ?

Văn chương có thể đa dạng. Nghệ thuật có thể khác biệt. Nhưng giáo dục thì không thể vô nguyên tắc. Học chữ phải đi cùng học làm người, học yêu Tổ quốc. Sách giáo khoa không phải là bãi rác để dung túng cho những sản phẩm kém chất lượng và càng không thể là nơi dung dưỡng mầm mống tư tưởng phản trắc, bất mãn. Hệ lụy của sự buông lỏng này sẽ vô cùng nguy hại nếu chúng ta tiếp tục để tâm hồn thế hệ tương lai rơi vào những “bộ lọc” lỏng lẻo và thiếu trách nhiệm.

Đã đến lúc cần một câu trả lời nghiêm túc, minh bạch từ những cơ quan có trách nhiệm. Văn chương chân chính luôn cần sự khiêm nhường, và sự tôn trọng nhân dân, tôn trọng đất nước chính là thước đo phẩm giá bền vững nhất của người cầm bút. Sách giáo khoa của quốc gia cần phải được làm sạch từ gốc, bắt đầu từ một bộ lọc thật sự khắt khe, công tâm và vì sự trường tồn của Tổ quốc!
#QV-ST!

ĐÔI LỜI VỀ NHÂN VẬT LÊ VĂN DUYỆT!

     Lê Văn Duyệt, vị đại thần triều Nguyễn, người có công lớn giúp Nguyễn Ánh thắng quân Tây Sơn, thành lập vương triều nhà Nguyễn. Mấy năm gần đây, chẳng hiểu vì sao người ta lại hoành tráng hoá, đưa Lê Văn Duyệt từ nhân vật gây tranh cãi trở thành Anh hùng dân tộc. Tổ chức, cá nhân một số địa phương tổ chức cúng tế linh đình, xem Lê Văn Duyệt chẳng khác nào đấng cứu thế của cả dân tộc có bề dày lịch sử gần 5000 năm. Xin có đôi lời như sau:

Lê Văn Duyệt theo Nguyễn Ánh từ những ngày đầu. Nếu như Gia Long được xem là chúa tể “cõng rắn cắn gà nhà/rước voi giày mả tổ” thì Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức…là những trợ thủ đắc lực cho người cầm đầu ấy. Sau khi Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, Lê Văn Duyệt là trợ thủ đắc lực oogn được giao nhiều trọng trách. Tháng 6 (âm lịch) năm 1812, vua Gia Long cho triệu tổng trấn Gia Định thành Nguyễn Văn Nhơn về, cử Lê Văn Duyệt vào thay (kiêm lĩnh cả 2 trấn Bình Thuận, Hà Tiên) và cho Trương Tấn Bửu làm phó tổng trấn, Ngô Nhân Tịnh làm hiệp (tổng) trấn. 

Khi Gia Long qua đời, Lê Văn Duyệt bất phục vua Minh Mạng, đi ngược chính sách triều đình. Minh Mạng lấy nho học làm nền tảng, trong khi đó Lê Văn Duyệt chủ trương thân thiện với người Pháp, Anh. Lê Văn Duyệt là kích động Người Chăm ly kha khỏi Đại Nam. Sau ngày từ trần của Po Klan Thu vào năm 1828, vua Minh Mệnh tìm cách đưa người trung thành với mình lên làm quốc vương Champa trong khi đó Lê Văn Duyệt quyết định giao quyền quốc vương Champa cho Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) tức là phó vương dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) và cũng là con của vua Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), một vị chiến hữu của vua Gia Long.

