Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: THƯ NGỎ: ĐÔI LỜI GỞI ĐẾN LÃNH ĐẠO BỘ GIÁO VÀ DỤC ĐÀO TẠO!

⁃ Kính thưa quý Đồng chí lãnh đạo của Bộ!
⁃ Thưa các vị chuyên gia đã và đang tham mưu cho Bộ về Chương trình giáo dục phổ thông các cấp!

Cách đây hơn ba tuần trên Chương trình thời sự buổi sáng của VTV1 đã đưa tin: Vào năm học 2022-2023 trở đi trong bảy môn học bắt buộc cho lớp 10 và PTTH không có môn lịch sử. Nghe xong thông tin này tôi bán tín, bán nghi phải chăng VTV đưa tin nhầm, hay tôi nghe không rõ. Bởi vì tôi cảm nhận không thể Ngành giáo dục Việt Nam, với quan điểm giáo dục Mác xít và lấy Tư tưởng của Bác Hồ làm nền tảng lại có chuyện lạ đời như vậy, đặc biệt là sau sự kiện 2012, khi mà cũng quý Bộ đã đề xuất bỏ môn sử mà tích hợp nội dung lịch sử vào các môn học khác như giáo dục công dân, giáo dục QPAN ...đã bị dư luận xã hội phản đối mạnh mẽ, thậm chí có người mạnh miệng cho rằng trong Bộ GDĐT có người đã tự diễn biến, tự chuyển hoá, phá hoại nền giáo dục XHCN của chúng ta. Trước dư luận đó Quốc hội phải đưa ra thảo luận và nếu tôi nhớ không nhầm thì QH buộc phải ra một Nghị quyết chuyên đề yêu cầu không được bỏ môn lịch sử ... và lúc đó khi nói chuyện thời sự, với tinh thần thẳng thắng tôi đã nói “nếu tôi được làm Thủ tướng, tôi sẽ cách chức ngay Bộ trưởng Bộ GDĐT và người tham mưu bỏ môn sử“. Thế cho nên nay nghe Thông tin các vị gián tiếp bỏ môn sử, tôi thực sự thấy lạ lùng và nghĩ rằng không thế có điều này. Chính vì vậy mà tôi đề nghị với các đồng chí có trách nhiệm nắm lại thử có điều đó hay không, và câu trả lời là đúng đã có quyết định như vậy của Bộ nhà. (Một anh bạn của tôi đã nhắn tin hỏi một lãnh đạo của Bộ và đã được trả lời chính xác như vậy đồng thời cũng đã được nghe lý giải vì sao không đưa môn lịch sử thành môn học bắt buộc ở cấp PTTH- nội dung giải thích đúng như nội dung ông Nguyễn Minh Thuyết với tư cách là Tổng chủ biên Chương trình giáo dục mới trả lời phỏng vấn trên VTC News đã bị cộng đồng mạng tuyệt đại phản đối).

Như vậy là đã rõ, lại một lần nữa Bộ lại tìm cách “bỏ“ môn lịch sử, lần này là ở cấp PTTH. Tôi xin quý đồng chí đừng vội giải thích rằng chúng tôi không bỏ hoặc quy cho tôi vu khống Bộ vì không bỏ mà nói “bỏ“. Thực ra các vị đã muốn bỏ từ lâu, song sức ép của xã hội và của người dân yêu nước các vị không dám công khai bỏ mà tìm cách gián tiếp bỏ ở cấp cao nhất của giáo dục phổ thông, đó là đưa môn sử trở thành môn tự chọn, và tất nhiên học sinh sẽ rất ít và rất rất ít em chọn môn sử (tôi còn nhớ tại thành phố Đà Nẵng đã có năm Hội đồng thi PTTH chỉ có một thí sinh dự thi môn lịch sử).

Một câu hỏi đặt ra: Tại sao Bộ Giáo dục Đào tạo lại tìm mọi cách để hạ thấp vai trò, vị trí của môn Lịch sử trong suốt 10 năm qua? Một môn mà bất cứ quốc gia nào cũng quan tâm (Trung Quốc xác định Lịch sử là một trong ba môn học quan trọng nhất, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ cũng xác định là môn bắt buộc học trong tất cả các cấp học...), và đặc biệt nền giáo dục XHCN với quan điểm dạy chữ là dạy người, giáo dục là nền tảng để đào tạo ra những con người mới XHCN, những con người yêu nước, yêu CNXH, có phẩm chất đạo đức và có năng lực hoạt động, vừa hồng, vừa chuyên góp phần xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì càng phải quan tâm đặc biệt đến môn Lịch sử.

Để trả lời câu hỏi này, tôi hoàn toàn không thể có câu trả lời nào khác là các đồng chí lãnh đạo Bộ đã xa rời Tư tưởng về giáo dục của Bác Hồ “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam", xa rời quan điểm về Văn hoá của Đảng ta mà mới nhất ngay đầu năm tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc đã nhắc lại “”Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội: Văn hoá còn dân tộc còn; phải giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc ...” và đặc biệt với cách làm đó đã vô tình hay cố ý tiếp tay cho những kẻ xét lại lịch sử (bởi vì khi đã làm cho xã hội mù sử thì đó là mãnh đất tốt để gieo mầm đổi trắng thay đen trong lịch sử, mà cuộc xung đột vũ trang ở Ucraina là tấm gương nhãn tiền trong việc nã đại bác vào lịch sử để rồi đưa cả dân tộc vào thảm họa), đồng thời cũng nằm trong âm mưu Diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch mà Mỹ là ông trùm xét lại lịch sử thế giới.

Thưa các đồng chí lãnh đạo của Bộ, mong các vị hãy vào mạng xã hội để nghe ai bảo vệ quan điểm loại môn sử ra khỏi môn học bắt buộc và ai phản đối mạnh mẽ sự việc này, để từ đó mà tự bạch lòng mình đã có trách nhiệm với lịch sử dân tộc hay chưa. Tôi xin khẳng định bất cứ ai hạ thấp xem thường và cố tình làm mù lịch sử đều là những người vô trách nhiệm với tiền nhân , vô cảm với thực tại và gây hậu quả tai hại với tương lại.

Với tấm lòng yêu nước của một người cháu của Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, là con của hai Liệt sĩ, là chiến sĩ Biệt động giải phóng hoạt động trong lòng thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi chân thành đề nghị các đồng chí hãy nhìn lại mình, nhận ra sai lầm khuyết điểm để tự sửa khi còn chưa muộn, đừng cho đây là việc nhỏ chỉ là một môn học mà hãy nhớ rằng lịch sử là cội nguồn dân tộc, lịch sử còn văn hoá còn, lịch sử mất văn hoá mất, văn hoá mất dân tộc mất, do vậy vấn đề học sử là vấn đề đại sự quốc gia xin chớ có xem thường.

Cuối thư xin gởi đến các đồng chí lãnh đạo của Bộ lời chào trách nhiệm!
Chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam!
Bài và ảnh:Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nguyên cục trưởng cục tuyên huấn QĐNDVN.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: CON EM CHÚNG TA ĐANG HỌC “NGỮ VĂN” TỪ NHỮNG TÁC GIẢ NHƯ THẾ NÀO???

     Dạy văn, suy cho cùng, là dạy người. Văn học không chỉ nuôi dưỡng tâm hồn, cảm thụ cái đẹp, mà còn góp phần hình thành nhân cách, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước và ý thức trách nhiệm với cộng đồng.

Bởi vậy, một tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa không còn đơn thuần là một sản phẩm văn chương, mà trở thành một giá trị giáo dục được trao vào tay thế hệ tương lai. Và nhìn vào một số tác phẩm đang hiện diện trong sách giáo khoa thời gian qua, không khỏi khiến người ta phải đặt câu hỏi: Con em chúng ta đang học Ngữ văn từ những tác giả như thế nào?

Và câu chuyện về tác giả bài thơ “Bắt nạt” đang gây bức xúc thời gian qua lại một lần nữa khiến câu hỏi ấy trở nên nóng bỏng và cần một lời giải hơn bao giờ hết.

Mấy ngày nay, câu chuyện về bài thơ “Bắt nạt” lại xôn xao trên các diễn đàn mạng xã hội. Về việc bài thơ ấy hay dở thế nào thôi khỏi bàn nhé, bởi đọc vào thì ai cũng thấy rồi, tôi cũng vào trang FB cá nhân tác giả, đọc xem hắn ta đang viết gì, nghĩ gì và đối thoại với những người không đồng tình với bài thơ của hắn ra sao. Đọc những dòng trạng thái, lướt qua những câu trả lời dưới phần bình luận, thú thật, đập vào mắt mình là hình ảnh của một con người vô cùng tầm thường, mang nặng tính ái kỷ, lúc nào cũng tự đề cao bản thân đến mức ngạo mạn.

Một kẻ có phông văn hóa thấp, văn hóa giao tiếp và ứng xử cực kỳ kém cỏi, luôn giữ thái độ trịch thượng, bề trên. Ở đó, người ta bắt gặp những ngôn từ chợ búa, miệt thị thô lỗ khi hắn ta gọi những ai dám chê bai tác phẩm của mình là lũ "a dua", "bọn đần độn", "đọc hiểu kém", "láo như nồi thất học", thậm chí trịch thượng thách thức cả cộng đồng bằng câu nói cửa miệng "thử làm xem, thách cả họ nhà mày".

Nhưng dừng lại ở đó thì vẫn chưa đủ để thấy hết mức độ bất thường của con người này. Bắt đầu xuất hiện những luồng thông tin trên mạng xã hội liên quan đến thái độ chính trị đầy vấn đề và góc khuất tư tưởng của nhân vật. Cảm thấy có điều gì đó cần phải làm sáng tỏ, mình quyết định lội ngược dòng thời gian để kiểm chứng tận gốc trước khi đặt bút viết những dòng này.

Và càng lội về quá khứ, bức tranh về nhân vật ấy càng hiện lên rõ mồn một với một chuỗi những phát ngôn ngông cuồng, xấc xược, mang tư tưởng lệch lạc. Hóa ra, câu chuyện của Nguyễn Thế Hoàng Linh chưa bao giờ chỉ dừng lại ở một bài thơ ngô nghê trong sách giáo khoa. Đằng sau cái tên đó là một cá nhân từng không ít lần công khai đăng tải những bài viết công kích trực diện hệ thống chính trị và chủ quyền quốc gia.

Hắn ta từng viết tút công khai châm biếm Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất của Việt Nam “họp như lảng tránh…toàn bọn dối gian”!??? Đến cao điểm năm 2018 xung quanh Dự thảo Luật Đặc khu, bản chất xuyên tạc càng lộ rõ khi hắn ta rêu rao rằng những người đứng đầu Chính phủ đang "nóng lòng dâng 3 hòn đảo quan trọng làm đặc khu cho nhà đầu tư nước ngoài trong 99 năm mà ứng cử viên tiềm năng nhất là TQ".

