Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: HAI TƯỢNG ĐÀI “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH” GẦN NHAU - CÓ NHẤT THIẾT PHẢI DI DỜI MỘT TƯỢNG?

     Có ý kiến cho rằng: “Cách đấy vài chục mét có bức ‘Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh’ ở Vườn hoa Hàng Đậu rồi, to đùng gấp mấy lần bức này. Tôi nghĩ người đang phản đối chưa hề biết. Giữ 2 tượng đài gần nhau vài chục mét để làm gì?”

Hay: “Tại Vườn hoa Vạn Xuân (thường gọi là Bốt Hàng Đậu) đã có Tượng đài Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh rồi. Nên có nhất thiết phải để 2 tượng đài tên như vậy ko”.

Nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng nếu nhìn kỹ lịch sử hình thành của hai công trình thì vấn đề không đơn giản là ‘đã có một tượng thì tượng kia thừa’.

1. THỨ NHẤT: HAI TƯỢNG ĐÀI KHÔNG PHẢI XUẤT HIỆN CÙNG THỜI ĐIỂM

Tượng đài “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH” tại khu vực Đền Bà Kiệu được Hà Nội xây dựng năm 1984, do cố nghệ sĩ Kim Giao sáng tác. Công trình khắc họa người chiến sĩ Vệ quốc đoàn, cô gái Hà Nội và người công nhân, tượng trưng cho các lực lượng tham gia cuộc Toàn quốc kháng chiến ở Hà Nội cuối năm 1946 - đầu năm 1947. 

Trong khi đó, tượng đài “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH” tại Vườn hoa Vạn Xuân - khu vực Bốt Hàng Đậu được khánh thành ngày 22/12/2004, tức khoảng 20 năm sau. Công trình cao 9,7 m, nặng hơn 300 tấn, gồm 34 khối đá, do nhà điêu khắc Vũ Đại Bình và họa sĩ Mai Văn Kế thực hiện theo mẫu phác thảo. 

Vậy nên chúng ta sẽ cần đặt một câu hỏi rất đơn giản:
- Nếu việc tồn tại hai tượng đài cùng chủ đề ở Hà Nội là một vấn đề nghiêm trọng đến mức phải loại bỏ một, thì năm 2004, khi xây dựng tượng đài rất lớn tại Vườn hoa Vạn Xuân, tại sao không đặt vấn đề này ngay từ đầu?
- Tượng đài ở Bà Kiệu đã tồn tại từ 1984.
- Tượng đài ở Vạn Xuân được xây dựng 20 năm sau.

Hai công trình đã cùng tồn tại suốt hơn hai thập kỷ.

✅ Vậy điều gì đã thay đổi vào năm 2026 để bây giờ một công trình lịch sử lại được cho là cần di chuyển?

2. THỨ HAI: “CÙNG TÊN” KHÔNG ĐỒNG NGHĨA “MỘT TƯỢNG BỊ THỪA”

Đúng là hai tượng đài cùng gắn với tinh thần “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH”, cùng tái hiện hình tượng người chiến sĩ cảm tử và cùng gắn với cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội năm 1946 -1947.

Nhưng đó chính là một giá trị lịch sử chung cần được ghi nhớ, chứ chưa phải lý do đủ để kết luận một trong hai công trình là thừa.

Một tượng đài có giá trị không chỉ bởi kích thước hay hình thức.

Nó còn nằm ở:
- Thời điểm được xây dựng;
- Hoàn cảnh lịch sử ra đời;
- Tác phẩm nghệ thuật;
- Vị trí đặt tượng;
- Mối liên hệ với không gian lịch sử;
- Ký ức của người dân đối với địa điểm đó.

Vì vậy, câu hỏi không nên chỉ là:
“Đã có tượng đài to hơn ở Hàng Đậu rồi, giữ tượng này làm gì?”

Mà phải là:
✅ “Tại sao một tượng đài đã tồn tại tại Đền Bà Kiệu từ năm 1984, gắn với không gian Hồ Gươm suốt hơn 40 năm, lại nhất thiết phải di dời?”

3. THỨ BA: NẾU ĐÃ BIẾT CÓ SỰ TRÙNG LẶP, TẠI SAO NĂM 2004 VẪN XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI MỚI?

Đây mới là câu hỏi cần được giải thích.

Không thể hôm nay nói:
“Gần đó đã có tượng đài Quyết tử rồi, giữ hai tượng làm gì?”

Trong khi tượng đài ở Vườn hoa Vạn Xuân được chính quyền thành phố xây dựng và khánh thành từ năm 2004.

Nếu sự trùng lặp về tên gọi và chủ đề thực sự là vấn đề về quy hoạch, mỹ quan hoặc quản lý di sản, thì vấn đề đó đáng lẽ phải được tính toán từ thời điểm xây dựng tượng đài Vạn Xuân, chứ không phải đến năm 2026 mới trở thành lý do để di chuyển tượng đài đã tồn tại từ năm 1984.

4. THỨ TƯ: “TO ĐÙNG GẤP MẤY LẦN” KHÔNG PHẢI LÀ TIÊU CHÍ ĐỂ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Tượng đài Vạn Xuân rất lớn: cao 9,7 m, nặng hơn 300 tấn.

Nhưng một tượng đài lớn hơn không có nghĩa tượng nhỏ hơn mất giá trị.

Nếu cứ lấy kích thước làm tiêu chí thì chẳng lẽ công trình nhỏ hơn phải di chuyển hết?

Đó là cách đánh giá thuần túy bằng diện tích và kích thước, trong khi tượng đài còn là một thành tố của ký ức đô thị và không gian lịch sử.

5. THỨ NĂM: NẾU MỤC TIÊU LÀ CHỈNH TRANG CẢNH QUAN, CÓ NHẤT THIẾT PHẢI DI DỜI?

Theo thông tin được công bố, Hà Nội dự kiến đưa tượng đài tại Đền Bà Kiệu về Trung đoàn 692, Sư đoàn Bộ binh 301, Bộ Tư lệnh Thủ đô; lý do được nêu là nhằm thực hiện quy hoạch, chỉnh trang và phát huy giá trị không gian phía Đông hồ Hoàn Kiếm. 

Nếu vấn đề chính là không gian, cảnh quan và quy hoạch, thì tại sao không nghiên cứu phương án:
✅✅✅ GIỮ NGUYÊN TƯỢNG ĐÀI - TÔN TẠO KHÔNG GIAN XUNG QUANH?

Có thể chỉnh trang sân, cây xanh, ánh sáng, lối đi, cảnh quan và bố cục không gian để khu vực Đền Bà Kiệu đẹp hơn, trang nghiêm hơn.

Không phải cứ muốn làm đẹp đô thị là phải di chuyển những gì đang tồn tại.

✅✅✅ VÀ CÒN MỘT ĐIỂM RẤT QUAN TRỌNG

Hiện nay, lý do chính thức không đơn thuần là “vì gần đó có một tượng đài khác”.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội cho biết việc đưa tượng về Bộ Tư lệnh Thủ đô nhằm phát huy giá trị công trình, đồng thời nhấn mạnh mối liên hệ của tượng đài với quá trình ra đời, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Thủ đô. 

Nếu vậy thì càng cần giải thích đầy đủ và thuyết phục cho nhân dân:

Vì sao một tượng đài được xác định có giá trị lịch sử, cách mạng và giáo dục truyền thống lại không thể tiếp tục phát huy những giá trị ấy ngay tại không gian Đền Bà Kiệu - Hồ Gươm?

✅ Tôi không phản đối việc chỉnh trang Hà Nội.

✅ Tôi cũng không phản đối việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị tượng đài trong một không gian phù hợp.

Nhưng trước khi di dời một công trình đã tồn tại từ năm 1984, cần trả lời thật rõ:
DI DỜI ĐỂ LÀM GÌ?
DI DỜI VÌ LÝ DO GÌ?
TẠI SAO KHÔNG GIỮ NGUYÊN VÀ TÔN TẠO XUNG QUANH?
VÀ TẠI SAO NĂM 2004, KHI XÂY DỰNG MỘT TƯỢNG ĐÀI “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH” RẤT LỚN Ở VƯỜN HOA VẠN XUÂN, VẤN ĐỀ TRÙNG LẶP NÀY KHÔNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT?

Đừng biến câu chuyện thành cuộc tranh luận kiểu:

“Đã có một bức to hơn thì bức nhỏ để làm gì?”

Lịch sử không đo bằng mét.

Một tượng đài có thể giống nhau về chủ đề, nhưng giá trị của nó còn nằm ở nơi nó đứng và ký ức mà nơi ấy lưu giữ.