Sau ngày lên ngôi của Po Phaok The vào năm 1828, vương quốc Champa chấm dứt mối liên hệ với triều đình Huế, chỉ gửi triều cống cho Lê Văn Duyệt. Kể từ đó, nhân dân Champa hoàn toàn đặt dưới quyền che chở của tổng trấn Gia Định Thành, không còn phục tùng vua Minh Mệnh. Nếu Lê Văn Duyệt thành công trong việc chia cắt đất nước thì có lẽ là thế cục "Trịnh Nguyễn phân tranh" lần hai sẽ xẩy ra. Hồng phúc cho đất nước là Lê Văn Duyệt khi đó đã già và sớm ra đi. Kết quả là sau khi Lê Văn Duyệt mất, con nuôi là Lê Văn Khôi tạo phản và bị Minh Mạng tru diệt. Lê Văn Duyệt bị vua Minh Mạng cho đào mồ cuốc mả. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc Minh Mạng tận diệt người Chăm Pa năm 1832. Chính Lê Văn Duyệt chứ không phải ai khác, là kẻ kích động chia rẽ, thù địch dân tộc, dẫn đến các cuộc nội chiến sau này; đất nước bị hoang tàn vì khói lửa chiến tranh, Gia Định thành bị tàn phá nặng nề, nhân dân lầm than. Khi vua Minh Mạng đánh bại Lê Văn Khôi thì quốc lực theo đó suy giảm. Minh chứng là sau khi vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị nối ngôi đã không đủ lực để duy trì và buộc phải rút quân khỏi Trấn Tây Thành. Nếu cha con Lê Văn Duyệt không tạo phản, ly khai thì bản đồ nước ta không nhỏ hẹp như hôm nay. Không hiểu Lê Văn Duyệt có công lao gì với Gia Định Thành, có công lao gì với đất nước để được thần thánh hóa như hôm nay?

Lê Văn Duyệt được hoành tráng hoá, thần thánh hóa và hàng năm được tổ chức giỗ linh đình, chẳng hiểu vì lý do gì . Lê Văn Duyệt không xứng được nhận lễ nghi tôn kính bậc nhất Việt Nam như thế. Việt Nam có hàng ngàn, hàng vạn người công cao hơn Lê Văn Duyệt. Nếu nói về công lao khai phá và mạch nguồn cho dòng chảy Gia định thành, Sài Gòn - Gia Định hay thành phố Hồ Chí Minh thì người đầu tiên phải được nhắc đến là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh chứ không phải Lê Văn Duyệt.

Theo Đại Nam thực lục tiền biên thì vào tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu phong Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất, cử vào kinh lược xứ Đồng Nai. Theo đường biển, thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai đến ở tại Cù lao Phố. Từ đấy, Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Đất đai mở rộng ngàn dặm, cho chiêu mộ lưu dân từ Bố Chánh châu (Quảng Bình) trở vào, đến ở khắp nơi, đặt ra phường, ấp, xã, thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh, điền và lập bộ tịch đinh điền. Từ đó con cháu người Hoa ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch.

Sách Đại Nam liệt truyện (Tiền biên, quyển 1) ghi công: Nguyễn Hữu Cảnh đã chiêu mộ dân phiêu tán từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vào Nam vào đất ấy (tức đất Trấn Biên và Phiên Trấn), rồi đặt xã thôn, phường ấp, định ngạch tô thuế và ghi tên vào sổ đinh. Và cũng theo Trịnh Hoài Đức thì nhờ Nguyễn Hữu Cảnh mà đất đai mở rộng hơn ngàn dặm, dân số có thêm bốn vạn hộ. Vậy nên người có có công lao khai phá, mở rộng và ổn định vùng đất phía nam phải là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Lê Văn Duyệt tội nhiều hơn công, sao lại cúng tế linh đình; nâng tầm như thể là anh hùng dân tộc? Thật khó hiểu./.
---------
P/s: Tài liệu tham khảo:
1. Tiền biên, quyển 8, tr. 14a dẫn theo Danny.
Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục Chính Biên, Đệ nhất kỷ, bản dịch của Viện Sử học, tái bản lần 1, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, tr. 306

2. Quốc Triều Chính Biên Toát yếu, bản tiếng Việt do Quốc Sử Quán dịch - Nhà xuất bản Nghiên cứu Sử Địa Việt nam 1972, tr. 81.

3. Công trình nghiên cứu khoa học về 33 năm cuối của Vương quốc Chăm-pa của Giáo sư người gốc Chăm Po Dharma , kể từ năm 1802, năm lên ngôi của Nguyễn Ánh tại Huế với danh hiệu Gia Long, người đã có công tái lập lại cơ chế độc lập của Champa, cho tới năm 1835 với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa cuối cùng do Ja Thak Wa lãnh đạo, dẫn đến việc vua Minh Mạng sát nhập phần lãnh thổ cuối cùng của Chăm-pa vào nước Đại Nam./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: VĂN CHƯƠNG CÓ THỂ SÁNG TẠO, HƯ CẤU, VỊ NGHỆ THUẬT NHƯNG NHẤT ĐỊNH KHÔNG ĐƯỢC XUYÊN TẠC, LỆCH LẠC!