Không dừng lại ở đó, hắn ta còn dùng những từ ngữ bẩn thỉu để thóa mạ bộ máy quản lý, cho rằng "với những thứ sai trái ngang nhiên như BOT…chúng ta thừa hiểu chính phủ… vừa tham, vừa hèn, vừa bẩn thế nào", hay thậm chí quy chụp trơ trẽn rằng "điều khó khăn lớn nhất hiện tại của người Việt Nam là sinh tồn với một chính phủ hạ đẳng sẵn sàng bán nước như vậy" và "nếu không có sức ép bên ngoài từ Mỹ, từ Trung Quốc, từ viện trợ của Nhật, Đức…chính phủ còn lộng hành hơn nhiều". 

Trong các bài viết về ngoại giao, tay trái thì viết tút bài bác Trung Quốc, nhưng tay phải hắn ta đã kịp đưa ra luận điệu phi lý cho rằng Việt Nam phải nhờ Mỹ bảo kê, đưa tàu chiến quanh biển Đông, thậm chí nên “cho Mỹ thuê các đặc khu này làm một lớp lá chắn bảo kê ". Đỉnh điểm của sự ngạo mạn lố bịch là khi hắn ta viết những lời nhắn gửi với giọng điệu bề trên đối với nhà lãnh đạo nước ngoài rằng "và điều anh muốn nói với Tập Cận B là anh với chú đều là cao thủ thế giới... Anh vẫn chưa nỡ ghi thơ mắng chú nên chú đừng để anh phải làm như vậy. Anh cảm ơn"!??

Nếu hắn ngạo mạn, phát ngôn ngông cuồng như vậy, thì đây đơn thuần là vấn đề của cơ quan chức năng xác minh, xử lý, nhưng điều đáng nói hơn là bài thơ "Bắt nạt" của hắn lại chễm chệ nằm trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6 (Tập 1).

Đặt sự việc này vào bức tranh rộng hơn của đời sống văn học, nghệ thuật và giáo dục, dư luận càng có lý do để đặt câu hỏi về bộ lọc trong lựa chọn, biên soạn và thẩm định ngữ liệu sách giáo khoa của cơ quan có thẩm quyền.

Và "Bắt nạt" không phải trường hợp cá biệt.

Vẫn còn đó “Đường vào trung tâm vũ trụ” (trích Thiên Mã) của Hà Thủy Nguyên - kẻ đã có những bài viết, bài nói có dấu hiệu xuyên tạc, xúc phạm vô văn hóa đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường xuyên giao du với số cơ hội, trở cờ như Nguyễn Q.A, Nguyên N, Chu H mà không ít lần VTV, ANTV đã đưa lên bản tin và gạch mặt; vẫn còn đó truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh - người từng vấp phải nhiều tranh luận về cách nhìn chiến tranh, lịch sử và người lính; vẫn còn đó bài thơ "Tiếng vọng" của Nguyễn Quang Thiều - người đã bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét vi phạm và kỷ luật cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng liên quan đến những sai phạm nghiêm trọng tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn trong vụ phát hành ấn phẩm tai tiếng Chuyện với Thanh (mà tác giả của nó là Nguyễn Thành Nam đã bị khởi tố về tội xâm phạm an ninh quốc gia).

Nghiêm trọng hơn, dư luận thời gian qua cũng đặt ra không ít nghi vấn và bức xúc vì trong các vị trí chủ biên, ban biên soạn chương trình sách giáo khoa lại xuất hiện những cái tên được cho là nằm trong “Nhóm 72” từng có kiến nghị đòi “đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp”.

Rõ ràng đây không phải những hiện tượng đơn lẻ. Đặc biệt trong bối cảnh giáo dục luôn là mũi tấn công hàng đầu trong chiến lược "diễn biến hòa bình" hòng làm phai nhạt lý tưởng thế hệ trẻ, tạo nguồn cho các cuộc "cách mạng màu", bạo loạn và lật đổ, dư luận hoàn toàn có quyền đặt ra những dấu hỏi lớn: Phải chăng cơ quan thẩm định đã thiếu đi sự nhạy bén chính trị tối thiểu, hay đằng sau đó còn có những toan tính, động cơ gì trong khâu tuyển chọn ngữ liệu?

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi". Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa đối với sự trường tồn của dân tộc. Và rất đáng chú ý, mới đây, tại buổi làm việc về kết quả một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu rà soát, hoàn thiện sách giáo khoa và học liệu; kịp thời điều chỉnh những nội dung bất cập, nhất là ở các môn học trực tiếp góp phần hình thành nhân cách, lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến, trong đó có Tiếng Việt, Ngữ văn.

Thế nhưng, nhìn lại những gì đang diễn ra, dư luận không khỏi bàng hoàng đặt câu hỏi: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiếp thu những chỉ đạo sâu sắc ấy như thế nào trong công tác biên soạn và thẩm định? Làm sao có thể vun đắp lòng yêu nước, xây dựng nhân sinh quan và tư tưởng tốt đẹp cho thế hệ trẻ, nếu như trong những trang sách giáo khoa chính thống vẫn dung dưỡng tác phẩm của những người có nhân cách lệch lạc, tư tưởng bất mãn với chế độ?

Văn chương có thể đa dạng. Nghệ thuật có thể khác biệt. Nhưng giáo dục thì không thể vô nguyên tắc. Học chữ phải đi cùng học làm người, học yêu Tổ quốc. Sách giáo khoa không phải là bãi rác để dung túng cho những sản phẩm kém chất lượng và càng không thể là nơi dung dưỡng mầm mống tư tưởng phản trắc, bất mãn. Hệ lụy của sự buông lỏng này sẽ vô cùng nguy hại nếu chúng ta tiếp tục để tâm hồn thế hệ tương lai rơi vào những “bộ lọc” lỏng lẻo và thiếu trách nhiệm.

Đã đến lúc cần một câu trả lời nghiêm túc, minh bạch từ những cơ quan có trách nhiệm. Văn chương chân chính luôn cần sự khiêm nhường, và sự tôn trọng nhân dân, tôn trọng đất nước chính là thước đo phẩm giá bền vững nhất của người cầm bút. Sách giáo khoa của quốc gia cần phải được làm sạch từ gốc, bắt đầu từ một bộ lọc thật sự khắt khe, công tâm và vì sự trường tồn của Tổ quốc!
#QV-ST!

ĐÔI LỜI VỀ NHÂN VẬT LÊ VĂN DUYỆT!

     Lê Văn Duyệt, vị đại thần triều Nguyễn, người có công lớn giúp Nguyễn Ánh thắng quân Tây Sơn, thành lập vương triều nhà Nguyễn. Mấy năm gần đây, chẳng hiểu vì sao người ta lại hoành tráng hoá, đưa Lê Văn Duyệt từ nhân vật gây tranh cãi trở thành Anh hùng dân tộc. Tổ chức, cá nhân một số địa phương tổ chức cúng tế linh đình, xem Lê Văn Duyệt chẳng khác nào đấng cứu thế của cả dân tộc có bề dày lịch sử gần 5000 năm. Xin có đôi lời như sau:

Lê Văn Duyệt theo Nguyễn Ánh từ những ngày đầu. Nếu như Gia Long được xem là chúa tể “cõng rắn cắn gà nhà/rước voi giày mả tổ” thì Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức…là những trợ thủ đắc lực cho người cầm đầu ấy. Sau khi Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, Lê Văn Duyệt là trợ thủ đắc lực oogn được giao nhiều trọng trách. Tháng 6 (âm lịch) năm 1812, vua Gia Long cho triệu tổng trấn Gia Định thành Nguyễn Văn Nhơn về, cử Lê Văn Duyệt vào thay (kiêm lĩnh cả 2 trấn Bình Thuận, Hà Tiên) và cho Trương Tấn Bửu làm phó tổng trấn, Ngô Nhân Tịnh làm hiệp (tổng) trấn. 

Khi Gia Long qua đời, Lê Văn Duyệt bất phục vua Minh Mạng, đi ngược chính sách triều đình. Minh Mạng lấy nho học làm nền tảng, trong khi đó Lê Văn Duyệt chủ trương thân thiện với người Pháp, Anh. Lê Văn Duyệt là kích động Người Chăm ly kha khỏi Đại Nam. Sau ngày từ trần của Po Klan Thu vào năm 1828, vua Minh Mệnh tìm cách đưa người trung thành với mình lên làm quốc vương Champa trong khi đó Lê Văn Duyệt quyết định giao quyền quốc vương Champa cho Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) tức là phó vương dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) và cũng là con của vua Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), một vị chiến hữu của vua Gia Long.

Sau ngày lên ngôi của Po Phaok The vào năm 1828, vương quốc Champa chấm dứt mối liên hệ với triều đình Huế, chỉ gửi triều cống cho Lê Văn Duyệt. Kể từ đó, nhân dân Champa hoàn toàn đặt dưới quyền che chở của tổng trấn Gia Định Thành, không còn phục tùng vua Minh Mệnh. Nếu Lê Văn Duyệt thành công trong việc chia cắt đất nước thì có lẽ là thế cục "Trịnh Nguyễn phân tranh" lần hai sẽ xẩy ra. Hồng phúc cho đất nước là Lê Văn Duyệt khi đó đã già và sớm ra đi. Kết quả là sau khi Lê Văn Duyệt mất, con nuôi là Lê Văn Khôi tạo phản và bị Minh Mạng tru diệt. Lê Văn Duyệt bị vua Minh Mạng cho đào mồ cuốc mả. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến việc Minh Mạng tận diệt người Chăm Pa năm 1832. Chính Lê Văn Duyệt chứ không phải ai khác, là kẻ kích động chia rẽ, thù địch dân tộc, dẫn đến các cuộc nội chiến sau này; đất nước bị hoang tàn vì khói lửa chiến tranh, Gia Định thành bị tàn phá nặng nề, nhân dân lầm than. Khi vua Minh Mạng đánh bại Lê Văn Khôi thì quốc lực theo đó suy giảm. Minh chứng là sau khi vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị nối ngôi đã không đủ lực để duy trì và buộc phải rút quân khỏi Trấn Tây Thành. Nếu cha con Lê Văn Duyệt không tạo phản, ly khai thì bản đồ nước ta không nhỏ hẹp như hôm nay. Không hiểu Lê Văn Duyệt có công lao gì với Gia Định Thành, có công lao gì với đất nước để được thần thánh hóa như hôm nay?

