Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ÁNH SÁNG HỒ CHÍ MINH SOI ĐƯỜNG CHO CHÚNG TA ĐI

     Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "ÁNH SÁNG HỒ CHÍ MINH SOI ĐƯỜNG CHO CHÚNG TA ĐI".

Ngày 19 tháng 5 năm 2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ Nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với Nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, Nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.

Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ XX, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI. Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.

Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; cung cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.

Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.

Trước hết, tư tưởng "dân là gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với Nhân dân.

Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.

Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng "sánh vai với các cường quốc năm châu" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với Nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.

Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống Nhân dân.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài-đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân.

Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.

Từ đó có thể thấy, các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời Nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ Nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo công việc của mình.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ Nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của Nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.

Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ Nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của Nhân dân.

Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.


QV-ST!

VIỆT NAM THẾ GIỚI: VIỆT NAM - TỪ CHIẾN TRANH GIAN KHÓ ĐẾN ĐIỂM TỰA LƯƠNG THỰC CỦA ASEAN!

     Lịch sử Đông Nam Á từng chứng kiến những chương đầy nghịch lý và đau thương. Trong những năm tháng khói lửa, trong khi nhân dân Việt Nam phải đổ máu để bảo vệ độc lập, thì không ít quốc gia láng giềng lại tìm thấy "cơ hội vàng" để kiến thiết nền kinh tế từ chính cuộc chiến này.

Đơn cử như đất nước xứ Chùa Vàng Thái Lan. Quốc gia này từng là "hạm đội tàu sân bay không bao giờ chìm" của Mỹ với 7 căn cứ quân sự khổng lồ. Giai đoạn 1965-1970, Mỹ đã đổ vào đây hơn 2,2 tỷ USD viện trợ và khoảng 200 triệu USD mỗi năm (thời giá khi đó) được bơm trực tiếp vào nền kinh tế thông qua chi tiêu quân sự. Thậm chí, tổng số tiền Thái Lan hưởng lợi từ cuộc chiến giai đoạn này tương đương với toàn bộ GDP của họ trong một năm.

Hay như Singapore dưới thời Thủ tướng Lý Quang Diệu, quốc gia này đã tận dụng tối đa vị thế trung chuyển để trở thành "hậu phương hậu cần" cho quân đội Mỹ. Chỉ riêng việc cung cấp xăng dầu và nhiên liệu phục vụ chiến tranh, Singapore đã thu về khoảng 600 triệu USD mỗi tháng. Đến năm 1967, có tới 15% thu nhập quốc dân của đảo quốc này đến từ các hợp đồng mua sắm quân sự của Mỹ cho chiến trường Việt Nam.

Và nhiều quốc gia khác cũng gửi quân tham chiến, gây ra biết bao tang tóc trên mảnh đất hình chữ S, rồi thậm chí sau đó bọn họ lại tiếp tay cho nạn diệt chủng Khmer Đỏ để kìm hãm sự hồi sinh của Việt Nam chúng ta. 

Thậm chí, các bạn có biết không, mục đích và tôn chỉ ban đầu của ASEAN khi thành lập chính là để "bao vây và cô lập" Việt Nam, quốc gia kiên cường mà bọn họ gọi là "tiểu bá Đông Nam Á".

Nhưng, dân tộc Việt Nam đã trả lời bằng lòng bao dung và sự kiên cường tột bậc. Chúng ta không chọn cách ghi hận, mà chọn cách bước qua những vết sẹo để gầy dựng một tương lai chung. Từ một đất nước từng bị bao vây cấm vận, toàn dân phải chia nhau từng hạt gạo hay vài tem phiếu sau chiến tranh, Việt Nam đã viết nên một kỳ tích chưa từng có: Vươn mình trở thành cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Giờ đây, khi thế giới chao đảo vì khủng hoảng lương thực và đứt gãy chuỗi cung ứng, Việt Nam không dùng vị thế của mình để oán trách quá khứ. Ngược lại, chúng ta dõng dạc khẳng định: Việt Nam sẵn sàng là "kho lương" vững chãi, bảo đảm an ninh lương thực cho các nước ASEAN trong mọi tình huống khẩn cấp.

Thông điệp ngày hôm nay của Thủ tướng Lê Minh Hưng không chỉ là sự khẳng định về năng lực kinh tế, mà là sự tỏa sáng của tính chính nghĩa và đạo lý nhân văn: Lấy sự chân thành để xóa bỏ hiềm khích, lấy trách nhiệm để khẳng định vị thế. Một Việt Nam từng bị gọi là "tiểu bá" nay đã trở thành trụ cột của sự đoàn kết, sẵn sàng chìa tay cứu trợ những người đã từng đứng ở phía bên kia chiến tuyến.

Khi khó khăn ập đến, một ASEAN đoàn kết quanh một Việt Nam nhân ái và mạnh mẽ sẽ là sức mạnh không gì lay chuyển nổi.
Việt Nam - Bản lĩnh trong gian khó, Nghĩa tình giữa thời bình! 🇻🇳🌾
QV-ST!

HỌ BẤT CHẤP TẤT CẢ ĐỂ XÓA BỎ LỊCH SỬ!

CÀNG BAO BIỆN CÀNG LỘ RÕ BẢN CHẤT PHẢN ĐỘNG TRƠ TRẼN!

Nghe hai từ "chuyên gia" thấy to tát quá, những tưởng những cây đa, cây đề trong làng sử học như giáo sư Lê Văn Lan.

Nào ngờ các chuyên gia ấy lại là những tên giặc sử, kiến thức sáo rỗng, những kẻ đầy tai tiếng. Bộ GD&ĐT dùng những tên giặc sử được gọi là "chuyên gia" ấy để bao biện.

Họ quyết tâm xóa bỏ lịch sử, họ chờ ý kiến chuyên gia cơ đấy, chuyên gia của họ không ngoài ai khác là tên giặc sử VMG và tên giặc VHK Hiển Vũ. Nó giống trò diễn hài của bộ giáo dục.

--------
ĐỂ XÓA BỎ LỊCH SỬ, CHÚNG BẤT CHẤP TẤT CẢ. 

Tôi thật không hiểu tại sao vẫn có những thằng được gọi là các chuyên gia và nhà sử học mà chúng lại có thể phát biểu ra những câu đi vào lòng đất nếu không muốn nói là đại ng/.u như thế này:

- "Không học sử đâu có nghĩa là không yêu nước!".

Và để lý sự cho nhận định này thì chúng đã dẫn chứng ra việc các cháu học sinh không được học THPT thì các cháu vẫn yêu nước như thường.

Bây giờ tôi sẽ tranh luận với đám chuyên gia rởm, tốn cơm dân, vô tích sự này về lời phát biểu đi vào lòng đất của chúng.

Đầu tiên, với những người kém tư duy thì khi mới nghe qua lời phát biểu này và chỉ suy nghĩ hời hợt họ sẽ thấy nó có vẻ có lý. Tuy nhiên, với những người biết suy nghĩ một cách thấu đáo và rõ ràng mạch lạc thì người ta có thể chia ra 2 ý như sau:

1. Không cần học sử vẫn yêu nước.
Vậy thì nước đó là nước nào? 
Các ông sẽ trả lời: là nước Việt Nam chứ còn nước nào nữa, đúng không?

Ok. Tôi hỏi các ông: 
Bè lũ tay sai bán nước ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn trước kia chúng cũng nói là chúng yêu nước nên tôn chỉ, lý tưởng của chúng là "Tổ quốc - Danh dự - Trách nhiệm". Thực tế đã chứng minh chúng có yêu nước không?

Vậy tại sao các ông lại vơ đũa cả nắm, đánh đồng như thế?
À thì ra phải chăng là mấy năm nay lũ sử tặc các ông đang muốn rửa mặt cho bè lũ tay sai bán nước ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn nên nhân cơ hội này các ông rửa mặt cho chúng thêm lần nữa?

Những tên sử tặc như Vũ Minh Giang và Vũ Quang Hiển, v.v.... nhân dân còn lạ gì cái bản mặt thật của các ông nữa!

2. Đối với các cháu học sinh không được học THPT, không được học sử thì chúng vẫn yêu nước.

