Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2026

HỒ SƠ - SỰ KIỆN: VỤ THỬ NGHIỆM BOM NHIỆT HẠCH CỦA LIÊN XÔ - CÁI KẾT CỦA SỰ CÂN BẰNG CHO HÒA BÌNH THẾ GIỚI!

     Ngày 30 tháng 10 năm 1961, một mặt trời nhân tạo bùng nổ trên quần đảo Novaya Zemlya - Liên Xô đã thử nghiệm quả bom nhiệt hạch mạnh nhất từng được chế tạo. Vụ nổ này mạnh hơn 3.000 lần so với quả bom đã phá hủy Hiroshima và vượt xa tổng sức mạnh của tất cả các chất nổ được sử dụng trong Thế chiến II. Trớ trêu thay, vụ siêu nổ phá kỷ lục này lại là một trong những yếu tố thúc đẩy hai kẻ thù không đội trời chung ngồi vào bàn đàm phán.

■Việc chế tạo thiết bị này đặt ra một thách thức khoa học độc đáo cho nhóm các nhà khoa học Liên Xô, bao gồm Andrei Sakharov, Yuli Khariton và Yuri Trutnev. Theo thông số kỹ thuật ban đầu, sức công phá của quả bom dự kiến là 100 megaton. Tuy nhiên, ngay trước khi thử nghiệm, các nhà vật lý đã quyết định giảm sức công phá xuống còn khoảng 50 megaton do lo ngại về ô nhiễm hạt nhân nghiêm trọng. Để đạt được điều này, các nhà khoa học đã sửa đổi tầng thứ ba của quả bom, thay thế uranium-238 phóng xạ bằng chì. Kết quả là, khoảng 97% năng lượng của AN602 được giải phóng hoàn toàn thông qua phản ứng nhiệt hạch, bản thân phản ứng này hầu như không tạo ra các mảnh phóng xạ nặng.

Thiết kế này dựa trên một sơ đồ trong đó một đầu đạn hạt nhân khởi phát phản ứng tổng hợp hạt nhân của các đồng vị hydro. Phản ứng này tạo ra một dòng neutron nhanh mạnh, mà trong phiên bản 100 megaton, sẽ chiếu xạ lớp vỏ uranium của tầng thứ ba, do đó nhân lên sức mạnh của vụ nổ bằng phản ứng phân hạch.

Nhưng các nhà vật lý nhanh chóng nhận ra rằng sự phân rã của một lượng lớn urani như vậy sẽ dẫn đến sự hình thành một lượng khổng lồ các đồng vị phóng xạ có thời gian bán rã dài .

Với năng lượng khổng lồ mà nó tạo ra, "Tsar Bomba" đã chứng tỏ là thiết bị hạt nhân sạch nhất trong lịch sử loài người. Mức độ phóng xạ tại tâm vụ nổ giảm nhanh đến mức những người thử nghiệm có thể ở lại đó mà không gặp nguy hiểm nghiêm trọng đến tính mạng chỉ hai giờ sau khi vụ nổ xảy ra./.

#QV-ST!

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: TỔNG THỐNG NGA “CHÂU PHI KHÔNG NỢ GÌ PHƯƠNG TÂY”!

     Trong hội đàm Nga - châu Phi diễn ra hôm trước, Tổng thống Putin có bài phát biểu khích lệ các quốc gia lục địa đen. Vị lãnh đạo chỉ ra thực trạng rằng rất nhiều các quốc gia châu Phi đang mắc nợ phương Tây, những khoản tiền mà các nước châu Phi không biết từ đâu mà có. Thông thường, người ta sẽ phải vay nợ thì mới mang nợ, nhưng với các quốc gia châu Phi, những khoản nợ ấy cứ liên tục xuất hiện không rõ từ đâu, gắn chặt với châu Phi trong bao nhiêu năm qua. 

Tổng thống Putin khẳng định châu Phi không có nợ nần gì phương Tây cả, bởi vì phương Tây đã khai thác thuộc địa, lấy tài nguyên, nô dịch, người dân châu Phi thành nô lệ, thu những nguồn lợi khổng lồ. Đáng nhẽ ra, phương Tây phải đền bù, trả nợ cho châu Phi, nhưng họ đã phủ quyết nghị quyết lên án việc buôn bán nô lệ. Cách đây 2 tuần, Liên Hợp Quốc đưa ra nghị quyết lên án việc buôn bán nô lệ, nhưng các nước phương Tây đều phủ quyết để tránh rắc rối đền bù.  

Lãnh đạo điện Kremlin nói nguyên văn: “Các quốc gia phương Tây vẫn còn bám víu vào mô hình thuộc địa, họ áp các biện pháp trừng phạt châu Phi bất hợp pháp. Họ áp đặt kinh tế, chiến tranh thuế quan và tống tiền, cố gắng đẩy người dân châu Phi trở lại vực thẳm nợ nần.”

Tổng thống Putin kêu gọi châu Phi đừng bán rẻ tài nguyên cho phương Tây, hãy giao dịch với tâm thế bình đẳng thông qua mức giá quốc tế, việc bán rẻ tài nguyên chỉ làm lợi cho phương Tây, còn châu Phi thì cứ mãi nghèo đói. Ông kết luận: “Châu Phi có tương lai rất rộng mở, hãy tự quyết định tương lai của chính mình”./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: PHÍA SAU NHỮNG TRANG ĐƯỢC GỌI LÀ "DI CẢO" CỦA GS. TSKH VŨ MINH GIANG: LẬP TRƯỜNG DÂN TỘC NẰM Ở ĐÂU?

     Mấy ngày nay, lướt qua các diễn đàn học thuật và mạng xã hội, người ta lại rôm rả bàn về số phận của bộ Quốc sử mới. Trung tâm của mọi làn sóng tranh luận ấy không ai khác chính là GS. TSKH Vũ Minh Giang, người đang cầm trịch và đẩy mạnh trường phái "nhận thức lịch sử kiểu mới". Bằng những phát ngôn trực diện trên truyền thông và việc trực tiếp chủ biên, giới thiệu cuốn "Phan Huy Lê di cảo: Nhận thức lịch sử Việt Nam, ông Giang đang cố gắng khoác lên sử học nước nhà một chiếc áo mới mà ông gọi là "khách quan, trung tính và đa chiều". Ông còn muốn cởi bỏ những định kiến chính trị, muốn "trả lại sự thật" cho Gia Long, Trương Vĩnh Ký, và đặc biệt là việc loại bỏ cụm từ "ngụy quân, ngụy quyền".

Tôi lướt web, thi thoảng lại đọc được những luồng thông tin kiểu ấy, tự dưng thấy lòng nặng trĩu. Tôi, một đứa thuộc thế hệ 8x đời giữa, lớn lên trong cái giai đoạn giao thời: nửa bàn chân còn dẫm trên những câu chuyện kể nồng mùi khói súng của cha ông, nửa bàn chân kia đã bước vào thời kỳ hội nhập. Thế hệ chúng tôi không cực đoan, nhưng chúng tôi biết đau. Và chính vì vậy, nhìn vào cái lăng kính học thuật phẳng lặng, lạnh lùng mà GS. Vũ Minh Giang đang cổ xúy, tôi không thấy một sự đột phá khoa học, mà chỉ thấy một nỗi trăn trở và bất bình sâu sắc. 

Có một câu hỏi cứ đóng đinh trong đầu tôi: Trước khi trở thành một nhà khoa học lớn để phán xét quá khứ, GS. Vũ Minh Giang có cần phải đứng trên lập trường của một người Việt Nam biết xót thương cho máu xương của dân tộc mình hay không? 

Sự rạn nứt niềm tin ấy thể hiện rõ nhất khi tôi lật từng trang trong cuốn di cảo do chính GS. Vũ Minh Giang biên soạn. Cuốn sách được ví như "kim chỉ nam" cho trường phái của ông, nhưng tôi lại thấy rùng mình trước sự lạnh lùng của những tư duy gọi là "đổi mới". Bản thân ông Giang và những người đồng tình lập luận rằng việc thay thế cụm từ “ngụy quân, ngụy quyền” bằng "Chính quyền/Quân đội Việt Nam Cộng hòa" hay "chính quyền Sài Gòn" là một bước tiến pháp lý quốc tế nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo, là sự khách quan cần có của một nền khoa học không màu.

Nhưng khoa học kiểu gì khi nó sẵn sàng làm tổn thương đến anh linh của hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập dân tộc?

Chữ "ngụy" trong tâm thức người Việt chưa bao giờ đơn thuần là một từ miệt thị phe phái thời chiến. Nó là lằn ranh đỏ thiêng liêng phân định giữa Chính nghĩa dân tộc và Thế lực tay sai. Khi GS. Vũ Minh Giang nhân danh cái gọi là "khách quan" để cào bằng một chính thể được dựng lên bởi đô-la và súng đạn ngoại bang với lực lượng giải phóng, ông đã gián tiếp tước đi tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến trường kỳ. Khi người ta bình thường hóa một chế độ ngụy quyền tay sai, người ta đang đặt một dấu hỏi chấm đầy nhẫn tâm lên xương máu của những chàng trai, cô gái đã nằm lại ở Nghĩa trang Trường Sơn, ở Thành cổ Quảng Trị khi tuổi đời mới đôi mươi.

Nếu cả hai bên đều được coi là "thực thể quốc gia" song song như cách ông Giang lý giải, vậy hàng triệu người con đất Việt đã ngã xuống để chống lại cái gì? Chẳng lẽ họ hy sinh chỉ vì một cuộc nội chiến giành quyền lực sao? Không, ngàn lần không! Đạt được cái gọi là "pháp lý quốc tế" sáo rỗng mà đánh đổi bằng việc xóa nhòa tội ác của bè lũ bán nước, đó là một sự phản bội đối với quá khứ.

