Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

HÃY DẸP BỎ TƯ DUY NHỎ

Cõi mạng mấy hôm nay có một kiểu" nhà kinh tế học" rất buồn cười. Cứ nghe tới chữ Long Thành là mắt trợn lên, miệng méo xệch:- Đội vốn!- Kết nối chưa xong- Lãng phí!

Tôi xin hỏi nhẹ các vị ấy một câu: Các vị đang tính bài toán cho 3 năm… hay cho 30–50 năm, thậm chí 100 năm?

Sân bay Long Thành không phải cái chợ tạm dựng lên bán vài vụ mùa rồi dẹp. Nó là cấu trúc hạ tầng chiến lược. Nó là cửa ngõ hàng không cấp vùng. Nó là nước cờ đặt cho thế hệ sau, không phải để mấy ông bà phát trực tiếp rồi phân tích cho đã miệng.

Các vị hay vin vào" chi phí đầu tư lớn". Ừ thì lớn. Làm sân bay quốc tế mà đòi rẻ như làm nhà cấp 4 à?

Ngày xưa khi quyết định xây Sân bay Changi, giới lãnh đạo Singapore chỉ hỏi:" 50 năm nữa chúng ta đứng ở đâu trong bản đồ trung chuyển hàng không khu vực". Và kết quả là ai cũng thấy rồi đấy!

Hạ tầng chiến lược không sinh lời kiểu bán bún. Nó tạo hệ sinh thái: Vận chuyển kho bãi( logistics), thương mại, công nghiệp phụ trợ, đô thị vệ tinh. Nó kéo cả một vùng kinh tế đi lên.

Mấy vị" chuyên gia mạng" cứ lấy hạ tầng kết nối hiện tại ra làm lý do phủ định. Tôi nói luôn các vị thế này: Kết nối là quá trình song hành. Đường cao tốc, vành đai, đường sắt… xây dựng theo tiến độ. Không ai chờ đủ hết mới làm sân bay. Làm vậy thì 20 năm nữa vẫn còn đang… họp.

Lịch sử phát triển hạ tầng thế giới chưa bao giờ đi theo logic" đợi đủ rồi mới làm". Hãy nhìn Sân bay Incheon. Ngày khởi công, ai cũng bảo xa trung tâm, tốn kém. Hôm nay nó là biểu tượng của Hàn Quốc hiện đại. Hay như Sân bay Quốc tế Đại Hưng Bắc Kinh- Xây trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bất ổn. Vì sao? Vì họ nghĩ 50 năm tới, không phải 5 năm tới.

Còn ta? Cứ đụng tới đầu tư lớn là co rúm lại như thể tiền đó lấy từ túi riêng của mình. Tư duy" đếm cua trong lỗ" không bao giờ tạo ra kỳ tích hạ tầng.

Đồng ý, các vị có quyền phản biện để nhà nước phải giám sát. Phải minh bạch. Phải chống thất thoát. Nhưng phản biện không đồng nghĩa với phủ định sạch trơn.

Một quốc gia 100 triệu dân mà cứ loay hoay giữ cái sân bay cũ quá tải, rồi mỗi lần kẹt chuyến lại kêu trời, thì đó mới là lãng phí cơ hội.

Cái đáng sợ nhất không phải là vốn đầu tư lớn. Mà là tư duy nhỏ. Những người chỉ nhìn thấy con số chi ra hôm nay, mà không nhìn thấy dòng chảy giá trị của nửa thế kỷ sau, thì đừng nhận mình là" nhà kinh tế". Bởi kinh tế mà không hiểu động lực tăng trưởng dài hạn thì khác gì người nông dân ngày xưa, tầm nhìn đít con trâu, lấy lồ... trâu làm thước ngắm!


Túm lại: Một đất nước muốn bay cao, trước hết phải có đường băng đủ dài. Và với độ dài 4.000m của đường băng sân bay Long Thành, máy bay to cỡ nào cũng cất cánh được. Còn ai đang tư duy mình chỉ cần một đường băng ngắn cho một máy bay nhỏ tốc độ chậm, thì sẽ bị bỏ lại phía sau mà tiếc 

ST

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

HỌC TẬP THEO LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ: “VÌ LỢI ÍCH 10 NĂM TRỒNG PHẢI CÂY... 100 NĂM TRỒNG NGƯỜI” - CHO THÀNH PHỐ CẢNG HẢI PHÒNG THÊM XANH!

     Cứ dịp đầu xuân, thành phố Hải Phòng tổ chức đồng loạt lễ ra quân trồng cây tại các cơ quan, đơn vị, công sở, xã, phường.

Nét đẹp văn hóa ngày xuân

Ngày 28/11/1959, Bác Hồ kính yêu viết bài báo đầu tiên có tên “Tết trồng cây” với bút danh Trần Lực đăng trên Báo Nhân Dân số 2082. Trong bài báo đó, Bác đề nghị: “Tổ chức một Tết trồng cây lấy thành tích chào mừng Đảng ta tròn 30 tuổi”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, toàn Đảng, toàn dân thực hiện “Tết trồng cây” đầu tiên trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý (1960) và từ đó đến nay, Tết trồng cây trở thành nét đẹp văn hóa của nhân dân ta mỗi độ Tết đến, xuân về.

Tại thành phố Hải Phòng, cứ dịp đầu xuân, thành phố tổ chức đồng loạt lễ ra quân trồng cây tại các cơ quan, đơn vị, công sở, xã, phường. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố luôn tích cực hưởng ứng “Tết trồng cây”, phát triển thành mùa xuân trồng cây.

Cùng với phong trào trồng cây xanh bóng mát, phong trào trồng cây xanh phát triển kinh tế được các hội viên hội làm vườn, hội nông dân tích cực hưởng ứng. Chủ tịch Hội Làm vườn Hải Phòng Ngô Thị Minh Hà cho biết, cứ vào dịp đầu xuân, các hội viên lại trồng thêm nhiều cây ăn quả trong vườn nhà, xây dựng các mô hình vườn mẫu hữu cơ để phát triển kinh tế, tăng thu nhập. Các hội viên nông dân phát triển các mô hình trồng cây phát triển kinh tế tại vườn nhà, đồi rừng… Điển hình như các mô hình trồng cây thanh long, vải, ổi, nhãn ở các xã, phường như: Chí Linh, Thanh Hà, An Trường, An Khánh, Đồ Sơn, Lưu Kiếm…

Chuẩn bị chu đáo

Năm 2026, mùa xuân đầu tiên sau khi thành phố hợp nhất và tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, phong trào trồng cây xanh đầu xuân vẫn tiếp tục được duy trì và thực hiện với nhiều nét mới. Các xã, phường, đặc khu đồng loạt tổ chức Lễ phát động Tết trồng cây đầu xuân vào ngày 23/2 (tức ngày 7 tháng Giêng) theo quy mô cấp xã.

Tại hai địa điểm tổ chức Lễ phát động trồng cây đầu xuân dự kiến có lãnh đạo thành phố dự là phường Đồ Sơn và Trần Nhân Tông, công tác chuẩn bị cho Tết trồng cây được chuẩn bị chu đáo. Tại phường Đồ Sơn, địa phương dự kiến trồng 368 cây thông nhựa thuần loài, góp phần phủ xanh cảnh quan, bảo vệ môi trường sinh thái. Trước Tết âm lịch, phường chủ động chỉnh trang khu vực đồi trồng cây, vệ sinh môi trường, bố trí cây giống, đồng thời bảo đảm đầy đủ các điều kiện sẵn sàng cho lễ phát động diễn ra trang trọng, an toàn và hiệu quả.

Còn ở phường Trần Nhân Tông, địa phương chọn địa điểm tổ chức lễ phát động trồng cây tại khu vực hồ Côn Sơn. Theo đó, lực lượng chức năng thực hiện san gạt, chỉnh trang mặt bằng khu vực này, bố trí lối đi, khu vực tập kết cây, bảo đảm an toàn, thuận lợi để tổ chức trồng cây đầu xuân.

Để chuẩn bị tốt Lễ trồng cây đầu xuân, ngay từ trước Tết Nguyên đán Bính Ngọ, Sở Nông nghiệp và Môi trường cử đoàn cán bộ hướng dẫn, kiểm tra công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện Tết trồng cây dịp đầu xuân tại một số địa phương… Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng Mạc Đăng Mạnh thông tin, thực hiện kế hoạch của thành phố về phát động Tết trồng cây đầu xuân Bính Ngọ, các xã, phường, đặc khu đều chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức lễ phát động, lựa chọn đủ số lượng cây trồng, bảo đảm đúng quy định về kích thước theo quy định; cây giống được nhập về từ các cơ sở có uy tín, bảo đảm chất lượng.

Theo Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng, năm 2025, toàn thành phố trồng hơn 1,2 triệu cây xanh. Trong đó, có 580.000 cây bóng mát, cây cảnh quan, diện tích 400 ha rừng trồng mới (tương đương khoảng 640.000 cây rừng)./.


QV-ST!

KHƠI DẬY TINH THẦN YÊU NƯỚC, KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC!

     Yêu nước là tình cảm thiêng liêng và là bổn phận cao cả của mỗi con người đối với quê hương xứ sở đã sinh ra, nuôi dưỡng mình lớn khôn, trưởng thành. Lòng yêu nước là giá trị tốt đẹp để khẳng định tầm cao nhân cách, chiều sâu văn hóa của mỗi công dân đối với Tổ quốc; đồng thời là một trong những động lực quan trọng để góp phần gắn kết cộng đồng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam!

1. Yêu nước là một trong những dấu ấn đặc trưng nổi bật làm nên bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Điều này đã được khẳng định tại Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16-7-1998 của Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: Những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý thương người như thể thương thân, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động... Đó là nền tảng và sức mạnh to lớn để nhân dân ta xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ, công bằng, nhân ái.

