Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇻🇳 🇨🇳 TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM VÀ PHU NHÂN LÊN ĐƯỜNG THĂM CẤP NHÀ NƯỚC ĐẾN TRUNG QUỐC!

     Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình và Phu nhân, ngày 14/4/2026, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm cùng Phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Hà Nội lên đường thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14-17/4/2026!

Đây là chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trên cương vị Lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, diễn ra đúng một năm sau chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình (từ ngày 14-15/4/2025), đồng thời là lần thứ ba trong thời gian ngắn chưa đầy hai năm, hai đồng chí Lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước tiến hành thăm song phương.

Tham gia Đoàn có các đồng chí: Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành Ủy Hà Nội; Nguyễn Hải Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Nguyễn Hồng Diên, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Lê Khánh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Hoàng Thanh Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Ngô Văn Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính; Lê Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương; Trịnh Việt Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Trần Hồng Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng; Lâm Thị Phương Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Hoàng Minh Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tô Ân Xô, Trợ lý Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư; Phạm Thanh Bình, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TỪ HORMUZ NHỚ LẠI SUEZ - NHỮNG CON TIN LÂU NHẤT LỊCH SỬ HÀNG HẢI!

     Nếu việc đóng eo biển Hormuz đã sang ngày 42 hay sự cố tàu Ever Given chắn ngang kênh đào Suez 2021 làm cả thế giới nín thở thì có thể tìm hiểu về Hạm đội Vàng lẫy lừng hơn 60 năm trước. Nó không chỉ là sự cố hàng hải mà là một trong những chương kỳ lạ nhất trong lịch sử địa chính trị thế giới.

Đó là sự kiện tại kênh đào Suez, bắt đầu từ cuộc chiến 6 ngày giữa Ai Cập - Israel.

Buổi sáng định mệnh: Không kịp quay tàu

Sáng 5/6/1967, 15 con tàu từ nhiều nước đang lững thững đi qua kênh đào Suez thì Ai Cập và Israel nhảy vào tẩn nhau. Đề phòng Hải quân Israel chiếm kênh đào, Ai Cập đánh chìm xà lan, tàu nạo vét và bê tông, chặn nhiều điểm trên kênh đào. Chiếc bẫy chuột khổng lồ sập xuống, 14 con tàu bỗng mắc kẹt ở vùng rộng nhất kênh đào là hồ Great Bitter, chiều ngang khoảng 10km. Chiếc còn lại nằm ở hồ Timsah bên cạnh. Nhiệm vụ hàng này của họ là đếm tên lửa trên đầu và thi đoán máy bay bên nào bay qua.

Cuộc chiến 6 ngày qua đi như một cơn gió, bất ngờ hơn cả lúc nó bắt đầu. Các chủ tàu nghĩ rằng sau vài tuần là Ai Cập sẽ khơi thông lại kênh Suez.

Đời không như mơ

Dù ngừng chiến nhưng Israel kịp chiếm bán đảo Sinai và không chịu rút quân. Suez trở thành chiến tuyến 2 bên. Bất kỳ con thuyền nào mon men ra giữa kênh đều bị 2 bên dốc hoả lực vì sợ đối phương tạo cứ điểm.

14 con tàu từ các quốc gia Mỹ, Anh, Đức, Na Uy, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bulgary là 2 khối Đông - Tây trong chiến tranh lạnh. Mỗi con tàu như hình ảnh quốc gia nên không tàu nào tự bỏ vị trí. Cùng với yêu cầu của hợp đồng bảo hiểm khiến chủ tàu phải duy trì thuyền viên.

Hạm đội Vàng

Ở đây gió thổi rất mạnh mang theo cát sa mạc. Khắp thân tàu, cửa sổ, tháp ăng ten dính cát sa mạc óng ánh, nhìn từ xa như những con tàu dát vàng, nên được gọi là Hạm đội Vàng.

Để duy trì tinh thần, các con tàu ghép lại với nhau như chợ nổi Cần Thơ và lập ra hiệp hội Hồ Bitter. Họ trao đổi thực phẩm không cần tiền, kiểu Ba Lan có thịt hộp, Pháp có vang, Tiệp có bia. Cuối tuần làm thêm bữa buffet đa quốc gia. Dù không hiểu ngôn ngữ nhưng họ hiểu nhau qua li rượu: 1, 2, 3 zô.

Năm 1968 diễn ra thế vận hội Mexico, tại đây họ cũng tổ chức thế vận hội hồ Bitter, cờ quạt đầy đủ, chỉ thiếu rước đuốc vì có nhiều tàu chở dầu. Họ tháo xuồng cứu sinh trên các con tàu, lắp thêm buồm làm cuộc đua thuyền buồm. Ngoài ra còn thi câu cá, đá bóng. Điều lệ duy nhất của trận bóng là cấm đá ra biên vì không có người nhặt bóng dưới biển.

Thấy sự cố Suez phức tạp, các chủ tàu bố trí trực luân phiên, đổi ca vài tháng/lần. Nhiệm vụ chính của thủy thủ là cạo rỉ và đánh bài. Thủy thủ trên tàu ngày đó viết thư tay về nhà và tự vẽ tem. Thú vị là các bưu điện trên thế giới đều chấp nhận, và sau này còn có đấu giá tem hồ Bitter.

Khai thông 𝐯𝐚̀ 𝐭𝐫𝐨̛̉ 𝐯𝐞̂̀

Đến 6/1975, sau những dấu hiệu hoà bình với Israel, Ai Cập mới gỡ mìn, trục vớt xác tàu đắm để khơi thông Suez. Chỉ còn 2 con tàu của Đức là khởi động được máy và tự bò về nhà trong sự chào đón như anh hùng của hàng vạn người dân Hamburg. Những Robinson hiện đại có chuyến đi biển kéo dài 8 năm 3 tháng. 

Các con tàu khác thì liệt giường, phải thuê tàu đến kéo vì rỉ sét, hỏng máy. Nhiều công ty bảo hiểm méo mặt vì sự kiện này. Với họ, hồ Bitter đúng nghĩa với cái tên Hồ Đắng cho những hoá đơn bảo hiểm dài nhất lịch sử.

Sự kiện này cũng tác động đến kinh tế châu Âu khi chi phí vận tải tăng lên do tàu thuyền phải đi qua mũi Hảo vọng. Nó cũng là nguồn gốc khai sinh ra thế hệ tàu chở dầu siêu trường siêu trọng (VLCC, ULCC) với sức chứa >2 triệu thùng.

Từ Suez nhìn sang Hormuz

Ngành hàng hải từng có kỳ nghỉ hè dài nhất lịch sử thì việc đóng eo biển Hormuz, có lẽ, sẽ phải tính bằng đơn vị Quý trở lên, cho đến khi có kết quả cho phía Iran. Cũng giống kênh đào Suez, liên quan đến tồn vong của Ai Cập trước Israel, họ sẵn sàng cho thế giới theo dõi Hạm đội Vàng thì ngày nay, sẽ là hạm đội Kim cương trên eo biển Hormuz.

