Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM TẠI HỘI NGHỊ QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG

     Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ , ngành Trung ương và địa phương,

Thưa các đồng chí đảng viên, cán bộ, đồng bào cả nước.

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV. Hội nghị đã được nghe 5 nội dung chuyên đề chi tiết, cụ thể do các đồng chí Lãnh đạo các cơ quan Trung ương trình bày. Tôi cơ bản nhất trí với những định hướng thực hiện đối với các chuyên đề đó.

Hôm qua, tôi có trả lời báo Quân đội Nhân dân liên quan đến nhiệm vụ triển khai các Nghị quyết của Đảng, trong đó có những nội dung liên quan đến các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV (Nhiều báo hôm nay đã đăng toàn văn). Các đồng chí có thể tham khảo thêm.

Những diễn biến nhanh, rộng của tình hình quốc tế đang tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến văn hóa, khoa học kỹ thuật, làm thay đổi nhiều trật tự đã được thiết lập trên phạm vi toàn cầu. Trong nước, sau thành công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; Kết quả của đợt 1- kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, có thể nói đường lối, hướng đi đã rõ ràng, mạch lạc; Cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự, của bộ máy trong toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả.

Tôi cho rằng: yêu cầu đặt ra sau Hội nghị lần này là nắm vững, thấm nhuần, là phải tổ chức triển khai thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan tỏa thành động lực phát triển trong toàn xã hội.

Trên tinh thần đó, tôi xin nhấn mạnh thêm 05 vấn đề sau đây:

Thứ nhất: phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề bảo đảm Đảng ta vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.

Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá vươn lên, đồng thời cũng phải đáp ứng với những yêu cầu rất cao, rất mới, rất lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì yêu cầu về giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương và sự thống nhất trong toàn Đảng càng trở thành yếu tố then chốt nhằm nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng.

Thực tiễn cho thấy, ở đâu quy định được quán triệt nghiêm túc, vận dụng đúng đắn, ở đó kỷ cương được giữ vững, tổ chức được củng cố, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao. Ngược lại, nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm, thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật, thiếu thống nhất trong hành động, làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo và niềm tin của nhân dân.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình. Mọi quy định phải được thực hiện thống nhất, đồng bộ, nhất quán từ trên xuống dưới, gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các vi phạm; đồng thời khuyến khích, biểu dương các cách làm hay, sáng tạo theo quy định.

Thứ hai: Đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững.
Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước.

Do đó, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, mà là chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau.

Vốn nhà nước phải được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.

Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Đặc biệt, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nguồn vốn tài chính, mà còn là tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người dân. Khi được kích hoạt hiệu quả, nguồn lực này có thể chuyển hóa thành động lực nội sinh vô cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh tế.

Thứ ba: Kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển.
Quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hóa. Vì thế, quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Tạo ra được cấu trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bố không gian phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho tương lai. Nếu quy hoạch được làm theo tư duy khép kín, cục bộ, manh mún, mạnh ai nấy làm, thì không những không mở ra không gian phát triển mới, mà còn tạo ra xung đột, chồng lấn, lãng phí nguồn lực, làm đứt gãy liên kết, và kéo tụt hiệu quả phát triển chung, thậm chí kìm hãm sự phát triển.

Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn "hướng Đông-tỏa Tây" , "trục Bắc-Nam liền dải"- đó là tầm nhìn tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng lấy phía Đông làm không gian đột phá mở ra đại dương, từ đó lan tỏa sức phát triển sâu vào phía Tây đất nước; trục Bắc-Nam như dải xương sống của cơ thể con người. Từ nền tảng đó, mỗi quyết định phát triển phải được xem xét trong quan hệ hữu cơ với hạ tầng, năng lượng, dân cư, lao động, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, và yêu cầu phát triển dài hạn của đất nước. Không được để quy hoạch trở thành nơi phát sinh các lỗ hổng, khoảng trống hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp.

Đặc biệt, trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới. Năng lượng phải được đặt trong tổng thể phát triển quốc gia, trong tương quan với công nghiệp, đô thị, logistics, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, khả năng chống chịu và an ninh quốc gia, phải đảm bảo tự chủ.

Đi liền với quy hoạch là vấn đề phát triển dự án. Dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án muốn triển khai đều phải được đặt trong quy hoạch tổng thể, được xem xét một cách rõ ràng, nghiêm túc. Trong đó, chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự. Không thể đầu tư lớn mà tiêu chuẩn thấp, làm nhanh mà chất lượng không bảo đảm. Càng không thể xây dựng hôm nay mà ngày mai đã lạc hậu, thiếu đồng bộ, khó kết nối, khó khai thác. Phải đưa tầm nhìn hàng thế kỷ vào quy hoạch tổng thể.

Một dự án tốt phải được đánh giá dựa trên tác động phát triển và hiệu quả kinh tế - xã hội thực chất, trong đó mức độ thụ hưởng của người dân là tiêu chí trung tâm. Tuyệt đối, không lấy quy mô vốn thay cho hiệu quả, không lấy số lượng dự án thay cho chất lượng tăng trưởng, càng không lấy tốc độ giải ngân bề ngoài thay cho hiệu quả dài hạn. Mỗi đồng vốn bỏ ra, dù là vốn nhà nước hay vốn xã hội, đều phải được tính toán cẩn trọng về hiệu quả, độ lan tỏa, khả năng kích hoạt đầu tư tiếp theo, khả năng tạo việc làm, tạo giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng phúc lợi xã hội.

Thứ tư, giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực trong dân, đảm bảo mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi hộ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều trở thành chủ thể của tăng trưởng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng phát triển bền vững cho cả quốc gia.

Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Vì vậy, tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.

Vì vậy, phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.

Mỗi cơ chế, chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế tăng trưởng, và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Sau gần một năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vượt qua giai đoạn khởi động ban đầu, bước đầu định hình cơ chế vận hành tương đối ổn định, thông suốt, và đang chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng thực thi, hướng tới hiệu lực, hiệu quả thực chất. Dự kiến tháng 7 sẽ sơ kết 1 năm thực hiện mô hình này.

Tuy nhiên, để mô hình này phát huy đầy đủ giá trị và sức mạnh, cần được nhìn nhận trong chỉnh thể thống nhất của nền quản trị quốc gia, với một nguyên lý xuyên suốt, đó là: "Trung ương mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát, địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống". Năm 2026, Trung ương đã xác định là "Năm cán bộ cơ sở", từng cơ sở phải thay đổi.

Để hiện thực hóa tư duy này, trước hết cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định . Cấp xã phải được phân quyền rõ ràng, gắn với nguồn lực và trách nhiệm cụ thể, để có thể chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh, từ hạ tầng, dịch vụ xã hội đến quản lý kinh tế - xã hội. Quyền hạn gắn liền trách nhiệm sẽ tạo ra hiệu quả thực chất, tránh chồng chéo và trì trệ trong quản lý.

Tiếp đó, cấp xã mạnh về huy động nguồn lực sẽ giúp cấp tỉnh chủ động hơn trong việc điều phối và triển khai các dự án chiến lược. Cấp xã là nơi kết nối trực tiếp các nguồn lực xã hội, kinh tế và nhân lực địa phương. Khả năng huy động và phân bổ hiệu quả sẽ đảm bảo nguồn lực được sử dụng tối ưu, nâng cao năng lực thực thi của cả hệ thống chính quyền hai cấp.

Cuối cùng là cấp xã mạnh về giám sát và phản hồi. Cấp xã năng động sẽ cung cấp dữ liệu và thông tin chính xác về thực trạng và nhu cầu của người dân, từ đó giúp cấp tỉnh ra quyết sách phù hợp, kịp thời và chính xác. Đây chính là cơ chế tạo sức bật, đảm bảo hiệu lực tổng thể của chính quyền địa phương hai cấp.

Để cấp xã trở thành động lực nâng cấp chính quyền cấp tỉnh, mọi nghị quyết, chính sách và dự án phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Đồng thời, các quyết định này phải hướng trực tiếp tới nâng cao chất lượng đời sống người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và củng cố năng lực cạnh tranh của địa phương. Đây cũng chính là nền tảng để bảo đảm sự thông suốt, kỷ luật và hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị,

Những nội dung tôi vừa trao đổi không chỉ là những yêu cầu cụ thể trong tổ chức thực hiện Nghị quyết, mà là những vấn đề có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới.

Tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, các đồng chí cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn, quyết liệt hơn, thực chất hơn. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự đặt mình trong tổng thể chung, nhìn rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong bức tranh phát triển chung của đất nước, từ đó hành động một cách nhất quán, có kỷ luật và có hiệu quả.

Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

Xin chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Xin trân trọng cảm ơn./.

QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: KHÔNG NGHỈ LỄ NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG 10/3 (ÂM LỊCH), NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC 30/4 VÀ NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5 LIỀN TRONG 9 NGÀY!

     Liên quan đến việc cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có thể được nghỉ liên tục nhiều ngày trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4) và Ngày Quốc tế Lao động (1/5) năm 2026 thông qua việc hoán đổi ngày làm việc với ngày nghỉ hằng tuần, chiều ngày 10/4, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Mạnh Khương khẳng định không có phương án hoán đổi ngày làm việc để nghỉ liền 9 ngày trong dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và nghỉ lễ 30/4, 1/5.

Trong công văn gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND nhân dân các tỉnh, thành phố vừa phát hành chiều 10/4, Bộ Nội vụ thông tin, lịch nghỉ Giỗ Tổ Hùng Vương, 30/4 và 1/5 được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Lao động năm 2019. Hiện nay không có chủ trương điều chỉnh lịch nghỉ và Bộ Nội vụ cũng không đề xuất phương án hoán đổi ngày làm việc để kéo dài kỳ nghỉ. Do đó, không có phương án hoán đổi để nghỉ liền 9 ngày trong dịp này.

