Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: AI ĐÃ GIẢI CỨU TƯỢNG ĐÀI HỒ CHÍ MINH TẠI MOSKVA?

     Trên thế giới có đến 20 nước dựng tượng đài Hồ Chí Minh, riêng ở Nga có 4 thành phố dựng tượng đài Bác đó là thành phố Moskva, Leningrad, Ulianovsk, Vladivostock. Tượng đài Bác được dựng sớm nhất từ những năm còn Liên bang Xô Viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, tại quảng trường Hồ Chí Minh ở quận Akademichesky, thủ đô Moskva. Tượng Bác được đặt ở vị trí rất trang trọng, không gian rộng lớn. Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà Nước ta mỗi khi sang thăm nước Nga đều đến đặt vòng hoa trước tượng đài Bác.

Sau khi Liên Xô tan rã 1992 thì tượng đài Bác cũng chịu chung với số phận các tượng đài những nhà lãnh đạo cộng sản khác do phong trào bài cộng sản của Tổng thống Nga Boris Yeltsin. Tượng đài các vị nguyên soái huyền thoại của Liên Xô thời chiến tranh vệ quốc cũng bị phá bỏ. Rồi vào một buổi sáng ngày chủ nhật, tại quảng trường Hồ Chí Minh người ta nhìn thấy rất nhiều công nhân cùng máy xúc máy ủi tập trung dưới chân tượng đài. Những công nhân đang ngồi nghỉ hút thuốc để chuẩn bị vào việc thì bỗng nhiên có 1 chiếc xe Volga màu đen áp tới. Một người cao to trong xe bước ra, ông mặc sắc phục phi công cấp tướng rất phong độ oai vệ, ngực ông đeo đầy huân chương. Ông tướng tiến đến tốp công nhân đang ngồi:

- Chào các bạn, các bạn có biết tôi là ai không?
- Dạ, có chứ ạ, ông là German Titov, phi công vũ trụ, anh hùng Liên Xô, hai lần được thưởng huân chương Lênin. Tốp công nhân cùng nhau đáp vang vang với giọng vô cùng kính trọng ông tướng phi công vũ trụ anh hùng.
- Hôm nay các bạn tập trung ở đây làm gì vậy?
- Thưa tướng quân, chúng tôi được cử đến đây để phá tượng đài này.
- Các bạn có biết đây là tượng đài của ai không?
Tốp công nhân trả lời: 
- Đây là tượng đài Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản Việt Nam.
- Thế thôi à? Vậy là các bạn chưa biết hết về Hồ Chí Minh rồi. Đây là Chủ tịch nước Việt Nam thì đúng rồi, nhưng ông còn là một danh nhân văn hóa lớn của thế giới, một nhà hoạt động kiệt xuất cho hòa bình văn hóa thế giới.

Tốp công nhân đứng ngẩn người chưa kịp phản ứng gì thì ông tướng hỏi tiếp:
- Vậy chúng ta có nên phá tượng của một danh nhân văn hóa thế giới không nhỉ?
- Tất nhiên là không nên phá rồi!
Ông tướng và mọi người cùng cười vui vẻ. Tốp công nhân chào ông tướng, lục tục kéo thiết bị phá dỡ ra về. 

German Titov đứng trên quảng trường nhìn theo cho đến khi xe, thiết bị cùng những người công nhân đi khuất. Ông tiến lại chiếc Volga mở cửa lấy ra 1 bó hoa tiến đến đặt hoa trước tượng đài Bác Hồ. Ông đứng nghiêm giơ tay chào tượng Bác theo kiểu quân sự vài phút rồi mới ra về. Thế là từ đó đến nay, tượng đài Hồ Chí Minh vẫn tồn tại uy nghi giữa thủ đô xinh đẹp của xứ sở bạch dương giàu truyền thống cách mạng và lịch sử hào hùng./.


QV-ST!

KHI “VƯỢN TẤU HỀ”: MẶT THẬT CỦA KẺ PHẢN PHÚC ĐỘI LỐT NGHỆ SĨ!

Thưa các bạn,
Vào ngày hôm qua, Kênh truyền hình ANTV đã có video phóng sự dài 17 phút với tựa đề 'Vượng râu - gã hề lèo lái xuyên tạc lịch sử đất nước', chỉ mặt điểm tên gã hề phản phúc Nguyễn Quốc Vượng.

Tự do ngôn luận chưa bao giờ có nghĩa là tự do bôi nhọ quốc gia. Pháp luật bảo hộ quyền biểu đạt nhưng tuyệt đối không dung thứ cho những kẻ lộng ngôn, chống phá dân tộc.

Nói thêm cho những ai chưa biết, Nguyễn Công Vượng (nghệ danh Vượng Râu), kẻ vốn chỉ được biết đến qua những vai diễn hài nhạt nhẽo, nhảm nhí và có phần thô tục trên sân khấu, đã lạm dụng danh nghĩa "người của công chúng" để công khai bước qua lằn ranh đỏ của pháp luật.

Trung Quốc có một câu thành ngữ rất hay, đó là 'Mộc hầu nhi quan', ý chỉ con vượn tinh khôn, mặc quần áo đội mũ mào chỉnh tề như người lớn. Nó dùng để châm biếm những kẻ có bản chất thô lậu, thấp kém, bất tài hoặc khốn nạn nhưng lại cố tình ngụy trang bằng vẻ ngoài đạo mạo, học thức. Thế nhưng, dù chúng có khoác lên mình bộ cánh lộng lẫy đến đâu thì bản chất hoang dã, ngu dốt bên trong vẫn không thay đổi và sớm muộn cũng bị lộ ra.

Nguyễn Công Vượng chính là "con vượn đội mũ" như thế. "Gã vượn nổi tiếng vì tấu hề" này tự huyễn hoặc về tầm ảnh hưởng của mình, tự biến bản thân thành một thứ công cụ đắc lực, một quân cờ bị giật dây trong tay các thế lực thù địch nhằm công kích Đảng và Nhà nước.

Sự phản phúc, lộng ngôn và lèo lái của Nguyễn Công Vượng được phơi bày trần trụi qua chuỗi hành vi đen tối.

1. Kích động bạo loạn, xúc phạm lòng yêu nước: Trút bỏ tấm màn nhung, gã lộ rõ bản chất hậm hực bằng những bài viết đầy mùi kích động trên trang cá nhân. Điển hình là vào thời điểm xảy ra căng thẳng tại Bãi Tư Chính, gã tung lên Facebook bài viết mang tên "Khi lòng yêu nước bị tổn thương" để giục giã, cổ súy hoạt động căng băng rôn và xuống đường biểu tình trái phép.

Trơ trẽn hơn, gã buông lời lộng ngôn xúc phạm quốc gia khi trích dẫn: "Có lẽ hiếm nơi nào như Đất Nước chúng ta khi lòng yêu Nước là có tội!", đồng thời lèo lái dư luận rằng "lòng yêu nước bị phản bội", vu cáo chính quyền "hèn với giặc, ác với dân", bịa đặt vu cáo nhà nước Việt Nam đánh đập, bắt bớ người yêu nước. Sự xuyên tạc thô bạo này lập tức bị cộng đồng mạng bóc trần, vấp phải làn sóng chỉ trích dữ dội đến mức gã phải vội vàng gỡ bài trong nỗi nhục nhã ê hề.

2. Bôi nhọ lịch sử, xúc phạm anh hùng dân tộc.

Trong chuỗi bài viết trên mạng xã hội từ giai đoạn 2011 trở đi, Nguyễn Công Vượng liên tục dùng những từ ngữ thô tục để thóa mạ những người bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (gọi họ là "dư luận viên", “bò đỏ” một cách miệt thị). Gã xuyên tạc rằng lịch sử giáo dục Việt Nam đang "nhồi nhét tư tưởng", từ đó kích động thế lực trẻ quay lưng với các bài học lịch sử chính thống, hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng và công lao của thế hệ cha anh đi trước.

Không dừng lại ở việc bàn luận chính trị thấp kém, Nguyễn Công Vượng còn cả gan đánh tráo khái niệm và phỉ báng lịch sử nước nhà. Đơn cử như "con vượn mồm lông" này đã đã công khai xúc phạm vị anh hùng dân tộc Võ Thị Sáu khi phát ngôn một cách vô văn hóa rằng: "Võ Thị Sáu là khủng bố và là người có vấn đề về thần kinh, đừng thần thánh hóa".

Và vào các dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/04), Nguyễn Công Vượng thường xuyên đăng tải các bài viết có góc nhìn lạc điệu, u uất. Gã lèo lái, đánh tráo khái niệm khi gọi ngày đại thắng của dân tộc là "ngày quốc hận" theo luận điệu của các tổ chức cực đoan hải ngoại, bóp méo lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành "nội chiến" nhằm phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Hành vi "lật sử" bẩn thỉu này đi ngược lại hoàn toàn truyền thống đạo lý, chà đạp lên xương máu của cha ông và xúc phạm sâu sắc niềm tự hào của hàng triệu người dân Việt Nam.

3. Dung túng, dàn dựng chương trình biểu diễn ca ngợi ngụy quyền.

Trong chuỗi bài viết trên mạng xã hội từ giai đoạn 2011 trở đi, Nguyễn Công Vượng liên tục dùng những từ ngữ thô tục để thóa mạ những người bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (gọi họ là "dư luận viên", “bò đỏ” một cách miệt thị). Gã xuyên tạc rằng lịch sử giáo dục Việt Nam đang "nhồi nhét tư tưởng", từ đó kích động thế lực trẻ quay lưng với các bài học lịch sử chính thống, hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng và công lao của thế hệ cha anh đi trước.