Nếu chưa chứng minh được rằng việc di dời là thực sự cần thiết, thì phương án hợp lý nhất vẫn nên được đặt lên bàn:

✅ KHÔNG DI DỜI 
✅ GIỮ NGUYÊN VỊ TRÍ
✅ TÔN TẠO KHÔNG GIAN XUNG QUANH.

Đó mới là cách vừa chỉnh trang đô thị, vừa tôn trọng ký ức lịch sử của Hà Nội. Và hợp với lòng dân./. 
Ảnh 1: Tượng đài Cảm tử “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Khu vực Đền Bà Kiệu - Hồ Gươm - Hà Nội.

Ảnh 2: Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Vườn hoa Vạn Xuân - cạnh Bốt Hàng Đậu - Hà Nội.
#QV-ST!

NHẬN DIỆN “CÁCH MẠNG TRẮNG” XUYÊN TẠC BẢN CHẤT, Ý NGHĨA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM!

     Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Cuộc cách mạng ấy đã để lại nhiều giá trị và bài học vô cùng quý giá đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN mà thế hệ trẻ là những người gánh vác trọng trách quan trọng.

Nhưng trên không gian mạng, vai trò, giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám vẫn luôn bị các thế lực thù địch, phản động tìm cách “tẩy trắng”, viết lại lịch sử với những góc nhìn lệch lạc.

Âm mưu, thủ đoạn hướng lái sai lệch bằng trào lưu “cách mạng trắng”k

Lịch sử là hồn cốt của dân tộc, là cội nguồn sức mạnh và là điểm tựa vững chắc để chúng ta vững bước đi tới tương lai. Thế nhưng, trên các diễn đàn mạng xã hội và truyền thông hải ngoại, chúng ta đang chứng kiến xu hướng, trào lưu xét lại lịch sử vô cùng nguy hiểm, đó là "cách mạng trắng". Một trong những thủ đoạn phổ biến hiện nay là việc các đối tượng lợi dụng chiêu bài “nghiên cứu lịch sử độc lập”, “đa chiều”, “xét lại khách quan” để đưa ra các quan điểm sai trái, bóp méo bản chất các sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.

Điều này càng thể hiện rõ khi trong dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám, chúng tung ra nhiều luận điệu sai sự thật, cho rằng “Việt Minh chỉ ăn may” khi xuất hiện khoảng trống về quyền lực, “không cần làm cách mạng cũng dễ dàng giành thắng lợi”. Các đối tượng trên đã rêu rao rằng Cách mạng Tháng Tám là “việc không nên làm”, “là một sự hy sinh vô nghĩa”, “không cần đánh Pháp cũng tự trao trả độc lập”, “Việt Nam có thể giành được hòa bình bằng đàm phán, thương lượng, không nhất thiết phải tiến hành cuộc chiến tranh hao người, tốn của với người Pháp”...

Các thế lực thù địch còn cố tình đánh tráo khái niệm giữa lịch sử chính thống với những tư liệu phiến diện, chưa được kiểm chứng hoặc bị cắt ghép có chủ ý như không cần phải làm cách mạng vì khi đó quốc tế đang chuẩn bị công nhận chính phủ của người Việt Nam và dẫn chứng nhiều quốc gia thuộc Châu Phi, Châu Mỹ từng là thuộc địa cũng đã được trao trả độc lập.

Không chỉ với luận điệu hạ thấp vai trò của Cách mạng Tháng Tám, các đối tượng chống phá còn rêu rao thành công của Cách mạng Tháng Tám thực chất là Đảng ta “thâu tóm quyền lực”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam”, xuyên tạc “chỉ thay từ chế độ vua trị sang chế độ “đảng trị”, thực hiện “độc tài” bóp nghẹt dân chủ, nhân quyền dẫn đến hai cuộc chiến tranh hao người, tốn của.

Để thu hút thêm sự chú ý của người đọc, các đối tượng trích dẫn một số nguồn tài liệu nước ngoài, nhật ký cá nhân, hồi ký chưa được thẩm định, hoặc mời một vài người nước ngoài khoác tấm áo “diễn giả, chuyên gia nghiên cứu” rồi suy diễn, áp đặt quan điểm chủ quan nhằm bôi đen lịch sử cách mạng Việt Nam. Như vậy, có thể thấy, thông qua cách tiếp cận tưởng chừng “khoa học”, “trung lập”, các luận điệu này tìm cách gieo rắc sự hoài nghi, làm phai nhạt niềm tự hào dân tộc, nhất là đối với thế hệ trẻ và phủ nhận những hy sinh to lớn của các thế hệ cha anh.

Đây thực chất là một chiến dịch tấn công tư tưởng có chủ đích được các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị đã và đang triển khai trên mọi mặt trận văn hoá, tư tưởng bằng mọi thủ đoạn tinh vi của cái gọi là "cách mạng trắng". Từ đó khiến cho người dân, nhất là thế hệ trẻ hoài nghi và dần mất tin tưởng vào lịch sử, mất cái hồn cốt, bản sắc của dân tộc.

Đồng thời các đối tượng trên tiêm nhiễm những tư tưởng, cố tình thổi phồng vai trò của một số cá nhân, tổ chức ngoài Đảng trong cuộc tổng khởi nghĩa để làm lu mờ vai trò lãnh đạo của Đảng hoặc đưa ra các “giả thuyết ngược chiều” nhằm tạo ra sự ngờ vực trong nhận thức của quần chúng.

Sự phủ nhận trắng trợn quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam - một dân tộc có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, từng bị xâm lược, nô dịch và đã vùng lên giành lại độc lập bằng chính máu xương của mình. Mục đích của những trào lưu xét lại lịch sử hay còn gọi là “cách mạng trắng” trên nhằm để bóp méo, xuyên tạc, đảo lộn trắng đen những sự kiện lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Việc xuyên tạc, xét lại lịch sử không thể làm thay đổi sự thật khách quan, nhưng nếu không kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác, các luận điệu sai trái có thể gây ra những hệ lụy nghiêm trọng về tư tưởng, nhận thức và niềm tin xã hội. Từ đó, gieo rắc sự hoài nghi, làm phai nhạt niềm tự hào dân tộc, phá hoại nền tảng tư tưởng, làm suy yếu sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo tiền đề cho chiến lược “Diễn biến hoà bình” và triển khai các hoạt động tụ tập, biểu tình cách mạng màu, bạo loạn lật đổ tại Việt Nam.

Từ hiện thực lịch sử đến sự nhìn nhận của các học giả quốc tế

Thực tế lịch sử chứng minh rõ, chỉ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh mới có thể huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để giành lại độc lập trong một thời gian ngắn như vậy. Sự chuẩn bị công phu về chính trị, tổ chức, lực lượng và phương tiện trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng từ khi Đảng ra đời (1930) đến năm 1945 là minh chứng hùng hồn cho sự tất yếu của thắng lợi.

Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do gắn liền với CNXH. Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử lớn lao của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đối với tiến trình lịch sử của dân tộc và thế giới đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tác động một cách trực tiếp, tạo niềm tin, cổ vũ mạnh mẽ cho nhân dân Lào nổi dậy giành chính quyền và ngày 12/10/1945, nước Lào tuyên bố độc lập. Sức lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam cũng đã thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á phát triển lên cao, buộc các nước thực dân Âu, Mỹ lần lượt công nhận nền độc lập của Philippine (7/1946), Miến Điện (1/1948), Indonesia (8/1950), Malaisia (8/1957).

Không chỉ giới hạn ở khu vực Đông Nam Á, sức mạnh lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám còn góp phần quan trọng thức tỉnh các dân tộc trên thế giới, đặc biệt, các nước ở Đông Bắc Á, Nam Á, các nước châu Phi, Mỹ La-tinh đang bị cùm trói trong vòng nô lệ, lệ thuộc của chủ nghĩa thực dân, đế quốc vùng lên đấu tranh để tự giải phóng, giành độc lập.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam đã vượt tầm ảnh hưởng ra khỏi biên giới quốc gia và trở thành động lực, niềm tin tinh thần, sức mạnh to lớn, cổ vũ cho nhân dân các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh giành độc lập. Cách mạng Tháng Tám mãi được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới coi là ngọn đèn chiếu sáng, hình mẫu nhân văn, nhân ái cho các dân tộc yêu chuộng hòa bình. Đó là cuộc cách mạng không chỉ giải phóng dân tộc mà còn giải phóng con người, là động lực cho nhiều dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh, xác lập quyền tự do, độc lập trên thế giới trong thế kỷ XX.