Theo nhà văn hóa, Giáo sư Trần Văn Giàu (1911-2010), trong các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước luôn được xếp ở vị trí đầu tiên. Nó trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” và là “động lực tình cảm lớn nhất, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc”. Giá trị cao quý đó được kết tinh qua lời tuyên bố bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Yêu nước không chỉ là động lực của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử mà còn là điểm tựa tinh thần to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển”.

2. Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, lòng yêu nước luôn là điểm tựa bất biến và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để giữ vững tinh thần, cốt cách của quốc gia, dân tộc. Xu thế hợp tác là dòng chủ lưu chính của thời đại, nhưng cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ trên thế giới vẫn tiếp tục diễn ra phức tạp và các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Một trong những âm mưu đó là ra sức xuyên tạc, phủ nhận những giá trị truyền thống lịch sử và thành quả cách mạng to lớn mà dân tộc ta đã giành được trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải không ngừng củng cố, vun đắp truyền thống yêu nước cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, nhất là thế hệ trẻ.

Tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc không phải là những giá trị bất biến mà luôn được bổ sung, bồi tụ thêm những nội dung mới để phù hợp điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mới. Nếu trong các cuộc kháng chiến trước đây, lòng yêu nước được biểu lộ mạnh mẽ từ ý chí quật cường, gan dạ, dám đánh, quyết đánh và đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, hoàn thành sự nghiệp thống nhất non sông; thì ngày nay, tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc được thể hiện ở nhiều khía cạnh phong phú, sâu sắc hơn, đó là: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; trung với nước, hiếu với dân; coi trọng lợi ích quốc gia chân chính trong quan hệ quốc tế; nêu cao ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực học tập và lao động sáng tạo vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta yêu nước, yêu hòa bình trong độc lập, tự do, chúng ta sẵn sàng hy sinh thân mình vì độc lập dân tộc, đồng thời luôn tìm mọi phương án, kế sách tối ưu để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Những giá trị truyền thống nói chung, lòng yêu nước nói riêng là tài sản tinh thần vô giá của tổ tiên, ông cha để lại và là sở hữu chung của mọi người dân đất Việt. Do vậy, chúng ta cần bền bỉ giáo dục, bồi đắp, nâng cao tinh thần yêu nước cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; đồng thời phát huy cao nhất tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc” như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, để dân tộc ta vững bước vào kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Tự chủ là dân tộc ta tự lựa chọn, quyết định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Tự tin là chúng ta có niềm tin tích cực vào lý tưởng, mục tiêu chúng ta đang thực hiện là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc. Tự lực là chúng ta tự phát huy nội lực, dựa vào sức mạnh của mình là chủ yếu trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Tự cường là chúng ta nỗ lực quyết tâm làm cho dân tộc, đất nước Việt Nam ngày càng mạnh mẽ hơn về mọi mặt, có đủ khả năng, năng lực giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không bị phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào. Tự hào là chúng ta luôn trân trọng, hãnh diện về những giá trị truyền thống tốt đẹp, tinh hoa di sản văn hóa của các thế hệ người Việt Nam đã dày công vun đắp, gìn giữ, trao truyền, bồi đắp suốt mấy nghìn năm qua để dân tộc, đất nước Việt Nam tạo lập được vị thế vững vàng, xây dựng cơ đồ tươi sáng như hôm nay. 

Từ việc khơi nguồn, phát huy sức mạnh tinh thần yêu nước của các giai cấp, tầng lớp và toàn xã hội, mỗi người dân sẽ luôn mang trong mình ý thức chủ quyền “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” (Hồ Chí Minh) và nhân lên niềm tin “Hạnh tại sinh Nam bang” (May mắn thay được sinh ra ở nước Việt Nam) như danh nhân Ngô Thì Nhậm đã khẳng định. Qua đó làm cho lòng yêu nước thương nòi ngày càng thấm sâu vào trái tim, khối óc, tình cảm, niềm tin, lẽ sống, tạo động lực thôi thúc mỗi người Việt tự nguyện cống hiến tài năng, trí tuệ, sức lực của mình cho sự phát triển giàu mạnh, phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự trường tồn của dân tộc Việt Nam./.
QV-ST!

HƯỚNG TỚI BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XVI VÀ HĐND CÁC CẤP: CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - YẾU TỐ QUAN TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC!

     Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ngày 15/3 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Yêu cầu đặt ra là phải lựa chọn được những đại biểu thực sự có chất lượng cao, tạo nền tảng cho việc xây dựng bộ máy nhà nước vững mạnh trong nhiệm kỳ mới, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.

Cơ sở pháp lý và yêu cầu về tiêu chuẩn đại biểu

Theo Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 sửa đổi bổ sung năm 2020 và 2025, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn các chức danh chủ chốt của bộ máy nhà nước trong số các đại biểu Quốc hội, như Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội… Nhiều chức danh quan trọng khác do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn cũng là đại biểu Quốc hội.

Điều đó cho thấy, chất lượng đại biểu Quốc hội có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng đội ngũ lãnh đạo bộ máy nhà nước. Lựa chọn đại biểu thực chất là lựa chọn nhân sự cho các vị trí then chốt của hệ thống chính trị.

Đại biểu Quốc hội đạt được chất lượng cao tối ưu là những đại biểu đạt 5 tiêu chuẩn ở cấp độ cao nhất, là những đại biểu có phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ, trí tuệ, tinh thần trách nhiệm cao, luôn luôn tận tâm, nhiệt huyết với công việc và là những người rất có bản lĩnh. Những đại biểu như thế khi được Quốc hội bầu, phê chuẩn nắm giữ các chức danh trong bộ máy nhà nước, họ sẽ hành động quyết liệt, sẽ làm cho bộ máy hoạt động có hiệu lực và hiệu quả cao nhất trong khả năng có thể.

Do tầm quan trọng của đại biểu Quốc hội nên rất cần vận dụng đúng đắn, hợp lý khung tiêu chuẩn chức danh về mặt chính trị để bảo đảm lựa chọn được những đại biểu tiêu biểu nhất. Đó là những người “mẫu mực về phẩm chất đạo đức; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; là trung tâm đoàn kết, gương mẫu về mọi mặt. Không tham nhũng, lãng phí, cơ hội, vụ lợi; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm; tuyệt đối không trục lợi và cũng không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi” 

Đi đôi với những vấn đề cơ bản cũng rất cần lưu ý những vấn đề cụ thể: Về chỉ đạo trong bầu cử, phải áp dụng đồng bộ, đầy đủ một hệ thống các biện pháp cụ thể mà các văn bản của Hội đồng Bầu cử quốc gia, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã hướng dẫn; mặt khác, phải có thông tin đầy đủ, cụ thể của các ứng cử viên để cử tri thuận đường lựa chọn. Phải minh bạch, phải làm sáng rõ sự thật bên trong của mỗi con người. Thông qua các tiêu chuẩn của đại biểu dân cử, cử tri muốn nắm bắt, hiểu biết được một cách sâu sắc, cụ thể, tường tận những quy định thuộc tiêu chuẩn mà ứng cử viên đã thể hiện trong thực tế cuộc sống để yên tâm lựa chọn chính xác trước khi quyết định trên lá phiếu bầu, khắc phục tình trạng so đo bầu theo tuổi tác, theo cấp bậc, chức vụ, trình độ học vấn từ cao đến thấp.

Hiện nay theo quy định trong tiếp xúc cử tri vận động bầu cử, cử tri đã được biết hai tài liệu về ứng cử viên, đó là tiểu sử tóm tắt và Chương trình hành động. Song những tài liệu đó chưa đủ thông tin để cử tri nắm được thực chất bên trong của mỗi ứng cử viên. Thực ra, những nội dung của ứng cử viên mà cử tri muốn biết rõ hơn cũng đã có trong 4 loại văn bản của ứng cử viên (Đơn ứng cử; Sơ yếu lý lịch; Tiểu sử tóm tắt và Bản kê khai tài sản). Khi ứng cử viên được giới thiệu về ứng cử ở địa phương, được phân chia về các đơn vị bầu cử, có nghĩa là những nội dung đó đã được các cấp có thẩm quyền xác nhận là đã được bảo đảm về tiêu chuẩn. Vấn đề là, cử tri cần được thông báo những xác nhận, những kết luận đó. Do vậy rất cần thông báo trong các buổi tiếp xúc cử tri vận động bầu cử văn bản đánh giá cụ thể mức độ đạt được các tiêu chuẩn đối với mỗi ứng cử viên mà các cấp có thẩm quyền bên trên đã xác nhận. Đây vừa là giải pháp giúp cử tri lựa chọn đúng người xứng tầm, vừa là giải pháp tiếp tục phát huy dân chủ, công khai đầy đủ thông tin về ứng cử viên và thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, của cử tri.

Chất lượng đại biểu Quốc hội quyết định hiệu quả hoạt động của Quốc hội

Cũng với 3 chức năng hoạt động của Quốc hội là lập pháp, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia, nhưng ở mỗi thời kỳ cách mạng khoa học - kỹ thuật khác nhau thì nội dung và yêu cầu của việc thực hiện các chức năng đó cũng khác nhau theo hướng ngày càng cao hơn, tiến bộ hơn ngang tầm với tiến bộ khoa học - kỹ thuật của thời đại. Điều đó lý giải vì sao ngày càng phải nâng tầm chất lượng đại biểu Quốc hội. Song song với phẩm chất đạo đức thì trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực, trí tuệ cao là điều kiện tiên quyết để đại biểu có thể đóng góp tích cực, có hiệu quả vào các hoạt động của Quốc hội.