Lê Văn Duyệt được hoành tráng hoá, thần thánh hóa và hàng năm được tổ chức giỗ linh đình, chẳng hiểu vì lý do gì . Lê Văn Duyệt không xứng được nhận lễ nghi tôn kính bậc nhất Việt Nam như thế. Việt Nam có hàng ngàn, hàng vạn người công cao hơn Lê Văn Duyệt. Nếu nói về công lao khai phá và mạch nguồn cho dòng chảy Gia định thành, Sài Gòn - Gia Định hay thành phố Hồ Chí Minh thì người đầu tiên phải được nhắc đến là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh chứ không phải Lê Văn Duyệt.

Theo Đại Nam thực lục tiền biên thì vào tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu phong Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất, cử vào kinh lược xứ Đồng Nai. Theo đường biển, thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai đến ở tại Cù lao Phố. Từ đấy, Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Đất đai mở rộng ngàn dặm, cho chiêu mộ lưu dân từ Bố Chánh châu (Quảng Bình) trở vào, đến ở khắp nơi, đặt ra phường, ấp, xã, thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh, điền và lập bộ tịch đinh điền. Từ đó con cháu người Hoa ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch.

Sách Đại Nam liệt truyện (Tiền biên, quyển 1) ghi công: Nguyễn Hữu Cảnh đã chiêu mộ dân phiêu tán từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vào Nam vào đất ấy (tức đất Trấn Biên và Phiên Trấn), rồi đặt xã thôn, phường ấp, định ngạch tô thuế và ghi tên vào sổ đinh. Và cũng theo Trịnh Hoài Đức thì nhờ Nguyễn Hữu Cảnh mà đất đai mở rộng hơn ngàn dặm, dân số có thêm bốn vạn hộ. Vậy nên người có có công lao khai phá, mở rộng và ổn định vùng đất phía nam phải là Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Lê Văn Duyệt tội nhiều hơn công, sao lại cúng tế linh đình; nâng tầm như thể là anh hùng dân tộc? Thật khó hiểu./.
---------
P/s: Tài liệu tham khảo:
1. Tiền biên, quyển 8, tr. 14a dẫn theo Danny.
Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục Chính Biên, Đệ nhất kỷ, bản dịch của Viện Sử học, tái bản lần 1, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007, tr. 306

2. Quốc Triều Chính Biên Toát yếu, bản tiếng Việt do Quốc Sử Quán dịch - Nhà xuất bản Nghiên cứu Sử Địa Việt nam 1972, tr. 81.

3. Công trình nghiên cứu khoa học về 33 năm cuối của Vương quốc Chăm-pa của Giáo sư người gốc Chăm Po Dharma , kể từ năm 1802, năm lên ngôi của Nguyễn Ánh tại Huế với danh hiệu Gia Long, người đã có công tái lập lại cơ chế độc lập của Champa, cho tới năm 1835 với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa cuối cùng do Ja Thak Wa lãnh đạo, dẫn đến việc vua Minh Mạng sát nhập phần lãnh thổ cuối cùng của Chăm-pa vào nước Đại Nam./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: VĂN CHƯƠNG CÓ THỂ SÁNG TẠO, HƯ CẤU, VỊ NGHỆ THUẬT NHƯNG NHẤT ĐỊNH KHÔNG ĐƯỢC XUYÊN TẠC, LỆCH LẠC!

     Những ngày gần đây, dư luận xôn xao, ý kiến trái chiều về tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Bảo Ninh được vinh danh trong lễ công bố bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất.

Theo Nhà thơ Trần Đăng Khoa - thành viên Hội đồng chung khảo bình chọn 50 tác phẩm tiêu biểu sau thống nhất - đánh giá Nỗi buồn chiến tranh là cuốn sách hay. Ông cho rằng không phải ngẫu nhiên mà thế giới chọn tác phẩm này để dịch ra hàng chục thứ tiếng và phát hành trên nhiều quốc gia. Đồng quan điểm, TS. Hà Thanh Vân, Trung tâm Xúc tiến Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam cũng khẳng định tác phẩm xứng đáng được vinh danh vì nó góp phần mở rộng biên độ tự do sáng tạo văn chương từ thời kỳ đổi mới. Nỗi buồn chiến tranh được ghi nhận không chỉ vì hay, mà bởi nó mở ra một cách nhìn khác, can đảm nói về những điều khó nói và can đảm đặt bi kịch con người ở trung tâm của cuộc chiến tranh. Xin có đôi lời như sau: 

Thứ nhất, bình diện văn học thuần túy, mỗi tác giả có quan điểm nghệ thuật khác nhau. Đó là điều hoàn toàn bình thường nếu nó không lệnh chuẩn, không phiến diện, không trái với luân lý và chuẩn mực xã hội. Trước cách mạng tháng Tám 1945, Nhất Linh, Hoàng Đạo...theo đuổi thứ nghệ thuật vị nghệ thuật; Nam cao và nhiều nhà văn lựa chọn đồng hành cùng dân tộc khi lựa chọn nghệ thuật vị nhân sinh. Với tư tưởng, Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than. 

Nói thế để làm rõ về khía cạnh văn chương, nghệ thuật thì sự lựa chọn của mỗi tác giả, phản ánh tư tưởng, quan điểm của họ. Văn là người và tác phẩm văn học phản ánh tư tưởng, quan điểm và thế giới quan, nhân sinh quan của người tạo ra nó. Bảo Ninh viết "Nỗi buồn chiến tranh" dưới dạng hồi ký. Lời tự sự của người từng đi qua mưa bom bão đạn. Tuy nhiên tác phẩm này có rất nhiều vấn đề không thể chấp nhận được. Tác phẩm với ngôn từ dung tục chẳng khác nào truyện người lớn. Và khó hiểu hơn nó lại được đưa vào trong chương trình giảng dạy trung học phổ thông. Những đứa trẻ, mầm non tương lai của dân tộc sẽ cảm nhận thế nào về tác phẩm đầy mùi xác thịt. Rồi những tờ giấy trắng sẽ bị vấy bẩn bởi những vết mực bẩn thỉu mang tên "Nỗi buồn chiến tranh".

Thứ hai, Nỗi buồn chiến tranh xuyên tạc hình ảnh của anh Bộ đội cụ Hồ, những người con ưu tú của tổ quốc đã 20 năm trường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nếu những người lính đều ra trận với tâm thế sợ hãi, cúi đầu như Bảo Ninh miêu tả trong tác phẩm thì liệu người Việt Nam có đánh bại đế quốc Mỹ và chư hầu, tay sai bán nước ngụy Sài Gòn để thu non sông về một mối, hoà bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh như hôm nay? Sáng tạo không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng!

Thứ ba, nhà văn Bảo Ninh luôn cho rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta từ năm 1954 - 1975 là “cuộc nội chiến". Luận điệu không khác gì những kẻ lưu vong, thất trận gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc ta là chiến tranh Việt Nam. Thật không thể chấp nhận được!

Muốn biết cuộc chiến có phải là nội chiến hay chiến tranh vệ quốc thì trước hết cần phải chiết tự cụm từ "nội chiến". Nội chiến tức là khi mâu thuẫn đối kháng, không thể điều hoà giữa các phe phái trong cùng một nước, các bên tiến hành chiến tranh chống lại nhau. Ví như cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh hay cuộc nội chiến Nam - Bắc Hoa Kỳ là ví dụ điển hình của nội chiến. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta (1954-1975) là cuộc chiến giữa một bên là nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một bên là đế quốc Mỹ, quân đội chư hầu như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Úc…và tay sai bán nước ngụy Sài Gòn. Đây không phải là một cuộc nội chiến vì kẻ nắm thực quyền và quyết định mọi việc của phe địch là đế quốc Mỹ, ngụy Sài Gòn chỉ do Mỹ dựng lên, làm tay sai để hợp thức hóa mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới.
 
Mỹ mang quân đội trực tiếp xâm lược, từ vũ khí cho đến mọi thứ đều do một tay Mỹ chu cấp, nuôi dưỡng bọn Việt gian, phản quốc để chống lại đất nước. Trong giai đoạn đỉnh quân số của Quân đội Mỹ triển khai ở chiến trường miền Nam Việt Nam lên đến 541.933 quân, nhằm phục vụ cho chiến lược Chiến tranh Cục bộ mà Lầu Năm Góc kỳ vọng sẽ giúp họ chiến thắng. Người Mỹ mang quân đi giết người Việt Nam và bị người giết, mất hơn 58.000 nhân mạng, hơn 303.000 người thành tàn tật, phế nhân và 1000 tỷ USD (thời giá 2010)…Vậy đây nhất quyết không phải là cuộc nội chiến!

Nói thế để hiểu rằng, từ 1954 - 1975, Mỹ mới là người quyết định chứ không phải là ngụy. Điều đó đã được minh chứng qua câu nói của ông Nguyễn Cao Kỳ: “Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”.

Đùng ngụy biện rằng "Nỗi buồn chiến tranh" là sáng tạo, là sáng tạo. Sáng tạo không có nghĩa là xuyên tạc, lệch lạc về tư tưởng chính trị văn thoát li khỏi đời sống xã hội. Trên đời này chẳng có thứ văn chương nào có thể thoát ly khỏi yếu tố xã hội, đời sống con người vì như thế thì văn chương chẳng khác nào thứ hư không. Do đó văn chương luôn gắn với chính trị, đó mới đích thực là văn chương. Đó mới là nghệ thuật vị nhân sinh, phản ánh hơi thở của thời đại, tiếng lòng của non sông đất nước, của nhân dân.

Nỗi buồn chiến tranh đã chết yểu ở Việt Nam mấy mươi năm và bỗng dưng sống lại và được vinh danh, đưa vào chương trình giảng dạy theo cách không ai có thể ngờ. Đây chính là nỗi lo của nhân dân Việt Nam. Trước đó, phong trào xét lại lịch sử rộ như nấm sau mưa và bây giờ là tác phẩm nghệ thuật lệch lạc, xuyên tạc lại được vinh danh, khiến những người quan tâm vận mệnh dân tộc không khỏi lo lắng.
  
Nhìn lại bài học Liên Xô trước đây để thấy xét lại, xuyên tạc lịch sử hiểm nguy thế nào. Từ năm 1986 đến 1988, một loạt cán bộ chủ chốt của các tờ báo có ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay thế bởi những người ủng hộ chủ trương “Tây hóa” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã khuynh đảo dư luận, làm cho nhiều người dân ảo tưởng vào phương Tây và như thế “cả đàn sói đã chồm lên cắn vào lịch sử/ cào chiến công, xé xác những anh hùng”. Hàng loạt tướng lĩnh và đảng viên lão thành đều bị cho nghỉ hưu để nhường cho “lớp trẻ cấp tiến”, kinh tế chậm đổi mới, các vấn đề nội tại phát sinh cấp số nhân và ngày càng gay gắt…trào lưu xét lại lịch sử, xem nhẹ lịch sử và chiến công của các anh hùng Xô Viết, ca ngợi cái gọi là "dân chủ, văn minh phương Tây" đạt đến cao trào.