Tổng thể địa chính trị khu vực này còn rất phức tạp, đặc biệt với Iran, sẽ phải sống mái với eo biển Hormuz. Đội tàu trong vịnh Ba Tư cũng là một phần con tin để đánh đổi tài sản bị phong toả ở các nước phương Tây, giống Nga đã làm với phương Tây qua vụ Ukraina. Lác đác vài con tàu đi qua mỗi ngày chỉ là những tín hiệu lẻ tẻ nhưng đôi khi duy trì sự hy vọng cho thế giới về một dấu hiệu mong manh từ eo biển Hormuz.

Vẫn phải chờ trận quyết chiến Mỹ - Iran để giải quyết dứt điểm eo biển Hormuz. Ngừng bắn chỉ là khoảng lặng để điều quân, nạp vũ khí cả 2 bên. Trong lúc đó, tìm hiểu những câu chuyện thú vị về Hạm đội Vàng để có những niềm vui trong thế giới VUCA hiện nay./.










QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CHÂU ÂU HÂN HOAN KHI ORBÁN RA ĐI - LIỆU CÓ LÀ TÍN HIỆU MỪNG ĐỐI VỚI EU?

     Orbán đã ra đi, châu Âu hân hoan. Nhưng EU không nên mừng quá sớm: Người kế nhiệm xuất thân từ cùng một chuồng ngựa chính trị với người tiền nhiệm!


Tóm tắt:
Orbán thất bại trong cuộc bầu cử, và sự ủng hộ của Trump nhiều khả năng là một yếu tố khiến ông thêm bất lợi.

Magyar không phải là nhân vật thân châu Âu và thân Ukraine như Brussels đang kỳ vọng — ông hoài nghi về tư cách thành viên NATO/EU của Kiev và phản đối cung cấp vũ khí.

Khác với Tusk ở Ba Lan, Magyar xuất thân từ cùng truyền thống chính trị với Orbán, nên sự thay đổi thực chất về chính sách có thể sẽ không lớn như mong đợi.

Chắc chắn sẽ có tiếng nổ của những chai sâm-panh tại khu phố châu Âu ở Brussels. 

Nhanh hơn và rõ ràng hơn dự kiến, Viktor Orbán đã thua cuộc bầu cử và đã chúc mừng Péter Magyar người chiến thắng.

Đúng như cách ứng xử của một quý ông và một người dân chủ và hoàn toàn khác với cách mà phần còn lại của châu Âu đã đối xử với ông ta.

Đòn kết liễu cho chiến dịch tranh cử của ông nhiều khả năng đến từ Donald Trump và Phó Tổng thống của ông ta. Hay Orbán thực sự tin rằng sự ủng hộ từ vị Tổng thống Mỹ bị khinh thường nhất hiện nay sẽ có lợi cho mình? Một sự tính toán sai lầm đầy hậu quả.

Thế nhưng, giờ đây chính EU cũng sẽ rơi vào cái bẫy đó. Niềm vui trước Magyar người mang vẻ ngoài của một nhân vật thân châu Âu bóng bẩy đã làm mờ đi những sự thật khó chịu: Người đàn ông mới này thực ra không thân châu Âu đến vậy.

Đặc biệt là không thân Ukraine. Magyar đã nhiều lần bày tỏ nói một cách lịch sự là sự hoài nghi của ông đối với việc Kiev gia nhập NATO và EU. Và ông cũng không ủng hộ việc cung cấp vũ khí cho Ukraine.

Khác với Ba Lan, nơi Donald Tusk là cực đối lập về ý thức hệ so với đảng PiS hoài nghi EU, Magyar lại xuất thân từ cùng một chuồng ngựa chính trị với Orbán. Và chính vì vậy, Brussels không nên mừng quá sớm./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CUỘC PHONG TỎA HẢI QUÂN CỦA MỸ ĐỐI VỚI IRAN - NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC BIẾT TRƯỚC KHI NÓ BẮT ĐẦU!

     Tổng thống Donald Trump tuyên bố quân đội Mỹ sẽ bắt đầu phong tỏa hải quân các cảng của Iran ở eo biển Hormuz vào lúc 14:00 GMT ngày 13 tháng 4.

CENTCOM cho biết chiến dịch này sẽ nhắm vào tất cả các phương tiện giao thông hàng hải ra vào các cảng của Iran, trong khi các tàu không thuộc Iran sẽ được phép tiếp tục đi qua eo biển Hormuz.

🇺🇸 Lập trường của Washington

▪️Theo ông Trump, lệnh phong tỏa này sẽ tương tự như lệnh phong tỏa Venezuela.

▪️Mục tiêu của lệnh phong tỏa là gây áp lực lên Iran để nước này nối lại đàm phán và chấp nhận các yêu cầu của Mỹ, bao gồm cả việc từ bỏ chương trình hạt nhân, ông Trump nói.

▪️Quân đội Mỹ sẽ tiếp tục tấn công Iran nếu nước này không chấp nhận các điều kiện của Washington.

▪️Theo ông Trump, một số quốc gia thành viên NATO dự định ủng hộ Washington trong cuộc phong tỏa.

🇮🇷 Lập trường của Tehran

▪️Quyết định của Mỹ là bất hợp pháp và cấu thành hành vi kiểu kẻ cướp, ông Ibrahim Zolfaghari, phát ngôn viên của Bộ Tư lệnh Trung ương Lực lượng Vũ trang Iran, Khatam al-Anbiya, cho biết.

▪️Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) tuyên bố rằng sự hiện diện của tàu chiến ở eo biển Hormuz sẽ bị coi là vi phạm thỏa thuận ngừng bắn.

▪️Theo Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC), eo biển vẫn mở cửa cho tàu thuyền dân sự đi lại an toàn theo các quy định đặc biệt, trong khi tàu thuyền có liên hệ với Mỹ và Israel vẫn bị cấm.

▪️Không một cảng nào ở Vịnh Ba Tư sẽ an toàn nếu các cảng của Iran bị đe dọa, ông Khatam al-Anbiya tuyên bố.

🌎 Phản ứng của thế giới

🇬🇧 Thủ tướng Keir Starmer cho biết Anh không ủng hộ lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ.

🇪🇸 Theo Bộ trưởng Quốc phòng Tây Ban Nha Margarita Robles, biện pháp này là "không hợp lý."

🇬🇧🇫🇷 Anh và Pháp, cùng với các quốc gia khác, sẽ hợp tác để khôi phục giao thông hàng hải tại eo biển Hormuz.

🇫🇷 Pháp sẽ không ủng hộ bất kỳ chiến dịch quân sự nào nhằm mục đích mở lại eo biển Hormuz, ông Benjamin Haddad, Bộ trưởng phụ trách châu Âu thuộc Bộ Ngoại giao Pháp, cho biết.

🇦🇺 Theo Thứ trưởng Ngoại giao và Thương mại Matt Thistlewaite, chính phủ Úc không xem xét việc tham gia phong tỏa.

🇯🇵 Chánh văn phòng Nội các Minoru Kihara cho biết Nhật Bản vẫn chưa quyết định liệu quân đội nước này có tham gia hay không./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀNH ĐỘNG ĐỘT PHÁ, BIẾN QUYẾT SÁCH THÀNH KẾT QUẢ!

     Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu nghị quyết không chỉ đúng, mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết. Trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng, để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống!

Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác lập một tầm nhìn lịch sử. Dư luận và nhân dân đang rất quan tâm đến việc làm thế nào để những quyết sách lớn sớm đi vào thực tiễn. Đồng chí đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải triệt tiêu “độ trễ” và chuyển mạnh từ “nói” sang “làm” và “làm hiệu quả”. Xin đồng chí cho biết rõ hơn về tư duy hành động này trong bối cảnh hiện nay?

Đồng chí Tô Lâm: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là kết tinh trí tuệ, ý chí và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc; giá trị của nghị quyết chỉ được khẳng định đầy đủ khi được tổ chức thực hiện bằng hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, mọi thành tựu của đất nước đều gắn với những giai đoạn mà chủ trương đúng được chuyển hóa thành kết quả cụ thể, trong đó khâu tổ chức thực hiện giữ vai trò then chốt.

Chúng ta thẳng thắn nhìn nhận rằng, điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm ở chỗ thiếu đường lối, mà nằm ở năng lực biến đường lối thành chuyển biến phát triển cụ thể. Hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, kỷ luật, kỷ cương hành chính và chất lượng thực thi chính sách ở một số nơi vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước. Vì vậy, tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ này là phải biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm có hiệu quả.

Giai đoạn 5-10 năm tới có ý nghĩa quyết định đối với các mục tiêu chiến lược của Đảng và đất nước. Nếu chúng ta để lãng phí dù chỉ một khoảng thời gian ngắn vì chần chừ, né tránh, làm việc theo lối cũ hoặc trông chờ, đùn đẩy trách nhiệm, thì cái giá phải trả ít nhất là đánh mất cơ hội phát triển của cả dân tộc.

Vì vậy, mệnh lệnh hành động lúc này là phải chuyển thật mạnh từ “nhận thức đúng” sang “triển khai hiệu quả”, từ “ban hành chủ trương” sang “tạo ra sản phẩm và kết quả thực tế”. Mọi cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải gương mẫu đi đầu, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả thực chất, để nhân dân được thụ hưởng ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ.

Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trong nhiệm kỳ này, việc cải cách phương thức tổ chức thực hiện được đặt ra như thế nào để chuyển mạnh từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên kết quả, nhằm triệt tiêu tình trạng “nghẽn” ở khâu thực thi?

Đồng chí Tô Lâm: Đại hội XIV xác định thể chế là “đột phá của đột phá”, đi trước mở đường. Thể chế không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà phải trở thành động lực phát triển, giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực xã hội và tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Muốn triệt tiêu tình trạng “nghẽn”, trước hết phải đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện.

Thứ nhất, phải quyết liệt rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, quy trình, thủ tục để tháo gỡ mọi điểm nghẽn. Tinh thần là vướng mắc ở cấp nào thì cấp đó phải chủ động sửa đổi, không trông chờ, không đùn đẩy trách nhiệm. Phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý, cấp phép sang kiến tạo phát triển và phục vụ; từ nặng tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm ở những lĩnh vực đủ điều kiện; từ cách làm thiên về thủ tục sang cách làm thiên về kết quả.

Thứ hai, phải thay đổi thước đo đánh giá. Không thể tiếp tục lấy độ dày của báo cáo hay số lượng cuộc họp làm căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Đánh giá một tổ chức, một cán bộ phải nhìn vào sản phẩm phát triển cụ thể, vào tiến độ công việc, vào hiệu quả xã hội, vào mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Mọi chương trình hành động đều phải được lượng hóa, đo lường được và có lộ trình rõ ràng.

Thứ ba, phải tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng hiệu lực, hiệu quả, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Việc Trung ương quyết định chuyển Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đồng thời tiếp nhận các đảng bộ của 5 cơ quan này từ Đảng ủy Chính phủ sang Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, chính là một bước điều chỉnh tổ chức rất quan trọng. Đây không chỉ là sắp xếp đầu mối, mà còn là điều chỉnh phương thức lãnh đạo để tăng cường sự chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Trung ương đối với những lĩnh vực đặc biệt quan trọng về tư tưởng, truyền thông và khoa học chiến lược.

Thứ tư, mọi chương trình, đề án, dự án lớn đều phải xác định rõ mục tiêu, tiến độ, người chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát. Có như vậy mới chấm dứt được tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “đúng về tinh thần nhưng tắc ở khâu thực hiện”.

Thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, đồng chí đã chỉ rõ việc thực hiện nghị quyết phải gắn liền với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó yếu tố con người và công tác chính trị, tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vậy yêu cầu cốt lõi đặt ra hiện nay là gì, thưa đồng chí?

Đồng chí Tô Lâm: Trong giai đoạn mới, đổi mới phương thức lãnh đạo phải hướng tới xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, kỷ cương, minh bạch, hiệu quả và phục vụ nhân dân. Muốn vậy, yếu tố quyết định vẫn là con người - trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là có phẩm chất và năng lực chung, mà phải có bản lĩnh thực thi, có tư duy hành động thực chất, có khả năng tổ chức công việc đến cùng và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đi liền với đó, phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Hội nghị Trung ương 2 vừa qua đã ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đây là nội dung rất mới, rất cần trong giai đoạn hiện nay, bởi chúng ta đang triển khai nhiều chủ trương lớn cùng lúc, cải cách mạnh, đổi mới mạnh; nếu không giữ vững nền tảng chính trị, không tạo được sự thống nhất cao trong Đảng và đồng thuận trong xã hội, thì chủ trương đúng cũng khó đi đến kết quả như mong muốn.

Công tác chính trị, tư tưởng phải thực sự đi trước, mở đường; không thể làm theo kiểu hình thức hay chỉ dừng ở khâu quán triệt, học tập nghị quyết cho đủ thủ tục. Điều cốt lõi là phải cụ thể hóa các yêu cầu về chính trị, tư tưởng thành trách nhiệm của từng cấp ủy, tổ chức đảng, từng cán bộ, đảng viên; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, củng cố niềm tin, xây dựng bản lĩnh chính trị, nâng cao tính chiến đấu và tạo động lực để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Đối với đội ngũ cán bộ, phải kiên quyết khắc phục tình trạng giỏi tham mưu nhưng yếu tổ chức thực hiện. Trong tổ chức thực hiện, phải bảo đảm “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả. Không để tình trạng lấy tập thể để che lấp trách nhiệm cá nhân; đồng thời phải có cơ chế bảo vệ những người dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm. Đảng cầm quyền phải quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị.

Để bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết mới của Trung ương được triển khai nghiêm túc, hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng cần được đổi mới ra sao, thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước?

Đồng chí Tô Lâm: Kiểm tra, giám sát không phải là công việc làm sau cùng, càng không chỉ là xử lý sai phạm khi sự việc đã xảy ra. Đây là một phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng, là công cụ để kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, đúng hướng.