Cuộc tranh luận xung quanh bộ Quốc sử và quan điểm của ông Giang, ông Cường đã đẩy dư luận vào những làn sóng phản đối dữ dội từ giới chuyên môn. Những người phản đối thẳng thắn chỉ ra rằng, việc dùng lý do "hòa hợp dân tộc" để gạt bỏ bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ và sự tay sai của chế độ Sài Gòn thực chất là một sự "xét lại lịch sử" đầy nguy hiểm. Nhiều nhà nghiên cứu truyền thống bức xúc đặt câu hỏi: Từ bao giờ một chính thể sống bằng viện trợ ngoại bang, tàn sát đồng bào bằng bom đạn, lại được mặc cho chiếc áo "chính danh" một cách dễ dàng như thế?

Những phát ngôn trực diện của GS. Vũ Minh Giang trên truyền thông mới thực sự là mồi lửa châm vào nỗi bức xúc của giới sử học truyền thống và các cựu chiến binh. Những người cả đời ngồi trong phòng nghiên cứu, lật giở những tư liệu cũ, làm sao hiểu được cảm giác của người lính khi nhìn đồng đội mình tan xương nát thịt dưới họng súng của kẻ thù? Nhìn cái cách ông Lê, ông Giang tìm cách để bào chữa thậm chí tâng công cho Gia Long, nâng bi cho Trương Vĩnh Ký dưới nhãn mác "đóng góp văn hóa" hay "bi kịch lịch sử của một tài năng", những người lính năm xưa không thể không phẫn nộ.

Sự bức xúc ấy không phải là tư duy bảo thủ, mà là tiếng nói bảo vệ chân lý của những người đã trực tiếp dùng máu mình viết nên lịch sử. Tôi vô cùng thấm thía lời của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn khi ông thẳng thắn vạch trần xu hướng này: "Việc bỏ cụm từ 'ngụy quân, ngụy quyền' là một sai lầm nghiêm trọng về mặt chính trị và lịch sử. Không thể nhân danh 'khách quan' để đánh tráo khái niệm, biến một chế độ tay sai, bán nước thành một thực thể quốc gia ngang hàng với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa".

Nhìn rộng hơn về mặt giáo dục, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn - tuy là dân Toán và KHGD, song ông cũng luôn đau đáu và đưa ra những lời khuyên đanh thép về lập trường dân tộc trong khoa học. Ông từng nhấn mạnh rằng khoa học và giáo dục lịch sử nếu tách rời lòng yêu nước, tách rời bản sắc và lập trường của một dân tộc từng bị xâm lược, thì nó chỉ tạo ra những bộ óc vị kỷ, dửng dưng với vận mệnh quốc gia. Một góc nhìn lịch sử mà GS. Vũ Minh Giang đang theo đuổi, nếu chỉ biết đếm chữ, luận chữ trên giấy tờ mà thiếu đi cái tâm thức của người Việt Nam thì đó là thứ sử học ích kỷ và vô hồn.

Tôi sợ rằng, nếu thế hệ 8x chúng tôi im lặng và thỏa hiệp với thứ "khách quan cào bằng" của ông Giang, thì đến thế hệ 9x, 2k, và xa hơn nữa, chúng sẽ nhìn lịch sử như một cuốn tiểu thuyết phong kiến dài tập. Ở đó, Nguyễn Ánh hay Quang Trung cũng chỉ là hai thế lực tranh giành cát cứ; quân giải phóng hay quân lính VNCH tay sai cũng chỉ là những người lính đi làm nghĩa vụ cho một thể chế. Khi cái lõi linh hồn của lịch sử bị rút cạn, lòng yêu nước sẽ trở thành một khái niệm xa xỉ và nực cười.

Lịch sử của dân tộc ta từng được viết bằng máu, nên không thể và ko bao giờ được phép tẩy xóa bằng sự tinh khôn hay những lập luận lắt léo của các học giả. Trước khi đi tìm một thứ lịch sử đa chiều, xin những người làm sử như GS. Vũ Minh Giang hãy giữ cho mình một tấm lòng thuần Việt. 

Lập trường của người Việt Nam phải là tối thượng, muốn khách quan hòa hợp không mếch lòng kẻ khác cũng được, nhưng tùy thời điểm và quan trọng trước nhất chúng ta phải đứng trên lập trường dân tộc. Bởi vì, nếu mất đi lập trường dân tộc, chúng ta sẽ chỉ là những kẻ đứng ngoài lề, bình phẩm về nỗi đau của chính cha ông mình bằng một thái độ dửng dưng đến đáng sợ.
Cám ơn tất cả các bạn!
Theo Facebook Khánh Trần!
#QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA Y HỌC TRONG ĐẠI DỊCH COVID 19!

     Thiếu tướng Nguyễn Hồng Sơn, Nguyên Giám đốc Bệnh viện Quân Y 175 chia sẻ về một kỳ tích y khoa chưa từng có tiền lệ trong lịch sử y khoa thế giới được các bác sĩ thực hiện nhằm cứu sống tính mạng của 2 sản phụ hồi đại dịch Covid-19. 

Vào thời điểm đó, các bệnh viện tại TPHCM chỉ còn duy nhất một hệ thống tim phổi nhân tạo (ECMO) nhưng lại có tới 2 sản phụ đang bị hôn mê sâu cần dùng. Trong khi đó, hệ thống ECMO chỉ được thiết kế dùng riêng cho 1 bệnh nhân và trên thế giới, chưa từng có tiền lệ dùng hệ thống ECMO cho 2 bệnh nhân cùng lúc. Thời điểm ấy, lựa chọn bỏ ai, cứu ai là rất khó và y đức không cho phép việc bỏ ai, cứu ai. Vậy nên, các bác sĩ đã đưa ra một quyết định mang tính liều lĩnh và táo bạo, đó là chia đôi hệ thống ECMO cho cả 2 sản phụ dùng chung, quyết cứu cả 2 cùng lúc.

Điều may mắn là 2 sản phụ đều có chung một nhóm máu. Vậy nên các bác sĩ đã quyết định hòa chung dòng máu của 2 sản phụ vào với nhau thông qua 1 hệ thống tim phổi nhân tạo, sau đó chia ra về 2 cơ thể riêng. Các bác sĩ phải theo dõi từng giây phút, kẹp chỉnh áp lực để cân bằng áp lực máu về cơ thể mỗi người. Vì chỉ lỗi một chút, áp lực máu cao có thể phá hủy hệ thống mạch máu và nội tạng cơ thể, tử vong bất ngờ. 

Bác sĩ Sơn xúc động cho biết chính quyết định đấy đã giúp hai đứa nhỏ còn mẹ. Vì tình thế xấu nhất bắt buộc sẽ phải mổ mẹ lấy con để tránh chết cả con khi mẹ rơi vào trạng thái hôn mê, ngừng thở. Các bác sĩ đã lấy lại sinh mạng 2 sản phụ từ tay thần chết như bác sĩ Sơn nói: “Đấy là những cuộc đời không bị đánh cắp”.

Sau này, hai sản phụ là chị Ngọc Hoài và Thu Trinh coi nhau như chị em ruột, hai đứa nhỏ coi nhau như anh em, bởi vì kỳ tích y khoa của các bác sĩ Việt Nam đã giúp cho những đứa nhỏ còn mẹ, những người mẹ được thấy mặt con, những gia đình vẫn còn gặp lại được người thân.
Trích dẫn từ phim tài liệu Tập 1, VTV ĐẶC BIỆT - Khi nước mắt ngừng rơi.
#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇻🇳⭐QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - KHI CẢ NƯỚC CÙNG GÓP TÌNH QUÊ HƯƠNG🇻🇳⭐!

    Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một công trình kiến trúc mang tầm vóc lịch sử, mà còn là một "nước Việt Nam thu nhỏ" giữa lòng Hà Nội – nơi kết tinh của tình yêu thương, lòng tôn kính và tinh thần đại đoàn kết dân tộc.

Ngay từ khi lên ý tưởng, thiết kế của Lăng đã được Bộ Chính trị và các kiến trúc sư (cả Việt Nam và Liên Xô) thống nhất phải tuân thủ nghiêm ngặt 4 phương châm cốt lõi: Dân tộc, hiện đại, trang nghiêm, giản dị.

1. Bốn phương châm định hình biểu tượng lịch sử

Dân tộc: Dáng dấp của Lăng phảng phất hình ảnh đóa sen thanh tao và mái đình cong cong của làng quê Việt Nam. Bậc thềm tam cấp gợi nhớ đến kiến trúc truyền thống, gần gũi với mọi người dân.

Hiện đại: Công trình sử dụng kỹ thuật kết cấu, điều hòa, chiếu sáng và bảo quản thi hài tiên tiến nhất thời bấy giờ với sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia Liên Xô.

Trang nghiêm: Tỷ lệ hình khối vuông vức, vững chãi, uy nghi giữa Quảng trường Ba Đình lộng gió, thể hiện sự thành kính tuyệt đối.

Giản dị: Không hoa văn rườm rà, không chạm trổ phù phiếm. Sự vĩ đại toát lên từ chính những đường nét khúc chiết, chân phương như chính cuộc đời của Bác.

2. Hàng triệu tấm lòng gởi về Ba Đình

Điểm đặc biệt nhất và xúc động nhất trong quá trình xây dựng Lăng chính là: Vật liệu kiến thiết được mang về từ mọi miền Tổ quốc. Trong những năm tháng khói lửa (1973 - 1975), bất chấp bom đạn và muôn vàn khó khăn, cả nước đã hướng về Ba Đình với khẩu hiệu: "Tất cả vì Lăng Bác Hồ".