Điều gì đến đã phải đến, công lao mà Lê Nin và các thế hệ đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô trong phút chóc đã chìm xuống biển sâu! Đó là nỗi đau đoạn trường của những người Cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam chúng ta. Lãnh tụ vĩ đại của chủ nghĩa Cộng Sản, Lê Nin đã từng cảnh báo “không có kẻ thù nào, dù chúng hùng mạnh và hung hãn nhất có thể đánh bại được chủ nghĩa Cộng sản, ngoại trừ những người Cộng sản tự tiêu diệt chính họ, bằng những lỗi lầm không kịp khắc phục”. Tiếc thay, ngay trên quê hương của Lê Nin vĩ đại, hòn đá tảng của chủ nghĩa Xã hội lại sụp đổ một cách nhanh chóng vì những nguyên nhân nội tại là chủ yếu mà trước đó Lê Nin đã cảnh báo.

Việt Nam nên lấy tấm gương tày liếp của Liên Xô để đánh bại những Yakolev mới. Xuyên lịch sử, sớm muộn cũng phải trả giá đắt, là cơ hội để các thế lực thù địch xuyên tạc, xét lại. Sớm muộn thì lịch sử Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh sẽ bị đám Việt gian bắt tay với ngoại bang bôi nhọ, hạ bệ. Mong những người, những cơ quan có trách nhiệm hãy lên tiếng, không để tiểu nhân đắc chí và "Nỗi buồn chiến tranh" cần được khai tử./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: KHI NHỮNG NGƯỜI LÀM VĂN HÓA LẠI "THIẾU VĂN HÓA" TIẾNG VIỆT ĐÃ THUA NGAY TRÊN CHÍNH SÂN NHÀ!

     Hôm nay, vô tình lướt mạng và thấy cái ảnh này...

Đập vào mắt tôi đầu tiên không phải là một danh thắng, mà là một sự sai phạm rành rành về luật pháp được phơi bày ngay giữa trung tâm Thủ đô. Với những ai am tường pháp luật, chỉ cần nhìn qua tấm pano này là thấy ngay sự coi thường kỷ cương hiện hành. 

Tại Điều 18 của Luật Quảng cáo, Nhà nước đã quy định rất nghiêm ngặt rằng: chữ nước ngoài bắt buộc phải đặt phía dưới chữ tiếng Việt, và khổ chữ không được quá ba phần tư (3/4) khổ chữ tiếng Việt (Nằm trong Luật số 16/2012/QH13 của Quốc hội: LUẬT QUẢNG CÁO, Quy định về tiếng nói và chữ viết trong quảng cáo phải như thế nào). 

Vậy mà ở đây, tấm biển sự kiện văn hóa mang danh Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội lại ngang nhiên làm ngược lại: dòng chữ tiếng Anh "The color of HANOI" chễm chệ ở trên cao với kích thước bề thế, chiếm trọn tâm điểm, trong khi dòng chữ tiếng Việt "SẮC MÀU HÀ NỘI" bị đẩy xuống dưới, khép nép và lọt thỏm như một dòng phụ đề nhạt nhòa. 

Ở cái tuổi này, khi đã đi qua đủ thăng trầm, chịu đủ thứ nhức nhối và bất cập từ các quyết sách ngu dốt của BGD, tôi đã ngỡ mình sẽ không còn nổi giận vì những điều mắt thấy tai nghe trên mạng xã hội nữa. Nhưng nhìn tấm pano này, lòng tôi chợt dâng lên một nỗi chạnh lòng sâu sắc về giá trị của ngôn ngữ. 

Đối với tôi, ngôn ngữ không đơn thuần là những ký tự vô tri hay một công cụ để thông tin, mà nó là "ngôi nhà của hữu thể", là nơi trú ngụ của linh hồn một dân tộc. Chữ viết của một quốc gia chính là tấm gương phản chiếu chiều sâu văn hóa và lòng tự tôn của con người sống trên mảnh đất đó. Khi chúng ta từ bỏ hoặc hạ thấp chữ viết của cha ông, đó không còn là một lỗi thiết kế đồ họa đơn thuần, mà là sự rạn nứt từ trong nhận thức về cội nguồn.

Nhìn rộng ra bối cảnh xã hội hôm nay, tấm pano lỗi thời này thực chất chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm mang tên "me Tây". Cả một xã hội và nền giáo dục đang cuống cuồng chạy theo các đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, người trẻ tự hào vì bắn ngoại ngữ trôi chảy nhưng lại viết sai chính tả tiếng mẹ đẻ. 

Trên mọi mặt trận, từ biển hiệu cửa hàng đến các chương trình nghệ thuật, tiếng Việt đang bị ghẻ lạnh, bị đẩy lùi về phía sau như một thứ yếu thế. Người ta có một nỗi sợ vô hình: sợ chữ tiếng Việt đặt lên trên sẽ "kém sang", sợ không dùng tiếng Anh thì "Sắc màu Hà Nội" không đủ tầm quốc tế. Đó là một thứ tư duy nô dịch tâm lý đáng buồn, một sự tự ti nhược tiểu ẩn giấu dưới lớp vỏ bọc hội nhập thời thượng.

Trớ trêu thay, một chương trình nhân danh việc tôn vinh di sản, được bảo trợ bởi cơ quan quyền lực cao nhất của Thủ đô ngàn năm văn hiến, lại chọn cách mở đầu bằng việc giẫm đạp lên luật pháp và rẻ rúng ngôn ngữ dân tộc ngay tại trái tim của đất nước. Người ta muốn giới thiệu một Hà Nội thanh lịch, nhưng lại quên mất rằng sự thanh lịch ấy phải được định hình từ lòng tự trọng của một chủ thể văn hóa độc lập, chứ không phải từ sự vay mượn và thỏa hiệp ngôn từ.

Tách trà sáng nay bỗng có vị hơi chát. Tôi không bài xích việc học tiếng Anh, nhưng tôi hiểu rằng nếu một dân tộc đánh mất đi tiếng nói và chữ viết của mình, họ sẽ trở thành những kẻ vô gia cư ngay trên chính mảnh đất quê hương. 

Mong rằng sau những tiếng phản đối quyết liệt của dư luận, tấm pano ấy sẽ được hạ xuống để trả lại sự tôn nghiêm cho không gian Hồ Gươm, và là một lời cảnh tỉnh nhẹ nhàng nhưng thấm thía cho những cái đầu đang mê muội ngoài kia biết trân trọng hơn tiếng mẹ đẻ./.
#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHẤN CHỈNH VIỆC MANG MẶC QUÂN PHỤC CỦA CỰU CHIẾN BINH “ĐÚNG ĐỐI TƯỢNG, ĐÚNG QUY TRÌNH”!

     Quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là trang phục mà còn mang giá trị biểu tượng, gắn với hình ảnh, truyền thống và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Pháp luật cho phép một số đối tượng đã thôi phục vụ tại ngũ được sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu trong những trường hợp nhất định. Tuy nhiên, quyền đó phải được thực hiện đúng đối tượng, đúng cấp bậc và đúng hoàn cảnh, tránh tùy tiện gây phản cảm hoặc nhầm lẫn về tư cách quân nhân.

Trong tiến trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đã trở thành một giá trị cao đẹp trong lòng Nhân dân. Hình ảnh ấy không chỉ được tạo nên bởi bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống mà còn thể hiện qua lễ tiết, tác phong và sự chính quy của người quân nhân.

Quân phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu vì thế không đơn thuần là trang phục hay vật trang trí. Mỗi chi tiết đều gắn với đặc trưng của Quân đội, thể hiện cấp bậc, quân chủng, binh chủng và tư cách của người sử dụng. Việc quản lý, sử dụng những dấu hiệu đặc trưng này đã được pháp luật quy định.

Không phải cứ thôi phục vụ tại ngũ là không được mặc quân phục
Nghị định số 82/2016/NĐ-CP ngày 1-7-2016 của Chính phủ quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của Quân đội nhân dân Việt Nam; sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 22/2024/NĐ-CP ngày 27-2-2024. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng về hệ thống quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, trang phục của Quân đội.

Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng pháp luật không quy định theo hướng tất cả những người đã thôi phục vụ tại ngũ đều đương nhiên bị cấm sử dụng quân phục.

Điều 37 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam quy định sĩ quan nghỉ hưu được sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu trong những ngày lễ, những cuộc hội họp, những buổi giao lưu truyền thống của Quân đội. Pháp luật cũng quy định quyền này đối với sĩ quan chuyển ngành, sĩ quan phục viên theo các trường hợp tương ứng.

Như vậy, khi bàn về việc CCB sử dụng quân phục, cần phân biệt rõ đối tượng. CCB là một khái niệm có phạm vi rộng, trong đó có những người trước khi trở về đời thường là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ... Quyền sử dụng quân phục sau khi thôi phục vụ tại ngũ vì vậy phải căn cứ vào đối tượng cụ thể và quy định pháp luật có liên quan, không nên đánh đồng tất cả CCB thành một nhóm có chế độ sử dụng quân phục giống nhau.

Điều cần chấn chỉnh không phải là việc một CCB cứ mặc quân phục thì bị xem là sai, mà là sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu không đúng đối tượng, không đúng quy định; tự ý “nâng cấp” quân hàm; sử dụng quân trang tùy tiện, hoặc theo cách có thể gây nhầm lẫn về tư cách quân nhân đang tại ngũ.

Thực tế, tại nhiều địa phương, CCB vẫn sử dụng quân phục trong những ngày lễ lớn, các cuộc gặp mặt truyền thống, hoạt động kỷ niệm, tri ân người có công, hội họp do Quân đội hoặc Hội CCB tổ chức... Đây là hình ảnh đẹp khi người sử dụng thuộc đối tượng được phép và mang mặc đúng quy định, thể hiện niềm tự hào về những năm tháng phục vụ trong Quân đội.

Không thể tự phong quân hàm để “mang mặc cho oai”
Điều đáng quan tâm hiện nay là tại một số nơi vẫn xuất hiện tình trạng sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu thiếu chuẩn mực.

Có trường hợp khi phục viên, xuất ngũ chỉ là hạ sĩ quan, binh sĩ nhưng sau đó lại tự mua, gắn cấp hiệu sĩ quan từ thiếu úy đến đại úy... Có nơi vận động hội viên đóng góp tiền mua quân phục, quân hiệu, cấp hiệu với mục đích “mang mặc thống nhất”; thậm chí xuất hiện cách phân chia Chi hội trưởng đeo quân hàm cao hơn, hội viên đeo quân hàm thấp hơn như một dấu hiệu thể hiện vị trí trong tổ chức Hội. Nếu có những trường hợp như vậy thì cần kiên quyết chấn chỉnh.