Ok. Vậy số học sinh không được học sử yêu nước là bao nhiêu phần trăm? Còn số học sinh được học sử yêu nước là bao nhiêu phần trăm?

Làm sao biết được đúng không? Vậy tại sao các ông lại lấy một việc mang tính ước lệ ra để đối chiếu, so sánh, quy kết? Đây có phải là hành động phản khoa học không?

Ý nghĩa của việc giáo dục lịch sử đó là nhằm xây dựng nền tảng, đặt nền móng cho tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trang bị kiến thức, hiểu biết về những chặng đường lịch sử mà dân tộc đã kinh qua đối với các thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên và mang tính vĩ mô, chứ nó không quyết định được việc một con người có yêu nước hay không (mang tính vi mô). Điều này cũng giống như việc không phải tất cả những người làm kinh doanh thành công trên thương trường, trong xã hội đều được học kinh tế, hay ngược lại, tất cả những người đã được học kinh tế thậm chí là tiến sĩ, giáo sư kinh tế học thì đều có thể kinh doanh thành công.

Các ông có hiểu được sâu, rộng thế nào là "Nhân bất học bất tri lý. Ngọc bất trác bất thành khí không"?

Thôi, giờ tôi hỏi ngay cái lĩnh vực lịch sử của các ông mà không cần phải liên hệ sang các lĩnh vực khác nữa.

Các ông hãy cho tôi biết: 
Nhà sử học Trần Trọng Kim với nhiều tác phẩm lịch sử đã để lại cho hậu thế, ông ta có yêu nước không?

Một loạt đám sử gia ở miền Nam đã lưu vong sang Hoa Kỳ năm 1975, và 47 năm nay chúng luôn luôn chống phá quốc nội chúng có yêu nước không?

Ngay cả đám sử gia đầy bụng sử ở trong nước đang rửa mặt cho bè lũ tay sai bán nước ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn như các ông có yêu nước không?

Vậy thì tại sao các ông lại lấy những lời hồ đồ này để lý sự?

Bên cạnh đó, các ông còn lý sự hàm hồ rằng nếu bắt ép học sinh học sử mà các cháu không thích học thì sự bắt ép cũng bằng không. Vậy thì tôi lại hỏi lũ teo não các ông: Các ông có chắc rằng tất cả 100% học sinh đến trường đều thích việc học tập, đều ham mê học tập không?

Các ông càng bao biện thì các ông càng thể hiện cho thiên hạ thấy sự dốt nát tột cùng của các ông. Đúng ra các ông phải lấy làm xấu hổ, nhục nhã, dằn vặt lương tâm khi học sinh không thích học môn lịch sử. Các ông dạy dỗ cái kiểu quái gì mà khiến cho học sinh chán ghét môn lịch sử vậy? Các ông không thấy nhục hay sao mà còn mở mồm lên giọng dạy đời thiên hạ và bao biện, lý sự cùn?

3. Hôm trước tôi thấy Hội Khoa học Lịch sử đã gửi công văn kiến nghị Chính phủ, Quốc hội xem xét lại việc Bộ GD&ĐT đã để môn Lịch sử là một trong những môn tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông mới, khiến các ông bất bình, bức xúc, bằng chứng là ông Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử, Dương Trung Quốc đã lên trả lời phỏng vấn đài VTC với thái độ bất bình, chê bai việc làm này của Bộ GD&ĐT. Vậy tại sao hôm nay các ông lại quay ngoắt 180 độ khi trả lời phỏng vấn của báo chí để đỡ "đạn" cho Bộ GD&ĐT? Đây có phải là hành động vừa nhổ xong lại liếm không? 

- Phải chăng là "bố" các ông ở phía bên kia bán cầu bảo thế? 
- Hay là thằng anh của các ông bảo thế vì hắn cũng mới ra mặt một cách ng/^.u xu/^.ẩn?
- Hay là lại có thằng nào đã đấm tiền vào mõm các ông nên các ông quay xe như thế?

Bộ mặt tráo trở, lật lọng, bỉ ổi, vô liêm sỉ của các ông đã càng ngày càng lộ rõ rồi đấy, chỉ có điều cái não của các ông còn nhỏ lắm và đang teo đi cho nên các ông không thể đánh lừa được dư luận xã hội đâu! Trình của các ông còn non và xanh lắm. Hãy nhớ rằng: Chiếc áo không làm nên thầy tu!

Thưa bà con! Tôi đã nói rồi đừng có tin vào cái mồm của cái đám này. Chúng quẹt mỏ nhanh lắm và trở mặt như trở bàn tay. Bởi vậy nên cái công văn kiến nghị của chúng mấy hôm trước tôi có thèm để ý đâu. Chúng diễn trò thôi!










QV-ST!

TÌNH ĐOÀN KẾT CAO CẢ GIỮA NHỮNG NGƯỜI VÔ SẢN ANH EM LIÊN XÔ VÀ VIỆT NAM: "ĐIỀU DUY NHẤT CỨU ĐƯỢC CẢNG HẢI PHÒNG, LÀ CHÚNG TÔI TRỤ LẠI"!

     Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Liên Xô đã luôn sát cánh, chi viện rất lớn cho miền Bắc Việt Nam . Hơn 80% tổng số hàng hóa của Liên Xô được chuyển đến Việt Nam bằng các con tàu của Công ty Vận tải Viễn Đông.

Hơn 1000 chuyến tàu của Công ty này đã cập các cảng của Việt Nam, cùng với Công ty vận tải biển Đen, đã thiết lập một Cầu Hữu nghị trên biển trong những năm Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam.

Đã có những thủy thủ Liên Xô hy sinh tại Việt Nam trong những ngày gian khó, nguy nan đó.

Ngày 2/6/1967, tại cảng Cẩm Phả, máy bay Mỹ đã bắn phá tàu vận tải “Turkestan” đang neo tại cầu cảng. Điện trưởng(электромеханик) Nikolai Rybachuk đã anh dũng hy sinh, sáu thủy thủ khác bị thương.

Ngày 9/5/1972, trong một cuộc pháo kích nhằm vào tàu chở dầu “Pevek” ở khu vực gần Hải Phòng, 5 thành viên thủy thủ đoàn đã bị thương.

Một ngày sau đó, không quân Mỹ tiếp tục tấn công tàu vận tải “Grisha Akopyan” tại Cẩm Phả. Thủy thủ trưởng Yury Zotov bị mảnh bom găm vào đầu và vai, hy sinh, 6 thủy thủ khác bị thương…Năm 2024, bạn Đào Mạnh Dũng và những người Việt Nam sinh sống tại Primorye đã đến viếng ngôi mộ của Yury Zotov tại nghĩa trang Hàng hải ở Vladivostok.

Ngày 9/5/1972, đế quốc Mỹ cho hàng loạt máy bay A6A, A7A, F4... từ Hạm đội 7 ở Biển Đông ồ ạt bay vào thả hàng ngàn quả thủy lôi, bom từ trường xuống luồng Nam Triệu, Hải Phòng và vùng biển khu vực Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Hội, Sông Gianh cùng các cửa sông chính thuộc các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa... Chúng còn trơ tráo ra tối hậu thư, yêu cầu tất cả các tàu đang đậu trong các cảng VNDCCH, trước hết là cảng Hải Phòng trong vòng 3 tiếng đồng hồ phải rời vị trí, nếu không sẽ phải chịu hậu quả…

Tại Vladivostok( Liên Xô), thông tin về việc Mỹ bắt đầu phong tỏa cảng Hải Phòng được biết đến vào lúc 11 giờ sáng. Khi này, trách nhiệm nặng nề được đặt lên vai Giám đốc Công ty Vận tải Viễn Đông Valentin Petrovich Byankin và Phó giám đốc phụ trách an toàn hàng hải Alexander Alexandrovich Kashur. 

 Ở Moskva, Bộ trưởng hàng hải Liên Xô Timofey Borisovich Gushchenko cũng được báo cáo ngay, nhưng theo phân cấp, trách nhiệm xử lý đầu tiên vẫn thuộc về Công ty Vận tải Viễn Đông phụ trách khu vực Thái Bình Dương.