Cát, sỏi: Được tuyển chọn và đãi rửa sạch sẽ từ những con suối ở Kim Bôi (Hòa Bình), Suối Hai (Hà Tây), Sơn Dương (Tuyên Quang).

Đá quý: Hàng vạn khối đá cẩm thạch, đá hoa cương, đá cườm... được những người thợ đá xẻ núi, đèo dốc từ Thanh Hóa, Ninh Bình, Cao Bằng mang về. Đặc biệt, nhân dân miền Nam dù đang trong giai đoạn chiến tranh ác liệt vẫn gửi gắm những khối đá Non Nước (Đà Nẵng) và gỗ quý từ đại ngàn Trường Sơn ra Thủ đô.

Cây cỏ: Quanh Lăng là một hệ sinh thái thu nhỏ của 3 miền. Đó là rặng tre ngà của vùng quê Bắc Bộ, là cây bưởi, cây đào, là những cành mai và hàng chục loài hoa quý được nhân dân các địa phương mang về trồng để ngày đêm "quây quần" bên Người.

3. Khúc vĩ thanh của non sông thống nhất

Lăng được chính thức khởi công vào ngày 02/09/1973 và khánh thành vào ngày 29/08/1975.

Điều thiêng liêng nhất là quá trình xây dựng Lăng diễn ra song song với chặng đường cuối cùng của cuộc Kháng chiến chống M.ỹ. Lăng khánh thành cũng là lúc non sông thu về một mối, đất nước trọn niềm vui thống nhất. Giấc mơ "Bắc Nam sum họp" của Bác lúc sinh thời nay đã trở thành hiện thực ngay trước thềm Lăng.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng sừng sững qua bao thăng trầm thời gian, không chỉ bằng xi măng hay cốt thép, mà được bồi đắp bằng máu xương, mồ hôi và lòng kính yêu vô hạn của triệu triệu người con đất Việt. Một công trình từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà tồn tại!




#QV-ST!

ĐẤT NƯỚC NGÀN NĂM: SỰ TRÙNG HỢP LỊCH SỬ - LỜI TIÊN ĐOÁN CỦA CỔ NHÂN!

     “Nếu Nam Đàn có thánh thực thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác!” Nhà yêu nước Phan Bội Châu từng khẳng định như vậy.

Từ bao đời nay, người dân xứ Nghệ vẫn truyền tụng câu sấm được cho là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Đụn Sơn phân giải
Bò Đái thất thanh
Thủy đáo Lam Thành
Nam Đàn sinh thánh”.

Bốn câu sấm gắn với những biến đổi của núi Đụn, khe Bò Đái và dòng sông Lam, rồi đi đến lời tiên đoán: đất Nam Đàn sẽ sinh ra một bậc hiền tài xuất chúng.

Điều đặc biệt là nhà yêu nước Phan Bội Châu, người cùng quê Nam Đàn, một chí sĩ dành cả cuộc đời đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, đã khẳng định người đó là Nguyễn Ái Quốc khi bàn về lời sấm ấy.

Trong bối cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ, Phan Bội Châu nhìn thấy ở Nguyễn Ái Quốc một con người có thể gánh vác sứ mệnh lớn lao của dân tộc.

Lời nhận định ấy càng đáng chú ý khi hai người thuộc hai thế hệ, hai con đường cứu nước, nhưng đều mang chung khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc.

Cho tới ngày 2/9/1945 khi Chủ tịch Hồ chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thì cả câu sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và lời bàn về câu sấm ấy của cụ Phan Bội Châu đã thực sự linh nghiệm!
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: ĐẠI BIỂU PHẠM KHÁNH PHONG LAN NÓI THẲNG “ĐỪNG VÌ XỬ PHẠT GIAO THÔNG MÀ BẦN CÙNG HÓA NGƯỜI DÂN!”

     Tiền phạt giao thông đôi khi còn cao hơn cả giá trị chiếc xe. Khi mức phạt vượt quá khả năng chi trả của người lao động, đó là sự răn đe cần thiết hay đang đẩy người dân vào cảnh khốn cùng?

Đây là vấn đề được đại biểu Phạm Khánh Phong Lan thẳng thắn đề cập khi góp ý về việc sửa đổi các quy định liên quan đến xử phạt vi phạm giao thông.

Theo bà, từ những ý kiến đóng góp của cử tri và cả mong mỏi của bản thân, điều bà quan tâm là liệu lần sửa đổi này có xem xét giảm mức xử phạt hay không.

Nữ đại biểu cho rằng quan điểm phạt tiền càng cao thì người vi phạm càng nhớ lâu, càng thấm và có tác dụng răn đe là đúng một phần. Tuy nhiên, mức xử phạt cũng phải được nghiên cứu trên cơ sở thu nhập thực tế của người dân.

“Đừng vì xử phạt mà bần cùng hóa người dân.”

Bà thừa nhận tình hình trật tự, an toàn giao thông còn phức tạp, việc tăng mức phạt là một trong những giải pháp nhằm lập lại kỷ cương. Nhưng điều đó không có nghĩa là cứ tăng tiền phạt thật cao sẽ giải quyết được mọi vấn đề.

Để minh họa, bà dẫn ra mức xử phạt đối với hành vi vượt đèn đỏ tại Việt Nam: ô tô bị phạt từ 18-20 triệu đồng, xe máy từ 4-6 triệu đồng, kèm theo việc trừ 4 điểm giấy phép lái xe.

Trong khi đó, theo số liệu so sánh được bà nêu, tại Singapore, hành vi tương tự có mức phạt khoảng 200 đô la Singapore, tương đương 3,4 triệu đồng. Tại Mỹ, tùy từng bang, mức phạt dao động từ 50-500 USD, tương đương khoảng 1,2-12 triệu đồng.

Từ những ví dụ này, nữ đại biểu đặt vấn đề rằng có những lỗi giao thông tại Việt Nam bị xử phạt rất nặng so với một số quốc gia khác, trong khi mức thu nhập và GDP bình quân đầu người giữa các nước lại có sự chênh lệch đáng kể.

Không thể áp dụng cách so sánh máy móc mà bỏ qua điều kiện kinh tế và khả năng chi trả của người dân.

Điều khiến bà đặc biệt trăn trở là hoàn cảnh của những người lao động nghèo, nhất là tài xế Grab, tài xế xe công nghệ và những người phải sử dụng xe máy để kiếm sống mỗi ngày.

Có những trường hợp mức tiền phạt thậm chí còn lớn hơn giá trị chiếc xe. Khi không đủ khả năng nộp phạt, người vi phạm có thể lựa chọn bỏ luôn phương tiện.

Nhưng nếu bỏ xe, họ sẽ tiếp tục kiếm sống bằng cách nào?

Đó chính là điều mà đại biểu Phạm Khánh Phong Lan lo ngại khi nói đến nguy cơ việc xử phạt quá nặng có thể khiến người dân rơi vào hoàn cảnh khó khăn hơn, thậm chí bị bần cùng hóa.

Bà đề nghị cần nghiên cứu, xem xét lại mức xử phạt ngay trong quá trình sửa đổi các quy định, thay vì bỏ qua một vấn đề đang được nhiều cử tri quan tâm.

Nghe những lời phát biểu của đại biểu Phạm Khánh Phong Lan, chắc hẳn mỗi người đều có những suy ngẫm riêng.

Phạt nặng để răn đe, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và lập lại trật tự an toàn giao thông là điều cần thiết. Nhưng sự răn đe ấy cũng cần được cân nhắc trong mối tương quan với đời sống thực tế, đặc biệt là những người lao động nghèo vốn đã phải chật vật mưu sinh.

Pháp luật cần nghiêm minh, nhưng cũng cần có sự thấu hiểu đối với điều kiện kinh tế và thu nhập của người dân.

Nghe nói có luật xúc phạm dân tộc và anh hùng dân tộc bị phạt từ 400 đến 500 triệu đồng (cái này rất hoan nghênh)!
#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SẼ CÓ HƠN 400 CHIẾN SĨ QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM ĐƯỢC TRỞ VỀ NHÀ!

     Không ai muốn chiến tranh! Điều ấy đúng với mỗi người mẹ tiễn con ra trận, mỗi người vợ chờ chồng nơi cuối làng, mỗi đứa trẻ lớn lên mà chưa từng biết mặt cha. Chiến tranh không để lại người thắng thật sự, chỉ để lại những mất mát mà cả hai phía đều phải gánh, những ngôi mộ không tên, những gia đình mòn mỏi đi tìm một nơi để thắp nén hương. Chính vì vậy, có những cử chỉ nhỏ nhưng nặng hơn nhiều lời tuyên bố.

Cuối tháng 10, bên lề các hội nghị quốc phòng khu vực tại Cebu (Philippines), phía Hoa Kỳ trao cho Việt Nam hồ sơ về trận Đắk Tô cùng báo cáo nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, trong đó có thông tin về vị trí chôn cất của hơn 400 chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để thấy hết sức nặng của con số ấy, cần nhớ rằng đến nay vẫn còn khoảng 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy và hơn 300.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Với một dân tộc còn mang trong lòng nhiều khoảng trống đến vậy, hơn 400 không đơn thuần là thống kê. Đó là hơn 400 gia đình có thể sắp được biết con, cha, anh mình đang nằm ở đâu. 