Đến nay đã có hàng trăm công trình có giá trị của các học giả trên thế giới nghiên cứu cuộc Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam. Có thể kể đến như: Giáo sư Stein Tonnesson - Viện hòa bình Oslo (nhà sử học Na Uy) đã tốn nhiều công sức, trí tuệ cùng các cộng sự dịch 122 số báo Việt Nam độc lập do Việt Minh xuất bản sang tiếng Anh, giới thiệu công khai trên trang cá nhân của ông và sự chia sẻ rộng rãi của các đồng nghiệp.

Giáo sư Stein Tonnesson đưa ra nhận định: “Các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 1946-1975 bắt nguồn từ một cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng ấy diễn ra vào tháng 8 năm 1945, sau nhiều tháng biến động sâu sắc về xã hội, chính trị và quân sự”; “Sau khi bị thực dân hóa vào cuối thế kỷ 19, giới trí thức Việt Nam đã tiếp xúc với truyền thống cách mạng Pháp qua sách giáo khoa và báo chí. Một số người coi đó là mối đe dọa đối với di sản Nho giáo hoặc Phật giáo của mình. Những người khác lại được truyền cảm hứng để tổ chức nhân dân đứng lên chống lại cả chủ nghĩa thực dân Pháp và tình trạng lạc hậu của đất nước. Sức hút từ các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp và Nga đối với tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và cộng sản trong các thuộc địa châu Âu chính là bối cảnh cho các sự kiện lịch sử diễn ra tại Việt Nam”.

Từ đó đúc kết: Cách mạng Tháng Tám và 9 năm sau đó - Chiến thắng Điện Biên Phủ đã trở thành nguồn cảm hứng cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Đây là những công trình nghiên cứu được đánh giá rất cao ở các nước trên thế giới cho đến ngày nay.

Cuốn sách “Vietnam 1945: the Quest for Power” (tạm dịch là Việt Nam năm 1945: cuộc săn tìm quyền lực) của nhà nghiên cứu người Mỹ Giáo sư David G.Marr đã tái hiện lịch sử một cách chân thực nhất theo góc nhìn “bottom-up” (nhìn từ dưới lên) - khác với những cuốn sách khác thường đưa ta hướng nhìn “top-down” (từ trên xuống) - Từ đó tái hiện cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam vào mùa thu năm 1945 một cách sinh động, cụ thể và khá chân thực.

Bởi vậy, nghiên cứu đưa ra các yếu tố dẫn đến các cuộc cách mạng trên thế giới thời điểm đó, mà điển hình là thành công của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam vẫn bảo lưu được tính thời sự, đem tới các bài học, tác động tới nhận thức nhân loại ngày hôm nay nói chung và các chính khách, các chính trị gia nói riêng khi soi chiếu vào các biến động địa chính trị thế giới…

Là một nhà Việt Nam học kỳ cựu, Giáo sư David G.Marr còn là thầy của nhiều thế hệ học trò và ông đã truyền cho họ tình yêu với Việt Nam, giúp nhiều tên tuổi trong số đó cũng trở thành những nhà Việt Nam học nổi tiếng như GS Christopher Goscha, TS Andrew Hardy…

Năm 2022, nhà báo, nhà sử học người Pháp Alain Ruscio - Giám đốc Trung tâm tư liệu Việt Nam (Paris - Cộng hòa Pháp) đã giành giải thưởng Thông tin đối ngoại với tác phẩm mang tựa đề: “Năm 1945 Việt Nam mở đường phi thực dân hóa”. Bài viết đăng tải trên bản điện tử của báo L’Humanité ngày 4/9/2020. Nhà sử học Alain Ruscio đã cho rằng, Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt quan trọng. Thành công của Cách mạng Tháng Tám đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và là khởi nguồn cho phong trào giải phóng thuộc địa, phi thực dân hóa trên thế giới.

Có thể thấy, nhiều thế hệ học giả quốc tế quốc tế trong suốt hơn 81 năm qua, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nguồn cảm hứng vô tận để lý giải điều vĩ đại ở Đông Nam Á, khi một dân tộc nhỏ bé đã tự đứng lên giành độc lập, tự do, giành quyền tự quyết cho vận mệnh của chính mình… Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử Việt Nam, các chuyên gia, nhà nghiên cứu ngày càng hiểu và khâm phục thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong tiến trình giải phóng dân tộc.

Thực tế cho thấy, lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc yêu nước, kiên cường, bất khuất, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, luôn phải đối mặt với các thế lực xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần. Những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX là kết quả tất yếu của đường lối cách mạng đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, tinh thần đoàn kết, ý chí hy sinh quên mình của toàn dân tộc.

Thời gian càng lùi xa thì ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Tám càng lan tỏa. Trách nhiệm của chúng ta hôm nay -những người được thừa hưởng thành quả của hoà bình cần hiểu đúng, nhận thức rõ về ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Tám. Từ đó, tiếp tục phát huy truyền thống, tinh thần, bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời phải luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, nhận rõ những âm mưu và hành động thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động để kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác./.
Ảnh 1: Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Ảnh 2: Mít tinh Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 tại Quảng trường Nhà hát Lớn (19/8/1945).
#QV-ST!

NHẬN DIỆN ĐÚNG “XÃ HỘI DÂN SỰ” ĐỂ ĐẤU TRANH HÀNH VI LỢI DỤNG CHỐNG PHÁ VIỆT NAM!

     Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, thuật ngữ “xã hội dân sự” (XHDS) được nhắc đến ngày càng nhiều. Tuy nhiên, cùng với những giá trị tích cực, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng danh nghĩa XHDS để thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy, nhận diện đúng bản chất XHDS và các hành vi lợi dụng là yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong tình hình mới.

Quan điểm rõ ràng của Đảng, Nhà nước ta về XHDS

XHDS là thuật ngữ được nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristotle (384 - 332 trước Công nguyên) sử dụng đầu tiên để chỉ một cộng đồng người, trong đó công dân tự do và bình đẳng, gắn bó với nhau bằng hình thái kinh tế - xã hội nhất định.

Đến nay, do quan điểm lịch sử, chính trị, tư tưởng và đời sống xã hội, đã có hàng trăm cách hiểu khác nhau về khái niệm XHDS. Song về cơ bản, XHDS là sự vận hành của các tổ chức nằm ngoài bộ máy nhà nước, bao gồm các mạng lưới, câu lạc bộ, hiệp hội... do công dân tự lập ra để thực hiện mục đích nào đó. Đặc trưng của XHDS là nằm ngoài bộ máy Nhà nước; hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, có sự tham gia của nhiều thành phần; tự chủ, độc lập về tài chính...

Không phải mọi tổ chức XHDS đều mang tính đối lập hoặc chống Nhà nước; đã có nhiều hội, quỹ, tổ chức xã hội ở Việt Nam hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, đóng góp tích cực cho cộng đồng trong các lĩnh vực thiện nguyện, an sinh xã hội, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo các quyền cơ bản của công dân…

Song do tính đa dạng về lợi ích, thành phần, XHDS dễ bị các tổ chức, cá nhân thao túng, chi phối thực hiện mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trong đó, lợi dụng xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng XHDS để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc và sự ổn định của đất nước.

Tháng 9/2000, Chủ tịch nước đã ký vào “Tuyên bố thiên niên kỷ của Liên hợp quốc”. Theo đó, Việt Nam sẽ tạo thêm cơ hội cho khu vực tư nhân, các NGO và XHDS nói chung để họ góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu và chương trình của Liên hợp quốc được qui định tại Mục 8, Điều 31, Nghị quyết số 55/2 Tuyên bố của Liên hợp quốc thông qua ngày 08/9/2000.

Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền lập hội và tham gia các hoạt động xã hội đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật; khuyến khích các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác phát huy vai trò trong các hoạt động nhân đạo, từ thiện, bảo vệ môi trường, phát triển khoa học, giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe và các lĩnh vực khác vì lợi ích của cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước.

Pháp luật Việt Nam xác định rõ, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng quyền lập hội, quyền tự do dân chủ, quyền tự do ngôn luận hoặc danh nghĩa XHDS, “dân chủ”, “nhân quyền”, “phản biện xã hội” để tuyên truyền thông tin sai sự thật, xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc xâm phạm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích quốc gia - dân tộc.

Đối với Đảng viên, nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã ban hành Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 về những điều đảng viên không được làm, thay thế Quy định số 37-QĐ/TW tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực về trách nhiệm nêu gương, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên; góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và các hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự để vi phạm pháp luật.