Ảo tưởng về cái gọi là tầm ảnh hưởng xã hội, vào mùa bầu cử năm 2016, Nguyễn Công Vượng đã dàn dựng màn kịch tự ứng cử đại biểu Quốc hội. Đáng chú ý, gã không hoạt động độc lập mà công khai đứng chung hàng ngũ, liên kết chặt chẽ trong một "liên minh" với những gương mặt cộm cán, đầy rẫy cơ hội chính trị và chống phá khét tiếng như Tiến sĩ tự phong Nguyễn Quang A và ca sĩ phản động Mai Khôi

4. Vượng râu cấu kết, giao du với các phần tử bất hảo với động cơ đen tối.

Trên mạng xã hội, gã không ngần ngại phơi bày sự tha hóa tư tưởng khi biến trang cá nhân thành nơi ca tụng, đăng tải hình ảnh chụp chung với các đối tượng chống đối Đảng, Nhà nước. Gã công khai ra sức tán dương, ngợi ca Nguyễn Lân Thắng - một kẻ ngáo đá khét tiếng từng phỉ báng bàn thờ tổ tiên và bị pháp luật trừng trị.

Việc "vượn râu" giao du mật thiết với các thành phần thoái hóa biến chất, bất đồng chính kiến giả hiệu và thậm chí là các đối tượng hình sự chính là minh chứng rõ nhất cho thấy gã đã chọn đứng vào hàng ngũ của những kẻ quay lưng lại với Tổ quốc, phản bội lịch sử dân tộc.

Một kẻ ăn cơm bản xứ, kiếm tiền và thành danh nhờ công chúng nước nhà nhưng lại quay lưng chĩa mũi dùi vào đất nước. Những phát ngôn tùy tiện, điên cuồng của Nguyễn Công Vượng hoàn toàn không phải phản biện xã hội, mà chính là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm an ninh quốc gia.

Cái kết dành cho một "gã hề" ảo tưởng, bán rẻ lương tri để làm tay sai cho các thế lực thù địch giật dây chắc chắn sẽ là sự quay lưng, khinh rẻ và đào thải của toàn thể xã hội, và chắc chắn sẽ là vòng lao lí không xa./.
QV-ST!

MƯU ĐỒ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ NHÂN DANH VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT!

     Dưới danh nghĩa góc nhìn nhân văn”, một số sản phẩm nghe nhìn được sản xuất tại hải ngoại đã cố tình dựng lên cái gọi là "sự thật chưa kể" về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Lịch sử của một dân tộc không đơn thuần là những trang sách đã khép lại, mà là dòng chảy liên tục kết nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là nền tảng tinh thần, là cội nguồn hun đúc bản sắc và bản lĩnh của một quốc gia.

Thế nhưng, những nội dung bóp méo bản chất chính nghĩa của các cuộc kháng chiến, phủ nhận thành quả cách mạng thường được ngụy trang khéo léo dưới lớp vỏ, khái niệm mỹ miều như “góc nhìn đa chiều,” “tính nhân văn” hay “nghệ thuật sáng tạo." Việc làm sáng tỏ ranh giới giữa sáng tạo nghệ thuật chân chính và sự xuyên tạc lịch sử là điều cần thiết để giữ gìn những giá trị thiêng liêng mà nhiều thế hệ đã dày công vun đắp.

Khi nghệ thuật bị lợi dụng thành công cụ xuyên tạc

Đề tài chiến tranh trong văn học nghệ thuật Việt Nam là một lựa chọn có tính tất yếu khi nói về lịch sử dân tộc, bởi lịch sử hiện đại Việt Nam gắn liền với những cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước, với những trang sử hào hùng nhất, những chiến công vang dội nhất, phản ánh ý chí quật cường, tinh thần yêu nước và khát vọng tự do của nhân dân Việt Nam. Chiến tranh chính nghĩa không chỉ là câu chuyện của súng đạn và chiến trường, mà còn là câu chuyện của lòng dân, của tình đồng chí, tình yêu quê hương và ý chí bảo vệ Tổ quốc... Vì vậy, nghệ thuật chân chính cần góp phần giúp khán giả - nhất là thế hệ trẻ hiểu rằng, hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao mất mát, hy sinh. Tuy nhiên, trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, đề tài về chiến tranh trên mặt trận văn hóa, tư tưởng luôn được các đối tượng thù địch và những tư tưởng lệch lạc coi là “mảnh đất màu mỡ” để gieo rắc sự hoài nghi.

Đáng chú ý thời gian gần đây, dưới danh nghĩa “góc nhìn nhân văn” hay “tiếng nói đa chiều,” một số sản phẩm nghe nhìn được sản xuất tại hải ngoại đã cố tình dựng lên cái gọi là “sự thật chưa kể” về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Điểm chung của những tác phẩm này là tập trung khai thác sự bi lụy, khơi gợi nỗi đau từ những “đống tro tàn” quá khứ, để từ đó thực hiện mưu đồ tinh vi: Cào bằng, xóa nhòa ranh giới giữa chính nghĩa và phi nghĩa, phủ nhận giá trị của ngày đại thắng. Bằng cách sử dụng thủ pháp “lập lờ đánh lận con đen”, các tác giả này cố tình tách rời số phận cá nhân ra khỏi vận mệnh dân tộc, biến cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại thành một bi kịch của sự “nồi da nấu thịt”. Họ dựng lên một bức tranh lịch sử u tối, nơi chỉ có mất mát và những vết thương không thể chữa lành, nhằm dẫn dắt người xem - đặc biệt là thế hệ trẻ, đi đến nhận thức sai lệch rằng chiến tranh, dù là chiến tranh giải phóng, cũng đều là một sai lầm và tội ác. Đây thực chất là một dạng "xâm lăng văn hóa," dùng nghệ thuật như công cụ để thực hiện việc "giải thiêng" lịch sử, hòng làm suy giảm niềm tin, làm lung lay nền tảng tư tưởng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trước thực trạng các sản phẩm truyền thông có nội dung xuyên tạc này đang tìm cách thẩm thấu vào đời sống tinh thần thông qua không gian mạng, nhiều ý kiến của các chuyên gia cho rằng, cần làm rõ ranh giới giữa sự sáng tạo nghệ thuật đích thực và âm mưu chính trị đen tối núp bóng nhân văn để nhận diện đúng bản chất và kiên quyết đấu tranh phản bác. Lịch sử dân tộc không chỉ là câu chuyện của “quá khứ” mà cần được nhìn nhận trong mối quan hệ xuyên suốt giữa: quá khứ-hiện tại-tương lai. Trong bối cảnh hiện nay, khi internet và mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, các sản phẩm đa phương tiện, đặc biệt là phim ảnh, có sức lan tỏa rất lớn và tác động trực tiếp đến nhận thức xã hội, nhất là thế hệ trẻ. Thực tế đáng lo ngại là thời gian gần đây xuất hiện một số bộ phim, video, clip trên không gian mạng có nội dung xuyên tạc lịch sử Việt Nam, phủ nhận thành quả cách mạng, bóp méo bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Nếu thiếu nền tảng nhận thức lịch sử vững vàng, rất có thể một bộ phận công chúng đặc biệt là giới trẻ, sẽ dễ bị tác động. Văn học nghệ thuật chân chính phải góp phần lan tỏa các giá trị nhân văn, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và ý thức trách nhiệm với lịch sử, chứ không thể trở thành công cụ bóp méo lịch sử hay gây hoài nghi về những giá trị đã được đánh đổi bằng xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam.

Nghệ thuật không tách rời sự thật lịch sử và trách nhiệm dân tộc. Để xử lý hài hòa đề tài về chiến tranh trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, cần bảo đảm các nguyên tắc cốt lõi, trước hết là tính chân thực lịch sử. Nghệ thuật có quyền hư cấu và sáng tạo, nhưng không được xuyên tạc bản chất lịch sử hay phủ nhận những giá trị đã được khẳng định bằng thực tiễn và sự hy sinh của cả dân tộc. Bên cạnh đó, nghệ thuật đích thực cần mang đậm tính nhân văn, bởi chính chiều sâu giá trị nhân văn sẽ giúp tác phẩm có sức sống lâu dài. Một tác phẩm về chiến tranh không nên chỉ dừng lại ở việc ca ngợi chiến thắng theo lối một chiều, mà cần khắc họa con người - chủ thể lịch sử với đầy đủ chiều sâu cảm xúc: từ gian khổ, mất mát, đau thương đến niềm tin, khát vọng, nghị lực mạnh mẽ...

