Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

ĐẰNG SAU NHỮNG ÂM MƯU CÁCH MẠNG MÀU, MỤC ĐÍCH CHÍNH CỦA MỸ VÀ PHƯƠNG TÂY THƯỜNG TẬP TRUNG VÀO 4 TRỤ CỘT SAU:

1. Thay đổi quỹ đạo Địa chính trị (Geopolitics)
Đây là mục tiêu quan trọng nhất. Mỹ không cần một quốc gia phải "dân chủ" thực sự, họ cần quốc gia đó thân Mỹ và xa rời các đối thủ.
Xây dựng "Vành đai ngăn chặn": Ví dụ tại Ukraine, Georgia hay Kyrgyzstan, mục đích là ép các nước này rời bỏ ảnh hưởng của Nga để gia nhập NATO/EU, tạo ra một vòng vây quân sự sát sườn đối thủ.
Xóa bỏ các "cái gai": Những quốc gia có đường lối độc lập, không nghe lời hoặc dám thách thức hệ thống tài chính/quân sự của Mỹ (như Iraq thời Saddam, Libya thời Gaddafi hay Iran hiện nay) sẽ là mục tiêu hàng đầu.

2. Kiểm soát Tài nguyên và Thị trường
Kinh tế luôn là động cơ ngầm. Sau khi một chính quyền bị lật đổ bởi Cách mạng màu, các quốc gia Phương Tây thường tiến hành:
Tư nhân hóa tài sản quốc gia: Các tập đoàn đa quốc gia sẽ nhảy vào mua lại tài nguyên (dầu mỏ, khoáng sản) hoặc các ngành viễn thông, ngân hàng với giá rẻ mạt.
Áp đặt hệ thống tài chính: Buộc quốc gia đó phải vay nợ từ IMF/World Bank, từ đó bị trói buộc về chính sách kinh tế trong hàng thập kỷ.

3. Duy trì vị thế Độc tôn (Hegemony)
Mỹ muốn duy trì một "Trật tự thế giới dựa trên luật lệ" (do chính họ đặt ra).
Vũ khí hóa Nhân quyền: Bằng cách tự cho mình quyền phán xét quốc gia nào "dân chủ", quốc gia nào "độc tài", Mỹ có thể can thiệp vào bất cứ đâu mà không cần tuyên chiến chính thức.
Ngăn chặn các cực quyền lực mới: Bất kỳ quốc gia nào có tiềm năng liên minh để tạo ra một cực kinh tế/quân sự mới (như khối BRICS hay các liên minh tại Trung Đông) đều dễ trở thành mục tiêu của bạo loạn lật đổ để làm suy yếu từ bên trong.

4. Thử nghiệm và Xuất khẩu "Mô hình quản trị"
Phương Tây tin rằng mô hình của họ là "đỉnh cao của văn minh" và muốn áp đặt nó lên toàn cầu để dễ bề quản lý.
Khi một quốc gia áp dụng mô hình chính trị kiểu Tây, họ dễ dàng bị thâm nhập bởi các tổ chức phi chính phủ (NGO), các quỹ hỗ trợ và các kênh truyền thông phương Tây, từ đó bị "đồng hóa" về văn hóa và tư tưởng.
Bảng so sánh giữa "Khẩu hiệu" và "Sự thật"
Khẩu hiệu Phương Tây rao giảng
Mục đích thực tế đằng sau
Bảo vệ Nhân quyền
Tạo cớ để can thiệp pháp lý và trừng phạt kinh tế.
Đấu tranh chống tham nhũng
Loại bỏ các lãnh đạo không phục tùng lợi ích phương Tây.
Tự do ngôn luận/Internet
Tạo điều kiện cho các chiến dịch tâm lý chiến, tin giả để kích động biểu tình.
Hỗ trợ nhân đạo
Tài trợ cho các lực lượng đối lập dưới danh nghĩa cứu trợ.

Nói một cách ngắn gọn: "Cách mạng màu" là một phương thức chiến tranh rẻ tiền hơn chiến tranh truyền thống. Thay vì tốn xương máu binh sĩ Mỹ, họ dùng sự bất bình của người dân địa phương làm "vũ khí", dùng truyền thông làm "đạn dược" để hạ gục một chính phủ từ bên trong.

Hệ quả cuối cùng thường không phải là "tự do" như người dân mong đợi, mà là một chính quyền mới dễ điều khiển hơn hoặc một quốc gia suy yếu và lệ thuộc hơn./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TƯỚNG VÕ TIẾN TRUNG - ANH HÙNG XUẤT PHÁT TỪ LÒNG CĂM THÙ GIẶC!

     Sinh năm 1954 tại xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, mảnh đất “trung dũng, kiên cường”.

Đầu năm 1955, khi Võ Tiến Trung vừa chào đời được vài tháng, ông Võ Miễn -lúc đó là Bí thư chi bộ - đã đưa hơn 50 đảng viên đang có nguy cơ bị địch thủ tiêu tập kết ra Bắc. Địch rất cay cú vì chưa thực hiện được mưu đồ nên chúng liền bắt vợ và con của ông Miễn - bà Đỗ Thị Nhân cùng Võ Tiến Trung còn đang đỏ hỏn vào tù, ép buộc bà khai ra thông tin của chồng và những người đảng viên. Tuổi thơ của Võ Tiến Trung vì thế mà cũng gắn liền với chốn lao tù.

Sau khi được trả tự do khỏi nhà lao cùng mẹ, “cậu bé” Võ Tiến Trung tham gia làm liên lạc cho đội công tác xã Lộc Phước (nay là xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng).

Thời điểm đó, phong trào phá “ấp chiến lược” ở quê đồng chí diễn ra mạnh mẽ. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng đồng chí Trung sớm tham gia hoạt động cách mạng.

Năm 1965, Mỹ đưa quân vào miền Nam và tăng cường tuyên truyền về sức mạnh quân sự của chúng. Lính Mỹ được trang bị áo giáp, mũ sắt, giày bọc

thép… nhằm tạo tâm lý e ngại cho lực lượng du kích. Tuy nhiên, Trung không bị ảnh hưởng bởi những lời tuyên truyền này.

Một lần, khi thấy lính Mỹ cởi áo giáp đặt xuống đất, cậu bé Trung lén giấu một quả lựu đạn đã rút chốt dưới lớp áo. Khi tên lính nhấc áo lên, lựu đạn rơi xuống và phát nổ, làm một tên chết và hai tên bị thương.

Sau sự việc đó, du kích đặt vấn đề: nếu địch mặc đầy đủ trang bị thì sẽ đánh bằng cách nào. Trung tiếp tục suy nghĩ và tìm cách phù hợp.

Trong một lần khác, khi lính Mỹ vào làng, Trung cùng một trinh sát giấu hai quả lựu đạn trên cây, chờ thời cơ tiếp cận. Khi địch tập trung, hai quả lựu đạn được kích nổ, gây thương vong. Từ đó, Trung được tin tưởng giao thêm nhiệm vụ.

Năm 1966, Trung được đưa ra Tây Ninh cùng đoàn du kích Quảng Đà để báo cáo thành tích. Tại đây, Trung gặp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (lúc đó được giới thiệu với bí danh “Trường Sơn”).

Biết Võ Tiến Trung đã được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, đồng chí Trường Sơn tặng cậu một chiếc hộp đẹp để đựng chiếc Huân chương đó. Võ Tiến Trung liền ngỏ lời:

- Thưa chú, chú cho con đổi được không?

- Cháu muốn đổi gì?

- Con muốn đổi tấm huân chương này lấy khẩu súng ngắn chú đeo.

Khi đồng chí Trường Sơn hỏi lý do, Trung giải thích: "Mang về nhà, thấy hộp huân chương, địch sẽ giết cả nhà cháu. Nhưng nếu được chú cho khẩu súng và một ít kíp nổ điện, cháu có vũ khí để đánh Mỹ".

Trước ngày trở về, đồng chí Trường Sơn tặng Võ Tiến Trung một hộp kíp nổ điện và một khẩu súng K59, rồi bảo: "Cháu nhỏ, khẩu súng này vừa với cháu và dễ sử dụng".

Năm 1969, khi phát hiện gần 100 lính Mỹ hành quân lùng sục, Trung báo tin cho đơn vị và tham gia chuẩn bị bẫy mìn bằng cách kết hợp nhiều quả đạn pháo, đạn cối cùng kíp điện để tạo trận địa dài khoảng 200m.

Khi địch lọt vào, mìn phát nổ, tạo điều kiện cho bộ đội xung phong tiêu diệt gần trọn đại đội Mỹ.

Riêng đồng chí Võ Tiến Trung được xác nhận tiêu diệt 15 tên địch và được phong danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.

Sau đó, đồng chí tiếp tục tham gia chiến đấu, nhiều lần lập công, bảy lần được công nhận danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân./.
Ảnh: Thượng tướng Võ Tiến Trung - Nguyên UVTW Đảng, nguyên Giám đốc Học viện Quốc phòng.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CHỦ NGHĨA DÂN TỘC THẮNG THẾ TRONG BẦU CỬ THÁI LAN, NHƯNG BẾ TẮC KHU VỰC ĐANG HIỆN HỮU!

     Kết quả sơ bộ cuộc tổng tuyển cử Thái Lan đang thu hút sự chú ý của dư luận khu vực khi Đảng Bhumjaithai (BJT), do Thủ tướng Anutin Charnvirakul lãnh đạo, giành chiến thắng áp đảo với khoảng 193–194 ghế, vượt qua People’s Party và đẩy các lực lượng dân túy, cải cách như Pheu Thai vào thế yếu. Đây được xem là một trong những thắng lợi hiếm hoi trong nhiều năm của một đảng bảo thủ thân hoàng gia và quân đội, phản ánh xu hướng tâm lý xã hội Thái Lan đang nghiêng về “ổn định” thay vì cải cách sâu rộng.