Nhận thức quan điểm của Đảng, Nhà nước là cơ sở để phát huy những giá trị tích cực của các tổ chức xã hội, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự xâm phạm lợi ích quốc gia và sự ổn định của đất nước.

Nhận diện các hành vi lợi dụng danh nghĩa XHDS để chống phá Việt Nam

Lợi dụng danh nghĩa XHDS để xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc là thủ đoạn mà các thế lực thù địch và phần tử chống đối thường sử dụng nhằm từng bước tác động vào nhận thức xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Một số biểu hiện cần nhận diện và cảnh giác gồm:

- Thành lập, tham gia hoặc vận động thành lập các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn hoạt động không đúng quy định của pháp luật; núp bóng các hoạt động xã hội, từ thiện, môi trường, giáo dục, nghiên cứu hoặc hỗ trợ pháp lý… để móc nối, tập hợp lực lượng, gia tăng ảnh hưởng phục vụ mưu đồ chính trị.

- Tiếp nhận và sử dụng nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài thiếu công khai, minh bạch hoặc vi phạm quy định pháp luật; lợi dụng các chương trình hợp tác, đào tạo, hội thảo, khảo sát, tập huấn, hội nghị, diễn đàn… để thu thập thông tin, xây dựng mạng lưới, tuyển chọn, đào tạo lực lượng phục vụ các hoạt động chống phá lâu dài.

- Lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, đất đai, môi trường, khiếu kiện, các vụ việc phức tạp hoặc các vấn đề “nóng” xã hội để xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và gây mất an ninh, trật tự.

- Phát tán thông tin bóp méo, sai sự thật; lợi dụng không gian mạng và các nền tảng công nghệ, truyền thông …., phát tán các thông tin, tài liệu, “công trình nghiên cứu”, văn hóa phẩm… xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, Quân đội, lực lượng Công an nhằm kích động, tạo sự hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị.

- Móc nối với tổ chức, cá nhân phản động ở nước ngoài lập các báo cáo, kiến nghị hoặc xây dựng chiến dịch truyền thông sai lệch, tìm cách quốc tế hóa các vấn đề nội bộ nhằm gây sức ép đối với Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

- Lợi dụng, thông qua các chương trình thiện nguyện, cứu trợ, bảo vệ môi trường hoặc hỗ trợ cộng đồng lồng ghép nội dung chính trị, tuyên truyền quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

- Lôi kéo cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sĩ, người có uy tín và những người có ảnh hưởng trên không gian mạng tham gia hoặc tiếp tay lan truyền các quan điểm sai trái, cổ súy tư tưởng “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, từng bước hình thành các tổ chức đối lập dưới danh nghĩa “xã hội dân sự độc lập”.

Những hành vi vừa kể trên thường được che đậy dưới những khẩu hiệu như “xã hội dân sự độc lập”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do”, “minh bạch”, “phản biện xã hội” hoặc các hoạt động mang tính nhân văn, từ thiện, thiện nguyện, khiến người dân khó nhận biết nếu thiếu thông tin và hiểu biết pháp luật. Vì vậy, việc phân biệt rõ giữa các tổ chức xã hội hoạt động đúng pháp luật với các tổ chức, cá nhân lợi dụng danh nghĩa XHDS để chống phá, đồng thời chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, phòng ngừa và đấu tranh

Bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về hội, hiệp hội, quỹ xã hội và quỹ từ thiện,… nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật thông qua tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.

Chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, minh bạch để định hướng dư luận, không tạo khoảng trống thông tin cho các luận điệu xuyên tạc; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý hội, quỹ xã hội và các tổ chức phi chính phủ; xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về tổ chức, nhân sự, nguồn tài trợ và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, phát hiện dấu hiệu vi phạm.

Đẩy mạnh giáo dục chính trị, pháp luật và kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, nâng cao “sức đề kháng xã hội” cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, trước các thông tin sai trái trên không gian mạng. Khi mỗi cán bộ, đảng viên và người dân có bản lĩnh chính trị, hiểu biết pháp luật và kỹ năng số, mọi âm mưu lợi dụng danh nghĩa XHDS sẽ khó có điều kiện phát huy tác dụng.

Phát huy vai trò của báo chí chính thống, lực lượng chuyên trách và từng công dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên và công dân trở thành “người gác cổng thông tin” trên không gian mạng, tăng cường kỹ năng xác minh nguồn tin, nhận diện AI, Deepfake và các thủ đoạn thao túng thông tin trên không gian mạng; chủ động kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, không tiếp tay cho thông tin sai sự thật và kịp thời phát hiện, phản ánh vi phạm đến cơ quan chức năng.

Tăng cường hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và pháp luật Việt Nam; kiên quyết ngăn chặn, đấu tranh mọi sự can thiệp từ bên ngoài vào nội bộ dưới bất kỳ hình thức nào.

Đồng thời tạo điều kiện để các tổ chức xã hội hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, tham gia tích cực vào công tác an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, khuyến học, cứu trợ thiên tai… qua đó lan tỏa các giá trị tích cực, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Mỗi người dân không chỉ là đối tượng được bảo vệ mà còn là chủ thể tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và an ninh quốc gia trên không gian mạng.

Nhận diện đúng bản chất của XHDS, phát huy những giá trị tích cực và kiên quyết đấu tranh với mọi hành vi lợi dụng danh nghĩa XHDS để chống phá đất nước là yêu cầu khách quan, đồng thời là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Ảnh 1: Người dân vùng ven Khu Di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ) thực hiện nghi lễ rước kiệu về Đền Hùng, trong khuôn khổ Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2023.

Ảnh 2: Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam: Không gian làng dân tộc Gia Rai.

Ảnh 3: Đồng bào làng Kon Sơ Lah, tỉnh Gia Lai biểu diễn cồng chiêng.
#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÀ NỘI THÔNG TIN VIỆC DI CHUYỂN TƯỢNG ĐÀI “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH”!

     Tối 20/8, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội đã có thông cáo báo chí về việc di chuyển tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” về Bộ Tư lệnh Thủ đô để tiếp tục gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, cách mạng của công trình.

Theo đó, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng vũ trang Thủ đô (19/10/1946 - 19/10/2026) và 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026), trên cơ sở nghiên cứu, tham vấn ý kiến các cơ quan, đơn vị, chuyên gia và nhà khoa học, UBND TP Hà Nội chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tư lệnh Thủ đô, UBND phường Hoàn Kiếm phối hợp triển khai phương án di chuyển tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại khuôn viên di tích Quốc gia Đền Bà Kiệu về Trung đoàn 692, Sư đoàn Bộ binh 301, Bộ Tư lệnh Thủ đô để tiếp tục gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, cách mạng của công trình.

“Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” là câu nói được trích trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô; hình ảnh các chiến sĩ được khắc họa cùng câu nói bất hủ ấy góp phần tôn vinh tinh thần chiến đấu anh dũng, quả cảm của quân dân Hà Nội trong cuộc chiến 60 ngày đêm khói lửa, mở đầu cho cuộc Toàn quốc kháng chiến.

Hiện nay, gần khu vực trên, có bức phù điêu Hà Nội mùa đông 1946 tại chợ Đồng Xuân và tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại vườn hoa Vạn Xuân.

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ý kiến của cơ quan chuyên môn, các nhà khoa học và đơn vị liên quan trong quá trình nghiên cứu đều thống nhất phương án đưa tượng đài về Bộ Tư lệnh Thủ đô là phù hợp với ý nghĩa lịch sử của công trình vì gắn với quá trình ra đời, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang Thủ đô.

Đối với Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, được tiếp nhận tượng đài là niềm vinh dự, tự hào và cũng là trách nhiệm sâu sắc trước lịch sử, trước các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Thủ đô và nhân dân Hà Nội. Việc tượng đài “Quyết tử” được đặt tại nơi trang nghiêm trong khuôn viên Bộ Tư lệnh Thủ đô không chỉ bảo tồn nguyên vẹn giá trị lịch sử, văn hóa của công trình mà còn góp phần phát huy hiệu quả chức năng giáo dục truyền thống cách mạng, khơi dậy niềm tự hào, tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ và thế hệ trẻ hôm nay.

Theo kế hoạch, tượng đài sẽ được di chuyển, lắp dựng trước ngày 30/9/2026./.
Ảnh: Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.
#QV-ST!

MINH CHỨNG SINH ĐỘNG PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM!

     Nhận lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Toàn quyền New Zealand Cindy Kiro, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9 - 14/8/2026.