Đặc biệt, người làm nghệ thuật cần giữ được tinh thần khách quan, tỉnh táo và trách nhiệm xã hội, bởi nghệ thuật không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần định hướng nhận thức xã hội. Mỗi tác phẩm cần bảo đảm sự cân bằng giữa giá trị thẩm mỹ, giá trị lịch sử và ý nghĩa giáo dục. Cần tránh hai xu hướng cực đoan là tô hồng, giản đơn hóa chiến tranh; hay nhìn chiến tranh bằng thái độ bi quan cực đoan hoặc phi lịch sử, dễ dẫn đến lệch lạc trong nhận thức. Các tác phẩm về đề tài lịch sử và chiến tranh cách mạng trước hết phải tôn trọng sự thật lịch sử. Mọi dữ kiện phải dựa trên hệ thống tư liệu xác thực, nghiên cứu nghiêm túc và kiểm chứng chặt chẽ; quyền hư cấu nghệ thuật không thể trở thành lý do để làm sai lệch, thậm chí xuyên tạc, bôi nhọ bản chất sự kiện, đảo lộn giá trị lịch sử. Cần tránh các xu hướng lệch chuẩn như xuyên tạc hoặc phủ nhận sự thật lịch sử; nhân danh “đa chiều” để làm mờ ranh giới giữa chính nghĩa và phi nghĩa; cổ xúy tâm lý hoài nghi, phủ nhận công lao và sự hy sinh của các thế hệ đi trước; cần có góc nhìn khách quan, trung thực và nhân văn, dân chủ nhưng đồng thời phải đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân lên trên hết. Nhân văn không đồng nghĩa với việc đánh đồng đúng-sai, chính nghĩa-phi nghĩa hay xóa nhòa bản chất xâm lược của kẻ thù. Đa chiều cũng không có nghĩa là phủ nhận sự thật lịch sử hoặc cố tình “lật lại lịch sử” bằng những luận điệu sai lệch. Đây là ranh giới rất quan trọng giữa nghệ thuật chân chính với những sản phẩm cố tình xuyên tạc lịch sử dưới danh nghĩa “nhân văn” hay “đa chiều."

Nếu nghệ thuật tách rời sự thật lịch sử và trách nhiệm với dân tộc thì rất dễ trở thành công cụ tác động lệch lạc tới nhận thức xã hội. Do đó, các tác phẩm nghệ thuật nói chung, điện ảnh nói riêng về đề tài này cần được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng sự thật, không xuyên tạc, bóp méo hoặc cắt xén lịch sử vì mục đích thương mại hay động cơ chính trị; bảo đảm tính khách quan nhưng phải đặt trên nền tảng lợi ích dân tộc và chủ quyền quốc gia; đề cao giá trị nhân văn, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần hòa hợp dân tộc và khát vọng hòa bình, cũng như đề cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội, nhất là với thế hệ trẻ - những người hiện nay tiếp cận lịch sử phần lớn thông qua phim ảnh và mạng xã hội. Cực đoan trong 'giải thiêng lịch sử'; đồng nhất bên xâm lược với bên bảo vệ Tổ quốc; khai thác chiến tranh theo hướng giật gân, thương mại hóa; nhân danh 'đa chiều' để gieo rắc hoài nghi lịch sử hoặc phủ nhận thành quả cách mạng là những xu hướng đáng lo ngại cần tránh và lên án….
QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: PHẢI CẮT BỎ NHỮNG KHỐI U KHÔNG ĐỂ DI CĂN!

     Từ khi Đảng ra đời đến nay nhất là trong suốt 40 năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh; chủ động phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, kể từ khi đổi mới đến nay, trong mỗi giai đoạn, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo có những biểu hiện, mức độ và tính chất phức tạp tăng lên.

Công tác cán bộ không chỉ là khâu “then chốt” quyết định sự thành bại của mọi tổ chức mà còn là “”mắt xích” trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng. Đây là đội ngũ đóng vai trò hạt nhân của tổ chức, là bộ phận tinh hoa, nắm các vị trí then chốt, trọng yếu của hệ thống chính trị. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo có vai trò là người dẫn dắt quần chúng, muốn quần chúng tin tưởng, làm theo thì bản thân phải là tấm gương sáng; phải thực hiện trách nhiệm nêu gương, thường xuyên có ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, “tự soi”, “tự sửa”, vượt qua cám dỗ, cạm bẫy, mặt trái, tiêu cực.

Đáng mừng là phần lớn cán bộ, đảng viên kiên trung với Đảng, phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, được nhân dân tin yêu. Song đáng lo ngại một bộ phận cán bộ lãnh đạo kể cả lãnh đạo cấp chiến lược, lãnh đạo bộ, ngành, địa phương đã suy thoái về tư tưởng chính trị; thiếu niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động trước những khó khăn, thách thức; không kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Biểu hiện rõ nhất là thờ ơ, né tránh trước các vấn đề chính trị xã hội; không dám đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng; nói và làm trái với nghị quyết, quy định của Đảng. Bên cạnh đó, họ suy thoái nghiêm trọng đạo đức, lối sống; vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước; lợi dụng chức vụ quyền hạn để vụ lợi; tham ô, tham nhũng, mưu lợi cá nhân, vun vén cho gia đình, phe nhóm. Có những cán bộ lãnh đạo suy thoái nghiêm trọng, vi phạm pháp luật, bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Những đối tượng này vô tổ chức kỷ luật; coi thường nguyên tắc tập trung dân chủ, kỷ cương, kỷ luật Đảng; mất đoàn kết nội bộ, cục bộ địa phương, bè phái, tranh quyền đoạt lợi. Không chấp hành nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm. Sống quan liêu, xa rời quần chúng, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn của nhân dân. Nguy hiểm nhất các đối tượng này không phải là đảng viên đơn thuần mà là lãnh đạo đứng đầu bộ, ngành, địa phương, đơn vị. Vi phạm có tính hệ thống, không chỉ cá nhân người đứng đầu mà cả tập thể lãnh đạo. Sự suy thoái này làm suy giảm nghiêm trọng lòng tin của nhân dân đối với Đảng, phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ và tạo nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của chế độ, đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Đau cũng phải làm. Xử lý kỷ luật nghiêm khắc; truy tố cán bộ lãnh đạo sai phạm thể hiện sự nghiêm minh của Đảng trước nhân dân, trước vận mệnh của đất nước, nhân dân đồng tình ủng hộ. Phát hiện, đấu tranh, loại bỏ những kẻ suy thoái tư tưởng chính trị; đạo đức lối sống; vi phạm kỷ luật của Đảng ra khỏi hệ thống chính trị tuy khó khăn, phức tạp nhưng kiên quyết phải làm, làm tận gốc, làm đến nơi đến chốn dù chúng là ai và không có vùng cấm./.
Theo Facebook PTC.
QV-ST!

KHÔNG ĐỂ HÌNH THÀNH “VÙNG TRẮNG TƯ TƯỞNG” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

1. Ổn định chính trị, an ninh tư tưởng cho CBND là nhiệm vụ cấp bách

Trong những năm gần đây, tình hình thế giới và khu vực có nhiều bất ổn; xung đột sắc tộc, tôn giáo, căng thẳng địa chính trị. Một số quốc gia các thế lực thù địch kích động bạo loạn lật đổ chính quyền, chưa có bao giờ tình hình thế giới nóng như hiện nay. Trải qua nhiều năm chiến tranh đau thương đất nước bị chia cắt, tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu rất rõ giá trị của hòa bình, độc lập, thống nhất, ổn định chính trị để phát triển đất nước, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN trước đây là bài học nhãn tiền từ việc xét lại lịch sử gây nên bất ổn chính trị; làm rạn nứt khối đoàn kết xã hội; gây chia rẽ, hình thành các lực lượng chính trị chống đối, lôi kéo các giai tầng xã hội cuốn vào xung đột. Đối với Việt Nam, chiến lược DBHB không còn là nguy cơ mà đã hiện hữu trong đời sống chính trị, xã hội. Phong trào xét lại lịch sử, viết lại lịch sử thông qua “tự do nghiên cứu học thuật” xuyên tạc ý nghĩa của các cuộc kháng chiến thần thánh chống lại quân xâm lược của dân tộc; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thành quả cách mạng của dân tộc; rửa tội cho lũ tay sai bán nước với tần suất nhiều hơn, trắng trợn hơn, tinh vi hơn làm chuyển hoá nhận thức, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Bảo vệ an ninh tư tưởng không để hình thành “vùng trắng tư tưởng” trở thành nhiệm vụ cấp thiết của Đảng trước sự phát triển mạnh mẽ truyền thông số và các hình thức “chiến tranh mềm” của các thế lực thù địch.

2. Báo chí cách mạng phải mang tính chiến đấu, tính giai cấp

Trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Báo chí cách mạng là một "binh chủng" quan trọng cổ vũ tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu của nhân dân. Nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nói: “Báo chí Cách mạng có vai trò đặc biệt quan trọng trong hành trình vươn mình, phát triển mạnh mẽ của dân tộc. Báo chí là một mặt trận. Cán bộ báo chí là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén. Bài báo là tờ lịch cách mạng và ngòi bút là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà". Trong suốt những năm qua, Báo chí cách mạng luôn đóng vai trò quan trọng, là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cung cấp thông tin, định hướng dư luận và xây dựng nền tảng tư tưởng vững chắc; phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, giám sát xã hội và đấu tranh với các quan điểm sai trái, tiêu cực; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua vụ việc vinh danh cuốn sách “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh cho thấy văn học có xu hướng tách rời chính trị; một số tờ báo không còn tính chiến đấu, xa rời tính giai cấp, hùa nhau kết bè, kéo cánh tung hô tác phẩm bất chấp phản ứng dư luận xã hội; thậm chí một số tờ báo, phương tiện truyền thông dùng quyền lực mềm đe doạ, chỉ trích, phỉ báng những người lên tiếng phản đối tác phẩm NBCT của Bảo Ninh. Đây là hành vi không thể chấp nhận. Một xã hội văn minh không những là một xã hội tuân thủ pháp luật mà phải là một xã hội phản biện có văn hoá, có trách nhiệm không thể dùng quyền lực pháp luật để áp đặt. Báo chí có vai trò, sứ mệnh quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; định hướng dư luận hướng về chân, thiện, mỹ. Khi báo chí không làm tốt sứ mệnh đó, đi ngược lại lợi ích dân tộc, xa rời lý tưởng cách mạng, mất đi tính giai cấp thì báo chí đó không đứng về dân tộc, về nhân dân, không còn là báo chí cách mạng.

