Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 5: NĂNG LỰC THỰC THI - YÊU CẦU CHIẾN LƯỢC CỦA NĂNG LỰC CẦM QUYỀN!
(Tiếp theo và hết)

     Cơ hội không chờ đợi bất kỳ ai, cũng không chờ đợi bất cứ quốc gia nào. Nhiều thời cơ chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc; nếu thiếu bản lĩnh và năng lực hành động để nắm bắt kịp thời, cơ hội sẽ trôi qua, thậm chí để lại những hệ lụy lâu dài. Bởi vậy, năng lực thực thi không thể xem là một kỹ năng quản trị thông thường, mà phải được xác định là yêu cầu mang tính chiến lược, là thước đo trực tiếp, sinh động và thuyết phục nhất của năng lực cầm quyền.

Thành công không chỉ ở khâu ban hành nghị quyết

Khắc phục những hạn chế trong việc thực thi nghị quyết, tại Phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Cần tập trung thực hiện nghị quyết theo hướng hành động, bảo đảm hiệu quả thực chất, khắc phục bằng được tình trạng “tổ chức thực hiện là khâu yếu”.

Tinh thần hành động cần được cụ thể hóa thành giải pháp cụ thể, thực hiện nghiêm túc trong toàn hệ thống: Mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên, mỗi cơ quan, đơn vị, trước hết là người đứng đầu phải chủ động chuyển từ “nhận thức đúng” thành “tổ chức triển khai có hiệu quả”; từ “quyết tâm cao” thành “kết quả rõ”; kết hợp “chỉ đạo, điều hành” với “kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm”.

Năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ thể hiện ở tầm nhìn chiến lược, khả năng hoạch định đường lối mà còn được đo bằng hiệu quả tổ chức thực hiện. Chủ trương đúng mà không đi vào cuộc sống thì cũng chỉ dừng lại trên giấy. Nghị quyết hay mà không được cụ thể hóa bằng hành động thì không thể tạo ra chuyển biến thực chất.

Lâu nay, có một thực tế là chỉ cần xây dựng, ban hành được nghị quyết hay đã được coi là thành tựu lớn, khiến cho đảng viên khi học tập nghị quyết có cảm giác như việc đã xong, tất cả những mục tiêu trong nghị quyết dường như đã trong tầm tay. Ở không ít nơi, việc triển khai nghị quyết còn mang nặng tính hình thức. Hội nghị quán triệt tổ chức rầm rộ, tài liệu in ấn đầy đủ, nhưng sau đó thiếu chương trình hành động cụ thể, khả thi; phân công trách nhiệm không rõ ràng; thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát, phối hợp hiệu quả. Có nơi, người đứng đầu phát biểu rất quyết liệt, nhưng khi đi vào thực thi lại lúng túng, chậm trễ, thậm chí né tránh va chạm.

Điểm yếu trong khâu tổ chức thực hiện nghị quyết còn biểu hiện ở tâm lý an toàn, sợ trách nhiệm, ngại đổi mới, thiếu tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ở đó có cả sự buông lỏng kiểm tra, thiếu quyết liệt trong xử lý sai phạm. Hệ quả là “trên nóng dưới lạnh”, quyết tâm chính trị ở cấp cao không được chuyển hóa thành hành động cụ thể ở cơ sở, các mục tiêu chiến lược không được cụ thể hóa thành kết quả đo đếm được.

Ban hành nghị quyết chỉ là bước khởi đầu. Thành công hay không nằm ở bước tổ chức thực hiện. Nếu khâu tổ chức thực hiện yếu kém, mọi nỗ lực xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đều trở nên vô nghĩa. Uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân không đến từ những lời hứa, mà đến từ những thay đổi tích cực, cụ thể. Khi người dân thấy thủ tục hành chính được rút ngắn, hạ tầng cải thiện, môi trường kinh doanh minh bạch hơn, cán bộ gần dân, sát cơ sở, điều kiện sống của nhân dân tốt hơn, vị thế đất nước ngày càng nâng lên... thì niềm tin sẽ được củng cố. Vì vậy, việc Đại hội XIV và người đứng đầu Đảng ta đặt trọng tâm vào yêu cầu hành động thực thi nghị quyết không chỉ là sự điều chỉnh có tính chiến lược trong phương thức lãnh đạo mà còn xác lập chính xác vai trò, vị trí của khâu tổ chức thực hiện cho toàn bộ hệ thống chính trị.

Vai trò Đảng cầm quyền: Từ nhấn mạnh hoạch định đường lối sang đề cao năng lực tổ chức thực thi

Tổ chức thực hiện nghị quyết không phải là công việc hành chính thuần túy, mà là khả năng chuyển hóa các chủ trương, đường lối thành hành động thực tế và kết quả cụ thể trong đời sống thông qua chương trình, kế hoạch hành động; phân công, phân cấp, phân quyền; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; kiểm tra, giám sát; nắm và dự báo tình hình, phản ứng chính sách... nhằm huy động, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực. Vậy nên, nếu coi tổ chức thực hiện là khâu trung tâm thì năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu giữ vai trò then chốt, có ý nghĩa quyết định.

Năng lực chỉ đạo tổ chức thực thi của người đứng đầu thể hiện trước hết ở việc chuyển hóa nghị quyết thành kế hoạch hành động với mục tiêu rõ ràng, có các bước đi cụ thể gắn với thời hạn hoàn thành và quyền hạn, trách nhiệm của từng người, từng bộ phận, cùng cơ chế phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả nhằm tránh xảy ra tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm.

Năng lực thực thi còn được phản ánh qua khả năng kiểm tra, giám sát và điều chỉnh. Thực tiễn luôn vận động, vì vậy, quá trình thực thi không thể cứng nhắc. Vì thế, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, phát hiện kịp thời những vướng mắc để điều chỉnh phù hợp. Kiểm tra, giám sát không chỉ khi xảy ra sai phạm, khi có phản ánh tiêu cực hay nhằm bắt lỗi mà còn để phát hiện rõ ai làm tốt, ai làm chưa tốt, ai phải chịu trách nhiệm, khâu nào thông suốt, chỗ nào trục trặc, cấp trên cần hỗ trợ những gì để bảo đảm công việc được hoàn thành tốt, đạt mục tiêu đề ra.

Năng lực thực thi còn thể hiện ở kết quả vận hành của cả bộ máy. Một bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, quy trình phức tạp sẽ làm chậm mọi quyết sách. Ngược lại, một bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát cơ sở sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống thông suốt, thống nhất.

Song, kể cả khi hội đủ những yếu tố trên mà thiếu vai trò nêu gương của người đứng đầu, nhất là nếu người đứng đầu thiếu trách nhiệm, ngại va chạm, sợ sai, không quyết tâm làm đến cùng, làm cho bằng được thì mọi quy trình cũng trở nên hình thức. Chỉ khi nào người đứng đầu thực sự vào cuộc, quyết tâm, gương mẫu, dám chịu trách nhiệm, dám xử lý những tồn tại thì cả hệ thống sẽ chuyển động theo, không có tình trạng co cụm, sợ sai, né việc khó hay làm chiếu lệ. Thực tế cho thấy, ở đâu người đứng đầu quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì ở đó chất lượng, tiến độ công việc thường nhanh hơn, tốt hơn. Điều đó khẳng định một chân lý: Năng lực thực thi trước hết là năng lực con người.

Sau khi thực hiện tinh gọn bộ máy, phân cấp, phân quyền thì vai trò của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương ngày càng quan trọng hơn. Họ đã được trao đủ các quyền hành cần thiết để tự quyết các việc lớn trong phạm vi được giao quản lý. Điều họ cần, bên cạnh năng lực, trình độ là phải có hoài bão lớn, quyết tâm lớn, muốn làm được việc lớn cho nước, cho dân. Bởi, nếu cái gì cán bộ cũng chờ và xin ý kiến cấp trên thì dù có hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, cuối cùng mọi công việc cũng sẽ được dồn lên cho người ở cấp cao nhất. Và như vậy, cơ hội sẽ trôi qua, khiến địa phương lỡ nhịp phát triển, đất nước mất lợi thế cạnh tranh, nguy cơ tụt hậu so với thế giới.

Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt, đòi hỏi tầm nhìn phát triển dài hạn, không chỉ cho nhiệm kỳ 2025-2030 mà còn hướng tới các mốc lớn như năm 2045 và xa hơn nữa. Bối cảnh đó cùng những yêu cầu của Đại hội XIV, của công cuộc đổi mới toàn diện đòi hỏi đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu phải hội đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, đạo đức, lối sống, đặc biệt là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, thực sự là những người yêu nước, thương dân thì mới dám hành động và biết hành động.

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam thì thành công của Đại hội XIV góp phần làm rõ một bước phát triển quan trọng trong lý luận về Đảng cầm quyền ở Việt Nam: Từ nhấn mạnh vai trò hoạch định đường lối sang đề cao năng lực tổ chức thực thi. Đây là sự bổ sung có giá trị vào lý luận xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo trong điều kiện mới. Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng này tạo động lực nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của hệ thống chính trị; củng cố niềm tin của nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Tóm lại, tổ chức thực hiện thành công nghị quyết không phải là khâu cuối mà chính là khâu trung tâm, khâu quan trọng nhất, bảo đảm thành công của nghị quyết. Năng lực tổ chức thực hiện thành công nghị quyết chính là thể hiện năng lực cầm quyền của Đảng, là cơ sở để nhân dân tin vào những mục tiêu phát triển lớn của đất nước ta là hoàn toàn khả thi và sẽ trở thành hiện thực./.
Ảnh: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 4: KỶ LUẬT NGHIÊM NHƯNG KHÔNG TRIỆT TIÊU ĐỘNG LỰC HÀNH ĐỘNG!

     Giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, kỷ cương, pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực thi nghị quyết là yêu cầu tiên quyết, sống còn đối với mọi cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Tuy nhiên, làm thế nào để giữ nghiêm kỷ luật nhưng không khiến cả bộ máy sợ hãi mà triệt tiêu động lực sáng tạo của cán bộ, không làm lỡ thời cơ, vận hội cũng là bài toán đặt ra.