Bộ Nội vụ đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện lịch nghỉ theo đúng quy định của Bộ luật Lao động.

Như vậy, dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ năm nay, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực nhà nước được nghỉ 3 ngày, từ ngày 25-27/4. Sau đó sẽ đi làm bình thường trong 2 ngày 28-29/4. Dịp 30/4 và 1/5, người lao động được nghỉ 4 ngày (2 ngày chính thức, 2 ngày cuối tuần), từ ngày 30/4 - 3/5./.
QV-ST!

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: NGOẠI GIAO LÀ KHẢ NĂNG BUỘC NƯỚC LỚN PHẢI TÍNH ĐẾN MÌNH!

      Ngoại giao trong giai đoạn hiện nay không còn là giữ cân bằng, mà là tạo vị thế trong cấu trúc quyền lực đang hình thành. Quốc gia nào chỉ “đứng giữa” sẽ bị định vị; quốc gia nào khiến các bên phải tính đến mình, mới thực sự chủ động.

Từ góc nhìn đó, cần đặt câu hỏi: vì sao Trung Quốc lần đầu triển khai cơ chế “3+3” với Việt Nam?

Câu trả lời nằm ở sức ép chiến lược của chính Bắc Kinh. Khi cạnh tranh Mỹ – Trung leo thang, chuỗi cung ứng dịch chuyển, và môi trường an ninh khu vực bất định, Trung Quốc không thể để hướng Nam phát sinh rủi ro. Việt Nam, nằm ở giao điểm của các dòng chảy kinh tế – an ninh, trở thành biến số cần “ổn định hóa”.

“3+3” vì thế là nỗ lực kéo Việt Nam vào một cấu trúc an ninh tích hợp để giảm bất định.

Nhưng điểm đáng chú ý là cách Việt Nam phản ứng. Không né tránh, Việt Nam bước vào đúng lúc Trung Quốc cần nhất, khi nhu cầu ổn định của Bắc Kinh tăng cao. Điều này tạo ra dư địa mặc cả: tham gia, nhưng trên cơ sở ràng buộc hai chiều, nơi lợi ích đan xen đủ sâu để mọi thay đổi đều có chi phí cho cả hai phía.

Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là bước nâng cấp quyết định. Nếu “3+3” là tầng vận hành an ninh, thì chuyến thăm xác lập khung chính trị và giới hạn chiến lược cho mức độ gắn kết đó.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy yếu và cạnh tranh quyền lực gia tăng, Việt Nam không chọn đứng ngoài. Việt Nam neo mình vào các cấu trúc đủ lớn để tạo ổn định, nhưng giữ quyền xoay trục.

Đó không phải là cân bằng.

Đó là cách một quốc gia buộc nước lớn phải tính đến mình trong mọi phương án./.


QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHUYỆN LÁI XE TRÊN DÂY VIỆT NAM ĐÃ THỰC HIỆN TỪ LÂU TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC!

     Câu chuyện đồng chí Nguyễn Trọng Quyến, người giáo viên Trường Sĩ quan Hậu cần [Học viện Hậu cần ngày nay] là người đầu tiên lái xe tải trên 2 sợi dây cáp vượt sông suối trên đường Trường Sơn là minh chứng cho những điều “thần kỳ” mà người Việt làm được trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Mới đây, cư dân mạng được phen trầm trồ trước việc diễn viên đóng thế người Anh, Jim Dowdall, người từng xuất hiện trong bom tấn James Bond, loạt phim Bourne và Indiana Jones đã thực hiện màn trình diễn lái chiếc xe thể thao Jaguar XF vượt qua sông Thames chỉ nhờ 2 chiếc dây cáp đường kính hơn 1 inch.

Thế nhưng, “đó chỉ là chuyện quá thường” nếu ai đó biết rằng, những người lính lái xe Trường Sơn đã làm được điều đó từ rất lâu rồi. Thần kỳ hơn, họ còn lái những chiếc xe tải qua 2 sợi dây cáp chứ không phải chỉ đơn giản là một chiếc xe con với nhiều thiết bị hỗ trợ như anh chàng diễn viên người Anh nói trên. 
Đồng chí Nguyễn Trọng Quyến, người giáo viên Trường Sĩ quan Hậu cần là người đầu tiên lái xe tải trên 2 sợi dây cáp vượt sông suối trên đường Trường Sơn từ năm 1965. 
(Đại tá Nguyễn Trọng Quyền sinh năm 1931 tại Yên Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Những năm cuối đời, ông tham gia Hội Tình nghĩa Học viện Hậu cần. Ông từ trần ngày 13/6/2022 tại QYV 108, thọ 92 tuổi)./.
QV-ST!

MỘT BÀI VIẾT HAY CẦN ĐƯỢC LAN TỎA!

     Bán nước và Việt gian là tội danh thiên cổ, không bao giờ có thể gột rửa được. Nhưng hiện nay đang có một số người cố tình “rửa mặt” cho Ánh, cho Duyệt, cho Giản, cho Ký... Họ đòi gọi quân ngụy là “quân đội Việt Nam Cộng hòa”, đòi gọi chế độ ngụy Sài Gòn là “Việt Nam Cộng hòa”, như một chính thể. Vậy có phải họ thiếu nhận thức, dốt lịch sử hay họ đã tự diễn biến, tự chuyển hóa để rắp tâm lật sử?

Dưới đây là bài viết của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị QĐNDVN. (Cảm ơn Thủ trưởng).
……

Gần đây có một số bạn bè yêu cầu tôi viết bài về nhân vật Lê Văn Duyệt, tôi hứa sẽ viết. Thực hiện lời hứa đấy tôi dành thời gian nghiên cứu, lục lại những bài viết cũ để hôm nay xin có vài dòng về Tả quân Lê Văn Duyệt. 

Duyệt sinh ở Tiền Giang năm 1764 và mất năm 1832, sống được 68 năm. Ông có “công” lớn là phò tá Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn và đã góp phần rất quan trọng để Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lập nên vương triều nhà Nguyễn. Ông nội Duyệt quê Quảng Ngãi, và có lẽ vì có chút gốc tích Quảng Ngãi nên cách đây vài năm, Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch Quảng Ngãi đã đưa vào danh sách và đề nghị đặt tên đường cho Lê Văn Duyệt, song bị dư luận phản ứng, nhất là các cựu chiến binh, các cán bộ lão thành cách mạng, nên chưa được đặt tên đường. 

Ngoài Quảng Ngãi thì có một số địa phương đã đặt tên đường cho nhân vật đầy tai tiếng này, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh. Và thành phố mang tên Bác không chỉ dừng ở việc đặt tên mà còn tổ chức giỗ Duyệt một cách hoành tráng, gây ra nhiều dư luận trái chiều, tạo nên sự phân hóa trong xã hội, sự phản ứng khá mạnh mẽ của dư luận khi nói về công, tội của vị Tả quân này. Từ sự việc trên tôi mạn phép có đôi lời bàn luận: 

Lê Văn Duyệt theo Nguyễn Ánh từ năm 1781, là võ tướng giúp Ánh chống nhà Tây Sơn. Nếu như Nguyễn Ánh được xem là kẻ “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ”, thì Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức… là những trợ thủ đắc lực cho người cầm đầu Nguyễn Ánh. Việc qua Xiêm cầu viện, việc móc nối Nguyễn Ánh với các nhà truyền giáo, việc Ánh ủy quyền cho Bá Đa Lộc sang Pháp ký Hiệp ước Véc Xây theo sử sách ghi lại đều có sự tham gia, ủng hộ… của Duyệt. 

Sau khi Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn năm 1802 thì Duyệt là trợ thủ hàng đầu thực hiện việc tàn sát các quan quân triều Tây Sơn một cách dã man nhất, đồng thời cũng là vị tướng được Gia Long cử đi chinh phạt các cuộc nổi dậy của nhân dân chống lại sưu cao, thuế nặng, lao dịch quá sức do chính sách của Gia Long ban hành sau khi nắm quyền (Gia Long đã xóa bỏ các chính sách tiến bộ của Quang Trung, đặt ra luật lệ mới, đẩy dân vào đói khổ, dưới thời Gia Long đã có 80 cuộc nổi dậy chống lại triều đình). 

Đặc biệt cuộc tàn sát man rợ của Duyệt chống lại cuộc nổi dậy của người Thượng ở miền Tây Quảng Ngãi có thể nói là cuộc tắm máu bà con dân tộc vùng này. Nhờ những công lao đó mà Duyệt đã được Gia Long ưu ái, miễn trừ vái lạy vua khi vào chầu trong triều (nhập triều bất bái). Có thể nói rất ít ai được hưởng ân sủng này.

Sau khi Gia Long qua đời, Lê Văn Duyệt ủng hộ con của Hoàng tử Cảnh lên ngôi, song không thành (Cần nhắc lại, Hoàng tử Cảnh là người được Nguyễn Ánh giao cho Pháp làm con tin để giúp Ánh chống lại nhà Tây Sơn). Hoàng tộc lúc đó đã tôn Mình Mạng lên kế nghiệp Gia Long, từ đó Duyệt đã bắt đầu thể hiện sự bất phục, và càng về sau càng tỏ rõ thái độ chống lại các chính sách của Minh Mạng, nhất là Duyệt ủng hộ phát triển đạo Thiên Chúa trong khi Minh Mạng lại ngăn không cho mở rộng truyền giáo, tiến hành khôi phục Nho giáo, lấy Nho giáo làm nền tảng. 