     Những ngày gần đây, dư luận xôn xao, ý kiến trái chiều về tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Bảo Ninh được vinh danh trong lễ công bố bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất.

Theo Nhà thơ Trần Đăng Khoa - thành viên Hội đồng chung khảo bình chọn 50 tác phẩm tiêu biểu sau thống nhất - đánh giá Nỗi buồn chiến tranh là cuốn sách hay. Ông cho rằng không phải ngẫu nhiên mà thế giới chọn tác phẩm này để dịch ra hàng chục thứ tiếng và phát hành trên nhiều quốc gia. Đồng quan điểm, TS. Hà Thanh Vân, Trung tâm Xúc tiến Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam cũng khẳng định tác phẩm xứng đáng được vinh danh vì nó góp phần mở rộng biên độ tự do sáng tạo văn chương từ thời kỳ đổi mới. Nỗi buồn chiến tranh được ghi nhận không chỉ vì hay, mà bởi nó mở ra một cách nhìn khác, can đảm nói về những điều khó nói và can đảm đặt bi kịch con người ở trung tâm của cuộc chiến tranh. Xin có đôi lời như sau: 

Thứ nhất, bình diện văn học thuần túy, mỗi tác giả có quan điểm nghệ thuật khác nhau. Đó là điều hoàn toàn bình thường nếu nó không lệnh chuẩn, không phiến diện, không trái với luân lý và chuẩn mực xã hội. Trước cách mạng tháng Tám 1945, Nhất Linh, Hoàng Đạo...theo đuổi thứ nghệ thuật vị nghệ thuật; Nam cao và nhiều nhà văn lựa chọn đồng hành cùng dân tộc khi lựa chọn nghệ thuật vị nhân sinh. Với tư tưởng, Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than. 

Nói thế để làm rõ về khía cạnh văn chương, nghệ thuật thì sự lựa chọn của mỗi tác giả, phản ánh tư tưởng, quan điểm của họ. Văn là người và tác phẩm văn học phản ánh tư tưởng, quan điểm và thế giới quan, nhân sinh quan của người tạo ra nó. Bảo Ninh viết "Nỗi buồn chiến tranh" dưới dạng hồi ký. Lời tự sự của người từng đi qua mưa bom bão đạn. Tuy nhiên tác phẩm này có rất nhiều vấn đề không thể chấp nhận được. Tác phẩm với ngôn từ dung tục chẳng khác nào truyện người lớn. Và khó hiểu hơn nó lại được đưa vào trong chương trình giảng dạy trung học phổ thông. Những đứa trẻ, mầm non tương lai của dân tộc sẽ cảm nhận thế nào về tác phẩm đầy mùi xác thịt. Rồi những tờ giấy trắng sẽ bị vấy bẩn bởi những vết mực bẩn thỉu mang tên "Nỗi buồn chiến tranh".

Thứ hai, Nỗi buồn chiến tranh xuyên tạc hình ảnh của anh Bộ đội cụ Hồ, những người con ưu tú của tổ quốc đã 20 năm trường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nếu những người lính đều ra trận với tâm thế sợ hãi, cúi đầu như Bảo Ninh miêu tả trong tác phẩm thì liệu người Việt Nam có đánh bại đế quốc Mỹ và chư hầu, tay sai bán nước ngụy Sài Gòn để thu non sông về một mối, hoà bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh như hôm nay? Sáng tạo không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng!

Thứ ba, nhà văn Bảo Ninh luôn cho rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta từ năm 1954 - 1975 là “cuộc nội chiến". Luận điệu không khác gì những kẻ lưu vong, thất trận gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc ta là chiến tranh Việt Nam. Thật không thể chấp nhận được!

Muốn biết cuộc chiến có phải là nội chiến hay chiến tranh vệ quốc thì trước hết cần phải chiết tự cụm từ "nội chiến". Nội chiến tức là khi mâu thuẫn đối kháng, không thể điều hoà giữa các phe phái trong cùng một nước, các bên tiến hành chiến tranh chống lại nhau. Ví như cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh hay cuộc nội chiến Nam - Bắc Hoa Kỳ là ví dụ điển hình của nội chiến. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta (1954-1975) là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một bên là đế quốc Mỹ, quân đội chư hầu như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Úc…và tay sai bán nước ngụy Sài Gòn. Đây không phải là một cuộc nội chiến vì kẻ nắm thực quyền và quyết định mọi việc của phe địch là đế quốc Mỹ, ngụy Sài Gòn chỉ do Mỹ dựng lên, làm tay sai để hợp thức hóa mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới.
 