Kỷ luật nghiêm minh là yêu cầu sống còn

Đối với Đảng ta, chấp hành kỷ luật, kỷ cương là yêu cầu sống còn, nguyên tắc cốt lõi bảo đảm sự tồn tại, phát triển và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt, nghĩa là tự giác và nghiêm minh. Người cũng chỉ rõ, Đảng có những điều kiện kỷ luật bắt buộc mỗi đảng viên phải theo. Đảng đã chỉ thị nghị quyết là phải làm. Không làm thì đuổi ra khỏi Đảng...

Nhìn lại các đại án lớn xảy ra trong những năm qua, không ít cán bộ cấp cao vướng vòng lao lý là vì làm trái các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Khi đứng trước hội đồng xét xử, có người biện minh rằng, vì nóng vội, mong muốn nhân dân sớm được thụ hưởng thành quả; có người viện cớ vì sự phát triển của địa phương... Những lời tự bào chữa này là sự ngụy biện, thật khó chấp nhận, không đúng bản chất vụ án, vì những cán bộ ấy không hành động vì lợi ích chung mà chỉ vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Vì thế, dư luận xã hội từng có câu nói hàm ý đầy mỉa mai “cán bộ nói thì hay nhưng làm thì dở, nói đúng nghị quyết nhưng làm trái pháp luật”...

Như ở bài trước chúng tôi đã chỉ ra, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại việc khó, không dám làm, vì sợ làm sai, rồi né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, làm việc cầm chừng, với lập luận “làm nhiều thì sai nhiều, làm ít thì sai ít, không làm thì không sai”; hoặc “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử”...

Cán bộ, đảng viên thận trọng trong công tác để không vi phạm kỷ luật của Đảng, không vi phạm pháp luật là rất cần thiết. Nhưng, không thể viện lý do sợ sai để bào chữa cho việc cố tình chây ì, thờ ơ, thiếu trách nhiệm với công việc theo chức trách, nhiệm vụ của mình, theo kiểu “sống chết mặc bay”. Đây chính là dấu hiệu của một loại “tự diễn biến”, là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, làm cản trở nghiêm trọng sự phát triển.
 
Cần thấu cảm và đồng hành với đội ngũ cán bộ

Nhưng cũng sẽ là thiếu thực tế, nếu tổ chức cứ buộc cán bộ phải liều mình với công việc, trong khi không tính đến những rủi ro do những thiếu sót, những điểm chưa phù hợp với thực tiễn của các quy định pháp luật. Thực tế là, ai là người ký văn bản, ai trực tiếp thực hiện sẽ là người chịu trách nhiệm chính trước pháp luật. Vì thế, nếu quy định của pháp luật đang có những cách hiểu khác nhau, hoặc chưa có các quy định pháp luật hướng dẫn xử lý một tình huống cụ thể phát sinh thì người thực hiện sẽ chịu một sức ép và rủi ro không nhỏ. Tổ chức và người lãnh đạo cấp trên cần thấu cảm điều này để có những hướng dẫn phù hợp, tạo ra sự vững tin cho cán bộ thực thi.

Câu chuyện ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, nay là xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An cho thấy rõ độ “vênh” giữa tinh thần dám làm vì dân với khuôn khổ pháp lý còn nhiều ràng buộc. Trước năm 2020, đất nông nghiệp bị bỏ hoang, nguồn lực lãng phí, đời sống người dân khó khăn. Trên cơ sở chủ trương tích tụ ruộng đất, phát triển kinh tế trang trại, lãnh đạo xã đã linh hoạt tổ chức thực hiện, tạo điều kiện cho người dân xây dựng các công trình phục vụ sản xuất. Từ cách làm này, nhiều mô hình trang trại hiệu quả đã hình thành, khơi thông nguồn lực đất đai, cải thiện sinh kế và được thực tiễn ghi nhận. Tuy nhiên, khi đối chiếu quy định, một số công trình được xác định vượt giới hạn cho phép, người đứng đầu chính quyền xã bị xử lý kỷ luật.

Vấn đề đặt ra không chỉ là đúng-sai về quy định mà là khoảng cách giữa yêu cầu phát triển với độ mở của thể chế. Thực tiễn đó đòi hỏi cách tiếp cận biện chứng hơn: Vừa bảo đảm kỷ cương pháp luật, vừa có cơ chế bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm. Bởi nếu chỉ “đúng quy định” mà thiếu tinh thần dấn thân, phát triển sẽ chững lại; nhưng nếu vượt khung mà không được dẫn dắt bởi thể chế phù hợp, những nỗ lực vì dân cũng có thể phải trả giá.

Ngày 5-3-2026, làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh việc siết chặt kiểm soát quyền lực, đồng thời tạo động lực để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tổng Bí thư cho rằng, cần quán triệt đầy đủ chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; tuy nhiên cần phân biệt rõ giữa sáng tạo đúng quy định với làm ẩu, làm tắt hoặc lợi dụng sáng tạo để vi phạm, trục lợi. Cũng theo Tổng Bí thư, ở cấp cơ sở, có thể thiết kế danh mục việc khó cần người chịu trách nhiệm; cơ chế xin ý kiến nhanh đối với tình huống mới; đánh giá riêng các sáng kiến có hiệu quả; biểu dương kịp thời cán bộ xử lý tốt việc phức tạp, tồn đọng kéo dài.

Ý kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm là sự gợi mở quý giá cho các cấp ủy đảng, các ban, bộ, ngành, địa phương trong việc đề ra phương hướng, cách thức để tháo gỡ khó khăn cho cán bộ khi giải quyết công việc.

Nghị định số 172/2025/NĐ-CP của Chính phủ cũng đã quy định một số tình tiết cán bộ, công chức vi phạm sẽ được miễn kỷ luật như: Vi phạm trong tình thế cấp thiết, do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp khi thi hành công vụ; đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng có gây ra thiệt hại vì lý do khách quan; thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung nhưng có thiệt hại xảy ra...

Trước mắt, có một số việc cần làm để cán bộ đỡ "bệnh" sợ trách nhiệm: Thứ nhất, tiếp tục phân cấp, phân quyền cụ thể, rõ ràng xem cấp nào được phép làm gì. Thứ hai, cần minh bạch trách nhiệm. Thứ ba, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ làm đúng vì lợi ích chung.

Cấp ủy đảng các cấp cần đồng hành với đội ngũ cán bộ, cần xây dựng cơ chế để xin ý kiến nhanh đối với tập thể cấp ủy, xin ý kiến nhanh cấp trên đối với những vấn đề mới phát sinh mà chưa có thông lệ, chưa có hướng dẫn pháp luật để giải quyết. Nếu vấn đề gì có thể vận dụng ngay thì giải quyết ngay. Vấn đề gì quá lớn, vượt thẩm quyền cho phép, cần phải sửa luật, sửa quy định thì cần có cơ chế đề xuất để sớm điều chỉnh, tránh vì chậm trễ, trì trệ mà gây nguy hại cho việc chung. 

Thời gian qua, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát được đề cao trong việc phát hiện những sai phạm của quá trình thực thi công vụ. Điều này là rất cần thiết để bảo đảm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng được thực hiện nghiêm minh. Tuy nhiên, có lẽ nên xác định rằng, kiểm tra, giám sát không phải để cứ chăm chăm vào việc phát hiện sai phạm, xử lý cán bộ, gây những căng thẳng và áp lực không cần thiết cho đội ngũ cán bộ; mà qua công tác kiểm tra, giám sát cần phát hiện những vướng mắc, khó khăn khách quan, từ đó đồng hành, giúp đỡ đội ngũ cán bộ, đề xuất lên cấp trên những giải pháp để giúp cán bộ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, tránh được những rủi ro pháp luật.

Suy cho cùng thì các biện pháp quản lý cũng nhằm để hệ thống chính trị, hệ thống hành chính thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình. Do đó, tăng cường năng lực thực thi thì phải tạo ra một môi trường quản lý mà trong đó kỷ luật nghiêm minh và đổi mới, sáng tạo không đối lập nhau, hay nói cách khác, kỷ luật nghiêm minh không làm triệt tiêu sự sáng tạo. Để từ đó, cán bộ thực sự vững tin rằng khi dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung sẽ được tổ chức và pháp luật bảo vệ.

Kỷ luật nghiêm minh là nền tảng của bộ máy, tuy nhiên nếu thiếu cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung thì kỷ luật có thể vô tình làm triệt tiêu động lực hành động./.
(Còn nữa)
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 3: SỢ TRÁCH NHIỆM - CĂN BỆNH LÀM “ĐÔNG CỨNG” BỘ MÁY!

     Nghị quyết của Đảng dù đúng đắn, tầm nhìn có chiến lược đến đâu cũng khó có thể xoay chuyển thực tiễn nếu đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, mắc "căn bệnh" sợ trách nhiệm. Thực ra, sợ trách nhiệm cũng chính là vô trách nhiệm. Căn bệnh này làm vô hiệu hóa bộ máy, lãng phí thời cơ vàng của đất nước và nguy hiểm hơn là bào mòn niềm tin của nhân dân với Đảng.

Khi cán bộ “án binh bất động” hòng giữ “an toàn”

Trong dòng chảy của lịch sử cách mạng Việt Nam, hai chữ “trách nhiệm” luôn được đặt ở vị trí trang trọng và thiêng liêng nhất. Đó là đạo đức, là danh dự, là cái "gốc" của người cán bộ cách mạng như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần căn dặn. Cũng chính vì trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân mà lớp lớp cán bộ, đảng viên của Đảng không ngại vào sinh ra tử, gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ.

Ngày nay, cần nhìn nhận rằng, trách nhiệm không đơn thuần là làm đúng những gì văn bản quy định. Bởi thực tiễn là một dòng chảy, không văn bản nào lường hết được sự đa dạng, đa màu của cuộc sống. Vì thế, trách nhiệm của cán bộ chính là sự dấn thân, phát huy hết năng lực để thực hiện nhiệm vụ, qua đó phát hiện những vấn đề nổi cộm, những điểm nghẽn cần khơi thông, từ đó có đủ bản lĩnh để tham mưu, đề xuất, giải quyết với mục đích vì công việc chung, vì lợi ích chung của đất nước, của nhân dân. Thế nhưng, thật đáng báo động khi thời gian qua, trong bộ máy công quyền đã và đang xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên mắc “căn bệnh” sợ trách nhiệm.