Duyệt chủ trương thân thiện với người Pháp, thì ngược lại Minh Mạng hạn chế quan hệ với nước ngoài. Đặc biệt Duyệt gần gũi với Người Chăm Pa, làm trái ý định của Minh Mạng trong việc đưa người trung thành với mình lên làm quốc vương thay cho vị vua từ trần Pô Klan Thu, song Duyệt đã đưa Po Phaok The (tức Nguyễn Văn Thừa) là người được Duyệt tin tưởng lên thay. Ông này sau khi làm vua Chăm Pa đã chấm dứt liên hệ với Triều đình Huế, mà chỉ triều cống cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt tại Gia Định thành, kể từ đó nước Chăm Pa hoàn toàn đặt dưới sự che chở của Lê Văn Duyệt, không còn phục tùng vua Minh Mạng, mở đầu cho ý định ly khai miền đất phương Nam khỏi nước ta. 

Nếu Duyệt thành công thì lại một lần nữa Nguyễn - Lê phân tranh, chia cắt đất nước, cũng may điều đó đã không xảy ra vì Duyệt đã già yếu và mất vào năm 1832. Mặc dù vậy, sau khi Duyệt mất, con nuôi của ông ta là Lê Văn Khôi năm 1835 đã nổi dậy chống lại triều đình và đã bị tiêu diệt. 

Chính vì vậy nên Lê Văn Duyệt đã bị Minh Mang đưa ra xử tội với bảy tội chém (trảm) và hai tội treo cổ (giảo), bắt phải cào mồ cuốc mả, xích sắt mộ Duyệt, mãi sau này khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đến thời Tự Đức đã xóa tội cho Duyệt. Pháp cũng đã xây mộ cho ông ta, và từ đó tên gọi Lăng Ông ra đời. Chúng ta hãy nghe người Pháp đánh giá về Duyệt: “Ông là vị tướng quả cảm, trên hết là người bạn trung thành của nước Pháp, một dân tộc mà ông quý mến, ngay từ khi chỉ có một nhóm nhỏ…” (Tuần báo Đông Dương của thực dân Pháp). 

Với đánh giá đó ta đã thấy ngay từ khi còn chống nhà Tây Sơn, Duyệt đã gắn bó với thực dân Pháp. Và việc làm trái ý vua, cùng Chăm Pa có ý định ly khai chống lại triều đình, cũng là nguyên cớ để vua Minh Mạng ra chỉ dụ đàn áp và tận diệt người Chăm Pa năm 1832, sau khi Duyệt mất, để trừ hậu họa.

Với những tội danh đó, với một kẻ đã cùng Nguyễn Ánh “rước voi dày mả tổ”, lại rất trung thành với nước Pháp, đàn áp dã man các cuộc nổi dậy của nhân dân, không hiểu vì sao có một số địa phương đã biến tội thành công, làm trái nghị định của Chính phủ về việc đặt tên đường? Có những địa phương còn làm lễ giỗ cho Lê Văn Duyệt (TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Đà Nẵng, Bình Thuận…).

Ngày nay một số sử gia đã biến Duyệt từ một kẻ tôi trung với Nguyễn Ánh, trung thành với nước Pháp, họ xóa hết mọi tội lỗi, chỉ tập trung ca ngợi những công lao của Duyệt (nhất là khi ông ta làm Tổng trấn Gia Định thành lần thứ hai), để từ đó biến Duyệt thành một người có công mà không có tội, họ quên mất trong mọi tội hình thì tội đồng lõa cùng kẻ bán nước, chia rẽ dân tộc, chia cắt đất nước là trọng tội không có thể tha thứ, dù anh ta có nhiều công đến đâu đi nữa. 

Mọi ngụy biện rằng Duyệt có công mà phủ nhận tội lỗi và tội ác của Duyệt đều không thể chấp nhận, hơn nữa việc đặt tên đường cho ông ta là trái quy chế (Theo nghị định chính phủ: Với những nhân vật còn có sự đánh giá khác nhau thì chưa được đặt tên đường, tên trường…). Về Lê Văn Duyệt đang có ý kiến trái chiều, mà những người có ý kiến bảo vệ Duyệt đều nằm trong số bảo vệ Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản. 

Biến hai kẻ này từ tội mãi quốc (bán nước), làm tay sai cho giặc thành người yêu nước là không thể chấp nhận được. Rõ ràng đây là biểu hiện lật sử, đổi trắng thay đen nhằm mục tiêu hướng đến sau Duyệt, Giản, Ký… sẽ là xóa bỏ mọi tội lỗi của Nguyễn Ánh (việc này họ đã và đang làm), và sau Ánh là Bảo Đại, và sau Bảo Đại là những kẻ bán nước làm tay sai cho thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. 

Khi tội ác của những kẻ này được xóa bỏ thì cũng là lúc họ phủ nhận tội ác xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Và khi Mỹ, Pháp không xâm lược Việt Nam thì tại sao lại đánh Pháp, đánh Mỹ? Lúc đó kẻ thù của chúng ta không cần đánh mà thắng, thành quả cách mạng do Đảng và Bác Hồ sẽ bị xóa bỏ, đất nước sẽ giống như I-Rắc, Li-Bi, Xi-Ri, Ucraina… điều mà cả dân tộc ta không cho phép xảy ra. 

Do vậy chúng tôi tha thiết yêu cầu các Cơ quan có trách nhiệm của Đảng, Nhà nước cần có kết luận đầy đủ về những con người này, khẳng định rõ tội lỗi, không thể để những kẻ rước giặc vào nhà thành người yêu nước, và càng không thể nhập nhằng nói rằng trước đây chính quyền tay sai bán nước Sài Gòn đã đặt tên thì nay nên khôi phục lại, một điều rõ ràng đánh đồng giữa chính và tà, giữa cách mạng và phản cách mạng. Ngụy SG đặt tên là vì họ chung một đồng, một cốt, cũng đều là tay sai bán nước nên ca ngợi bọn người làm tay sai bán nước là điều hiển nhiên. Chính vì vậy nên khi ta giải phóng miền Nam, chính quyền Cách mạng đã xóa các tên đường đó, không lý gì bây giờ lại khôi phục. 

Lịch sử cần phải được tôn trọng, sự thật cần phải được bảo vệ, âm mưu xét lại lịch sử, rửa tội cho kẻ bán nước cần phải bị vạch mặt, đấu tranh. Chỉ có như vậy ta mới giữ vững thành quả cách mạng, mới củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, mới giữ vững ổn định chính trị, giữ vững hòa bình để phát triển đất nước, đi tới ấm no, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, bốn biển./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGUY CƠ CHIẾN TRANH HẠT NHÂN - HẬU QUẢ CỦA VIỆC MỸ PHONG TỎA EO BIỂN HORMUZ ĐÃ ĐƯỢC HÉ LỘ!

     Chuyên gia quân sự Yuri Knutov nói rằng việc Mỹ phong tỏa eo biển Hormuz có thể dẫn đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân và gây ra hậu quả thảm khốc cho toàn thế giới.

Xin nhắc lại, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố phong tỏa tất cả các tàu thuyền trong eo biển Hormuz. Ông lưu ý rằng quân đội Mỹ cũng sẽ bắt đầu xác định và bắt giữ bất kỳ tàu thuyền nào trong vùng biển quốc tế đã trả phí cho Iran để đi qua eo biển này.

Như đã nêu, lệnh phong tỏa sẽ bắt đầu trong thời gian tới và một số quốc gia khác sẽ tham gia.

Bình luận về tuyên bố này, Knutov lưu ý rằng Hoa Kỳ có đủ sức mạnh để phong tỏa hoàn toàn eo biển, nhưng bước đi này có thể dẫn đến leo thang nghiêm trọng xung đột.

"Việc phong tỏa nhằm vào cả Iran và các quốc gia khác. Ví dụ, đối với Trung Quốc, mặc dù trữ lượng dầu mỏ của họ sẽ đủ dùng trong hơn 280 ngày, nhưng Ấn Độ và một số quốc gia khác có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đó là điểm đầu tiên.

Thứ hai, phản ứng của Iran có thể khá gay gắt. Để đáp trả, Iran có thể tìm cách tấn công các tàu của Mỹ, kể cả bằng tên lửa chống hạm điều khiển bằng máy bay không người lái. Hơn nữa, tình hình này có thể dẫn đến leo thang nghiêm trọng. Iran có thể tấn công các căn cứ còn lại của Mỹ trong khu vực, khoảng 12-13 căn cứ. Hơn nữa, hầu hết đã bị phá hủy hoặc bị hư hại nặng. Để đáp trả, người Mỹ có thể tấn công đảo Kharg và những nơi tương tự," chuyên gia giải thích.

Theo Knutov, sự leo thang có thể đạt đến mức mà Mỹ sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật.

"Mỹ sẽ cố gắng ném bom một cơ sở làm giàu uranium, Iran có thể trả đũa bằng cách tấn công lò phản ứng hạt nhân của Israel ở Dimona, Israel có thể tấn công nhà máy điện hạt nhân của Iran ở Bushehr, và chúng ta sẽ phải đối mặt với hàng loạt thảm họa hạt nhân."

"Giờ đây, vấn đề kiềm chế của Mỹ sẽ đóng vai trò then chốt," chuyên gia quân sự nói thêm.

Trước đó có thông tin cho rằng các tàu của Mỹ khi tiến vào eo biển Hormuz đã phải quay trở lại do bị phát hiện bởi một máy bay không người lái của Iran./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: LÃNH ĐẠO QUỐC DÂN ĐẢNG (ĐÀI LOAN) TRỊNH LỆ VĂN (ĐANG Ở THĂM TRUNG QUỐC), NÓI VỀ CÂU HỎI LIỆU ĐÀI LOAN CÓ TRỞ THÀNH UKRAINE THỨ 2?

     “Người Mỹ không hề đến chiến đấu cho Ukraina, và NATO cũng chẳng giúp Ukraina đánh trận. Họ chỉ liên tục đưa vũ khí cho Ukraina, mặc cho các bạn đánh nhau suốt một năm, hai năm, ba năm hay bốn năm. Người chết là người Ukraina, và đất nước Ukraina bị hủy diệt.