Phía Việt Nam đáp lại bằng cùng một tấm lòng, trao đổi thông tin, hồ sơ và kỷ vật, trong đó có thẻ bài, liên quan đến các quân nhân Hoa Kỳ thiệt mạng hoặc mất tích trong chiến tranh. Một tấm thẻ bài, nhưng đối với một gia đình ở bên kia đại dương, nó có thể là mảnh ghép cuối cùng của một câu chuyện dang dở. Ở đây không có bên cho và bên nhận theo nghĩa thông thường, bởi mỗi bên trao đi điều mà bên kia khao khát nhất, và cùng nhận về sự an ủi dành cho những người ở lại. Nỗi đau của người mất con không có biên giới, không mang quốc tịch. Hiểu được điều đó, hai bên đã chọn đối xử với nhau bằng sự trân trọng dành cho người đã khuất và sự đồng cảm dành cho người còn sống.

Chúng ta chưa quên những giọt nước ở công viên Lê Thị Riêng. Những chiến sĩ đứng quanh hố khai quật, tay run run đỡ từng mảnh kỷ vật nhỏ, là những người đã chờ đợi cả đời. Có người mẹ tóc bạc phơ, tuổi đã ngoài chín mươi, chỉ mong trước khi nhắm mắt biết được con mình nằm ở đâu để đưa con về quê. Có người vợ tiễn chồng khi tuổi còn xanh, nay đã thành bà lão, gìn giữ suốt mấy chục năm một bức thư cũ đã mờ chữ. Có những người con lớn lên với một cái tên trên bàn thờ mà chưa từng được đặt tay lên một nấm mộ để gọi một tiếng “ba”. Khi cái tên được xác định, khi hài cốt được đưa về yên nghỉ giữa quê hương. Chỉ khi thấy những khoảnh khắc ấy, ta mới hiểu vì sao việc tìm lại một cái tên lại thiêng liêng đến vậy.

Hiểu nỗi đau ấy, Việt Nam đã đặt công cuộc tìm kiếm lên hàng nhiệm vụ trọng tâm. “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” kéo dài đến ngày 27-7-2027. Chiến dịch đặt mục tiêu tìm kiếm, quy tập khoảng 7.000 hài cốt liệt sĩ và lấy mẫu hài cốt đối với khoảng 230.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Mỗi con số là một cuộc đoàn tụ, mỗi cuộc đoàn tụ là một gia đình được chữa lành. 

Khép lại quá khứ không có nghĩa là quên đi. Chúng ta nhớ để trân trọng hòa bình, tưởng niệm những người đã ngã xuống ở cả hai phía để không bao giờ lặp lại bi kịch ấy. Nhưng nhớ không có nghĩa là mang theo hận thù, bởi hận thù chỉ làm người còn sống thêm nặng gánh, trong khi thế hệ trẻ cần được bước đi nhẹ nhàng hơn để đi xa hơn. Một đất nước đã đi qua chiến tranh hiểu hơn ai hết giá trị của hòa bình, và cũng chính đất nước ấy có đủ bản lĩnh để chìa tay ra trước, để nói rằng, chúng ta chọn nhìn về phía trước. Từ một hồ sơ được trao, một tấm thẻ bài được trả lại, một cái tên được tìm thấy, người ta thấy rằng hai dân tộc từng đứng ở hai phía chiến tuyến hoàn toàn có thể trở thành những người bạn tin cậy.

Hôm nay, hai bên cùng hướng tới một tương lai nơi các thế hệ sau lớn lên trong hòa bình, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau, cùng đóng góp cho sự ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Khép lại quá khứ, để thịnh vượng hơn. Cho đi, để nhận lại./.


#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇻🇳🇻🇳BÁC MONG ĐƯỢC TRỞ VỀ VỚI ĐẤT MẸ… NHƯNG BỘ CHÍNH TRỊ VÀ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN ĐÃ ĐƯA RA MỘT QUYẾT ĐỊNH ĐỂ LẠI CHO MUÔN ĐỜI SAU! 🇻🇳🇻🇳🇻🇳

     Có bao giờ bạn tự hỏi: Nếu ngày ấy mọi chuyện diễn ra đúng như di nguyện trong Di chúc của Bác Hồ, thì hôm nay thế hệ chúng ta sẽ nhớ về Bác như thế nào?

Trong Di chúc thiêng liêng, Bác dặn lại thật giản dị: Sau khi Bác mất, hãy hỏa táng thi hài Bác và chia tro cốt làm 3 phần gửi về 3 miền Bắc - Trung - Nam, chôn trên những ngọn đồi để Bác được hòa vào đất mẹ. Bác không muốn làm nhân dân tốn kém tiền của, chỉ muốn đi vào cõi vĩnh hằng một cách thanh thản nhất.
Đó là sự khiêm nhường, vị tha tuyệt đối của một Người cả đời chỉ biết nghĩ cho dân, cho nước!
👉 Nhưng có một quyết định lịch sử đã thay đổi tất cả.

Năm 1967, khi sức khỏe Bác bắt đầu yếu đi, giữa khói lửa chiến tranh khốc liệt, Bộ Chính trị dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đưa ra một quyết định dũng cảm và đầy tầm nhìn: Bằng mọi giá phải giữ gìn nguyên vẹn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đó không chỉ là một quyết định chính trị, mà là sự lắng nghe nhịp đập của muôn triệu trái tim Việt Nam:
✨ Để đồng bào miền Nam được gặp Bác: Nhân dân miền Nam gian lao chưa từng một lần được đón Bác vào thăm. Giữ lại Bác là giữ trọn lời hứa ngày thống nhất: Bác sẽ vẫn ở đó, mỉm cười đón các con cháu miền Nam ra thăm.

✨ Để Bác không trở thành "nhân vật cổ tích": Giúp thế hệ trẻ sinh ra sau chiến tranh được nhìn thấy Bác bằng xương bằng thịt - một con người bằng xương bằng thịt có thật, với nụ cười ấm áp và nhân cách vĩ đại, chứ không phải một huyền thoại xa xôi.

Trải qua bao gian khổ, bí mật di chuyển thi hài Bác qua những năm tháng bom đạn ác liệt, sự kiên định ấy đã mang Bác về yên nghỉ tại Lăng Ba Đình lịch sử.

Xin cảm ơn quyết định thấu tình đạt lý và sáng suốt của Tổng Bí thư Lê Duẩn cùng Bộ Chính trị năm ấy! Nhờ có sự dũng cảm và lòng thành kính ấy, hôm nay chúng ta - những người con sinh ra trong hòa bình - mới có cơ hội được nghiêng mình trước Người.
❤️ Bác vẫn còn sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam!

👉 BẠN ĐÃ TỪNG ĐẾN VIẾNG LĂNG BÁC CHƯA?
Hãy để lại một dấu tim ❤️ hoặc chia sẻ cảm xúc của bạn khi lần đầu tiên được nhìn thấy Bác dưới phần bình luận nhé!
#QV-ST!

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: KHI THẦY CÔ BỊ HÀNH HUNG, XIN ĐỪNG VỘI LÊN GIỌNG DẠY ĐẠO ĐỨC!

     Nếu thấy những chia sẻ này hữu ích, mời bạn theo dõi trang cá nhân để cùng trao đổi những câu chuyện giáo dục từ thực tiễn.

Một cô giáo bị chính học trò lao vào hành hung ngay trên bục giảng, phải nhập viện, bị gãy sống mũi. 

Theo thông tin được chia sẻ, máu của cô chảy từ bàn giáo viên ra tận cửa lớp. 

Đáng chú ý, kết quả giám định được thông tin là xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của cô lên đến 12%.

12% không phải là một vết xây xát có thể phủi tay cho qua. Đằng sau con số ấy là thương tích, đau đớn và cả nỗi ám ảnh của một người giáo viên bị chính học trò tấn công ngay tại nơi mình đứng lớp.

Vậy mà trên mạng xã hội, vẫn có người lên giọng giảng đạo đức: "Chắc cô giáo phải thế nào thì học sinh mới đánh như vậy!".

Người khác lại khuyên: "Tuổi trẻ bồng bột, cô nên làm đơn bãi nại để em còn có tương lai!".

Thậm chí, có người chưa biết rõ đầu đuôi đã vội quay sang lên án giáo viên, như thể cô phải làm điều gì ghê gớm lắm mới khiến học trò nổi giận đến thế.

Tôi tự hỏi: Từ bao giờ một người bị hành hung lại phải chứng minh mình đủ tốt để xứng đáng được bảo vệ?

1. TRƯỚC KHI TRÁCH NHÀ TRƯỜNG, HÃY NHÌN LẠI CÁCH MỘT SỐ GIA ĐÌNH ĐANG DẠY CON!

Một đứa trẻ không phải đợi đến ngày cắp sách đến trường mới bắt đầu học cách ứng xử. 

Những bài học đầu tiên về sự tôn trọng, cách giải quyết mâu thuẫn và thái độ với người khác thường đến từ chính gia đình.

Có những phụ huynh nghe con kể bị cô giáo la mắng, chưa kịp hỏi nguyên nhân đã đùng đùng nổi giận:

"Đứa nào dám đụng đến con ông? Mai ông lên trường cho biết tay!".

Có người còn dặn con: "Thầy cô tử tế thì còn gọi là thầy cô. Đứa nào dám đánh mày cứ về mách tao, tao cho sáng mắt ra!".

Thậm chí, có phụ huynh gọi giáo viên bằng những từ ngữ miệt thị như "con đấy", "thằng đấy", rồi hùng hổ đe dọa như thể thầy cô là đối tượng cần phải trị cho một trận.

Đứa trẻ ngồi bên cạnh nghe hết, nhìn hết.

Nó chưa chắc hiểu chuyện gì đúng, chuyện gì sai, nhưng rất dễ ghi nhớ một điều: Thầy cô chẳng có gì đáng kính trọng, bởi ngay cả cha mẹ mình cũng xem thường họ!