"Bệnh" sợ trách nhiệm không khó để nhận diện. Đó là tình trạng trì hoãn ra quyết định, né tránh việc khó, đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên hoặc đẩy sang ngang cho các cơ quan khác. Nhìn lại thực trạng từ cuối năm 2021 đến năm 2024, chúng ta không khỏi xót xa: Các bệnh viện lớn thiếu từng cuộn băng gạc, hóa chất xét nghiệm chỉ vì lãnh đạo đơn vị "không dám ký" quyết định đấu thầu vì sợ sai, sợ bị thanh tra. Những dự án bất động sản, những hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp bị "ngâm" từ năm này qua năm khác khiến nhiều mảnh đất “vàng” bị bỏ hoang, vì phải "chờ xin ý kiến" hay "nghiên cứu thêm"... Đó thực sự là thực trạng rất đáng báo động. Khi người đứng đầu sợ sai, họ sẽ tạo ra một môi trường làm việc "thủ thế", chọn “án binh bất động” là thượng sách để bảo đảm an toàn.

Hậu quả của “căn bệnh” sợ trách nhiệm vô cùng khốc liệt. Nó làm "đông cứng" bộ máy công vụ, biến những bánh răng năng động thành những khối sắt gỉ sét. Lãng phí thời cơ phát triển chính là cái giá đắt nhất mà đất nước phải trả. Các cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ, các dự án treo, các chính sách an sinh chậm thực thi không chỉ là tổn thất về vật chất, tài chính có thể đo đếm được lên tới hàng nghìn tỷ đồng, mà nguy hại hơn là sự xói mòn niềm tin, thứ tài sản quý giá nhất gắn kết Đảng với dân. Những chủ trương lớn, mục tiêu lớn, những cam kết với dân đều không thể thực hiện được, bởi cán bộ “án binh bất động”, “bình chân như vại”. Tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XV (tháng 6-2023), có đại biểu Quốc hội đã phát biểu đầy trăn trở: “Bên trong cán bộ sợ sai, bên ngoài dân chúng thở dài lo âu...”.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ rõ: “Không thể để tình trạng nghị quyết thì đúng, tổ chức thực hiện thì yếu, chậm trễ, hiệu quả thấp mà không có ai chịu trách nhiệm cụ thể. Không được phép để sự yếu kém trong tổ chức và con người làm chậm bước tiến của quốc gia...”. Lời nhắc nhở của người đứng đầu Đảng ta không chỉ là một mệnh lệnh chính trị mà còn là một tiếng chuông cảnh tỉnh đanh thép.

Bản lĩnh và danh dự đảng viên

Đi sâu phân tích nguyên nhân, chúng ta thấy cũng có những yếu tố khách quan tác động khiến cán bộ e dè. Ấy là, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, có việc không biết làm thế nào cho chuẩn, rồi áp lực từ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán chặt chẽ của Đảng và Nhà nước, rồi những trường hợp làm sai bị vướng vào vòng lao lý tác động tới tâm lý đội ngũ cán bộ... Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan từ năng lực, từ cái tâm của người cán bộ mới là yếu tố quyết định. Đó chính là do năng lực kém, do sự suy thoái về bản lĩnh chính trị, sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, do sự thiếu tự trọng. Nhiều cán bộ chây ì, chọn cách "giữ mình", “án binh bất động”, không phải vì sợ sai cho công việc chung, mà sợ mất "cái ghế" chức vụ, sợ mất quyền lợi cá nhân. Họ không làm gì, nhưng cũng không chịu đứng sang một bên để người khác làm. Họ thà để mặc nhân dân mòn mỏi chờ đợi, mặc doanh nghiệp khốn đốn, địa phương và đất nước mất cơ hội phát triển, còn hơn là mất "ghế" của mình.

PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhận định: Những hiện tượng “trì hoãn quyết định”, “né việc khó” thể hiện sự yếu kém về trình độ, bản lĩnh của người đứng đầu. Tại sao cùng một chủ trương của Đảng mà có cơ quan, địa phương triển khai thực hiện tốt, tạo chuyển biến tích cực, còn địa phương mình thì giậm chân tại chỗ? Câu hỏi ấy, người đứng đầu từng cấp phải tự vấn lương tâm mình.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khẳng định rằng: Đường lối đúng đến đâu mà cán bộ yếu kém cũng không thành công; ngược lại, cán bộ tốt có thể biến chủ trương đúng đắn thành kỳ tích.

Rõ ràng, bản lĩnh không phải là làm liều, không phải là bất chấp luật pháp và quy định của Đảng, mà là sự kết tinh của trí tuệ, sự am hiểu luật pháp và tinh thần tận hiến. Nếu cán bộ nắm vững quy định, làm việc vì mục tiêu chung của dân, của nước, với cái tâm trong sáng thì không có lý gì phải sợ hãi.

Để trị dứt điểm "căn bệnh" sợ trách nhiệm không thể chỉ dùng những lời giáo huấn chung chung mà phải bằng những cơ chế "thép" lồng ghép hài hòa trong công tác cán bộ. Phải nhanh chóng thực hiện phương châm "6 rõ": Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả. Khi trách nhiệm được lượng hóa, không ai có thể lẩn khuất sau "tấm khiên" tập thể. Cơ chế, quy định bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung đã được xây dựng, điều quan trọng là cơ chế ấy cần được thực hiện, tạo thành "bệ đỡ" vững chắc để cán bộ yên tâm cống hiến.

Để chọn được người phù hợp thì công tác cán bộ phải thực sự là khâu đột phá, cần thực hiện tốt tinh thần "có vào, có ra; có lên, có xuống". Ai không dám làm, ai làm việc cầm chừng thì dứt khoát phải “đứng sang một bên”, phải được thay thế bằng người khác. Việc xử lý cán bộ không chỉ áp dụng với người làm sai, mà phải nghiêm khắc kỷ luật cả những người thờ ơ, “bình chân như vại”, "không làm gì". Tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng phải đi đôi với sự khơi dậy lòng tự trọng và khát vọng cống hiến của mỗi cán bộ, đảng viên.

Dứt khoát phải trị "bệnh" sợ trách nhiệm. Vì sợ trách nhiệm không chỉ làm mất cơ hội phát triển mà còn bào mòn niềm tin!
Ảnh minh họa.
(còn nữa)
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 2: VÌ SAO CÙNG MỘT CHỦ TRƯƠNG, NHƯNG HIỆU QUẢ KHÁC NHAU?

     Thời gian qua xuất hiện một nghịch lý: Cùng một chủ trương của Trung ương, cùng một cơ chế, chính sách, nhưng khi triển khai vào đời sống, kết quả thu về lại có sự khác biệt giữa các địa phương. Nơi thì bứt phá ngoạn mục, nơi lại trì trệ, nghị quyết không đi vào cuộc sống. Nguyên nhân vì đâu?

Nơi bứt phá, nơi trì trệ

Xin lấy một số ví dụ làm minh chứng cho sự phân hóa rõ rệt về kết quả khi triển khai nghị quyết của Đảng vào thực tiễn. Cụ thể như việc thực hiện chủ trương chuyển đổi số, hai địa phương là TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ninh đã bứt phá mạnh mẽ, vươn lên trở thành điểm sáng của cả nước.

Nhiều người lý giải rằng, đó là do Đà Nẵng, Quảng Ninh có nguồn lực dồi dào hơn nơi khác. Nhưng không đơn giản chỉ là do nguồn lực, bởi cũng có địa phương nguồn lực tốt hơn nhưng kết quả thực hiện lại chưa bằng. Quan trọng là hai địa phương nói trên có quyết tâm chính trị cao độ, sự chỉ đạo quyết liệt và cách tiếp cận toàn diện. Cụ thể, hai địa phương đã ban hành nghị quyết chuyên đề nhằm dồn sức lãnh đạo, tập trung nguồn lực và xác định rõ khâu đột phá là xây dựng hạ tầng (trung tâm hành chính công hiện đại, hạ tầng dữ liệu dùng chung) và đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên có đủ trình độ, năng lực để vận hành. Khi thủ tục hành chính được giải quyết thông suốt qua dịch vụ công trực tuyến, giúp giảm thời gian, bớt phiền hà cho người dân, doanh nghiệp và kết quả thu về là chỉ số năng lực cạnh tranh và sự hài lòng của người dân tại Đà Nẵng và Quảng Ninh đạt mức cao, thu hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh.

Ngược lại, cùng thực hiện chủ trương chuyển đổi số, nhưng có địa phương chỉ tập trung vào việc mua sắm máy móc, trang thiết bị thật đắt tiền. Máy tính hiện đại được trang bị đến tận cơ sở nhưng cán bộ không biết sử dụng; hạ tầng chắp vá, thiếu đồng bộ, đường truyền yếu, người dân không thể thực hiện được một số dịch vụ công trực tuyến đơn giản... Kết quả chuyển đổi số tại những nơi ấy rất yếu vì thiếu sự chuẩn bị cần thiết về con người.

Một ví dụ khác là về thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới. Các tỉnh như Hưng Yên, Ninh Bình... thực hiện với quan điểm nhất quán “nhân dân là chủ thể, là trung tâm của nông thôn mới” theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhờ đó, các địa phương này đã khơi dậy sức dân, huy động được mọi nguồn lực trong dân và về đích sớm nông thôn mới, rồi tiếp đà đó để xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu bền vững, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân.

Cũng thực hiện chủ trương ấy, không ít địa phương vì chạy theo thành tích nên nóng vội, huy động quá sức dân, rồi vay mượn để hoàn thành một vài tiêu chí nông thôn mới mà đáng ra phải cần thêm thời gian, thêm nguồn lực. Có địa phương chạy theo sự hào nhoáng, cố xây trụ sở, quảng trường to đẹp, hoành tráng, trong khi hạ tầng sản xuất lạc hậu, thiếu nguồn lực cho phát triển, người dân thiếu việc làm ổn định, đời sống khó khăn. Kết quả là, dù được công nhận nông thôn mới, nhưng địa phương phải oằn mình gánh thêm khoản nợ đọng xây dựng cơ bản.