Hãy nhìn vào toàn bộ Ukraina, nơi đó đầy rẫy vết sẹo, gần như bị san phẳng. Cả một thế hệ thanh niên đã biến mất trên chiến trường. Vậy mà vẫn còn đang đánh nhau.

Sau cuộc chiến này, các bạn đã thắng được Nga chưa? Putin đã từ chức chưa? Nga đã sụp đổ chưa?

Mỹ đã dẫn dắt thế giới áp đặt những lệnh trừng phạt kinh tế khốn đốn nhất, khủng khiếp nhất trong lịch sử. Vậy nền kinh tế Nga có sụp đổ không? Đã gần bốn năm trôi qua rồi.

Liệu Đài Loan có trở thành Ukraina thứ hai? Đài Loan có nhiều đất đai hơn Ukraina không? Có đông dân hơn không? Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc có nhỏ hơn Nga không? Sức mạnh quân sự của Trung Quốc có yếu hơn Nga không? Chính quyền ở đại lục có mong manh hay bất ổn hơn chính quyền của Putin không?

Sau khi tôi đặt ra những câu hỏi này, các bạn sẽ hiểu ra thôi. Liệu Đài Loan có muốn trở thành một Ukraina tiếp theo hay không?”./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: 🇹🇼 🇨🇳 LÃNH ĐẠO ĐỐI LẬP ĐÀI LOAN TRỊNH LÝ VĂN, SAU CUỘC GẶP VỚI CHỦ TỊCH TẬP CẬN BÌNH TẠI BẮC KINH, ĐÃ TUYÊN BỐ

- Đài Loan đang đối mặt với một lựa chọn quyết định giữa hòa bình và xung đột.  
- Tôi kêu gọi tất cả các đảng phái chính trị ở Đài Loan đoàn kết và ưu tiên hòa bình.

- Trong một cuộc họp báo, bà Trình thúc giục các đảng phái chính trị tránh lợi dụng quan hệ hai bờ eo biển cho cạnh tranh bầu cử, nhấn mạnh rằng vấn đề này đại diện cho một lựa chọn then chốt giữa hòa bình và xung đột.

- Chúng ta không thể để Đài Loan và Eo biển Đài Loan trở thành chiến trường… Chúng ta là lực lượng tiên phong, con đường đã bắt đầu.’  

- Bà còn bổ sung rằng Chủ tịch Tập tôn trọng hệ thống và lối sống của Đài Loan, nhấn mạnh rằng “chúng ta là một gia đình"./.
QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CHUYỆN XƯA - NÓI NAY!

     Ngày nhà thơ Phùng Quán vì viết bài thơ CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ mà bị đuổi khỏi cơ quan văn nghệ ở phố Lý Nam Đế ra sống lay lắt ngoài đường... tính đến nay cũng đã gần 70 năm.

Cái tệ nạn mà nhà thơ lên án gay gắt ngày đó, giờ vẫn còn chình ình, thậm chỉ còn phình to đến mức khủng khiếp với 2 bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức cơ sở 2 ở Hà Nam. "Theo tính toán sơ bộ của cơ quan thanh tra, hai dự án bệnh viện bỏ không "cỏ mọc um tùm 10 năm" dẫn đến lãng phí, thiệt hại ngân sách trên 1.253 tỷ đồng". Và tất nhiên, vụ việc này chỉ là một ví dụ... 

Xin đăng lại nguyên văn bài thơ của Phùng Quán đã in báo Nhân Văn, 1957.

CHỐNG THAM Ô LÃNG PHÍ

Tôi đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu ròng ròng
Bởi đồn giặc, trồng ngô trỉa lúa...

Tôi đã đi qua
Những xóm làng vùng Kiến An, Hồng Quảng
Nước biển dâng cao ướp muối các cánh đồng
Hai mùa rồi, lúa không có một bông
Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ;

Tôi đã gặp
Những em thơ còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu
Cơm thòm thèm độn cám và rau
Mới tháng ba đã ngóng mau ra Tết!
Để được ăn no có thịt

Một ngày...một ngày...
Tôi đã đi giữa Hà Nội
Những đêm mưa lất phất
Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm
Chị em công nhân đổ thùng
Run lẩy bẩy chui hầm xí tối
Vác những thùng phân...
Thuê một vạn một thùng
Mấy ai dám vác ?
Các chị suốt đêm quần quật
Sáng ngày vừa đủ nuôi con...

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
Của nhân dân lao động
Đang buộc bụng, thắt lưng để sống
Để dựng xây, kiến thiết nước nhà
Để yêu thương, nuôi nấng chúng ta
Vì lẽ đó
Tôi quyết tâm từ bỏ
Những vườn thơ đầy bướm đầy hoa
Những vần thơ trang kim vàng mã
dán lên quân trang đẫm mồ hôi và máu tươi Cách Mạng!

Như công nhân
Tôi quyết đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Vào lũ người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả!

Các đồng chí ơi
Tôi không nói quá
Về Nam Đinh mà xem
"Đài xem lễ" họ cao hứng dựng lên
Nửa chừng bỏ dở
Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
Những con chó sói quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng!
Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng
Nhớ "Đài xem lễ" tôi xót bao nhiêu

Đất nước đêm nay không đếm hết người nghèo
Thiếu cơm thiếu áo...
Bọn tham ô, lãng phí, quan liêu
Đảng đã phê bình trên báo

Còn bao tên chưa ai biết ai hay?
Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy...
Chúng nảy nòi, sinh sôi như dòi bọ!
Khắp đất nước đâu đâu chẳng có!
Đến một ngày Đảng muốn phê bình tất cả
E phải nghìn số báo Nhân dân!

Tôi đã dự những phiên toà xử tội
Những con chuột mặc áo quần bộ đội
Đục cơm khoét áo chúng ta
Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ
Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói

Những mẹ già, em trai, em gái...
Còng lưng rỏ mát lấn vành đai!

Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết.
Đảng cần phải lập những đội quân trừ diệt
Có tôi!
Đi trong hàng ngũ tiên phong./.
Phùng Quán
QV-ST!

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2026

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: DÙ ĐÃ LỘ, TÔI VẪN XIN TÌNH NGUYỆN Ở LẠI TIẾP TỤC HOẠT ĐỘNG, TÔI VỀ CĂN CỨ SỚM 1 NGÀY, ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT TRỄ 1 NGÀY!

     Những ngày cuối năm 1964, đầu năm 1965. Khi tình hình miền nam đang có những dấu hiệu bất lợi cho ta. Mạng lưới tình báo và nhiều điệp viên của chúng ta (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) bị triệt phá. Lãnh đạo ở cấp cao nhất của ta đã có những chỉ thị đặc biệt để rút Đại tá Albert Phạm Ngọc Thảo tập kết ra bắc. Vừa để bảo vệ an toàn cho anh, vừa để có cán bộ nòng cốt nhằm đào tạo và phát triển mạng lưới điệp báo sau này.

Nhưng đại tá Albert Phạm Ngọc Thảo, đã từ chối đề nghị tập kết, và xin tiếp tục ở lại hoạt động giữa lòng địch.

Thưa anh ba, tình hình miền nam rất căng thẳng. Xin anh ba và tổ chức cho phép tiếp tục ở lại để đấu tranh, Tôi về cứ 1 ngày, tôi an toàn thêm 1 ngày. Nhưng đất nước chậm thêm 1 ngày để thống nhất. Tôi xin chấp nhận hy sinh, chỉ mong tận lực cho sự nghiệp thống nhất đất nước ta.

Và đại tá Thảo đã bất chấp hiểm nguy, ở lại giữa lòng địch để đấu tranh, góp phần không nhỏ cho ngày mà cả dân tộc mơ ước. Ngày non sông liền 1 dải.

Giữa một rừng gươm giáo hiểm ác, anh hiên ngang chơi với những kẻ xâm lược và tay sai. Một Ván Bài Định Mệnh của cuộc đời, một Ván Bài Lật Ngửa, mà trong đó anh là người hy sinh, nhưng dân tộc Việt Nam là bên chiến thắng. /.
QV-ST!

BÀI HỌC NHỚ ĐỜI CHO NHỮNG KẺ ĐANG ĐƯỢC HƯỞNG HÒA BÌNH, HẠNH PHÚC MÀ CÒN CÓ TƯ TƯỞNG PHẢN BỘI, ĂN CHÁO ĐÁ BÁT NHƯ LÂM NGÂN MAI!

     Ngân Mai sinh năm 1984, từng trú tại Phường 12, Quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh, trưởng thành từ nhạc viện TP. Hồ Chí Minh và khá nổi tiếng là một ca sĩ có sự thu hút sự quan tâm của giới trẻ những năm 2010 - 2016. Thu nhập của Mai trước lúc sang Tây thuộc hàng khấm khá trong giới ca sĩ cùng thời, nếu tu chí cống hiến nghệ thuật chân chính, cô ta có thể giàu có ngang Mỹ Tâm hoặc nhiều ca sĩ khác ở Việt Nam...

Thế nhưng Mai lại bước ngã rẽ khác theo gót baque, thường xuyên tuyên truyền, phát ngôn, viết bài trên mạng xã hội nói xấu, đã kích chế độ. Chính vì vậy, Mai được một nhóm người bất mãn, chống đối trong nước và hải ngoại ủng hộ, tung hô dụ dỗ, cài dẵm cho Mai tự ứng cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Tuy nhiên, mọi ý đồ của Mai và đám phản động đều bị bà con tổ dân phố nơi Mai sinh sống biết rõ và cho Y thất cử ngay từ khi đặt chân xuống nhà gửi xe Tổ dân phố.