3. Tuyên giáo - Dân vận phải tích cực, chủ động làm tốt vai trò dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội không để hình thành “vùng trũng” dư luận xã hội

Tuyên giáo - Dân vận phải đi sát thực tiễn, phải nghe được hơi thở cuộc sống, phải nắm bắt dư luận xã hội, giúp Đảng hiểu được lòng dân; phải định hướng tư tưởng, thống nhất nhận thức, đi trước mở đường, chủ động tấn công, đi đầu dẫn dắt trên mặt trận tư tưởng văn hoá, làm đúng chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị tổng kết ngành Tuyên giáo - Dân vận năm 2025, đấu tranh không khoan nhượng trước các âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của các thế lực thù địch; đảm bảo ổn định chính trị và sự thống nhất về tư tưởng trong toàn Đảng và toàn xã hội; thắt chặt lòng dân với Đảng tạo thêm nguồn sức mạnh dân tộc cùng Đảng bước vào kỷ nguyên phát triển vươn mình của dân tộc./.


Theo Facebook PTC.
QV-ST!

CÁI TÁT VÔ MẶT NHỮNG KẺ LẬT SỬ!

     Cuốn “Lịch sử nước ta” với 208 câu thơ lục bát giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tái hiện hành trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc Việt Nam từ thời Hùng Vương đến giữa thế kỷ XX bằng cách kể gần gũi, giàu cảm xúc.

Năm 1942 tại Cao Bằng, cuốn sách "Lịch sử nước ta" của Bác được Việt Minh Tuyên truyền bộ xuất bản phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước và ý thức dân tộc trong quần chúng nhân dân góp phần vào thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược.

Kỷ niệm 136 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tái bản tác phẩm “Lịch sử nước ta” với hệ thống tranh minh họa sinh động; một lần nữa khẳng định sự thật lịch sử dân tộc dưới quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh không một thế lực nào có thể xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận đặc biệt là rửa mặt cho các kẻ tay sai bán nước, tội đồ của dân tộc Việt Nam.

Việc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tái bản tác phẩm “Lịch sử nước ta” của Hồ Chủ tịch là cái tát vô mặt những kẻ lật sử./.


QV-ST!

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: HOA KỲ ĐÃ ĐÁNH MẤT CƠ HỘI NGOẠI GIAO VỚI VIỆT NAM KHI CHỈ ĐẠO NGỤY QUYỀN PHÁ BỎ TỔNG TUYỂN CỬ SAU HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ!

     Cựu Đại tá lục quân Hoa Kỳ David Hackworth là một trong những sĩ quan được trao tặng nhiều huân chương nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ. Và cá nhân vị sĩ quan này có một sự tôn trọng cực kỳ lớn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong hồi ký cá nhân About Face: The Odyssey of an American Warrior, David Hackworth đã buộc tội rằng các bằng chứng chỉ ra rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ để cho Việt Nam thống nhất bằng tổng tuyển cử.

Vị đại tá này cho biết bất cứ ai cũng đều tin rằng Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ thắng trong tổng tuyển cử, bất chấp đối thủ của ông ấy là ai và được truyền thông tung hô như thế nào đi chăng nữa. David Hackworth viết rằng “Hồ Chí Minh chiến thắng là điều dễ dàng đoán trước, nên Hoa Kỳ không chấp nhận”.

Hackworth đánh giá Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà lãnh đạo chính trị mà còn là một chiến lược gia quân sự lỗi lạc, người đã vận dụng chiến tranh nhân dân một cách hoàn hảo để đánh bại một siêu cường có ưu thế tuyệt đối về công nghệ và vũ khí như Hoa Kỳ. Hackworth tin rằng những người lính Việt Cộng chiến đấu với một niềm tin chiến thắng và sự ngưỡng mộ dành cho Hồ Chí Minh. 

Nói về trận Ấp Bắc 1962, David cay đắng thừa nhận rằng Hoa Kỳ đã “hoàn toàn thất bại” trước lời hiệu triệu cách mạng của Hồ Chí Minh. Lần đầu tiên mà binh lính Hoa Kỳ đã mất hoàn toàn sự tự tin, phải sợ hãi và tìm hiểu về vị lãnh tụ cách mạng của Việt Nam.

David từng viết trong một tài liệu khác rằng: “Hồ Chí Minh luôn muốn độc lập, tự do và thống nhất đất nước, chứ không phải là đi gây chiến với Hoa Kỳ”./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỜ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH "ĐIÊN RỒ", ANH HẦU BÀN NGÀY NÀO ĐÃ TRỞ THÀNH ĐẠI GIA BẤT ĐỘNG SẢN TỶ ĐÔ!

     Đại gia Đào Hồng Tuyển (sinh năm 1954) là Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Tuần Châu. Ông Tuyển nổi tiếng bởi sự giàu có với vai trò 'chúa đảo' Tuần Châu tại Quảng Ninh. Ông được xem là một trong những đại gia giàu nhất Việt Nam với khối tài sản đáng ngưỡng mộ. Tuy nhiên, ai ngờ, ông từng có một thuở hàn vi khá cơ cực, bươn chải, phải lang thang hè phố để mưu sinh.

Điên rồ để thành "chúa đảo"

Sinh năm 1954, đại gia Đào Hồng Tuyển từng là chiến sĩ trong binh đoàn tàu không số thời chống Mỹ. Rời quân ngũ vào những năm 80 với số tiền trợ cấp xin việc ít ỏi, Đào Hồng Tuyển ở lại TP HCM lập nghiệp. Công việc của ông trong những năm đầu là dọn chuồng lợn, bưng bia tại các quán nhậu.

"Tôi không bao giờ quên những tối lang thang, ngủ trong vườn hoa Tao Đàn, như một kẻ bụi đời; Có hôm còn bị kẻ cắp lột mất đôi dép nhựa Tiền Phong tài sản quý giá nhất của tôi lúc đó.… Một đêm, đói lả người, ngồi trong gara ô tô (người đã cho tôi ngủ nhờ), tôi thấm thía cái đói cái rét, cái nghèo, cái hèn. Đêm đó, tôi thầm hứa với mình, sẽ trở thành một người giàu có của Việt Nam", ông Tuyển kể lại.

"Để bắt đầu ước mơ làm giàu, tôi bắt đầu liên hệ với những người đã học kỹ thuật ở Mỹ, ở Anh, ở Úc, nay đang thất nghiệp, cùng họ tận dụng nhà xưởng bỏ không để mày mò sản xuất nước uống, sản xuất phân bón…Nước khoáng Đảnh Thạnh, phân bón Bình Điền 2… là những sản phẩm chúng tôi làm ra, lúc bấy giờ bán rất chạy vì không có ai cạnh tranh. Chỉ mấy năm đã có hàng ngàn cây vàng, tôi mua nhà, mua đất… Nói thật, tôi giàu lên nhờ đất đai", ông Tuyển cho hay.

Sau khi có ít vốn trong tay, bằng con mắt tinh đời, ông Tuyển đã nhìn ra "mỏ vàng quý báu" từ ngày Tuần Châu chỉ là một đảo hoang. Không thể hình dung rằng, cuộc đời một con người chưa bao giờ cầm lá bài lại có thể dốc cả sản nghiệp của mình vào một dự án đầy sự may rủi như một con bạc khát nước.

Mặc cho những cái lắc đầu, những lời rèm pha rằng ông"điên rồ", ông Tuyển vẫn quyết đầu tư 80 tỉ đồng mua đất để lấp biển, xây dựng con đường độc đạo dẫn từ đất liền ra đảo Tuần Châu, đổi lại sẽ được khai thác 98 ha đất trên đảo.

Ông Tuyển từng kể: "Một trận gió mùa, một cơn áp thấp nhiệt đới đều có thể tạo nên những cơn sóng thần nhấn chìm sản nghiệp của tôi xuống đại dương mênh mông không sủi tăm. Cuối năm 1998, con đường đã chạm tới đảo, đó cũng là lúc mọi nguồn vốn cạn kiệt, không thể vay mượn được ai, nhà cửa, sản nghiệp đã thế chấp hết để vay vốn ngân hàng".

Thế nhưng chính những lúc đó, nghị lực và bản lĩnh của một doanh nhân như thức tỉnh ông. Động viên anh em cho nợ lương mà vẫn kiên trì triển khai dự án. "Bán non" một số lô đất để lấy ngắn nuôi dài nhằm thực hiện đến cùng con đường vượt biển ra đảo. Ba năm sau, con đường ra đảo hoàn thành, trở thành biểu tượng chinh phục thiên nhiên của người Quảng Ninh lúc bấy giờ.

Chính triết lý sống "Làm những cái mà thiên hạ không làm. Hoặc làm những cái mà thiên hạ nghĩ đến nhưng không làm được” đã giúp ông lên đến đỉnh cao của sự thành công. Theo chúa đảo Đào Hồng Tuyển, nếu không dám mơ ước làm những việc động trời, dám có những ý tưởng mà mọi người cho là điên rồ, thì sẽ khó có những thành công và thay đổi to lớn.