Người đứng đầu - căn nguyên quyết định của bứt phá

Thời gian qua, tốc độ triển khai các nhiệm vụ tại Hà Nội được đẩy nhanh hơn. Nhiều việc, nhiều dự án là điểm nghẽn nhiều năm đã được tháo gỡ. Để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội Đảng XIV vào cuộc sống, Thành ủy Hà Nội đã đề ra chương trình hành động xác định rõ mục đích, yêu cầu xuyên suốt là cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng gắn với hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ thành phố. Trong đó, có thể thấy rõ vai trò nổi bật của người đứng đầu với tinh thần “nói ít, làm nhiều”, cụ thể hóa quyết sách bằng hành động.

Dấu ấn rõ nét là công tác giải phóng mặt bằng dự án đường vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu-Voi Phục). Với sự chỉ đạo sát sao của Thành ủy và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, công tác giải phóng mặt bằng của dự án cơ bản hoàn thành. Tổng diện tích thu hồi đạt 153.341m², liên quan 1.983 hộ dân và tổ chức. Chỉ trong hơn 5 tháng, các phường Ô Chợ Dừa, Giảng Võ và Láng đã hoàn thành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất đối với 1.295 hộ dân, trong khi 7 năm trước đó, các quận chỉ giải quyết được 686 hộ. Hiện nay, Thành ủy Hà Nội đang chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng của thành phố khẩn trương đẩy nhanh tiến độ xây dựng 8 hồ điều hòa mới và các bể điều tiết ngầm để chống ngập khẩn cấp trước mùa mưa năm nay với tổng mức đầu tư gần 5.600 tỷ đồng. Nếu việc này được thực hiện, Hà Nội sẽ giải quyết cơ bản vấn đề rất nhức nhối thời gian qua: Ngập úng trong nội đô.

Đây là dẫn chứng tiêu biểu cho việc Hà Nội đã thực hiện được tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII là: "Hà Nội đã nói là làm-làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng".

Để đạt được kết quả như vậy, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thành ủy Hà Nội đã có sự chuyển biến rất tích cực, quyết liệt; kỷ luật, kỷ cương hành chính được tăng cường; trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân trong thực thi nhiệm vụ với tinh thần "6 rõ": Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Thành ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, không né tránh để giải quyết những vấn đề bức xúc và tìm các giải pháp để xử lý 5 điểm nghẽn kéo dài của Thủ đô, gồm: Ùn tắc giao thông, trật tự đô thị, ô nhiễm môi trường, úng ngập, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thực tiễn cho thấy, nghị quyết vận hành có hiệu quả hay không thì yếu tố đầu tiên và cũng là quan trọng nhất chính là vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương. Hay nói cách khác, đó là phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của người đứng đầu.

Rõ ràng, cùng một chủ trương của Trung ương, khi người đứng đầu bộ, ngành, địa phương có năng lực tổ chức, đủ tâm và tầm sẽ biết soi chiếu vào tiềm năng, thế mạnh của bộ, ngành, địa phương mình để có những quyết sách mang tính đột phá. Họ không chờ những yếu tố đến từ bên ngoài, mà chủ động tìm giải pháp vượt qua khó khăn; không chờ “cầm tay chỉ việc” mà hành động quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung.

Năng lực tổ chức thực thi nghị quyết được thể hiện ở khả năng vận dụng, triển khai sáng tạo trong thực tiễn, bởi thực tiễn luôn biến đổi không ngừng. Nếu người lãnh đạo chỉ muốn an toàn sẽ thực hiện nghị quyết theo kiểu trông chờ hướng dẫn, rồi từ đó rập khuôn. Kiểu ỷ lại như vậy chính là căn nguyên làm triệt tiêu tinh thần đổi mới, động lực sáng tạo. Kết quả là, chủ trương thì hay nhưng hiệu quả lại rất thấp, thậm chí không mang lại hiệu quả.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho rằng, tổ chức thực thi hiệu quả nghị quyết phụ thuộc quyết định ở chất lượng đội ngũ cán bộ. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực tiễn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thực tế cho thấy, nghị quyết có hay đến đâu cũng phải thông qua bàn tay, khối óc và nhất là tinh thần tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự đồng thuận của nhân dân thì mới mang lại hiệu quả. Nơi nào cán bộ có năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ tốt, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, nơi đó chính sách được thực thi đúng, đủ, hiệu quả cao. Nơi nào phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân, nơi đó nghị quyết có sức sống bền vững. Nếu bộ máy quan liêu, xa dân, nhũng nhiễu thì mọi chủ trương tốt đẹp của Đảng cũng trở nên méo mó khi vận hành trong thực tiễn. Hiệu quả thực thi nghị quyết thực sự là cuộc sát hạch về bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, đạo đức của cán bộ, đảng viên trước nhân dân, cũng chính là thước đo chính xác nhất lòng tin của nhân dân với Đảng. Muốn nghị quyết của Đảng thực thi hiệu quả, chúng ta cần những người đứng đầu tận tâm, tận tụy, tận hiến.

Như vậy, khác biệt trong hiệu quả thực hiện nghị quyết không nằm ở nội dung mà nằm ở năng lực tổ chức./.
(còn nữa)
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO

BÀI 1: KHI ĐIỂM NGHẼN PHÁT TRIỂN KHÔNG CÒN NẰM Ở CHỦ TRƯƠNG!

     Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cùng với các nghị quyết của Bộ Chính trị thời gian qua đã đề ra nhiều chủ trương lớn, mang tính đột phá, mở ra không gian phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra một yêu cầu ngày càng rõ: Nghị quyết dù đúng đắn đến đâu, nếu không được tổ chức thực hiện hiệu quả thì vẫn chỉ dừng lại trên giấy. Thực thi thành công nghị quyết chính là thước đo trực tiếp, sinh động và thuyết phục nhất đối với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần thẳng thắn chỉ rõ: Thể chế chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Nhận diện rõ vấn đề này, thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết với tư duy đổi mới, đột phá nhằm tháo gỡ rào cản từ thể chế. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, để những chủ trương, quan điểm trong từng nghị quyết đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, lại đang vướng phải một điểm nghẽn khác, thậm chí còn khó tháo gỡ hơn, đó là: Năng lực tổ chức thực thi nghị quyết.

Từ “hệ điều hành” lỗi thời đến cuộc cách mạng về thể chế

Đại hội XIV của Đảng xác định nhiều mục tiêu lớn và đầy thách thức: Đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500USD/năm.

Để đạt được các mục tiêu đầy tính bứt phá này là điều không dễ dàng, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới đang có những biến động khó lường. Do đó, cần phải có những nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra rằng: “Công tác tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đổi mới, cách làm hay, song vẫn chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước”. Đây là một hạn chế kéo dài nhiều năm, khiến không ít mục tiêu lớn trong từng nghị quyết của Đảng các nhiệm kỳ trước đây không đạt được kỳ vọng. Nghị quyết Đại hội Đảng XIV xác định 3 đột phá chiến lược là đòn bẩy quyết định cho cả giai đoạn 2026-2030; trong đó, “đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực” được xác định ở vị trí đầu tiên.

Phấn khởi trước những chủ trương đúng đắn và những mục tiêu lớn mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đề ra, tuy nhiên, PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: Thực thi là "thước đo" giá trị của nghị quyết. Một nghị quyết dù hay đến đâu, một đạo luật dù tiến bộ thế nào, nếu không đi vào cuộc sống thì vẫn chỉ nằm trên giấy. Năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ thể hiện ở việc ban hành các quyết sách đúng đắn, mà quan trọng hơn là ở khả năng biến các quyết sách đó thành kết quả thực tế: Tăng trưởng kinh tế, sự hài lòng của người dân và sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Nếu khâu thực thi yếu, sẽ dẫn đến tình trạng "trên nóng dưới lạnh", làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào các chủ trương của Đảng. Do đó, thực thi chính là bài kiểm tra thực tế nhất đối với uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Để thúc đẩy phát triển đất nước, nâng cao năng lực bộ máy, chỉ trong hơn một năm vừa qua, Đảng ta đã lãnh đạo thực hiện rất nhiều công việc. Cùng với việc ra một loạt nghị quyết đột phá, tư duy cởi mở như: Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết số 59-NQ/TW; Nghị quyết số 66-NQ/TW; Nghị quyết số 68-NQ/TW; Nghị quyết số 71-NQ/TW; Nghị quyết số 72-NQ/TW..., Đảng ta đã lãnh đạo thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy để loại bỏ bớt các rào cản, tối ưu hóa nguồn lực. Tinh gọn bộ máy được xác định là phương thức quản trị xã hội mới.

Để thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, đưa ngay vào cuộc sống, thời gian qua, Quốc hội đã làm việc với tinh thần hết sức khẩn trương. Tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã xem xét, thông qua tới 51 luật, 8 nghị quyết quy phạm pháp luật. Đây là con số luật, nghị quyết được xem xét, thông qua lớn nhất từ trước đến nay tại một kỳ họp Quốc hội. Điểm đáng chú ý nhất không chỉ là số lượng, mà là tư duy lập pháp mới: “Một luật sửa nhiều luật”. Với việc sửa đổi trực tiếp nhiều luật liên quan đến đầu tư, ngân sách, đất đai... cho thấy một cuộc đại điều chỉnh của hệ điều hành quốc gia, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm” và chuyển mạnh sang tư duy “kiến tạo phát triển”.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, đại biểu Quốc hội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: Tư duy đột phá đã thay đổi rất căn bản. Không chỉ làm luật, mà phải làm cho luật sống; không chỉ ban hành chính sách, mà phải biến chính sách thành tác động thật trong đời sống. Và vì thế, đột phá thể chế không thể chỉ đo bằng số lượng văn bản, mà phải đo bằng năng lực tháo gỡ điểm nghẽn, bằng sự thông suốt của môi trường đầu tư-kinh doanh, bằng sự giảm thực chất của chi phí tuân thủ, bằng niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với bộ máy công quyền. Có thể thấy rằng, thứ khác biệt không phải là tầm nhìn, mà là năng lực chuyển tầm nhìn thành hành động.