Trượt vỏ chuối, Lâm Ngân Mai quay lại chê Việt Nam thiếu dân chủ, nhân quyền, đòi đất nước đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như Ucraina, chê bai, xúc phạm lãnh tụ, lãnh đạo Đảng Cộng sản, tung hô lá cờ baque và rồi kết duyên với một người Mỹ lấy nhau sang Mỹ định cư, sống với ảo tưởng của baque

Thế rồi cái gì đến nó đến, gần đây Mai bị chồng Mỹ bạo hành, bị thua kiện trước tòa và bị tước quyền nuôi con, bị chính quyền Mỹ cắt trợ cấp, hiện đang livestream xin ủng hộ Donate từ cộng đồng người Việt trong và ngoài nước.

Đúng là luật nhân quả không chừa ai bao giờ nếu như bất kỳ ai sống trái đạo luật ấy.
Giờ đây Mai đang trông về quê mẹ mà đau đớn lòng. Những kẻ đang chê Tổ quốc, đâm đồng bào hãy nhìn đó mà làm gương, từ Nguyễn Ngọc Ngạn đến Hải Điếu cày, Cù Huy Hà Vũ, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay cả vợ chồng con Nghiệp - Con Mai hay Ngân Mai - những kẻ ăn cháo đá bát với xương máu cha ông, không có kẻ nào có cái kết tốt đẹp cả!



QV-ST!

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: TỨ ĐẠI CHAEBOL ĐẾN VIỆT NAM - TÍN HIỆU THỊ TRƯỜNG KHÔNG THỂ BỎ QUA!

     Trong tài chính, đừng nghe doanh nghiệp nói hãy nhìn nơi họ đặt tiền. Khi lãnh đạo Samsung, LG, SK, Hyundai cùng hơn 200 doanh nghiệp Hàn Quốc đồng loạt đến Việt Nam, đó là một tín hiệu đáng chú ý.

Các chaebol không đầu tư vì cảm tính. Mỗi quyết định đều dựa trên ROI, rủi ro địa chính trị và triển vọng dài hạn. Việc bốn tập đoàn lớn nhất Hàn Quốc cùng chọn Việt Nam giữa bối cảnh toàn cầu bất ổn cho thấy thị trường đang định giá lại Việt Nam theo hướng tích cực.

Có ba luận điểm chính.

Thứ nhất, Việt Nam hưởng lợi có cấu trúc từ xu hướng “China Plus One”. Việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu không còn là ngắn hạn. Với lợi thế lao động, chi phí và vị trí địa lý, Việt Nam nằm trong nhóm hiếm quốc gia đủ khả năng hấp thụ dòng dịch chuyển này. Sự hiện diện sâu của Samsung, LG là minh chứng rõ ràng.

Thứ hai, chất lượng vốn đang thay đổi. Dự án LNG 2,3 tỷ USD của SK cho thấy dòng vốn không chỉ vào lắp ráp, mà chuyển sang hạ tầng năng lượng và công nghệ. Điều này phản ánh tầm nhìn dài hạn hơn đối với Việt Nam.

Thứ ba, hiệu ứng lan tỏa. Khi các tên tuổi lớn cùng vào cuộc, dòng vốn từ các nhà đầu tư cấp trung sẽ theo sau. Nếu các cam kết được cụ thể hóa, chuyến thăm này có thể trở thành bộ khuếch đại tín hiệu cho thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, điều thị trường theo dõi không nằm ở quy mô vốn mà ở chất lượng hấp thụ: tỷ lệ nội địa hóa có tăng không, doanh nghiệp Việt có tham gia sâu hơn không, và hạ tầng năng lượng có phục vụ bền vững nhu cầu nội địa hay không.

Nhìn từ góc độ tài chính, đây là một sự kiện có trọng lượng. Không phải vì nghi lễ, mà vì nó phản ánh đánh giá thực của dòng vốn lớn. Thị trường đang “vote bằng chân” và lần này, họ đang bước vào Việt Nam./.
QV-ST!

HÌNH ẢNH MINH CHỨNG CHO THẤY CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỚI VIỆT NAM LUÔN TUYÊN TRUYỀN SAI TRÁI, VU KHỐNG VÀ KÍCH ĐỘNG!

     Trong buổi lễ kí kết Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh hôm nay, tôi thấy một hình ảnh đặc biệt là có sự có mặt của cả Thủ tướng Lê Minh Hưng và Nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính. Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện rất nhiều những thông tin chia rẽ, hạ thấp người này, tâng bốc người kia, ca ngợi người này đào tạo bài bản, người kia chỉ biết làm màu. Đó là nhận định sai lầm, kích động!

Sự thực là các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn có tính kế thừa, tiếp nối và phát huy. Hồi còn đương chức, Thủ tướng Phạm Minh Chính rất tâm huyết với những dự án, công trình trọng điểm, làm thay đổi bộ mặt hạ tầng, kinh tế của mỗi địa phương. Làm gì thì làm, hạ tầng luôn phải đi đầu tiên. Hồi còn làm Bí thư Quảng Ninh, Nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính đã thành công chuyển dịch từ một tỉnh công nghiệp nặng, khai thác chuyển dịch sang công nghiệp không khói như du lịch, đẩy mạnh hàng loạt công trình hạ tầng… 

Dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh là một dự án lịch sử của Việt Nam, đây là dự án đường sắt cao tốc đầu tiên của Việt Nam, do một doanh nghiệp tư nhân đầu tư và dự kiến chỉ trong vòng hơn 2 năm thi công. Với doanh nghiệp nào thì có thể nghi ngờ về tiến độ, chất lượng, chứ riêng về làm dự án, thì Vingroup luôn luôn chỉ có nhanh hơn và tốt hơn, chứ bao giờ thấy chậm trễ. Sắp tới đây, người dân sẽ hưởng lợi lớn nhất, đi về quê, đi du lịch nhanh hơn, an toàn hơn, kinh tế phát triển mạnh mẽ!!!

Đây là một dự án đặc biệt trọng điểm, được hai đời Thủ tướng ủng hộ, cho thấy sự kế thừa, tiếp nối, chủ trương thông suốt, nhất quán.   

Nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính, người đặt nền móng của quá khứ. Thủ tướng Lê Minh Hưng, người kiến thiết của hiện tại và tương lai./.
QV-ST!

ĐIỀU CHÚNG MONG NHẤT LÀ VIỆT NAM BẤT ỔN VÀ NỘI LOẠN...

     Tôi thực sự chẳng hiểu tư duy của đám phản động, chống phá là như thế nào. Ngay sau khi đắc cử Tổng bí thư khóa mới, Tổng bí thư Tô Lâm đi Hoa Kỳ, tham gia Hội nghị hòa bình, hội kiến với Tổng thống Trump. Lúc đó, bọn nó không dám mở nói câu là đi bái kiến, đi triều cống Hoa Kỳ.

Thậm chí còn, bọn nó còn kích động quan hệ Việt - Mỹ, muốn bắt giữ Tổng bí thư Tô Lâm. 

Rồi đến khi Tổng bí thư Tô Lâm được bầu làm Chủ tịch nước, có chuyến đi thăm chính thức Trung Quốc, thì lên bài khắp nơi, miệt thị là đi triều cống Trung Quốc, đi xin sắc phong An Nam Quốc Vương, đi bán nước cho ông Tập Cận Bình... 

Khi nhắc đến Hoa Kỳ, thì chúng nó luôn bảo Hoa Kỳ là đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam, phải tôn trọng, gác lại quá khứ. Nhưng Trung Quốc cũng là đối tác chiến lược toàn diện, còn có quan hệ sâu sắc về mặt Đảng, thì chúng nó liên tục chửi bới, đòi phải đánh Trung Quốc. 

Tư duy của đám chúng nó là muốn kích động quan hệ Việt Nam với các nước, hạ bệ lãnh đạo Việt Nam. Cũng may là lũ này vốn yếu kém toàn diện, không vô gia cư thì cũng ăn trợ cấp, học vấn và tư duy thấp./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIA ĐÌNH CÓ BA CHÀNG RỂ LÀ TƯỚNG LĨNH LỪNG DANH!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIA ĐÌNH CÓ BA CHÀNG RỂ LÀ TƯỚNG LĨNH LỪNG DANH!

     Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, hiếm có gia đình nào đặc biệt như gia đình Giáo sư Đặng Thai Mai, một danh gia vọng tộc vừa là biểu tượng của trí tuệ, vừa là cái nôi của những mối lương duyên lịch sử. Trong số sáu người con của ông (năm gái, một trai), ba ái nữ là Đặng Bích Hà, Đặng Thị Hạnh và Đặng Anh Đào đã nên duyên với ba vị tướng lừng danh của Quân đội Nhân dân Việt Nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Phạm Hồng Cư và Trung tướng Phạm Hồng Sơn.

Đặng Bích Hà, người con gái cả, kết hôn với Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1946. Bà là hậu phương vững chắc, người bạn đời tri kỷ đã đồng hành cùng ông trong suốt chiều dài kháng chiến và xây dựng đất nước.

Đặng Thị Hạnh, với tâm hồn mộng mơ, kết hôn với Trung tướng Phạm Hồng Cư - Nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, một người lính tài hoa từng là nguyên mẫu cho nhân vật người anh trong bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan “Nàng có ba người anh đi bộ đội”.

Đặng Anh Đào, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Văn học phương Tây, là vợ của Trung tướng Phạm Hồng Sơn - nguyên Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao, người đã “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” và cùng vợ mình viết nên cuốn hồi ký đầy cảm động "Nhớ và quên".

Ba mối lương duyên như được sắp đặt bởi định mệnh, khi ba người con gái tài sắc, nết hạnh nên duyên cùng ba vị tướng kiệt xuất.

Qua đó, gia đình Giáo sư Đặng Thai Mai không chỉ là biểu tượng của trí thức, đạo đức mà còn là minh chứng sống động cho sự hòa quyện giữa văn và võ, giữa tinh thần dân tộc và phẩm hạnh cá nhân, giữa những con người làm nên lịch sử và những người phụ nữ âm thầm bồi đắp nên nó./.
Trong ảnh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ ba, từ phải sang) và Trung tướng Phạm Hồng Cư (thứ hai, từ phải sang)./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐI THI ĐỂ CHE MẮT ĐỊCH, AI NGỜ NỮ ĐIỆP BÁO THÀNH HOA HẬU ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐI THI ĐỂ CHE MẮT ĐỊCH, AI NGỜ NỮ ĐIỆP BÁO THÀNH HOA HẬU ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM!

     Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), khi tiếp quản Tòa đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Paris, Đại sứ Phạm Văn Ba phát hiện trong hồ sơ ghi rõ hoa hậu, diễn viên Thu Trang - bí danh “Công Thị Nghĩa” là cơ sở hoạt động bí mật của cách mạng.

Trong hồi ký, Thu Trang kể lại quá trình tham gia phong trào học sinh - sinh viên yêu nước từ những năm 1950-1951, khi bà rời Hà Nội vào Sài Gòn. Bà thuộc tổ công tác của Ban Tình báo Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, gồm bốn người do đồng chí Trần Thanh Vân (Năm Tú) phụ trách. Thu Trang, bí danh Tư Nghĩa, nhiều lần bí mật lên Bến Cát, Tân Uyên dự lớp huấn luyện nội thành.

Năm 1952, bà bị Phòng Nhì Pháp bắt, giam tại khám Gia Định rồi khám lớn Sài Gòn. Trong các cuộc thẩm vấn ở bót Catinat, Thu Trang kiên quyết giữ kín thông tin tổ chức, chỉ nhận mình làm liên lạc viên nhằm đánh lạc hướng điều tra. Sự bình tĩnh và ứng biến trước áp lực đã giúp bà che giấu được vai trò thật sự.

Đến năm 1955, Thu Trang quyết định tham gia cuộc thi Hoa hậu như một vỏ bọc hoạt động. Đây là lần đầu tiên Sài Gòn tổ chức thi hoa hậu, diễn ra tại rạp Lido ở khu vực Chợ Lớn, thu hút khoảng 30 thí sinh. Kết quả, Thu Trang, khi ấy là ký giả của làng báo miền Nam đoạt danh hiệu hoa hậu; Á hậu 1 là sinh viên Nguyễn Thị Ninh, người Bắc di cư; Á hậu 2 là cô Ngô Yên Thi, người miền Nam. 

Thu Trang sinh năm 1932, quê Hà Nội, vào Sài Gòn từ năm 1950; lúc dự thi, bà 23 tuổi. Cuộc thi thời đó không có phần trình diễn áo tắm và với nhiều học sinh trung học đây là sự kiện gây tò mò và hấp dẫn vì lần đầu được chiêm ngưỡng một sân chơi văn hóa mới lạ. Sự tự tin, nét đẹp nhu hòa và phong thái nổi bật của Thu Trang được nhiều người đương thời đánh giá là hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu hoa hậu.

Vỏ bọc này giúp Thu Trang thuận lợi thâm nhập các môi trường văn hóa - xã hội phức tạp của Sài Gòn. Không lâu sau, bà còn tham gia cơ quan văn hóa Mỹ, làm diễn viên trong phim, qua đó mở rộng thêm vị thế và cơ hội tiếp cận các nhân vật cần thiết cho nhiệm vụ. Trong giai đoạn hoạt động, Thu Trang kết thân với một số người có ảnh hưởng trong giới chính trị - văn hóa để hoàn thành các yêu cầu được giao bởi tổ chức, do đồng chí Lý Hải Châu lãnh đạo.

Khi hoạt động có dấu hiệu bị lộ vì người tài xế liên lạc bị bắt, Thu Trang buộc phải rời Sài Gòn sang Pháp để bảo toàn lực lượng. Mang danh nghĩa du học sinh, bà tiếp tục làm nhiệm vụ trong điều kiện mới.

Sau năm 1975, Thu Trang ổn định cuộc sống tại Pháp, hoàn tất việc học, xây dựng gia đình và tích cực tham gia phong trào cộng đồng. Bà từng làm Tổng thư ký Hội Khoa học xã hội ba khóa liên tiếp và hiện là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp./.
QV-ST!

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

TẠI SAO LIÊN XÔ ĐỔ: HAI NGÀY NHỤC NHÃ CỦA GORBACHEV LÀ BÀI HỌC KHÔNG CHỈ DÀNH CHO MỖI ÔNG TA!

     Một bức ảnh hiếm hoi, chắc rất ít người được biết. Ảnh được chụp vào ngày 21/6/1994. Trong ảnh, M.Gorbachev, cựu Tổng thống Liên Xô bị triệu tập đến Tòa án Tối cao, với tư cách là nhân chứng. Tại đây, ông ta đã trải qua 2 ngày trả lời các câu hỏi của Tòa án và của nhân chứng. Đấy có lẽ lần duy nhất trong đời mình, Gorbachev phải đứng trước Tòa, bị các tướng lĩnh cao cấp Liên Xô chỉ tay vạch mặt là kẻ phản bội Tổ quốc. Đó là tại phiên thẩm vấn trong quá trình xét xử Đại tướng Valentin Ivanovich Varennikov Anh hùng Liên Xô, nguyên Thứ trưởng Bộ quốc phòng Liên Xô!

Đại tướng Valentin Varenikov bị bắt tháng 8/1991 sau vụ chính biến, dù không chính thức là thành viên của Ủỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp, nhưng vào ngày 18/8, ông đã cùng với Baklanov, Shenin và Boldin, đến gặp Gorbachev ở Foros để thuyết phục ông ta ban bố tình trạng khẩn cấp toàn quốc. Ông bị buộc tội phản quốc và bị giam giữ tại Moskva.

Tháng 2/1994, Varenikov là bị cáo duy nhất trong vụ án Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước từ chối ân xá, yêu cầu phải mở một Phiên tòa để xét xử ông. Ông cũng yêu cầu Tòa phải gọi Gorbachev đến với tư cách là nhân chứng.

Valentin Varenikov(15/12/1923 - 05/06/2009) là Anh hùng Liên Xô, cựu chiến binh cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và Afghanistan, tham gia vào các cuộc chiến ở Angola, Syria, Ethiopia, trưởng ban khắc phục hậu quả của vụ Chernobyl. Năm1991, Tổng tư lệnh Lực lượng Mặt đất, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Quân công, hai Huân chương Lenin, bốn Huân chương Cờ Đỏ và nhiều huân huy chương khác.

….Trở lại phiên thẩm vấn. Theo hồi ký của đại tướng Varenikov, Gorbachev đến Tòa phải đi qua một đám đông giận dữ, giương biểu ngữ “Gorbachev- tên Giuda”, “Gorbachev-tên phản bội”, “Gorbachev phải bị xét xử”. Dù cảnh sát đông nghịt, có hành lang bảo vệ, người ta vẫn kịp ném cà chua, trứng thối, đồ hộp…vào Gorbachev và các tùy tùng.

Gorbachev có 2 ngày ở Tòa với tư cách nhân chứng. Ngày đầu tiên, ông ta bị công tố viên A. Danilov và thẩm phán nhân dân, tướng V. Podustov thẩm vấn. Mới bắt đầu, Gorbachev đã nói: Thưa Quý Tòa! Tôi đã suy nghĩ rất lâu không biết có nên đến phiên tòa này hay không?

Thế cuối cùng là đến hay không đến? Chủ tọa ngắt lời và nhìn Gorbachev.

Gorbachev bối rối chuyển chân liên tục, thực sự là ông ta không thể giải thích bất cứ điều gì. Sau đó, Chủ tọa Thiếu tướng Tư pháp V.A. Yaskin nói: Nếu ông không xuất hiện trước tòa, người ta sẽ buộc ông phải đến. Ông là một nhân chứng.

Tiếp theo, với những câu hỏi của công tố viên A. Danilov và thẩm phán nhân dân, tướng V. Podustov ,đặc biệt là về sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết, họ đã dồn Gorbachev vào chân tường theo đúng nghĩa đen. Bị “nóng gáy”, Gorbachev phải hét lên: “Tôi hiểu mình đang ở đâu!”, “Tôi hiểu đây là loại tòa án nào!” v.v … Nhưng Chủ tọa đã nhắc nhở ông ta, cảnh báo rằng cuộc điều tra tư pháp được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật và không có vi phạm nào cả.

Ngày thứ hai, là ngày mà bị cáo, đại tướng Varenikov được phép hỏi, Gorbachev chỉ trả lời. Varenikov chọn cách xưng hô duy nhất, chỉ gọi Gorbachev là “nhân chứng”.

Sau khi truy vấn Gorbachev, với tư cách tổng thống Liên Xô, ông ta có nghĩa vụ phải tuân thủ các các sắc lệnh và các quyết định khác của Xô Viết Tối cao của Liên Xô hay không và nhận được câu trả lời miễn cưỡng là có, Varenikov tiếp tục: Vậy thì hãy nói cho tôi biết, nhân chứng, tại sao ông lại không tuân thủ Nghị quyết của Xô Viết tối cao Liên Xô ngày 23 tháng 11 năm 1990? Nó có tên gọi là “Về tình hình trong nước.” Phần nội dung của nghị quyết này nói rằng một tình huống khẩn cấp đã nảy sinh ở nước ta. Và trong đó một khuyến nghị đã được đưa ra: Tổng thống Liên Xô thực hiện đầy đủ, tức là, các biện pháp khẩn cấp để lập lại trật tự. Tại sao ông không làm điều đó?

Gorbachev lúng túng trả lời vòng vo không đúng câu hỏi. “Bị cáo” lại hỏi tiếp: Chúng tôi đến chỗ ông ở Crimea vào tháng 8/1991 (thời gian chính biến-ND). Đó là thời điểm 9 tháng sau Nghị quyết đó. Và chúng tôi đã đưa ra các đề xuất tương tự, như trong nghị quyết, đó là đưa ra tình trạng khẩn cấp khi tình hình yêu cầu. Và nếu các biện pháp được thực hiện vào cuối năm 1990, như đã được ghi trong Nghị quyết của Xô viết Tối cao, thì có lẽ, sẽ không có sự kiện nào xảy ra vào tháng 8 năm 1991. Tại sao ông lại không tuân thủ Nghị quyết?