Mỹ mang quân đội trực tiếp xâm lược, từ vũ khí cho đến mọi thứ đều do một tay Mỹ chu cấp, nuôi dưỡng bọn Việt gian, phản quốc để chống lại đất nước. Trong giai đoạn đỉnh quân số của Quân đội Mỹ triển khai ở chiến trường miền Nam Việt Nam lên đến 541.933 quân, nhằm phục vụ cho chiến lược Chiến tranh Cục bộ mà Lầu Năm Góc kỳ vọng sẽ giúp họ chiến thắng. Người Mỹ mang quân đi giết người Việt Nam và bị người giết, mất hơn 58.000 nhân mạng, hơn 303.000 người thành tàn tật, phế nhân và 1000 tỷ USD (thời giá 2010)…Vậy đây nhất quyết không phải là cuộc nội chiến!

Nói thế để hiểu rằng, từ 1954 - 1975, Mỹ mới là người quyết định chứ không phải là ngụy. Điều đó đã được minh chứng qua câu nói của ông Nguyễn Cao Kỳ: “Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”.

Đùng ngụy biện rằng "Nỗi buồn chiến tranh" là sáng tạo, là sáng tạo. Sáng tạo không có nghĩa là xuyên tạc, lệch lạc về tư tưởng chính trị văn thoát li khỏi đời sống xã hội. Trên đời này chẳng có thứ văn chương nào có thể thoát ly khỏi yếu tố xã hội, đời sống con người vì như thế thì văn chương chẳng khác nào thứ hư không. Do đó văn chương luôn gắn với chính trị, đó mới đích thực là văn chương. Đó mới là nghệ thuật vị nhân sinh, phản ánh hơi thở của thời đại, tiếng lòng của non sông đất nước, của nhân dân.

Nỗi buồn chiến tranh đã chết yểu ở Việt Nam mấy mươi năm và bỗng dưng sống lại và được vinh danh, đưa vào chương trình giảng dạy theo cách không ai có thể ngờ. Đây chính là nỗi lo của nhân dân Việt Nam. Trước đó, phong trào xét lại lịch sử rộ như nấm sau mưa và bây giờ là tác phẩm nghệ thuật lệch lạc, xuyên tạc lại được vinh danh, khiến những người quan tâm vận mệnh dân tộc không khỏi lo lắng.
  
Nhìn lại bài học Liên Xô trước đây để thấy xét lại, xuyên tạc lịch sử hiểm nguy thế nào. Từ năm 1986 đến 1988, một loạt cán bộ chủ chốt của các tờ báo có ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay thế bởi những người ủng hộ chủ trương “Tây hóa” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã khuynh đảo dư luận, làm cho nhiều người dân ảo tưởng vào phương Tây và như thế “cả đàn sói đã chồm lên cắn vào lịch sử/ cào chiến công, xé xác những anh hùng”. Hàng loạt tướng lĩnh và đảng viên lão thành đều bị cho nghỉ hưu để nhường cho “lớp trẻ cấp tiến”, kinh tế chậm đổi mới, các vấn đề nội tại phát sinh cấp số nhân và ngày càng gay gắt…trào lưu xét lại lịch sử, xem nhẹ lịch sử và chiến công của các anh hùng Xô Viết, ca ngợi cái gọi là "dân chủ, văn minh phương Tây" đạt đến cao trào.

Điều gì đến đã phải đến, công lao mà Lê Nin và các thế hệ đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô trong phút chóc đã chìm xuống biển sâu! Đó là nỗi đau đoạn trường của những người Cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta. Lãnh tụ vĩ đại của chủ nghĩa Cộng Sản, Lê Nin đã từng cảnh báo “không có kẻ thù nào, dù chúng hùng mạnh và hung hãn nhất có thể đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản, ngoại trừ những người Cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng những lỗi lầm không kịp khắc phục”. Tiếc thay, ngay trên quê hương của Lê Nin vĩ đại, hòn đá tảng của chủ nghĩa Xã hội lại sụp đổ một cách nhanh chóng vì những nguyên nhân nội tại là chủ yếu mà trước đó Lê Nin đã cảnh báo.