Trước hết, phải quán triệt và tổ chức thực hiện thật tốt Nghị quyết mới của Trung ương về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Việc Trung ương ban hành nghị quyết mới trong lĩnh vực này cho thấy yêu cầu của giai đoạn phát triển hiện nay là rất cao: Phát triển nhanh phải đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương; cơ chế thông thoáng hơn thì kiểm soát quyền lực phải chặt chẽ hơn; phân cấp, phân quyền mạnh hơn thì trách nhiệm chính trị phải rõ hơn.

Thứ hai, phải chuyển mạnh công tác kiểm tra, giám sát sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; phát hiện nguy cơ ngay trong quá trình vận hành, không để hạn chế, khuyết điểm tích tụ thành sai phạm lớn. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, từng chi bộ, từng đảng viên đều phải xác định đây là trách nhiệm chính trị của mình; không thể khoán trắng cho cơ quan kiểm tra. Kiểm tra phải gắn với từng chương trình hành động, từng nhiệm vụ trọng tâm, từng dự án, từng cam kết của người đứng đầu.

Thứ ba, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp làm trưởng đoàn để kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương tại toàn bộ các tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, trong đó có các đảng ủy ở Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy. Tinh thần là vừa kiểm tra, giám sát, vừa đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vừa phát hiện cách làm mới để nhân rộng, chứ không làm theo kiểu hình thức, đối phó.

Bản thân tôi cũng đã trực tiếp làm việc, dự hội nghị triển khai với Quân ủy Trung ương, với Đảng ủy Công an Trung ương; đồng thời trực tiếp làm Trưởng đoàn kiểm tra, giám sát đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội và Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội. Điều đó thể hiện rất rõ yêu cầu nêu gương trong lãnh đạo, chỉ đạo: Đã xác định kiểm tra, giám sát là một phương thức lãnh đạo của Đảng, thì lãnh đạo cấp cao phải trực tiếp làm, trực tiếp nghe, trực tiếp kiểm tra, trực tiếp chỉ đạo và trực tiếp chịu trách nhiệm về kết quả.

Mục tiêu cuối cùng là làm cho toàn hệ thống vận hành có kỷ luật hơn, minh bạch hơn, quyết liệt hơn và hiệu quả hơn. Kỷ luật phải để hành động tốt hơn; giám sát phải để kết quả rõ hơn; kiểm tra phải góp phần tháo gỡ khó khăn, siết chặt trách nhiệm, bảo đảm Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết của Trung ương được triển khai nghiêm túc, thống nhất, hiệu quả trong toàn Đảng.

Năm 2026 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương có điều gì căn dặn cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam?

Đồng chí Tô Lâm: Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng tiên phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Quân đội càng phải phát huy tốt hơn truyền thống ấy, phải thật sự mẫu mực về bản lĩnh chính trị, tinh thần hành động, kỷ luật, hiệu quả công tác và chất lượng tổ chức thực hiện nghị quyết.

Trước hết, toàn quân phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và các chương trình hành động của Quân ủy Trung ương; nhưng quán triệt không dừng ở nhận thức, mà phải chuyển thành việc làm cụ thể ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị, từng cương vị công tác. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải xác định rõ việc gì cần làm ngay, việc gì là khâu đột phá, ai chịu trách nhiệm và kiểm tra bằng cách nào.

Toàn quân phải đặc biệt coi trọng công tác chính trị, tư tưởng, xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý kỷ luật, xây dựng chính quy, đẩy mạnh chuyển đổi số và tiến lên hiện đại.

Tôi đặc biệt lưu ý vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ. Cán bộ càng ở cương vị cao càng phải mẫu mực về tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm. Mỗi cán bộ phải dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; phải được đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; bảo đảm mọi chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Kết quả thực hiện nghị quyết trong Quân đội phải được đo bằng chuyển biến thực chất trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị, chấp hành kỷ luật và niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Quyết tâm cao phải biến thành kết quả rõ; hành động phải chắc, trúng và hiệu quả đến cùng. Quân đội phải tiếp tục là lực lượng đi đầu trong hành động, gương mẫu trong kỷ luật, nói đi đôi với làm, làm đến đâu chắc đến đó, “quyết tâm gấp mười lần, hành động gấp trăm lần”, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới.

Trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương!

 



Theo QĐND
QV-ST!

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM: VIỆT NAM - TRUNG QUỐC CẦN THÚC ĐẨY 3 KẾT NỐI CHIẾN LƯỢC!

     Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc từ ngày 14-17/4, ngày 14/4 tại Đại Lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc Vương Hộ Ninh.

Cuộc hội kiến diễn ra trong không khí chân thành, hữu nghị và cởi mở. Hai bên bày tỏ vui mừng trước những tiến triển quan trọng trong quan hệ hai Đảng, hai nước thời gian qua; đồng thời trao đổi về tình hình mỗi nước và các định hướng thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới.

🤝 KHẲNG ĐỊNH TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUAN HỆ VIỆT - TRUNG

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng những thành tựu lớn mà Trung Quốc đạt được trong công cuộc cải cách mở cửa và hiện đại hóa đất nước, đồng thời đánh giá cao những đóng góp của đồng chí Vương Hộ Ninh đối với sự phát triển của Trung Quốc.

Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc Vương Hộ Ninh nhiệt liệt chúc mừng thành công của Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Ông cũng chào mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Trung Quốc lần đầu trên cương vị mới, cho rằng chuyến thăm thể hiện sự coi trọng đặc biệt của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện và Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược.

🔗 THÚC ĐẨY 3 KẾT NỐI TRONG QUAN HỆ HAI NƯỚC

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam mong muốn thông qua chuyến thăm lần này tiếp tục làm sâu sắc hơn tin cậy chính trị và xác lập tầm cao mới cho hợp tác song phương với kết nối toàn diện, sâu rộng hơn.

Để đạt mục tiêu đó, ông đề xuất hai bên thúc đẩy 3 kết nối trọng tâm:

Kết nối về lý tưởng và niềm tin
Kết nối về lợi ích phát triển
Kết nối về văn hóa và lòng dân

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, hai nước cần duy trì thường xuyên tiếp xúc cấp cao, tăng cường hợp tác trên các kênh:
Đảng
Nhà nước
Chính phủ
Quốc hội - Nhân đại
Mặt trận - Chính hiệp

Đồng thời củng cố trụ cột hợp tác quốc phòng – an ninh.

🚄 MỞ RỘNG HỢP TÁC TRONG CÁC LĨNH VỰC MỚI

Bên cạnh các lĩnh vực hợp tác truyền thống như thương mại và đầu tư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị hai nước tập trung tạo những điểm sáng hợp tác mới, bao gồm:

Phát triển hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường sắt
Hợp tác chuyển đổi số
Phát triển các công nghệ chiến lược như:
trí tuệ nhân tạo (AI)
công nghệ lượng tử
bán dẫn
Hợp tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Mục tiêu là để người dân hai nước trực tiếp thụ hưởng những thành quả hợp tác thực chất.