Giới phân tích nhận định, chiến thắng của BJT không đơn thuần là kết quả của cạnh tranh chính trị nội bộ, mà còn là đỉnh cao của làn sóng chủ nghĩa dân tộc đang được khai thác mạnh mẽ trong bối cảnh bất ổn khu vực. Trong suốt chiến dịch tranh cử, Thủ tướng Anutin đã tận dụng căng thẳng biên giới Thái Lan – Campuchia, biến các vấn đề an ninh thành thông điệp trung tâm, qua đó chuyển hóa nỗi lo xã hội thành lá phiếu ủng hộ.

Hình ảnh “lãnh đạo thời chiến” được xây dựng nhất quán, với các phát ngôn cứng rắn về biên giới, an ninh quốc gia, thậm chí đề xuất xây dựng tường ngăn cách với Campuchia. BJT cũng thể hiện xu hướng trao vai trò chủ đạo trong chính sách biên giới cho quân đội, thay vì đặt trọng tâm vào kênh ngoại giao, khiến căng thẳng song phương trở thành một phần của thông điệp cầm quyền.

Tuy nhiên, đằng sau thắng lợi chính trị ngắn hạn là những rủi ro dài hạn. Việc sử dụng chủ nghĩa dân tộc như một công cụ củng cố quyền lực có thể đẩy quan hệ Thái Lan – Campuchia vào trạng thái “hòa bình lạnh”, với nguy cơ xuất hiện các vụ đụng độ lẻ tẻ, đàm phán kéo dài và thiếu đột phá. Điều này không chỉ gây bất ổn an ninh khu vực, mà còn làm suy yếu nền kinh tế của cả hai nước, vốn phụ thuộc đáng kể vào thương mại song phương và hợp tác biên giới.

Ở bình diện rộng hơn, ASEAN cũng đứng trước một phép thử mới. Trong bối cảnh Philippines dự kiến đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2026, trọng tâm nghị sự nhiều khả năng sẽ tập trung vào Biển Đông, khiến xung đột Thái Lan – Campuchia thiếu vắng vai trò trung gian hòa giải hiệu quả. Các lợi ích hợp tác chiến lược, trong đó có triển vọng khai thác khí đốt tại Vịnh Thái Lan – từng được xem là điểm tựa cho hợp tác song phương – đang bị đe dọa bởi lập trường cứng rắn, ưu tiên quân sự hơn ngoại giao của chính quyền BJT.

Giới quan sát cho rằng, Thủ tướng Anutin đang “chơi lá bài quốc phòng” để củng cố quyền lực trong nước. Tuy nhiên, nếu đẩy xu hướng này đi quá xa, nguy cơ khơi mào một vòng xoáy căng thẳng mới là hiện hữu, biến khu vực biên giới Thái Lan – Campuchia thành một “mồi lửa” địa chính trị, tác động tiêu cực không chỉ đến hai quốc gia liên quan mà còn tới ổn định chung của Đông Nam Á./.



QV-ST!

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: 🇻🇳🇨🇺 PHÁO BINH VIỆT NAM - CUBA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY “KINH NGHIỆM TỪ CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN HIỆN ĐẠI HÓA”!

     Một bài viết trên kênh quân sự Nga đã phân tích mô hình hợp tác pháo binh giữa Việt Nam và Cuba - mối quan hệ được hình thành từ thời Chiến tranh Lạnh và tiếp tục được duy trì, phát triển cho đến ngày nay.

Theo bài viết, tổ hợp pháo tự hành Jupiter V của Lực lượng vũ trang Cuba chính là cơ sở để Việt Nam nghiên cứu, phát triển phiên bản tương tự, dù giữa hai hệ thống vẫn tồn tại một số khác biệt nhất định.

Trong quá trình hiện đại hóa kho pháo 130 mm, Hà Nội đã lựa chọn con đường gần như trùng khớp với Havana - cả về tư duy khai thác trang bị sẵn có lẫn giải pháp kỹ thuật tổng thể.

Những hình ảnh được công bố cho thấy các tư liệu tương đối cũ, ghi lại quá trình thử nghiệm tổ hợp pháo tự hành PTH 130-K255B của Việt Nam. Trong khi đó, hai bức ảnh cuối minh họa tổ hợp pháo tự hành 130 mm Jupiter V của Cuba, qua đó cho phép đối chiếu trực quan giữa hai mô hình.

Tương tự Cuba, Việt Nam đã phát triển tổ hợp pháo tự hành dựa trên các kho dự trữ sẵn có của pháo kéo 130 mm M-46/Type 59, kết hợp với khung gầm xe tải KrAZ-255 - loại phương tiện vốn có số lượng lớn và phù hợp để làm nền tảng cơ động cho pháo tự hành hạng nặng.

Việc kế thừa kinh nghiệm thành công từ Cuba giúp Việt Nam không phải “phát minh lại bánh xe”, mà tập trung tối ưu hóa những giải pháp đã được kiểm chứng trong thực tế. Kết quả là một phương án hiện đại hóa có chi phí thấp, cấu trúc đơn giản, hợp lý và phù hợp với điều kiện của các quốc gia còn sở hữu nhiều pháo kéo cũ cùng các dòng xe tải quân sự tương đương.

Bài viết cũng nhấn mạnh rằng, cho đến nay, pháo 130 mm M-46 vẫn được đánh giá là một loại pháo có hỏa lực mạnh. Trên thị trường quốc tế hiện vẫn có các loại đạn với tầm bắn lên tới 38-44 km. Đối với Việt Nam, lợi thế không chỉ nằm ở kho dự trữ lớn với nhiều chủng loại đạn, mà còn ở việc đã làm chủ được công nghệ sản xuất hàng loạt đạn pháo 130 mm, tạo nền tảng quan trọng cho việc duy trì và nâng cao hiệu quả chiến đấu của lực lượng pháo binh./.




QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUYẾT KHÔNG ĐỂ TỔ QUỐC BỊ BẤT NGỜ TRONG MỌI TÌNH HUỐNG!

     Trong ảnh là cận cảnh tên lửa Sông Hồng do Việt Nam nghiên cứu, sản xuất, ra mắt cuối năm 2024 và hiện đã đưa vào trực chiến. Một sản phẩm tiêu biểu của công nghiệp quốc phòng Việt Nam thời kỳ mới, trong đó có phiên bản tầm bắn hơn 300km - đủ để khẳng định năng lực làm chủ công nghệ ngày càng cao của chúng ta.

Còn nhớ hơn 10 năm trước, không ít kẻ tự nhục, chống phá vẫn rêu rao câu chuyện “Việt Nam chưa sản xuất nổi ốc vít” nhằm hạ thấp uy tín, bôi đen nền công nghiệp nước nhà. Nhưng thực tế đã trả lời bằng những sản phẩm rất cụ thể, rất thuyết phục.

Năm 2025 ghi dấu hàng loạt bước tiến mạnh mẽ của công nghiệp quốc phòng Việt Nam:
– Tên lửa các loại
– UAV trinh sát và UAV chiến đấu
– Kính nhìn đêm, bom lượn thông minh
– Áo giáp, mũ chống đạn
– Dòng súng STV từng bước thay thế AK
– Và nhiều trang bị quân sự hiện đại mà chỉ một số ít quốc gia trên thế giới mới có khả năng tự sản xuất

Không phải để khoe khoang.
Không phải để tự mãn.
Mà để nhắc nhau một điều rất rõ ràng:

👉 Không ngủ quên trong thành tựu.
👉 Không mơ hồ trước những biến động phức tạp của tình hình mới.
👉 Và quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ trong bất kỳ tình huống nào.

Đó không chỉ là khẩu hiệu, mà là trách nhiệm, là ý chí và là lựa chọn chiến lược của cả một dân tộc./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VIỆT NAM LỌT NHÓM TOP 10 QUỐC GIA ĐÁNG SỐNG NHẤT THẾ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHỈ HƯU!

     Trong bảng xếp hạng năm 2026 vừa được trang thông tin “Retraite sans Frontières (Hưu trí không biên giới)” của Pháp công bố, Việt Nam đã lần đầu tiên góp mặt trong danh sách 10 quốc gia đáng sống nhất thế giới dành cho người nghỉ hưu, nhờ chi phí sinh hoạt hợp lý, điều kiện sống ngày càng cải thiện và hệ thống hạ tầng, y tế có nhiều tiến bộ.

Bảng xếp hạng trên được xây dựng trong bối cảnh ngày càng nhiều người về hưu tại châu Âu, trong đó có Pháp, cân nhắc lựa chọn sinh sống dài hạn ở nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, tận hưởng khí hậu thuận lợi và tối ưu hóa thu nhập hưu trí.

Để xác lập thứ hạng, Retraite sans Frontières đã phân tích 12 tiêu chí, trong đó chi phí sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nhất, tương đương 20% tổng số điểm.

Theo ông Paul Delahoutre, nhà sáng lập tổ chức này, việc sinh sống ở nước ngoài có thể giúp người nghỉ hưu tiết kiệm từ 15-50% chi tiêu hằng ngày so với ở Pháp. Các tiêu chí quan trọng khác bao gồm khí hậu, chất lượng dịch vụ y tế, mức độ an toàn, khả năng tiếp cận dịch vụ và điều kiện đi lại.

Ngoài các yếu tố về đời sống, chính sách thuế cũng được xem là đòn bẩy then chốt khi lựa chọn điểm đến hưu trí. Một số quốc gia áp dụng các ưu đãi thuế hấp dẫn đối với lương hưu chuyển từ nước ngoài, tạo sức hút đáng kể đối với những người về hưu ngoại quốc.