Việt Nam nên lấy tấm gương tày liếp của Liên Xô để đánh bại những Yakolev mới. Xuyên lịch sử, sớm muộn cũng phải trả giá đắt, là cơ hội để các thế lực thù địch xuyên tạc, xét lại. Sớm muộn thì lịch sử Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh sẽ bị đám Việt gian bắt tay với ngoại bang bôi nhọ, hạ bệ. Mong những người, những cơ quan có trách nhiệm hãy lên tiếng, không để tiểu nhân đắc chí và "Nỗi buồn chiến tranh" cần được khai tử./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: KHI NHỮNG NGƯỜI LÀM VĂN HÓA LẠI "THIẾU VĂN HÓA" TIẾNG VIỆT ĐÃ THUA NGAY TRÊN CHÍNH SÂN NHÀ!

     Hôm nay, vô tình lướt mạng và thấy cái ảnh này...

Đập vào mắt tôi đầu tiên không phải là một danh thắng, mà là một sự sai phạm rành rành về luật pháp được phơi bày ngay giữa trung tâm Thủ đô. Với những ai am tường pháp luật, chỉ cần nhìn qua tấm pano này là thấy ngay sự coi thường kỷ cương hiện hành. 

Tại Điều 18 của Luật Quảng cáo, Nhà nước đã quy định rất nghiêm ngặt rằng: chữ nước ngoài bắt buộc phải đặt phía dưới chữ tiếng Việt, và khổ chữ không được quá ba phần tư (3/4) khổ chữ tiếng Việt (Nằm trong Luật số 16/2012/QH13 của Quốc hội: LUẬT QUẢNG CÁO, Quy định về tiếng nói và chữ viết trong quảng cáo phải như thế nào). 

Vậy mà ở đây, tấm biển sự kiện văn hóa mang danh Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội lại ngang nhiên làm ngược lại: dòng chữ tiếng Anh "The color of HANOI" chễm chệ ở trên cao với kích thước bề thế, chiếm trọn tâm điểm, trong khi dòng chữ tiếng Việt "SẮC MÀU HÀ NỘI" bị đẩy xuống dưới, khép nép và lọt thỏm như một dòng phụ đề nhạt nhòa. 

Ở cái tuổi này, khi đã đi qua đủ thăng trầm, chịu đủ thứ nhức nhối và bất cập từ các quyết sách ngu dốt của BGD, tôi đã ngỡ mình sẽ không còn nổi giận vì những điều mắt thấy tai nghe trên mạng xã hội nữa. Nhưng nhìn tấm pano này, lòng tôi chợt dâng lên một nỗi chạnh lòng sâu sắc về giá trị của ngôn ngữ. 

Đối với tôi, ngôn ngữ không đơn thuần là những ký tự vô tri hay một công cụ để thông tin, mà nó là "ngôi nhà của hữu thể", là nơi trú ngụ của linh hồn một dân tộc. Chữ viết của một quốc gia chính là tấm gương phản chiếu chiều sâu văn hóa và lòng tự tôn của con người sống trên mảnh đất đó. Khi chúng ta từ bỏ hoặc hạ thấp chữ viết của cha ông, đó không còn là một lỗi thiết kế đồ họa đơn thuần, mà là sự rạn nứt từ trong nhận thức về cội nguồn.

Nhìn rộng ra bối cảnh xã hội hôm nay, tấm pano lỗi thời này thực chất chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm mang tên "me Tây". Cả một xã hội và nền giáo dục đang cuống cuồng chạy theo các đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, người trẻ tự hào vì bắn ngoại ngữ trôi chảy nhưng lại viết sai chính tả tiếng mẹ đẻ. 

Trên mọi mặt trận, từ biển hiệu cửa hàng đến các chương trình nghệ thuật, tiếng Việt đang bị ghẻ lạnh, bị đẩy lùi về phía sau như một thứ yếu thế. Người ta có một nỗi sợ vô hình: sợ chữ tiếng Việt đặt lên trên sẽ "kém sang", sợ không dùng tiếng Anh thì "Sắc màu Hà Nội" không đủ tầm quốc tế. Đó là một thứ tư duy nô dịch tâm lý đáng buồn, một sự tự ti nhược tiểu ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc hội nhập thời thượng.