- Người ta tư vấn cho đồng chí ra sao? - Bí thư thứ nhất Khu uỷ Primorsky Viktor Pavlovich Lomakin hỏi Byakin.

- Cho các tàu rời cảng...

- Thế còn quyết định của đồng chí?

- Ở lại! - Byankin đáp ngay- Có thể rút tàu ngay trong ba giờ này. Nhưng hành động đó sẽ được gọi là gì? Đó là bỏ mặc bạn bè trong khó khăn. Tôi có trên 96 nghìn tấn hàng trên các tàu, đối với các bạn Việt Nam là rất quan trọng, rất cần thiết. Không, chúng tôi sẽ không đi đâu cả. 

Ông còn nói thêm:

-Nếu tôi cho tàu rời đi, người Mỹ sẽ đánh phá tan tành bến cảng. Điều duy nhất có thể cứu Hải Phòng lúc này là chúng ta trụ lại.

Sau đó, gám đốc Công ty Vận tải Viễn Đông Valentin Petrovich Byankin ra llệnh cho các thủy thủ sơn cờ Liên Xô lên boong và trụ tàu, tiếp tục công việc.

...Tháng 8/1968, tàu Aleksadr Grin thuộc Công ty Vận tải Biển Đen bị tấn công gây hỏa hoạn, khi tàu đang chở 2.000 tấn amoni nitrat đến Hải Phòng. Nếu bị nổ, không những tàu bị nhấn chìm mà còn có nguy cơ phá hủy cảng Hải Phòng, chưa kể đến việc khí độc sẽ bị loang rộng. Thủy thủ đoàn đã làm mọi cách nhưng không thể tự dập tắt ngọn lửa. Tàu kéo cứu hộ "Argus" cùng các tàu chở hàng "Berezovka", "Tavrichanka" và "Chapaev" đã tiếp cận con tàu đang cháy, phun nước và bọt chữa cháy hết công suất Sau khi dập tắt xong đám cháy, thợ lặn Yuri Terekhov của tàu "Argus" đã hy sinh cùng với 5 đồng đội khác (dữ liệu của tạp chí Tổ quốc (Rodina) ).

...Ở miền Bắc rực lửa bom đạn năm xưa, từ bến cảng Hải Phòng, đến cảng Cẩm Phả... không có nơi nào không ghi dấu ấn tình cảm thủy chung của những người bạn thủy thủ Xô viết. Họ đã có mặt bên chúng ta trong những giờ phút cam go nhất. Trong số họ, có những người đã nằm lại mảnh đất này khi tuổi xuân đang độ đẹp nhất đời người.

Nhà triết học Cicero từng nói: "Lòng biết ơn không chỉ là đức hạnh cao quý nhất, mà còn là khởi nguồn của mọi đức hạnh khác". 

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng chúng ta sẽ bao giờ quên những người bạn Xô viết với tình cảm quốc tế cao cả, đã vượt muôn trùng khơi đến đây, đã dũng cảm làm việc dưới muôn vạn hiểm nguy, và đã hy sinh vì Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Không có ai bị quên lãng, không có gì bị lãng quên.

ảnh 1: Tàu Turkestan được nhân dân Liên Xô đón chào sau khi trở về từ Việt Nam anh em.

ảnh 2: Mộ của liệt sĩ Yury Zotov tại nghĩa trang Hàng hải ở Vladivostok.

ảnh 3: Những người Việt Nam tại Primorye đến viếng mộ Yury Zotov, năm 2024.

ảnh 4: Điện trưởng Nikolai Rybachuk đã hy sinh trên tàu Turkestan khi làm nhiệm vụ tại cảng Cẩm Phả. 

ảnh 5: Nhân dân Vladivostok chào đón những thủy thủ quả cảm trở về từ VN. Trên tàu có treo khẩu hiệu "Không được đụng đến Việt Nam"./.




QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: “NGÀY VỀ” CỦA VỊ SƯ ĐOÀN TRƯỞNG TỪNG KHIẾN NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN VNCH VÀ MỸ TƯỞNG ĐÃ CHẾT!

     Ngày 18/3/1973, bên bờ sông Thạch Hãn, giữa đoàn tù binh vừa được trao trả sau Hiệp định Paris, có một “thượng sĩ quân y” lặng lẽ bước sang bờ Bắc.

Nhưng điều khiến phía ngụy VNCH chết lặng là:
Ngay khi vừa qua sông, người này lập tức được sĩ quan phía Bắc đón lên xe com-măng-ca chờ sẵn rồi chạy thẳng ra miền Bắc.

Một sĩ quan chiêu hồi phía VNCH lúc đó reportedly đã tức giận văng tục:
“Dm, lọt mất một tên cỡ bự rồi!”

Bởi “thượng sĩ quân y” ấy thực chất chính là:
Đại tá Trần Văn Trân - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1 bộ binh chủ lực của QGPMN.

Câu chuyện bắt đầu từ một đêm cuối tháng 2/1970:
Sư trưởng Ba Trân mặc áo bà ba, quần xà lỏn, dép râu dẫn theo sở chỉ huy nhẹ vượt kênh Vĩnh Tế.

Nhưng khi vừa sang bờ:
Đơn vị bất ngờ rơi vào ổ phục kích lớn của QLVNCH.

💥 Phía VNCH khi đó có:
👉 Một tiểu đoàn bảo an
👉 4 tàu bo bo
👉 Trực thăng HU-1A bắn phá dữ dội

Trận chiến diễn ra cực kỳ ác liệt:
Lực lượng vệ binh và trinh sát của sở chỉ huy chiến đấu đến người cuối cùng.

Kết quả:
▪️ Chỉ 5 người thoát được
▪️ Trần Văn Trân cùng 7 người khác bị bắt

Nhưng điều đặc biệt là:
Trước khi bị bắt, ông đã nhanh trí vứt khẩu súng lục và khoác túi quân y của một chiến sĩ đã hy sinh.

Từ đó:
Ông khai tên giả là Nguyễn Văn Thương - một quân y sĩ.

Điều khiến phía ngụy VNCH và Mỹ không phát hiện ra thân phận thật:
Những chiến sĩ bị bắt cùng đều giữ kín bí mật dù bị tra khảo nhiều lần.

Bên ngoài:
Lãnh đạo QGPMN quyết định công bố ông đã hy sinh để đánh lạc hướng.

Gia đình ngoài Bắc nhận giấy báo tử.
Đơn vị còn tổ chức truy điệu trọng thể.

📻 Báo chí Sài Gòn khi ấy cũng đồng loạt đăng tin:
“Quân lực VNCH đã tiêu diệt một chỉ huy cao cấp của Quân Giải Phóng.”

Nhưng rồi tất cả phải sửng sốt:
3 năm sau, “người đã chết” ấy lại bước ra từ đoàn trao trả tù binh.

Sau khi trở về:
Trần Văn Trân tiếp tục được giao chỉ huy Sư đoàn 341 tiến vào chiến trường miền Nam.

Trong mùa Xuân 1975:
Chính đơn vị của ông tham gia đánh Xuân Lộc - trận chiến được xem là “cánh cửa thép” cuối cùng bảo vệ Sài Gòn.

Sau chiến tranh:
Ông được phong quân hàm Thiếu tướng và giữ chức Phó Tư lệnh Quân đoàn 4.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân Việt Nam:
Đại tá Trần Văn Trân được xem là sĩ quan cấp cao nhất của QGPMN từng bị ngụy  quân VNCH bắt giữ nhưng vẫn giữ kín hoàn toàn thân phận cho tới ngày được trao trả./.
QV-ST!

NHÌN RA THẾ GIỚI: METRO MOSKVA - “CUNG ĐIỆN DƯỚI LÒNG ĐẤT” CỦA NƯỚC NGA!

     Ngày 15/5/1935, tuyến metro đầu tiên của Moskva chính thức được đưa vào hoạt động. Khi ấy, toàn bộ hệ thống chỉ dài hơn 11km với 13 nhà ga, nhưng sự kiện này nhanh chóng trở thành biểu tượng cho khát vọng công nghiệp hóa và sức mạnh tổ chức của Liên Xô thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội!