Trong danh sách năm nay, Việt Nam đứng thứ 9, đánh dấu lần đầu tiên được xếp hạng trong top 10. Theo đánh giá, Việt Nam ghi điểm nhờ chi phí sinh hoạt thấp, môi trường sống đa dạng, cùng hệ thống y tế và hạ tầng đô thị đang được cải thiện rõ rệt.

Dù mức sinh hoạt vẫn nhỉnh hơn một số điểm đến châu Á khác, Việt Nam được xem là lựa chọn cân bằng giữa chi phí, điều kiện sống và tiềm năng phát triển trong dài hạn.

Dẫn đầu bảng xếp hạng tiếp tục là Bồ Đào Nha, nhờ chi phí sinh hoạt thấp hơn khoảng 15% so với Pháp, khoảng cách địa lý gần, mạng lưới giao thông thuận tiện và chất lượng hạ tầng đồng bộ. Tây Ban Nha xếp ngay sau, nổi bật với lợi thế giáp Pháp, ẩm thực phong phú và hệ thống dịch vụ tương đương các tiêu chuẩn châu Âu.

Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Hy Lạp, Thái Lan, Mauritius, Maroc, Tunisia, Senegal và Indonesia, trong đó đảo Bali (Indonesia) tiếp tục được đánh giá cao nhờ chi phí sinh hoạt thấp và khí hậu dễ chịu, dù còn hạn chế về khoảng cách địa lý và chất lượng dịch vụ y tế.

Các chuyên gia khuyến nghị trước khi quyết định chuyển hẳn nơi sinh sống khi về hưu, người dân nên có thời gian khảo sát thực tế tại quốc gia dự định lựa chọn, nhằm đánh giá đầy đủ các yếu tố về điều kiện sống, y tế, an ninh và khả năng hòa nhập cộng đồng.

Việc Việt Nam lần đầu tiên góp mặt trong danh sách các điểm đến hưu trí hàng đầu thế giới của Retraite sans Frontières được xem là tín hiệu tích cực, phản ánh sức hút ngày càng tăng của quốc gia Đông Nam Á này đối với cộng đồng quốc tế, trong bối cảnh xu hướng “hưu trí xuyên biên giới” được dự báo sẽ tiếp tục lan rộng trong những năm tới./.
QV-ST!

GỐC LÀ DÂN!

     "Dân duy bang bản, bản cố bang ninh" (Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên) - sách cổ Trung Hoa "Hạ thư" đã từng ghi vậy. Là người thấm nhuần tinh hoa văn hóa phương Đông cũng như phương Tây, sinh thời, Bác Hồ vĩ đại trong mọi suy nghĩ và hành động đã thể hiện rõ tư tưởng "gốc là dân".

Trong tác phẩm "Phép dùng binh của ông Tôn Tử", viết năm 1943 nhưng xuất bản tháng 2-1945 tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã nhấn mạnh khi diễn giải những ý tưởng quân sự của danh tướng Trung Hoa cổ đại rằng, được lòng dân là yếu tố cần thiết đầu tiên để giành chiến thắng: "Tất cả dân đồng tình với ta, có thể cùng sống chết mà không sợ nguy hiểm". Bác cũng dẫn lại lời của Khổng Minh: "Trước hết, cốt lấy lòng dân, thứ hai mới cốt lấy thành trì của địch". Thế nhưng, khác với các thủ lĩnh chính trị của những thời đại khác, trong ý niệm thường trực của Bác, người dân không chỉ là những ngọn gió để đẩy thuyền lên hay lật thuyền xuống mà là đối tượng cần được hướng tới, yêu thương, chăm lo, những người có quyền được tự do, bình đẳng và sống trong những điều kiện xứng đáng với kiếp nhân sinh.

Chính vì thế nên lo cho dân, cho nước luôn là nỗi niềm canh cánh năm canh của Bác Hồ. Theo hồi ức của đồng chí Lê Giản, nguyên Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương, ngay từ lúc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vừa thành công, chuẩn bị rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội để xây dựng chính quyền mới, Bác đã dặn dò: "Nhân dân bao năm nhường cơm xẻ áo cho mình thì mình phải có trách nhiệm chăm lo đời sống cho nhân dân. Các chú thấy đồng bào ở đây còn lạc hậu lắm, người ở trên sàn, dưới nuôi súc vật mất vệ sinh, vì vậy các chú phải ở lại chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân, để đồng bào ở đây cũng được hưởng thành quả của Cách mạng".

Cũng chính vì tình yêu thương thực sự bao la với nhân dân nên trong mọi chuyện liên quan tới đời sống nhân dân và đất nước, Bác đều muốn tìm hiểu thấu đáo sự thật. Trong mọi trường hợp, Bác đều muốn trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, với cán bộ, chiến sĩ để biết rõ tâm trạng, suy tư thực của họ. Một lãnh tụ lịch duyệt và từng trải như Bác không thể nào không biết đến những tích ngụ ngôn về các chuyện "giả lễ chúa Mường" Đông Tây kim cổ. Thí dụ như chuyện nữ hoàng Nga Ekaterina có lần đi kinh lý xuống địa phương, bị ông quan sở tại là Potiomkin "qua mặt" bằng cách dựng lên hàng loạt bức tranh quang cảnh xóm thôn trù phú, thịnh vượng để nữ hoàng tưởng rằng đất nước mà bà đang trị vì phát triển lắm (trong tiếng Nga, thành ngữ "Làng xóm của Potiomkin" về sau đã được dùng để chỉ tất cả những trò dối trên lừa dưới như thế). Bác hẳn cũng biết một thủ lĩnh phương Đông, cũng trong một lần xuống kinh lý địa phương, cứ tưởng mùa màng bội thu lắm vì các cán bộ lãnh đạo ở đó đã buộc người dân nhổ lúa đến trồng ở hai bên đường san sát, mặc dù sau đó thì lúa chết, làm thiệt hại vô kể...

Tai nghe, mắt thấy mới tư duy được chuẩn xác. Đó là phương thức làm việc gần dân, vì dân, cho dân của Bác. Đồng chí Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, lần đầu tiên được gặp Bác ở chiến khu từ đầu năm 1945. Khi đó, Cách mạng còn trong giai đoạn hoạt động bí mật và còn ít ai biết mặt và tên người lãnh đạo tối cao. Cùng các đồng đội trong Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu lên tới Tân Trào, đồng chí Nguyễn Tài gặp ngay một cụ già, áo chàm vắt vai, quần chàm xắn tới đầu gối, ngay lập tức đã đặt ra nhiều câu hỏi và lắng nghe những câu trả lời rất chăm chú. Đồng chí Nguyễn Tài nhớ lại: "Tôi kể tình hình đói ở dưới xuôi, cảnh người chết dọc đường mà tôi được tận mắt nhìn thấy; phân tích việc giặc Nhật hất cẳng giặc Pháp, tiếp tục áp bức, bóc lột dân ta; giải thích về Mặt trận Việt Minh và chính sách cứu nước của Việt Minh. Cụ hỏi tôi: Các cháu lên đây làm gì? Tôi đáp là học quân sự để đánh đuổi giặc Nhật, giành độc lập cho dân ta...". Tóm lại, đồng chí Nguyễn Tài đã "tuyên truyền Cách mạng" cho ông cụ mà đồng chí ngỡ là người dân thường trên miền sơn cước. Ông cụ cứ nghe anh thanh niên miền xuôi lên nói mà không hề bộc lộ gì khác ngoài những lời như: "Ngày trước, khi giặc Pháp đến cướp nước ta thì đồng bào dưới xuôi bị nô lệ trước, trên này bị nô lệ sau; bây giờ trên này độc lập trước, thế nào đồng bào dưới xuôi cũng sẽ được độc lập…". Về sau, đồng chí Nguyễn Tài đã vừa kinh ngạc vừa sung sướng khi biết cụ già mặc đồ chàm hôm ấy chính là ông Ké, là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc! Không chỉ vì yêu cầu giữ bí mật mà Bác đã hành xử một cách dân dã như vậy. Đơn giản là Bác muốn biết tận tường và đích xác tâm trạng thực của lớp thanh niên đang hăm hở đi theo Cách mạng khi đó.

Còn đây là hồi ức của đồng chí Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nhiều năm từng làm người bảo vệ cho Bác: "Là một lãnh tụ, không dễ có ai quan tâm đến các vùng đất, con người cụ thể nhiều như Bác. Những chuyến công tác về địa phương của Bác cứ được tiến hành liên tục. Bác đi đâu, đến đâu cũng đều chuẩn bị kỹ nhưng không hề báo trước. Người giải thích đơn giản: "Bác muốn đi để thấy cảnh thật, người thật, việc thật, chứ đâu muốn đi để thấy cảnh được đón tiếp?". Đi đến đâu, làm việc gì xong là Bác về ngay. Chẳng bao giờ Bác chấp nhận tiệc tùng, chiêu đãi...".

Gần dân, sâu sát nhân dân nên Bác Hồ luôn biết cách tìm ra những vấn đề có lợi nhất cho dân, cho nước, ngay cả trong những tình huống tưởng chừng như quá nan giải. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong bài viết "Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", Bác đã đề cập tới vấn đề cải thiện dân trí cho thích hợp với chế độ mới: "Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện. Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập... Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH...".