Chúa đảo 2 tỷ đô vẫn theo đuổi những quyết định khác người

Việc đổ 80 tỷ đồng để lấy đất lấp biển, xây dựng con đường độc đạo dẫn từ đất liền ra đảo Tuần Châu là bước ngoặt giúp ông Tuyển 'phất' lên trong sự nghiệp. 3 năm sau, con đường được hoàn thành, 15 năm tiếp theo là khoảng thời gian ông Tuyển cho xây dựng 110 km đường quanh đảo, 55 công trình giải trí và biệt thự, bến du thuyền lớn nhất thế giới, đưa diện tích khai thác trên đảo từ 98 ha lên gần 700 ha.

Ngoài sở hữu đảo du lịch quốc tế Tuần Châu (Quảng Ninh), hiện giờ ông Đào Hồng Tuyển sở hữu 14 công ty, 34 nhà máy xí nghiệp với cả vạn công nhân…Xác nhận về tài sản của mình, “chúa đảo” Đào Hồng Tuyển không ngần ngại nói rằng, tổng tài sản của ông lên tới 2 tỷ đô la Mỹ. Mặc dù sau đó ông phủ nhận con số này nhưng nhìn vào khối tài sản ông đang sở hữu hoặc đồng sở hữu thì có lẽ con số đó không phải là không có thật.

Làm đường ra đảo Tuần Châu là việc làm động trời nhất, tạo nên thương hiệu "Chúa đảo" cho ông Đào Hồng Tuyển. Dù sau này, không "điên rồ" nữa nhưng ông Tuyển vẫn ghi tên mình trong danh sách những người "mỗi lần tới đều mang theo ồn ào".

Trong nhiều sự kiện đấu giá từ thiện, ông Tuyển thường nổi bật khi trả giá rất cao các đồ vật đấu giá. Không chỉ vậy, ông còn đấu giá căn biệt thự lên tới 12 tỷ đồng, siêu xe Rolls Royce Phantom để ủng hộ cho đồng bào gặp bão lụt. Chưa dừng ở đó, ông từng mời người dân vùng mưa lũ đến ăn ở miễn phí tại khách sạn 4 sao của mình. Rồi đến chuyện ông tặng biệt thự triệu đô cho GS Ngô Bảo Châu cũng trở thành tâm điểm của dư luận.

Tháng 1/2015, người ta lại một lần nữa nhắc đến sự "ngông" của ông khi ông Đào Hồng Tuyển đề nghị với UBND tỉnh Quảng Ninh về phương án điều chỉnh quy hoạch khu du lịch - giải trí quốc tế Tuần Châu (thành phố Hạ Long). Ý tưởng chủ đạo của phương án là đổ hơn 20 triệu m3 đất, đá, bùn, cát xuống vịnh Hạ Long để lấn thêm khoảng 400 ha mặt nước ở phía Tây của đảo Tuần Châu phục vụ cho việc xây dựng 3 khu biệt thự lấn biển hình 3 đóa hoa (2 nhỏ và 1 lớn) trên biển.

Và dường như cái ngông của vị chúa đảo này là không giới hạn khi ông từng trải lòng mình về mong muốn mua hòn đảo cho riêng mình rồi xây dựng một trung tâm tài chính quốc tế, tập hợp tất cả những người giàu có trên thế giới để ai cũng có một biệt thự trên hòn đảo này. "Tôi biết là rất khó khăn, thành công hay không, tôi không dám chắc...nhưng tôi vẫn tiến hành đến cùng".

"Tôi nghĩ rằng trên thế giới này, nếu không có những người dám mơ ước làm những việc động trời, dám có những ý tưởng mà mọi người cho là điên rồ, liệu thế giới có những biến đổi to lớn không? Những kỳ quan mà đời để lại cho chúng ta hôm nay có lẽ đều bắt nguồn từ những ý tưởng táo bạo và điên rồ!", vị đại gia này nói./.
QV-ST!

NẾU SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ THỜI GIAN TỚI MÀ BIÊN SOẠN, XUẤT BẢN NHƯ NỘI DUNG DƯỚI ĐÂY THÌ KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC!

     "Trong SGK mới môn Lịch sử sắp tới có thể sẽ có nhiều vấn đề được đưa ra.

Khái niệm các chiến lược chiến tranh của Mĩ thực hiện ở Việt Nam trong giai đoạn 1954 đến 1968 có thể sẽ thay đổi.

Các khái niệm "chiến tranh đơn phương", "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ" có thể sẽ được xem xét lại, bởi các khái niệm này không có trong chiến lược toàn cầu của Mĩ.

Vấn đề cách gọi như "ngụy quân , ngụy quyền" cũng sẽ thay đổi, chuyển sang gọi đúng tên là "Việt Nam Cộng hòa, quân đội Việt Nam Cộng hòa". Dù bản chất nó không hề thay đổi, vẫn là chính quyền tay sai, nhưng cách gọi sẽ mang tính khoa học và trung tính hơn.

Cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn sẽ giữ nguyên tên gọi nhưng có thể điều chỉnh thành "cuộc kháng Pháp" và "cuộc kháng Mĩ" bởi kháng = chống.
Viết cuộc kháng chiến chống... tức là thừa chữ.
Những vấn đề nhìn thì đơn giản vậy nhưng để làm được không hề đơn giản chút nào".

Trên đây là nguyên văn một stt của thầy giáo dạy sử Hồ Như Hiển ở một trường THPT tại Thanh Hóa tút này được Hồ Như Hiển đăng trong hội GIÁO VIÊN DẠY SỬ do Hiển là QTV và không loại trừ cũng do anh ta sáng lập.

Nay nhà cháu vô tình thấy được nên đăng lên cho các cụ thẩm và cùng cho ý kiến chứ nhà cháu thấy các anh chị hội sử có vẻ thừa chữ nên những gì tiền nhân để lại đều được các anh chị ấy mang ra tẩy trắng bằng sự vô ơn với những gì các anh chị ấy được thụ hưởng từ mái trường XHCN, từ sự hy sinh xương máu của cha ông.

Tút này có thể cũng lâu rồi áng chừng trong thời kỳ thay SGK và cũng là thời điểm giới lật sử đang làm mưa làm gió trên truyền thông, trong giáo dục, văn hóa, văn học và trên cả không gian mạng.
Nó nguy hại thế nào thì kính mời các cụ cùng vào mổ sẻ ạ./.





QV-ST!

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: QUÀ CỦA TƯ LỆNH!

     Thiếu tướng Hoàng Đan là vị tướng chiến trận, từng kinh qua nhiều cương vị công tác và lập nhiều chiến công. Là vị tướng có tầm nhìn chiến lược, ông có tác phong chỉ huy dứt khoát, chỉ đạo cụ thể, nên được cấp dưới rất nể phục. Hai câu chuyện dưới đây là ví dụ.

Năm 1970, ông làm Tư lệnh Sư đoàn 304, chiến đấu ở Mặt trận Trị Thiên. Có lần, ông dẫn đoàn cán bộ đi kiểm tra địa hình để bố trí lực lượng, thế trận. Tư lệnh Hoàng Đan hiểu rõ, thời điểm này, trình độ đọc bản đồ và xác định trên thực địa của cán bộ chưa thạo, nếu giao nhiệm vụ trên tọa độ bản đồ có khi sai lệch, vì vậy, ông yêu cầu cơ quan tham mưu đi theo ghi chép cụ thể những chỉ lệnh của ông. Khi qua một cánh rừng, ông bảo dừng lại “để tôi đi tiểu”. Tiếp đến, vượt qua dãy núi, ông bảo dừng lại “tôi đi đại”, rồi tiếp tục đi. 

Khi đến một con suối, ông bảo “tôi tắm cái đã”. Mấy ngày sau về vị trí tập kết họp giao nhiệm vụ cho các đơn vị, ông tuyên bố: Tôi yêu cầu bố trí: Trung đoàn 24 xung quanh chỗ tôi đi tiểu; Trung đoàn 66 chỗ tôi đi đại; còn Trung đoàn 9 là chỗ tôi tắm. Mọi người nhận nhiệm vụ hiểu ngay và khi đưa bộ đội vào bố trí lực lượng chính xác theo ý đồ chiến thuật của sư đoàn.

Lần khác, khi các đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch mới, Tư lệnh Sư đoàn 304 Hoàng Đan thông báo gửi quà cho Đại đội Cao xạ 16 một xe hàng và yêu cầu chỉ được mở trước lúc vào chiến dịch. Anh em bộ đội đinh ninh là quà, kiểu gì cũng là thuốc lá, bánh kẹo, lương khô… Nhưng khi mở ra thì lại là một xe đầy cuốc, xẻng. Lúc này, anh em mới hiểu ý của tư lệnh muốn nhắc nhở bộ đội rằng, muốn đánh thắng địch phải bảo toàn lực lượng, muốn bảo toàn lực lượng phải có công sự vững chắc. Đây là một bài học kinh nghiệm mà người cầm quân cần phải thực hiện. Đại đội trưởng Đại đội Cao xạ 16 ngày ấy là đồng chí Bùi Trung Thành luôn tâm niệm bài học đó và ông đã cho các chiến sĩ của mình làm công sự vững chắc, đào hầm đầy đủ. 

Chính nhờ đó mà trong 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, đại đội do ông chỉ huy đã hạn chế được thương vong, bảo đảm lực lượng để trụ vững và chiến đấu đến khi có lệnh rút khỏi Thành cổ. Đại đội trưởng Bùi Trung Thành sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân nhờ thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu./.
Theo Báo QĐND
QV-ST!