Hôm nay, đứa trẻ nghe cha mẹ chửi giáo viên. Ngày mai, khi bị nhắc nhở, liệu nó có nghĩ rằng mình cũng được quyền hỗn hào?

Trẻ con học bằng tai, bằng mắt và bằng cả cách người lớn đối xử với nhau. 

Cha mẹ có thể giảng cho con hàng trăm bài học lễ phép, nhưng chỉ một lần xúc phạm thầy cô trước mặt con cũng có thể làm những lời dạy ấy mất đi sức nặng.

2. YÊU CON KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ BIẾN CON THÀNH NGƯỜI LUÔN ĐÚNG!

Con không làm bài tập, bị giáo viên nhắc nhở. Con nói chuyện trong giờ, bị phê bình. Con vi phạm nội quy, bị yêu cầu giải trình.

Thay vì hỏi con đã làm gì, có phụ huynh chỉ chăm chăm hỏi: "Cô có quyền gì mà đối xử với con tôi như vậy?".

Tất nhiên, nếu giáo viên đánh đập, xúc phạm học sinh thì phải được xem xét, xử lý đúng quy định. 

Nhưng một lời nhắc nhở nghiêm khắc không thể mặc nhiên bị đánh đồng với hành vi bạo hành.

Điều đáng lo là có những đứa trẻ dần hình thành thói quen: Hễ bị phê bình thì về mách cha mẹ. 

Hễ không vừa ý thì phản ứng. Hễ mắc lỗi thì tìm người khác để đổ trách nhiệm.

Bởi phía sau đã có người lớn sẵn sàng bênh vực, bất kể đúng sai.

Cha mẹ tưởng mình đang bảo vệ con, nhưng thực chất có thể đang tước đi cơ hội để con học cách nhận lỗi, sửa sai và chịu trách nhiệm.

Cha mẹ có thể che chắn cho con trước một lời phê bình, nhưng không thể che chắn cho con suốt đời trước hậu quả của những hành vi sai trái.

3. ĐỪNG VỘI HỎI "CÔ ĐÃ LÀM GÌ?" MÀ QUÊN HỎI "EM ĐÃ ĐƯỢC DẠY ĐIỀU GÌ?".

Tôi không cho rằng cứ học sinh có hành vi bạo lực là cha mẹ thiếu trách nhiệm. 

Mỗi sự việc đều có hoàn cảnh và nguyên nhân riêng, cần được xác minh khách quan.

Nhưng không thể phủ nhận gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến cách trẻ nhìn nhận quyền hạn, trách nhiệm và giới hạn hành vi.

Một đứa trẻ lớn lên trong môi trường mà người lớn biết nhận lỗi, biết xin lỗi, biết giải quyết bất đồng bằng đối thoại sẽ có cơ hội học được cách ứng xử tương tự.

Ngược lại, nếu thường xuyên chứng kiến người lớn dùng lời đe dọa để giải quyết mâu thuẫn, coi sự hung hăng là bản lĩnh, coi việc nhường nhịn là yếu đuối, trẻ rất dễ tiếp nhận những quan niệm lệch lạc ấy.

Đến khi em lớn lên, có sức vóc của một thanh niên, một phút mất kiểm soát có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Vì vậy, khi một học sinh dùng nắm đấm tấn công giáo viên, bên cạnh việc làm rõ nguyên nhân trực tiếp, cũng cần nhìn rộng hơn vào quá trình giáo dục ý thức tôn trọng và kiểm soát hành vi của em.

Không phải đứa trẻ nào được nuông chiều cũng trở nên bạo lực, nhưng nuông chiều bất chấp đúng sai chưa bao giờ là cách dạy con biết chịu trách nhiệm.

4. THƯƠNG HỌC SINH BỒNG BỘT, VẬY AI THƯƠNG CÔ GIÁO BỊ ĐÁNH?

Tôi đọc những lời khuyên cô giáo nên làm đơn bãi nại mà thấy chạnh lòng.

Người ta lo một nam sinh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật sẽ ảnh hưởng đến tương lai. Điều đó có thể hiểu được.

Nhưng tương lai của một người trẻ không thể được bảo vệ bằng cách xem nhẹ nỗi đau của người khác.

Cô giáo cũng có gia đình, có người thân chờ đợi sau mỗi buổi lên lớp. Cô đến trường để dạy học, đâu phải để đối diện với nguy cơ bị chính học trò hành hung!

Nếu người bị đánh là con gái, là vợ, là người thân của những người đang khuyên cô bao dung, liệu họ có bình thản nói rằng "tuổi trẻ ai chẳng bồng bột"?

Sự cảm thông dành cho người mắc lỗi là cần thiết, nhưng đừng biến nó thành áp lực đặt lên vai nạn nhân.

Cô có quyền tha thứ, có quyền đề nghị xem xét giảm nhẹ theo quy định pháp luật. 
Nhưng đó phải là lựa chọn tự nguyện, không phải nghĩa vụ đạo đức mà người ngoài áp đặt.

Muốn một người trẻ có tương lai tốt đẹp, trước hết phải dạy em hiểu rằng gây tổn thương cho người khác là điều phải chịu trách nhiệm.

5. MUỐN THẦY CÔ DẠY ĐƯỢC HỌC SINH, CHA MẸ ĐỪNG PHÁ VỠ SỰ TÔN TRỌNG NGAY TỪ TRONG GIA ĐÌNH!

Chúng ta đang hướng đến một nền giáo dục nhân văn, tôn trọng quyền trẻ em. Tôi hoàn toàn ủng hộ.

Nhưng giáo dục khai phóng không có nghĩa là học sinh muốn làm gì cũng được. Tôn trọng trẻ không đồng nghĩa với việc người lớn phải nhượng bộ mọi hành vi sai trái.

Giáo viên không cần quyền đánh học sinh. Điều thầy cô cần là quyền được nhắc nhở, giáo dục, áp dụng biện pháp kỷ luật phù hợp và được bảo vệ trước những hành vi xúc phạm, đe dọa, bạo lực.

Đáng sợ nhất là đến một ngày, giáo viên nhìn thấy học sinh sai nhưng chọn im lặng cho yên thân. 

Bởi nhắc nhẹ không nghe, nhắc nghiêm khắc thì sợ bị phản ánh, còn phụ huynh có thể tìm đến trường để gây áp lực.

Khi ấy, người chịu thiệt thòi không chỉ là giáo viên mà còn là chính những đứa trẻ đang cần được uốn nắn.

Tôi vẫn tin phần lớn phụ huynh luôn mong muốn phối hợp với thầy cô để dạy con nên người. 

Nhưng chỉ cần một bộ phận người lớn xem việc đe dọa giáo viên là cách thể hiện tình thương con, môi trường giáo dục đã bị tổn thương không nhỏ.

Gia đình là nơi gieo những hạt giống đầu tiên của nhân cách. 

Nhà trường có thể vun trồng, chăm sóc, uốn nắn, nhưng sẽ vô cùng khó khăn nếu ở nhà, chính người lớn lại liên tục nhổ bỏ những bài học về lòng kính trọng.

6. NẾU VỤ VIỆC NÀY KHÔNG ĐƯỢC XỬ LÝ NGHIÊM MINH, AI DÁM CHẮC SẼ KHÔNG CÓ THÊM NHỮNG CÔ GIÁO KHÁC BỊ HÀNH HUNG?

Đây là điều tôi lo lắng nhất.
Một học sinh hành hung giáo viên đến mức được thông tin là gây tổn thương cơ thể 12% không thể chỉ được nhìn nhận như một phút bồng bột thông thường.

Nếu những hành vi bạo lực nghiêm trọng không được xử lý tương xứng theo quy định pháp luật, nếu cứ viện lý do còn trẻ, còn tương lai để dễ dàng bỏ qua trách nhiệm, thì chúng ta đang gửi đến những học sinh khác thông điệp gì?

Liệu có em nào sẽ nghĩ rằng đánh thầy cô rồi xin lỗi, viết kiểm điểm là xong? Rằng cùng lắm cha mẹ đến xin tha thứ thì mọi chuyện sẽ được bỏ qua?

Tôi không mong một người trẻ phải chịu hình phạt nặng hơn những gì pháp luật quy định. 

Tôi chỉ mong vụ việc được điều tra khách quan, xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng hành vi, đúng mức độ và đúng quy định dành cho người chưa thành niên nếu người vi phạm thuộc độ tuổi này.

Bởi xử lý nghiêm không phải để trả thù, mà còn để giáo dục, phòng ngừa và bảo vệ những người đang đứng trên bục giảng.

Hôm nay là một cô giáo bị hành hung. Nếu sự việc không được giải quyết đến nơi đến chốn, ai có thể bảo đảm ngày mai sẽ không có thêm một thầy giáo, cô giáo khác trở thành nạn nhân?

Một cú đấm không được nhìn nhận đúng mức độ nguy hiểm có thể làm suy giảm sức răn đe đối với những hành vi tương tự.

Đừng đợi đến khi xảy ra hậu quả không thể cứu vãn mới giật mình nhận ra rằng chúng ta đã quá dễ dãi với bạo lực học đường!

Và xin nhắn với những bậc cha mẹ luôn sẵn sàng tuyên chiến với thầy cô để bênh vực con mình:

Đừng dạy con rằng cha mẹ có thể giải quyết mọi chuyện bằng sự hung hăng. Đừng để con tưởng rằng có người lớn chống lưng thì mình được quyền coi thường người khác.

Bênh con khi con đúng là bảo vệ. Bênh con bất chấp đúng sai là tiếp tay cho con hư.