Chức vụ trong tổ chức Hội CCB không phải là căn cứ để xác lập cấp bậc quân hàm trong Quân đội. Chi hội trưởng, chi hội phó, chủ tịch hay phó chủ tịch Hội CCB là chức danh trong tổ chức Hội, không làm phát sinh hoặc thay đổi cấp bậc quân hàm mà cá nhân đã được cơ quan có thẩm quyền phong, thăng trong thời gian phục vụ Quân đội. Vì vậy, không thể vì lý do “mang mặc thống nhất”, “cho đẹp đội hình” hoặc “cho oai” mà tự mua, tự gắn cấp hiệu không đúng cấp bậc của mình.

Đây cũng là ranh giới cần được nhận thức rõ giữa niềm tự hào chính đáng về quá trình phục vụ trong Quân đội với việc sử dụng những dấu hiệu đặc trưng của Quân đội không đúng quy định.

Nghị định số 218/2025/NĐ-CP ngày 5-8-2025 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu đã quy định các hành vi vi phạm liên quan đến sử dụng, mua bán, sản xuất quân trang của Quân đội. Điều đó cho thấy quân trang không phải loại hàng hóa, trang phục có thể tùy tiện sản xuất, mua bán và sử dụng như trang phục dân sự thông thường.

Đặc biệt, việc lợi dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu để tạo lòng tin, gây nhầm lẫn về tư cách quân nhân hoặc phục vụ hành vi trái pháp luật không còn đơn thuần là vấn đề lễ tiết, tác phong mà tùy tính chất, mức độ có thể bị xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.

Giữ sự trang nghiêm từ chính cách sử dụng quân phục
Một vấn đề khác cũng cần được các cấp Hội quan tâm là cách thức sử dụng quân phục trong đời sống xã hội.

Thực tế có trường hợp CCB mặc quân phục không đồng bộ, cũ, nhàu nát; thậm chí còn kết hợp quân phục với quần cộc, áo may ô, dép lê hoặc sử dụng quân hiệu, cấp hiệu, huân chương, huy chương không phù hợp với hoàn cảnh. Cũng có người mặc quân phục, đeo đầy đủ huân, huy chương trong những hoạt động sinh hoạt đời thường không mang tính lễ nghi, truyền thống.

 Ở đây cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật với hành vi chưa phù hợp về lễ tiết, tác phong. Không phải mọi trường hợp mặc quân phục chưa đẹp, chưa phù hợp hoàn cảnh đều có thể quy ngay thành “vi phạm pháp luật”. Nhưng đối với CCB, những người đã từng được rèn luyện trong môi trường Quân đội, việc giữ gìn sự chỉnh tề, trang nghiêm khi sử dụng quân phục là yêu cầu cần thiết để bảo vệ hình ảnh của chính mình và truyền thống Quân đội.

Tương tự, đối với CCB tham gia các hoạt động dân sự hoặc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, khởi kiện..., cần nhìn nhận khách quan rằng đây là những quyền công dân được pháp luật bảo đảm. Không nên coi việc một CCB thực hiện các quyền này là hành vi đáng phê phán.

Vấn đề cần lưu ý là khi thực hiện các quyền công dân, CCB không nên sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu theo cách trái quy định hoặc có thể khiến người khác hiểu rằng mình đang nhân danh Quân đội, đại diện cho cơ quan quân sự hoặc đang thực hiện nhiệm vụ của quân nhân tại ngũ. Việc phân định rõ như vậy vừa bảo đảm quyền hợp pháp của CCB, vừa bảo vệ tính trang nghiêm và uy tín của Quân đội.

Chấn chỉnh trước hết phải từ tuyên truyền, hướng dẫn
Phần lớn CCB sau khi trở về đời thường vẫn giữ gìn tốt phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gương mẫu chấp hành pháp luật và có nhiều đóng góp cho cộng đồng. Những trường hợp sử dụng quân phục, quân hiệu, cấp hiệu chưa phù hợp chỉ là một bộ phận nhỏ; trong đó có thể có người xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về quy định hiện hành chứ không phải cố tình vi phạm. Bởi vậy, chấn chỉnh trước hết phải bắt đầu từ tuyên truyền, hướng dẫn.

Hội CCB các cấp, nhất là tổ chức Hội ở cơ sở, cần giúp hội viên phân biệt rõ: trường hợp nào pháp luật cho phép sử dụng quân phục; đối tượng nào được sử dụng; sử dụng trong hoàn cảnh nào; quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu phải gắn ra sao và những hành vi nào không được phép thực hiện.

Trong sinh hoạt thường kỳ, hội họp thông thường, nếu không thuộc trường hợp cần sử dụng quân phục, hội viên có thể mặc trang phục dân sự lịch sự, gọn gàng hoặc trang phục thống nhất của tổ chức Hội nếu có quy định, hướng dẫn. Không nên tạo tâm lý rằng cứ tham dự hoạt động của Hội CCB thì nhất thiết phải mặc quân phục và càng không nên tự trang bị cấp hiệu để tạo sự “đồng đều” về hình thức.

Ban Chấp hành Hội CCB các cấp cũng cần tăng cường kiểm tra, nhắc nhở khi phát hiện hội viên tự ý sử dụng cấp hiệu không đúng cấp bậc; sử dụng quân hiệu, phù hiệu, quân phục không đúng đối tượng hoặc sử dụng theo cách gây nhầm lẫn về tư cách quân nhân.

Đối với những hành vi có dấu hiệu sử dụng quân trang trái phép thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật, cần chuyển thông tin cho cơ quan có thẩm quyền xem xét theo quy định, thay vì chỉ dừng ở việc nhắc nhở nội bộ.

Quan trọng hơn, mỗi CCB cần ý thức rằng cấp bậc quân hàm từng được mang trong Quân đội là kết quả của quá trình công tác, rèn luyện và quyết định của cơ quan có thẩm quyền, không phải một hình thức trang trí có thể tùy ý thay đổi. Chức vụ trong Hội, tuổi đời, thời gian tham gia Hội hay vị trí xã hội sau khi xuất ngũ đều không phải căn cứ để tự nâng cấp bậc quân hàm.

Quân phục càng không phải phương tiện để thể hiện “đẳng cấp”.

CCB là những người đã từng cống hiến tuổi trẻ, sức lực, có người đã hy sinh một phần xương máu cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Chính quá trình ấy tạo nên vị thế đáng trân trọng của người CCB trong xã hội mà không cần bất kỳ sự tô điểm hình thức nào.

Bởi vậy, chấn chỉnh việc mang mặc quân phục của CCB không có nghĩa là hạn chế niềm tự hào của những người đã từng khoác áo lính. Ngược lại, đó chính là cách để niềm tự hào ấy được thể hiện đúng đối tượng, đúng hoàn cảnh, đúng cấp bậc và đúng quy định pháp luật.

Khi mỗi hội viên hiểu đúng và tự giác thực hiện, bộ quân phục được sử dụng trong những dịp phù hợp sẽ càng thêm trang trọng; hình ảnh người CCB càng được Nhân dân trân trọng. Đó cũng là một cách thiết thực để mỗi CCB tiếp tục giữ gìn, phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ” và truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới./. Báo Cựu chiến binh Việt Nam ngày 09/9/2026./.
#QV-ST!

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: 🔥 GIÁO SƯ THÁI LAN “RẠCH GẦM - XOÀI MÚT LÀ MỘT TRONG NHỮNG THẤT BẠI ĐAU ĐỚN NHẤT LỊCH SỬ THÁI LAN”!

     Lịch sử Việt Nam có nhiều chiến thắng khiến thế giới kinh ngạc. Nhưng có một trận đánh mà đến tận ngày nay, nhiều học giả Thái Lan vẫn nhắc lại như một ký ức đau đớn của dân tộc họ.

Đó là trận Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785.

Trong một lần chia sẻ về lịch sử quan hệ Việt Nam - Thái Lan, Giáo sư sử học, Phật giáo và Thái Lan học Somrit Luechai đã thẳng thắn gọi đây là một trong những thất bại đau đớn nhất trong lịch sử quân sự Xiêm La.

Khi ấy, Nguyễn Phúc Ánh sang cầu viện vua Xiêm Rama I, đưa đại quân Xiêm tiến vào Việt Nam để chống lại nhà Tây Sơn.

Nguyễn Phúc Ánh cung cấp cho quân Xiêm nhiều thông tin về địa hình, sông ngòi, dân cư ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Còn quân Xiêm thì tin rằng với lực lượng khoảng 50.000 quân cùng hàng trăm chiến thuyền, họ hoàn toàn có thể nghiền nát nhà Tây Sơn.

Nhưng điều khiến vị giáo sư người Thái day dứt không chỉ là thất bại quân sự.

Giáo sư Somrit Luechai thừa nhận rằng khi tiến vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long, quân Xiêm đã gây ra nhiều cuộc cướp phá, g.i.ế.t hại dân thường, phụ nữ và trẻ em, cướp đi vô số của cải. 

Nguyễn Phúc Ánh biết những gì quân Xiêm đang làm, nhưng không có phản ứng gì.

Trong khi đó, Chiêu Tăng và Chiêu Sương lại tỏ ra chủ quan, coi thường quân Tây Sơn.

Họ cho rằng đối phương chỉ là một đội quân ô hợp, không đáng lo ngại.

Rồi Nguyễn Huệ xuất hiện.

Không đánh vội.

Không đối đầu trực diện.

Ông kiên nhẫn chờ đối phương tiến sâu vào trận địa đã được chuẩn bị sẵn trên khúc sông Rạch Gầm - Xoài Mút.

Và khi thời cơ đến, toàn bộ hỏa lực của quân Tây Sơn từ hai bên bờ sông cùng các chiến thuyền đồng loạt khai hỏa.

Trận đánh diễn ra dữ dội đến mức các sử liệu ghi lại rằng xác quân Xiêm phủ kín mặt sông.

Chỉ trong một trận đánh, đội quân từng được xem là hùng mạnh nhất khu vực gần như bị xóa sổ.

Giáo sư Somrit Luechai cay đắng thừa nhận:

"50.000 quân Xiêm đến Việt Nam nhưng chỉ có chưa đầy 5.000 người trở về."

Ông cũng cho rằng quân Tây Sơn chiến đấu vô cùng quyết liệt, gần như không cho quân Xiêm cơ hội tháo chạy.

Bởi quân Tây Sơn không chỉ đang bảo vệ lãnh thổ.

Họ đang chiến đấu cho những người dân đã bị g.i.ế.t hại và cướp bóc trên chính quê hương mình.

Hơn 240 năm đã trôi qua.

Nhưng trận Rạch Gầm - Xoài Mút vẫn được xem là một trong những chiến thắng lẫy lừng nhất của dân tộc Việt Nam. Và cũng là một trong những thất bại đau đớn nhất trong lịch sử Thái Lan.