Lấy công tác xây dựng luật pháp làm ví dụ: Từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở về trước, khi xây dựng một đạo luật, về cơ bản là căn cứ vào tình hình đất nước, yêu cầu của thực tiễn mà Quốc hội quyết định nội dung của một đạo luật. Nay hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và gia nhập khá nhiều Công ước quốc tế, thì luật pháp Việt Nam phải chịu một “áp lực” mới, đó là nhiều quy định vừa phải xử lý được thực tiễn của công cuộc đổi mới ở trong nước, vừa phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Một “áp lực” khác là chúng ta đã ký kết, tham gia và thực hiện một loạt các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới có tiêu chuẩn cao và toàn diện như CPTPP và EVFTA không chỉ đem lại cơ hội mà còn có nhiều thách thức trong việc hoàn thiện khung khổ pháp luật và thể chế, thực thi pháp luật lao động, công đoàn, môi trường, về bảo đảm ổn định chính trị, xã hội... Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi đại biểu Quốc hội phải có tư duy chính trị vững vàng, có tầm hiểu biết sâu rộng mới có thể có ý kiến xác đáng góp phần hoàn thiện được từng đạo luật và toàn bộ hệ thống luật pháp trong điều kiện mới.

Tương tự như vậy với hoạt động giám sát và quyết sách các vấn đề quốc gia: Nếu trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 (ứng dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa nhiều công việc) mà hoạt động giám sát và quyết định nhiều vấn đề đã gặp rất nhiều khó khăn thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hoạt động giám sát và quyết đáp nhiều việc lớn chắc chắn sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa.

Chất lượng hoạt động của Quốc hội còn phụ thuộc với mức độ lớn vào năng lực, trình độ khoa học - kỹ thuật của đại biểu. Phạm vi hoạt động cả Quốc hội bao gồm toàn bộ nền kinh tế - xã hội, toàn bộ các hoạt động của một xã hội. Trong khi đó, các đại biểu Quốc hội phần lớn chỉ được đào tạo và hoạt động trong một, hai lĩnh vực chuyên ngành, chỉ có một số rất ít đại biểu có hai, ba chuyên ngành. Bởi vậy, trong nhiệm kỳ 5 năm, thì ngay từ năm đầu tiên đại biểu đã phải tự đào tạo, truy cập thông tin, cập nhật kiến thức một cách “thần tốc” mới làm tốt được nhiệm vụ theo luật định. Hiện nay Quốc hội đang lần lượt xây dựng, sửa đổi, bổ sung tất cả các luật chuyên ngành, chuyên lĩnh vực. Bởi vậy, trong cơ cấu đại biểu Quốc hội phải có các đại biểu làm công tác khoa học - kỹ thuật thực thụ trong các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.

Cuối cùng, nói đến phẩm chất đạo đức, năng lực, trí tuệ... không thể không nói đến bản lĩnh của đại biểu. Thực tế không phải không có những đại biểu đạo đức phẩm chất tốt, năng lực, trí tuệ cao nhưng bản lĩnh lại không cao. Từ đó có lẽ trong cuộc bầu cử tới cũng không nên để những người có trình độ văn hóa, có vị trí cao, nhưng lại thiếu bản lĩnh “lọt vào” Quốc hội, trong khi Quốc hội rất cần những đại biểu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước mọi công việc.

Với sự chỉ đạo chặt chẽ, sát sao của các tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở; cùng với sự nỗ lực của các tổ chức phục vụ bầu cử và tinh thần trách nhiệm cao của Nhân dân, hy vọng rằng, cử tri sẽ chọn lựa được những đại biểu tiêu biểu nhất về phẩm chất đạo đức, năng lực, trí tuệ và giàu bản lĩnh vào Quốc hội khóa mới./.
QV-ST!

HƯỚNG TỚI BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XVI VÀ HĐND CÁC CẤP: HẢI PHÒNG HOÀN THÀNH TRƯỚC THỜI HẠN, VƯỢT NHIỀU CHỈ TIÊU TRONG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ BẦU CỬ!

     Với tinh thần chủ động, Hải Phòng đã hoàn thành sớm nhiều công việc chuẩn bị bầu cử so với thời hạn quy định, nhiều kết quả vượt chỉ tiêu.

Chủ động khắc phục khó khăn

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2026 - 2031 diễn ra sớm hơn 2 tháng nhưng quy trình, thủ tục vẫn giữ nguyên như kỳ bầu cử trước. Khối lượng công việc lớn nhưng thời gian lại gấp rút, khẩn trương đã đặt ra áp lực lớn với Ủy ban Bầu cử các cấp trên địa bàn thành phố.

Bên cạnh đó, việc triển khai công tác bầu cử trong bối cảnh cận Tết Nguyên đán và chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp mới đi vào hoạt động, nhiều quy định mới, lần đầu thực hiện dẫn đến việc triển khai công tác chuẩn bị bầu cử ở Hải Phòng gặp một số khó khăn.

Tuy nhiên, các cán bộ, công chức làm công tác chuẩn bị bầu cử trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã chủ động khắc phục vướng mắc, không để bị động. Ghi nhận trong dịp nghỉ Tết Bính Ngọ 2026, tại Sở Nội vụ - Cơ quan thường trực của Ủy ban Bầu cử thành phố Hải Phòng, các cán bộ, công chức ở nhiều thời điểm vẫn làm việc, tập trung cao độ chuẩn bị công tác bầu cử.

Tính đến hết ngày 23/2, Ủy ban Bầu cử thành phố Hải Phòng đã ban hành khoảng 120 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Sở Nội vụ đã ban hành hơn 100 văn bản đôn đốc, hướng dẫn về bầu cử.

90/114 xã, phường, đặc khu trên địa bàn thành phố đã ban hành Chỉ thị của Đảng ủy về bầu cử, 71/114 UBND cấp xã ban hành chỉ thị về bầu cử, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, kịp thời công tác bầu cử trong cả hệ thống chính trị từ thành phố đến các xã, phường, đặc khu.

114 xã, phường, đặc khu của thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội nghị triển khai công tác bầu cử trên địa bàn với tổng số 4.476 đại biểu tham dự.

Ban Thường vụ Thành ủy, Ban chỉ đạo Thành ủy về bầu cử đã kịp thời ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo về công tác bầu cử tại thành phố. Ủy ban Bầu cử thành phố cùng các cấp, ngành, địa phương đã chủ động trong triển khai các bước công việc, khắc phục nhiều khó khăn.

Hoàn thành sớm nhiều công việc, vượt nhiều chỉ tiêu quan trọng

Nhờ sự chủ động, các cấp, ngành, địa phương trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã hoàn thành nhiều bước trong quy trình chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND thành phố nhiệm kỳ 2026 - 2031 sớm hơn so với quy định, nhiều chỉ tiêu vượt so với yêu cầu của Trung ương đề ra.

Ngay từ việc thành lập Ủy ban Bầu cử thành phố, UBND thành phố Hải Phòng đã ban hành quyết định từ ngày 10/11/2025 thành lập Ủy ban Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2026 - 2031 gồm 35 đồng chí, trước 20 ngày so với quy định của luật.

Quy trình chuẩn bị bầu cử sau đó cũng được thực hiện bảo đảm hoàn thành đúng hoặc sớm hơn so với quy định.

Trong đó, hội nghị hiệp thương lần thứ hai lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND thành phố nhiệm kỳ 2026 - 2031 cũng được tổ chức vào ngày 2/2/2026, sớm hơn 1 ngày so với luật định.

Hội nghị hiệp thương lần thứ ba được tổ chức vào ngày 12/2, sớm hơn 8 ngày so với luật định.

Khi các hội nghị hiệp thương được tổ chức sớm, Ủy ban Bầu cử thành phố Hải Phòng đã kịp thời công bố danh sách chính thức người ứng cử đại biểu Quốc hội và HĐND thành phố ngay trong ngày 15/2 (ngày 28 Tết).

Theo thống kê số lượng, cơ cấu, thành phần, trình độ người ứng cử đại biểu HĐND thành phố Hải Phòng nhiệm kỳ 2026 - 2031, có 61 nữ trong tổng số 139 người ứng cử, chiếm 43,88%. Tỷ lệ này vượt chỉ tiêu khá cao so với quy định phụ nữ chiếm ít nhất 35% trong danh sách chính thức những người ứng cử theo Nghị quyết số 107/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV.

Ở cấp xã, trong 3.952 người chính thức ứng cử đại biểu HĐND cấp xã nhiệm kỳ 2026 - 2031 trên địa bàn thành phố, có 1.282 người trẻ tuổi (dưới 40 tuổi), chiếm 32,4%, cao gấp hơn 2 lần so với chỉ tiêu.

Hải Phòng đã bảo đảm tỷ lệ hợp lý đại biểu đại diện các tôn giáo, dân tộc, giới tính, độ tuổi, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh nhân và các hiệp hội, nghiệp đoàn trong sản xuất, kinh doanh... và đáp ứng các yêu cầu theo quy định.

Ở xã Thái Tân, có 16 người dưới 40 tuổi trong tổng số 33 người tham gia ứng cử đại biểu HĐND xã. "Có nhiều ứng cử viên là thanh niên thuộc thế hệ 9X, hoặc thế hệ sinh năm 2000 trở đi. Đây là lực lượng trẻ, lần đầu tiên tham gia ứng cử đại biểu HĐND xã và cũng là điểm mới của cuộc bầu cử lần này", bà Nguyễn Thị Tố Uyên, Trưởng Phòng Văn hoá - Xã hội xã Thái Tân đánh giá.

Tại xã Gia Phúc, Ủy ban Bầu cử xã đã ban hành nghị quyết công bố danh sách chính thức người ứng cử sớm hơn thời hạn quy định. Ông Bùi Tuấn Anh, Trưởng Phòng Văn hoá - Xã hội xã Gia Phúc cho biết: "Công tác chuẩn bị bầu cử trên địa bàn xã đang diễn ra đúng tiến độ, quy định, hoàn thành một số phần việc trước thời hạn được giao. Công tác tuyên truyền, trang trí khánh tiết đã sắp hoàn tất, tạo không khí phấn khởi cho ngày hội toàn dân đang tới gần".

Cùng với việc lựa chọn ứng viên, Ủy ban bầu cử các cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã ban hành Quyết định về việc thành lập tổ công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Đến nay, Ủy ban Bầu cử thành phố đã nhận được 2 đơn kiến nghị, tố cáo của công dân đối với người được giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND cấp xã thuộc xã Chấn Hưng và phường Gia Viên.