Ít ai biết rằng, trước khi có được một trong những hệ thống tàu điện ngầm nổi tiếng nhất thế giới ngày nay, Liên Xô gần như không có kinh nghiệm nào về xây dựng metro. Moskva lại là thành phố có địa chất phức tạp, nhiều nước ngầm, thiếu kỹ sư chuyên môn và thiếu cả công nghệ thi công hiện đại. Ngay cả việc đưa hành khách xuống những ga sâu hàng chục mét cũng từng là bài toán nan giải.

Ban đầu, phương án được tính đến là xây metro kiểu Đức: đào nông và dùng thang máy để đưa hành khách lên xuống. Tuy nhiên, một kỹ sư trẻ tên Veniamin Makovsky đã đề xuất phương án táo bạo hơn: đào sâu theo công nghệ Anh và sử dụng hệ thống thang cuốn hiện đại. Đề xuất ấy từng vấp phải sự phản đối gay gắt vì chi phí quá lớn và độ phức tạp kỹ thuật rất cao.

Theo hồi ký của Nikita Khrushchev, khi đó phụ trách công trình metro Moskva, cuộc tranh luận cuối cùng đã được đưa lên tận Bộ Chính trị với sự tham gia trực tiếp của Stalin. Khi các kỹ sư lo ngại về chi phí, Stalin đã đặt câu hỏi dứt khoát: “Về mặt kỹ thuật, có làm được hay không?”. Khi nhận được câu trả lời là “có thể”, ông quyết định lựa chọn phương án đào sâu.

Thực tế sau này cho thấy quyết định ấy không chỉ mang ý nghĩa giao thông đơn thuần mà còn là một tính toán chiến lược. Trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, các ga metro sâu dưới lòng đất đã trở thành nơi trú bom cho hàng chục nghìn người dân Moskva. Năm 1941, giữa lúc quân phát xít Đức áp sát thủ đô, Stalin thậm chí còn đọc diễn văn kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười ngay tại ga Mayakovskaya. Chỉ một ngày sau, cuộc duyệt binh lịch sử ngày 7/11/1941 vẫn diễn ra trên Quảng trường Đỏ trong tuyết dày, trước khi các đơn vị hành quân thẳng ra mặt trận.

Điều đặc biệt là metro Moskva chưa bao giờ được xem đơn thuần như một công trình hạ tầng giao thông. Stalin yêu cầu các nhà ga phải trở thành “những cung điện dành cho nhân dân”, thể hiện sự văn minh, giàu mạnh và niềm tự hào của nhà nước Xô viết. Vì vậy, nhiều ga được xây dựng bằng đá cẩm thạch, đồng, pha lê, tranh khảm và các vật liệu cao cấp.

Những ga như Mayakovskaya, Komsomolskaya, Kievskaya, Quảng trường Cách mạng hay Novoslobodskaya đến nay vẫn thường xuyên xuất hiện trong danh sách những ga metro đẹp nhất thế giới. Trong đó, Novoslobodskaya nổi bật với 32 ô kính màu được chế tác theo kỹ thuật kính màu nhà thờ châu Âu, tái hiện hình ảnh người lao động, nghệ sĩ, kỹ sư và khát vọng hòa bình của con người Xô viết. Nhà ga giống một thánh đường nghệ thuật nằm sâu dưới lòng đất hơn là một công trình giao thông thông thường.

Sau hơn 90 năm phát triển, metro Moskva hiện là một trong những hệ thống tàu điện ngầm lớn nhất thế giới. Tính đến năm 2026, hệ thống có hơn 300 ga với tổng chiều dài trên 500km, chưa kể các tuyến đường sắt đô thị liên thông. Chỉ riêng năm 2023, Moskva đã khai trương khoảng 14 ga mới, chủ yếu thuộc tuyến vành đai lớn Bolshaya Koltsevaya. Theo kế hoạch phát triển đến năm 2030, thủ đô nước Nga sẽ tiếp tục xây thêm hàng chục ga mới nhằm mở rộng mạng lưới giao thông công cộng.

Nhìn vào câu chuyện metro Moskva mới thấy rằng, để giải quyết bài toán giao thông đô thị của một siêu đô thị, không thể chỉ trông chờ vào những giải pháp tình thế hay các biện pháp ngắn hạn. Điều cốt lõi vẫn là quy hoạch đồng bộ, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm thực hiện đến cùng.

Một hệ thống metro hiện đại không chỉ giúp giảm ùn tắc giao thông, giảm ô nhiễm khí thải mà còn thay đổi toàn bộ cấu trúc vận hành của thành phố. Khi phương tiện công cộng đủ thuận tiện, nhanh chóng và văn minh, người dân tự nhiên sẽ lựa chọn nó thay vì phải chen chúc trên đường phố đông đúc hay chịu cảnh ô tô nhích từng mét giữa dòng xe kéo dài bất tận.

Metro Moskva vì thế không chỉ là câu chuyện về những đoàn tàu dưới lòng đất. Đó còn là bài học về quy hoạch đô thị, về tư duy chiến lược và về khả năng biến những điều tưởng như không thể thành hiện thực bằng ý chí chính trị và tầm nhìn dài hạn.

Thông tin bài viết từ Phan Việt Hùng

Ảnh 1: Ông Pavel Rotert, người chỉ huy xây dựng metro Moskva
Ảnh 2: Stalin phát biểu dưới ga Mayakovskaya.
Ảnh 3: những hành khách đầu tiên của metro Moskva, 1935.
Các ảnh sau: Những cung điện trong lòng đất Moskva.







QV-ST!

NGƯỜI TRONG CUỘC ĐỊNH CƯ Ở MỸ: "GIẤC MƠ MỸ" CỦA TÔI ĐÂU???

     Đoạn video là lời tâm sự đầy thẳng thắn và có phần bức xúc của một thanh niên người Việt vừa sang định cư tại Mỹ. Với góc nhìn của một người mới làm quen với cuộc sống tại "xứ sở cờ hoa", anh bày tỏ sự ngỡ ngàng trước thực tế trái ngược về quyền tự do ngôn luận mà bản thân đang trải nghiệm.

Anh chia sẻ rằng khi còn ở Việt Nam, anh có thể thoải mái nói năng và làm việc theo ý muốn miễn là trong vòng pháp luật quy định mà không gặp trở ngại. Tuy nhiên, từ khi đặt chân lên đất Mỹ và bắt đầu đăng tải các video clip ghi lại những hình ảnh thực tế như rác rưởi, dây điện chằng chịt hay những góc khuất dơ bẩn của đường phố, anh lập tức trở thành mục tiêu công kích của một bộ phận cộng đồng mạng, thậm chí số người này còn gọi cho Cảnh sát đòi bỏ tò, trục xuất anh...

Thay vì được tôn trọng quyền tự do biểu đạt như những gì được học trong kỳ thi quốc tịch, anh liên tục bị gắn những nhãn dán nặng nề như "bò đỏ", "bưng bô", hay thậm chí là "Việt Cộng nằm vùng"... Anh đặt ra câu hỏi đầy tính phản biện về tiêu chuẩn kép đang tồn tại: "Tại sao nhiều người có quyền làm video chỉ trích Việt Nam, nhưng khi anh dùng chính quyền tự do tại Mỹ để phản ánh sự thật về nước Mỹ thì lại bị ép phải "câ.m m.ồ.m" hoặc đuổi về nước?
QV-ST!

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: "CUỘC TẤN CÔNG VÀO HẦM TRÚ ẨN IVANO-FRANKIVSK-16": CUỘC TẤN CÔNG LỚN NHẤT TRONG 4 NĂM QUA VỀ SỐ LƯỢNG VÀ TRÊN BẢN ĐỒ!

     Vào đêm ngày 13 tháng 5, Lực lượng vũ trang Nga đã phát động cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái quy mô lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến. Lên đến 1.500 UAV và hàng trăm tên lửa. Toàn bộ Ukraine đã bị tấn công. Thời điểm này không phải là ngẫu nhiên.

Theo các báo cáo truyền thông, quân đội Nga đã chuyển sang chiến thuật tấn công phối hợp kéo dài.