Một chiến thắng khiến tên tuổi Nguyễn Huệ vang khắp Đông Nam Á. Quân Xiêm khi nghe đến thì sợ như sợ cọp.

Còn đối với Nguyễn Ánh với "THÀNH TÍCH" Cõng rắn cắn gà nhà, Rước voi giày mả tổ thì muôn đời sẽ là TỘI ĐỒ DÂN TỘC!
#QV-ST!

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: ĐỪNG NGHE GIẶC!

     Kiến trúc thiết kế Đề án Không gian văn hóa Hồ Gươm xanh là ông Kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, có quốc tịch Pháp, ông ta cũng từng là tác giả thiết kế, thi công lại Nhà hát lớn Hà Nội đã gây thất thoát hàng tỷ đồng của Nhà nước, nay lại đưa ra cái thiết kế biểu tượng Khải Hoàn môn mang ảo ảnh hình thù cái "máy chém" ngay cạnh Hồ Gươm.

Đề nghị Lãnh đạo, Chính quyền Hà Nội suy xét kỹ trước khi quyết định một vấn đề có tính hệ trọng quốc gia trong Đề án tái tạo không gian Hồ Gươm, bởi Không gian văn hóa Hồ Gương là một mảng không gian văn hóa - lịch sử linh thiêng, gắn liền sự tích của Lê Lợi - Vị  Vua khai quốc Triều đình nhà Lê Sơ, cùng với phong trào yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục và các cuộc mít tinh lớn trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, rất linh thiêng, mang đậm nét văn hóa tâm linh của dân tộc.

Văn hóa luôn gắn liền với lịch sử và lịch sử là cơ sở quan trong hình thành và quyết định bản chất - bản sắc - giá trị văn hóa địa lý - quốc gia và văn hóa nói chung. Khi có dự án về văn hóa, lãnh đạo chính quyền phải có tầm nhìn lịch sử, không thể tùy tiện.

Bài học Đề án đổi mới Sách giáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2018 đưa Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Đỗ Ngọc Thống và 1 số khác trong nhóm 72 chống chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng vào Ban đề án soạn thảo đã phá nát tri thức văn hóa - lịch sử, bây giờ Trung ương phải chủ trương xây dựng lại bộ sách mới. Hay như lĩnh vực văn học, ông Nguyễn Quang Thiều đã biến chất đổi màu, dọn đường cho thằng phản động Nguyễn Thành Nam và một số đối tượng trong Hội Nhà văn VN phá nát nền văn học cách mạng hiện đại nước nhà... Hậu quả để lại về mặt văn hóa tư tưởng chính trị vô cùng lớn, gây bức xúc trong toàn dân là bài học lớn không chỉ dành cho lãnh đạo Hà Nội mà cấp ủy địa phương nào cũng phải lấy những vụ việc ấy rút ra bài học để có tầm nhìn sâu sắc trong kiến tạo văn hóa, kiến trúc văn hóa - lịch sử quốc gia hiện nay. 

Đổi mới tuyệt đối không được đổi màu, phát triển nhưng không được phép đi trật đường ray XHCN, đi ngược giá trị văn hóa hoặc phá vỡ không gian văn hóa lịch sử vốn có của đất nước. Đó là nguyên tắc lãnh đạo mà Đảng đã quán triệt, đồng thời về về luật nhân quả cũng cần cân nhắc kỹ chuyện tâm linh và sự linh thiêng của dân tộc!




#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: KHÔNG THỂ ĐẶT “KHẢI HOÀN MÔN” CỦA PHÁP ĐỂ SO SÁNH VỚI BỨC TƯỢNG “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH” CỦA CHÚNG TA!

     Khải Hoàn Môn là thứ cả thế giới nhớ về nước Pháp. Còn tượng đài Quyết tử là thứ người Việt Nam nhớ về cuộc chiến chống chính nước Pháp ấy.

HAI BIỂU TƯỢNG, HAI KÝ ỨC KHÔNG THỂ HÒA GIẢI
Khi ai đó nhắc đến nước Pháp, người ta nghĩ ngay đến tháp Eiffel, bảo tàng Louvre và Khải Hoàn Môn.

Đó là biểu tượng của một đế chế từng thống trị phần lớn châu Âu và nhiều vùng đất trên thế giới.
Khải Hoàn Môn Paris được Napoleon cho xây dựng năm 1806 sau chiến thắng tại Austerlitz - một chiến thắng chinh phạt, một cuộc viễn chinh đánh bại liên quân Áo - Nga.
Trên các bức phù điêu của nó là hình ảnh quân đội Pháp ra đi chinh phục, trở về trong vinh quang, mang theo chiến lợi phẩm và tù binh.
Đó là vinh quang của kẻ đi xâm lược.
Và nước Pháp, dù muốn hay không, vẫn được thế giới nhớ đến qua biểu tượng ấy.

Còn tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” bên Hồ Gươm là ký ức của người bị xâm lược.

Ba nhân vật trong tượng đài - người chiến sĩ Vệ quốc đoàn ôm bom ba càng, nữ chiến sĩ cầm gươm, người công nhân cầm súng - không ai trong số họ ra đi để chinh phục ai.

Họ ở lại, giữa lòng Hà Nội, trong 60 ngày đêm của năm 1946-1947, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để kéo dài thời gian cho Trung ương rút lui lên Việt Bắc.

Và đây là điều tôi thấy đau lòng nhưng không thể phủ nhận:
Cùng một nước Pháp, nhưng một bên là kẻ đi chinh phạt được tôn vinh bằng Khải Hoàn Môn, một bên là kẻ xâm lược bị ghi nhớ bằng tượng đài “Quyết tử”.

Khải Hoàn Môn ca ngợi việc Pháp đánh thắng người khác.

Tượng đài “Quyết tử” ghi nhớ việc người Việt đánh đuổi Pháp ra khỏi đất mình.

Hai biểu tượng ấy không thể cùng tồn tại trong một câu chuyện.
Chúng là hai ký ức đối nghịch, và cả hai đều có thật.

NHƯNG CÓ MỘT CÂU NÓI ĐÃ THAY ĐỔI TẤT CẢ

Giữa những ngày Hà Nội chìm trong khói lửa, Tết Đinh Hợi năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một bức thư cho các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô.

Người gọi họ là “các em” - hai tiếng ấy thôi đã đủ thấy Bác không viết như một vị lãnh tụ ra lệnh, mà như một người cha nói với con mình.

Trong bức thư ấy, có một câu mà tôi không thể nào quên:
“Các em là đội cảm tử, các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh.”

Tôi đã đọc câu này rất nhiều lần.

Nhưng phải đến khi đặt nó cạnh Khải Hoàn Môn Paris, tôi mới thật sự hiểu tại sao nó là trái tim của mọi thứ.

Khải Hoàn Môn không có một câu nói nào.
Nó chỉ có những bức phù điêu khắc hình binh lính, chiến lợi phẩm, tù binh.
Nó không có lời thề nào.
Nó không có một người cha nào nói với con mình rằng: hãy chết để đất nước sống.

Còn bức thư của Bác Hồ thì có.
Và đó là điều làm cho tượng đài bên Hồ Gươm khác biệt hoàn toàn với bất kỳ công trình chiến thắng nào trên thế giới.
Nó không tôn vinh chiến thắng.
Nó tôn vinh sự lựa chọn hy sinh.
Nó không kể chuyện kẻ mạnh thắng kẻ yếu.
Nó kể chuyện những người biết mình có thể chết, và chọn chết, để đất nước được sống.

Tôi nghĩ, nếu Khải Hoàn Môn là biểu tượng của một nước Pháp đi xâm lược, thì bức thư ấy là câu trả lời của Việt Nam:
Chúng ta không có Khải Hoàn Môn. Chúng ta có những người mẹ, người cha, những người con, sẵn sàng chết để Tổ quốc được sống. Và chúng ta ghi nhớ họ không phải bằng đá, mà bằng máu thịt của chính mình.

SỰ TÍCH TRẢ GƯƠM: LINH HỒN CỦA MẢNH ĐẤT NƯỚC: 

Nhưng tại sao tượng đài ấy lại đứng bên Hồ Gươm?

Không phải bên một quảng trường mới, không phải trong một khuôn viên quân sự.

Mà là bên cạnh hồ nước gắn liền với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm.

Truyền thuyết ấy kể rằng sau khi đánh đuổi giặc Minh, Lê Lợi cưỡi thuyền rồng dạo trên hồ Tả Vọng.

Rùa Vàng nổi lên, đòi lại thanh gươm thần mà Long Quân đã cho mượn để đánh giặc.
Lê Lợi trả gươm.
Rùa Vàng đón lấy và lặn xuống đáy sâu.
Từ đó, hồ đổi tên thành Hoàn Kiếm - hồ trả gươm.

Ý nghĩa của hành động ấy sâu xa hơn một câu chuyện cổ tích.
Trả gươm là tuyên bố rằng chiến tranh đã kết thúc.

Gươm được trao đi để giết giặc, và khi giặc tan, gươm phải được trả lại.
Không ai được giữ gươm lại để làm vũ khí chinh phục người khác.
Khát vọng của dân tộc Việt Nam, từ ngàn năm, không phải là bành trướng.
Khát vọng ấy là hòa bình.

VỊ TRÍ KHÔNG THỂ THAY THẾ 

Và đây là điều tôi nhận ra: Tượng đài “Quyết tử” đứng bên Hồ Gươm không phải là một sự trùng hợp.

Đó là một sự cộng hưởng lịch sử.

Hồ Gươm là nơi Lê Lợi trả gươm - nơi dân tộc tuyên bố từ bỏ chiến tranh sau khi giành được độc lập.

Tượng đài “Quyết tử” là nơi ghi nhớ những người đã cầm gươm một lần nữa, nhiều thế kỷ sau, để bảo vệ nền độc lập ấy trước một kẻ xâm lược mới - chính là nước Pháp, kẻ đã dựng Khải Hoàn Môn để ca ngợi việc mình đi xâm lược người khác.

Hai sự kiện, cách nhau hơn năm thế kỷ, nhưng cùng nằm trên một mảnh đất, cùng kể một câu chuyện:
Gươm được rút ra khi cần, và gươm được trao lại khi hòa bình trở về.

Và ở giữa dòng chảy ấy, bức thư của Bác Hồ là nhịp cầu nối liền hai thời đại.

Lê Lợi trả gươm sau khi đánh đuổi giặc Minh.

Bác Hồ viết thư động viên những người lính Thủ đô cầm gươm đánh đuổi giặc Pháp.

Cả hai đều nói lên một điều: dân tộc này chỉ cầm gươm khi bắt buộc, và sẽ trả gươm khi có thể.

Câu nói “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không phải là lời cổ vũ chiến tranh.

Đó là lời thề rằng: chúng ta chấp nhận chết, để con cháu chúng ta không bao giờ phải cầm gươm nữa.