Ngay khi nhận được đơn kiến nghị và tố cáo của công dân, Ủy ban Bầu cử thành phố đã chuyển đơn của công dân đến tổ công tác giải quyết khiếu nại tố cáo, Ủy ban Bầu cử thành phố và Ủy ban Bầu cử phường Gia Viên, Ủy ban Bầu cử xã Chấn Hưng để xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

Phục vụ công tác chuẩn bị bầu cử, UBND thành phố đã ban hành 2 quyết định phân bổ kinh phí phục vụ công tác bầu cử về Sở Nội vụ (cơ quan thường trực Ủy ban Bầu cử thành phố), các sở, ngành, xã, phường, đặc khu với tổng kinh phí gần 162 tỷ đồng.

Với nguồn lực và sự tích cực, chủ động của các cấp, ngành trên địa bàn thành phố Hải Phòng, công tác chuẩn bị cho ngày bầu cử đang được thực hiện chu đáo, bảo đảm ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ là ngày hội lớn của toàn nhân dân thành phố Hải Phòng./.
QV-ST!

HÀ NỘI ĐỀ XUẤT ĐẦU TƯ HƠN 21 NGHÌN TỶ ĐỒNG MỞ RỘNG ĐƯỜNG LÁNG!

     Sở Xây dựng Hà Nội vừa báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phương án cải tạo, mở rộng tuyến đường Vành đai 2 trên cao và dưới thấp, đoạn từ Ngã Tư Sở đến Cầu Giấy (đường Láng), với tổng mức đầu tư dự kiến hơn 21.377 tỷ đồng.

Theo phương án, dự án cải tạo, mở rộng tuyến đường Vành đai 2 trên cao và dưới thấp, đoạn từ Ngã Tư Sở đến Cầu Giấy, thuộc nhóm A, công trình giao thông đường bộ cấp đặc biệt, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2025-2028.

Trong tổng mức đầu tư nêu trên, chi phí giải phóng mặt bằng chiếm phần lớn, khoảng 16.914 tỷ đồng, phần còn lại là chi phí xây lắp và các hạng mục liên quan.

Dự án được nghiên cứu với 2 phương án chính.

Phương án 1 là xây dựng cầu cạn có tim trùng với tim đường dưới thấp theo quy hoạch, với mặt cắt ngang khoảng 53,5m cho đường dưới thấp và 19m cho đường trên cao.

Phương án này được đánh giá có nhiều ưu điểm như bảo đảm đồng bộ quy hoạch, thuận lợi kết nối giao thông, phù hợp năng lực thi công trong nước và chi phí đầu tư thấp hơn.

Phương án 2 là xây dựng hầm chìm đường kính lớn kết hợp thoát nước chống ngập.

Tuy nhiên, theo Sở Xây dựng, phương án này gặp nhiều khó khăn. Cụ thể, tuyến hầm bị ảnh hưởng bởi hệ thống trụ cầu đường sắt Cát Linh-Hà Đông, không bảo đảm không gian kỹ thuật để bố trí hầm 4 làn xe; đồng thời có nguy cơ tác động đến các di tích và các công trình dân cư lân cận.

Ngoài ra, việc giao cắt với tuyến đường sắt đô thị số 5 và điều kiện cao độ thực tế khiến chiều dài hầm hạn chế, hiệu quả đầu tư không cao.

Trên cơ sở phân tích, Sở Xây dựng đề xuất lựa chọn phương án 1 (cầu cạn) là tối ưu để triển khai đầu tư, đồng thời, kiến nghị trước mắt thực hiện dự án theo hình thức đầu tư công từ ngân sách thành phố nhằm đẩy nhanh tiến độ, sau đó có thể nghiên cứu chuyển đổi sang hình thức PPP (đối tác công-tư) để đa dạng nguồn vốn./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH, BẢO VỆ TỔ QUỐC!

     Những chủ trương, quan điểm, định hướng chiến lược về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh (QPAN), bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) trong văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng có sự phát triển mới, phù hợp với tình hình thực tiễn và xu thế thời đại, được thể hiện trên những vấn đề sau:

Kế thừa Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đại hội XIV có bước phát triển mới, nêu rõ hơn về lợi ích quốc gia-dân tộc và nội hàm an ninh quốc gia trên các lĩnh vực: Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc; bảo vệ uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh chế độ, an ninh văn hóa tư tưởng, an ninh kinh tế-tài chính, an ninh mạng-dữ liệu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước...

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã bổ sung vị trí, vai trò mới của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường, đối ngoại và hội nhập quốc tế; khẳng định: “Phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường QPAN và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Sự phát triển này nhằm định hướng rõ hơn trách nhiệm của LLVT và toàn xã hội đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh phi truyền thống, sự nghiệp BVTQ từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ.

Trong Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc...”. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và "thế trận lòng dân"; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”. Điểm mới là đề cao vai trò con người với tư cách chủ thể của sự nghiệp xây dựng và BVTQ trong kỷ nguyên mới. Đây là định hướng xuyên suốt, rất quan trọng và cần thiết, thể hiện rõ quan điểm khoa học, đúng đắn của Đảng trong cổ vũ, động viên, phát huy nhân tố con người và vai trò “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp BVTQ.

Từ nhận thức sâu sắc tình hình, môi trường chính trị, an ninh toàn cầu và yêu cầu BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã bổ sung nội dung mới, đề cao tính chủ động “tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động... xây dựng khu vực phòng thủ chủ động vững chắc”; “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, BVTQ từ sớm, từ xa” để định hướng nhận thức sự cần thiết phải “thấy trước, biết trước”, tạo tâm thế chủ động, đi trước, đón trước, chuẩn bị trước, ngăn chặn từ trước, từ xa, xử lý sớm các nguy cơ; không để bị động, bất ngờ.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với QPAN và giữa QPAN với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”. Văn kiện Đại hội XIV đề cao tính hài hòa và bổ sung nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong sự kết hợp này: “Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố QPAN, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”. Trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững cũng như những nguy cơ, thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, nhất là thiên tai, ô nhiễm môi trường sinh thái, Đảng đã chủ trương đưa nhiệm vụ bảo vệ môi trường là cấp thiết, quan trọng, phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố QPAN và các mặt hoạt động khác. Nghị quyết còn chỉ rõ “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa QPAN với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại để phát huy "sức mạnh mềm" Việt Nam, góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước”. Đây là tư duy, nhận thức mới, lần đầu tiên chính thức đề cập “sức mạnh mềm” để tạo thế và lực cho quốc gia.

Đặc biệt, trước tình hình cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, quyết liệt, thậm chí đối đầu trực diện; xu thế tập hợp lực lượng gia tăng; những hạn chế, bị động, phụ thuộc trong quan hệ quốc tế; những khó khăn, thụ động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng và BVTQ đặt ra việc phải đề cao tự chủ chiến lược. Đây là lần đầu tiên Đảng đưa quan điểm tự chủ về chiến lược để chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và BVTQ. Tự chủ chiến lược là tự chủ con đường, vận mệnh của chính mình, tự tin quyết định những vấn đề cơ bản, hệ trọng của dân tộc; nó không chỉ là độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc mà còn là tự lực, tự cường, tự tin, chủ động, sáng tạo trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực QPAN, BVTQ. Quan điểm này góp phần khẳng định vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế, đồng thời khẳng định sức mạnh nội lực, định hướng dài hạn cho việc nâng cao tính tự chủ ở tầm vĩ mô cho các ban, bộ, ngành, địa phương trong tiến trình xây dựng và BVTQ.

Đại hội XIII của Đảng xác định phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND), Công an nhân dân (CAND) cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nhưng văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: “Xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Việc xây dựng Quân đội và Công an hiện đại được đẩy sớm hơn một nhiệm kỳ đã được Đảng ta tính toán kỹ lưỡng, khoa học, có cơ sở lý luận, thực tiễn, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc gia, nắm chắc các nguồn lực tự nhiên, xã hội, bên trong, bên ngoài của đất nước và LLVT; thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng nhưng cũng là yêu cầu, đòi hỏi sự nỗ lực lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong xây dựng LLVT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong kỷ nguyên mới.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên đưa nội dung: "Giữ vững và phát huy truyền thống QĐND, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất". Đối với CAND là: Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức, bộ máy theo hướng “bộ tinh, tỉnh toàn diện, xã vững mạnh bám cơ sở”; giữ vững và phát huy truyền thống “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. Điều này phản ánh tư duy, nhận thức sâu sắc về vai trò, giá trị to lớn, bền vững của truyền thống, văn hóa, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống của CAND.

Xây dựng nền quốc phòng hiện đại cũng là bước phát triển mới, với sự vững mạnh, hiện đại cả về tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng. Yêu cầu mới này xuất phát từ sự phát triển của khoa học-công nghệ, kinh tế tri thức, công nghệ số... vừa tạo ra sự đột phá cho phát triển vừa tạo ra nhiều nguy cơ, thách thức cho tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Vì vậy cần phải có nền quốc phòng hiện đại mới đủ sức bảo vệ cho sự phát triển bền vững. 

Đối với công nghiệp QPAN, Đại hội XIII của Đảng định hướng: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng”. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”. Điều này thể hiện sự phát triển, nhận thức sâu sắc về vai trò của công nghiệp QPAN trong nền quốc phòng toàn dân và sự nghiệp BVTQ; quyết tâm tạo bước nhảy vọt, làm chủ công nghệ sản xuất, chế tạo, nhất là công nghệ nền, công nghệ lõi, tự chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự của LLVT. Mặt khác, đề cao tính lưỡng dụng, phát huy vai trò của kinh tế quốc phòng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng, phát triển nền công nghiệp QPAN hiện đại, lưỡng dụng, là nền tảng vững chắc để nâng cao tính chủ động chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ thời kỳ mới.