🌐 TĂNG CƯỜNG GIAO LƯU NHÂN DÂN VÀ KIỂM SOÁT BẤT ĐỒNG

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đề nghị phát huy vai trò của:

Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

trong việc khuyến khích các địa phương, tổ chức nhân dân hai nước tăng cường giao lưu, trao đổi và tuyên truyền về quan hệ hữu nghị Việt - Trung cũng như thành tựu phát triển của mỗi nước.

Hai bên cũng cần cùng nhau kiểm soát và xử lý thỏa đáng các bất đồng trên biển, qua đó tăng cường hiểu biết và tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

📈 TRUNG QUỐC CAM KẾT MỞ RỘNG HỢP TÁC

Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc Vương Hộ Ninh khẳng định Trung Quốc luôn coi quan hệ với Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng.

Ông đánh giá cao những thành tựu đổi mới lý luận của Việt Nam và khẳng định Trung Quốc ủng hộ Việt Nam xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện của mình.

Nhất trí với các đề xuất của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, ông đề nghị hai bên:

Tăng cường kết nối chiến lược
Ưu tiên kết nối cơ sở hạ tầng
Phát triển trí tuệ nhân tạo và kinh tế số

Trung Quốc cũng sẵn sàng:

Mở rộng nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là nông sản chất lượng cao của Việt Nam
Khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng đầu tư tại Việt Nam

🌏 ĐẨY MẠNH GIAO LƯU NHÂN DÂN VÀ HỢP TÁC ĐA PHƯƠNG

Chủ tịch Chính hiệp Vương Hộ Ninh cho biết Chính hiệp Trung Quốc sẵn sàng tăng cường quan hệ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm thúc đẩy giao lưu giữa các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hai bên cũng hướng tới mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực:
Giáo dục
Y tế
Giao lưu địa phương

Đồng thời ủng hộ lẫn nhau tổ chức tốt các sự kiện đa phương, bao gồm:
Năm APEC 2026 tại Trung Quốc
Năm APEC 2027 tại Việt Nam./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: BÁO ĐỘNG - CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ HÓA QUỸ ĐẠO VÀ "QUÂN BÀI" ANGARA-A5 CỦA NGA!

     Không gian không còn là vùng đệm hòa bình, mà đang chuyển dịch thành mặt trận tác chiến thứ năm sau đất liền, trên biển, trên không và mạng. Việc Nga vận hành thành công tên lửa đẩy hạng nặng Angara-A5 là dấu mốc quan trọng, cho thấy Moscow đang đẩy mạnh chiến lược chiếm lĩnh quỹ đạo với tốc độ mới.

Tại sao Angara-A5 lại gây lo ngại cho phương Tây?

Tải trọng lớn: Khả năng đưa 24,5 tấn lên quỹ đạo thấp (LEO) cho phép triển khai các tổ hợp tác chiến điện tử hạng nặng hoặc các vệ tinh thanh tra có khả năng cơ động cao.

Tính độc lập chiến lược: Việc phóng từ sân bay vũ trụ Vostochny giúp Nga chủ động hoàn toàn trong các nhiệm vụ quân sự khẩn cấp mà không phụ thuộc vào các căn cứ cũ tại nước ngoài.

Mối đe dọa trực diện: Theo Reuters, Nga đã triển khai vệ tinh mang đặc điểm của vũ khí chống vệ tinh (ASAT) vào cùng mặt phẳng quỹ đạo với một vệ tinh nhạy cảm của Chính phủ Mỹ. Dữ liệu theo dõi cho thấy các hoạt động áp sát và can thiệp vào tài sản không gian của đối phương đang gia tăng.

Sự xuất hiện của Angara-A5 kết hợp với các tầng đẩy phụ thông minh như Orion đã biến quỹ đạo Trái Đất thành một bàn cờ quân sự thực thụ. Đây không còn là dự báo, mà là thực tế đang diễn ra, thúc đẩy một cuộc đua vũ trang mới với những hệ lụy khó lường.

Theo bạn, liệu cuộc đua quân sự hóa không gian này sẽ dẫn đến những hệ lụy gì cho an ninh toàn cầu? 
Hãy chia sẻ ý kiến của bạn ở phần bình luận nhé!
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: SỐNG GIỮA VÒNG VÂY QUÂN THÙ ĐỂ CỐNG HIẾN, HY SINH VÌ CÁCH MẠNG!

     “Có một người gần như biến mất suốt gần 30 năm giữa lòng Sài Gòn. Phía bên kia biết có ông tồn tại, biết ông là mắt xích cực kỳ nguy hiểm… nhưng vẫn không thể chạm tới.”

Trong lịch sử tình báo Việt Nam, có những con người không sống một cuộc đời bình thường. Họ phải gác lại tên thật, gác lại gia đình, gác lại cả quyền được xuất hiện công khai, để bước vào một hành trình chỉ có im lặng và chờ đợi. Tư Cang, tên thật là Nguyễn Văn Tàu, chính là một con người như vậy.

Ông sinh năm 1928 tại Bà Rịa – Vũng Tàu, lớn lên giữa lúc đất nước nhiều biến động nên sớm tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ. Năm 1947, ông đã là chiến sĩ quân báo của Việt Minh. Sau Hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc, mang tên mới là Trần Văn Quang, tiếp tục được đào tạo rất bài bản về trinh sát, đặc công và công tác chính trị. Nhưng tất cả chỉ mới là bước chuẩn bị cho một nhiệm vụ lớn hơn nhiều. Năm 1961, ông nhận lệnh trở lại miền Nam. Từ giây phút ấy, cuộc đời cũ gần như khép lại, nhường chỗ cho một con người khác, sống bằng thân phận khác, tên gọi khác và một nhiệm vụ không được phép sơ suất.

Từ năm 1962 đến năm 1972, ông là Cụm trưởng cụm tình báo H63, một trong những mạng lưới tình báo chiến lược quan trọng nhất trong giai đoạn kháng chiến. Dưới sự chỉ huy của ông, H63 quy tụ nhiều nhân vật đặc biệt, trong đó có Phạm Xuân Ẩn. Từ mạng lưới này, nhiều tài liệu tối mật đã được chuyển ra ngoài, giúp cấp trên nắm được những kế hoạch quan trọng và đưa ra các quyết định có ảnh hưởng lớn đến cục diện chiến trường.

Điều đáng nể không chỉ nằm ở kết quả, mà còn ở cách ông tồn tại. Phía bên kia biết rất rõ có một người đang đứng sau mạng lưới ấy, biết đó là một đối thủ cực kỳ lợi hại, nhưng không thể xác định chính xác ông là ai, ở đâu, mang gương mặt nào, sống dưới cái tên nào. Ông di chuyển liên tục, đổi vỏ bọc linh hoạt, giữ mình gần như vô hình giữa lòng đô thị. Đó là đỉnh cao của nghề tình báo: sống ngay trước mắt người khác, nhưng không để ai thật sự nhìn thấy mình.