Trớ trêu thay, một chương trình nhân danh việc tôn vinh di sản, được bảo trợ bởi cơ quan quyền lực cao nhất của Thủ đô ngàn năm văn hiến, lại chọn cách mở đầu bằng việc giẫm đạp lên luật pháp và rẻ rúng ngôn ngữ dân tộc ngay tại trái tim của đất nước. Người ta muốn giới thiệu một Hà Nội thanh lịch, nhưng lại quên mất rằng sự thanh lịch ấy phải được định hình từ lòng tự trọng của một chủ thể văn hóa độc lập, chứ không phải từ sự vay mượn và thỏa hiệp ngôn từ.

Tách trà sáng nay bỗng có vị hơi chát. Tôi không bài xích việc học tiếng Anh, nhưng tôi hiểu rằng nếu một dân tộc đánh mất đi tiếng nói và chữ viết của mình, họ sẽ trở thành những kẻ vô gia cư ngay trên chính mảnh đất quê hương. 

Mong rằng sau những tiếng phản đối quyết liệt của dư luận, tấm pano ấy sẽ được hạ xuống để trả lại sự tôn nghiêm cho không gian Hồ Gươm, và là một lời cảnh tỉnh nhẹ nhàng nhưng thấm thía cho những cái đầu đang mê muội ngoài kia biết trân trọng hơn tiếng mẹ đẻ./.
#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHẤN CHỈNH VIỆC MANG MẶC QUÂN PHỤC CỦA CỰU CHIẾN BINH “ĐÚNG ĐỐI TƯỢNG, ĐÚNG QUY TRÌNH”!

     Quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là trang phục mà còn mang giá trị biểu tượng, gắn với hình ảnh, truyền thống và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Pháp luật cho phép một số đối tượng đã thôi phục vụ tại ngũ được sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu trong những trường hợp nhất định. Tuy nhiên, quyền đó phải được thực hiện đúng đối tượng, đúng cấp bậc và đúng hoàn cảnh, tránh tùy tiện gây phản cảm hoặc nhầm lẫn về tư cách quân nhân.

Trong tiến trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành một giá trị cao đẹp trong lòng Nhân dân. Hình ảnh ấy không chỉ được tạo nên bởi bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống mà còn thể hiện qua lễ tiết, tác phong và sự chính quy của người quân nhân.

Quân phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu vì thế không đơn thuần là trang phục hay vật trang trí. Mỗi chi tiết đều gắn với đặc trưng của Quân đội, thể hiện cấp bậc, quân chủng, binh chủng và tư cách của người sử dụng. Việc quản lý, sử dụng những dấu hiệu đặc trưng này đã được pháp luật quy định.

Không phải cứ thôi phục vụ tại ngũ là không được mặc quân phục
Nghị định số 82/2016/NĐ-CP ngày 1-7-2016 của Chính phủ quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của Quân đội nhân dân Việt Nam; sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 22/2024/NĐ-CP ngày 27-2-2024. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng về hệ thống quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, trang phục của Quân đội.

Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng pháp luật không quy định theo hướng tất cả những người đã thôi phục vụ tại ngũ đều đương nhiên bị cấm sử dụng quân phục.

Điều 37 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam quy định sĩ quan nghỉ hưu được sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu trong những ngày lễ, những cuộc hội họp, những buổi giao lưu truyền thống của Quân đội. Pháp luật cũng quy định quyền này đối với sĩ quan chuyển ngành, sĩ quan phục viên theo các trường hợp tương ứng.

Như vậy, khi bàn về việc CCB sử dụng quân phục, cần phân biệt rõ đối tượng. CCB là một khái niệm có phạm vi rộng, trong đó có những người trước khi trở về đời thường là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ... Quyền sử dụng quân phục sau khi thôi phục vụ tại ngũ vì vậy phải căn cứ vào đối tượng cụ thể và quy định pháp luật có liên quan, không nên đánh đồng tất cả CCB thành một nhóm có chế độ sử dụng quân phục giống nhau.

Điều cần chấn chỉnh không phải là việc một CCB cứ mặc quân phục thì bị xem là sai, mà là sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu không đúng đối tượng, không đúng quy định; tự ý “nâng cấp” quân hàm; sử dụng quân trang tùy tiện, hoặc theo cách có thể gây nhầm lẫn về tư cách quân nhân đang tại ngũ.