Chuyến thăm mang ý nghĩa lịch sử, khẳng định tầm quan trọng của quan hệ giữa Việt Nam và các nước trước những biến động sâu sắc của tình hình thế giới, khu vực, vì lợi ích nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.

Thế nhưng, lợi dụng sự kiện này, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong đã tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, quy chụp nội dung, ý nghĩa chuyến thăm nhằm hạ uy tín của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế cũng như gây hoài nghi trong cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống tại các quốc gia trên.

Thủ đoạn kích động, phá hoại, gây rối trên không gian mạng

Các trang mạng, blog, website của các tổ chức phản động, các trung tâm truyền thông như Việt Tân, RFI, RFA… hay số đối tượng chống đối lưu vong như Nguyễn Văn Đài, Huệ Như, Lê Trung Khoa… đã tăng tần suất các bài viết có nội dung xuyên tạc, bóp méo mục đích, ý nghĩa chuyến thăm, bôi nhọ hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Các đối tượng kích động cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập, lao động tại Australia tổ chức các hoạt động tụ tập đông người, biểu tình tại khu vực có đông người Việt Nam sinh sống, khu vực diễn ra các hoạt động của đoàn và Đại sứ quán Việt Nam tại Australia với những yêu sách như đòi thả “tù nhân lương tâm”, trả tự do cho các “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà báo cải cách” …

Một số đối tượng đưa ra những nội dung sai trái, quy chụp việc “củng cố quyền lực mềm”, kêu gọi Chính phủ Australia gây sức ép vấn đề dân chủ, nhân quyền với Việt Nam; cho rằng quan hệ Việt Nam – Australia cũng như với New Zealand sẽ không phát triển nếu như Việt Nam không cải thiện được vấn đề dân chủ, nhân quyền, nếu không xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và đi theo con đường đa nguyên, đa đảng. Có bài viết tiếp tục luận điệu vu cáo rằng, chuyến thăm là chỉ dấu cho thấy Việt Nam “ngả bên này, tránh bên kia” hòng gây tâm lý ngờ vực, phân tâm trong dư luận.

Thực tế, dù các đối tượng tìm cách kêu gọi và thông tin cổ suý trên mạng xã hội trước chuyến công du của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhưng số lượng người tham gia biểu tình, phản đối chỉ có một nhóm nhỏ riêng rẽ, đứng lẻ loi, lạc lõng giữa trời nắng nóng và số này hầu như không nhận được sự quan tâm của người dân, chính quyền sở tại. Không kêu gọi được đông người tham gia biểu tình, các đối tượng tiếp tục sử dụng mạng xã hội viết các bài tỏ thái độ hậm hực, dùng lời lẽ miệt thị, chế giễu hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, bôi nhọ quan hệ đối ngoại Việt Nam với Australia, New Zealand.

Đáng chú ý, các luận điệu này không còn dừng ở việc viết bài hay phát biểu đơn lẻ mà được lan truyền trên mạng xã hội dưới nhiều hình thức như dựng video cắt ghép, hình ảnh giả mạo, sử dụng công nghệ AI để tạo nội dung sai lệch hòng khiến người tiếp nhận khó phân biệt thật - giả. Chúng núp bóng dưới danh nghĩa “phân tích”, “phản biện”, “góc nhìn cá nhân” để tạo cảm giác khách quan nhưng thực chất là dẫn dắt nhận thức theo hướng sai lệch.

Trái ngược với những hành động lạc lõng, sai trái đó là rất đông kiều bào Việt Nam đang sinh sống tại Australia, New Zealand đã chào mừng, tiếp đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các cuộc gặp thân mật, nồng ấm. Một sự trùng hợp thú vị khi cũng trong thời gian trên, ngày 11/8/2026, CLB bóng đá Công an Hà Nội đã có chuyến làm khách tại Australia và xuất sắc giành chiến thắng trước CLB Adelaide Utd để viết nên trang sử mới, trở thành đội bóng Việt Nam đầu tiên trong lịch sử vượt qua vòng play-off Cúp C1 châu Á (AFC Champions League, nay là AFC Champions League Elite). Hòa trong niềm vui này, có rất nhiều cổ động viên là kiều bào ta mang trên tay lá cờ đỏ sao vàng đến sân cổ vũ, tiếp sức cho đội tuyển. Không khí náo nức, tưng bừng đó khiến cho hành động tụ tập của những kẻ chống phá càng trở nên cô độc, lạc lõng, trở thành trò lố bị chính người dân bản địa tẩy chay.

Điểm chung của các luận điệu xuyên tạc, chống phá là đánh tráo khái niệm, suy diễn phi logic, chụp mũ dân chủ, nhân quyền để lấy cớ đả kích, bôi nhọ. Những luận điệu đó không chỉ sai trái về nhận thức, bóp méo bản chất đường lối đối ngoại của Việt Nam mà còn nhằm kích động, chia rẽ, gây hoang mang trong xã hội; từng bước làm xói mòn niềm tin của nhân dân, gây nhiễu loạn nhận thức, từ đó phục vụ mưu đồ chống phá nền tảng tư tưởng và đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước; tạo cớ chia rẽ mối quan hệ gắn kết, khối đại đoàn kết dân tộc giữa kiều bào ta ở nước ngoài với Tổ quốc, hạ thấp vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thành công của chuyến thăm là minh chứng khách quan phản bác những luận điệu bôi nhọ, chống phá

Trong bối cảnh cục diện thế giới và khu vực đang chuyển biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ quan hệ song phương. Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới hai nước trên cương vị mới, diễn ra vào thời điểm quan trọng trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Australia và Việt Nam - New Zealand đều đã được nâng lên Đối tác Chiến lược toàn diện và đang phát triển hết sức mạnh mẽ.

Chuyến thăm khẳng định sự coi trọng cao của Đảng và Nhà nước ta đối với hai đối tác quan trọng này, đồng thời tạo xung lực đưa các khuôn khổ quan hệ mới đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả theo hướng đồng hành, đồng hợp tác, đồng kiến tạo. Chuyến thăm cũng mang ý nghĩa lịch sử, khẳng định tầm quan trọng của quan hệ giữa Việt Nam và các nước trước những biến động sâu sắc của tình hình thế giới, khu vực, vì lợi ích nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.

Theo Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia và New Zealand đã thành công rất tốt đẹp với các mục tiêu đề ra đạt được ở mức cao. Các nước đều dành cho cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao sự đón tiếp thân tình trọng thị với nghi lễ cao nhất. Các cuộc hội đàm, hội kiến, tiếp xúc với lãnh đạo cấp cao, Quốc hội, chính giới, doanh nghiệp, học giả và nhân dân hai nước diễn ra trong không khí tin cậy, cởi mở, thực chất.

Các nhà lãnh đạo Australia và New Zealand đều khẳng định hết sức coi trọng quan hệ với Việt Nam, đề cao các thành tựu phát triển mọi mặt của Việt Nam, tầm nhìn của nhà lãnh đạo Việt Nam đối với sự phát triển đất nước cũng như vai trò, vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế; khẳng định sự tương đồng chiến lược trong đánh giá và cách thức giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực. Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó dự đoán, yêu cầu phát triển tại mỗi nước ngày càng cao lại càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam và Australia, New Zealand để giảm thiểu các tác động tiêu cực và cùng đồng hành trong phát triển đất nước. Nhiều văn kiện, thỏa thuận hợp tác quan trọng được ký kết, tạo thêm cơ sở triển khai các định hướng lớn đạt được trong chuyến thăm.

Chuyến thăm đã củng cố mạnh mẽ tin cậy chính trị và tạo xung lực mới để nâng tầm quan hệ với cả Australia và New Zealand. Bên cạnh chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại - đầu tư, lãnh đạo Việt Nam và hai nước cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh – quốc phòng, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Những kết quả nổi bật của chuyến thăm cũng đã gắn kết chặt chẽ hơn hợp tác đối ngoại với các yêu cầu phát triển của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dành sự quan tâm đặc biệt tới cộng đồng người Việt Nam tại Australia và New Zealand, nhất là đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã gặp gỡ, lắng nghe và trao đổi với đại diện cộng đồng, qua đó khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc và là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước. Cộng đồng trí thức, chuyên gia, doanh nhân Việt Nam tại Australia, tiêu biểu là Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam tại Australia (VASEA) đã thể hiện tinh thần tha thiết hướng về quê hương, mong muốn tăng cường kết nối, chia sẻ tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế, qua đó đóng góp thiết thực cho sự phát triển đất nước.