Trong suốt gần ba thập kỷ ấy, gia đình ông gần như không có tin tức. Người vợ vẫn lặng lẽ chờ, vẫn tin rồi sẽ có ngày ông quay lại. Khi ông rời đi, con gái còn chưa ra đời. Đến ngày ông trở về, con đã 29 tuổi. Tối 30 tháng 4 năm 1975, sau khi Sài Gòn được giải phóng, một người đàn ông lặng lẽ bước vào con hẻm nhỏ ở Thị Nghè. Không ồn ào, không nghi thức, không ai biết đó là một người vừa đi qua gần 30 năm sống trong bóng tối. Ông chỉ cất tiếng gọi con gái bằng cái tên thân mật ngày xưa. Cánh cửa mở ra, và giây phút đoàn tụ ấy có lẽ là thứ mà bao năm ông đã đổi bằng cả tuổi trẻ, cả cuộc đời riêng và cả quyền được sống như một người bình thường.

Sau ngày đất nước thống nhất, Tư Cang vẫn tiếp tục công tác, rồi về sau mới được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 2006. Nhưng điều khiến người ta kính phục ở ông không chỉ là danh hiệu, mà là cả một đời sống thầm lặng, kỷ luật và bền bỉ đến phi thường. Có những người làm nên lịch sử bằng những điều ai cũng nhìn thấy. Còn có những người như Tư Cang, làm nên lịch sử bằng sự lặng im, bằng những năm tháng không thể nói mình là ai, không thể sống cạnh người thân, không thể để lại dấu vết cho chính cuộc đời mình.

Tư Cang là một trong những con người như vậy. Ông không chỉ đánh đổi thời gian, mà đánh đổi cả sự hiện diện của chính mình, để hoàn thành nhiệm vụ. Và có lẽ, điều lớn nhất trong câu chuyện ấy không chỉ là lòng dũng cảm, mà còn là sức chịu đựng của một con người biết chấp nhận sống gần như không tồn tại, chỉ để một ngày trở về trong yên lặng.

👉 Có những chiến công không vang lên giữa tiếng súng, nhưng vẫn đủ làm thay đổi cả một giai đoạn lịch sử.
👉 Có những con người cả đời không đòi được nhớ tới, nhưng càng tìm hiểu lại càng thấy đáng kính phục.
👉 Nếu là bạn, liệu bạn có đủ bản lĩnh để rời đi gần 30 năm, không tin tức, không danh tính, chỉ để hoàn thành một nhiệm vụ rồi trở về như chưa từng tồn tại?
QV-ST!

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: HỒ SƠ MẬT PARIS!

TẬP 1: GIÁO SƯ ĐỤNG "NGƯỜI THÉP"!

     Tháng 5 năm 1968, cả thế giới nín thở hướng về Paris. Tại Trung tâm Hội nghị quốc tế trên đại lộ Kléber, hàng ngàn nhà báo chen chúc để chứng kiến cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bàn về chấm dứt chiến tranh.

Khi Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy bắt tay Trưởng đoàn Mỹ W. Averell Harriman, báo chí phương Tây tung hô đó là "cái bắt tay lịch sử". Nhưng ngay khi cánh cửa phòng họp đóng lại, một cuộc chiến nổ ra, căng thẳng không kém trên chiến trường.

Suốt một tháng ròng rã, Harriman (75 tuổi) - người từng ngồi chung bàn với Tổng Bí thư ĐCS Liên Xô Stalin và Thủ tướng Anh Churchill - liên tục vặn vẹo, đòi áp dụng nguyên tắc "có đi có lại". 

Hiểu nôm na là: Mỹ chỉ chịu ngừng ném bom miền Bắc nếu quân Giải phóng chịu buông súng ở miền Nam (một sự đánh đồng ngang ngược giữa kẻ đi xâm lược và người bảo vệ quê hương).

Đáp lại, Bộ trưởng Xuân Thủy đọc những bài diễn văn để tố cáo Mỹ, kiên quyết lặp lại một lập trường đanh thép: "Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn, không điều kiện các cuộc ném bom... Bao giờ chấm dứt ném bom, thì chúng ta mới bàn sang các việc khác!".

Sự bế tắc đó khiến những bộ óc Lầu Năm Góc điên đầu. Nhưng họ không biết rằng, Hà Nội chỉ đang chờ đợi một thứ "vũ khí hạng nặng".

🔥 Ngày 12/6/1968, tại Hội trường Kléber bỗng xuất hiện một gương mặt mới mang dáng dấp đường bệ: Cố vấn Đặc biệt Lê Đức Thọ. 

Lê Đức Thọ không phải nhà ngoại giao bàn giấy. Tên thật của ông là Phan Đình Khải. Ông đã được rèn bản lĩnh thép qua những năm tháng trong nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Và ông vừa bước ra khỏi chảo lửa miền Nam sau Tết Mậu Thân.

Hà Nội đã gửi đến Paris một "Người Thép".

Nhận thấy sức nặng của đối thủ, Mỹ đề nghị chuyển sang các cuộc gặp riêng bí mật. Và chính tại những căn phòng đóng kín này, mọi vỏ bọc ngoại giao bị lột sạch.

Ngày 8/9/1968, trong cuộc gặp kín đầu tiên tại nhà riêng đoàn Việt Nam ở Vitry-sur-seine, Cố vấn Lê Đức Thọ đã giáng đòn phủ đầu bằng một bài phát biểu dài 10 trang đánh máy, phân tích sự thất bại thảm hại của Mỹ.

 Thấy không khí quá nặng nề, Bộ trưởng Xuân Thủy đề nghị tạm nghỉ. Harriman, vị đại sứ tỷ phú của nước Mỹ thở phào thốt lên một câu để đời: "Bởi vì tôi đã có nhiều cái nhét vào trong đầu quá".

⚔️ Nhưng đỉnh điểm của sự căng thẳng phải kể đến cuộc gặp bí mật lần thứ 4 (ngày 20/9/1968).

Hôm đó, Harriman liên tục ép Việt Nam phải chấp nhận cho đại diện ngụy quyền Sài Gòn tham gia đàm phán. Khi Bộ trưởng Xuân Thủy kiên quyết bác bỏ, vị đại sứ 75 tuổi của Mỹ không giữ nổi bình tĩnh. Ông ta nổi cáu, to tiếng ngắt lời: 

"Tôi xin lỗi phải ngắt lời ông... Tại sao ông lại bác bỏ điều đó... Nếu các ông muốn chiến tranh thì bom sẽ rơi trên đầu các ông!".

Ngay lập tức, Bộ trưởng Xuân Thủy sẵng giọng, ném cái nhìn đanh thép thẳng vào Trưởng đoàn Mỹ: 

"À! Ông muốn ném bom trở lại miền Bắc ư? Chúng tôi sẵn sàng chống lại. Nhân dân chúng tôi đã quen chống lại kẻ thù xâm lược rồi. Chúng tôi đã chiến đấu chống lại các ông hàng chục năm rồi. Ông định đưa chiến tranh ra dọa chúng tôi sao được!".

Bị dội gáo nước lạnh, Harriman cứng họng, đành xin rút lại câu nói đe dọa đó và lúng túng thanh minh: 

"Chúng tôi chỉ đề nghị các ông xin chỉ thị Chính phủ các ông... Tôi nói thành thật và điều đó là cần thiết...".