Thực sự thương dân nên Bác luôn đặt ra cho chính quyền Cách mạng nhiệm vụ chính yếu và trên hết là hành động vì quyền lợi chân chính của dân. Theo quan niệm của Bác, Chính phủ không thể có mục đích phấn đấu gì hơn ngoài mục đích phục vụ nhân dân tận tụy, công tâm. Trong bài viết "Chính phủ là công bộc của dân", viết ngày 19-9-1954 với bút danh Chiến Thắng, Bác đã xác định ngay nhiệm vụ và đặc tính căn bản của chính quyền cách mạng: "Non hai tháng trước đây, trước cuộc khởi nghĩa 19-8-1945, nói tới hai chữ Chính phủ, người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Trái lại, ai ai đối với Chính phủ nhân dân hiện nay cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta là "người anh cả" trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào. Người xưa nói: Quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công việc Chính phủ phải nhằm mục đích duy nhất là mưu cầu tự do, hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh". Rất giản dị nhưng rất chính yếu và luôn luôn đúng đắn!

Ngay cả tới lúc chuẩn bị ra đi vào cõi vĩnh hằng, canh cánh trong lòng Bác vẫn là nỗi lo cho dân, cho nước. Lời dặn dò cuối cùng trong Di chúc của Bác vẫn là: "Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân".

Mạnh Tử ngày xưa cũng từng nói: "Lấy ân huệ nuôi dân, lấy nghĩa sai khiến dân". Biết thế lại càng thấy tấm lòng của Bác với dân chân thành và ruột thịt hơn biết chừng nào!
Ảnh: Bác Hồ về thăm bà con Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) tháng 2/1961./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: NHU QUYỀN TƯỚNG VÕ!

     Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, có lẽ hiếm có danh nhân nào lại được sùng kính một cách đặc biệt như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Một nhà chính trị, một võ tướng, một nhà văn, cả ba phẩm chất này đã hòa quyện rất chặt chẽ trong con người ông để tạo nên một Đức Thánh Trần vô tiền khoáng hậu, niềm tự hào vĩnh cửu của mọi con dân nước Việt.

Trần Quốc Tuấn đã có một hoàn cảnh gia đình rất đặc biệt. Cha ông, Trần Liễu, là con trưởng của Thái Tổ Trần Thừa, anh trai của vị vua đầu tiên trong triều Trần là Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Những biến thiên lịch sử đã đưa Trần Cảnh từ vị thế là chồng của Lý Chiêu Hoàng, lên ngôi vua. Nhưng oái oăm thay, sự sinh nở của Lý Chiêu Hoàng đã bị trục trặc (bà hoàn toàn không vô sinh) nên Trần Thủ Độ, chú ruột nhà vua, lúc đó nắm thực quyền trong triều đình, đã ép Trần Thái Tông phải rời bỏ Lý Chiêu Hoàng và lấy chị ruột của Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên Công chúa làm vợ, mặc dù lúc đó Thuận Thiên Công chúa đã có mang ba tháng với người chồng chính thức là Trần Liễu… Uất ức tột độ, Trần Liễu đã dấy binh làm loạn nhưng thế yếu nên rốt cuộc cũng phải chịu bề ngoài quy thuận triều đình… Tuy nhiên, trong lòng Trần Liễu vẫn nóng bỏng nguyên những cuồng nộ cá nhân. Và vì thế, ông rất muốn các con cháu sau này rửa hộ cho ông cái mà ông coi là nỗi đau nhục rất lớn của mình. Và Trần Liễu đã tìm kiếm nhiều người thầy giỏi võ nghệ và văn chương về dạy dỗ người con trai thứ ba khôi ngô dĩnh ngộ Trần Quốc Tuấn ngay từ khi còn nhỏ… Và kèm theo đó là những căn dặn quyết liệt cho tương lai… Trước khi tạ thế, Trần Liễu đã dặn Trần Quốc Tuấn rằng, “nếu con không vì cha mà lấy lại thiên hạ thì dưới suối vàng cha không thể nào nhắm mắt được…”

Có thể nói, Trần Quốc Tuấn được thừa hưởng từ cha mình một trái tim yêu rất nóng bỏng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, năm 19 tuổi, Trần Quốc Tuấn đã phải lòng con gái của chú ruột (vua Trần Thái Tông) là Thiên Thành công chúa. Hiềm một nỗi, Trần Thái Tông lại định gả Thiên Thành công chúa cho Trung Thành Vương và thậm chí đã đưa công chúa tới ở trong dinh thự của Trung Thành Vương. Thế là Trần Quốc Tuấn giữa đêm khuya đã vượt rào vào nhà Trung Thành Vương để tình tự với người mình yêu quý… Chuyện bại lộ và suýt nữa một thảm cảnh xảy ra. May nhờ người cô ruột là Thụy Bà công chúa, em của Trần Liễu và Trần Cảnh, vốn coi người cháu trai đa tình này như con nuôi, nhanh trí gỡ rối mà Trần Quốc Tuấn mới thoát hiểm… Trần Thái Tông cực chẳng đã phải nghe theo lời cầu xin của Thụy Bà công chúa và gả Thiên Thành công chúa cho Trần Quốc Tuấn…

Cũng phải nói rằng, đoạn trên là sự cố duy nhất trong đời sống tình cảm của Trần Quốc Tuấn được sử sách chép lại. Khi trở thành mệnh quan trong triều, cách hành xử của ông đã thay đổi, đúng mực, chín chắn và điềm đạm. Lưu truyền rất nhiều câu chuyện về cách ứng xử khôn ngoan tỉnh táo của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn trong những thời điểm gay cấn nhất của lịch sử Đại Việt thời Trần. Bản tính can đảm, dũng mãnh, nhưng Trần Quốc Tuấn lại rất biết cách gỡ rối quan hệ bằng những cử chỉ mềm mỏng, chân tình. Sử sách chép rằng, giữa ông với Trần Quang Khải, con vua Trần Thái Tông, vốn không được cơm lành canh ngọt cho lắm vì những khúc mắc ở đời cha. Mặc dù cả hai đều ngồi ở vị trí cao trong triều, một là Quốc công Tiết chế, một là Thượng tướng, nhưng lại có vẻ như bằng mặt không bằng lòng. Ý thức được tầm quan trọng của sự đoàn kết anh em, Trần Quốc Tuấn đã chủ động tạo tình huống khôi phục lại niềm tin và tình huynh đệ. Một hôm, thấy Trần Hưng Đạo từ Vạn Kiếp về kinh thành, Trần Quang Khải đã xuống thuyền chơi cùng người anh họ. Trần Quang Khải vốn bản tính ngại tắm, còn Trần Quốc Tuấn lại thích tắm nước thơm. Trò chuyện với nhau một hồi rồi, thấy ngày đã muộn, Trần Quốc Tuấn nói: “Mình mẩy bẩn rồi, xin được tắm cho Thượng tướng!” Và ông chủ động tới cởi áo của Trần Quang Khải ra. Trần Quang Khải thấy thế cũng nói: ‘Hôm nay may được Quốc công tắm cho!” Và cả hai cùng cười… Chính những cử chỉ đó đã hoàn toàn khôi phục lại được tình yêu thương và tin cậy ở hai vị trọng quan đầu triều, điều có ý nghĩa rất lớn trong các cuộc chiến chống lại giặc Nguyên Mông hùng mạnh…

Trong công tác giao tiếp với ngoại bang, Trần Hưng Đạo cũng tỏ rõ bản lĩnh cao cường của ông. Việc gì chưa cần cứng thì ông vẫn cư xử mềm mỏng và tinh tế. Đầu năm 1281, Hốt Tất Liệt, ông vua của siêu cường Nguyên Mông sai Sài Xuân làm sứ giả đem cả ngàn quân hộ tống Trần Di Ái (chú ruột vua Trần Nhân Tông, sang Trung Quốc chầu thay vua và được Hốt Tất Liệt phong làm An Nam quốc vương) về nước. Cậy thế nước lớn, Sài Xuân hành xử đầy ngạo mạn và vô lễ. Y cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Khi quân sĩ Thiên Trường ra ngăn lại, Xuân đã dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu... Không muốn gây thêm căng thẳng, vua Trần Nhân Tông đã sai Thượng tướng Trần Quang Khải ra nhà trọ sứ quán để khoản tiếp. Thế nhưng, Sài Xuân vẫn nằm khểnh trong phòng, không chịu ra. Ngay cả khi Trần Quang Khải vào hẳn trong phòng rồi, y cũng vẫn không buồn ngồi dậy tiếp. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn nghe thấy thế, tâu xin đến sứ quán xem Xuân làm gì. Lúc ấy Quốc Tuấn đã gọt tóc, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông đi thẳng vào trong phòng. Xuân đứng dậy vái chào mời ngồi. Mọi người đều kinh ngạc, có biết đâu gọt tóc, mặc áo vải là hình dạng nhà sư phương Bắc. Ông ngồi xuống pha trà, cùng uống với hắn. Người hầu của Xuân cầm mũi tên đứng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi trở về, Xuân ra cửa tiễn ông...”

Biết nhẫn chịu cực đỉnh khi việc nước đòi hỏi, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lại rất cương cường trong những tình huống nước sôi lửa bỏng. Cả trong khẩu khí lẫn hành động. Có lẽ là con dân nước Việt khó có ai có thể lạnh lòng được khi nghe đọc “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo:

“Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng; khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm…”

Rồi nữa:

“Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?..”