Có thể khẳng định, chuyến thăm đã tạo được cả “độ sâu” về chính trị và “độ mở” về hợp tác. Chuyến thăm là một dấu ấn đối ngoại quan trọng, góp phần triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng, khẳng định chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa nhất quán của Việt Nam, củng cố cục diện đối ngoại thuận lợi, mở rộng không gian hợp tác và nâng cao vai trò vị thế của Việt Nam ở khu vực.

Đáng chú ý, truyền thông quốc tế đã có nhiều tin, bài phân tích về các hoạt động cũng như ý nghĩa chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Hãng tin Hiệp hội Truyền thông Australia (AAP) khẳng định, quan hệ Việt Nam-Australia được xây dựng trên nền tảng tin cậy chiến lược sâu sắc, lợi ích tương đồng và quyết tâm chung vì tương lai của khu vực.

AAP trích dẫn phát biểu của Thủ tướng Anthony Albanese trước chuyến thăm: "Tôi rất mong chờ được đón tiếp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia và cùng thảo luận về các giải pháp tăng cường hợp tác giữa hai nước". Hay trang thông tin của Viện Chính sách Chiến lược Australia (ASPI) nhấn mạnh, Việt Nam hiện đã vươn lên nằm trong nhóm 10 đối tác thương mại lớn nhất của Australia, trong khi Australia tiếp tục giữ vị thế là đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam.

Trung tâm truyền thông châu Á (Asia Media Center) của New Zealand đã có bài viết phân tích về ý nghĩa cũng như kỳ vọng của chuyến thăm. Bài viết khẳng định, chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tạo thêm động lực cho quan hệ Việt Nam - New Zealand sau khi hai nước nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện. Với New Zealand, Việt Nam ngày càng trở thành một nền kinh tế lớn, năng động và có khả năng kết nối với nhiều mạng lưới khu vực…

Bằng sự đón tiếp trang trọng và những kết quả đạt được trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã chứng minh đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng ta, thể hiện nét đặc sắc đường lối đối ngoại vì lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc, đóng góp vào hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới, hoàn toàn không có chuyện “theo bên này, chống bên kia” như luận điệu những kẻ xấu, cố tình xuyên tạc, bịa đặt. Đó là minh chứng khách quan, sinh động, phản bác những luận điệu bôi nhọ, chống phá, những hành động trơ trẽn và lạc lõng của các thế lực xấu./.
Ảnh 1: Toàn quyền Sam Mostyn chủ trì lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phủ Toàn quyền Australia, thủ đô Canberra, Australia. 

Ảnh 2: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Australia thông báo kết quả hội đàm giữa hai nước.

Ảnh 3: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp một số trí thức, nhà khoa học tiêu biểu thuộc Hội Trí thức, chuyên gia người Việt Nam tại Australia.

Ảnh 4: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon chụp ảnh chung.
#QV-ST!

PHẢN BIỆN HAY QUY KẾT?

     Có những vụ việc đã khép lại nhưng những cuộc tranh luận về nó vẫn chưa dừng.

Một quyết định khởi tố được ban hành. Dư luận quan tâm. Cơ quan điều tra vào cuộc. Báo chí phản ánh. Người dân theo dõi. Đó là trình tự bình thường của một xã hội pháp quyền, nơi mọi dấu hiệu vi phạm đều cần được phát hiện, xác minh và xử lý công khai, minh bạch.

Nhưng cũng từ thời điểm ấy, trên không gian mạng lại bắt đầu một hành trình khác. Mỗi ngày xuất hiện thêm những bài viết, những bình luận, những câu hỏi mới. Có những câu hỏi giúp sự thật tiến thêm một bước. Nhưng cũng có những câu hỏi dường như không còn nhằm tìm kiếm câu trả lời, mà chỉ để giữ cho cuộc tranh luận tiếp tục tồn tại.

Đó là hiện tượng ngày càng dễ bắt gặp trong đời sống số hôm nay.

Không ai phủ nhận vai trò của báo chí và dư luận trong việc phát hiện sai phạm. Không ít vụ việc tiêu cực đã được đưa ra ánh sáng từ những phản ánh của người dân, từ những cuộc “điều tra” của báo chí, từ sự lên tiếng kiên trì của xã hội. Nếu không có những tiếng nói ấy, nhiều sai phạm có thể đã bị bỏ qua hoặc bị xử lý chậm hơn. Đó là sức mạnh của phản biện.

Nhưng chính vì phản biện có giá trị nên nó càng cần được sử dụng đúng lúc, đúng cách. Một thông tin mới, một chứng cứ mới hay một tình tiết mới đều có thể giúp sự thật rõ ràng hơn.

Ngược lại, nếu nhiều ngày, nhiều tuần sau, sự việc được nhắc đi nhắc lại vẫn chỉ là những dữ kiện đã công bố, những nghi vấn cũ được diễn đạt bằng những cảm xúc mới, thì điều đang được duy trì chưa chắc còn là hành trình tìm kiếm sự thật. Có thể chỉ là hành trình kéo dài một cuộc tranh luận chưa biết khi nào kết thúc.

Những tranh luận sau vụ việc liên quan đến cuốn sách Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng là một ví dụ đáng suy ngẫm. Sau khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án và đang tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật, trên không gian mạng vẫn xuất hiện nhiều bài viết và bình luận không chỉ yêu cầu tiếp tục làm rõ vụ việc mà còn đề nghị, thậm chí khẳng định cần phải xử lý thêm cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản, một số cơ quan báo chí và những người đứng đầu cơ quan báo chí.

Nếu những quan điểm ấy được đặt ra trên cơ sở những chứng cứ hoặc tình tiết mới thì đó là điều cần được lắng nghe và xem xét. Nhưng nếu không có thêm căn cứ mới mà chỉ tiếp tục suy diễn từ những dữ kiện đã được công bố, thì cuộc tranh luận rất dễ dịch chuyển từ phản biện sang quy kết. Khi đó, mục tiêu không còn là góp phần làm sáng tỏ sự thật, mà là tiếp tục mở rộng phạm vi của những người bị cho là phải chịu trách nhiệm.

Đó không còn chỉ là câu chuyện của riêng một cuốn sách. Nó đặt ra một câu hỏi rộng hơn về cách chúng ta ứng xử với thông tin trên không gian mạng.

Phản biện và kết luận không phải là một. Mỗi người đều có quyền bày tỏ quan điểm, phản biện và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tiếp tục làm rõ một vụ việc. Chính những tiếng nói ấy, nhiều khi đã góp phần phát hiện sai phạm và thúc đẩy quá trình xử lý. Nhưng một bài viết chỉ có thể đặt ra nghi vấn; một bình luận có thể yêu cầu tiếp tục xác minh; một ý kiến có thể kiến nghị xem xét trách nhiệm khi xuất hiện những căn cứ mới. Còn việc xác định một cá nhân hay một tổ chức có vi phạm pháp luật hay không, phải chịu trách nhiệm đến đâu và chịu hình thức xử lý nào luôn phải được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở chứng cứ và theo đúng trình tự pháp luật. Khi ranh giới ấy bị xóa nhòa, phản biện rất dễ chuyển thành quy kết, còn những suy đoán được lặp đi lặp lại lại dần bị xem như những kết luận đã được xác lập.

Trong đời sống hằng ngày, ai cũng hiểu rằng một lời nhắc nhở chỉ có ý nghĩa khi nó giúp người khác sửa sai. Không ai muốn một lỗi lầm đã được nhìn nhận vẫn bị nhắc đi nhắc lại mãi, để rồi sai lầm ấy trở thành cái bóng đi theo một con người hay một tập thể. Trong đời sống xã hội cũng vậy.

Pháp luật không chỉ nhằm xử lý người có hành vi vi phạm, mà trước hết còn bảo đảm rằng mọi kết luận về trách nhiệm pháp lý đều phải dựa trên chứng cứ khách quan và được xác lập theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Suy đoán, nhận định chủ quan hay dư luận xã hội, dù phổ biến đến đâu, cũng không phải là căn cứ để xác định trách nhiệm của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Nếu việc quy kết trách nhiệm được hình thành từ dư luận thay vì từ chứng cứ, thì điều bị tổn hại không chỉ là danh dự và quyền lợi của người bị quy kết, mà còn là niềm tin của xã hội vào sự công bằng của pháp luật.

Một xã hội luôn cần những tiếng nói phản biện. Nhưng một xã hội pháp quyền cũng cần tôn trọng ranh giới giữa quyền phản biện của công dân và thẩm quyền kết luận của pháp luật. Hai điều ấy không hề mâu thuẫn. Phản biện giúp phát hiện vấn đề, thúc đẩy sự thật được làm sáng tỏ. Còn kết luận về trách nhiệm của một cá nhân hay một tổ chức phải được xác lập bằng chứng cứ và bởi các cơ quan có thẩm quyền.