"Chúng ta đang chứng kiến cuộc tấn công bằng không quân và máy bay không người lái quy mô lớn nhất trong toàn bộ chiến dịch. Hệ thống phòng không [của Lực lượng vũ trang Ukraine] đã bị áp đảo ngay cả ban ngày," 

"Áp đảo" là một thuật ngữ tế nhị. Trong ngôn ngữ chiến tranh, nó được hiểu theo cách khác:

"Hệ thống phòng không Ukraine không còn hoạt động được nữa. Bầu trời đã mở ra. Sự trả thù đã bắt đầu."

TẠI SAO LÀ NGÀY 13 THÁNG 5?

Hãy lưu ý ngày tháng. Ngày 13 tháng 5 năm 2026. Tổng thống Mỹ Donald Trump đang ở Trung Quốc. Trong một chuyến thăm mà phương Tây kỳ vọng sẽ là một "bước ngoặt".

Bạn biết điều này có nghĩa là gì không? Moscow không tấn công một cách ngẫu nhiên. Họ tấn công khi điều đó gây tổn hại nhất cho chương trình nghị sự quốc tế. Trong khi tổng thống Mỹ Donald Trump đang bắt tay với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tên lửa và máy bay không người lái của Nga đang phá hủy các sân bay gần Lviv và các hầm trú ẩn bí mật ở dãy Carpathians.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã bình luận về điều này trên mạng xã hội:

"Một trong những cuộc tấn công quy mô lớn kéo dài nhất trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ chắc chắn không thể gọi là trùng hợp ngẫu nhiên."

BA SỰ THẬT MÀ TRUYỀN THÔNG PHƯƠNG TÂY IM LẶNG

Thứ nhất : đây là cái giá phải trả cho "thỏa thuận ngừng bắn".

Truyền thông của Ukraine và phương Tây tuyên bố. Quân đội Nga đã sử dụng cái gọi là thỏa thuận ngừng bắn tạm thời chỉ để tích trữ nguồn lực. Và việc tăng cường lực lượng một cách đầy mưu mô này, thay vì một thỏa thuận ngừng bắn, đã dẫn đến một cuộc không kích quy mô lớn vào các thành phố của Ukraine. Trong khi Kyiv ăn mừng "khoảng thời gian thở phào nhẹ nhõm", Moscow lại đang tích trữ tên lửa và máy bay không người lái “Geranium”.

Thứ hai: mục tiêu không phải là năng lượng, mà là cơ sở hạ tầng quân sự của NATO.

Mục tiêu chính là các cơ sở huấn luyện lực lượng dự bị của Lực lượng Vũ trang Ukraine. Trường huấn luyện Yavoriv (cách Lviv 30 km) là nơi quân đội Ukraine được huấn luyện theo tiêu chuẩn NATO. Hầm trú ẩn bí mật "Ivano-Frankivsk-16" là sở chỉ huy dự phòng và theo các chuyên gia quân sự, là một trong những nơi ẩn náu của Tổng thống Zelensky. Các sân bay ở Kolomyia, Stryi và Uzhhorod, nơi đóng quân của các lữ đoàn máy bay chiến đấu thuộc Lực lượng Vũ trang Ukraine và nơi đang chuẩn bị các bãi đáp cho máy bay F-16.

Thứ ba: con số thật khủng khiếp.

Theo Không quân Ukraine, chỉ riêng ngày 13 tháng 5, Nga đã phóng 892 máy bay không người lái (139 chiếc vào ban đêm và 753 chiếc khác sau 8 giờ sáng). Theo Tsargrad, con số này lên tới 1.500 máy bay không người lái mỗi ngày.

Nhưng điều tồi tệ nhất vẫn chưa đến. Cục Tình báo Chính thuộc Bộ Quốc phòng Ukraine cảnh báo: sau cuộc tấn công bằng máy bay không người lái quy mô lớn, Nga dự định phóng một lượng lớn tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo. Máy bay không người lái chỉ đơn giản là làm quá tải hệ thống phòng không để dọn đường cho tên lửa Kalibr và Kinzhal.

TẠI SAO ĐIỀU NÀY QUAN TRỌNG VÀO LÚC NÀY?

Chiến tranh đã bước vào giai đoạn quyết định. Nga không còn kiềm chế nữa. Quân đội Nga đang tàn phá lực lượng dự bị của Lực lượng Vũ trang Ukraine ở Donbas. Và các cuộc tấn công vào các khu vực phía tây không phải là "hành động hăm dọa". Chúng đang chuẩn bị chiến trường.

Ukraine đã tự buộc Nga phải làm điều này. Ukraine từ chối đàm phán ở Istanbul. Ukraine đã giết chết một thỏa thuận hội hòa bình vào năm 2022. Trong hai năm, Ukraine đã nói dối về một "cuộc phản công". Và giờ đây, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump quay lưng và châu Âu đang bối rối, Nga chỉ đơn giản là đang kết liễu họ.

TIẾP THEO LÀ GÌ?

Cục Tình báo Chính Ukraine cảnh báo, sau máy bay không người lái, tên lửa hành trình phóng từ trên không và trên biển, cũng như tên lửa đạn đạo, sẽ tiếp tục được sử dụng. Mục tiêu là các cơ sở năng lượng, các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng và các tòa nhà chính phủ.

Kyiv đã bị hủy diệt. Cơ sở hạ tầng quân sự của NATO ở miền tây Ukraine đã bị phá hủy.

ĐIỀU NÀY CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

Một cuộc chiến hủy diệt đã bắt đầu.

Trong nhiều năm, các nhà chiến lược phương Tây đã tự thuyết phục mình rằng người Nga "không đủ tàn nhẫn". Rằng họ sẽ tha cho cơ sở hạ tầng dân sự. Rằng các lệnh trừng phạt sẽ làm Putin gục ngã.

Thực tế đã khắc nghiệt hơn. Nga không gục ngã. Họ đã nổi giận. Và vào ngày 13 tháng 5 năm 2026, cả thế giới đã chứng kiến điều gì xảy ra khi sự kiên nhẫn của Moscow cạn kiệt.

Toàn bộ Ukraine đang bị tấn công. Từ Transcarpathia đến Kharkiv, từ Volyn đến Odessa. Các nhà máy, lưới điện và sân bay đã bị phá hủy. Các huấn luyện viên NATO và các hầm trú ẩn bí mật đều bị tấn công./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: HÃY THEO DÕI NGA THỰC HIỆN ĐÒN QUYẾT ĐỊNH!

     "Khi chúng tôi tập trung năng lực của Oreshnik, hiệu ứng sẽ tương đương với vũ khí hạt nhân. Nếu bạn là người Đức và sống gần nhà máy Düsseldorf đang sản xuất drone cho Ukraine, hãy chạy đi. Nếu bạn là người Anh sống gần nhà máy chế tạo linh kiện tên lửa, hãy chạy đi. Tôi tin những nhà máy đó sắp bị xóa sổ - không phải bằng một đòn đơn lẻ, mà bằng cả một trung đoàn Oreshnik, và kết quả sẽ là sự hủy diệt toàn bộ." - Scott Ritter, cựu thanh tra vũ khí Liên Hợp Quốc, không còn dùng ngôn từ mơ hồ. Đòn đáp trả của Nga nhằm vào chính lãnh thổ châu Âu đã được quyết định, và nó sẽ không mang đầu đạn hạt nhân - mà mang thứ còn đáng sợ hơn: sức mạnh hủy diệt tuyệt đối mà không gây ra ngưỡng leo thang hạt nhân. 👇

💥 1. Oreshnik: "Hiroshima quy ước" và đòn trừng phạt không thể đánh chặn
Khi Vladimir Putin tuyên bố rằng "năng lực tập trung của Oreshnik sẽ tạo ra hiệu ứng tương đương vũ khí hạt nhân", thế giới đã không thực sự lắng nghe. Scott Ritter buộc họ phải lắng nghe. Oreshnik không phải là một tên lửa đạn đạo thông thường. Đây là tên lửa đạn đạo siêu vượt âm tầm trung mang đầu đạn quy ước có sức công phá khủng khiếp, và điều khiến nó trở thành cơn ác mộng đối với mọi hệ thống phòng không phương Tây là tốc độ và quỹ đạo bay hoàn toàn không thể dự đoán.