Gorbachev lại tiếp tục vòng vo, tướng Varenikov nói với Tòa là nhân chứng Gorbachev tiếp tục cố tình kéo dài thời gian….Sau khi tiếp tục truy vấn Gorbachev thêm một số câu nữa, “bị cáo” Varenikov nói: Nhân chứng, bây giờ tôi sẽ đặt cho ông một câu hỏi, mà có thể không được thoải mái cho lắm. Nhưng tôi cần phải đặt ra câu hỏi đó.

Gorbachev khi đó đã ngồi trên ghế. Varenikov nhìn thẳng vào mắt Gorbachev hỏi: Hãy nói, nhân chứng, tại sao ông trong hoạt động của mình lại trở thành một kẻ phản bội Đảng và phản bội nhân dân của mình?

Tất nhiên, chưa ai từng nói điều đó với Gorbachev. Ông ta ngay lập tức bật dậy và bắt đầu hét lên: “Đây là sự tùy tiện, điều này là không thể chấp nhận được! Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy? Tại sao các ông không chấn chỉnh ông ấy? ” Trong cùng một mạch, Gorbachev tiếp tục “nói” trong vài phút nữa. Chủ tọa cũng đứng dậy, nói rằng mọi thứ đang diễn ra trong khuôn khổ của thủ tục tư pháp … Đại tướng Varenikov nhìn thấy cảnh đó và nghĩ : “Điều này lẽ ra phải được nói với Gorbachev sớm hơn, ít nhất là vào năm 1987-1988. Có lẽ khi đó sẽ không xảy ra thảm kịch như vậy”.

Cuộc đọ sức đã kết thúc. Gorabachev tuyên bố: Tôi sẽ kiện ông ta!

Đây là quyền của ông… Ông có thể khởi kiện tại nơi cư trú, Chủ tọa V. Yaskin trả lời.

Varenikov nghĩ: “Sẽ tốt nếu ông ấy kiện. Tôi có hàng triệu nhân chứng”.

Những chi tiết về cuộc “đọ sức” này tại Phiên thẩm vấn xét xử đại tướng Varenikov mình dịch từ hồi ký của chính ông “Về Uỷ ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp”.

Varenikov viết tiếp: “Có lẽ, trong cả cuộc đời của mình, Gorbachev chưa bao giờ trải qua sự sỉ nhục công khai như tại phiên tòa này. Đã từng có một sự sỉ nhục tại một cuộc họp của Xô Viết Tối cao CHXHCN Xô viết Liên bang Nga, khi Gorbachev đứng trên bục, và Yeltsin tiến lại gần và chỉ tay vào mặt Gorbachev, đưa ra tờ giấy và yêu cầu”Hãy đọc đi”. Và ông ta đã phải đọc. Nhưng đó chỉ là một thời điểm. Nhưng đây là hai ngày thẩm vấn ông ta với tư cách là nhân chứng. Hai ngày nhục nhã”.


Cũng tại Phiên tòa này, Nguyên soái Pháo binh Vladimir Mikhailovich Mikhalkin khi được gọi lên với tư cách nhân chứng, ông đã tuyên bố: “Tội ác của Gorbachev là ông ta đã phá hủy hệ thống tên lửa Oka, hệ thống không có tương tự trên thế giới. Một người đàn ông ăn cắp một túi khoai tây, anh ta sẽ bị bỏ tù. Và khi làm thiệt hại hàng tỷ đô la cho đất nước và thiệt hại cho quốc phòng thì ông ta lại không phải chịu trách nhiệm gì”

Sau nhiều ngày xét xử, một sự kiện hy hữu nhất trong thực tiễn tư pháp Liên Xô và Nga đã xảy ra - công tố viên yêu cầu tòa án tuyên bố bị cáo trắng án. Ngày 11/8/1994, Hội đồng quân sự của Tòa án tối cao, dưới sự chủ trì của Thiếu tướng Tư pháp V.A. Yaskin đã tuyên bố Valentin Varenikov trắng án.

….Sau khi chiến thắng tại Phiên tòa, đại tướng Varenikov tiếp tục con đường chính trị, Năm 1995, ông được bầu vào Duma Quốc gia của Liên bang Nga . Từ tháng 1/1996 đến năm 1999, ông làm chủ tịch Ủy ban Đuma Quốc gia về các vấn đề cựu chiến binh. Ông mất ngày 6/5/2009.

Sau này, dù rằng không phải ra hầu tòa với tư cách bị cáo (tháng 4/2014 một số đại biểu Duma Quốc gia Nga (Yevgeny Fedorov, Anton Romanov (Đảng nước Nga Thống nhất), Ivan Nikitchuk, Oleg Denisenko (Đảng Cộng sản Liên bang Nga), Mikhail Degtyarev (Đảng dân chủ tự do )đã yêu cầu đem Gorbachev ra xét xử về tội đã lam tan rã Liên Xô), nhưng ít ra trong đời có một lần Gorbachev đã phải ra đứng trước Tòa, cúi đầu trước những lời cáo buộc hào sảng của một vị đại tướng Liên Xô về tội phản bội Đảng, phản bội nhân dân.

Từ chối ân xá, yêu cầu mở phiên toà xét xử chính mình, vạch tội kẻ phản bội tại đó và chiến thắng. Valentin Varenikov, ông đúng là một người Anh hùng!
Ảnh 1: Đại tướng Valentin Ivanovich Varennikov Anh hùng Liên Xô, nguyên Thứ trưởng Bộ quốc phòng Liên Xô.

Ảnh 2: Ảnh chụp vào ngày 21/6/1994. Trong ảnh, M.Gorbachev, cựu Tổng thống Liên Xô bị triệu tập đến Tòa án Tối cao.
QV-ST!

TẠI SAO LIÊN XÔ ĐỔ: TRÙM TUYÊN GIÁO YAKOLEV VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA NHÀ NƯỚC LIÊN XÔ!

     Ngoài Gorbachev thì còn một kẻ khác không kém phần quan trọng thúc đẩy quá trình Liên Xô sụp đổ, đó chính là Trưởng Ban Tuyên truyền Đảng Cộng sản Liên Xô Alexander Yakovlev. Alexander Yakovlev, “kiến trúc sư cải tổ” Liên Xô đã bị vạch mặt là “điệp viên có ảnh hưởng” của Mỹ.

Yakovlev sinh ngày 2/12/1923 trong một gia đình nông dân ở một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Volga gần thành phố Yaroslavl của tỉnh Yaroslavl của Liên Xô. Nhờ thành tích chiến đấu trong Chiến tranh Vệ quốc, Yakovlev được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô vào năm 1944.

Học bổng Fulbright và mầm mống của sự sụp đổ Đảng Cộng sản Liên Xô.
Năm 1958, dưới thời Nikita Sergeyevich Khrushchev làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, 17 người thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô được cử đi sang Mỹ du học một năm bằng học bổng Fulbright. Trong số đó có 14 người là sĩ quan KGB, còn lại là làm công tác đảng trong đó có Alexander Yakovlev.

Theo học bổng Fulbright, A. Yakovlev theo học chương trình thực tập sinh tại Đại học Columbia (Hoa Kỳ) dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Chính trị học Hoa Kỳ David Truman, một trong những người sáng lập học thuyết đa nguyên chính trị và là một chuyên gia chống cộng khét tiếng. Theo hồi ký của cựu Chủ tịch KGB V. Kryuchkov, A. Yakovlev được cơ quan tình báo Hoa Kỳ tuyển mộ trong thời gian đang là học viên của Viện hàn lâm khoa học xã hội sang Hoa Kỳ thực tập tại Đại học Columbia. Việc A. Yakovlev bị cơ quan tình báo nước ngoài tuyển mộ cũng được trung tướng Y. Pitovranov và cựu Chủ tịch KGB Viktor Chebrikov xác nhận.

Alexander Yakovlev, “kiến trúc sư cải tổ” Liên Xô đã bị vạch mặt là “điệp viên có ảnh hưởng” của Mỹ.
Trở về Liên Xô vào năm 1960, A. Yakovlev theo học chương trình nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội và bảo vệ Luận án Phó Tiến sĩ với đề tài “Phê bình văn học tư sản Mỹ về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1953-1957”. Năm 1967, A. Yakovlev bảo vệ Luận án Tiến sĩ với đề tài “Khoa học chính trị Hoa Kỳ và các chính sách đối ngoại của đế quốc Mỹ giai đoạn 1945-1966”.

Vào năm 1972, vì viết bài báo “Chống chủ nghĩa phản lịch sử” trên báo Văn học nên Yakovlev bị thuyên chuyển đi Canada làm đại sứ trong 10 năm (1973 – 1983). Trong thời gian làm Đại sứ tại Canada, A. Yakovlev có dịp tiếp xúc gần gũi và kết thân với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachev trong thời gian ông thăm chính thức Canada.

Theo hồi ký của Trung tướng KGB Y. Pitovranov, Phòng Thương mại và công nghiệp Liên Xô, một tổ chức được thành lập vào năm 1969, với nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo thông qua các doanh nhân phương Tây quan tâm hoạt động kinh tế ở Liên Xô, đã từng gửi báo cáo về Moscow rằng trong thời gian làm Đại sứ Liên Xô ở Canada, A. Yakovlev đã nhận những món quà tặng có giá trị vượt quá xa tiền lương và cả kinh phí được Chính phủ phân bổ cho Đại sứ quán.