Có thể nói, chính thiên hùng văn này của Trần Hưng Đạo đã góp phần rất quan trọng trong việc tạo ra ngọn lửa yêu nước ngùn ngụt cháy trong thời nhà Trần, không chỉ một lần nhấn chìm những tham vọng xâm lăng của giặc Nguyên Mông…

Giữa năm Canh Tý 1300, khi Trần Hưng Đạo lâm bệnh nặng, vua Trần Anh Tông đã ngự tới nhà thăm và hỏi: ‘Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?” Câu trả lời của Đức Thánh Trần là: “… Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy…”

Cho tới hôm nay, ý tưởng “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn vẫn còn nguyên giá trị… Nhu quyền hóa ra luôn là cốt lõi của võ công Đại Việt./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÀM CHỦ ĐỘNG CƠ - BƯỚC TIẾN THEN CHỐT CỦA CHƯƠNG TRÌNH TÊN LỬA HÀNH TRÌNH VCM!

     Việc lắp ráp và từng bước làm chủ động cơ tên lửa hành trình chống hạm cận âm VCM tại Viettel đánh dấu một bước tiến quan trọng trong năng lực nghiên cứu, phát triển vũ khí công nghệ cao của Việt Nam.

Trong chương trình VCM, ngoài thành tựu nổi bật là làm chủ đầu tự dẫn, thì động cơ chính là cấu phần có ý nghĩa quyết định đến tầm bắn, độ ổn định và khả năng tác chiến của tên lửa. Đây cũng là hạng mục phức tạp bậc nhất, đòi hỏi trình độ thiết kế, chế tạo và kiểm soát chất lượng ở mức rất cao. Đến nay, Việt Nam đã cơ bản làm chủ công nghệ động cơ cho VCM mà không phụ thuộc vào nhập khẩu hoàn chỉnh từ nước ngoài, dù quá trình nội địa hóa chưa đạt tuyệt đối 100%.

Trước đây từng xuất hiện thông tin cho rằng Việt Nam mua động cơ tên lửa từ Hàn Quốc và Ukraine. Cần khẳng định rõ: việc mua sắm này chỉ nhằm mục đích nghiên cứu, tham khảo cấu trúc và thử nghiệm kỹ thuật, phục vụ quá trình tự thiết kế, chế tạo động cơ của riêng mình. Quá trình đó hoàn toàn không gắn với bất kỳ hình thức chuyển giao công nghệ nào từ đối tác nước ngoài.

Chương trình VCM là một chương trình dài hạn, đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian, nguồn lực và đặc biệt là chất xám. Rất nhiều thế hệ kỹ sư của Viettel, cùng với các viện nghiên cứu thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, đã kiên trì nghiên cứu, thử nghiệm, khắc phục thất bại để từng bước làm chủ các công nghệ lõi.

Quan trọng hơn, VCM không chỉ dừng lại ở một loại tên lửa cụ thể. Những nền tảng công nghệ tích lũy từ chương trình này chính là tiền đề để Việt Nam phát triển các dòng rocket dẫn đường cỡ lớn, cũng như các loại tên lửa có tầm bắn xa hơn trong tương lai, phục vụ yêu cầu xây dựng nền quốc phòng tự chủ, hiện đại./.

QV-ST!

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

XÉT LẠI TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - CHỈ CÓ THỂ LÀ GIẶC!

     Lịch sử không phải bãi đất hoang để ai thích thì cắm cờ.
Chủ quyền không phải bài tập học thuật để đem ra “tranh luận cho vui”.

Những bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc này — từ Nam Quốc Sơn Hà, Bình Ngô đại cáo, đến Tuyên ngôn Độc lập 1945 — không sinh ra để xin phép, cũng không tồn tại để chờ ai “xét lại”. Chúng là lời tuyên bố dứt khoát về sự tồn tại của một quốc gia, được viết trong khói lửa, ký bằng máu, và bảo chứng bằng sinh mạng của hàng triệu người.

Vậy mà hôm nay, có kẻ đòi ghi Nam Quốc Sơn Hà là “khuyết danh”, cố tình xóa mờ vai trò của Lý Thường Kiệt, rồi lén lút dịch thành “Đại Nam” — một cái tên chưa hề tồn tại ở thế kỷ XI. Có kẻ xem nhẹ Nguyễn Trãi, biến Bình Ngô đại cáo thành một “văn bản tham khảo”. Lại có kẻ trâng tráo bảo Tuyên ngôn Độc lập 1945 là “chắp vá, mượn lời Tây”.

Nói thẳng:
Đó không phải học thuật.
Đó là đòn đánh vào nền tảng chính danh của dân tộc.

Bởi khi anh phủ nhận tác giả của tuyên ngôn, anh phủ nhận chủ thể lập quốc.
Khi anh bảo tuyên ngôn chỉ là “văn bản vay mượn”, anh đã đứng sang phía của kẻ từng muốn chúng ta không tồn tại.

Lịch sử có thể tranh luận về chi tiết.
Nhưng không ai có quyền tranh luận về quyền tồn tại của quốc gia này.

Ai nhân danh học thuật để làm nhòe ranh giới chủ quyền, người đó không trung lập.
Ai cố “xét lại” tuyên ngôn độc lập, kẻ đó đã tự bước ra khỏi hàng ngũ của dân tộc.

Lịch sử Việt Nam không cần các người minh oan.
Nhưng dân tộc Việt Nam có quyền vạch rõ ai đang nói tiếng của mình, và ai đang nói hộ giặc./.
QV-ST!

KHÔNG THỂ “TRUNG TÍNH HÓA” LỊCH SỬ TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG!

     “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” đây là quan điểm nhất quán trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, ngay sau khi giành được chính quyền, trong bối cảnh vận mệnh đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc” Nhà nước non trẻ mới ra đời đã phải cùng lúc đối phó với thù trong-giặc ngoài thì Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân chống giặc dốt.

     Trong mấy chục năm qua, để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển Đảng ta đã có nhiều Nghị quyết của BCH trung ương và của Bộ chính trị về lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo, trên cơ sở đó Nhà nước ta đã liên tục đổi mới nền giáo dục và gần đây nhất là Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Thế nhưng, qua triển khai thực hiện bên cạnh một số thành công, đã bộc lộ nhiều mặt bất cập và hạn chế rất lớn, gây nên dư luận bất bình, phản ứng của xã hội, có lẽ chính vì vậy Bộ chính trị khóa XIII đã có Nghị quyết 71 - NQ/TW ngày 22/8/2025 về “Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”. 

❤️Để góp phần thực hiện thành công sự nghiệp giáo dục, xin có một số suy nghĩ về sách giáo khoa và nhận định về quan điểm “Không thần tượng hóa nhân vật, không phê phán đạo đức cá nhân” của Bộ giáo dục và đào tạo:
      
🔺Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược của Đảng ta. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khẳng định rõ: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Điều đó cho thấy, đổi mới giáo dục là đổi mới toàn diện từ nội dung, phương pháp, chương trình cho phù hợp với sự phát triển của đất nước và sự hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới song nhất quyết phải bám sát mục tiêu giáo dục lý tưởng, đạo đức và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ Việt Nam nhằm đào tạo ra những công dân yêu nước, yêu chế độ và đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

     Tuy nhiên, qua khảo sát một số nội dung sách giáo khoa (SGK) phổ thông hiện hành, chúng tôi phát hiện một xu hướng đáng lo ngại: dưới danh nghĩa “khách quan”, “khoa học”, “ không thần tượng hóa nhân vật, không phán xét đạo đức cá nhân “ dẫn đến một số bài học đã giảm ngôn ngữ tôn vinh, ca ngợi anh hùng dân tộc, né tránh phán xét chính trị - đạo đức đối với các thế lực , nhân vật bán nước, làm tay sai cho ngoại bang, từ đó làm xóa nhòa ranh giới giữa chính nghĩa và phi nghĩa trong nhận thức lịch sử của học sinh:

📍Ở bậc tiểu học, SGK Lịch sử - Địa lí lớp 5 khi trình bày về sự ra đời của nhà Nguyễn chủ yếu sử dụng lối diễn đạt mô tả: “Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu Gia Long, lập ra nhà Nguyễn”. Các nội dung tiếp theo tập trung vào tổ chức bộ máy nhà nước và quản lý xã hội, trong khi hành động cầu viện ngoại bang “rước voi dày mã Tổ“ của Nguyễn Ánh và hậu quả lịch sử của sự lệ thuộc ấy đối với độc lập dân tộc không được đặt ra trong phán xét chính trị - đạo đức rõ ràng. Cách trình bày này dễ dẫn đến nhận thức giản đơn rằng mọi triều đại “lên ngôi” đều tương đương nhau về giá trị lịch sử, trong khi bản chất chính nghĩa hay phản dân tộc của con đường giành quyền lực lại bị làm lu mờ. Và lại không đưa Triều đại Tây Sơn vào nội dung lịch sử lớp 5, đây là điều phi logic và không làm sáng tỏ công tội của hai triều đại này .
     Trong khi đó, Nghị quyết 29 yêu cầu giáo dục phải “kết hợp chặt chẽ giữa dạy chữ, dạy người và định hướng giá trị”. Nếu lịch sử chỉ dừng lại ở việc kể sự kiện mà thiếu đánh giá lập trường, thì mục tiêu “dạy người” sẽ khó đạt được.

📍Ở bậc trung học cơ sở, đặc biệt trong SGK Lịch sử lớp 8, phong trào Tây Sơn và các chiến thắng hiển hách của Quang Trung - Nguyễn Huệ được trình bày khá đầy đủ về diễn biến và kết quả. Tuy nhiên, so với SGK trước đây, ngôn ngữ tôn vinh anh hùng dân tộc đã được tiết giảm rõ rệt. Những cụm từ từng khẳng định Quang Trung là “anh hùng dân tộc kiệt xuất”, “thiên tài quân sự” xuất hiện ít hơn, thay vào đó là lối trình bày thiên về mô tả chức năng lãnh đạo. Điều này không sai về mặt khoa học, nhưng làm suy giảm vai trò biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng dân tộc, vốn là nguồn lực tinh thần quan trọng trong giáo dục lòng yêu nước, đặc biệt không làm rõ vai trò, ý nghĩa lịch sử to lớn của phòng trào Tây Sơn và triều đại Nguyễn Huệ - Quang Trung.