Tôn trọng ranh giới ấy không phải là ngừng phản biện. Đó là cách để mỗi tiếng nói không đi xa hơn những gì sự thật đã được kiểm chứng./.
Ảnh: Bị can Nguyễn Thành Nam thừa nhận nhiều nội dung trong sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" là sai sự thật.


#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: KIẾN NGHỊ KHÔNG DI DỜI TƯỢNG ĐÀI “QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH”!

     Tôi trân trọng đề nghị UBND thành phố Hà Nội và các cơ quan chức năng xem xét không di dời tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” khỏi khuôn viên Di tích Quốc gia Đền Bà Kiệu, đồng thời công khai, làm rõ căn cứ, sự cần thiết, mục đích và toàn bộ phương án liên quan đến chủ trương di dời.

“Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” không đơn thuần là một công trình kiến trúc hay một khối tượng bằng đá.

Đó là một biểu tượng lịch sử, khắc họa hình ảnh quân và dân Thủ đô trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến; là sự ghi nhớ đối với những con người đã chấp nhận hy sinh tính mạng để bảo vệ Hà Nội, bảo vệ Tổ quốc.

Những người đã ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch không chiến đấu để chờ được dựng tượng. 
✅ Họ chiến đấu vì Tổ quốc. 
Nhưng khi thế hệ hôm nay dựng tượng đài để tưởng niệm, thì đó chính là cách những người đang sống bày tỏ lòng tri ân đối với những người đã ngã xuống.

Vì vậy, một biểu tượng được dựng lên từ máu xương và ký ức của quân dân Thủ đô không thể được xem đơn thuần là một vật thể có thể tùy tiện di chuyển từ nơi này sang nơi khác.

Theo thông tin được công bố, lý do di chuyển là thực hiện chủ trương quy hoạch, chỉnh trang và phát huy giá trị không gian khu vực phía Đông hồ Hoàn Kiếm, đồng thời đưa tượng về Trung đoàn 692, Sư đoàn 301, Bộ Tư lệnh Thủ đô để bảo tồn và giáo dục truyền thống.

Tuy nhiên, chính từ đây, người dân có quyền đặt câu hỏi:
1. Vì sao nhất thiết phải di dời tượng đài?

Không gian hiện nay có thực sự không còn phù hợp với việc tồn tại của tượng đài hay không?

Có những phương án nào đã được nghiên cứu để vừa chỉnh trang cảnh quan hồ Hoàn Kiếm, vừa giữ nguyên tượng đài tại vị trí hiện nay?

Các phương án đó đã được so sánh, đánh giá như thế nào?

2. Mục đích thực sự của việc di dời là gì?

Nếu mục tiêu là bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử thì tại sao phải đưa một biểu tượng lịch sử của quân và dân Thủ đô từ một không gian công cộng, nơi người dân và du khách có thể tiếp cận hàng ngày, vào khuôn viên một đơn vị quân đội?

Nếu đưa về Bộ Tư lệnh Thủ đô để “phát huy giá trị”, cần công khai cụ thể cơ chế để nhân dân, học sinh, sinh viên và du khách có thể tiếp cận, tham quan, tìm hiểu và tưởng niệm tượng đài.

3. Căn cứ pháp lý và quyết định nào cho việc di dời?

Người dân cần được biết:

📌 Cơ quan nào đề xuất?
📌 Cơ quan nào quyết định?
📌 Căn cứ pháp lý nào?
📌 Hồ sơ, phương án và đánh giá chuyên môn nào làm cơ sở cho việc di dời?
📌 Những phương án giữ nguyên tượng đài tại vị trí hiện nay đã được xem xét hay chưa?
📌 Ai chịu trách nhiệm về việc lựa chọn phương án di dời?

Nếu đã có nghiên cứu và tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà khoa học như cơ quan chức năng thông tin, đề nghị công khai nội dung, tiêu chí và kết quả của quá trình tham vấn đó, để Nhân dân có thể hiểu và giám sát.

4. Cần đánh giá cả giá trị lịch sử của “vị trí” chứ không chỉ giá trị của “pho tượng”.

Một tượng đài lịch sử không chỉ có giá trị bởi hình dáng, chất liệu hay quy mô.

Giá trị của nó còn nằm ở không gian mà người dân nhìn thấy nó, câu chuyện lịch sử mà nó gợi nhớ và mối liên hệ giữa biểu tượng với cộng đồng.

Nếu đưa tượng đài vào một khu vực thuộc đơn vị quân đội, khả năng tiếp cận của đông đảo người dân và du khách chắc chắn sẽ khác so với một không gian công cộng bên hồ Hoàn Kiếm.

Do đó, không thể chỉ nói rằng “đưa về nơi trang nghiêm hơn” là đã đồng nghĩa với “phát huy giá trị tốt hơn”.

Bảo tồn lịch sử không chỉ là giữ nguyên pho tượng. Bảo tồn lịch sử còn phải giữ được khả năng để Nhân dân tiếp cận với lịch sử.

KIẾN NGHỊ

Từ những vấn đề trên, tôi kính đề nghị UBND thành phố Hà Nội và các cơ quan có thẩm quyền:

✅ Một là, tạm dừng việc di dời tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” khỏi khuôn viên Đền Bà Kiệu để tiếp tục đánh giá đầy đủ các phương án.

✅ Hai là, ưu tiên phương án giữ nguyên tượng đài tại không gian công cộng hiện nay, nếu có thể bảo đảm đồng thời yêu cầu chỉnh trang cảnh quan, bảo tồn di tích và phát huy giá trị văn hoá, lịch sử khu vực hồ Hoàn Kiếm.

✅ Ba là, công khai căn cứ pháp lý, quyết định, hồ sơ, phương án và lý do cụ thể dẫn đến chủ trương di dời.

✅ Bốn là, làm rõ mục đích, sự cần thiết và hiệu quả thực tế của việc đưa tượng đài vào khuôn viên Trung đoàn 692, Sư đoàn 301, Bộ Tư lệnh Thủ đô.

✅ Năm là, nếu vẫn quyết định di dời, cần công khai phương án bảo đảm quyền tiếp cận của Nhân dân đối với tượng đài và cơ chế để học sinh, sinh viên, người dân, du khách có thể tham quan, tìm hiểu, tưởng niệm và giáo dục truyền thống tại đây.

➡️ Đây không phải là câu chuyện phản đối việc chỉnh trang Hà Nội. Cũng không phải là phủ nhận quyền của cơ quan quản lý trong việc quy hoạch không gian đô thị.
➡️ Đây là câu chuyện về cách chúng ta ứng xử với lịch sử.

Một thế hệ đã “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Thế hệ hôm nay có trách nhiệm giữ lại ký ức ấy cho các thế hệ mai sau.

Nếu di dời là thực sự cần thiết, hãy giải thích cho Nhân dân biết vì sao cần thiết. Nếu di dời để bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, hãy chứng minh rằng sau khi di dời, Nhân dân sẽ được tiếp cận với lịch sử nhiều hơn chứ không phải ít đi.

Đừng để một biểu tượng được dựng lên giữa lòng Thủ đô từ sự hy sinh của quân và dân Hà Nội trở thành một biểu tượng mà chính người dân Hà Nội lại khó tiếp cận.

Lịch sử thuộc về Nhân dân. Những người đã hy sinh vì Thủ đô thuộc về ký ức của Nhân dân. Và việc di chuyển một biểu tượng lịch sử như “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” cần một lời giải thích thật sự thuyết phục trước Nhân dân./.

#QV-ST!

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

HÃY CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN BIỂU TÌNH, BẠO LOẠN CỦA "GENZ PHẢN ĐỘNG" TRONG NƯỚC!

     Hãy chia sẻ mạnh mẽ thông tin này cho mọi gia đình cùng biết để phòng tránh âm mưu của đám phản động, để chúng ta - dân tộc ta đón một dịp Lễ Quốc Khánh 2/9/2026 với niềm vui độc lập trọn vẹn bình yên.

Vụ việc gốc cây số 55 đường Nguyễn Huy Tự, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội là nơi từng xảy ra vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng vào ngày 30/5/2025 khiến một nữ sinh tử vong đã được xử lý dứt điểm, gia đình nạn nhân không có ý kiến gì lên tiếng trước công luận.Thế nhưng, bất ngờ vụ việc cách xa hơn cả năm trời lại bùng phát trở lại thành một hiện tượng xã hội vào đầu tháng 8/2026 này? 