Bởi có những đứa trẻ không chỉ lớn lên từ những điều cha mẹ dạy bảo, mà còn lớn lên từ chính những lời cha mẹ chửi mắng người khác.

Muốn con biết kính trọng thầy cô, trước hết cha mẹ phải làm gương về sự kính trọng. 

Muốn con biết chịu trách nhiệm, đừng bênh con bất chấp đúng sai. Và muốn con trở thành người tử tế, xin hãy bắt đầu từ cách người lớn đối xử tử tế với nhau!

Pháp luật phải là điểm tựa để thầy cô yên tâm đứng lớp, chứ không thể để người bị hành hung phải trông chờ vào lòng thương hại của dư luận.

Đừng để sự dễ dãi hôm nay trở thành cái giá đau đớn mà những thầy cô khác phải trả vào ngày mai!

#QV-ST!

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

ÔNG CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM KHẮC PHỤC 9 PHÚT SAU KHI BỊ B52 RẢI THẢM!

     Người Mỹ đinh ninh rằng với một bãi chiến trường tan hoang như ở Mễ Trì, miền Bắc VN sẽ phải mất hàng chục giờ đồng hồ, thậm chí nhiều ngày mới có thể sửa chữa và phát sóng trở lại được. Đó là lý do khiến thiết bị trinh sát của Mỹ báo về cho Kissinger rằng "Đài Hà Nội đã chết suốt 10 tiếng đồng hồ". Nhưng siêu máy tính của Lầu Năm Góc đã không tính được sự chuẩn bị từ... 8 năm trước của người Việt Nam như thế nào!

MỸ LÊN KẾ HOẠCH CƯỚP SÓNG ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM NĂM 1972
Tối ngày 19/12/1972 tại Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Richard Nixon nhấc điện thoại hỏi Cố vấn An ninh Quốc gia Henry Kissinger về kết quả đợt rải thảm của siêu pháo đài bay B-52 xuống Hà Nội.
- Thế quân ta có đánh trúng cái gì không?
Đầu dây bên kia, Kissinger trả lời đầy đắc ý:
- Ồ, Đài Hà Nội đã tắt sóng trong suốt 10 tiếng đồng hồ rồi!
Nghe xong, Nixon vô cùng thỏa mãn. Cuộc gọi 4 phút ấy vẫn còn lưu nguyên trong băng ghi âm của Nhà Trắng.
Thế nhưng, Tổng thống Mỹ (lúc bấy giờ) không biết rằng: Báo cáo đó là một cú "việt vị" lịch sử.

Thực tế, Đài Tiếng nói Việt Nam hôm ấy chỉ đứt quãng đúng... 9 phút! Đằng sau 9 phút lịch sử ấy là những chi tiết gay cấn như phim điện ảnh mà rất ít người biết tới.

KẾ HOẠCH MẬT "ARCHIE BUNKER" VÀ ÂM MƯU... CƯỚP SÓNG ĐÀI HÀ NỘI
Ít ai biết rằng, 6 tháng trước khi mang B-52 ra đánh Hà Nội, Lầu Năm Góc đã vạch một kế hoạch cực kỳ thâm độc mang mật danh Archie Bunker.

Người Mỹ tính toán rằng: Chỉ cần ném bom xóa sổ cùng lúc 5 trạm phát sóng chủ lực của miền Bắc, Đài Tiếng nói Việt Nam chắc chắn sẽ bị "bịt miệng" hoàn toàn.
Nhưng độc địa hơn cả là bước tiếp theo: Ngay khi Đài Tiếng nói Việt Nam tắt tiếng, Mỹ dự định cho máy bay tác chiến tâm lý chuyên dụng mang tên Coronet Solo bay quần thảo trên bầu trời.

Chiếc máy bay này sẽ phát các bản tin thu âm sẵn (giả giọng phát thanh viên miền Bắc) chèn thẳng vào đúng tần số của Đài Tiếng nói Việt Nam, nhằm đánh lừa người dân và xâm nhập vào hệ thống loa truyền thanh cơ sở để gây hoang mang dư luận.
Và rạng sáng 19/12/1972, đòn đánh hủy diệt ấy đã giáng xuống.

THẢM BOM B52 DỘI XUỐNG MỄ TRÌ
Sáng sớm hôm ấy, đúng 4 giờ 55 phút, nhạc hiệu quen thuộc của Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn vang lên mở đầu ngày mới. Nhưng đến 5 giờ 05 phút, khi phát thanh viên đang đọc phần giới thiệu chương trình thì mặt đất rung chuyển dữ dội.

Hàng loạt bom B-52 trút thẳng xuống Đài phát sóng Mễ Trì (ngoại thành Hà Nội).
Khu nhà máy phát đổ sập, hệ thống ăng-ten gãy gục, trạm điện cao thế tan hoang.

Giữa đống đổ nát ngổn ngang khói lửa, người công nhân kỹ thuật Nhữ Quang Thành đã ngã xuống ngay trên vị trí trực chiến.
Trên bước sóng trung chủ lực 297 mét, tiếng phát thanh viên đứt ngang, chỉ còn lại tiếng sôi rè rè...

Cách đó hàng ngàn cây số, giữa rừng già miền Nam, nữ tướng Nguyễn Thị Định đang ngồi nghe radio bỗng thấy đài im bặt.
Bà thót tim, lòng nóng như lửa đốt vì sợ Hà Nội đã bị B-52 san phẳng.

CHÍN PHÚT THẦN TỐC
Người Mỹ đinh ninh rằng với một bãi chiến trường tan hoang như ở Mễ Trì, miền Bắc VN sẽ phải mất hàng chục giờ đồng hồ, thậm chí nhiều ngày mới có thể sửa chữa và phát sóng trở lại được. Đó là lý do khiến thiết bị trinh sát của Mỹ báo về cho Kissinger rằng "Đài Hà Nội đã chết suốt 10 tiếng đồng hồ hồ". Nhưng siêu máy tính của Lầu Năm Góc đã không tính được sự chuẩn bị từ... 8 năm trước của người Việt Nam như thế nào!

Ngay từ năm 1964, Đài Tiếng nói Việt Nam đã âm thầm đưa các thiết bị, xây dựng các trạm phát sóng dự phòng tuyệt mật.

Một trong số đó là Đài phát sóng A3, một pháo đài phát thanh được giấu sâu trong lòng hang núi đá Ngườm Chiêng (huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng).
5 giờ 05 phút sáng 19/12, Mễ Trì trúng bom và báo tin khẩn về 58 Quán Sứ.
Tổng Biên tập Trần Lâm hạ lệnh chuyển sóng sang hệ thống dự phòng (Đài CK2 và Đài A3).
Tại hang đá Ngườm Chiêng (Cao Bằng), nhận lệnh báo động đỏ, các nữ kỹ thuật viên lao vào vị trí.

Đối với máy phát sóng công suất lớn thời đó, trước khi phát phải qua quy trình đóng điện cao áp và sấy nóng bóng đèn điện tử. Cả kíp trực chạy đua với từng giây đồng hồ.
Đúng 9 phút sau, từ lòng núi đá Cao Bằng và trạm dự phòng, câu xướng danh đĩnh đạc: “Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội...” lại vang lên rền vang trên không trung.
Khi thấy sóng đã lên ổn định, hai nữ kỹ thuật viên trực máy trong hang đá đã ôm chầm lấy nhau òa khóc nức nở.

Còn ở chiến trường miền Nam, nữ tướng Nguyễn Thị Định và các chiến sĩ quanh chiếc radio vỡ òa trong niềm vui nhẹ nhõm.
Trong khi ở Mễ Trì, những cán bộ kỹ thuật từ nơi sơ tán đang chạy bộ băng qua làn đạn quay lại trạm để thay thế cho người đồng đội vừa hy sinh.
Thì ở bên kia bán cầu, Henry Kissinger vẫn đang hân hoan báo cáo với Tổng thống Mỹ về một "chiến tích 10 giờ" chỉ có trên giấy tờ./.
Ảnh: Đài Phát sóng Phát thanh Mễ Trì xưa.
#QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: MỆNH LỆNH ĐẶC BIỆT “KHÔNG BẮN ĐỂ HỌ DI TẢN”!

     Ngày 29/4/1975, khi năm cánh quân của Quân Giải phóng đã khép chặt vòng vây quanh Sài Gòn, bầu trời thành phố chứng kiến một cảnh tượng hỗn loạn.

Hàng loạt máy bay trực thăng Mỹ hối hả cất cánh từ nóc các tòa nhà và khu vực Đại sứ quán Mỹ.

Chở theo nhân viên ngoại giao, quân nhân Mỹ, các viên chức Sài Gòn cùng nhiều gia đình bế theo cả trẻ nhỏ bay ra Hạm đội 7 đang chờ ngoài Biển Đông.

Ít người để ý tới một thực tế quân sự lúc bấy giờ.

Xung quanh Sài Gòn, lực lượng pháo binh và tên lửa phòng không của Quân Giải phóng đã hoàn tất việc chiếm lĩnh trận địa. 

Những chiếc trực thăng bay chậm chạp và dày đặc trên bầu trời hoàn toàn nằm trong tầm quét của các đài radar.

Thế nhưng, không có một quả tên lửa phòng không SAM-2 nào được phóng lên để bắn hạ những chuyến bay di tản ấy.

MỆNH LỆNH TẠI TRẬN ĐỊA TÊN LỬA BẾN BẦU

Trong bài hồi ức "Đưa 'Rồng lửa' vượt Trường Sơn vào giải phóng Sài Gòn", cựu chiến binh Nguyễn Hữu Mão đã kể lại hành trình đặc biệt của Trung đoàn Tên lửa Phòng không 263 vào mùa xuân năm 1975.