📍Ở bậc trung học phổ thông, biểu hiện trung tính hóa càng rõ hơn: Trong SGK Lịch sử lớp 11, khi đề cập giai đoạn cuối thế kỷ XIX, một số lực lượng cộng tác với thực dân Pháp được diễn đạt bằng các khái niệm như “lựa chọn chính trị”, “xu hướng khác nhau trong xã hội”, hoặc “hợp tác để duy trì trật tự”. Việc sử dụng những thuật ngữ trung tính này không làm rõ bản chất phản dân tộc của hành vi tiếp tay cho xâm lược, đồng thời đặt các thế lực ấy trên cùng bình diện mô tả với phong trào yêu nước. Đây chính là biểu hiện của “trung tính giả tạo”, đi ngược tinh thần mà Đảng ta yêu cầu trong Nghị quyết 29: “Giáo dục lịch sử dân tộc, truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, ý thức bảo vệ Tổ quốc”. Và lưu ý cách đưa các triều đại lịch sử cũng có vấn đề ví dụ đưa triều đại Tây Sơn vào sách giáo khoa LS lớp 8 và 11, một triều đại với những chiến công lẫy lừng được học ở các lớp giữa cấp, ngược lại triều Nguyễn thì lại đưa vào sách giáo khoa các lớp 5, 9 và 12 đều ở các lớp cuối cấp với những nội dung trung tính không làm rõ bản chất của triều đại này, rõ ràng đây không chỉ là sự tình cờ sắp xếp trong chương trình (?) 

🔺Ở môn Ngữ văn, xu hướng tách giá trị chính trị - lịch sử khỏi văn bản cũng cần được nhìn nhận nghiêm túc. Các tác phẩm như Bình Ngô đại cáo chủ yếu được giảng dạy dưới góc độ nghệ thuật ngôn từ, thể loại văn học, trong khi nội dung cốt lõi - bản tuyên ngôn chính nghĩa, sự lên án kẻ xâm lược và tay sai, khẳng định quyền độc lập dân tộc - chưa được nhấn mạnh đúng mức, hay bài Nam quốc sơn hà mà sử sách trước đây đều viết của Lý Thường Kiệt nay lại đề “khuyết danh” cũng tạo nên sự xáo trộn nhận thức của các thế hệ! đặc biệt, việc đưa trích dẫn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh vào sách ngữ văn lớp 9 và 12 là một điều cần phải xem xét nghiêm túc trong việc hạ thấp nếu không muốn nói là phủ nhận bản chất cách mạng và chủ nghĩa anh hùng của quân đội ta mà còn xuyên tạc, bôi đen một đội quân anh hùng đã góp phần to lớn đem lại độc lập, tự do cho đất nước. Điều này vô hình trung làm suy giảm chức năng giáo dục tư tưởng của văn học, trái với yêu cầu của Đảng về “xây dựng con người Việt Nam có bản lĩnh, nhân cách và khát vọng cống hiến”.

🔺Cần khẳng định rõ: không thần tượng hóa nhân vật không đồng nghĩa với né tránh ca ngợi anh hùng dân tộc; khách quan khoa học không đồng nghĩa với trung tính đạo đức, không phê phán những sai lầm của cá nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn phân biệt rạch ròi giữa chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi việc tôn vinh anh hùng, lên án phản bội là một nội dung căn bản của giáo dục cách mạng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc” cho thế hệ trẻ.

🔺Đổi mới SGK là cần thiết, nhưng không thể xa rời mục tiêu giáo dục mà Đảng ta đã xác định . Lịch sử nếu chỉ còn là chuỗi sự kiện trung tính, thiếu phán xét giá trị, sẽ không thể thực hiện mục tiêu mà Nghị quyết 29 đã chỉ rõ: Đào tạo những công dân vừa có tri thức, vừa có lý tưởng, bản lĩnh và trách nhiệm đối với Tổ quốc.

🔺Trả lại cho lịch sử ranh giới rõ ràng giữa anh hùng và phản bội, giữa chính nghĩa và phi nghĩa không phải là quay lại lối dạy cũ, mà là giữ vững bản lĩnh chính trị, thực hiện đúng mục tiêu giáo dục mà Đảng ta đã xác định trong đổi mới giáo dục - điều kiện tiên quyết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự thật lịch sử trong nhà trường hiện nay. 
       💖Bởi vậy, chúng tôi đề nghị cần rà soát lại toàn bộ SGK phổ thông hiện hành, đối chiếu với mục tiêu mà NQ của Đảng đã xác định, tiến hành biên soạn lại SGK phổ thông phần khoa học xã hội và nhân văn theo đúng tinh thần NQ của Đảng đã đề ra./.
QV-ST!

KHI ÉN ĐƯA THOI - CÓ DẤU HIỆU “RÁC PHẨM” MỚI

     “Nỗi buồn chiến tranh” chưa nhổ được rễ thì lại “nhoi” lên “Khi én đưa thoi”.
Nhân dịp sắp đón Xuân Bính Ngọ, nhiều nhà sách rầm rộ PR món ăn tinh thần trong thực đơn ngày Tết. Đáng lưu ý trong thực đơn là món “KHI ÉN ĐƯA THOI” - sản phẩm hợp tác giữa Omega và Tạp chí Xưa & Nay (Nguyễn Hạnh tuyển chọn - Nxb Thế giới, tháng 12/2025).
      Khi én đưa thoi được quảng cáo là một ấn phẩm viết về con người, lịch sử và văn hoá Việt - một cuộc trở về đầy ý nghĩa. Cuốn sách gồm 32 bài viết, được ca ngợi là những "công trình nghiên cứu công phu" dẫn dắt độc giả vén sương mờ, khám phá những trầm tích liên quan đến con người, lịch sử và văn hóa Việt. 
       Tiếp cận bước đầu món mới "Khi én đưa thoi", ngoài những nội dung phản ánh ít nhiều chân thực về con người, lịch sử và văn hoá Việt, thì có không ít chi tiết nội dung có dấu hiệu xuyên tạc lịch sử. Xin dẫn ra một số chi tiết đáng quan tâm:
     - Từ trang 175 - 215, đã xuyên tạc về phong trào Tây Sơn là "nhung đỗ, man rợ..."; coi Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc là "g.i.ặ.c", là "phản nghịch", với những dòng đổi trắng thay đen:
     "Triều đình Đại Việt xảy ra việc quân biến Tây Sơn soán đoạt Vương triều, quân thần tẩu quốc. Lúc chúa Nguyễn Phúc Ánh tiến hành phục quốc... đánh đuổi quân phản nghịch... ". Và "kẻ tử thủ Nguyễn Huệ bị quái ác hóa là kẻ soán nghịch"... "mượn phù Lê, Lê đâu mà phù? Nói diệt Trịnh, Trịnh tội gì mà diệt...".
        Chỉ bằng những dòng trên, Khi én đưa thoi đã lật ngược, phủ định Triều đại Tây Sơn, chà đạp Anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ.
      - Khi viết về Cuộc Kháng chiến chống Mĩ xâm lược và tay sai, Khi én đưa thoi đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi dẫn nguồn từ sách khác, tác giả khác, múa may câu chữ đan xen thật - giả, mượn lời để nói Quân giải phóng là 'g.i.ặ.c' trong sự kiện 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là trích dẫn lấy trong bài của Nguyễn Hữu Ái: "50 năm nhìn lại - ông Dương Văn Minh với sự kiện 30.4.1975":
      "Có lẽ ghi nhận của tác giả Trần Văn Chánh về Dương Văn Minh là công bằng và chính xác nhất". (Trang 283).
       "Rõ ràng ông Dương Văn Minh đầu hàng 'g.i.ặ.c'...". 
     Đây là sự tráo trở, đổi trắng thay đen gọi Quân Giải phóng là 'g.i.ặ.c'.
                          * *
                                *
    Cuốn sách có "dấu hiệu" xuyên tạc về con người, lịch sử và văn hóa Việt trên đang được tung hô rầm rộ trên truyền thông, báo chí. Đáng tiếc là một số tờ báo chính thống đã đăng bài quảng bá cho cuốn sách này. Chẳng hạn:
        * Báo Sài Gòn giải phóng: "Khi én đưa thoi" - hành trình nhìn lại con người, lịch sử và văn hoá... là một cuộc trở về đầy ý nghĩa trong những ngày đầu năm, là dịp nhìn lại hành trình lâu dài của dân tộc qua những số phận, những biến cố và những di sản còn lưu giữ trong tâm thức Việt".
        * Báo Nhân Dân điện tử: "Bên cạnh "Sách Tết Bính Ngọ" của Đông A, thị trường còn ghi nhận sự góp mặt của "Nhâm nhi Tết Bính Ngọ"... và ấn phẩm "Khi én đưa thoi: con người, lịch sử và văn hóa Việt".
        Vấn đề đặt ra đòi hỏi cộng đồng yêu nước chân chính, tôn trọng công lý, chính nghĩa, sự thật lịch sử cần lưu tâm đọc, phân tích, đánh giá những nội dung xuyên tạc lịch sử trong sách Khi én đưa thoi. Qua đó phê phán, kiến nghị các cơ quan chức năng kịp thời xử lý khi đủ căn cứ kết luận nó là "rác phẩm", là công cụ phục vụ mưu đồ xét lại lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng Việt Nam./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KẾT ĐOÀN, CHÚNG TA SỨC MẠNH!