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CÚ ĐẶT LY RƯỢU Đ‌Ị‌N‌H M‌Ệ‌N‌H & BÍ MẬT H‌Ồ‌I S‌I‌N‌H. NẾU KHÔNG PHẢI P‌U‌T‌I‌N, NƯỚC NGA GIỜ NÀY ĐANG Ở ĐÂU…

     Có một sự thật về mối quan hệ giữa V‌l‌a‌d‌i‌m‌i‌r P‌u‌t‌i‌n và nước Nga mà thế giới không phải ai cũng thấu đáo. Tổng thống Nga đương nhiên là tư lệnh tối cao của lực lượng vũ trang.

Nhưng ngược lại, chính người dân Nga cũng lựa chọn phẩm chất của một tư lệnh tối cao làm yếu tố tiên quyết để chọn ra vị tổng thống cho mình.

Trong tâm thức của một dân tộc luôn phải đối mặt với những thách thức s‌i‌n‌h t‌ồ‌n từ đ‌ị‌a c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị, người Nga không cần một nhà quản trị đơn thuần. Họ cần một người cầm lái có tinh thần thép và ý chí không thể lay chuyển.

1. Cơn ác mộng thập niên 90: Khi s‌i‌ê‌u c‌ư‌ờ‌ng bị "xẻ thịt"

Khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, một đ‌ế c‌h‌ế từng làm thế giới nể sợ bỗng chốc hóa thành tàn dư của chính mình. Dưới thời B‌o‌r‌i‌s Y‌e‌l‌t‌s‌i‌n, nước Nga rơi vào khoảng thời gian u ám nhất:

• Sự bần cùng hóa: 

Chính sách "l‌i‌ệ‌u p‌h‌á‌p s‌ố‌c" khiến lạm phát tăng vọt hơn 2.000%. Những vị giáo sư, những người lính từng mang huân chương cao quý nay phải đứng bán từng kỷ vật trên vỉa hè lạnh giá để đổi lấy ổ bánh mì. Đất Nga những năm tháng hậu S‌o‌v‌i‌e‌t trở nên rệu rã và kiệt quệ.

• Nỗi nhục quốc gia: 

N‌A‌T‌O liên tục tiến sát biên giới, thu nạp các nước Đông Âu và B‌a‌l‌t‌i‌c. Năm 1999, c‌h‌i‌ế‌n d‌ị‌c‌h n‌é‌m b‌o‌m N‌a‌m T‌ư của phương Tây là giọt nước tràn ly. Nga bất lực nhìn đồng minh bị t‌ấ‌n c‌ô‌n‌g mà không thể p‌h‌ả‌n k‌h‌á‌n‌g. Đó là một nỗi đau thấu xương vào lòng tự tôn dân tộc.

• Sự thao túng của các t‌à‌i p‌h‌i‌ệ‌t (O‌l‌i‌g‌a‌r‌c‌h‌s): 

Q‌u‌y‌ề‌n l‌ự‌c n‌h‌à n‌ư‌ớ‌c bị xẻ thịt bởi những kẻ thâu tóm tài sản quốc gia. Đ‌i‌ệ‌n K‌r‌e‌m‌l‌i‌n khi ấy không phải trung tâm q‌u‌y‌ề‌n l‌ự‌c tối cao, mà là nơi diễn ra những cuộc mặc cả giữa c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị và lợi ích nhóm.

 2. "Tối hậu thư" K‌u‌n‌t‌s‌e‌v‌o và Cuộc c‌h‌i‌ế‌n giành lại c‌h‌ủ q‌u‌y‌ề‌n

Tháng 7/2000, tại biệt thự K‌u‌n‌t‌s‌e‌v‌o, P‌u‌t‌i‌n đã thực hiện một bước đi làm thay đổi vận mệnh nước Nga. Ông triệu tập các tỷ phú giàu nhất và đưa ra một "tối hậu thư" đanh thép: 

"Các ông giữ lại tài sản của mình, nhưng tuyệt đối không được c‌a‌n t‌h‌i‌ệ‌p vào c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị".

Đó là cuộc c‌h‌i‌ế‌n giành lại c‌h‌ủ q‌u‌y‌ề‌n quốc gia từ tay những "vòi bạch tuộc" tài chính. Những nguồn lực khổng lồ như dầu khí bắt đầu phục hồi sức mạnh và phục vụ ngân sách quốc gia thay vì chảy vào túi cá nhân ở nước ngoài. 

P‌u‌t‌i‌n hiểu rằng: Không dẹp được n‌ộ‌i l‌o‌ạ‌n t‌à‌i p‌h‌i‌ệ‌t, nước Nga không bao giờ có thể ngẩng đầu từ đống tro tàn.

3. Người bước ra từ bóng tối và Sứ mệnh cô độc

Tháng 10/1999, tại căn cứ M‌o‌z‌d‌o‌k, giữa lúc nước Nga còn quằn quại trong vết thương C‌h‌e‌c‌h‌n‌y‌a, vị Thủ tướng trẻ tuổi bước lên vũ đài c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị đã đặt mạnh ly rượu xuống:

"Chúng ta sẽ uống ly rượu này khi mọi việc kết thúc triệt để. Khi mà trên mảnh đất này không còn q‌u‌â‌n l‌y k‌h‌a‌i nữa."

Ông không nhận một ngai vàng rực rỡ, ông nhận một "di sản" nợ nần và một q‌u‌â‌n đ‌ộ‌i mất tinh thần. Ông chấp nhận sự cô độc để giữ cho con tàu Nga không bị chìm. 

Đỉnh điểm là Bài phát biểu tại M‌u‌n‌i‌c‌h năm 2007, nơi ông công khai thách thức trật tự đ‌ơ‌n c‌ự‌c, khẳng định Nga sẽ đi con đường riêng của một nền văn minh độc lập.

4. Những con số "phục sinh" kinh điển

Sự xuất sắc của P‌u‌t‌i‌n không chỉ nằm ở lời nói, mà ở những bằng chứng thép:

• G‌D‌P: Trong thập kỷ đầu tiên (1999-2008), G‌D‌P của Nga tăng vọt, đưa nước Nga từ hố thẳm lên hàng ngũ các nền kinh tế lớn nhất thế giới.

• Xóa đói giảm nghèo: Tỷ lệ người nghèo giảm từ 30% xuống còn dưới 13%.

• Dự trữ ngoại hối: Nga trả sạch nợ công và xây dựng được kho dự trữ ngoại hối khổng lồ, tạo ra tấm khiên vững chắc trước các áp lực bên ngoài.

5. Cái giá của trật tự và sức mạnh

Tất nhiên, lịch sử chưa từng có một lối đi nào trải toàn hoa hồng mà không phải trả giá. Để đổi lấy sự ổn định và vị thế s‌i‌ê‌u c‌ư‌ờ‌ng, nước Nga dưới thời đại của P‌u‌t‌i‌n cũng phải đánh đổi những khoảng không gian nhất định.

Mô hình q‌u‌y‌ề‌n l‌ự‌c tập trung cao độ và bàn tay sắt quản lý xã hội đôi khi đã làm thu hẹp không gian p‌h‌ả‌n b‌i‌ệ‌n dân sự, khiến hệ thống phụ thuộc lớn vào một cá nhân kiệt xuất. 

Việc chọn con đường đ‌ố‌i đ‌ầ‌u trực diện để bảo vệ không gian an ninh đ‌ị‌a c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị cũng khiến nước Nga phải chịu những tổn thương không nhỏ về kinh tế do sự c‌ô l‌ậ‌p từ một nửa thế giới. Đó là một thực tế khách quan, một "bản giao kèo" đầy khắc nghiệt mà người Nga hiểu rõ hơn ai hết.

6. Góc nhìn thời đại: Thế giới đ‌a c‌ự‌c năm 2026

Nhưng khi nhìn lại hành trình ấy từ cột mốc năm 2026 hiện tại, độc giả mới hiểu tại sao những nền móng mang tính "đánh đổi" ấy lại có ý nghĩa sinh tử đến thế. Trước những làn sóng c‌ấ‌m v‌ậ‌n toàn diện và sự b‌a‌o v‌â‌y ngạt thở những năm qua, nước Nga không hề sụp đổ như những gì đ‌ố‌i t‌h‌ủ của họ kỳ vọng.

Ngược lại, một nước Nga kiên cường của năm 2026 vẫn đứng vững, tự chủ về lương thực, năng lượng, công nghệ q‌u‌ố‌c p‌h‌ò‌n‌g và định hình nên một trật tự thế giới đ‌a c‌ự‌c mới. Tấm khiên được tôi luyện từ đầu những năm 2000 chính là chiếc phao cứu s‌i‌n‌h giúp nước Nga đứng vững trong cơn bão thời đại hôm nay.

Lịch sử không chọn người hiền lành nhất, lịch sử chọn người phù hợp nhất. P‌u‌t‌i‌n đã xuất hiện khi nước Nga đang rỉ máu để băng bó vết thương bằng đôi tay can trường. Ông biến nỗi nhục nhã thành lòng kiêu hãnh, biến hỗn loạn thành trật tự.

Sai lầm của phương Tây là cố gắng áp đặt một chiếc áo d‌â‌n c‌h‌ủ chật hẹp lên một cơ thể khổng lồ và gân guốc. P‌u‌t‌i‌n hiểu người dân mình: Với họ, sự ổn định quý hơn sự hỗn loạn gắn mác tự do. 