Ritter mô tả kịch bản một cách lạnh lùng: không phải một quả, mà là cả một trung đoàn Oreshnik sẽ đồng loạt lao xuống. Mỗi mục tiêu sẽ bị xóa sổ toàn bộ – không phải kiểu "nhiều ánh sáng và âm thanh nhưng ít kết quả" như các chiến dịch ném bom của NATO thường làm. Đây là sự hủy diệt toàn diện. Nhà máy sản xuất drone ở Düsseldorf của Đức. Cơ sở chế tạo linh kiện tên lửa tầm xa ở Anh. Những nơi đang ngày đêm cho ra lò các vũ khí được dùng để đánh sâu vào lãnh thổ Nga. "Cả thế giới phải thốt lên 'Lạy Chúa'," Ritter nhấn mạnh. "Người châu Âu phải hiểu được hậu quả từ những chính sách mà chính phủ họ đang thực thi."

Và đây là điểm mấu chốt: Oreshnik không thể bị đánh chặn. Không phải vì nó mang đầu đạn hạt nhân – nó không mang – mà vì nó bay với tốc độ và quỹ đạo khiến mọi tính toán phòng không trở nên vô nghĩa. Giống như Kinzhal và Zircon, Oreshnik là sản phẩm của thế hệ vũ khí siêu vượt âm mà phương Tây chưa có công nghệ để đối phó. Các hệ thống Patriot, SAMP/T, hay bất kỳ thứ gì châu Âu đang sở hữu đều vô dụng trước nó.

📜 2. "Không phải là đòn phủ đầu – Nga đã bị tấn công rồi"
Những ai cho rằng Nga sắp "leo thang phủ đầu" đã bỏ lỡ một sự thật quan trọng: Nga đã bị tấn công từ lâu. Scott Ritter chỉ thẳng vào một sự kiện mà truyền thông phương Tây gần như không đưa tin: Nhà máy Votkinsk – cơ sở sản xuất tên lửa đạn đạo chiến lược Yars, Topol-M và các tên lửa hạt nhân chủ lực của Nga, nằm sâu dưới chân dãy Ural, cách tiền tuyến hàng nghìn km - đã bị tấn công bởi tên lửa Flamingo do chính Anh chế tạo. Sáu quả đã được phóng đi. Năm quả bị bắn hạ. Một quả đánh trúng Phân xưởng số 19 – một trong những phân xưởng quan trọng nhất trong toàn bộ chuỗi sản xuất tên lửa đạn đạo Nga.

"Hãy tự hỏi," Ritter đặt câu hỏi, "nếu một tên lửa đánh trúng cơ sở sản xuất tên lửa đạn đạo chủ lực của Mẽo, liệu chúng ta có ngồi yên và nói 'Không sao đâu' không?" Đây không phải là một vụ tập kích thông thường vào kho nhiên liệu hay sân bay. Đây là một đòn đánh thẳng vào xương sống răn đe hạt nhân của Nga. Tên lửa đó do Anh chế tạo. Hệ thống dẫn đường do Đức cung cấp. Tình báo mục tiêu do NATO chia sẻ. Và nó được phóng đi từ lãnh thổ Ukraine với sự hậu thuẫn toàn diện của phương Tây.

Không quốc gia có chủ quyền nào có thể chấp nhận điều này. Khi Nga nói về "đòn đáp trả", đây không phải là leo thang – đây là sự tự vệ chính đáng theo luật chiến tranh. Châu Âu đã tự biến mình thành một bên tham chiến hợp pháp, và Moscow có toàn quyền đáp trả nhằm vào chính những cơ sở đã sản xuất ra các vũ khí đó.

⚖️ 3. Điều 5 không phải là tự động: Nước Đức sẽ phải tự mình gánh chịu hậu quả.

Khi những quả Oreshnik đầu tiên lao xuống Düsseldorf hay Birmingham, liệu Điều 5 của NATO có được kích hoạt? Scott Ritter khẳng định: không. Và đây không phải là ý kiến cá nhân - đây là luật chiến tranh.

"Đức đã xây dựng các nhà máy sản xuất vũ khí cho Ukraine với tư cách một quốc gia, không phải với tư cách NATO," Ritter phân tích. "Anh cũng vậy. Những cơ sở này không nằm dưới ô bảo vệ của Điều 5. Các quốc gia này đã tự nguyện trở thành bên tham chiến trong cuộc xung đột vũ trang chống lại Nga. Luật chiến tranh cho phép Nga đáp trả nhằm vào chính những cơ sở đó."

Điều 5 của Hiến chương NATO không phải là công tắc tự động. Nó quy định rằng các thành viên sẽ "tham khảo ý kiến" và "quyết định hành động nào, nếu có, sẽ được thực hiện". Và khi tên lửa Nga giáng xuống, sẽ có rất nhiều nước NATO quay sang Berlin và nói: "Các anh đã không hỏi chúng tôi. Các anh đã không tìm kiếm một lập trường thống nhất. Chúng tôi không ủng hộ việc này. Và chúng tôi sẽ không chết vì các anh."

Mẽo - dưới thời Lão Don - sẽ là nước đầu tiên và lớn tiếng nhất trong số đó. Oa-sinh-tơn đã phát tín hiệu rõ ràng rằng họ muốn rút lui khỏi châu Âu, không phải lao vào một cuộc chiến tranh thế giới vì những quyết định đơn phương của Berlin. "Chúng tôi sẽ không hy sinh Boston vì Düsseldorf," như chính Karaganov đã nói - và Ritter tin rằng logic đó sẽ chiếm ưu thế trong Phòng Tình huống của Nhà Trắng khi thời khắc quyết định đến.

Thế giới đang đứng trước một ngưỡng cửa lịch sử. Không phải ngưỡng cửa của chiến tranh hạt nhân toàn diện - mà là ngưỡng cửa của một hình thái chiến tranh mới: nơi một cường quốc sử dụng vũ khí quy ước có sức hủy diệt tương đương hạt nhân để trừng phạt những kẻ đã tấn công mình, mà không kích hoạt vòng xoáy leo thang hủy diệt toàn cầu. Oreshnik chính là công cụ cho học thuyết đó. Và khi những quả tên lửa đầu tiên rời bệ phóng, người châu Âu sẽ biết rằng họ đã bị chính những nhà lãnh đạo mộng du của mình dẫn vào một cuộc chiến mà không ai đến cứu họ. Không phải vì NATO không muốn - mà vì luật pháp và thực tế chính trị không cho phép. Lịch sử sẽ ghi lại khoảnh khắc này như lúc lục địa già tỉnh giấc – nhưng chỉ sau khi những cột khói khổng lồ bốc lên từ đống đổ nát của chính các nhà máy đã gieo gió ắt gặt bão./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ ĐÃ CŨ - NHÌN LẠI & ĐÁNH GIÁ: TUYỆT ĐỐI ĐẲNG CẤP!

     Chính trị đỉnh cao chưa bao giờ chỉ nằm ở những bài phát biểu trên diễn đàn hay các văn kiện ngoại giao được chuẩn bị kỹ lưỡng. Đôi khi, đẳng cấp của một nguyên thủ lại được thể hiện trong vài giây ngắn ngủi: một ánh mắt, một nụ cười, một cách đối đáp, hay đơn giản là khả năng làm chủ hoàn toàn không gian giao tiếp.

Năm 2007, tại Hội nghị Thượng đỉnh G7 tổ chức ở Đức, đã xuất hiện một khoảnh khắc như vậy với Tổng thống Nga Vladimir Putin. Trong lúc tiếp xúc bên lề hội nghị, một thanh niên tỏ thái độ thiếu thiện cảm với nhà lãnh đạo Nga. Tình huống diễn ra bất ngờ, nhưng điều khiến nhiều người chú ý không phải là hành động của chàng trai kia, mà là cách Putin xử lý tình huống.

Không nóng nảy. Không phản ứng gay gắt. Không cần đến quyền lực để áp chế.

Ông chỉ bình thản đối đáp, rồi bất ngờ chuyển từ tiếng Nga sang tiếng Đức một cách lưu loát và đầy tự tin. Chính khoảnh khắc ấy đã khiến nhiều người xung quanh sửng sốt. Một phóng viên đứng cạnh gần như không giấu nổi sự kinh ngạc, đúng nghĩa “mắt tròn mắt dẹt”.