Đáng chú ý là, do tiết lộ của A. Yakovlev trong thời gian ông làm Đại sứ tại Canada, có tới 17 nhân viên đại sứ quán Liên Xô bị Chính phủ Canada trục xuất với cáo cuộc “hoạt động gián điệp dưới vỏ bọc ngoại giao”. Nhận được báo cáo này, Chủ tịch KGB Yu. Andropov chuẩn y bản báo cáo về A. Yakovlev và gửi tới Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô L. Brezhnev. Tuy nhiên, sau khi đọc xong báo cáo, L. Brezhnev nói: “Là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, A. Yakovlev không thể là kẻ phản bội”. Mặc dù vậy, Yu. Andropov vẫn đề nghị bãi miễn chức Đại sứ của A. Yakovlev. Tuy nhiên, M. Suslov – Trưởng Ban Tổ chức Trung ương – đã bác bỏ đề nghị này với lý do “bổ nhiệm hay bãi miễn chức Đại sứ không phải là chức năng của KGB mà là của Ban Bí thư và Bộ chính trị.

Trong phiên toà “Vụ án Đảng Cộng sản Liên Xô” tại Toà án Hiến pháp năm 1992, Yakovlev đã đề nghị F.M.Rudinski (luật sư bảo vệ Đảng Cộng sản Liên Xô) rằng: “Tôi đề nghị ông đừng hỏi tôi về những năm 1973 – 1983. Tôi đã vắng mặt ở đây trong mười năm đó. Còn vào những thời điểm khác, mới ông cứ tự nhiên”. Cho đến khi Rudinski đưa ra câu hỏi: “Ngài có phải là điệp viên CIA không?” thì Yakovlev đã tỏ ra vô cùng lúng túng, cằm xệ xuống.

Sau khi trở về Liên Xô, A. Yakovlev được M.S. Gorbachev tiến cử vào chức Viện trưởng Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế. Đề xuất của M. Gorbachev được Yu. Andropov chấp nhận. Dưới sự lãnh đạo của A. Yakovlev, Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đưa ra nhiều kiến nghị gửi Ban Chấp hành Trung ương về cải cách nền kinh tế Liên Xô theo hướng thành lập xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Kể từ khi M. Gorbachev thực hiện chính sách cải tổ Liên Xô vào năm 1985, A. Yakovlev được bổ nhiệm làm Trưởng ban Tuyên truyền của Ban Chấp hành Trung ương chuyên trách về công tác tư tưởng, thông tin và văn hóa, đồng thời được bầu vào Bộ Chính trị.

Từ 1986 đến 1988, với sự tác động của Yakovlev, một loạt cán bộ chủ chốt lý luận nòng cốt của các tờ báo ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay bởi những người ủng hộ chủ trương “cải tổ” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã “quạt gió châm lửa” khuynh đảo dư luận. Một số tờ báo và tạp chí đặc biệt cấp tiến như Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow, dần dần đi theo xu hướng bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng của nhân dân bị đảo lộn, ngày càng trở nên tiếng nói của các thế lực thù địch bên ngoài chống lại Liên Xô.

Các hội đoàn tư nhân tự phát ra đời ngày càng lớn mạnh, đối đầu trực tiếp với các cơ quan tổ chức nhà nước thời bấy giờ. Các tờ báo Liên Xô được cởi trói không ngừng đánh mạnh vào hệ thống chính quyền Xô Viết, phủ nhận thành quả cách mạng của Lê Nin. Công kích chính quyền và hệ tư tưởng, tôn sùng chủ nghĩa Phương tây. Và kết quả cuối cùng ai cũng biết, đó là sự sụp đổ của Liên Xô.

A.Yakovlev còn được giao đảm nhiệm Trưởng ban chuẩn bị nghị quyết “Về công khai hóa” và phụ trách chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 10/1988, A. Yakovlev được Bộ chính trị bổ nhiệm làm Trưởng ban chuyên trách nghiên cứu các tài liệu liên quan tới “chiến dịch thanh trừng” trong những năm 1930-1940 và đầu những năm 1950 dưới thời J. Stalin. Dưới sự lãnh đạo của A. Yakovlev, bộ máy truyền thông Liên Xô tiến hành chiến dịch xuyên tạc vai trò của J. Stalin và vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Năm 1989, A.Yakovlev được giao nhiệm vụ Trưởng ban soạn thảo Cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong thời gian này, A. Yakovlev đã cấp phép lưu hành và phổ biến 30 bộ phim từng bị cấm trình chiếu trước đây và cho xuất bản trên báo Sự Thật – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô, những công trình của các nhà triết học Nga từng bị cấm lưu hành.

Cũng trong năm 1989, tại Đại hội đại biểu nhân dân toàn Liên Xô, A. Yakovlev trình bày bản báo cáo về những hậu quả của Hiệp ước Xô – Đức về không tấn công lẫn nhau năm 1939 (còn gọi là Hiệp ước Molotov – Ribbentrov). Trên cơ sở nghị quyết này, một chiến dịch rộng lớn được triển khai nhằm xuyên tạc lịch sử Chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít. Dựa vào chiến dịch này, báo chí phương Tây ra sức tuyên truyền nhằm cáo buộc J. Stalin và Hitler đều có tội gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong những năm cải tổ ở Liên Xô, A. Yakovlev hiện nguyên hình là kẻ chống chủ nghĩa xã hội. Báo Nước Nga Xô Viết (số ra ngày 7/5/1991) đã đăng bức thư ngỏ của G.Zyuganov (về sau là Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga) gửi A. Yakovlev với tiêu đề “Kiến trúc sư trưởng bên đống đổ nát”. Sau khi bức thư này được công bố, báo chí Nga gọi A. Yakovlev là “kiến trúc trưởng công cuộc cải tổ” dẫn tới sự sụp đổ Liên Xô.

Cựu Chủ tịch KGB V. Kryuchkov từng viết trong cuốn Hồ sơ cá nhân (xuất bản năm 1994) như sau: “Tôi chưa bao giờ nghe thấy A. Yakovlev nói một lời ấm áp nào hay thể hiện niềm tự hào về Tổ quốc, chí ít là về chiến thắng của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Điều này khiến tôi đặc biệt ngạc nhiên vì chính A. Yakovlev là người đã từng tham gia cuộc chiến tranh này. Tôi cũng chưa bao giờ nghe A. Yakovlev nói một lời tử tế nào về nhân dân Nga. Đối với A. Yakovlev, khái niệm nhân dân hoàn toàn không hề tồn tại”.

Về sau, trong hồi ký của mình, A. Yakovlev tiết lộ: “Chúng tôi sẽ phải xóa bỏ hệ thống chính trị Xôviết bằng các phương thức khác nhau như ủng hộ và tôn vinh những người bất đồng chính kiến. Nhưng biện pháp này không triệt để và không có hiệu quả. Cần phải phá hoại Liên Xô từ bên trong và cách duy nhất đúng để đạt mục tiêu đó là sử dụng chính cơ chế quản lý toàn trị của hệ thống đó để phá bỏ nó và chúng tôi đã thành công”.

Năm 2001, A.Yakovlev là người viết lời giới thiệu cho cuốn “Sách đen về chủ nghĩa cộng sản” được xuất bản ở nhiều nước châu Âu, A.Yakovlev đã xuyên tạc thậm tệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và cho rằng chủ nghĩa cộng sản là “căn bệnh xã hội của thế kỷ XX”. Với lập luận xuyên tạc đó, A.Yakovlev chủ trương xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản. Chiến thuật hành động của A.Yakovlev được ông mô ta như sau: “Vào thời kỳ đầu của cải tổ, chúng tôi buộc phải núp dưới những khẩu hiệu nhằm “đẩy mạnh hoàn thiện chủ nghĩa xã hội” và “xây dựng chủ nghĩa xã hội nhân đạo. Không còn cách nào khác”. Theo A.Yakovlev, mục tiêu của cải tổ là từng bước tái cấu trúc hệ thống toàn trị, tiến tới phá bỏ hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô.

A.Yakovlev cho rằng, chế độ toàn trị ở Liên Xô chỉ có thể bị phá hủy từ bên trong, bằng cách kết hợp công khai hóa với việc áp dụng cơ chế kỷ luật toàn trị của Đảng. Dùng chính cơ chế kỷ luật của Đảng để loại bỏ những kẻ chống lại cải tổ. Chiến thuật này của A.Yakovlev đã giúp ông và các cộng sự thành công trong cải tổ j là xóa bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Năm 1994, nhà văn Boldarev khi nhìn lại tình cảnh của thời kỳ này đã nói: “Trong sáu năm, báo chí đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm 1940. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ, đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi trùng”.

Năm 2005, trong thông điệp trước Quốc hội Liên bang Nga, Tổng thống Nga Putin đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô như thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ trước.

“Tôi thường nghe những lời chỉ trích về sự thật rằng tôi rất tiếc về sự sụp đổ của Liên Xô. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là trong một đêm sau sự sụp đổ của Liên Xô, 25 triệu người Nga đột nhiên thấy mình đã ở nước ngoài. Đó là một trong những thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ 20”.

“Sau đó cuộc nội chiến toàn diện bắt đầu. Tất nhiên, tất cả điều này, tôi chứng kiến toàn bộ, đặc biệt là khi tôi trở thành giám đốc Cơ quan An ninh liên bang. Hệ thống an sinh xã hội hoàn toàn bị phá hủy, toàn bộ lĩnh vực của nền kinh tế dừng lại, cũng như hệ thống chăm sóc sức khỏe và quân đội. Hàng triệu người sống trong tình trạng nghèo đói. Chúng tôi không quên những sự kiện này” - Tổng thống Nga nói thêm./.
Ảnh 1: Alexander Yakovlev, “kiến trúc sư cải tổ” Liên Xô đã bị vạch mặt là “điệp viên có ảnh hưởng” của Mỹ.

Ảnh 2: A.Yakovlev (trái) và M.Gorbachev (phải)-“cặp bài trùng” trong cải tổ ở Liên Xô trong những năm 1985-1991.
QV-ST!