Việc nghiên cứu, nắm chắc nội dung cốt lõi, nhất là những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng nói chung, về lĩnh vực QPAN, BVTQ nói riêng là hết sức cần thiết. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc, toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là toàn quân nâng cao nhận thức, thấy rõ trách nhiệm và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và BVTQ trong kỷ nguyên phát triển mới./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẤT NƯỚC SỨC XUÂN PHÙ ĐỔNG!

     Trên nền tảng căn bản của 40 năm Đổi mới, với những quyết sách của Đại hội XIV của Đảng - Xuân Bính Ngọ 2026 - thời khắc của số thành - đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới trong tầm nhìn 2045!

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn lãnh đạo, cầm quyền 40 năm qua, Đảng ta đúc kết 5 bài học kinh nghiệm quý báu; khẳng định 5 quan điểm chỉ đạo lớn; xác định 12 định hướng lớn; hoạch định 6 nhiệm vụ trọng tâm và phát triển 3 đột phá chiến lược bằng chương trình hành động cốt lõi 8 nội dung quan trọng, nhằm mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD/năm, trong tầm nhìn năm 2030.

Việt Nam phát triển toàn diện, không chỉ là giàu có kinh tế mà còn giàu trí tuệ, giàu lòng nhân ái, phẩm giá con người và giàu bản sắc văn hóa: Một nền kinh tế tri thức số hóa và sáng tạo bền vững - một xã hội tự do, hạnh phúc - một Nhà nước kiến tạo - một nền văn hóa hội nhập mà không hòa tan - một bản sắc Việt Nam trí tuệ - nhân văn - một Việt Nam phú cường và giàu bản lĩnh trong toàn cầu hóa. Việt Nam phú cường đa chiều, bền vững, nhân văn và bản sắc.

Nói một cách hình ảnh, trên nền tảng bản sắc - sáng tạo - nhân văn làm căn bản nhằm kiến tạo và định hình lộ trình, bước đi phù hợp với thời kỳ hội nhập quốc tế và ch.uyển đ.ổi s.ố nhằm xây dựng Việt Nam phát triển, hiện đại, sáng tạo và nhân văn với bản lĩnh riêng, đứng trong hàng ngũ các quốc gia tiên tiến, có ảnh hưởng tích cực và cùng dẫn dắt thế giới thế kỷ XXI.

Việt Nam tự chủ toàn diện: từ kinh tế, quốc phòng, khoa học công nghệ đến văn hóa, bản sắc.

Việt Nam trí tuệ, khai mở, giải phóng và sáng tạo: tự thân đổi mới, sánh vai với những quốc gia tiên tiến.

Việt Nam nhân văn và bền vững: phát triển nhưng giữ vững đạo lý dân tộc, gìn giữ môi trường sống.

Việt Nam đoàn kết quốc dân: mỗi người dân đều là chủ thể của sự phát triển, không bị bỏ lại phía sau.

Việt Nam giữ ảnh hưởng và cùng tích cực dẫn dắt thế giới: không chỉ nhận, mà chủ động cống hiến cho nhân loại. Càng tự chủ cao độ càng hội nhập vững vàng.

Sự nghiệp vĩ đại đó đòi hỏi không chỉ không ngừng đổi mới tư duy, dũng cảm vượt qua những công thức cũ, phá bỏ những định kiến đã lỗi thời, phát triển những cách nhìn, phương pháp hành động truyền thống mà còn trân trọng cách suy nghĩ mới mẻ, thậm chí khác thường, đặc biệt nâng niu sự dấn thân và lôi cuốn toàn dân tộc dám đổi mới, dám mạo hiểm một cách tỉnh táo và mưu tính toàn vẹn, vì quốc gia dân tộc. Đồng thời, cảnh giới thứ tư duy nhiệm kỳ, tư duy ngắn hạn - những kẻ thù của tầm viễn kiến phát triển.

Do đó, để phát triển Việt Nam giàu bản sắc văn hóa - giàu trí tuệ đổi mới - giàu lòng nhân ái và phẩm giá con người, dân tộc nỗ lực xây dựng: Kinh tế Việt Nam: Tri thức hóa - số hóa - xanh hóa: Kinh tế thị trường định hướng XHCN là công cụ, phương tiện giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật quốc gia. Với kinh tế nhà nước là nền tảng, dẫn dắt nền kinh tế quốc gia, kinh tế ngoài nhà nước, trước hết là kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, là đòn bẩy phát triển chiến lược, cùng với kinh tế đối ngoại làm cửa mở trọng yếu bảo đảm phát triển nội lực và cân bằng chiến lược trong hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Xây dựng và phát triển thương hiệu kinh tế quốc gia, nhất là các doanh nghiệp tiên phong hội nhập quốc tế, sức cạnh tranh, khẳng định vị thế và sức mạnh hội nhập toàn cầu với tốc độ tăng trưởng cần thiết song hành với bảo đảm độ bền vững của sự phát triển kinh tế quốc gia.

Đẩy mạnh ch.uyển đ.ổi s.ố, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Khuyến khích khởi nghiệp công nghệ cao và mô hình doanh nghiệp xã hội. Hướng ra biển, phát triển kinh tế biển với tầm nhìn xứng đáng với thế kỷ của đại dương. Cảnh giới và hóa giải các nguy cơ lâm vào bẫy thu nhập trung bình, bẫy nợ nần, bẫy nghèo mới… đang làm khuynh đảo nhiều quốc gia, dân tộc.

Con người Việt Nam: Trí tuệ - khai phóng - sáng tạo - cầu thị: con người Việt Nam là trung tâm, là chủ thể và là động lực của phát triển. Con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, văn hóa, sự tiến bộ xã hội. Phát triển con người không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng - trí tuệ, đạo đức, năng lực sáng tạo. Văn hóa Việt Nam làm nền cho ứng xử toàn cầu; coi trọng phẩm giá, đạo đức con người.

Cải cách giáo dục toàn diện: tự do tư duy, học suốt đời, sáng tạo thực tế. Khuyến khích phát triển tài năng chính trị, khoa học, nghệ thuật.

Văn hóa Việt Nam: Hội nhập - nhân văn - bản sắc: toàn cầu hóa, nhất là các cuộc xâm lăng văn hóa đã và đang nguy cơ nhấn chìm không ít quốc gia dân tộc không gìn giữ bản sắc phát triển.

Bản sắc không chỉ là truyền thống mà còn là trí tuệ, tinh thần cải cách, sáng tạo và bản lĩnh chính trị; trong đó, văn hóa là nền tảng tư tưởng và động lực của phát triển và sự độc lập tư duy là điều kiện để tránh lệ thuộc, bám sát chân lý, đứng vững và phát triển trên mảnh đất quốc gia dân tộc trong trào lưu nhân loại.

Văn hóa phải là căn cước dân tộc và ngày càng phải là gương mặt, tư chất, linh hồn và bản sắc Việt Nam dân tộc, hiện đại. Văn hóa phải trở thành nền tảng và chất keo gắn bó cộng đồng dân tộc; là nội lực bền vững làm cho quốc dân thấm đẫm tinh thần tự lập, tự cường, nhân ái và bao dung, rường mối của tất cả các mối quan hệ ngoại giao, với phương châm bản sắc dân tộc, con người hiện đại hóa, xã hội công bằng, phát triển bền vững và nhân văn.

Chủ động giao lưu toàn cầu nhưng giữ vững bản sắc Việt, với sức mạnh mềm văn hóa trong hội nhập và lan tỏa sức mạnh và uy tín quốc tế.

Quốc phòng Việt Nam: Toàn dân - công nghệ cao - chủ động: Việt Nam cần bảo vệ độc lập chủ quyền, giữ cân bằng chiến lược một cách khôn khéo. Tăng cường tự chủ quốc phòng công nghệ cao; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc phòng, chống mọi hình thái chiến tranh nhằm vệ nền độc lập, thống nhất, tự quyết và toàn vẹn nền hòa bình đất nước.

Chính trị độc lập và văn minh; kinh tế trí tuệ và bền vững; giáo dục khai phóng và thực nghiệp, xã hội học tập liên tục… trên nền móng pháp luật song hành với đạo đức.

Việt Nam trí tuệ - Việt Nam kiến tạo - Việt Nam nhân văn.

Kinh nghiệm lịch sử xác tín, mọi thành công đều bởi sức công phá cơ bản và trước hết từ bên trong phù hợp với bên ngoài.

Đất nước nỗ lực phát triển Nhà nước Việt Nam: Pháp trị - kiến tạo - dân chủ - minh bạch: xây dựng hệ thống quản trị công hiện đại, minh bạch, công bằng, liêm chính. Thúc đẩy dân chủ hóa xã hội trên nền tảng pháp quyền và đạo lý dân tộc. Lãnh đạo bằng khoa học và giáo dục; bằng dân chủ và pháp trị; bằng tiên phong và đạo đức.

Tạo khuôn khổ pháp lý vận hành xã hội một cách toàn diện, dân chủ, với hệ điều kiện cần và đủ tối ưu và phù hợp, khơi thông mọi cách tắc và thức dậy mọi động lực kinh tế, văn hóa và xã hội. Dân tộc cần xã hội hài hòa và hợp tác: các chủ thể kinh tế, xã hội phối hợp đồng bộ, thống nhất trong sáng tạo giá trị quốc gia. Mỗi người cần vươn tới công dân chủ động, tự chủ và tự tôn: tự chủ phát triển là nguyên tắc để bảo vệ chủ quyền trong mọi lĩnh vực, để tự lực, sáng tạo và hội nhập. Càng tự chủ cao độ càng hội nhập vững vàng.

Đổi mới cơ cấu phát triển quốc gia: trên nền tảng chuyển mạnh từ xã hội tồn tại sang xã hội phát triển theo cơ cấu và hệ giá trị, xây dựng nền kinh tế dựa trên: trí tuệ sáng tạo, giá trị gia tăng cao, văn hóa đặc sắc.