Đó là khác biệt giữa một người chỉ nắm quyền lực và một chính khách thực sự làm chủ quyền lực.

Trong thế giới chính trị quốc tế, ngôn ngữ không đơn thuần là công cụ giao tiếp. Nó là biểu hiện của tri thức, bản lĩnh, chiều sâu văn hóa và khả năng kiểm soát tình huống. Việc một nguyên thủ có thể chuyển đổi ngôn ngữ tự nhiên ngay trong đối thoại trực tiếp không chỉ tạo ưu thế tâm lý, mà còn phát đi một thông điệp rất rõ ràng: ông hiểu đối phương, hiểu không gian mình đang đứng và hoàn toàn tự tin vào vị thế của bản thân.

Điều đáng nói hơn là phong thái ấy phản ánh rất rõ bản lĩnh chính trị kiểu Nga - lạnh lùng, điềm tĩnh nhưng đầy sức nặng. Ở những chính khách như Vladimir Putin, người ta thường thấy một kiểu quyền lực không cần phô trương quá nhiều, nhưng luôn tạo cảm giác áp đảo bằng thần thái, sự từng trải và khả năng làm chủ cục diện.

Đẳng cấp thật sự đôi khi không nằm ở việc nói lớn hơn người khác, mà ở chỗ khiến cả căn phòng phải im lặng để lắng nghe mình nói./.


Ảnh chụp màn hình cuộc họp báo.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GS TRẦN ĐẠI NGHĨA - HỌC TRÒ XUẤT SẮC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

     Theo người con trai, ngày thống nhất, GS Trần Đại Nghĩa nhắc đến 3 ngày đặc biệt gắn với những quyết định làm thay đổi cuộc đời ông.

Chiều 30/4/1975, GS Trần Đại Nghĩa bồi hồi mở cuốn nhật ký mang đậm dấu vết thời gian ghi dòng chữ: “Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiệm vụ Bác Hồ giao cho tôi đã hoàn thành, vì hoài bão của tôi hồi nhỏ, sứ mạng của tôi rất đơn giản là tham gia về mặt khoa học, kỹ thuật vũ khí trong cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng để giải phóng đất nước.
Và nay đất nước đã được giải phóng, tôi không muốn gì hơn nữa…”.

Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, vị Giáo sư tài ba nhớ đến Bác Hồ kính yêu - người thầy, cũng là người đưa ông về nước, chăm sóc, hướng dẫn và trao cho ông một nhiệm vụ vô cùng quan trọng - nghiên cứu, chế tạo vũ khí để bộ đội ta đánh giặc.

Ba ngày đặc biệt trong cuộc đời của “vua vũ khí” Trần Đại Nghĩa.

Trong căn nhà nhỏ trên phố Hàng Chuối (Hà Nội), nơi Giáo sư (GS) Trần Đại Nghĩa sinh sống nhiều năm, Đại tá Trần Dũng Trí lật giở từng trang tư liệu về người cha đáng kính. Ông càng thêm xúc động khi kể về tâm sự của cha trong ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 51 năm trước.

Ông Trí cho biết, cha của mình có thói quen ghi chép, nghiên cứu suốt ngày đêm. Nhiều tài liệu được ghi chép bằng tiếng nước ngoài nhằm bảo đảm tính tuyệt mật. Trong số những tư liệu sau này gia đình còn lưu giữ, có những dòng lưu bút được GS Trần Đại Nghĩa ghi đúng ngày 30/4/1975.

Chỉ đôi dòng ngắn ngủi nhưng để có được những đúc kết xúc động ấy là hành trình đầy gian lao. Ở đó, người ta thấy được hình ảnh của một trí thức ôm hoài bão năm 17 tuổi - “chế tạo vũ khí đánh Tây”, đến những ngày nghiên cứu tuyệt mật trên đất Pháp, làm việc miệt mài trong nhà máy chế tạo máy bay ở Đức, từ bỏ cuộc sống nhung lụa, mức lương 22 lượng vàng, theo chân Bác Hồ về nước, chấp nhận cảnh thiếu thốn đủ bề để phụng sự Tổ quốc.

Theo Đại tá Trần Dũng Trí, ngày đất nước thống nhất, cha của ông nhắc đến 3 ngày đặc biệt trong cuộc đời: Ngày 10/9, ngày 20/10 và ngày 5/12.

Trong nhật ký hôm ấy, GS Trần Đại Nghĩa viết: “Hàng năm cứ đến 3 ngày là: Ngày 10 tháng 9, ngày 20 tháng 10 và ngày 5 tháng 12, tôi lại nhớ về quá khứ một cách rất cảm động".

Theo người con trai, đây là 3 ngày gắn với những cột mốc đặc biệt, những quyết định làm thay đổi cuộc đời chàng trai Phạm Quang Lễ (tên thật của GS Trần Đại Nghĩa).

Tháng 6/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số đồng chí sang thăm Pháp và tham dự hội nghị tại Fontainebleau nhằm giải quyết các bất đồng về độc lập và thống nhất sau Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946.
Trong quá trình đàm phán, phái đoàn Việt Nam nhất quán theo đuổi các mục tiêu về độc lập chính trị và thống nhất Việt Nam. Song, phái đoàn Pháp chỉ muốn coi Việt Nam là quốc gia tự trị trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, còn Liên bang Đông Dương là một liên hiệp các quốc gia tự trị tại Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp.

Các cuộc đàm phán kéo dài đến đầu tháng 9/1946 nhưng đôi bên không đạt được tiếng nói chung. Ngày 10/9/1946, Bác Hồ cho người gọi thanh niên Phạm Quang Lễ khi ấy đang học tập tại Pháp đến thông báo rằng hội nghị Fontainebleau không thành công và hỏi chàng trí thức người Việt có muốn về nước cùng Bác.

“Đáp lại lời Bác Hồ, cha tôi nói ông đã sẵn sàng. Và chỉ 6 ngày sau cuộc gặp - ngày 16/9/1946, cha tôi đã cùng Bác lên chuyến tàu hỏa rời Paris về phía Nam nước Pháp rồi lên tàu thủy về nước”, Đại tá Trần Dũng Trí kể.

Ngày 20/10/1946, tàu cập bến cảng Hải Phòng. Phạm Quang Lễ trở về nước sau 11 năm miệt mài tìm hiểu về vũ khí ở nước ngoài. Tại bến cảng có lực lượng tiếp đón của phía Pháp và đoàn Chính phủ Việt Nam, trong đó có đồng chí Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Cuộc gặp gỡ mãi sau này, khi nhớ lại, GS Trần Đại Nghĩa vẫn rưng rưng. Giáo sư ghi trong hồi ký: “Vị Tổng Tư lệnh trẻ, chỉ hơn tôi 2 tuổi, ôm lấy tôi nói: "Ở nhà nghe tin anh về với Bác, mừng lắm". Tôi cảm động trong tay anh: "Cám ơn anh, tôi mới về nước, chưa làm được điều gì, các anh ở nhà chắc vất vả lắm".

Ngay sau đó, Phạm Quang Lễ bắt tay vào việc. Đang ở Thái Nguyên lo sản xuất vũ khí, Phạm Quang Lễ nhận được điện về Hà Nội gấp để gặp Bác Hồ.

Tại Bắc Bộ phủ, Bác căn dặn chàng thanh niên yêu nước: "Bác quyết định trao cho chú nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội. Đây là việc đại nghĩa, vì thế Bác đặt cho chú tên là Trần Đại Nghĩa. Đây là bí danh từ nay trở đi của chú, để giữ bí mật và cũng là giữ an toàn cho bà con thân thuộc của chú ở trong miền Nam".

Ngày 5/12/1946 vì thế trở thành một ngày đặc biệt trong cuộc đời chàng thanh niên yêu nước quê Vĩnh Long. Ngày này, Phạm Quang Lễ được Bác đặt cho một cái tên mới - cái tên gắn với nhiệm vụ vô cùng cao cả, tạo nên một anh hùng huyền thoại của Việt Nam.