Năng lực thực thi - thước đo năng lực Đảng cầm quyền

Bức tranh thực tế đang có sự phân hóa rõ nét. Tại một số tỉnh, thành phố, ngay sau khi các nghị quyết, các luật mới được thông qua, không khí làm việc thay đổi hẳn. Các dự án tồn đọng nhiều năm được khơi thông, thủ tục hành chính được cắt giảm tối đa, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Những con số về tăng trưởng và thu hút đầu tư tại các địa phương này là minh chứng sống động cho việc khi thể chế được cởi trói, năng lượng xã hội sẽ bùng nổ.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, vẫn còn tình trạng “chờ hướng dẫn”, “nghe ngóng”. Điều này cho thấy, điểm nghẽn thực thi vẫn là thứ không dễ giải quyết. Vấn đề đặt ra là khả năng phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương. Sự tắc nghẽn thường nằm ở các "mối nối", nơi các cơ quan đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.

Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra những chỉ đạo rất sát đúng. Trong 5 điểm then chốt có ý nghĩa quyết định để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, ngay ở điểm then chốt thứ hai, Tổng Bí thư nhấn mạnh rõ về yêu cầu phải quyết liệt cải cách phương thức tổ chức thực hiện và kỷ luật thực thi. Kỷ luật thực thi phải trở thành nguyên tắc hành động của toàn hệ thống chính trị, chấm dứt tình trạng né tránh, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm trong tổ chức thực hiện nghị quyết.

Điều rõ ràng là, lãnh đạo các cấp phải gương mẫu, tiên phong trong đổi mới tư duy và hành động; dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích quốc gia. Đây chính là mệnh lệnh hành động. Trong kỷ nguyên mới, không có chỗ cho những “mắt xích” yếu làm chậm bước tiến của cả dân tộc. Đất nước và nhân dân không chỉ cần những cán bộ “đúng quy trình”, mà cần những cán bộ có năng lực tổ chức thực hiện hiệu quả.

Nếu xem các nghị quyết và luật mới ban hành thời gian qua là "bản thiết kế" cho một tòa nhà vĩ đại thì đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là những "kỹ sư và thợ xây". Tòa nhà có vững chãi, có đẹp đẽ hay không hoàn toàn phụ thuộc vào đôi bàn tay, khối óc của những kỹ sư và những người thợ này. Trận địa bây giờ không còn là bàn nghị sự, mà là ở các công trường, trong từng nhà máy, trên mỗi thửa ruộng và ở mỗi quyết định, hành động cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho rằng: Trong lý luận chính trị, phương thức lãnh đạo được hiểu là tổng thể các cách thức, biện pháp, quy trình mà Đảng sử dụng để tác động, định hướng, tổ chức hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện đường lối, mục tiêu đã đề ra. Đối với một đảng cầm quyền, phương thức lãnh đạo không chỉ phản ánh trình độ lý luận mà còn thể hiện năng lực tổ chức, khả năng biến chủ trương thành hiện thực.

Bởi vậy, năng lực thực thi nghị quyết không chỉ là kỹ thuật mà là biểu hiện trực tiếp của năng lực cầm quyền. Điểm nghẽn không phải ở chủ trương mà ở năng lực tổ chức thực hiện./.
Ảnh: Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
(còn nữa)
QV-ST!

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: VÁN BÀI TẤT TAY TẠI ISFAHAN!

    Vụ tìm cách đánh cắp 450kg HEU ngụy trang chiến dịch giải cứu bị thất bại thảm hại.

KHI TAY POKER LÀM TỔNG THỐNG

Khởi đầu của một sự liều lĩnh: Mục tiêu 500kg Uranium

Trong bối cảnh các công cụ ép buộc kinh tế và ngoại giao dần mất đi hiệu lực, chính quyền Mỹ – dưới sự dẫn dắt của một Tổng thống có tư duy "người chơi Poker" điển hình – đã quyết định thực hiện một ván cược quân sự với rủi ro cực đại. Mục tiêu là chiếm đoạt khoảng 450-500kg Uranium làm giàu mức độ cao (HEU) của Iran tại khu vực Isfahan.

Đối với Donald Trump, đây không đơn thuần là một chiến dịch đặc nhiệm, mà là một nỗ lực nhằm tước đoạt "quân bài tẩy" mạnh nhất của Tehran, từ đó thiết lập một vị thế "cửa trên" tuyệt đối để ép giá trên bàn đàm phán quốc tế. Với một "deal-maker" đã bước sang tuổi 80, rủi ro về khí tài hay nhân mạng chỉ được coi là "chi phí vận hành" cho một di sản chính trị vĩ đại.

Thứ hai là nghệ thuật "Diệt từ trong trứng nước": Ma trận Isfahan

Thất bại của Mỹ tại Isfahan không chỉ nằm ở việc không thể rút quân, mà cay đắng hơn, nó bắt đầu ngay từ khi họ còn chưa chạm tay được vào mục tiêu. Người Iran đã vận hành một kế hoạch phòng thủ dựa trên sự am hiểu sâu sắc về tâm lý "nôn nóng" của đối thủ.

Mồi nhử HEU và Sự mù quáng tình báo: Iran biết rằng con số 450kg HEU là một "thỏi nam châm" không thể cưỡng lại. Họ cố tình để lộ các tín hiệu điện từ và dấu vết vận tải giả xung quanh một căn cứ gần Isfahan, dẫn dụ tình báo Mỹ tin rằng đây là kho lưu trữ tạm thời trước khi chuyển sâu vào lòng đất.

Trận đồ "cửa hầm ma": Mỹ tin rằng với cảm biến nhiệt và UAV, họ có thể xác định chính xác lối vào. Tuy nhiên, Iran đã ngụy trang địa hình bằng các vật liệu tản nhiệt đặc biệt, xóa sạch dấu vết lối vào thật. Kết quả là khi đặc nhiệm đổ bộ, họ rơi vào một ma trận thực địa, loay hoay giữa một vùng địa hình trống rỗng và thậm chí còn không tìm được cửa hầm.

Thứ ba là "Cái bẫy cát" và sự sụp đổ của hệ thống cơ học

Trong khi toán đặc nhiệm bế tắc dưới mặt đất, các chiếc C-130 hạ cánh chờ sẵn tại một sân bay cũ bỏ hoang đã rơi vào kịch bản "chết chóc" nhất được thiết kế bởi trí tuệ bất đối xứng.

Đánh lừa Sensor: Người Iran trải lên mặt sân bay một hỗn hợp cát có màu sắc đồng nhất với bề mặt bê tông cũ khi quan sát từ vệ tinh. Đây là đòn đánh trực diện vào hệ thống trinh sát hình ảnh (IMINT), tạo ra ảo ảnh về một đường băng ổn định.

Nguyên lý bẫy lún: Về mặt cơ học đất, chỉ cần một lớp cát tơi dày ngập chưa đến một nửa bánh xe là quá đủ để vô hiệu hóa một chiếc phi cơ nặng hàng trăm tấn. Chiếc MC-130J với trọng tải lớn (chuẩn bị để chở Uranium) đã bị "đóng đinh" tại chỗ ngay khi dừng bánh. Lực cản lăn lớn hơn lực đẩy cực đại của động cơ, biến những chiếc phi cơ triệu đô thành những bia bắn cố định.

Phút cuối: Hủy diệt khi chưa kịp chạm mục tiêu

Cái bẫy hoàn hảo ở chỗ: Iran không cần đợi Mỹ lấy được Uranium. Họ khai hỏa ngay khi thấy đối phương đang trong trạng thái dễ tổn thương nhất.

Sự sụp đổ dây chuyền: Việc C-130 bị sa lầy gây ra hiệu ứng nghẽn cổ chai. Các lực lượng yểm trợ như F-15, A-10 trên không, trực thăng và UAV buộc phải bay thấp để bảo vệ đồng đội, vô tình lọt vào tầm ngắm của các hệ thống phòng không tầm thấp (SHORAD) đã phục kích sẵn.

Tiêu hủy và xác chết: Trước nguy cơ bị bao vây áp đảo và để bảo mật công nghệ, mệnh lệnh "tự hủy khí tài" đã được thực hiện trong tuyệt vọng. Hình ảnh những thi thể binh sĩ được tìm thấy trong đống đổ nát của chiếc C-130 bị đốt cháy đen cho thấy họ đã bị kẹt lại trong chính cái bẫy mà họ tưởng là lối thoát. Mỹ đã mất 2 chiếc C-130, 2 trực thăng và 1 chiếc F-15, A-10 bị thương mà chưa lấy được một gram Uranium nào.

Chốt lại là Triết lý Poker và Điểm gãy của Đế chế

Thảm họa Isfahan là minh chứng cho phong cách lãnh đạo "tất tay" (All-in) của Trump. Trong lý thuyết trò chơi, khi một bên liên tục tăng hệ số khuếch đại (mức cược) để đạt mục tiêu nhanh, hệ thống sẽ trở nên cực kỳ thiếu bền vững.

Trump là một tay chơi Poker: cược sẽ tăng lên khi còn khả năng. Với ông, nguồn lực của Mỹ vẫn còn lớn và bản thân ông không còn gì để mất ở tuổi 80, nên ván bài vẫn sẽ tiếp tục. Tuy nhiên, Isfahan đã để lại một "cái dớp" lịch sử (tương tự Eagle Claw 1980), cho thấy khi tình báo bị mù và thực thi bị tê liệt bởi sự chủ quan, đế chế đó đang thực sự đối mặt với sự phân mảnh ngay từ bên trong hệ thống chỉ huy.