Nắm lấy kinh tế tri thức, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Đoạn tuyệt mô hình tồn tại chuyển sang kiến tạo mô hình cơ cấu phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước tương dung với thời đại đang biến động rất khác. Trước mắt, đoạn tuyệt từng bước sự cạnh tranh bằng lao động rẻ hay tài nguyên thô; xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, giữa cục bộ và tổng thể, giữa kinh tế và văn hóa, giữa đạo đức và thị trường; giữa tăng trưởng với bảo vệ môi trường sinh thái… theo chuẩn mực quốc tế, chuỗi giá trị toàn cầu và phù hợp với thực lực đất nước.

Đổi mới thể chế đồng bộ: pháp quyền, dân chủ hóa, quản trị hiện đại.

Sự thành bại, một phần căn bản được quyết định bởi thể chế - thể chế - và thể chế!

Không thể phát triển bằng con đường rút ngắn hay tăng tốc chiến lược, nếu không cải cách thể chế một cách căn cơ, hiện đại, phù hợp và sâu rộng. Trên nền pháp quyền và đạo lý, Nhà nước kiến tạo phát triển - xã hội học tập - cá nhân cầu thị bằng hệ thể chế phù hợp và đồng bộ với bộ máy tinh hoa, gọn nhẹ, liên thông, chuyên nghiệp và hiện đại.

Đảng cầm quyền đổi mới và tiên phong, lãnh đạo phát triển Nhà nước trong xây dựng và bảo đảm môi trường cho sáng tạo, dân chủ và khởi nghiệp xã hội bằng hệ thống pháp luật và hệ công cụ quản lý phù hợp và hiện đại.

Đầu tư chiến lược phát triển giáo dục, khoa học - công nghệ và văn hóa: giáo dục và khoa học, công nghệ và đổi mới là chìa khóa phát triển nhanh, mạnh, bền vững và nhân văn. Giáo dục - đào tạo hiện đại phải dạy làm người trước hết song hành với dạy để hành động một cách thực học, thực tài, thực nghiệp nhằm góp phần kiến tạo và phát triển nền tảng văn hóa.

Không có nền giáo dục hiện đại, phù hợp và mang tính toàn cầu không có nền khoa học, công nghệ mở đường phát triển quốc gia, càng không có chiến lược thực nghiệp và sáng tạo. Giáo dục và khoa học đi tiên phong thúc đẩy phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; phải thoát khỏi “văn hóa từ chương” hướng đến tự do tư duy, trên nền văn hóa từ hành, văn hóa nhân bản, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo phát triển khoa học và công nghệ.

Bằng giáo dục, phát triển rút ngắn, đi thẳng vào công nghệ cao, phát triển trí tuệ giữ vị thế động lực cốt lõi. Đến lượt nó, công nghệ và đổi mới là mục tiêu của động lực cốt lõi trên nền móng giáo dục và khoa học tiên tiến mang tầm chiến lược và là một trong những “cánh cửa” hội nhập chủ động, toàn diện và sâu sắc thế giới.

Đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đây là một yêu cầu sống còn trong thời đại mới. Mở rộng không gian đoàn kết: đoàn kết không chỉ trong khuôn khổ Đảng, Mặt trận Tổ quốc, mà với tất cả giai tầng dân tộc, toàn xã hội trong nước và kiều bào ở nước ngoài. Tôn trọng đa dạng tư tưởng và sáng tạo cá nhân: đoàn kết trong khác biệt, khuyến khích tư duy phản biện và đổi mới sáng tạo.

Giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Tự quyết về chính trị, độc lập về kinh tế, bản sắc về văn hóa, ổn định về xã hội, vững chắc về an ninh, quốc phòng phù hợp với hệ giá trị toàn cầu; cân bằng các mối quan hệ chiến lược quốc tế một cách đa dạng hóa, đa phương hóa; xử lý nhuần nhuyễn giữa độc lập và hội nhập, giữa tự quyết và hài hòa, không rơi vào bất kỳ liên minh đối đầu nào; phòng, tránh và hóa giải mọi hình thái nô dịch về chính trị hay cạm bẫy phản phát triển, bảo vệ vô điều kiện quyền tự quyết, tinh thần tự tôn, tự lập dân tộc.

Khơi dậy khát vọng cao cả dân tộc thành sức mạnh hành động thống nhất: lợi ích là trung tâm của tất cả các mối quan hệ chính trị, kinh tế, cá nhân, xã hội và quốc tế. Phân bổ minh bạch và hợp lý các nguồn lực, cơ hội phát triển để không ai bị bỏ lại phía sau, xã hội công minh, công bằng và tiến bộ; bảo đảm thống nhất lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia dân tộc; giữa nước ta với tất cả các nước trên thế giới.

Khơi dậy khát vọng và tâm lý quốc dân tự chủ, tự lập, tự cường, tự trọng và vươn tới thịnh vượng. Đó là danh dự dân tộc.

Đất nước bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới ngọn cờ của Đảng.

Trên nền móng vững chắc hơn bốn nghìn năm của dân tộc, tiếp tục phát triển “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế” của đất nước, mở Xuân mới Bính Ngọ 2026, với hào khí Phù Đổng, với bản lĩnh và danh dự của dòng máu Lạc Hồng của 102 triệu đồng bào ta dù ở trong nước hay ở nước ngoài, dân tộc nhất định xây dựng Việt Nam thành nước phát triển và nhân văn, nhịp bước cùng thời đại trong thế kỷ XXI./.


QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẦM NHÌN MỚI VÀ YÊU CẦU CAO CỦA NGHỊ QUYẾT 80 VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VIỆT NAM!

     Làm rõ tầm nhìn mới và yêu cầu cao của Nghị quyết 80, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết đã khái quát một số 'điểm cốt lõi và mới', từ đó hình dung ra vị thế, tầm vóc, diện mạo của nền văn hóa Việt Nam dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại trong tương lai.

Sáng 25/2, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị diễn ra tại Hội trường Diên Hồng.

Tại Hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương truyền đạt chuyên đề "Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam".

Xác định chỉ tiêu cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa

Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, các văn kiện trước đây của Đảng về văn hóa thường xác định phương hướng, mục tiêu khái quát, mục tiêu cụ thể, song chủ yếu dừng lại ở định hướng chung. Lần này, Nghị quyết 80 đồng thời vừa khẳng định mục tiêu chung cho từng lĩnh vực, vừa chỉ ra một số chỉ tiêu cụ thể cần phải đạt tới; có nghĩa là, gắn yêu cầu cao về chất lượng phát triển với định lượng cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa. Đó là tư duy khoa học - thực tiễn, tránh những yêu cầu chung chung không đánh giá được kết quả trong từng giai đoạn.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết lấy ví dụ: Mục tiêu chung của ngành công nghiệp văn hóa là "đẩy mạnh phát triển, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo", gắn với mục tiêu đó là chỉ tiêu "ngành này đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và phấn đấu 9% vào năm 2045, hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa". Hoặc, trong quan điểm chỉ đạo khẳng định "đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển đất nước, cho tương lai dân tộc" thì trong chỉ tiêu Nghị quyết xác định rõ "bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn".

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, các nghị quyết trước không trực tiếp xác định chỉ tiêu mà giao cho Nhà nước. Những năm qua, chúng ta đặt ra mục tiêu đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chiếm 1,8% tổng chi ngân sách Nhà nước, nhưng trên thực tế hầu như chưa đạt tới, năm cao nhất mới đạt trên 1,7%. Nghị quyết 80 khẳng định "tối thiểu 2%" và còn định hướng tăng dần theo yêu cầu thực tiễn" là một đột phá lớn, chưa từng có đối với đầu tư cho văn hóa.

"Như vậy, trên cơ sở khẳng định "quyết sách đột phá mang tính chiến lược", Nghị quyết đã gắn kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống giữa quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hóa", đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh.

Xây dựng con người là trung tâm, cốt lõi

Xây dựng con người luôn là vấn đề trung tâm, cốt lõi, mục tiêu cao nhất trong các nghị quyết của Đảng ta về văn hóa. Nghị quyết 80 đã kế thừa triệt để tư tưởng đó, gợi mở và xác định cụ thể, toàn diện những nội dung mới; đồng thời nhấn mạnh phép biện chứng "phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hóa".

Đồng chí Trịnh Văn Quyết nhìn nhận, luận điểm rất quen thuộc, song lúc này trở nên cực kỳ quan trọng vì những năm qua, trong thực tiễn đã xuất hiện tình trạng tách rời hai yêu cầu đó, hoặc biến văn hóa thành trò giải trí đơn thuần, thậm chí số ít phủ định chức năng xây dựng con người, coi văn hóa, văn học, nghệ thuật là "sân chơi"...

Biểu hiện khá phổ biến là coi văn hóa chỉ là những hoạt động nghiệp vụ cụ thể, không tập trung hướng tới mục tiêu cốt lõi, trọng tâm là xây dựng con người. Vì thế, những năm qua, văn hóa chưa đủ để tác động có hiệu quả nuôi dưỡng nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh dẫn tới có tình trạng suy thoái, biến chất, cái ác, cái giả, cái xấu… có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng, bất an và bức xúc trong xã hội.

Để xây dựng và vươn lên hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam thời kỳ mới, Nghị quyết yêu cầu triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam. Tổng hợp kết quả nghiên cứu, xác định nội hàm các hệ giá trị trên được triển khai từ Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) đến nay, Nghị quyết 80 đã khẳng định rõ các thành tố cụ thể của các hệ giá trị đó.

Đây là bước tiến quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, vì các thành tố đó sẽ định hướng làm chuẩn mực cho toàn xã hội, cho các tập thể và cộng đồng, cho từng cá nhân rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu vươn lên, tự hoàn thiện nhân cách. Những biểu hiện lúng túng, lệch chuẩn, loạn chuẩn… sẽ được điều tiết bằng văn hóa và điều chỉnh bằng pháp luật.