Ông đã chứng minh mình không chỉ là một Tổng thống, ông là hiện thân của ý chí Nga, là phản xạ tất yếu của lịch sử để đảm bảo rằng: Đất nước này s‌i‌n‌h r‌a để trở nên vĩ đại, chứ không phải để tan rã trong quên lãng

🤝Lịch sử vốn không dành cho số đông, nó dành cho những ai đủ bản lĩnh để nhìn thấu những định mệnh xoay chuyển cả một thời đại./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN CẢNH SÀI GÒN NGÀY 19/2/1965, TRONG CUỘC ĐẢO CHÍNH DO ĐẠI TÁ PHẠM NGỌC THẢO TRỰC TIẾP CHỈ HUY!

     Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi” - lời ông Nguyễn Cao Kỳ.

 Năm 1962, sau khi thôi làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa, sang Mỹ học một khóa quân sự cao cấp, Phạm Ngọc Thảo được bổ nhiệm làm Thanh tra Ấp chiến lược, trực thuộc Phủ Tổng thống. Thời gian này mối quan hệ giữa ông với ông Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang càng thân thiết. Với sức thuyết phục mạnh mẽ của một nhà quân sự vừa có trình độ, vừa chân thành vốn có, ông được nhiều sĩ quan có tinh thần dân tộc ngưỡng mộ.

Trong những năm 1962 - 1963, giữa lúc phong trào Đồng khởi lan rộng ở nông thôn, chính trường miền Nam Việt Nam trở nên rối ren. Gia đình họ Ngô vừa cai trị độc tài, vừa muốn thoát khỏi sự can thiệp của người Mỹ, tình hình này khiến cho phong trào đấu tranh của quần chúng ở đô thị dâng cao. 

Người Mỹ thì muốn gạt bỏ gia đình họ Ngô để thay vào đó giới lãnh đạo thân Mỹ nhằm biến miền Nam thực sự là một tiền đồn chống cộng. Biết trước sau gì gia đình họ Ngô cũng bị người Mỹ lật đổ để dựng lên một chính quyền nguy hiểm hơn, Phạm Ngọc Thảo cùng với Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang lên một kế hoạch đảo chính với mục tiêu “cải sửa” chế độ nhằm vô hiệu hóa ý đồ của người Mỹ.

 Theo kế hoạch này, lực lượng đảo chính sẽ vẫn giữ Ngô Đình Diệm làm tổng thống, chỉ buộc Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch bị lộ, Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm lãnh sự ở Ai Cập. Ngô Đình Nhu không tin Phạm Ngọc Thảo tham gia kế hoạch này, thứ nhất là ông Nhu không tin ông Thảo phản bội, thứ hai là ông Thảo “không có quân”. 

Thực ra lúc đó ông Thảo đã được nhiều sĩ quan chỉ huy ở Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, một số đơn vị biệt động quân, bảo an hậu thuẫn. Cuộc đảo chính không thành chủ yếu do thành phần đảo chính không phải là những người mà người Mỹ có thể nắm được.

Và như chúng ta đã biết, ngày 1.11.1963, một nhóm tướng lĩnh do Mỹ bật đèn xanh, đã tiến hành đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Anh em ông Diệm, ông Nhu bị chết thảm. “Hội đồng quân nhân cách mạng” (HĐQNCM) do tướng Dương Văn Minh đứng đầu lên cầm quyền. Phạm Ngọc Thảo dù không chủ động tham gia cuộc đảo chính này, vẫn được HĐQNCM cử làm tùy viên báo chí, sau đó được cử sang Mỹ tu nghiệp. HĐQNCM cầm quyền được 2 tháng, đã bị tướng Nguyễn Khánh và tướng Trần Thiện Khiêm 2 lần “chỉnh lý”, thâu tóm mọi quyền lực.

Lên cầm quyền, Nguyễn Khánh rút Phạm Ngọc Thảo về nước, cử làm giám đốc báo chí, phát ngôn viên chính phủ, lúc này ông đã được thăng đại tá. Mâu thuẫn giữa các tướng lĩnh trong giới cầm quyền ngày càng gay gắt, Nguyễn Khánh tiếp tục loại Trần Thiện Khiêm, đưa ông tướng này đi làm đại sứ tại Mỹ. 

Phạm Ngọc Thảo cũng được đưa sang Mỹ làm tùy viên văn hóa, quân sự vào đầu tháng 10.1964. Ông đưa luôn vợ con sang (họ định cư ở Mỹ cho đến ngày nay). 

Tuy nhiên, sau đó do nghi ngờ Phạm Ngọc Thảo, nên cuối năm 1964, Nguyễn Khánh ra lệnh triệu hồi Phạm Ngọc Thảo về nước, với ý đồ sẽ bắt ông tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phạm Ngọc Thảo đã khôn khéo không về đúng giờ bay dự định nên thoát. Có mặt ở Sài Gòn,  ông bí mật móc nối tổ chức lực lượng, kéo tướng Lâm Văn Phát và hàng chục sĩ quan khác tiến hành cuộc đảo chính ngày 19.2.1965.

 Điều kỳ lạ là lúc đó Phạm Ngọc Thảo, tuy là đại tá nhưng không cầm quân và đang bị Nguyễn Khánh truy bắt, lại có thể tổ chức và chỉ huy một lực lượng không dưới một sư đoàn làm binh biến (gồm các đơn vị thiết giáp với 45 xe tăng và thiết giáp, các đơn vị địa phương quân, lực lượng của Trường bộ binh Thủ Đức và chủ lực là trung đoàn 46 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh). Cuộc binh biến do tướng Lâm Văn Phát cầm đầu về danh nghĩa, còn thực tế do Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy, sau này người ta gọi ông là “Tư lệnh hành quân 19.2”.

Chỉ trong 1 ngày, lực lượng đảo chính đã đã chiếm Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô (trại Lê Văn Duyệt), Đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Đáng tiếc là do một số sơ sót trong hợp đồng tác chiến, Nguyễn Khánh đã được Tư lệnh Không quân lúc đó là Nguyễn Cao Kỳ cứu thoát.

Khi nói về sự kiện này, ông Nguyễn Cao Kỳ nói: “Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi”. 

Ông Kỳ nhớ lại: “Cuộc đảo chính diễn ra bất ngờ đến mức tôi không kịp mặc áo, chỉ mặc may ô chui hàng rào thép gai ra lấy máy bay chạy về Biên Hòa. Sau đó ông Thảo lên Biên Hòa gặp tôi, cùng đi có một đại tá Mỹ. Ổng thuyết phục tôi ủng hộ quân đảo chính. Nói thật là tôi không ưa gì Nguyễn Khánh, nhưng quân đội đánh nhau tôi không đồng ý. Tôi bảo các anh phải cho quân về ngay doanh trại, đến 5 giờ chiều mà không rút quân tôi sẽ cho máy bay ném bom”. Đó là lý do khiến cuộc đảo chính thất bại.

Tuy nhiên, Nguyễn Khánh cũng bị loại. Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và một số tướng lãnh được sự hậu thuẫn của người Mỹ đã lựa gió phất cờ, họp Hội đồng tướng lãnh buộc Nguyễn Khánh từ chức và trục xuất ông này ra nước ngoài với danh nghĩa là “đại sứ lưu động”, cử tướng Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống đảo chính, ra lệnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát cùng 13 sĩ quan “đầu sỏ” tham gia đảo chính trong vòng 24 giờ phải ra trình diện. Phạm Ngọc Thảo, tướng Lâm Văn Phát, trung tá Lê Hoàng Thao (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46) bỏ trốn.

Tháng 6.1965, Hội đồng tướng lĩnh giải tán chính phủ dân sự của Phan Huy Quát, đưa tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia (tương đương quốc trưởng), tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương (tương đương thủ tướng). Chính quyền Thiệu – Kỳ lập tòa án quân sự để xử những người tham gia đảo chính. Phạm Ngọc Thảo bị kết án tử hình vắng mặt, chúng treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được ông.

Lúc này tuy ông phải lẩn tránh sự truy bắt của chính quyền, nhưng vẫn còn nắm được 1 tiểu đoàn. Ông liên lạc với ông Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt gặp ông và gợi ý ông ra chiến khu cho an toàn, có thể dẫn theo tiểu đoàn này với danh nghĩa binh biến ly khai. Tuy nhiên, ông cho biết ông vẫn còn có khả năng tổ chức đảo chính để ngăn chặn ngụy quyền quân phiệt rước quân viễn chinh Mỹ vào gây tội ác. Ông Võ Văn Kiệt đồng ý.

Phạm Ngọc Thảo tiếp tục hoạt động bí mật ở Sài Gòn, cho xuất bản tờ “Việt Tiến” để tập hợp lực lượng. Ông được các giám mục, linh mục, giáo dân Công giáo cùng nhiều bạn bè trong và ngoài quân đội giúp đỡ, bảo vệ.

Còn Nguyễn Văn Thiệu, sau khi lên cầm đầu ngụy quyền, thấy rõ Phạm Ngọc Thảo là mối đe dọa nguy hiểm đến vị trí quyền lực của mình, nên quyết tìm mọi cách tiêu diệt ông để trừ hậu họa./.




QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT CUỘC HÔN NHÂN CHỈ VỎN VẸN… MẤY THÁNG, NHƯNG ĐỦ ĐỂ ĐI CÙNG NHAU CẢ MỘT ĐỜI!