Đặt tượng đài ở bất kỳ nơi nào khác - một quảng trường mới, một khuôn viên quân sự, một ngã tư nào đó - sẽ là tách nó khỏi linh hồn của nó.

Nó sẽ trở thành một tượng đài chiến thắng đơn thuần.

Nhưng bên Hồ Gươm, nó là một phần của dòng chảy liên tục từ Lê Lợi đến Trung đoàn Thủ đô, từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX.

Nó không đứng một mình.

Nó đứng cùng hồ nước, cùng truyền thuyết, cùng lời thề rằng dân tộc này chỉ cầm gươm khi bắt buộc, và sẽ trả gươm khi có thể.

ĐIỀU TÔI TIN 

Có nhà sử học từng nói rằng "bản thân Hồ Gươm và những câu chuyện lịch sử gắn liền với nó đã là một Khải Hoàn Môn vô giá trong lòng người dân".

Tôi nghĩ ông đúng - nhưng theo một nghĩa khác với những gì Khải Hoàn Môn La Mã từng mang.

Khải Hoàn Môn Paris là khải hoàn môn của kẻ đi chinh phạt.
Hồ Gươm là khải hoàn môn của sự trở về.

Không phải trở về với chiến lợi phẩm, mà là trở về với hòa bình.
Tượng đài “Quyết tử” đứng đó, bên cạnh hồ, không phải để tôn vinh chiến tranh.

Nó tôn vinh những người đã chiến đấu để chiến tranh không còn cần thiết nữa.

Và trên hết, nó tôn vinh một câu nói.

Một câu nói không được khắc trên đá, nhưng được khắc trong tim mỗi người Việt Nam.

Câu nói ấy là trái tim của tượng đài, là linh hồn của Hồ Gươm, là câu trả lời của chúng ta trước mọi Khải Hoàn Môn trên thế giới:
“Các em là đội cảm tử, các em quyết tử để Tổ quốc quyết sinh.”

Khải Hoàn Môn Paris, dù có đứng sừng sững đến đâu, vẫn mãi mãi là biểu tượng của một nước Pháp từng đi xâm lược - trong đó có Việt Nam.

Và tượng đài “Quyết tử” bên Hồ Gươm, với câu nói ấy ở trái tim mình, là câu trả lời của chúng ta:

Chúng tôi nhớ. Chúng tôi đã đứng lên. Và chúng tôi đã trả gươm./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: TOÀ PHÚC THẨM TUYÊN ÁN KHÔNG CẦN THIẾT PHẢI ĐIỀU TRA LẠI

     Dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Ngày 10-11/9/2026, TAND thành phố Hà Nội mở phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án liên quan đến dạy thêm tại trường THCS Ba Đình - Hà Nội sau khi nhận được kháng cáo kêu oan của bà Nguyễn Thị Bình - cựu Hiệu trưởng và bà Phạm Thị Minh Nguyệt - cựu kế toán nhà trường.

1. Niềm tin và hy vọng đối với bà Nguyễn Thị Bình và những người trọng công lý là Toà phúc thẩm sẽ huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bà Nguyễn Thị Bình vô tội do cơ sở pháp lý toà sơ thẩm buộc tội bà Nguyễn Thị Bình là Quyết định 22/2013/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội đã bị bãi bỏ theo Quyết định số 2339/QĐ-UBND ngày 05.5.2026 của UBND thành phố Hà Nội do có nội dung trái pháp luật sau khi có ý kiến của Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật (Bộ Tư pháp). Nhưng đáng tiếc là đại diện VKS lại đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại vì cho rằng hồ sơ còn nhiều vấn đề cần làm rõ như: tính hợp pháp của căn cứ buộc tội, mức độ thiệt hại từ hành vi của các bị cáo…

2. Điều đáng lưu ý là: Kết luận của Bộ Tư pháp đặc biệt là những gì diễn ra tại phiên toà phúc thẩm không phát sinh tình trạng pháp lý mới. Trình tự, thủ tục trong quá trình điều tra vụ án trước đây đã được thực hiện. Viện Kiểm sát cấp sơ thẩm cũng đã kiểm sát hoạt động điều tra. Vụ án này đã 6 lần trả hồ sơ điều tra bổ sung, vì vậy không nhất thiết phải huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại.

3. Việc tổ chức dạy thêm, học thêm tại Trường THCS Ba Đình - Hà Nội năm học 2013 - 2014 được thực hiện đúng trình tự thủ tục hành chính. Được Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Ba Đình (cũ) cấp giấy phép. Trong trường hợp hoạt động dạy thêm có những vi phạm về thủ tục như không có đơn xin học thêm, không chia nhóm, chia lớp theo quy định thì cũng chỉ là hành vi vi phạm hành chính không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, hình sự hóa vụ án này.

4. Việc Viện Kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm đã thay đổi quan điểm cho rằng bà Bình “thu đúng” nhưng chi sai quy định. Nên nhớ, các khoản chi dạy thêm, học thêm tại Trường THCS Ba Đình - Hà Nội đã được kết luận thanh tra 143 UBND TP Hà Nội xác định "về cơ bản đúng quy định, đúng quy chế chi tiêu nội bộ và đúng thỏa thuận với cha mẹ học sinh". Kết luận giám định của Sở Tài chính Hà Nội cũng nêu rõ: “Chưa đủ căn cứ để kết luận số tiền cụ thể ngoài sổ sách kế toán và không xác định được mức thiệt hại”.

5. Theo dõi toàn bộ vụ việc và những diễn biến tại phiên toà phúc thẩm, tôi đồng quan điểm với các luật sư đề nghị HĐXX Toà Phúc không chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát hủy án sơ thẩm điều tra lại. Đề nghị Toà phúc thẩm tuyên bị cáo Nguyễn Thị Bình không phạm tội và đình chỉ điều tra vụ án./.
Theo face PTC.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: VÀI CÂU HỎI XIN GỬI KTS HỒ THIỆU TRỊ VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT NGƯỜI LÀM NGHỀ VÀ MỘT NGƯỜI VIỆT!

     Đã trót mượn danh Hồ Gươm để đặt công trình của mình, xin KTS vui lòng trả lời sòng phẳng vài câu hỏi về lịch sử:
1. Về Hồ Gươm: KTS có biết Hồ Gươm tên chữ là gì không? Tại sao vua Lê lại trả gươm chứ không phải treo gươm, dựng gươm để khoe chiến công? Tinh thần "trả gươm" khác với tinh thần "khải hoàn" của La Mã ở chỗ nào?

2. Về không gian thờ tự: KTS có biết cách công trình của mình vài chục mét, ở số 16 Lê Thái Tổ, có một tượng đài đã tồn tại 130 năm không? Tại sao tiền nhân chỉ dám làm tượng Vua Lê cao 1,2m trên bệ đá 9m, khiêm nhường nép dưới tán cây, mà ông lại dám dựng một khối bê tông sừng sững 36m - cao gấp 4 lần - ngay tại cửa ngõ của di sản?

3. Về biểu tượng: Khải Hoàn Môn của La Mã, của Pháp, là để vinh danh quân đội viễn chinh, mang quân đi đánh xứ người. Còn "Khải Hoàn Môn" của Việt Nam ở Hồ Gươm là để vinh danh ai, vinh danh cuộc chiến nào? Hà Nội cần vinh danh chiến tranh ở chính nơi biểu tượng của hòa bình hay sao?

4. Về cái máy chém: KTS có từng đến Bảo tàng Lịch sử, nhìn tận mắt cái máy chém thực dân Pháp đã từng chém cụ Hoàng Lê Kha và hàng nghìn người yêu nước không? Hai trụ gỗ lim, một lưỡi dao thép 50kg treo trên xà ngang. Về mặt kết cấu, nó khác gì với hai trụ bê tông và một phiến ngang mà ông gọi là Khải Hoàn Môn?

5. Về lá cờ: KTS đặt lá Quốc kỳ - máu của bao liệt sĩ - vào đúng vị trí của lưỡi dao trong kết cấu máy chém đó, KTS có thấy rùng mình không? Người Pháp treo lưỡi dao thép để hành quyết. Kts lại treo lá cờ Tổ quốc vào vị trí ấy, ý nghĩa thị giác sẽ là gì?

6. Về Thăng Long: KTS có nhớ Hồ Gươm từng có chùa Báo Ân - một trong những công trình tráng lệ nhất Hà Nội - đã bị chính người Pháp phá bỏ để xây Bưu Điện và Ngân Hàng không? Hôm nay, lại tự tay phá vỡ không gian Hồ Gươm bằng một khối bê tông ngoại lai, thì các vị khác gì họ năm xưa?

Một công trình đặt ở Hồ Gươm mà không trả lời được 6 câu hỏi lịch sử tối thiểu ấy, thì dù có gọi nó là Khải Hoàn Môn, Nhân Hòa Môn hay Cổng Hòa Bình, nó vẫn chỉ là một mớ petong vật thể lạ, vô hồn.

Và lịch sử sẽ không tha thứ cho những kẻ coi Hồ Gươm như ao làng của mình./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: ĐỪNG KẸP LÁ CỜ TỔ QUỐC VÀO HAI GỌNG KÌM!

     Cờ đỏ sao vàng Việt Nam 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳... Lá cờ ấy không sinh ra từ những bản vẽ trên bàn kiến trúc.

Nó đi qua chiến tranh.
Đi qua máu và nước mắt.
Đi qua những năm tháng đói nghèo, mất mát, hy sinh...

Để hôm nay ngạo nghễ tung bay giữa trời Việt Nam.

Vậy mà bây giờ, trong một thiết kế đặt ngay bên Hồ Gươm, lá cờ lại được đặt vào giữa hai khối trụ khổng lồ, tạo nên một cảm giác rất khó lý giải: như bị kẹp giữa hai gọng kìm.

Xin lỗi...

Kiến trúc có thể là nghệ thuật.
Biểu tượng có thể có nhiều cách diễn giải.

Nhưng biểu tượng quốc gia thì không thể tùy tiện bắt người dân phải “giải mã” theo ý tưởng của người thiết kế.

Nếu người dân nhìn vào mà liên tưởng đến một chiếc máy chém, một cái kẹp, một thế giằng ép...

thì câu hỏi không phải là:
“Người dân có hiểu đúng ý đồ kiến trúc sư hay không?”

Mà phải hỏi ngược lại:
Tại sao một công trình đặt giữa không gian thiêng của Hà Nội lại để cho lá cờ Tổ quốc rơi vào một hình thế gây phản cảm như vậy?

Một Việt Nam đang vươn mình.

Một Việt Nam đang bước ra thế giới.

Một lá cờ phải tung bay, chứ không phải bị đóng khung.

Phải vươn lên, chứ không phải bị hai khối kiến trúc ép chặt hai bên.