Cùng với đó, gắn liền với nhiệm vụ xây dựng con người, Nghị quyết nhiều lần nhấn mạnh xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, hiện đại. Điểm mới ở đây là tiếp tục khẳng định tư tưởng trong các Nghị quyết trước về xây dựng môi trường sống cụ thể, Nghị quyết 80 yêu cầu "xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, làm trong sạch môi trường văn hóa số" - một thách thức mới đối với chúng ta, vừa cấp bách, vừa có tính lâu dài, chiến lược khi xã hội hiện đại phát triển lên trình độ cao với c.huyển đ.ổi s.ố cực kỳ nhanh và phức tạp. Sự đón trước về môi trường văn hóa hiện đại là biểu hiện của một tầm nhìn xa chiến lược và sự sâu sắc toàn diện của Nghị quyết 80.

Để phát huy vẻ đẹp, sức mạnh, bản sắc của con người và văn hóa Việt Nam trong trật tự thế giới hiện đại, Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa". Tư duy đột phá trong xác định nhiệm vụ lớn này là đưa văn hóa vào toàn bộ hoạt động đối ngoại ở mức cao nhất, hiệu quả nhất trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh để đồng thời vừa chủ động hội nhập, vừa tỉnh táo tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại - hai quá trình có tính quy luật của sự phát triển văn hóa trong thời kỳ hiện đại.

Văn hóa – Lĩnh vực đặc biệt tinh tế, đặc thù

Cũng theo Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, thấu hiểu văn hóa là lĩnh vực đặc biệt tinh tế, rất đặc thù nên khi xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết 80 luôn lưu tâm đến đặc trưng này.

Trước hết, nghị quyết yêu cầu xử lý hài hòa, biện chứng các "quan hệ nội tại của văn hóa", đặc biệt chú trọng quan hệ đặc thù của văn hóa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển. Trong các nghị quyết về văn hóa, Đảng ta luôn khẳng định văn hóa của chúng ta vươn lên hiện đại từ truyền thống. Tiếp tục tư tưởng đó, Nghị quyết 80 nhấn mạnh tính dân tộc, nguồn gốc và bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc, đồng thời thấu hiểu quy luật, khát vọng vươn lên hiện đại, "đóng góp xứng đáng vào dòng chảy của văn minh nhân loại".

Nghị quyết 80 có tới 10 lần dùng từ "hiện đại" khi xác định phương hướng phát triển của các lĩnh vực văn hóa như công nghiệp văn hóa, môi trường văn hóa, công trình văn hóa, văn học, nghệ thuật, các thiết chế văn hóa, không gian sáng tạo nội dung số... Đó là yêu cầu phát triển của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Trong nghị quyết, sự thấu hiểu đặc trưng của văn hóa còn thể hiện cụ thể trong xác định các chính sách cho phát triển văn hóa. Nghị quyết nhiều lần nhắc đến tính đặc thù, đột phá, vượt trội, giải phóng sức sáng tạo trong thể chế, chính sách, cơ chế phát triển văn hóa, phát huy tài năng văn hóa.

Ba thành tố quan trọng để phát triển văn hóa

Có ba thành tố cực kỳ quan trọng để phát triển văn hóa được Nghị quyết 80 gắn kết trong một nhiệm vụ lớn, đó là phát triển hạ tầng, huy động, sử dụng các nguồn lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết chỉ rõ, về hạ tầng, Nghị quyết xác định: "Tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia, ngang tầm khu vực và quốc tế". Một nhiệm vụ chưa từng được đặt ra trước đây.

Về nguồn lực, Nghị quyết khẳng định "đảm bảo bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, đề án, tăng đầu tư công cho văn hóa theo hướng trọng điểm, trọng tâm và thu hút đầu tư xã hội ở mức cao nhất".

Nghị quyết dành phần đặc biệt quan trọng trong phát triển đột phá văn hóa, đó là xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ cấp chiến lược, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ chủ chốt ở địa phương, xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa.

Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiên tiến, hiện đại và tính đặc thù trong đào tạo và nghiên cứu văn hóa, văn minh Việt Nam. Đối chiếu với thực tiễn, thực trạng hiện nay, mỗi nhiệm vụ cụ thể trên thực sự là một thách thức lớn và khó, cần một tư duy đột phá và một kế hoạch dài hạn, khẩn trương, kiên quyết và kiên trì trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH "XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP TRUNG BÌNH"!

     Sáng 26-2, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản (Ban Chỉ đạo) chủ trì Phiên họp thứ 6 của Ban Chỉ đạo để rà soát, đánh giá thực hiện các nhiệm vụ đề ra tại Phiên họp thứ 5, đặc biệt, cho ý kiến đề xuất xây dựng chính sách cho phân khúc nhà ở đối với người có thu nhập trung bình. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại Trụ sở Chính phủ, trực tuyến với đầu cầu 34 tỉnh, thành phố. Dự phiên họp có: Phó thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo tỉnh, thành phố; đại diện hiệp hội, doanh nghiệp, ngân hàng.

Phát biểu khai mạc phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, quyền có chỗ ở là quyền cơ bản của công dân. Mỗi người dân đều có quyền tiếp cận bình đẳng, công khai, minh bạch về nhà ở phù hợp với thu nhập và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp. Việc phát triển nhà ở cần đa dạng phân khúc, bao gồm nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, song dù phân khúc nào thì hạ tầng đều phải đầy đủ, đồng bộ, bình đẳng, toàn diện, bao trùm, không phải tiếp cận có chọn lọc.

Thủ tướng cho biết, năm 2025, Chính phủ đã chỉ đạo rất quyết liệt, đưa ra những chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để phát triển nhà ở, nhất là nhà ở xã hội. Theo đó, cả nước đã hoàn thành hơn 100 nghìn căn nhà xã hội, hướng tới hoàn thành 1 triệu căn nhà ở xã hội vào năm 2028, sớm hơn dự kiến 2 năm. Thực tiễn đặt ra yêu cầu mới, đặc biệt là nhu cầu về nhà ở đối với các đối tượng thu nhập trung bình từ 20 triệu đồng/tháng. Thủ tướng yêu cầu tại Phiên họp lần thứ 6 này, Ban Chỉ đạo Trung ương và các địa phương, đại biểu cần tập trung thảo luận, thống nhất tư duy, bàn giải pháp về phát triển phân khúc nhà ở cho người có thu nhập trung bình, tăng nguồn cung về nhà ở cho nhiều tầng lớp khác nhau, đảm bảo quyền bình đẳng trong tiếp cận nhà ở của mỗi người dân.

Trong đó, các đại biểu cần bàn về các chính sách nhằm tăng cường quỹ đất dành cho dự án nhà ở thương mại có giá phù hợp với người dân có thu nhập trung bình; đẩy nhanh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chung xây dựng, nghiên cứu ưu tiên bố trí quỹ đất làm nhà ở thương mại có giá phù hợp; tăng cường phát triển đô thị theo định hướng giao thông đô thị TOD nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất, giảm ùn tắc giao thông, nâng cao chất lượng sử dụng đất; dành nguồn tín dụng ưu đãi cho các dự án nhà ở thương mại có giá trị phù hợp mà người dân có nhu cầu mua nhà.

Thủ tướng Phạm Minh Chính lưu ý, mục đích cuối cùng là tăng nguồn cung bất động sản, phù hợp với nhiều đối tượng, góp phần giảm giá thành bất động sản, để các đối tượng có nhu cầu nhà ở được tiếp cận bình đẳng, công khai, minh bạch, tránh phiền hà, tiêu cực. Thủ tướng yêu cầu "Không lãng phí một ngày; không chậm trễ một tuần; không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng; không để bị động trong một năm", khẩn trương có chính sách đáp ứng yêu cầu thực tiễn./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN NHÀ Ở BÌNH ĐẲNG, CÔNG KHAI, MINH BẠCH CHO MỌI NGƯỜI DÂN!

     Sáng 26/2, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản chủ trì Phiên họp thứ sáu của Ban Chỉ đạo. Cùng dự có Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà!

Phát biểu ý kiến khai mạc phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh quyền có chỗ ở là quyền cơ bản của công dân, phải được tiếp cận bình đẳng, công khai, minh bạch, phù hợp điều kiện kinh tế đất nước. Nhà ở phải được đặt trong tổng thể, hệ cấu trúc chung của phát triển kinh tế-xã hội đất nước, chứ không thể đặt riêng lẻ; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp hài hòa, rủi ro cùng nhau chia sẻ. Chúng ta phải có trách nhiệm phát triển nhà ở công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu, phù hợp thu nhập của người dân.

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu dù là nhà ở xã hội hay nhà ở thương mại thì các hạ tầng thiết yếu cũng phải như nhau; tiếp cận phải bình đẳng toàn diện, bao trùm. Có hạng mục Nhà nước đầu tư, có hạng mục nhà đầu tư phải đầu tư, có hạng mục phải hài hòa, có sự đóng góp của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp trong phát triển hạ tầng.

Trong năm 2025, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt công tác phát triển nhà ở, nhất là nhà ở xã hội; liên tục tổ chức nhiều cuộc họp, đưa ra nhiều chính sách, tháo gỡ khó khăn; tận dụng, không từ bỏ các cơ hội khả thi. Cách làm này đã được đúc rút qua nhiều năm tích lũy kinh nghiệm, nhất là sau đại dịch Covid-19. Do đó, năm 2025, cả nước đã hoàn thành hơn 100 nghìn căn nhà ở xã hội. Với đà này, có thể hoàn thành 1 triệu căn nhà ở xã hội vào năm 2028, về đích sớm hơn mục tiêu đề ra là năm 2030. Mục tiêu này là có cơ sở, vì hiện nay, chúng ta đã và đang triển khai 600 nghìn căn nhà ở xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp thì thực tiễn đang đặt ra yêu cầu mới, đặc biệt là nhu cầu nhà ở cho đối tượng thu nhập trung bình. Chúng ta đặt ra mức thu nhập thấp là dưới 20 triệu đồng/tháng, vậy đối tượng có thu nhập ở mức trên 20 triệu đồng/tháng thì như thế nào để bảo đảm quyền tiếp cận nhà ở bình đẳng cho các đối tượng. Do đó, tại phiên họp này, Thủ tướng đề nghị thống nhất tư duy, bàn cách làm và giải pháp để phát triển nhà ở xã hội cho tầng lớp thu nhập trung bình, phù hợp điều kiện của từng địa phương, của đất nước, theo quy luật thị trường, tăng nguồn cung nhà ở cho nhiều tầng lớp khác nhau, bảo đảm quyền bình đẳng tiếp cận nhà ở của mỗi người dân.