Tháng 3/1975, toàn trung đoàn nhận lệnh mật.

Đưa những quả tên lửa SAM-2 vượt Trường Sơn, băng qua đất Lào tiến thẳng vào Nam Bộ. 

Đúng 18 giờ ngày 27/4/1975, Tiểu đoàn Tên lửa 43 đã hoàn tất việc dựng bệ phóng tại trận địa phía bắc Bến Bầu (khu vực Bến Cát, Bình Dương), sẵn sàng khóa chặt bầu trời Sài Gòn.

Chiều 28/4, màn hình radar bắt được tín hiệu một tốp máy bay cường kích A-37 đang lao về phía Sài Gòn. 

Cấp trên thông báo mật: "Máy bay của ta đấy, không được bắn!" (Đó chính là Phi đội Quyết Thắng của phi công Nguyễn Thành Trung dùng máy bay thu được của đối phương đi ném bom sân bay Tân Sơn Nhất).

Sang ngày 29/4, tình hình trên màn hình hiện sóng của Tiểu đoàn 43 dày đặc tín hiệu của các tốp trực thăng và máy bay vận tải quân sự Mỹ đang lũ lượt rời khỏi Sài Gòn.

Ngay lúc các trắc thủ đang bám sát mục tiêu, một mệnh lệnh đặc biệt từ sở chỉ huy truyền xuống. 

Ông Nguyễn Hữu Mão nhớ lại nguyên văn:
“Chúng tôi tiếp tục nhận được lệnh ‘không bắn’, để họ di tản.”

Lý do của mệnh lệnh ấy được giải thích rất ngắn gọn nhưng chạm tới lương tri người lính.

Trên những chiếc máy bay đang rời đi ấy không chỉ có đối phương, mà có cả rất nhiều người dân thường và trẻ nhỏ.

Một đơn vị tên lửa đã hành quân ròng rã hàng ngàn cây số qua bom đạn để chờ đến ngày quyết chiến cuối cùng.

Nhưng khi mục tiêu hiện lên trên màn hình radar, mệnh lệnh cao nhất mà họ thực thi lại là án binh bất động để mở đường sống cho những người đang tháo chạy.

HỒ SƠ MẬT SỐ 258 CỦA NHÀ TRẮNG

Trong bộ Tài liệu Ngoại giao Hoa Kỳ (Foreign Relations of the United States - FRUS, tập X, hồ sơ số 258) có ghi rõ.

Lúc 16 giờ 35 phút chiều ngày 24/4/1975 (giờ Washington), Tổng thống Mỹ Gerald Ford triệu tập cuộc họp khẩn của Hội đồng An ninh Quốc gia tại Nhà Trắng. 

Bài toán đau đầu nhất của nước Mỹ lúc này là làm sao rút được hàng ngàn người Mỹ ra khỏi Sài Gòn mà không bị Quân Giải phóng tấn công tiêu diệt.

Tại cuộc họp, Kissinger báo cáo vừa nhận được một thông điệp quan trọng từ Đại sứ Liên Xô Anatoly Dobrynin chuyển tới. 

Trong phần Chú thích số 6 của Hồ sơ 258 ghi rõ.

Phía Liên Xô chuyển lời bảo đảm rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không cản trở cuộc di tản của người Mỹ và không có ý định làm bẽ mặt nước Mỹ trong lúc rút lui.

(Tất nhiên, hồ sơ Mỹ cũng ghi nhận một chi tiết thận trọng: Thông điệp ngày 24/4 mới chỉ cam kết cho công dân Mỹ, chưa đề cập chính thức tới những người Việt Nam đi cùng).

Và thực tế diễn biến trên bầu trời Sài Gòn ngày 29/4 đã chứng minh lời cam kết ấy.

Khi sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích tê liệt, Tổng thống Ford buộc phải phát lệnh triển khai chiến dịch Frequent Wind (Gió lốc) dùng trực thăng CH-53 và CH-46 bay từ tàu chiến vào bốc người. 

Trong hai ngày 29 và 30/4, trực thăng Mỹ đã thực hiện hàng trăm lượt bay, đưa hơn 7.800 người (gồm cả người Mỹ và người Việt) ra biển.

Ngay trong ngày 29/4, khi báo cáo trước Tổng thống Ford và các lãnh đạo Quốc hội Mỹ (được lưu tại Hồ sơ FRUS số 276), chính Ngoại trưởng Henry Kissinger đã phải thừa nhận:

“Phía Bắc Việt Nam không có nỗ lực nào nhằm ngăn cản cuộc di tản, ngoại trừ một số vụ bắn lẻ tẻ... Thông qua các bên trung gian, chúng ta đã có được một khoảng lắng trên chiến trường.”

LỜI THÚ NHẬN CỦA TRẠM TRƯỞNG CIA VÀ TƯ LỆNH HẠM ĐỘI 7 MỸ

Không chỉ có báo cáo của Kissinger, chính những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Sài Gòn cũng để lại lời chứng xác nhận sự kiềm chế hỏa lực của Quân Giải phóng.

Tháng 4/2015, Trung tâm Nghiên cứu Tình báo thuộc CIA đã giải mật và công bố tập tài liệu mang tên Voices from the Station: The Evacuation of the US Embassy in Saigon (Những tiếng nói từ Trạm tình báo: Cuộc di tản khỏi Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn).

Ở trang 12 của tài liệu CIA này, các điệp viên Mỹ thừa nhận rằng Quân Giải phóng đã không hề pháo kích vào khu vực Đại sứ quán hay trung tâm Sài Gòn trong lúc trực thăng lên xuống. 

Một nhân viên CIA đúc kết ngắn gọn.

“Họ không gây trở ngại cho chúng tôi. Họ muốn chúng tôi rời đi.”

Một nguồn tư liệu khác của Hải quân Mỹ là cuốn End of the Saga: The Maritime Evacuation of South Vietnam and Cambodia (của tác giả Malcolm Muir Jr., do Cơ quan Lịch sử và Di sản Hải quân Mỹ xuất bản năm 2017) cũng dẫn lại cuộc phỏng vấn Phó Đô đốc George Steele, Tư lệnh Hạm đội 7 Mỹ vào tháng 12/1975. 

Chỉ huy Hải quân Mỹ nhận định.

Bộ chỉ huy Bắc Việt Nam hoàn toàn kiểm soát được kỷ luật của các đơn vị bên dưới để không bắn vào đoàn di tản.

NHÂN VĂN TRONG SỰ TỈNH TÁO

Cần làm rõ một chi tiết để không tuyệt đối hóa sự việc một cách phiến diện.

Có phải trong hai ngày 29 và 30/4/1975, tuyệt đối không có một viên đạn nào bắn lên trời?

Thực tế chiến trường không đơn giản như vậy.

Theo tư liệu của Thiếu tướng Võ Quang Hồ (đăng trên báo Nhân Dân ngày 30/4/2005), pháo binh tầm xa của ta đặt tại Nhơn Trạch vẫn nã hơn 300 quả đạn xuống khu quân sự sân bay Tân Sơn Nhất để làm tê liệt đường băng, chặn đứng việc vận chuyển quân sự.

Tài liệu của Hải quân Mỹ (Operations Frequent Wind and Eagle Pull) và báo cáo của Tổng thống Ford ngày 30/4 cũng ghi nhận có một vài quả tên lửa tầm thấp vác vai SA-7 và súng phòng không cá nhân bắn lên ở một số điểm, buộc máy bay hộ tống Mỹ phải bắn chế áp.

Nhưng sự khác biệt nằm ở cấp độ chiến dịch.

Không có một lệnh tổng công kích phòng không nào được ban ra. 

Các trận địa tên lửa tầm cao uy lực nhất như SAM-2 ở Bến Bầu và hệ thống pháo binh chủ lực đã nhận lệnh "Không bắn" đối với các chuyến bay di tản và các khu vực tập trung dân thường.

Quyết định ấy nằm chung trong một tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh. 

Như Đại tướng Văn Tiến Dũng, Tư lệnh chiến dịch đã trăn trở bài toán làm sao đánh thắng nhanh nhất bằng các mũi thọc sâu để hạn chế tối đa sự tàn phá thành phố và bảo vệ sinh mạng cho hàng triệu đồng bào.

NHƯ VẬY CÓ THỂ THẤY..

7 giờ 43 phút sáng ngày 30/4/1975, chiếc trực thăng cuối cùng chở lính thủy đánh bộ Mỹ rời khỏi nóc tòa Đại sứ quán. 

Chỉ vài giờ sau, xe tăng Quân Giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập, khép lại cuộc chiến tranh kéo dài đằng đẵng.

Đằng sau mệnh lệnh "Không bắn, để họ di tản" là sự kết hợp giữa trí tuệ ngoại giao sắc sảo (mở lối thoát cho đối phương rút lui để tránh đổ máu thêm) và lòng nhân đạo sâu sắc của người chiến thắng. 

Những người chỉ huy hiểu rằng.

Một chiếc trực thăng mang phù hiệu quân đội Mỹ bay lên trong ngày hôm ấy không còn là vũ khí đi gieo rắc bom đạn.

Mà bên trong khoang máy bay đó có những người phụ nữ, những đứa trẻ và những sinh mạng con người cần được sống sót khi hòa bình đã cận kề.
--------------
NGUỒN TƯ LIỆU ĐỐI CHIẾU

- Nguyễn Hữu Mão - "Đưa ‘Rồng lửa’ vượt Trường Sơn vào giải phóng Sài Gòn" 

- Bộ Ngoại giao Mỹ - "Foreign Relations of the United States (FRUS)", Tập X: Hồ sơ số 258 (Biên bản họp Hội đồng An ninh Quốc gia ngày 24/4/1975 và Chú thích số 6 về thông điệp qua Liên Xô) & Hồ sơ số 276 (Báo cáo của Henry Kissinger trước Tổng thống Ford ngày 29/4/1975)./.
#QV-ST!