Trận thua tại Isfahan vào tháng 4 năm 2026 là một bài học đắt giá về việc quá tin tưởng vào công nghệ mà bỏ qua các quy luật cơ học và địa chính trị cơ bản. Mỹ đến Isfahan để "ăn trộm" một kho báu mà họ không thấy lối vào, để rồi ra về tay trắng trong một đống đổ nát rực lửa. Ván bài của Trump có thể chưa dừng lại, nhưng sau Isfahan, thế giới đã thấy rõ những vết nứt không thể hàn gắn trong cỗ máy chiến tranh của Hoa Kỳ./.
QV-ST!

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: BÌNH TĨNH, MƯU TRÍ VÀ GAN DẠ TRONG XỬ TRÍ TÌNH HUỐNG CỦA NGƯỜI QUÂN NHÂN CÁCH MẠNG!

     Giữa tháng 11/1968, có chỉ thị triệu tập điệp viên Tư Cang (hồi đó là Cụm trưởng Cụm Tình báo H.63) về Phòng Tình báo. Đi cùng ông là nữ tình báo Tám Kiên. Trên đường đi, Tư Cang hỏi.

"Sao nhiều xe Jeep cảnh sát quá vậy?”, “Hồi sáng em đi dò đường thì không có, chắc tụi này ở Sài Gòn mới lên” Tám Kiên lo lắng.

“Vậy là trạm kiểm soát đột xuất. Gay go đây, nhưng cứ bình tĩnh xem như không có chuyện gì xảy ra!”, ông trấn an.

Một tên lính ngụy phóng ra mặt đường, lên đạn súng, bước tới trước mặt hai người rồi nói "Ông cho coi giấy!”.

Ông Tư Cang bình tĩnh đưa tay lên túi áo lấy ra một xấp nhiều loại giấy tờ, cố ý soạn cho tên lính thấy. Tên lính xem kỹ mặt trước rồi lật xem mặt sau. Bất ngờ nó cho tấm thẻ vào lòng bàn tay bóp mạnh rồi thả bung ra, rồi bóp vào thả ra như vậy mấy lần. Hai năm trước, khi làm tấm thẻ kiểm tra giả để ông vào Sài Gòn công tác, Trưởng ban kỹ thuật của Phòng Tình báo Miền nói rằng đã cố gắng hết sức để làm cho ông một thẻ thật giống của địch. Tuy nhiên, tờ giấy giả do mình làm vẫn còn những nhược điểm khó khắc phục.

Sau hồi lâu bóp tấm thẻ nhiều lần, tên lính nhìn thẳng vào mắt ông Tư Cang: “Giấy này coi kỳ quá he!”. Ông đáp: “Mấy ông cấp sao, tôi đi vậy chớ kỳ gì đâu”. Tên lính vẫn chưa thôi, nó đưa tờ giấy lên xem kỹ một lần nữa rồi hỏi: “Giấy cấp ngày mấy?” Dù nhớ rõ là ngày 13/7/1962, ông vẫn trả lời nửa vời: “Giấy được cấp đâu hồi giữa năm 1962, bây giờ ông hỏi ngày làm sao tôi nhớ!”. Thật ra câu hỏi này của tên lính là một câu hỏi mẹo rất độc. Nếu lúc đó ông trả lời vanh vách đúng ngày, đúng tháng như đã ghi trong thẻ kiểm tra thì sẽ lập tức bị làm khó vì chỉ có người “gian” mới để tâm học thuộc lòng như vậy.

Tên lính chạy đến báo cáo chỉ huy của mình, bằng hai tay kính cần đưa tờ thẻ kiểm tra cho viên sĩ quan: “Thưa trung úy, tấm thẻ này coi kỳ quá, có nhiều khả nghi Việt Cộng”. Với chiếc máy vô tuyến điện có cần ăng-ten trên xe, hắn chỉ cần gọi về Tổng nha Cảnh sát ở Sài Gòn thì thật giả sẽ rõ ràng chỉ trong vài phút. Đồng nghĩa, ông và cô Tám Kiên sẽ lập tức bị bắt.

Tên sĩ quan cầm tấm thẻ kiểm tra lật qua lật lại, sau đó đưa mắt về phía ông và cô Tám Kiên đang đứng, nhìn một lúc nhưng không nói gì. Sau khoảng 3 phút quan sát, hắn quát tên lính: “Người Sài Gòn giấy như vầy mày ơi...chớ kỳ cái gì. Trả cho người ta đi!”. Tên lính có vẻ không phục nhưng vẫn làm theo. Nổ máy xe, cô Tám Kiên bước đến ngồi phía sau, choàng tay ôm qua hông ông y hệt đôi vợ chồng trẻ. Qua gương chiếu hậu, ông thấy tên lính buồn bã xách cây súng đi vào.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, theo điệp viên Tư Cang, trong thâm tâm của mình, ông vẫn có niềm tin rằng người đeo lon trung úy ngụy kia chính là người của Cách mạng cài vào./.
QV-ST!

NGÀY NÀY NĂM XƯA: MỆNH LỆNH LỊCH SỬ CHO NGÀY TOÀN THẮNG!

     Cách đây 47 năm, 9 giờ 30 sáng 7/4/1975, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi Điện số 157-HÐKTK cho các đơn vị mệnh lệnh: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!", cổ vũ tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ trên chiến trường vào thời điểm vô cùng quan trọng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc./.


QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: BỮA CƠM CHIỀU TRONG DINH ĐỘC LẬP!

     Chiều 30/4/1975, ánh nắng vàng cuối ngày rải nhẹ trên sân dinh Độc Lập, nơi mà chỉ vài giờ trước đây còn là trung tâm quyền lực của chính quyền Sài Gòn. Trên bậc thềm, những đoàn xe tăng của Lữ đoàn 203 nối đuôi nhau tiến vào, cùng bộ binh, pháo binh, và những du kích trẻ với khẩu AK-47 trên vai. Không khí vừa hồi hộp, vừa phấn khởi khi chiến tranh đã kết thúc, Sài Gòn đã được giải phóng.

Đại tá Hoàng Đan (năm 1977 ông được thăng quân hàm Thiếu tướng) - Phó Tư lệnh Quân đoàn 2, bước xuống xe, quan sát từng căn phòng trong dinh. Một phòng lớn trưng bày đầy đủ đồ thể thao của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, từ vợt tennis, vợt bóng bàn, đến súng thể thao. Bỗng tiếng pháo vang lên ngoài sân, ông lập tức hô anh em vào vị trí chiến đấu, nhưng chỉ phút chốc, thông tin liên lạc xác nhận đó là pháo của ta, bắn nhầm vì chưa biết Quân Giải phóng đã có mặt. Ông Đan gọi điện báo và các khẩu pháo im bặt.

Chiều muộn, bộ đội bắt đầu chuẩn bị bữa cơm. Những chiếc kiềng ba chân tạm bợ làm từ vỏ thùng đạn, những nồi cơm lớn nghi ngút khói, củi cháy thơm ngai ngái lan khắp sân dinh. Các chiến sĩ giặt giũ quần áo, phơi trên hàng rào sắt, ánh nắng đỏ nhạt chiếu vào làm hiện lên khói bếp. Trên xe tăng anh em bao giờ cũng có gạo, rau, củi… thậm chí có xe còn nuôi dăm chú gà con. Đến đâu là hạ bếp nấu nướng, cơm ăn xong dành chút cho đàn gà. Lâu lâu mổ gà, chiến sĩ được chén bữa thịt tươi.

Bữa ăn đơn giản chỉ có cơm trắng, rau luộc và ruốc mặn, tuy vậy ai cũng vui vì chiến tranh đã kết thúc. Đây là bữa cơm hòa bình đầu tiên. Sau đây mọi người có thể trở về với cha mẹ, với vợ con… Cái ngày mơ ước tưởng như xa xôi ấy, nay đã thành hiện thực. Nắng vàng cuối chiều rải rác trong sân của dinh Độc Lập, mùi khói của củi cháy thơm ngai ngái. Trời xanh thẫm đặc biệt. Tiếng hò, hát, hô khẩu hiệu vẳng từ những đoàn mít tinh ngoài đường. 

Bỗng Dương Văn Minh bước tới ngập ngừng xin gặp ông Hoàng Đan, nói: 
- Bây giờ mọi việc đã xong hết, tình hình đã ổn định. Nên tôi xin phép ông cho tôi được về qua nhà. Cần việc gì các ông cho người gọi, tôi sẽ đến…

Đại tá Hoàng Đan mỉm cười, lịch sự nói: 
- Các ông hãy ở lại đây để chúng tôi bảo vệ các ông. Ở đây các ông được tuyệt đối an toàn. Bây giờ xin mời ông ăn một bữa cơm chung vui với chúng tôi. Ông hãy nếm thử xem cơm của Việt Cộng có ngon không? Nào xin mời ông… 

Các chiến sĩ lùi rộng ra, nhường cho Tổng thống chính quyền Sài Gòn vừa đầu hàng một chỗ ngồi. Vẻ căng thẳng trên gương mặt Dương Văn Minh biến mất, ông ta lúng túng xin phép từ chối ăn cơm, nói lời cảm ơn và quay trở lại văn phòng./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM ĐƯỢC BẦU GIỮ CHỨC CHỦ TỊCH NƯỚC!

     Với 495/495 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.

Ngay sau khi Nghị quyết được thông qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thực hiện nghi lễ tuyên thệ.

"Dưới cờ đỏ sao vàng thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, đồng bào và cử tri cả nước, tôi - Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xin tuyên thệ: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tuyên thệ.

Sau lễ tuyên thệ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có phát biểu trước toàn thể Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước./.


QV-ST!

KỲ HỌP THỨ NHẤT QH KHÓA XVI: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU NHẬM CHỨC CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM!

     Sáng 7/4, tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội, sau khi được Quốc hội khóa XVI bầu làm Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thực hiện nghi lễ tuyên thệ và phát biểu trước toàn thể Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu nhậm chức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước , Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Thưa đồng chí Chủ tịch Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí, cử tri cả nước và bạn bè quốc tế.