Với tinh thần đó, Thủ tướng đề nghị phiên họp thảo luận:

Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ đã được giao tại các phiên họp trước của Ban Chỉ đạo; kiểm điểm xem từ phiên họp trước đến phiên họp này đã làm được gì, chưa làm được gì, nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan, bài học kinh nghiệm rút ra là gì trong quá trình tổ chức thực hiện?

Tình hình nhà ở và thị trường bất động sản tính đến hết tháng 2 có gì biến động, bất thường, mới không? Qua số liệu tăng trưởng bất động sản, nhà ở xã hội thì địa phương nào làm tốt, địa phương nào chưa làm tốt? Các công việc đã nêu ra trong phiên họp trước còn gì vướng mắc, chưa thực hiện được mà cần phải tháo gỡ? Tín dụng bất động sản còn vướng mắc gì không? Gói tín dụng 145 nghìn tỷ đồng cho phát triển nhà ở xã hội có giải ngân được không? Nếu không giải ngân thì nguyên nhân vì sao? Phải nỗ lực tìm cách tháo gỡ, không thể để có tiền mà không sử dụng được.

Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần đã nói là làm, đã cam kết là phải thực hiện; đã làm, đã cam kết thực hiện thì phải có hiệu quả; mục tiêu cuối cùng là người dân được thụ hưởng. Tập trung trao đổi giải pháp, cơ chế, chính sách để tăng cường phát triển nhà ở cho tầng lớp thu nhập trung bình; tăng cường quỹ đất dành cho các dự án nhà ở thương mại có giá phù hợp cho người thu nhập trung bình liệu có thực hiện được không, cách làm như thế nào? Đẩy nhanh công tác quy hoạch, sử dụng đất, quy hoạch chung xây dựng trong đó có nghiên cứu ưu tiên bố trí các quỹ đất để làm nhà ở thương mại có giá phù hợp; tăng cường phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất, giảm ùn tắc giao thông, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Về tín dụng, đề xuất chính sách ưu đãi, bố trí vốn tín dụng cho các dự án nhà ở thương mại có giá bán phù hợp mà người dân có nhu cầu mua nhà. Tóm lại là nghiên cứu giải pháp tăng nguồn cung bất động sản; giá thành phải phù hợp; các đối tượng có nhu cầu mua nhà ở phải được tiếp cận bình đẳng, công khai, minh bạch, giảm phiền hà, tránh tiêu cực. Bên cạnh đó, phải có các chính sách liên quan quy hoạch, đất đai, cơ chế, chính sách khác để thực hiện. Thủ tướng yêu cầu phải có “sản phẩm, đầu ra” sau phiên họp này để tiết kiệm thời gian với tinh thần “Không lãng phí một ngày; không chậm trễ một tuần; không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng; không để bị động trong một năm"./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẦU CỬ SỚM TẠI VÙNG 2 HẢI QUÂN!

     Sáng 26/2, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân phối hợp Ủy ban Bầu cử xã Long Sơn tổ chức bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 tại bến cho các lực lượng đi thực hiện nhiệm vụ trên biển...

Theo đó, sẽ có 2 đoàn công tác đi thực hiện nhiệm vụ bầu cử sớm cho các Nhà giàn DK1, tàu trực và các ngư dân đang khai thác thủy hải sản trên biển.

Tới dự có đồng chí Hoàng Nguyên Dinh, Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Chuẩn Đô đốc Trần Mạnh Chiến, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Vùng 2 Hải quân; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Long Sơn cùng 100 cán bộ, chiến sĩ đại diện cho các cơ quan, đơn vị thuộc Vùng 2 Hải quân.

Việc Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân tổ chức 2 tàu thực hiện nhiệm vụ bầu cử trên biển thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh; sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân đối với việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ bầu cử của cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trên biển.

Đây là sự cụ thể hóa tinh thần trách nhiệm chính trị cao, sự chủ động, linh hoạt trong tổ chức thực hiện, bảo đảm để mọi cán bộ, chiến sĩ dù đang công tác nơi đầu sóng, ngọn gió vẫn được tham gia ngày hội lớn của toàn dân theo đúng quy định của pháp luật, an toàn, chặt chẽ, đúng nguyên tắc.

Trong điều kiện lực lượng phân tán, hoạt động dài ngày trên biển, việc tổ chức tàu, lực lượng, phương tiện mang thùng phiếu đến từng điểm nhà giàn, tàu đang thực hiện nhiệm vụ đã khẳng định quyết tâm chính trị, sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị; đồng thời góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố niềm tin, tăng cường đoàn kết, thống nhất, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới.

Tham gia bầu cử sớm tại bến có cử tri Tổ bầu cử và cử tri là cán bộ, chiến sĩ thuộc các tàu Trường Sa-04, Trường Sa-21 (Lữ đoàn 125) và Tàu 273 (Lữ đoàn 167) của Vùng 2 Hải quân đang chuẩn bị lên đường thực hiện nhiệm vụ.

Trung úy Trịnh Viết Minh, Phó Thuyền trưởng tàu 273, Lữ đoàn 167 Vùng 2 Hải quân cho biết, đây là lần đầu anh tham gia bỏ phiếu sớm: Mặc dù rất bận chuẩn bị cho chuyến đi thực hiện nhiệm vụ dài ngày sau đợt nghỉ Tết Nguyên đán nhưng chúng tôi vẫn dành thời gian nghiên cứu danh sách cử tri, tiểu sử các đại biểu và đã có sự lựa chọn chu đáo, thực hiện quyền công dân một cách nghiêm túc, có trách nhiệm.

Trên biển thuộc Vùng 2 Hải quân có hơn 400 cử tri đang công tác trên các Nhà giàn DK1, các tàu của Vùng 2 Hải quân; Hải đoàn 128, Hải đoàn 129 và ngư dân của các tàu cá đang khai thác thủy hải sản trên khu vực biển sẽ được tổ chức bầu cử sớm.

Đại tá Đỗ Hồng Duyên, Phó Chính ủy Vùng 2 Hải quân cho biết: Tuy thời gian chuẩn bị rất ngắn nhưng với tinh thần khẩn trương, chúng tôi đã phối hợp với xã Long Sơn và các phường của Thành phố Hồ Chí Minh làm tốt công tác chuẩn bị bầu cử sớm cho các lực lượng đang thực hiện nhiệm vụ trên biển. Đến hôm nay công tác bầu cử sớm đã bắt đầu thực hiện bước đầu.

Trong 15 ngày tiếp theo, với lực lượng 2 tàu TS-04 và TS-21, chúng tôi sẽ thực hiện bầu cử sớm cho cử tri tại các Nhà giàn DK1, tàu trực và ngư dân đang khai thác thủy hải sản trên biển không có điều kiện tham gia bầu cử đúng ngày 15/3.

Với vai trò nòng cốt trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc; cán bộ, chiến sĩ Vùng 2 Hải quân rất vinh dự, tự hào khi là nơi đầu tiên của cả nước được thực hiện nhiệm vụ bầu cử sớm.

Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân đã chủ động phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Bầu cử xã Long Sơn, làm tốt công tác chuẩn bị bảo đảm cho bầu cử sớm tại bến và trên biển diễn ra thành công tốt đẹp, đúng pháp luật, bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Cán bộ, chiến sĩ Vùng 2 Hải quân phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm, lựa chọn những đại biểu đủ đức, đủ tài, đủ tiêu chuẩn, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân để bầu vào đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031, góp phần vào thành công cuộc bầu cử cũng như nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp./.
QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: LÍNH ĐẠI HÀN - CHƯ HẦU CỦA MỸ ĐÃ THẢM SÁT DÂN THƯỜNG VIỆT NAM TRONG CHIẾN TRANH!

     Ảnh dưới là Nhà sư Myeong Jin đang quỳ lạy trước bia tưởng niệm vụ thảm sát nạn nhân Việt Nam của lính Đại Hàn ở Điện An, Điện Bàn, Quảng Nam (cũ).

Có thể bạn chưa biết: Trong giai đoạn từ năm 1964 đến 1973, Hàn Quốc đã điều động hơn 320.000 quân sang tham chiến tại Việt Nam với vai trò là chư hầu của Mỹ. Đây là lực lượng nước ngoài đông đảo thứ hai chỉ sau sự hiện diện của quân đội Mỹ. Mãi đến những năm 90, các vụ thảm sát do quân đội Hàn Quốc đối với dân thường Việt Nam mới được thông tin rộng rãi trên toàn thế giới gây nên chấn động, chia rẽ sâu sắc tại Hàn Quốc.

Năm 1999, ngay sau khi tòa soạn báo Hankyoreh 21 công khai thông tin các vụ thảm sát do quân đội Hàn Quốc gây ra tại Việt Nam, các cựu binh từng tham chiến đã lao vào đập phá, đốt cháy tòa soạn. Mặc dù vậy, chiến dịch “Thành thật xin lỗi Việt Nam” vẫn được báo Hankyoreh 21 phát động từ tháng 2-1999 đến tháng 2-2003, kêu gọi lời xin lỗi, đóng góp tài chính hỗ trợ nạn nhân Việt Nam, xây công viên hòa bình tại Việt Nam... Chiến dịch này lan tỏa mạnh trong xã hội Hàn Quốc.

Đúng ngày này 58 năm về trước (25/2/1968), 135 dân thường ở làng Hà My, Quảng Nam (cũ) bị quân đội Hàn Quốc thảm sát chỉ trong vòng một buổi sáng, hầu hết là phụ nữ và trẻ em, người già./.
QV-ST!