Tôi không phản đối kiến trúc mới.

Tôi cũng không phản đối sáng tạo.

Nhưng sáng tạo đến đâu cũng phải biết đâu là giới hạn của biểu tượng quốc gia, đâu là hồn cốt của một không gian lịch sử.

Hồ Gươm không phải một khoảng đất trống để muốn đặt gì thì đặt.

Lá cờ đỏ sao vàng cũng không phải một chi tiết trang trí để người thiết kế tùy ý “tạo hình”.

Đừng lấy hai chữ “nghệ thuật” để bắt người dân phải chấp nhận mọi thứ.

Và càng không thể lấy những lời giải thích mỹ miều để che đi một câu hỏi rất giản dị:
Tại sao lá cờ Tổ quốc lại phải đứng giữa hai “gọng kìm”?

Câu hỏi ấy...
Bọn nó vẽ công trình, vẽ dự án để rút ruột người dân. 
Cái gì liên quan tới CM thì nó nhăm nhe viện cớ xoá bỏ. Nhưng những kẻ cõng rắn cắn gà nhà thì chúng nó gào lên nào thì mở rộng, nào thì nâng cấp sửa chữa.
Còn vươn mình nữa chứ, vươn thành vượn rồi. Còn đâu văn thơ cách mạng, còn đâu những người AHDT ở trong sách giáo khoa, còn đâu dạy thờ cha kính mẹ (tiên học lễ hậu học văn). Tết cổ truyền chúng cũng muốn bỏ, đại biểu nhân dân còn không nhớ ngày 27-7… các CCB thời chống Mỹ, thời bảo vệ biên giới muốn về thăm chiến trường xưa cũng tự quyên góp hoặc bỏ tiền túi chứ làm gì có tiền công đoàn… Nực cười chúng nó đề nghị bỏ Lăng CTHCM nhưng lại muốn đưa Bảo Đại về để lập Lăng tẩm … 
Thời thế đảo điên hay lòng người điên đảo.
Đất Thăng Long ngàn năm văn hiến, sao lại bỏ cũ để lập mới, 36 phố phường cổ HN là đất hiếm. Đi khắp thế gian có nước nào được như vậy không? 36 phố cổ là 36 ngành nghề thủ công thời đầu lập đô giờ chúng nó lại quy hoạch bê tông để xoá đi ký ức.
Chúng ta ủng hộ chính quyền vì chính phủ ấy bảo vệ nhân dân vì chính quyền ấy tôn trọng di tích lịch sử, giữ gìn truyền thống dân tộc chứ không ủng hộ cái chính quyền có ý đồ làm chư hầu.
Còn cái hình Khải hoàn môn nhìn từ xa rất giống với cái máy chém (luật 10-59 nhà ngô đình) có lẽ đáng được trả lời trước khi người ta nói đến những mỹ từ như “biểu tượng”, khải hoàn”, “hội nhập” hay “vươn mình”.

CÒN TÔI, CHỈ LÀ MỘT CÔNG DÂN THỦ ĐÔ CŨNG XIN CÓ CHÚT Ý KIẾN.
Bọn nó vẽ công trình, vẽ dự án để rút ruột người dân. 
Cái gì liên quan tới CM thì nó nhăm nhe viện cớ xoá bỏ. Nhưng những kẻ cõng rắn cắn gà nhà thì chúng nó gào lên nào thì mở rộng, nào thì nâng cấp sửa chữa.
Còn vươn mình nữa chứ, vươn thành vượn rồi. Còn đâu văn thơ cách mạng, còn đâu những người AHDT ở trong sách giáo khoa, còn đâu dạy thờ cha kính mẹ ( tien học lễ hậu học văn). Tết cổ truyền chúng cũng muốn bỏ, đại biểu nhân dân còn không nhớ ngày 27-7… các CCB thời chống Mỹ, thời bảo vệ biên giới muốn về thăm chiến trường xưa cũng tự quyên góp hoặc bỏ tiền túi chứ làm gì có tiền công đoàn… Nực cười chúng nó đề nghị bỏ Lăng CTHCM nhưng lại muốn đưa Bảo Đại về để lập Lăng tẩm … 
Thời thế đảo điên hay lòng người điên đảo.
Đất Thăng Long ngàn năm văn hiến, sao lại bỏ cũ để lập mới, 36 phố phường cổ HN là đất hiếm.đi khắp thế gian có nước nào được như vậy không? 36 phố cổ là 36 ngành nghề thủ công thời đầu lập đô giờ chúng nó lại quy hoạch bê tông để xoá đi ký ức.
Chúng ta ủng hộ chính quyền vì chính phủ ấy bảo vệ nhân dân vì chính quyền ấy tôn trọng di tích lịch sử, giữ gìn truyền thống dân tộc chứ không ủng hộ cái chính quyền có ý đồ làm chư hầu.
Còn cái hình Khải hoàn môn nhìn từ xa rất giống với cái máy chém (luật 10-59 nhà ngô đình).
Hà Nội đã có Khải hoàn môn. Được đặt tại vườn Hồng trước mặt Lăng CTHCM từ lâu rồi.
Hồ gươm biểu tượng của Thanh kiếm và vua Lê Lợi sao ko có những thiết kế mang ý nghĩa rùa vàng Vĩnh Cửu...




#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: TRƯỚC GIỜ "G" - GIA CÁT DỰ!!!

     Trước giờ "G" (8h30) ngày 14/9, giờ tòa Phúc thẩm xét xử vụ án cựu Hiệu trưởng THCS Ba Đình, Hà Nội - cô giáo Nguyễn Thị Bình, đông đảo các tầng lớp xã hội nóng lòng chờ đợi, với nhiều tâm trạng xúc cảm khác nhau. Có lẽ đa phần là mong muốn: CÔNG LÝ được thực thi, cô Bình được tuyên VÔ TỘI.

Gia Cát Dự cũng dự cảm như vậy, bởi các lý do:
1. PHIÊN SƠ THẨM
Dựa vào QĐ22 là trái pháp luật (khẳng định của Đại diện Bộ Tư Pháp trước Toà). Cô Bình và BGH trường THCS Ba Đình làm đúng TT17 của Bộ Giáo Dục & Đào tạo. Việc học thêm, học phí 15 nghìn/tiết, có sự thống nhất tự nguyện của phụ huynh học sinh. Số tiền thu được chi giáo viên đứng lớp 70% còn 30% chi cho bảo đảm cơ sở vật chất và quản lý. Số dư (sau thanh tra) nộp ngân sách nhà nước hơn 200 triệu. Cô Bình không tư lợi. Như vậy là không có bên bị hại. Theo đó, việc khởi tố cô Bình theo Điều 356 Bộ Luật Hình sự 2015 là không có cơ sở. Người tố cáo là GV dạy toán ở trường (đã hưởng 70% ). Câu hỏi đặt ra, nếu người tố cáo cho là thu tiền dạy thêm như trên là vi phạm pháp luật sao lại nhận 70% kinh phí thu từ dạy thêm? Cô ta muốn mình là đồng phạm sao?

* Với căn cứ trên, có thể kết luận: Phiên Sơ thẩm dựa trên QĐ 22 (trái pháp luật) tuyên cô Nguyễn Thị Bình 3 năm tù là vô căn cứ, có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng Luật Tố tụng hình sự. Mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Theo đó phiên Sơ thẩm xét xử vụ cô Bình là có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cần phải được xử lý theo quy định pháp luật.

2. PHIÊN PHÚC THẨM
Đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội khăng khăng cô Bình làm sai luật! Không rõ vị này có hiểu luật hay cố tình gán cho Cô Bình phạm tội?

Quá trình tố tụng không phát sinh tình tiết mới. Viện Kiểm sát thấy rằng không thể vin vào QĐ 22 cũng như TT 17 thu tiền học thêm để quy tội thì chuyển sang lập luận: "chi sai cũng là vi phạm pháp luật!", với cáo buộc như "mua vòng hoa, lễ thắp hương..." (việc chi này ở Việt Nam, có thể nói là phổ biến, chỉ có nội bộ nói ra thì ngoài mới biết, vấn đề mấu chốt ở đây là không tư lợi), rồi khăng khăng quan điểm "trả hồ sơ điều tra bổ sung!". Điều khó hiểu là trước đó, Viện Kiểm sát đã 6 lần yêu cầu như vậy và đã tiến hành điều tra bổ sung rồi! Điều đáng trân trọng là các luật sư của "bị cáo", nổi lên là LS Phùng Huyền rất có tâm, luôn vì công lý, với những lập luận dựa chắc trên cơ sở pháp luật và thực tiễn, làm sáng tỏ cô Bình đã bị Toà Sơ thẩm xét xử, kết tội oan sai, yêu cầu Toà Phúc thẩm áp dụng "suy đoán vô tội" hủy án sơ thẩm, tuyên VÔ TỘI đối với cựu Hiệu trưởng THCS Ba Đình, Hà Nội - cô giáo Nguyễn Thị Bình.
* Quan sát diễn biến phiên Phúc thẩm, phải lùi sau hơn 2 ngày đến 8h30 thứ 2 tới (14/9) mới tuyên, thể hiện sự thận trọng của Hội đồng xét xử Phúc thẩm. Gia Cát Dự phán đoán:
- Khả năng cao là Toà tuyên cựu Hiệu trưởng Nguyễn Thị Bình "VÔ TỘI". Nếu khả năng này là hiện thực thì được đa số các tầng lớp xã hội theo dõi vụ án đồng tình ủng hộ, tin tưởng vào công lý, tin vào luật pháp.

- Khả năng khác là Toà đưa ra phán quyết theo quan điểm của Viện Kiểm sát "trả hồ sơ để điều tra bổ sung". Nếu là thế thì không chỉ lợi bất cập hại, dễ gây hoang mang, mất lòng tin của xã hội vào luật pháp, mà còn gây nghi ngờ rất lớn về âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền tư pháp XHCN của đất nước. Không ít người sẽ đặt ra nghi vấn: thế lực nào đó đã cài cắm nhân sự cấu kết với thoái hóa biến chất, "lợi ích nhóm" trong ngành tư pháp để phá hoại? Nghi vấn càng cao hơn khi có thông tin Thẩm phán, Chủ tọa phiên Sơ thẩm đã tìm cách tác động để cựu Hiệu trưởng THCS Nguyễn Thị Bình "nhận tội" (lời cô Bình ngoài phiên tòa). Lại có tin đồn về cuộc gọi điện thoại đe dọa người thân, cụ thể là con trai cô Bình hiện công tác trong ngành Công an!!!
Chúng ta hãy chờ xem phán quyết của phiên tòa Phúc thẩm và những diễn biến tiếp theo nữa nhé!
Ảnh: Cô Bình và LS Phùng Huyền.
#QV-ST!