     Không phải ngẫu nhiên mà cụ Hồ của chúng ta đã có lần đứng bắt nhịp điều khiển dàn nhạc, xướng lên bài ca “Kết đoàn”. Nghe nói bài ca Kết đoàn không phải do các nhạc sĩ Việt Nam sáng tác, bài hát của một nhạc sĩ Trung quốc, nhưng không rõ ai đó đã dịch sang lời Việt, và được phổ biến rộng rãi ở nước ta từ năm 1956, song nó đã được truyền vào Việt Nam mà bất cứ người Việt nào ở vào thời kỳ đó đều thuộc (theo Vũ Quốc Huệ, trên báo Quân đội nhân dân).

Lời bài “Kết đoàn” vừa là tiếng gọi toàn dân đứng lên chống quân xâm lược, vừa thể hiện bản chất dân tộc Việt Nam, một nguyên nhân rất quan trọng dẫn đến mọi thắng lợi của dân tộc. Lời bài hát có đoạn như sau:
“Kết đoàn chúng ta là sức mạnh. 
“Kết đoàn chúng ta là thép gang
“Đoàn kết ta bền vững
“Dù thép hay là gang còn kém bền vững …”

Nhìn ra thế giới, thỉnh thoảng đây đó ở châu Phi, châu Mỹ La tinh, đưa ra tuyên bố, “Đây sẽ là một Việt Nam thứ hai!” mỗi khi nền độc lập của họ bị đe dọa, song điều cốt lõi, chính quyền nào có đủ lý trí và sức mạnh để có thể tạo nên sức mạnh đoàn kết của toàn dân? Chỉ có một chính quyền “của dân, do dân và vì dân”, vậy thôi ! Từ Iraq đến Lybia đến Afghanistan đến Iran, và Venezuela hiện nay, tại sao một nước đứng đầu phe đế quốc lại có thể “làm mưa làm gió” trên đất nước họ? Trước hết và quan trọng nhất là thiếu (hoặc mất) đi một khối đoàn kết toàn dân, mặc dù quân đội của họ là hùng mạnh, vũ khí tối tân, đất nước giàu có, song họ thiếu đi sự đoàn kết toàn dân; trong nước thì bè nọ phái kia. Có lẽ đó là nguyên nhân của sự thất bại ở nhiều nước muốn được độc lập tự chủ thực sự.

Và các thế lực thù địch, mỗi lần muốn chống phá đất nước ta, họ nghĩ ngay đến làm tan rã khối đoàn kết của dân tộc. Chả thế mà ngay từ đầu, thực dân Pháp đã thực hiện “chính sách chia để trị”, chia nước ta thành ba miền tách khỏi tổ quốc chung, dân tộc chung. Những ai ngày nay vẫn phân biệt vùng miền, phân biệt và chia rẽ 54 dân tộc anh em đều là những kẻ vô tình hoặc hữu ý tiếp tay cho các thế lực chống phá nước ta.

Bây giờ lão muốn hỏi những kẻ tiếp tay cho các thế lực bên ngoài, rằng, tại sao chưa một lần dân tộc Việt Nam bị thất bại trước quân xâm lược, bất kể chúng đến từ đâu, bất kể chúng mạnh như thế nào? Chả có gì khỏ hiểu, đó là “cả nước một lòng”, đó là “dù có phải hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, đó là “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. 

Hỏi, có chính quyền ở đâu đó, có thể tạo dựng được sự đoàn kết mạnh mẽ như dân tộc Việt Nam? Xin trả lời, nếu chính quyền nơi đó biết “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” thì sẽ đánh thắng mọi quân xâm lược. Tiếc thay, cái thứ đa đảng, chính nó đã làm sự đoàn kết nhân dân bị tan rã như nắm bột gạo ngâm trong nước. Mỗi đảng đều cố gắng lôi kéo quần chúng về phía đảng mình bằng cách nói xấu các đảng khác, nếu không dành được quyền lực thì đảng đó lại phải nhờ vào ngoại bang. Thế là, độc lập chẳng còn, dân chủ tự do cũng chẳng có.

Đó là bài học của Việt Nam, những ai muốn trở thành “một Việt Nam thứ hai”, trước hết phải xây dựng được khối đoàn kết toàn dân./.
Hình trong bài: Bác bắt nhịp bài ca kết đoàn 
Ngày 11/02/2026
QV-ST!

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: SÁCH GIÁO KHOA CAMPUCHIA NÓI GÌ VỀ VIỆT NAM?

     Muốn biết láng giềng nghĩ gì về mình, cứ lật sách con nít bên đó ra mà đọc. Sòng phẳng, không cần tô vẽ, họ dạy học sinh những ý chính thế này:
1. Chuyện vùng đất phía Nam (Kampuchea Krom)
- Họ dạy sao: Trong sách lớp 9 và lớp 12, họ bảo vùng Nam Bộ ngày xưa là của đế chế Khmer. Họ nhắc chuyện bà Công nữ Ngọc Vạn lấy vua Cao Miên như một mốc thời gian người Việt bắt đầu kéo vào.
- Nói cho rõ: Nhiều nghiên cứu khu vực chỉ ra rằng vào thế kỷ XVII–XVIII, vương triều Khmer đã suy yếu, quyền quản lý hành chính lỏng lẻo và không còn kiểm soát hiệu quả vùng châu thổ phía Nam. Trong bối cảnh đó, người Việt di cư vào khai khẩn, lập làng, lập chính quyền tại chỗ; quyền kiểm soát thực tế được hình thành dần theo quá trình lịch sử.
Nguồn: SGK Lịch sử lớp 9, 12 - Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao Campuchia.

2. 1979: "Giải phóng" hay "Xâm lược"?
- Họ dạy sao: Chỗ này họ viết rất sòng phẳng. Họ dùng đúng từ "Romdoh"tiếng Campuchia nghĩa là "Giải phóng". Họ dạy học sinh rằng ngày 7/1 là ngày dân tộc họ được cứu sống khỏi họa diệt chủng.
- Nói cho rõ: Sách họ thừa nhận thẳng: Nếu quân tình nguyện Việt Nam không sang giúp lật đổ Pol Pot, dân tộc Khmer chắc đã bị xóa sổ rồi. Phủ nhận điều này là phủ nhận cách diễn giải chính thức đang được giảng dạy trong hệ thống giáo dục Campuchia hiện nay.
Nguồn: SGK lớp 12 và tài liệu từ Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-Cam).

3. Mười năm tái thiết (1979-1989)
- Họ dạy sao: Họ ghi nhận Việt Nam đã giúp phục hồi đủ thứ: từ trường học, bệnh viện đến chính quyền sau đống đổ nát của Khmer Đỏ.
- Nói cho rõ: Theo cách trình bày trong sách của họ, việc quân đội Việt Nam ở lại gắn liền với bối cảnh nội chiến chưa chấm dứt và tàn quân Khmer Đỏ vẫn còn hoạt động vũ trang mạnh, khiến an ninh lúc đó cực kỳ phức tạp. Việc hiện diện quân sự là để hỗ trợ cho đến khi chính quyền mới đủ sức tự bảo vệ.
Nguồn: Các công trình nghiên cứu của Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia.

4. Quan hệ hiện đại: Thực tế và Láng giềng
- Họ dạy sao: Giáo dục hiện nay của họ nhấn mạnh phương châm "Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống".
- Nói cho rõ: Họ nhìn Việt Nam là đối tác lớn, cần thiết để hợp tác kinh tế và giữ hòa bình biên giới, dù tâm lý tự vệ dân tộc vẫn luôn được duy trì trong các bài học về chủ quyền.

TỔNG KẾT:
1. Đất đai: Họ coi là mất mát lịch sử, nhưng thừa nhận do triều đình cũ lỏng lẻo nên mất quyền quản lý thực tế.
2. Sự kiện 1979: Dùng từ "Romdoh" (Giải phóng). Đây là quan điểm giáo dục chính thống, cãi lại là sai thực tế.
3. Thái độ: Biết ơn sự sống, nhưng vẫn giữ khoảng cách để bảo vệ bản sắc và chủ quyền./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: GÓC NHÌN TỪ HÀN QUỐC, THẾ NÀO LÀ MỘT QUỐC GIA ĐỘC LẬP?

     Một quốc gia độc lập không được định nghĩa bằng khẩu hiệu, GDP hay cờ quạt. Độc lập là quyền tự quyết tối hậu: tự quyết chính trị, tự chủ an ninh-quốc phòng, tự định đoạt đối ngoại và không để sinh mệnh quốc gia nằm trong tay nước khác.

Lấy Hàn Quốc làm ví dụ cho rõ.

Hàn Quốc là một nhà nước có chủ quyền pháp lý: có hiến pháp, chính phủ, bầu cử, ngoại giao. Nhưng độc lập chiến lược thì chưa trọn. Vì sao?

Thứ nhất, quyền chỉ huy thời chiến. Khi có chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên, quyền chỉ huy liên quân không nằm trong tay Seoul, mà thuộc về Bộ Tư lệnh Liên quân do Mỹ dẫn dắt (CFC). Nói thẳng: thời khắc sinh tử, nút bấm không ở tay Hàn.

Thứ hai, hiện diện quân sự thường trực. Hàng chục nghìn lính Mỹ, căn cứ Mỹ, hiệp ước phòng thủ Mỹ–Hàn. Điều này mang lại an ninh, nhưng đồng thời đặt trần tự chủ cho mọi quyết định lớn. An ninh dựa vào ô bảo trợ thì không thể gọi là tự chủ hoàn toàn.

Thứ ba, đối ngoại bị ràng buộc. Những vấn đề cốt lõi liên quan Triều Tiên, hạt nhân, trừng phạt, leo thang hay hạ nhiệt—Hàn Quốc không thể tự ý quyết nếu đi ngược chiến lược của Washington. Đồng minh là sức mạnh, nhưng lệ thuộc là giới hạn.