Trong giờ phút thiêng liêng, trang trọng của lễ nhậm chức Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tôi chân thành cảm ơn cử tri và Nhân dân cả nước, với tinh thần trách nhiệm, khát vọng xây dựng quê hương đất nước và niềm tin son sắt vào Đảng Cộng sản Việt Nam, đã làm nên kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 rất thành công. Đây là sự hội tụ từ lịch sử ngàn năm Văn hiến của dân tộc, hun đúc hào khí, quyết tâm mãnh liệt, để hiện thực hoá hai mục tiêu chiến lược 100 năm, để đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, là nước xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Tôi trân trọng cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tin cậy giới thiệu Tôi đảm nhận cương vị Chủ tịch nước và Quốc hội đã tín nhiệm bầu, giao cho Tôi trọng trách này.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta; đối với các bậc tiền bối, các chiến sỹ Cách mạng, các đảng viên Cộng sản, của hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và nghĩa vụ quốc tế cao cả; của lớp lớp Nhân dân, những người đã quên mình trong lao động, sáng tạo, đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc Việt Nam.

Tôi ý thức sâu sắc, đảm nhiệm trọng trách Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là vinh dự hết sức lớn lao, là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả, đồng thời cũng là sự tin tưởng, kỳ vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với người đứng đầu Đảng và Nhà nước. Tôi sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đặc biệt là tập thể Ban Chấp hành Trung ương, đưa con thuyền cách mạng vượt qua mọi sóng to gió lớn, sớm về đích, hoàn thành tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của dân tộc " Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới" .

Trong bối cảnh tình hình có nhiều thách thức mang tính thời đại, trong nước triển khai nhiều chủ trương chiến lược với các mục tiêu lớn có ý nghĩa lịch sử, ưu tiên hàng đầu của Tôi trên cương vị Tổng Bí thư- Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là "Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững; nâng cao mọi mặt đời sống của Nhân dân, để nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển; gia tăng đóng góp của Việt Nam cho hoà bình, ổn định, phát triển, tiến bộ ở khu vực và thế giới".

Cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường; nền quốc phòng- an ninh toàn dân, toàn diện và hiện đại; hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; xã hội phát triển, đoàn kết, văn hóa và nhân văn. Kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, thực hiện tự chủ chiến lược, lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước. Xác lập mô hình tăng trưởng mới với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, phát triển toàn diện con người Việt Nam, phát triển nhân lực chất lượng cao, trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững. Xây dựng kỷ luật trách nhiệm, kỷ luật thực thi, nói đi đôi với làm, làm đến cùng, làm vì Nhân dân, kết quả công việc phải hiệu quả, thực chất trong toàn hệ thống chính trị.

Triển khai công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế ở tầm cao mới, đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước và thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới; với phương châm "Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm"; đưa đất nước ta hòa cùng dòng chảy của nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.

Hoàn thiện và triển khai Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược an ninh quốc gia đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới. Ưu tiên tăng cường tiềm lực, thực hiện tự chủ chiến lược về quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức chủ động loại trừ từ sớm, từ xa mọi nguy cơ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống. Củng cố môi trường hoà bình, ổn định, an ninh, trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh ở tầm mức cao, đóng góp vào hoà bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Trong thực hiện nhiệm vụ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trọng tâm hàng đầu là quán triệt sâu sắc, thực hành triệt để quan điểm "Dân là gốc" , phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, huy động sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là Nhân dân được thụ hưởng thành quả của phát triển.

Tôi mong muốn nhận được sự phối hợp chặt chẽ của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các ban, bộ, ngành, địa phương và đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài, để tôi hoàn thành sứ mệnh cao cả nhất của người đứng đầu nhà nước: bảo vệ, x ây dựng, phát triển Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và phục vụ nhân dân.

Với truyền thống nghìn năm dựng nước, giữ nước và những giá trị di sản vĩ đại từ cha ông, với khát vọng vươn lên không ngừng, ý chí sắt đá và bản lĩnh kiên cường, với chân lý "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" , với quyết tâm không thể để đất nước tụt hậu, không thể để Nhân dân mất cơ hội phát triển, phải hành động vì tương lai lâu dài và tươi sáng cho dân tộc, với sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, nhất định Việt Nam sẽ viết tiếp những chương mới rực rỡ trong hành trình phát triển, hoàn thành các mục tiêu chiến lược đã đề ra.

Một lần nữa, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc về việc Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Nhân dân đã tin cậy giao cho tôi trọng trách lớn.

Chúc các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị đại biểu Quốc hội, các vị khách quý và toàn thể Nhân dân sức khỏe, hạnh phúc.

Xin chân thành cảm ơn!

QV-ST!

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU NHẬM CHỨC CỦA CHỦ TỊCH QUỐC HỘI KHOÁ XVI TRẦN THANH MẪN!

     Sáng 6/4, với 491/491 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI đối với ông Trần Thanh Mẫn.

Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu nhậm chức của Chủ tịch Quốc hội khóa XVI Trần Thanh Mẫn:

Kính thưa đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội, các vị khách quý,

Thưa đồng bào và cử tri cả nước,

Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn cử tri Thành phố Hồ Chí Minh đã tin tưởng bầu tôi trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI; trân trọng cảm ơn các vị đại biểu Quốc hội đã tín nhiệm bầu tôi giữ chức Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI. Đây là niềm vinh dự to lớn, đồng thời là trách nhiệm cao cả của tôi trước Đảng, Nhà nước, trước cử tri và nhân dân cả nước.

Trong giờ phút trang nghiêm này, xin bày tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn đến Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại; xin tri ân các vị lãnh đạo tiền bối, các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; các gia đình liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh, gia đình có công với đất nước. Tôi xin trân trọng cảm ơn về sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sâu sát của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; xin chân thành cảm ơn các vị đại biểu Quốc hội, cử tri, nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài; các tổ chức, cá nhân, bạn bè quốc tế đã giúp đỡ, chia sẻ, để đất nước Việt Nam tự tin, vững bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Kính thưa Quốc hội,

Đất nước ta đang đứng trước một thời điểm lịch sử có ý nghĩa bước ngoặt; vui mừng về những thành tựu Quốc hội đạt được trong 80 năm qua nhưng trách nhiệm của Quốc hội là hết sức nặng nề, nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Quốc hội khóa XVI sẽ tiếp tục kế thừa, phát huy thành quả của các nhiệm kỳ trước, với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, khát vọng đổi mới và tinh thần phục vụ nhân dân, Quốc hội sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, xứng đáng là Quốc hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là hiện thân sinh động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó, tôi nguyện cống hiến hết sức mình, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; cùng Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, Quốc hội số, trí tuệ nhân tạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, nói đi đôi với làm, làm ngay, làm đúng, làm hiệu quả, làm đến cùng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp, “thận trọng trong phương pháp nhưng quyết liệt trong hành động”, tập trung hoàn thiện, đồng bộ thể chế để đất nước phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Nâng cao chất lượng giám sát, chú trọng giám sát việc thực thi pháp luật, coi giám sát là công cụ kiến tạo, thúc đẩy phát triển; theo dõi, xem xét, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát. Nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tiếp tục đưa hoạt động đối ngoại Nghị viện đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao hơn nữa vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Tôi kính mong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của Quốc hội. Kính mong các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục quan tâm, góp ý, ủng hộ các hoạt động của Quốc hội.

Kính mong các vị đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức, các địa phương tiếp tục phối hợp chặt chẽ, kịp thời, hiệu quả; rất mong cử tri và nhân dân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài, bạn bè quốc tế, các nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học, các vị chức sắc tôn giáo, các cơ quan thông tấn báo chí tiếp tục đồng hành, ủng hộ để Quốc hội khóa XVI hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Kính chúc đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các vị khách quý, các vị đại biểu Quốc hội, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cử tri, nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.

Chúc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!"


QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI PHIÊN KHAI MẠC KỲ HỌP THỨ NHẤT, QUỐC HỘI KHÓA XVI

     Sáng 6/4, Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã khai mạc trọng thể tại Hà Nội. Tổng Bí thư Tô Lâm có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng tại phiên khai mạc. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm. 

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ,

Thưa các vị Đại biểu Quốc hội khóa XVI ,

Thưa các vị khách quý, đoàn Ngoại giao và bạn bè quốc tế,

Thưa cử tri, đồng bào cả nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,

Hôm nay, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI khai mạc Kỳ thứ Nhất - kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở đầu cho một nhiệm kỳ mới của cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước ta.

Đây là kỳ họp kiện toàn tổ chức bộ máy Nhà nước theo Hiến pháp; đồng thời là kỳ họp tập trung thể chế hóa Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tạo nền tảng pháp lý, thể chế và động lực chính sách để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới: Phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc, dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn dân tộc.

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tôi nhiệt liệt chúc mừng kết quả rất tốt đẹp của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031. Tôi trân trọng chúc mừng các vị đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp đã được cử tri cả nước tín nhiệm lựa chọn. Đó là niềm vinh dự lớn lao, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm rất lớn trước Đảng, trước Nhân dân và trước tương lai của đất nước.

Nhân dịp này, chúng ta trân trọng ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Quốc hội, các vị đại biểu quốc hội khóa XV, ủy viên Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Trong nhiệm kỳ vừa qua, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đã nỗ lực đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát, quyết định nhiều vấn đề hệ trọng, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Những kết quả đó, cùng với truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam, là nền tảng quan trọng để Quốc hội khóa XVI kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao mới.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội, đồng bào và cử tri cả nước,

Thế giới đang biến đổi rất nhanh, rất sâu sắc trên cả chiều rộng và chiều sâu. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, trật tự thế giới, luật pháp quốc tế đang đối mặt với nhiều thách thức. Các chuỗi cung ứng, dòng vốn, công nghệ và thị trường toàn cầu đang được cấu trúc lại. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, tác động ngày càng trực tiếp tới môi trường và không gian phát triển của mỗi quốc gia. Đặc biệt, sự phát triển đột phá của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số và các tiến bộ khoa học công nghệ đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị quốc gia và đời sống xã hội. Trong bối cảnh ấy, quốc gia nào chủ động chiến lược, cải cách thể chế kịp thời, giải phóng được sức sáng tạo, huy động được nguồn lực toàn dân, nắm bắt được thời cơ mới, quốc gia đó sẽ vượt lên và phát triển.