GENZ là gì? Gọi đúng với bản chất sự việc ngày xưa thì gọi là TRẺ TRÂU 🐃 🐃 🐃

Biểu hiện của nó tại thực địa xẩy ra tai nạn cho thấy nhiều người trẻ (chủ yếu GenZ) nghi vấn là thành viên hội yêu cây, yêu hoa, hội yêu dân chủ nhân quyền, chóa quyền Tây mơ lông đến đây bằng cách đặt hoa tại gốc cây và dơ 3 ngón tay chào như các hành vi bạo loạn ở Hồng Kông, Bangladesh, Nepal... và ở một số nước khác thời gian qua rồi chụp ảnh, quay video đăng lên MXH hô hào bạo động biểu tình đòi công lý với khẩu hiệu "sự thật cần được tôn trọng, làm rõ và người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật..." cho cô gái ấy để tạo ra một tâm lý dư luận xã hội tiêu cực và nguy hiểm cho xã hội, cho cuộc sống bình yên trên phố phường Hà Nội.

Theo "các nguồn tin tình báo nước ngoài" nhận định: Gốc cây 55 chính là âm mưu của thế lực thù địch bên ngoài lưu vong kết hợp với bọn GenZ phản động trong nước đang thực hiện các chiêu trò bảo động cho một hoạt động chống đối nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc Khánh mồng 2/9 tới đây. 

Vì sao lại nhận định là một âm mưu chống phá thì đây vừa là câu hỏi, vừa là câu trả lời chính xác nhất:

Vụ nữ sinh bị tai nạn tại đường Nguyễn Huy Tự, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội đã được đưa đi cấp cứu, điều trị và sau đó đã mất tại bệnh viện, chứ không phải ở gốc cây 55 này.

Vụ việc sau đó đã được giải quyết bằng các quy định của pháp luật và 2 gia đình.

Giỗ đầu của cô gái đã hơn 2 tháng rồi.

Người nhà nạn nhân không có ý kiến gì, kể cả những bài viết trên MXH cũng không xuất hiện.

Bạn bè thân thiết của cô gái vẫn đến sẻ chia với gia đình nỗi mất mát ấy.

Chính quyền sở tại cũng thường xuyên động viên quan tâm gđ nạn nhân không có phản ứng gì từ trong gia đình, anh em, họ hàng, bạn bè thân thiết của nạn nhân.

Việc phản ứng hầu như chỉ thấy ở mấy trang phản đông dựng cảnh đặt hoa, lên tiếng, đến đây chủ yếu toàn đám "GenZ nngu dân" phát ra những lời lẽ rất tăng động và ảo ảo, mây mây, chứng tỏ rõ ràng chúng đang tạo cớ "gây hấn" tại gốc cây này chứ không phải là một vụ việc đòi lại công lý cho cô gái.

Có thể kết luận rằng đây là âm mưu của bọn phản động kích động. Song, mọi âm mưu thủ đoạn của chúng đã bị bại lộ, và lộ rõ nguyên hình. Ở Ucraina, Hồng Kông, Bangladesh, Nepal... hay bất kỳ quốc gia nào, bọn chống đối bên ngoài lưu vong kết hợp với bọn GenZ phản động trong nước có thể kích động được đông đảo "GenZ nngu dân" ra đường biểu tình, bạo loạn phá nát đất nước...

Nhưng ở Việt Nam, chúng mày khó thoát khỏi vòng tay của lực lượng An ninh và của "Phong trào TOÀN DÂN bảo vệ An ninh tổ Quốc" của Việt Nam!

Người dân Việt Nam chủ động cảnh giác cùng với các lực lượng đập tan âm mưu của chúng. Cha mẹ, người thân của giới trẻ hãy giải thích điều này để các cháu nhận thức đúng bản chất, âm mưu của bọn giặc cỏ "GenZ phản động" trong nước, đừng để lòng thương cảm trở thành “mồi lửa” châm ngòi cho bạo loạn. Đừng để sự nhiệt huyết của thế hệ trẻ vô tình bị sử dụng cho những mục đích gây mất ổn định!

Hãy chia sẻ mạnh mẽ thông tin này cho mọi gia đình cùng biết để phòng tránh âm mưu của đám phản động, để chúng ta - dân tộc ta đón một dịp Lễ Quốc Khánh 2/9/2026 với niềm vui độc lập trọn vẹn bình yên./.




#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẠI SAO TRUNG QUỐC LẠI "GĂM" TÊN LỬA SAM-3 LIÊN XÔ VIỆN TRỢ CHO VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1972?

     Nhiều người thường thắc mắc: Trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" tháng 12/1972, nếu có trong tay hệ thống SAM-3 (S-125 Pechora) hiện đại hơn, bớt bị nhiễu hơn, chúng ta có thể làm phá sản cuộc tập kích của Mỹ nhanh hơn nữa hay không? Và tại sao các đoàn tàu chở khí tài này từ Liên Xô lại bị ách tắc tại Trung Quốc?

Hãy cùng nhìn lại bức tranh địa chính trị đầy sóng gió của thập niên 70 để hiểu rõ bản chất vấn đề.

1. Bàn cờ địa chính trị Mỹ - Trung - Xô (Thập niên 1970)
- Sự rạn nứt Trung - Xô: Cuối những năm 1960, quan hệ giữa Bắc Kinh và Moscow rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng (đỉnh điểm là xung đột biên giới đảo Trân Bảo năm 1969). Trung Quốc xem Liên Xô là mối đe dọa lớn nhất.

- Cái bắt tay lịch sử Nixon - Mao Trạch Đông (2/1972): Để đổi lấy việc Mỹ rút khỏi Đài Loan, công nhận vị thế quốc tế và dỡ bỏ cấm vận, Trung Quốc chấp nhận trở thành "đối tác chiến lược" ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Á.

- Quân bài Việt Nam: Mỹ muốn Trung Quốc ép Việt Nam chấp nhận giải pháp có lợi cho Washington trên bàn đàm phán Paris. Ngược lại, Bắc Kinh cũng muốn duy trì một Việt Nam không quá mạnh, không độc lập hoàn toàn để giữ vai trò "vùng đệm".

2. Đằng sau sự chậm trễ của những chuyến tàu viện trợ:
- "Câu giờ" để làm hài lòng Washington: Việc làm chậm tiến độ giao các khí tài hạng nặng như SAM-3 hay các dòng máy bay hiện đại qua đường sắt quá cảnh là tín hiệu ngầm Bắc Kinh gửi đến Mỹ: Họ đang tích cực phối hợp để giảm áp lực quân sự lên Mỹ tại chiến trường Việt Nam.

- Cản trở ảnh hưởng của Liên Xô: Trung Quốc không muốn Việt Nam tiếp nhận quá nhiều vũ khí tiên tiến từ Moscow, lo ngại Việt Nam sẽ hoàn toàn ngả về phía Liên Xô sau khi chiến tranh kết thúc.

- Lý do "thủ tục" và "xung đột tuyến đường": Hàng loạt rào cản hành chính, kiểm tra kéo dài, thậm chí là giữ lại để nghiên cứu công nghệ đã làm chậm đáng kể thời gian khí tài đến tay lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam.

3. Khối óc "vàng" và Bản lĩnh Việt Nam

- Không có SAM-3 như dự kiến, Bộ đội Tên lửa Việt Nam bước vào cuộc đối đầu lịch sử với B-52 chỉ bằng SAM-2 (S-75 Dvina) - dòng tên lửa thế hệ cũ hơn và bị không quân Mỹ nghiên cứu, gây nhiễu dải rộng cật lực.

- Nhưng người Việt Nam đã làm nên điều kỳ diệu:
+ Sáng tạo nghệ thuật quân sự: Vạch nhiễu tìm thù, cải tiến khí tài, tận dụng mọi phương pháp bắt mục tiêu bằng mắt và tính toán tọa độ thủ công.

+ Xây dựng lưới lửa nhiều tầng: Kết hợp pháo cao xạ, dân quân tự vệ tầm thấp ép B-52 phải bay vào đúng "luồng chết" của SAM-2.

🔥 Lời kết:
Chiến thắng 12 ngày đêm lịch sử năm 1972 không chỉ là chiến thắng trước pháo đài bay B-52 của Mỹ, mà còn là minh chứng hùng hình cho tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc. Trên bàn cờ địa chính trị của các nước lớn, Việt Nam đã chiến thắng bằng chính lòng dũng cảm, trí tuệ và bản lĩnh không chịu khuất phục của mình!


#QV-ST!