Từ đó, trong cương vị Cục trưởng Cục Quân giới, GS Trần Đại Nghĩa đã nghiên cứu và sản xuất thành công các loại vũ khí hiện đại góp phần quan trọng nâng cao sức chiến đấu của bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Bảo vệ tuyến huyết mạch, tìm lỗ hổng trong loạt vũ khí tối tân

Thời kỳ nhân dân miền Bắc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, xây dựng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà, GS Trần Đại Nghĩa giữ vị trí Thứ trưởng Bộ Công thương, được giao thêm trách nhiệm Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội…

Những năm 1964-1965, tình hình chiến trường ác liệt. Đế quốc Mỹ đã gây ra chiến tranh vô cùng tàn khốc trên khắp miền Nam. Năm 1964, chúng bắt đầu dùng máy bay đánh phá miền Bắc và từ giữa năm 1965 các cuộc tấn công ngày một nhiều, hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Bác Hồ khi ấy đã gợi ý điều động GS Trần Đại Nghĩa trở lại phục vụ quân đội với cương vị là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chuyên trách chỉ đạo về mặt kỹ thuật vũ khí quốc phòng, một lĩnh vực quan trọng về sức mạnh chiến đấu của quân đội ta.

Ông Trần Thành Đức - Thư ký riêng của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa - chia sẻ trong cuốn Huyền thoại nhà khoa học anh hùng Trần Đại Nghĩa rằng, Giáo sư được mời trở lại quân đội vào thời điểm diễn ra cuộc đối đầu lịch sử của ta với Mỹ trên nhiều mặt trận: Quân sự, chính trị, binh vận, ngoại giao.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, GS Trần Đại Nghĩa đã trực tiếp chỉ đạo hoặc cùng tham gia chỉ đạo nhiều công việc quan trọng. Từ kinh nghiệm quan sát Chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã báo cáo với Bác Hồ vấn đề sơ tán trong cuộc để tối ưu, ít gây ảnh hưởng đối với kinh tế, quân sự, giảm thương vong cho hàng triệu người trong kháng chiến chống Mỹ.

Ông còn dùng kinh nghiệm trong Chiến tranh thế giới thứ hai về kết hợp tàu bay, đại bác, phòng không, tên lửa để đánh không quân Mỹ, ngăn chặn B52.

Theo ông Thành Đức, trọng điểm của đế quốc Mỹ là đánh phá ác liệt dọc chiều dài tuyến 559 - đường Hồ Chí Minh, tuyến đường huyết mạch vận chuyển quân lực, vũ khí, phương tiện quân sự cho miền Nam. Trên tuyến đường này, đế quốc Mỹ thiết lập hàng rào điện tử Mcnamara (tên của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thời điểm ấy).

Các loại khí tài điện tử hiện đại được Mỹ áp dụng như cây nhiệt đới, máy đếm, máy thông tin, siêu âm, tia hồng ngoại; các loại mìn lá, bom nổ chậm, bom laser, bom từ trường, bom napan, chất độc hóa học, cùng với hệ thống xe tăng, xe bọc thép…

Ngoài ra, trực thăng vận, các loại máy bay do thám, máy bay gây nhiễu, phản lực "Thần Sấm", "Con ma", "Cánh cụp, cánh xòe" F111A đến pháo đài bay chiến lược B52, cũng được Mỹ thường xuyên huy động vào chiến trận, nhằm phát hiện đoàn xe của ta, địa điểm quân ta tập trung để tìm cách tiêu diệt.

Trước tình thế đó, GS Trần Đại Nghĩa đã nghiên cứu nhiều biện pháp bảo vệ tuyến huyết đường mòn Hồ Chí Minh để quân ta chở các vũ khí chiến đấu cho miền Nam.
Ông phối hợp cùng các lực lượng kỹ thuật quân sự, quân giới, các nhà khoa học kỹ thuật quân sự nghĩ ra cách chống bom từ trường làm cho nổ ở xa; chống bom điều khiển bằng laser; chống tàu bay của Mỹ chiến đấu bay thấp để tránh ra-đa của Việt Nam…

“Mỹ đã dùng một đoàn nghiên cứu, trong đó có nhiều tiến sĩ khoa học và hàng năm chi nhiều tỷ đôla vào nghiên cứu các trang bị, vũ khí để sử dụng ở chiến trường Việt Nam. Trong chiến tranh Đông Dương, Mỹ đã ném 7,8 triệu tấn bom, nhiều hơn số lượng bom đạn tất cả các nước đã sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng rốt cuộc không đạt kết quả mấy”, GS Trần Đại Nghĩa chia sẻ trong hồi ký.

Theo ông Thành Đức, từ ngày trở lại quân đội chỉ đạo công tác kỹ thuật quân sự, GS Trần Đại Nghĩa luôn ghi nhớ lời căn dặn của Bác Hồ khi Bác về thăm bộ đội Phòng không - Không quân. Khi ấy, Bác đã tiên đoán rằng: Sớm muộn rồi giặc Mỹ cũng dùng máy bay chiến lược B52 đánh phá thủ đô Hà Nội, rồi thua, chúng mới chịu thua.

Những lần làm việc với các nhà kỹ thuật phòng không không quân, GS Trần Đại Nghĩa thường nhấn mạnh rằng, kinh nghiệm chiến tranh thế giới đã chỉ rõ, vũ khí dù hiện đại đến mấy đi nữa vẫn có nhược điểm. Vậy nên, biện pháp tích cực nhất để đáp trả đối phương là phải nghiên cứu sâu, phát hiện và khoét sâu những nhược điểm đó.

"Vua vũ khí" Việt chỉ ra rằng, máy bay Mỹ tuy gây nhiễu nhưng không nhiễu được hết. Làn sóng đầu máy để dẫn đường không nhiễu được, nếu nhiễu máy bay cũng không thể sử dụng. Ông đã khai thác điểm mấu chốt này, đồng thời quan sát bằng sóng ra-đa với khí tài quang học để giảm hiệu quả nhiễu của chúng…

Sát cánh cùng 2 cuộc kháng chiến trường kỳ, GS Trần Đại Nghĩa vì thế càng hiểu hơn giá trị của chiến đấu và hi sinh. Ngày đất nước thống nhất, ông đã có thể mỉm cười hạnh phúc bởi hoàn thành được nhiệm vụ mà Bác Hồ giao phó.

Theo Đại tá Trần Dũng Trí, sau khi hoàn thành việc nước, tháng 7/1975, cha của ông mới có dịp trở về quê hương Vĩnh Long để thăm mộ cha mẹ, chị gái và gặp gỡ họ hàng.
Chuyến đi ấy vô cùng xúc động bởi sau 40 năm, GS Trần Đại Nghĩa mới được về thắp nén nhang lên mộ phần cha mẹ. Cha mất sớm, năm 1935, ông sang Pháp học rồi mất liên lạc với mẹ khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra. Ngày lần tìm lại được liên lạc thì cũng là lúc ông hay tin mẹ đã qua đời.

Đứng trước mộ phần những bậc thân sinh, dù ông không nói ra nhưng ai cũng hiểu, người con ấy có thể tự hào báo cáo rằng bản thân đã làm đúng lời cha mẹ dạy: “Cố gắng học hành để trở thành người có ích”. Con người có ích ấy đã tạo nên những kỳ tích trở thành huyền thoại cho nền khoa học kỹ thuật quân sự Việt Nam, góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc.

GS Trần Đại Nghĩa (1913-1997) là Cục trưởng đầu tiên của Cục Quân giới. Sau năm 1954, ông giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng (1966-1977).

Bên cạnh lĩnh vực quân sự, trong lĩnh vực dân sự, ông cũng giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Công Thương (1951-1960), Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (1960-1963), Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước (1963-1972). Ông là Đại biểu Quốc hội khóa II, III. Ông cũng là giám đốc đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa.

Trong lĩnh vực khoa học, ông từng giữ các trọng trách: Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Ngày 8/2/1966, ông được vinh dự tặng danh hiệu Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.

Năm 1996, ông được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (bazooka, súng không giật, đạn bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Trước đó, ông cũng được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Ba và Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất./.





QV-ST!