Thứ tư, kinh tế mạnh không bù được quyền lực cứng. Hàn Quốc giàu, công nghệ cao, doanh nghiệp toàn cầu. Nhưng giàu không thay thế được quyền quyết định an ninh. Quốc gia độc lập không chỉ là “làm ăn giỏi”, mà là tự giữ vận mệnh.

So để thấy rõ khái niệm:
– Độc lập pháp lý: có.
– Độc lập chiến lược, toàn vẹn lãnh thổ: chưa đủ.

Vậy tinh thần dân tộc nằm ở đâu? Nằm ở khát vọng tự chủ. Hàn Quốc hiểu điều đó, nên nhiều năm nay họ đàm phán giành lại quyền chỉ huy thời chiến, đa dạng hóa đối tác, tăng năng lực quốc phòng. Đó là con đường đúng-đi từ phụ thuộc sang tự chủ.

Bài học rút ra cho mọi dân tộc:
Quốc gia độc lập là quốc gia không để sinh mệnh mình gửi ở túi quần người khác. Đồng minh để mạnh hơn, không phải để sống hộ. Giàu để tự do hơn, không phải để xin bảo hộ. Và tự hào dân tộc không nằm ở việc phủ nhận thực tế, mà ở dám nhìn thẳng giới hạn để vượt qua.

Cơ đồ ông cha để lại, không thể làm mất đi 1 tấc đất.

Độc lập không phải danh xưng. Độc lập là quyền tự chủ dân tộc.

Chúng ta nghèo hơn: Nhưng chúng ta có Miền Nam, Miền Bắc và đồng bào Miền Trung thân yêu Chúng ta nghèo, nhưng chúng ta có nhau. Mộ Tổ không bị chia cắt, thắp nhang thoải mái.
Vậy thôi...
QV-ST!

ĐẤT NƯỚC NGÀN NĂM: NGÀY 22 THÁNG CHẠP - NGÀY GIỖ CỦA CỤ BÀ HOÀNG THỊ LOAN!

     Cụ bà Hoàng Thị Loan - Thân Mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh năm 1868 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho hiếu học.

Nhờ nền tảng gia phong tiến bộ và giàu lòng nhân ái, Bà Loan sớm trở thành người tài đức vẹn toàn, vượt trên cả những định kiến khắt khe của lễ giáo phong kiến đương thời.

Không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp duyên dáng, Bà còn được mọi người biết đến nhờ sự chăm chỉ và khả năng dệt lụa tinh xảo của mình.

Bất chấp định kiến xã hội, Bà Hoàng Thị Loan đã kết hôn với Ông Nguyễn Sinh Sắc - một thanh niên mồ côi được cha bà nuôi nấng. Nhận thấy phẩm chất tốt đẹp của ông Sắc, cụ Hoàng Xuân Đường cũng tạo điều kiện cho hai người đến với nhau.

Để chồng yên tâm học hành, ban ngày, Bà Loan không quản khó khăn, một nắng hai sương lao động ngoài ruộng; tối đến lại ngồi bên khung cửi, vừa dệt vải, vừa đưa võng ru con.

Hai ông bà có với nhau 4 người con là Nguyễn Thị Thanh (1884 - 1954), Nguyễn Sinh Khiêm (1888 - 1950), Nguyễn Sinh Cung (1890 - 1969) và Nguyễn Sinh Nhuận (1900 - 1901). Cuộc sống gia đình tuy khó khăn nhưng cả gia đình đều yêu thương và hết lòng vì nhau.

Năm 1900, sau khi sinh người con thứ tư là Nguyễn Sinh Nhuận, cộng với sự vất vả trước đó, Bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh nặng rồi qua đời ở tuổi 33 vào ngày 10/2/1901 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý). Không lâu sau đó, người con trai út của Bà vì sức khỏe kém mà cũng nối gót mẹ về cõi vĩnh hằng.

Thi hài của Cụ bà Hoàng Thị Loan được mai táng tại núi Tam Tầng, bên dòng sông Hương (Huế). Năm 1922, Cụ được con gái Nguyễn Thị Thanh đưa về vườn nhà ở làng Sen. Đến năm 1942, cậu cả Nguyễn Sinh Khiêm cải táng thi hài Cụ tại ngọn núi Động Tranh Thấp trong dãy Đại Huệ.

Để bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã có công sinh thành và dưỡng dục Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1984, Đảng bộ và nhân dân Nghệ Tĩnh (cũ) cùng lực lượng vũ trang QK4 đã thay mặt đồng bào và chiến sỹ cả nước xây dựng khu mộ của Cụ khang trang, trang nghiêm tại núi Động Tranh, Nam Đàn, Nghệ An./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: PHI ĐÔ LA HÓA - ÂM THẦM MÀ CHẮC CHẮN!

     Nga và Nhật Bản đã thực hiện các bước đi để phi đô la hóa: Vàng, Nhân dân tệ và Yên đang báo hiệu một sự thay đổi toàn cầu.

👉Ba đến bốn năm sau khi Mỹ đóng băng hơn 300 tỷ USD dự trữ ngoại hối của Nga, tình thế đang thay đổi.

✅Nga cho biết dự trữ vàng của họ đã vượt qua 400 tỷ USD lần đầu tiên trong lịch sử, theo Sputnik. Động thái mang tính biểu tượng cao, VÀNG không thể bị đóng băng, xử phạt hoặc vũ khí hóa. Nó phản ánh chiến lược rõ ràng của Moscow: giảm tiếp xúc với đồng đô la Mỹ và bảo vệ nền kinh tế khỏi áp lực tài chính trong tương lai.

💪Đồng thời, Trung Quốc đã mở mặt trận thứ hai. Bắc Kinh được cho là đã chỉ thị cho các ngân hàng của mình ngừng mua trái phiếu kho bạc Mỹ và giảm dần lượng nắm giữ hiện có. Các con số đã cho thấy xu hướng. Kho bạc Mỹ của Trung Quốc đã giảm từ 1,3 nghìn tỷ USD vào năm 2013 xuống còn khoảng 682 tỷ USD vào năm 2025, giảm gần 48%. Đồng nhân dân tệ phản ứng ngay lập tức, mạnh lên mức cao nhất trong nhiều năm.

👉Tác động của thị trường có thể nhìn thấy trong Chỉ số Đô la Mỹ, đã trượt xuống dưới 97 và gần đây chạm mức thấp nhất trong bốn năm gần 96. Chỉ số đô la dưới 100 báo hiệu sự suy yếu và nó vẫn ở đó.

🔥Nhật Bản đã thêm một lớp áp lực thứ ba. Sau sự thay đổi chính trị ở Tokyo, đồng yên mạnh lên, làm tăng kỳ vọng về các biện pháp hỗ trợ tiền tệ có thể liên quan đến việc bán đô la.

🔷Và tất cả chúng ta đều biết Ấn Độ đã thanh toán bằng đồng Rupee và buôn bán bằng đồng nội tệ với Thế giới Ả Rập, Nga, Trung Quốc, Brazil...

🤔Kết hợp với nhau, thông điệp rất rõ ràng. Từ việc Nga dự trữ vàng đến bán phá giá trái phiếu của Trung Quốc, đồng yên mạnh hơn của Nhật Bản và các bước đi chiến lược của Ấn Độ, niềm tin toàn cầu đang dần chuyển khỏi đồng đô la. Thêm xu hướng BRICS rộng lớn hơn về giao dịch nội tệ và dự trữ vàng tăng, và tín hiệu trở nên không thể nhầm lẫn.

🔥Đồng đô la không sụp đổ, nhưng kỷ nguyên thống trị không thể nghi ngờ của nó đang bị căng thẳng./.

QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGA TẬP TRẬN CHƯA TỪNG CÓ TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG BIỂN PHÍA BẮC!

     Phương Tây LO LẮNG khi biết 8 "quái vật" của Nga - tàu phá băng hạt nhân mạnh nhất - đã hoạt động cùng một lúc.

❌️Đội tàu phá băng của Nga, hoạt động trong điều kiện khắc nghiệt, hộ tống các tàu chở dầu trên Tuyến đường biển phía Bắc. Và đây cũng là tuyến đường cung cấp khả năng tiếp cận châu Á thậm chí còn nhanh hơn cả kênh đào Suez nổi tiếng.

⚠️Trong cuộc cạnh tranh với Nga, Mỹ đang cố gắng hiện đại hóa tàu phá băng hạng nặng của mình, nhưng vẫn còn rất xa mới đuổi kịp Nga. Hiện tại, Hoa Kỳ chỉ có một tàu phá băng đang hoạt động - đây là Polar Star.

❎Nga bắt đầu cho phép tàu các nước đi qua Tuyến đường biển phía Bắc. Điều này cũng củng cố đáng kể ảnh hưởng của Moscow trong khu vực, sự kiểm soát của họ đang được tăng cường.

🔺Nhưng những "TINH HOA" vẫn còn ở phía trước. Trong những năm tới, Nga có kế hoạch đóng thêm ba tàu phá băng hạt nhân: Stalingrad, Chukotka và Leningrad. Để ngăn chặn Nga tiếp quản toàn bộ Bắc Cực, Tổng thống Mỹ Donald Trump muốn sáp nhập Greenland, nhưng vấn đề này đã đi vào bế tắc.

🚩Nga đang hành động chủ động, bao gồm cả việc củng cố căn cứ hải quân của mình ở Bắc Cực.

🎯Hiện Nga đang đi trước các nước khác rất xa ở vùng Bắc Cực./.

QV-ST!