Thực tế, tại nhiều địa phương, CCB vẫn sử dụng quân phục trong những ngày lễ lớn, các cuộc gặp mặt truyền thống, hoạt động kỷ niệm, tri ân người có công, hội họp do Quân đội hoặc Hội CCB tổ chức... Đây là hình ảnh đẹp khi người sử dụng thuộc đối tượng được phép và mang mặc đúng quy định, thể hiện niềm tự hào về những năm tháng phục vụ trong Quân đội.

Không thể tự phong quân hàm để “mang mặc cho oai”
Điều đáng quan tâm hiện nay là tại một số nơi vẫn xuất hiện tình trạng sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu thiếu chuẩn mực.

Có trường hợp khi phục viên, xuất ngũ chỉ là hạ sĩ quan, binh sĩ nhưng sau đó lại tự mua, gắn cấp hiệu sĩ quan từ thiếu úy đến đại úy... Có nơi vận động hội viên đóng góp tiền mua quân phục, quân hiệu, cấp hiệu với mục đích “mang mặc thống nhất”; thậm chí xuất hiện cách phân chia Chi hội trưởng đeo quân hàm cao hơn, hội viên đeo quân hàm thấp hơn như một dấu hiệu thể hiện vị trí trong tổ chức Hội. Nếu có những trường hợp như vậy thì cần kiên quyết chấn chỉnh.

Chức vụ trong tổ chức Hội CCB không phải là căn cứ để xác lập cấp bậc quân hàm trong Quân đội. Chi hội trưởng, chi hội phó, chủ tịch hay phó chủ tịch Hội CCB là chức danh trong tổ chức Hội, không làm phát sinh hoặc thay đổi cấp bậc quân hàm mà cá nhân đã được cơ quan có thẩm quyền phong, thăng trong thời gian phục vụ Quân đội. Vì vậy, không thể vì lý do “mang mặc thống nhất”, “cho đẹp đội hình” hoặc “cho oai” mà tự mua, tự gắn cấp hiệu không đúng cấp bậc của mình.

Đây cũng là ranh giới cần được nhận thức rõ giữa niềm tự hào chính đáng về quá trình phục vụ trong Quân đội với việc sử dụng những dấu hiệu đặc trưng của Quân đội không đúng quy định.

Nghị định số 218/2025/NĐ-CP ngày 5-8-2025 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu đã quy định các hành vi vi phạm liên quan đến sử dụng, mua bán, sản xuất quân trang của Quân đội. Điều đó cho thấy quân trang không phải loại hàng hóa, trang phục có thể tùy tiện sản xuất, mua bán và sử dụng như trang phục dân sự thông thường.

Đặc biệt, việc lợi dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu để tạo lòng tin, gây nhầm lẫn về tư cách quân nhân hoặc phục vụ hành vi trái pháp luật không còn đơn thuần là vấn đề lễ tiết, tác phong mà tùy tính chất, mức độ có thể bị xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.

Giữ sự trang nghiêm từ chính cách sử dụng quân phục
Một vấn đề khác cũng cần được các cấp Hội quan tâm là cách thức sử dụng quân phục trong đời sống xã hội.

Thực tế có trường hợp CCB mặc quân phục không đồng bộ, cũ, nhàu nát; thậm chí còn kết hợp quân phục với quần cộc, áo may ô, dép lê hoặc sử dụng quân hiệu, cấp hiệu, huân chương, huy chương không phù hợp với hoàn cảnh. Cũng có người mặc quân phục, đeo đầy đủ huân, huy chương trong những hoạt động sinh hoạt đời thường không mang tính lễ nghi, truyền thống.

 Ở đây cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật với hành vi chưa phù hợp về lễ tiết, tác phong. Không phải mọi trường hợp mặc quân phục chưa đẹp, chưa phù hợp hoàn cảnh đều có thể quy ngay thành “vi phạm pháp luật”. Nhưng đối với CCB, những người đã từng được rèn luyện trong môi trường Quân đội, việc giữ gìn sự chỉnh tề, trang nghiêm khi sử dụng quân phục là yêu cầu cần thiết để bảo vệ hình ảnh của chính mình và truyền thống Quân đội.

Tương tự, đối với CCB tham gia các hoạt động dân sự hoặc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, khởi kiện..., cần nhìn nhận khách quan rằng đây là những quyền công dân được pháp luật bảo đảm. Không nên coi việc một CCB thực hiện các quyền này là hành vi đáng phê phán.