👉 Tháng 1 năm 1969, Nixon lên nắm quyền Tổng thống nước Mỹ và tung ra con át chủ bài vào bàn đàm phán Paris: Henry Kissinger - Cố vấn an ninh quốc gia, từng là Giáo sư, Tiến sĩ Đại học Harvard.

Ngày 21/2/1970, Kissinger bay đến Paris. Ông ấy bước vào căn phòng kín với tư thế của một kẻ bề trên, định dùng mớ lý thuyết của Giáo sư Đại học Harvard để "dạy bài học" và thao túng tâm lý những nhà ngoại giao Việt Nam.

Thế nhưng, vị Giáo sư của nước Mỹ không ngờ mình sắp đụng phải một bức tường thép. 

Ngay trong lần chạm trán đầu tiên ấy, khi Kissinger vừa kịp giở thói ngạo mạn, "Người thép" Lê Đức Thọ đã lạnh lùng tung ra một đòn phản kích "vỗ mặt", khiến vị Giáo sư được Nhà Trắng điều đến phải choáng váng, cứng họng và nhận ra mình vừa đá phải một tảng đá tảng.

Lê Đức Thọ đã nói câu gì khiến vị Giáo sư của Đại học Harvard phải toát mồ hôi hột ngay phút đầu chạm trán?

Tất cả sẽ được lật mở chi tiết trong TẬP 2.
Nguồn tư liệu tham khảo: Sách "Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris".
QV-ST!

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG

     Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ , ngành Trung ương và địa phương,

Thưa các đồng chí đảng viên, cán bộ, đồng bào cả nước.

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV. Hội nghị đã được nghe 5 nội dung chuyên đề chi tiết, cụ thể do các đồng chí Lãnh đạo các cơ quan Trung ương trình bày. Tôi cơ bản nhất trí với những định hướng thực hiện đối với các chuyên đề đó.

Hôm qua, tôi có trả lời báo Quân đội Nhân dân liên quan đến nhiệm vụ triển khai các Nghị quyết của Đảng, trong đó có những nội dung liên quan đến các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV (Nhiều báo hôm nay đã đăng toàn văn). Các đồng chí có thể tham khảo thêm.

Những diễn biến nhanh, rộng của tình hình quốc tế đang tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến văn hóa, khoa học kỹ thuật, làm thay đổi nhiều trật tự đã được thiết lập trên phạm vi toàn cầu. Trong nước, sau thành công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; Kết quả của đợt 1- kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, có thể nói đường lối, hướng đi đã rõ ràng, mạch lạc; Cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự, của bộ máy trong toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả.

Tôi cho rằng: yêu cầu đặt ra sau Hội nghị lần này là nắm vững, thấm nhuần, là phải tổ chức triển khai thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan tỏa thành động lực phát triển trong toàn xã hội.

Trên tinh thần đó, tôi xin nhấn mạnh thêm 05 vấn đề sau đây:

Thứ nhất: phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề bảo đảm Đảng ta vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.

Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá vươn lên, đồng thời cũng phải đáp ứng với những yêu cầu rất cao, rất mới, rất lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì yêu cầu về giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương và sự thống nhất trong toàn Đảng càng trở thành yếu tố then chốt nhằm nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng.

Thực tiễn cho thấy, ở đâu quy định được quán triệt nghiêm túc, vận dụng đúng đắn, ở đó kỷ cương được giữ vững, tổ chức được củng cố, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao. Ngược lại, nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm, thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật, thiếu thống nhất trong hành động, làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo và niềm tin của nhân dân.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình. Mọi quy định phải được thực hiện thống nhất, đồng bộ, nhất quán từ trên xuống dưới, gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các vi phạm; đồng thời khuyến khích, biểu dương các cách làm hay, sáng tạo theo quy định.

Thứ hai: Đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững.
Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước.

Do đó, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, mà là chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau.

Vốn nhà nước phải được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.

Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Đặc biệt, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nguồn vốn tài chính, mà còn là tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người dân. Khi được kích hoạt hiệu quả, nguồn lực này có thể chuyển hóa thành động lực nội sinh vô cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh tế.

Thứ ba: Kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển.
Quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hóa. Vì thế, quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Tạo ra được cấu trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bố không gian phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho tương lai. Nếu quy hoạch được làm theo tư duy khép kín, cục bộ, manh mún, mạnh ai nấy làm, thì không những không mở ra không gian phát triển mới, mà còn tạo ra xung đột, chồng lấn, lãng phí nguồn lực, làm đứt gãy liên kết, và kéo tụt hiệu quả phát triển chung, thậm chí kìm hãm sự phát triển.

Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn "hướng Đông-tỏa Tây" , "trục Bắc-Nam liền dải"- đó là tầm nhìn tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng lấy phía Đông làm không gian đột phá mở ra đại dương, từ đó lan tỏa sức phát triển sâu vào phía Tây đất nước; trục Bắc-Nam như dải xương sống của cơ thể con người. Từ nền tảng đó, mỗi quyết định phát triển phải được xem xét trong quan hệ hữu cơ với hạ tầng, năng lượng, dân cư, lao động, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, và yêu cầu phát triển dài hạn của đất nước. Không được để quy hoạch trở thành nơi phát sinh các lỗ hổng, khoảng trống hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp.

Đặc biệt, trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới. Năng lượng phải được đặt trong tổng thể phát triển quốc gia, trong tương quan với công nghiệp, đô thị, logistics, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, khả năng chống chịu và an ninh quốc gia, phải đảm bảo tự chủ.

Đi liền với quy hoạch là vấn đề phát triển dự án. Dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án muốn triển khai đều phải được đặt trong quy hoạch tổng thể, được xem xét một cách rõ ràng, nghiêm túc. Trong đó, chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự. Không thể đầu tư lớn mà tiêu chuẩn thấp, làm nhanh mà chất lượng không bảo đảm. Càng không thể xây dựng hôm nay mà ngày mai đã lạc hậu, thiếu đồng bộ, khó kết nối, khó khai thác. Phải đưa tầm nhìn hàng thế kỷ vào quy hoạch tổng thể.

Một dự án tốt phải được đánh giá dựa trên tác động phát triển và hiệu quả kinh tế - xã hội thực chất, trong đó mức độ thụ hưởng của người dân là tiêu chí trung tâm. Tuyệt đối, không lấy quy mô vốn thay cho hiệu quả, không lấy số lượng dự án thay cho chất lượng tăng trưởng, càng không lấy tốc độ giải ngân bề ngoài thay cho hiệu quả dài hạn. Mỗi đồng vốn bỏ ra, dù là vốn nhà nước hay vốn xã hội, đều phải được tính toán cẩn trọng về hiệu quả, độ lan tỏa, khả năng kích hoạt đầu tư tiếp theo, khả năng tạo việc làm, tạo giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng phúc lợi xã hội.

Thứ tư, giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực trong dân, đảm bảo mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi hộ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều trở thành chủ thể của tăng trưởng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng phát triển bền vững cho cả quốc gia.

Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Vì vậy, tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.

Vì vậy, phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.

Mỗi cơ chế, chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế tăng trưởng, và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Sau gần một năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vượt qua giai đoạn khởi động ban đầu, bước đầu định hình cơ chế vận hành tương đối ổn định, thông suốt, và đang chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng thực thi, hướng tới hiệu lực, hiệu quả thực chất. Dự kiến tháng 7 sẽ sơ kết 1 năm thực hiện mô hình này.

Tuy nhiên, để mô hình này phát huy đầy đủ giá trị và sức mạnh, cần được nhìn nhận trong chỉnh thể thống nhất của nền quản trị quốc gia, với một nguyên lý xuyên suốt, đó là: "Trung ương mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát, địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống". Năm 2026, Trung ương đã xác định là "Năm cán bộ cơ sở", từng cơ sở phải thay đổi.

Để hiện thực hóa tư duy này, trước hết cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định . Cấp xã phải được phân quyền rõ ràng, gắn với nguồn lực và trách nhiệm cụ thể, để có thể chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh, từ hạ tầng, dịch vụ xã hội đến quản lý kinh tế - xã hội. Quyền hạn gắn liền trách nhiệm sẽ tạo ra hiệu quả thực chất, tránh chồng chéo và trì trệ trong quản lý.

Tiếp đó, cấp xã mạnh về huy động nguồn lực sẽ giúp cấp tỉnh chủ động hơn trong việc điều phối và triển khai các dự án chiến lược. Cấp xã là nơi kết nối trực tiếp các nguồn lực xã hội, kinh tế và nhân lực địa phương. Khả năng huy động và phân bổ hiệu quả sẽ đảm bảo nguồn lực được sử dụng tối ưu, nâng cao năng lực thực thi của cả hệ thống chính quyền hai cấp.

Cuối cùng là cấp xã mạnh về giám sát và phản hồi. Cấp xã năng động sẽ cung cấp dữ liệu và thông tin chính xác về thực trạng và nhu cầu của người dân, từ đó giúp cấp tỉnh ra quyết sách phù hợp, kịp thời và chính xác. Đây chính là cơ chế tạo sức bật, đảm bảo hiệu lực tổng thể của chính quyền địa phương hai cấp.

Để cấp xã trở thành động lực nâng cấp chính quyền cấp tỉnh, mọi nghị quyết, chính sách và dự án phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Đồng thời, các quyết định này phải hướng trực tiếp tới nâng cao chất lượng đời sống người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và củng cố năng lực cạnh tranh của địa phương. Đây cũng chính là nền tảng để bảo đảm sự thông suốt, kỷ luật và hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị,

Những nội dung tôi vừa trao đổi không chỉ là những yêu cầu cụ thể trong tổ chức thực hiện Nghị quyết, mà là những vấn đề có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới.

Tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, các đồng chí cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn, quyết liệt hơn, thực chất hơn. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự đặt mình trong tổng thể chung, nhìn rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong bức tranh phát triển chung của đất nước, từ đó hành động một cách nhất quán, có kỷ luật và có hiệu quả.

Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

Xin chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Xin trân trọng cảm ơn./.

QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: KHÔNG NGHỈ LỄ NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG 10/3 (ÂM LỊCH), NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC 30/4 VÀ NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5 LIỀN TRONG 9 NGÀY!

     Liên quan đến việc cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có thể được nghỉ liên tục nhiều ngày trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4) và Ngày Quốc tế Lao động (1/5) năm 2026 thông qua việc hoán đổi ngày làm việc với ngày nghỉ hằng tuần, chiều ngày 10/4, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Mạnh Khương khẳng định không có phương án hoán đổi ngày làm việc để nghỉ liền 9 ngày trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và nghỉ lễ 30/4, 1/5.

Trong công văn gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND nhân dân các tỉnh, thành phố vừa phát hành chiều 10/4, Bộ Nội vụ thông tin, lịch nghỉ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 1/5 được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Lao động năm 2019. Hiện nay không có chủ trương điều chỉnh lịch nghỉ và Bộ Nội vụ cũng không đề xuất phương án hoán đổi ngày làm việc để kéo dài kỳ nghỉ. Do đó, không có phương án hoán đổi để nghỉ liền 9 ngày trong dịp này.

Bộ Nội vụ đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện lịch nghỉ theo đúng quy định của Bộ luật Lao động.

Như vậy, dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ năm nay, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực nhà nước được nghỉ 3 ngày, từ ngày 25-27/4. Sau đó sẽ đi làm bình thường trong 2 ngày 28-29/4. Dịp 30/4 và 1/5, người lao động được nghỉ 4 ngày (2 ngày chính thức, 2 ngày cuối tuần), từ ngày 30/4 - 3/5./.
QV-ST!

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: NGOẠI GIAO LÀ KHẢ NĂNG BUỘC NƯỚC LỚN PHẢI TÍNH ĐẾN MÌNH!

      Ngoại giao trong giai đoạn hiện nay không còn là giữ cân bằng, mà là tạo vị thế trong cấu trúc quyền lực đang hình thành. Quốc gia nào chỉ “đứng giữa” sẽ bị định vị; quốc gia nào khiến các bên phải tính đến mình, mới thực sự chủ động.

Từ góc nhìn đó, cần đặt câu hỏi: vì sao Trung Quốc lần đầu triển khai cơ chế “3+3” với Việt Nam?

Câu trả lời nằm ở sức ép chiến lược của chính Bắc Kinh. Khi cạnh tranh Mỹ – Trung leo thang, chuỗi cung ứng dịch chuyển, và môi trường an ninh khu vực bất định, Trung Quốc không thể để hướng Nam phát sinh rủi ro. Việt Nam, nằm ở giao điểm của các dòng chảy kinh tế – an ninh, trở thành biến số cần “ổn định hóa”.

“3+3” vì thế là nỗ lực kéo Việt Nam vào một cấu trúc an ninh tích hợp để giảm bất định.

Nhưng điểm đáng chú ý là cách Việt Nam phản ứng. Không né tránh, Việt Nam bước vào đúng lúc Trung Quốc cần nhất, khi nhu cầu ổn định của Bắc Kinh tăng cao. Điều này tạo ra dư địa mặc cả: tham gia, nhưng trên cơ sở ràng buộc hai chiều, nơi lợi ích đan xen đủ sâu để mọi thay đổi đều có chi phí cho cả hai phía.

Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là bước nâng cấp quyết định. Nếu “3+3” là tầng vận hành an ninh, thì chuyến thăm xác lập khung chính trị và giới hạn chiến lược cho mức độ gắn kết đó.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy yếu và cạnh tranh quyền lực gia tăng, Việt Nam không chọn đứng ngoài. Việt Nam neo mình vào các cấu trúc đủ lớn để tạo ổn định, nhưng giữ quyền xoay trục.

Đó không phải là cân bằng.

Đó là cách một quốc gia buộc nước lớn phải tính đến mình trong mọi phương án./.


QV-ST!