     Ít ai biết rằng, phía sau hình ảnh vị nữ tướng huyền thoại Nguyễn Thị Định là một cuộc hôn nhân ngắn ngủi nhưng đầy nước mắt…

Năm 1938, cô gái trẻ Nguyễn Thị Định nên duyên với người đồng chí của mình - ông Nguyễn Văn Bích, một Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre. Họ đến với nhau không phải bằng váy cưới xa hoa hay sính lễ đủ đầy, mà bằng lý tưởng chung, bằng những ngày cùng hoạt động cách mạng, cùng rải truyền đơn, làm giao liên trong hiểm nguy.

Một đám cưới giản dị diễn ra… như bao lời hẹn về một mái ấm nhỏ giữa thời loạn.

Nhưng hạnh phúc ấy ngắn ngủi đến đau lòng…

Năm 1939, khi đứa con trai đầu lòng của họ vừa cất tiếng khóc chào đời được 3 ngày, ông Nguyễn Văn Bích bị thực dân Pháp bắt giam và đày ra Côn Đảo.

Rồi tin dữ đến…
Ông đã hy sinh nơi lao tù Côn Đảo, mãi mãi không thể trở về với người vợ trẻ và đứa con thơ chưa kịp gọi một tiếng “cha”.

Sau bi kịch ấy, bà Nguyễn Thị Định không gục ngã. Người phụ nữ ấy tiếp tục bước đi, biến đau thương thành sức mạnh để cống hiến cho Tổ quốc, trở thành nữ Thiếu tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một tình yêu dang dở…
Một cuộc đời mất mát…
Và một người phụ nữ thép bước ra từ những đau thương lớn nhất của đời mình. 🇻🇳
Ảnh Đất Việt TV sưu tầm & phục dựng.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẾN NHÀ RỒNG- NƠI KHỞI NGUỒN HÀNH TRÌNH HUYỀN THOẠI VÀ LUÔN VỮNG CHÃI TRONG LÒNG NHÂN DÂN!

     Trong chương trình Người đương thời ra đời cách đây hơn 20 năm, Thiếu tướng tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn trả lời nhà báo Tạ Bích Loan về sự kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiếu tướng nói rằng những người lao động, lái xích lô cũng đều kính trọng Bác Hồ. Rồi ngay cả đám chống Cộng thì cũng nói này nói kia nhưng nhiều khi nói là như vậy nhưng trong bụng cũng chưa chắc, mà vẫn quý, vẫn nể. Nhà tình báo nói về lúc viết bài về Bác, rất dễ vì không có ai chê cả, ngay cả người Mỹ cũng không chê.

Thiếu tướng từng chia sẻ rằng hồi còn làm cho chính quyền VNCH, ông nhiều lần đi qua khu vực Bến Nhà Rồng nhưng chỉ đứng nhìn từ xa, lấy động lực cho hoạt động tình báo cách mạng.

Khoảng 136 năm trước, một đứa bé đã sinh ra ở Làng Sen. Cách đây 115 năm, đứa bé ấy đã là một thanh niên và đau đáu nhìn về vận mệnh đất nước, bắt đầu một hành trình cứu nước từ Bến Nhà Rồng. Bác Hồ rất yêu quý đồng bào, vùng đất miền Nam. Có lẽ, cuộc đời của Bác có hai điều nuối tiếc nhất, một là Bác không thể chứng kiến giây phút nước nhà hoàn toàn độc lập, thống nhất. Hai là Bác không thể trở về miền Nam để nắm tay, ôm hôn, chúc mừng đồng bào.

Ngày 29/04 vừa qua, TP Hồ Chí Minh và Tập đoàn Sun Group khởi công xây dựng Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội. Đây sẽ là nơi nhân dân có thể tưởng nhớ và cảm nhận gần hơn hình bóng của Bác trong đời sống thường nhật.

Quyết định dừng quy hoạch khu nhà ở thương mại của TP. Hồ Chí Minh để dành trọn vẹn khu vực này cho công viên công cộng, không gian văn hóa, phụng sự nhân dân mang một ý nghĩa triết lý sâu sắc. Đó là sự lựa chọn đặt ký ức lịch sử và tình cảm của nhân dân lên trên mọi giá trị vật chất, hoàn toàn đồng điệu với tư tưởng "lấy dân làm gốc" của Bác Hồ.

Công trình được thiết kế như một dòng chảy ký ức gồm 9 chương không gian, nhằm tái hiện trọn vẹn hành trình cứu nước vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lịch sử nơi đây không hề xa vời mà hiện diện ngay trong nhịp sống thường ngày. Một học sinh sau giờ tan trường, một người công nhân sau ca làm, một cụ già đi bộ buổi sáng, một du khách nước ngoài đang ngắm cảnh… Tất cả đều có thể bước vào không gian ấy để nhớ về một con người vĩ đại của dân tộc bằng những cảm xúc rất riêng, chân thành, gần gũi…

Lịch sử không phải là những chương sách ngủ yên trong quá khứ, mà là những mạch ngầm vĩnh cửu ở đầu nguồn, góp thành một dòng sông rồi chảy qua tâm thức của muôn thế hệ để duy trì tinh thần yêu nước. Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội chính là một mạch ngầm như vậy, góp mình vào dòng chảy yêu thương dân tộc./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “ỦY VIÊN ĐẶC BIỆT PHỦ TỔNG THỐNG” NGUYỄN XUÂN HÒE VÀ CUỘC ĐẤU TRÍ CHẤN ĐỘNG GIỮA LÒNG SÀI GÒN 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

     Nguyễn Xuân Hòe sinh năm 1923 tại Quảng Bình. Từ một trí thức công chức yêu nước, ông trở thành chiến sĩ tình báo chiến lược hoạt động sâu trong lòng chính quyền Sài Gòn suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Với vỏ bọc là viên chức cao cấp, rồi chủ bút báo chí và sau này là “Ủy viên đặc biệt Phủ tổng thống”, ông từng hoạt động ngay giữa trung tâm quyền lực của chế độ Sài Gòn mà địch không hề hay biết.

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Xuân Hòe đã trực tiếp lấy được Kế hoạch Atlande, chiến dịch quân sự quy mô lớn của Pháp nhằm đánh vào vùng tự do Liên khu 5. Nhờ nguồn tin chiến lược này, ta chủ động phá tan cuộc hành quân của địch. 🔥

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tiếp tục hoạt động bí mật tại Sài Gòn, từng phát hiện sớm âm mưu Mỹ hất cẳng Pháp để dựng lên chính quyền tay sai mới ở miền Nam.

Năm 1958, ông bị mật vụ Ngô Đình Cẩn bắt giam tại Huế. Dù bị tra khảo khốc liệt, ông vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo làm ảnh hưởng đến tổ chức. Cuối cùng, địch chỉ kết luận ông là “công chức thân Pháp có hành động thiếu kiềm chế” rồi buộc phải trả tự do.

Sau khi trở lại chính trường Sài Gòn, ông trở thành nhân vật nòng cốt trong lưới tình báo H10-A22 cùng các điệp viên huyền thoại như Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Huỳnh Văn Trọng…

Một trong những chiến công quan trọng nhất của Nguyễn Xuân Hòe là lấy được bản đồ quân sự tối mật mới nhất của Mỹ về toàn bộ miền Nam Việt Nam. Tấm bản đồ này sau đó được chuyển ra căn cứ và được Bộ Tư lệnh Miền sử dụng cho tới tận ngày giải phóng năm 1975. 🇻🇳

Năm 1969, lưới tình báo H10-A22 bị lộ. Chính quyền Sài Gòn mở phiên tòa nổi tiếng tại số 3 Bạch Đằng nhằm kết tội các chiến sĩ tình báo. Nhưng phiên tòa ấy lại biến thành nơi những người cộng sản công khai tố cáo tội ác của Mỹ và chính quyền tay sai ngay trước báo chí quốc tế.

Trong những bức ảnh tại phiên tòa năm ấy, Nguyễn Xuân Hòe cùng đồng đội vẫn xuất hiện với phong thái bình thản, lịch lãm và ánh mắt của những người không bao giờ khuất phục.

Sau phiên xử, ông bị đày ra Côn Đảo. Dù Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, địch vẫn tiếp tục giam giữ ông cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Những năm tháng t.ù đày khiến sức khỏe ông suy kiệt nặng. Sau ngày đất nước thống nhất, ông chỉ sống thêm được 3 năm rồi qua đời năm 1978.

Tháng 5/2005, Nhà nước truy tặng Nguyễn Xuân Hòe danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân vì những cống hiến đặc biệt xuất sắc trong ngành tình báo cách mạng./.
QV-ST!

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ÁNH SÁNG HỒ CHÍ MINH SOI ĐƯỜNG CHO CHÚNG TA ĐI

     Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "ÁNH SÁNG HỒ CHÍ MINH SOI ĐƯỜNG CHO CHÚNG TA ĐI".

Ngày 19 tháng 5 năm 2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ Nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với Nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, Nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.

Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ XX, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI. Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.

Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; cung cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.

Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.

Trước hết, tư tưởng "dân là gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với Nhân dân.

Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.

Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng "sánh vai với các cường quốc năm châu" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với Nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.

Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống Nhân dân.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài-đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân.

Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.

Từ đó có thể thấy, các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời Nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ Nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo công việc của mình.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ Nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của Nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.

Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ Nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của Nhân dân.

Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.


QV-ST!