Đất nước ta, với lịch sử 4 . 000 năm Văn hiến, qua 96 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 40 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa thời đại. Nhưng chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào sự thật rằng: Yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, nhanh hơn và quyết liệt hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng quản trị quốc gia, về năng lực phản ứng chính sách, về kỷ luật thực thi và nâng cao mức sống của Nhân dân. Đại hội XIV của Đảng đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khơi thông mọi nguồn lực, phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong tiến trình đó, Quốc hội phải đổi mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn để thực hiện đầy đủ, xứng đáng trọng trách Hiến định của mình.

Tôi muốn nhấn mạnh: Quốc hội là nơi kết tinh ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân; là nơi quyết định những vấn đề lớn của đất nước; là nơi chuyển hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và sức mạnh tổ chức thực tiễn. Mỗi đại biểu Quốc hội phải luôn ý thức sâu sắc rằng mình không chỉ đại diện cho đơn vị bầu cử, không chỉ mang theo lá phiếu tín nhiệm của cử tri, mà còn gánh trên vai trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, đối với niềm tin của Nhân dân, đối với tương lai của các thế hệ mai sau.

Từ tinh thần đó, tôi đề nghị Quốc hội khóa XVI tập trung thực hiện thật tốt 4 nhiệm vụ lớn sau đây:

Thứ nhất , đổi mới mạnh mẽ công tác lập pháp, xây dựng bằng được một hệ thống pháp luật hiện đại, thống nhất, ổn định, khả thi và kiến tạo phát triển.

Quốc hội phải tập trung nâng cao hơn nữa năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành chính sách và pháp luật; tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026–2031 và những năm tiếp theo. Hệ thống pháp luật phải thực sự trở thành nền tảng thể chế của phát triển, là công cụ để bảo vệ quyền con người, quyền công dân, là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giải phóng lực lượng sản xuất, khai mở những không gian phát triển mới cho đất nước.

Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống pháp luật đã được hoàn thiện đáng kể, nhưng vẫn còn tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên thông; có những quy định chưa rõ, chưa ổn định, chưa theo kịp thực tiễn, làm tăng chi phí tuân thủ, làm chậm cơ hội phát triển, làm khó cho người dân, doanh nghiệp và bộ máy thực thi. Vì vậy, Quốc hội cần chỉ đạo rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật quốc gia, kiên quyết khắc phục tình trạng "luật bó " , chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng.

Đặc biệt, phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai; Luật không chỉ "mở đường" mà còn phải "sửa đường" . Đối với những vấn đề mới, những lĩnh vực mới, những mô hình mới, những lực lượng sản xuất mới, cần có cách tiếp cận phù hợp, mạnh dạn thí điểm, có kiểm soát, tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Quá trình lập pháp phải thật sự khoa học, dân chủ, minh bạch, lắng nghe được tiếng nói của chuyên gia, nhà khoa học, kinh nghiệm quốc tế, doanh nghiệp và Nhân dân. Mỗi đạo luật phải xuất phát từ lợi ích quốc gia-dân tộc, từ lợi ích chính đáng của Nhân dân; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, mọi tác động tiêu cực làm méo mó chính sách. Phải chuyển mạnh từ tư duy "làm luật cho đủ" sang tư duy "làm luật để phát triển" ; từ "pháp luật tốt trên giấy" sang "pháp luật tốt trong cuộc sống" . Hiệu quả thực thi và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải là thước đo cao nhất của chất lượng lập pháp.

Thứ hai , nâng tầm giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng thực chất, sắc bén, đi đến cùng trách nhiệm và kết quả .

Giám sát là một quyền năng rất quan trọng của Quốc hội. Nhưng giám sát không thể dừng ở phát hiện hạn chế hay nêu ra khuyết điểm. Giám sát phải thực sự trở thành công cụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia; phải góp phần sửa cho đúng, làm cho tốt hơn, tháo gỡ được điểm nghẽn, cảnh báo sớm được rủi ro, thúc đẩy được hành động. Nói cách khác, giám sát không chỉ để "kiểm tra việc đã làm" , mà còn phải giúp "định hình việc cần làm" , nhận diện sớm những bất cập có thể phát sinh và phải đi đến cùng câu hỏi cuối cùng: Vấn đề đã được giải quyết hay chưa?

Tôi đề nghị Quốc hội nhiệm kỳ này tập trung giám sát những vấn đề lớn, những lĩnh vực then chốt, những "điểm nghẽn của điểm nghẽn" trong phát triển; những vấn đề bức xúc mà cử tri và Nhân dân quan tâm; đặc biệt là việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, việc tổ chức thi hành pháp luật, việc sử dụng nguồn lực quốc gia, quản lý tài sản công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Mỗi nội dung giám sát phải gắn với trách nhiệm cụ thể, thời hạn cụ thể, sản phẩm cụ thể, kết quả cụ thể; giám sát dựa trên dữ liệu, bằng chứng, chỉ số định lượng và so sánh rõ ràng giữa mục tiêu đặt ra với kết quả đạt được.

Cùng với đó, phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát; đồng thời tăng cường phối hợp giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán và các thiết chế kiểm soát khác của Nhà nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy bộ máy hành động đúng, hành động nhanh, hành động hiệu quả.

Thứ ba , nâng cao bản lĩnh và tầm nhìn khi quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; quyết định phải đúng, trúng, kịp thời, vì lợi ích lâu dài của quốc gia.

Bước vào giai đoạn phát triển có tính bước ngoặt lịch sử, đất nước đòi hỏi Quốc hội không chỉ quyết định đúng, mà phải quyết định trúng và kịp thời; bởi chậm một quyết sách có thể làm lỡ một thời cơ chiến lược. Các vấn đề về kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước, đầu tư công, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia… đều là những quyết sách lớn, gắn với lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc, phải được xem xét toàn diện, khoa học, thận trọng, nhưng tuyệt đối không để sự chậm trễ trở thành điểm nghẽn của phát triển.

Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Quốc hội càng phải nâng cao chất lượng phân tích chính sách, năng lực dự báo chiến lược và đánh giá tác động; phải chọn đúng việc lớn, đúng khâu đột phá, đúng công trình trọng điểm, đúng lĩnh vực then chốt để tập trung nguồn lực; không dàn trải, manh mún, chia đều. Đầu tư không chỉ để tăng trưởng trước mắt, mà phải đầu tư để tạo ra động lực tăng trưởng mới, năng lực cạnh tranh mới, không gian phát triển mới cho đất nước trong nhiều thập niên tới.

Mỗi quyết sách của Quốc hội phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, trong bối cảnh quốc tế biến động nhanh chóng, trong yêu cầu bảo đảm độc lập, tự chủ, an ninh, an toàn và phát triển bền vững. Quốc hội quyết định cho hiện tại, nhưng phải chịu trách nhiệm trước tương lai. Đó là bản lĩnh chính trị, là tầm nhìn chiến lược, là trí tuệ lập pháp và là chiều sâu của một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Thứ tư, tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, gần dân, sát thực tiễn và phản ứng chính sách nhanh hơn.

Trong một thế giới biến động không ngừng, Quốc hội không thể vận hành theo nhịp độ cũ, cách thức cũ. Quốc hội phải có năng lực thích ứng nhanh hơn, phản ứng chính sách kịp thời hơn, quyết định vấn đề nhanh hơn nhưng vẫn chặt chẽ, đúng đắn. Cần tiếp tục nghiên cứu tăng hợp lý số kỳ họp, đa dạng hóa và linh hoạt hóa các hình thức hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, nhất là ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, hình thức trực tuyến và hệ sinh thái số để nâng cao tính kịp thời, chủ động và hiệu quả trong xem xét, quyết định chính sách.

Phải tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu chuyên trách; củng cố, phát huy mạnh hơn nữa vai trò của các Đoàn đại biểu Quốc hội để thật sự là cầu nối chặt chẽ giữa Quốc hội với cử tri và Nhân dân; làm sao để mỗi đại biểu vừa có bản lĩnh chính trị, vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực phản biện, vừa có khả năng truyền tải trung thực tiếng nói của Nhân dân đến nghị trường.

Quốc hội phải gắn bó mật thiết hơn với Nhân dân; mở rộng các kênh tiếp nhận, lắng nghe ý kiến của cử tri, Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, nhà khoa học; tăng cường công khai, minh bạch trong toàn bộ hoạt động của mình; xây dựng Quốc hội số, hiện đại, thông minh, nhưng trước hết phải là một Quốc hội gần dân, hiểu dân, vì dân, hành động vì lợi ích của dân. Khi lòng dân được lắng nghe, khi ý dân được phản ánh trung thực, khi quyết sách xuất phát từ thực tiễn đời sống, thì Quốc hội sẽ mạnh hơn, Nhà nước sẽ vững hơn, niềm tin xã hội sẽ lớn hơn.

Thưa Quốc hội, thưa cử tri và đồng bào cả nước,

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI đã bắt đầu với trọng trách vô cùng lớn lao. Tôi tin tưởng và kỳ vọng mỗi vị đại biểu Quốc hội sẽ không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm; thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân, lắng nghe dân, phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết trong mọi quyết định. Đó là phẩm chất cốt lõi của người đại biểu nhân dân trong thời kỳ mới.

Đứng trước vận hội mới mang tính lịch sử của dân tộc, chúng ta có đầy đủ cơ sở để tin tưởng sâu sắc rằng: Với truyền thống 80 năm vẻ vang của Quốc hội Việt Nam; dưới sự lãnh đạo bản lĩnh, trí tuệ của Đảng; với sự đồng lòng, ủng hộ của Nhân dân; với sự phối hợp chặt chẽ của Chính phủ và cả hệ thống chính trị; với tinh thần dân chủ, sáng tạo, nhiệt huyết và trách nhiệm của toàn thể các vị đại biểu Quốc hội, Quốc hội khóa XVI nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Một lần nữa, chúc các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các vị đại biểu Quốc hội; các vị khách quý cùng toàn thể đồng bào, đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Chúc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!
QV-ST!