Vấn đề cần lưu ý là khi thực hiện các quyền công dân, CCB không nên sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu theo cách trái quy định hoặc có thể khiến người khác hiểu rằng mình đang nhân danh Quân đội, đại diện cho cơ quan quân sự hoặc đang thực hiện nhiệm vụ của quân nhân tại ngũ. Việc phân định rõ như vậy vừa bảo đảm quyền hợp pháp của CCB, vừa bảo vệ tính trang nghiêm và uy tín của Quân đội.

Chấn chỉnh trước hết phải từ tuyên truyền, hướng dẫn
Phần lớn CCB sau khi trở về đời thường vẫn giữ gìn tốt phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gương mẫu chấp hành pháp luật và có nhiều đóng góp cho cộng đồng. Những trường hợp sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu chưa phù hợp chỉ là một bộ phận nhỏ; trong đó có thể có người xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về quy định hiện hành chứ không phải cố tình vi phạm. Bởi vậy, chấn chỉnh trước hết phải bắt đầu từ tuyên truyền, hướng dẫn.

Hội CCB các cấp, nhất là tổ chức Hội ở cơ sở, cần giúp hội viên phân biệt rõ: trường hợp nào pháp luật cho phép sử dụng quân phục; đối tượng nào được sử dụng; sử dụng trong hoàn cảnh nào; quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu phải gắn ra sao và những hành vi nào không được phép thực hiện.

Trong sinh hoạt thường kỳ, hội họp thông thường, nếu không thuộc trường hợp cần sử dụng quân phục, hội viên có thể mặc trang phục dân sự lịch sự, gọn gàng hoặc trang phục thống nhất của tổ chức Hội nếu có quy định, hướng dẫn. Không nên tạo tâm lý rằng cứ tham dự hoạt động của Hội CCB thì nhất thiết phải mặc quân phục và càng không nên tự trang bị cấp hiệu để tạo sự “đồng đều” về hình thức.

Ban Chấp hành Hội CCB các cấp cũng cần tăng cường kiểm tra, nhắc nhở khi phát hiện hội viên tự ý sử dụng cấp hiệu không đúng cấp bậc; sử dụng quân hiệu, phù hiệu, quân phục không đúng đối tượng hoặc sử dụng theo cách gây nhầm lẫn về tư cách quân nhân.

Đối với những hành vi có dấu hiệu sử dụng quân trang trái phép thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật, cần chuyển thông tin cho cơ quan có thẩm quyền xem xét theo quy định, thay vì chỉ dừng ở việc nhắc nhở nội bộ.

Quan trọng hơn, mỗi CCB cần ý thức rằng cấp bậc quân hàm từng được mang trong Quân đội là kết quả của quá trình công tác, rèn luyện và quyết định của cơ quan có thẩm quyền, không phải một hình thức trang trí có thể tùy ý thay đổi. Chức vụ trong Hội, tuổi đời, thời gian tham gia Hội hay vị trí xã hội sau khi xuất ngũ đều không phải căn cứ để tự nâng cấp bậc quân hàm.

Quân phục càng không phải phương tiện để thể hiện “đẳng cấp”.

CCB là những người đã từng cống hiến tuổi trẻ, sức lực, có người đã hy sinh một phần xương máu cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Chính quá trình ấy tạo nên vị thế đáng trân trọng của người CCB trong xã hội mà không cần bất kỳ sự tô điểm hình thức nào.

Bởi vậy, chấn chỉnh việc mang mặc quân phục của CCB không có nghĩa là hạn chế niềm tự hào của những người đã từng khoác áo lính. Ngược lại, đó chính là cách để niềm tự hào ấy được thể hiện đúng đối tượng, đúng hoàn cảnh, đúng cấp bậc và đúng quy định pháp luật.

Khi mỗi hội viên hiểu đúng và tự giác thực hiện, bộ quân phục được sử dụng trong những dịp phù hợp sẽ càng thêm trang trọng; hình ảnh người CCB càng được Nhân dân trân trọng. Đó cũng là một cách thiết thực để mỗi CCB tiếp tục giữ gìn, phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ” và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới./. Báo Cựu chiến binh Việt Nam ngày 09/9/2026./.
#QV-ST!