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: ĐẤU CỜ TƯỚNG, ĐỌ TỬU LƯỢNG ĐỂ THU PHỤC CẢNH SÁT NGỤY!

     Theo quy định của Hiệp định Genève, mỗi bên chỉ được duy trì 100 nhân viên công an tại khu phi quân sự để tuần tra và làm nhiệm vụ liên hợp tại cầu Hiền Lương, Cửa Tùng.

Để đối phó với đám cảnh sát Sài Gòn được tuyển chọn kỹ lưỡng, nhiều tên rất ngạo mạn và bị nhồi sọ tư tưởng chống Cộng cực đoan, Bộ Tư lệnh Quân khu IV đã có một nước cờ tổ chức nhân sự đầy bất ngờ.

Toàn bộ cán bộ chỉ huy hai đại đội công an giới tuyến của ta khi ra làm nhiệm vụ đều phải... hạ cấp bậc xuống một cấp.

Cán bộ đại đội đóng vai trung đội trưởng, cán bộ trung đội xuống làm tiểu đội trưởng, nhằm đảm bảo người đứng mũi chịu sào ở từng ca gác đều là những sĩ quan dày dạn bản lĩnh chính trị và kinh nghiệm đấu tranh.

Hơn thế nữa, tại đồn Cửa Tùng và Hiền Lương, ta lập hẳn một cuốn "hồ sơ tâm lý học" chi tiết của từng viên cảnh sát ngụy Sài Gòn bên bờ Nam.

Các chiến sĩ của ta nắm rõ quê quán, gia cảnh và tìm hiểu tường tận sở thích, tính nết và năng khiếu cá nhân của từng người phía bên kia để sắp xếp người có "cùng tần số" ra gác chung.

Nếu ca trực hôm đó phía Sài Gòn có viên cảnh sát mê cờ tướng, ta cử chiến sĩ là cao thủ cờ tướng ra cùng gác để bày bàn cờ đối ẩm.

Gặp kẻ say mê tiểu thuyết võ hiệp, chiến sĩ ta đứng cạnh liền trở thành người thuộc làu các bộ truyện của Kim Dung để cùng đàm đạo.

Với những viên cảnh sát có bằng tú tài hay tỏ vẻ chữ nghĩa, ta bố trí ngay chiến sĩ đã tốt nghiệp đại học ra trò chuyện văn chương, thời cuộc.

Thậm chí, gặp kẻ thích khoe cơ bắp, đòi đọ sức vật tay, ta chọn ngay chiến sĩ có thể lực vạm vỡ nhất đơn vị ra tiếp chiêu.

Hay gặp tay cảnh sát có máu mặt thích uống rượu, ta cũng cử người có tửu lượng cao ra đối ẩm để khai thác thông tin trong những cuộc vui.

Để phục vụ cho mặt trận "tranh thủ" đặc biệt này, Tổng cục Chính trị đã cử hẳn một tổ công tác binh vận vào Vĩnh Linh trực tiếp chỉ đạo và cấp một nguồn kinh phí riêng.

Nhờ quỹ này, tại hai đồn Hiền Lương và Cửa Tùng lúc nào cũng có sẵn kẹo ngoại hảo hạng, thuốc lá thơm và rượu quý để làm phương tiện mở đầu câu chuyện.

Ta còn xây dựng các nhà câu lạc bộ khang trang ngay sát đầu cầu và bến sông, bên trong có đủ máy hát, bàn bi-a, sân bóng chuyền, xà đơn, xà kép và cả những tờ báo in bằng tiếng nước ngoài.

Thời gian đầu, chỉ huy cảnh sát Sài Gòn ở đồn Xuân Hòa, Cát Sơn ra lệnh cấm ngặt lính dưới quyền tiếp xúc với công an bờ Bắc.

Có những tên cảnh sát lì lợm giữ thái độ "tuyệt giao" suốt cả tháng trời.

Ta mời thuốc không hút, hỏi thăm không nói, mời xem chiếu phim thì gạt phắt "không nghe cộng sản tuyên truyền".

Nhưng trước sự kiên trì, lịch thiệp của những người lính Cụ Hồ, cùng sức hút từ những ván cờ, những buổi đàm đạo kiếm hiệp và không khí giải trí sôi nổi ở câu lạc bộ bờ Bắc, bức tường băng giá ấy dần dẫn bị phá vỡ.

Mưa dầm thấm lâu, nhiều viên cảnh sát và thậm chí cả sĩ quan tình báo ngụy Sài Gòn đội lốt cảnh sát (như Phạm Thái ở đồn Xuân Hòa, Hồ Diệm, Đỗ Nhật ở đồn Cát Sơn) đã bị thuyết phục hoàn toàn bởi nhân cách và trí tuệ của các chiến sĩ công an giới tuyến.

Họ âm thầm quay sang làm cơ sở mật cho cách mạng, cung cấp toàn bộ danh sách mật vụ, kế hoạch hành quân và bảo vệ an toàn cho cán bộ ta vượt sông hoạt động.

Sự cảm hóa mạnh mẽ đến mức trong hơn 10 năm, ngụy quyền Sài Gòn liên tục phải "thay quân đổi quan", có đợt phải rút một lúc toàn bộ 100 cảnh sát dọc bờ Nam về hậu phương vì sợ... để lâu sẽ ngả theo miền Bắc hết.

---------

NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO: Cuốn sách "Đôi bờ giới tuyến" của PGS.TS Hoàng Chí Hiếu.

Các bạn có thể tham khảo tìm đọc cuốn sách này trong bình luận đầu tiên.

---------

ẢNH: Chiến sĩ Công an vũ trang Nguyễn Hữu Ái bên cột cờ Hiền Lương năm 1972. Nguồn: Báo Công an nhân dân./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: CÓ LÊN BỎ “TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN”!

     Sự vụ học sinh lớp 12 ở Hà Nội vừa qua hành hung cô giáo đã gây "sốc" thực sự. Nhưng đó không phải cá biệt. Nền giáo dục nước ta từ khá lâu đã "có vấn đề", nhất là từ khi thực hiện đổi mới giáo dục năm 2018 đến nay. Sự xuống cấp đó có nhiều nguyên nhân: lãnh đạo, quản lý, phương châm, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, sự kết hợp gia đình - nhà trường - xã hội...

Sau đây là bài viết về việc bỏ triết lý giáo dục truyền thống, thay bằng triết lý ngược, khác biệt với triết lý giáo dục dân tộc và cách mạng của 1 giảng viên đại học, hiện là Biên tập viên sách lịch sử, văn hóa, phê phán quan điểm của 1 GS, TS ngành văn hóa muốn bỏ triết lý giáo dục truyền thống dân tộc.

BÀI VIẾT: “TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN” Của tg: Nguyễn Hải Yến. Hiện là BTV sách Lịch sử, văn hóa.
**+**
Sáng 21/11/2021, tại Nhà Quốc hội đã diễn ra Hội thảo Giáo dục Việt Nam năm 2021 với chủ đề “Văn hóa học đường trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo”, kết nối trực tuyến với nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước. Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự và phát biểu chỉ đạo Hội thảo.

Được biết, tại Hội thảo, Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho rằng khái niệm “trồng người”, quan điểm “tiên học lễ, hậu học văn” không còn phù hợp với giáo dục Việt Nam hiện nay. Ngay lập tức, phát biểu của Giáo sư dậy sóng mạng xã hội bởi theo mọi người, câu khẩu hiệu trên còn nguyên giá trị, không thể bỏ được mà phải tập trung đẩy mạnh việc giáo dục học sinh thực hiện theo khẩu hiệu trên một cách quyết tâm hơn.

“Tiên học lễ” có nghĩa là khi bắt đầu sự học thì phải học những đức tính tốt đẹp của con người, biết kính trên nhường dưới, hiểu thuận mẹ cha… Chữ Lễ ở đây có nghĩa là, lễ phép, lễ nghi, lễ độ... là nền tảng, là gốc rễ của mỗi con người.

Chỉ học văn mà không học lễ thì con người ta ví như đi giữa biển khơi mà không biết bến bờ. Lễ là cái gốc, là rường cột trong ngôi nhà giáo dục và đào tạo. Thầy cô giáo dạy học sinh về những chuẩn mực đạo đức, luân thường đạo lý để khi lớn lên, học sinh trở thành những con người có đạo đức, có lý tưởng, có mục tiêu phấn đấu…

“Hậu học văn”: có nghĩa là sau khi giáo dục về đạo đức mới được học về văn hóa, học về tri thức, chiếm lĩnh tri thức, làm chủ tri thức để theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Lịch sử dân tộc ta đã trải qua hơn 4.000 năm, bên cạnh những người vừa có đức vừa có tài làm vẻ vang đất nước cũng có không ít người có tài nhưng không có đức, đi ngược với lợi ích của quốc gia dân tộc, chà đạp lên truyền thống yêu nước thương nòi. Có thể kể đến Trần Ích Tắc, vương tử của nước Việt, kẻ ôm kinh luân đầy một bụng nhưng phản quốc theo giặc và cuối cùng phải sống vong quốc. Lê Chiêu Thống cũng vậy.

“Tiên học lễ, hậu học văn” là giáo dục cho học trò ngày từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải thấu đáo lễ nghĩa, lễ phép, lễ độ đầu tiên. Từ đó sẽ dễ dàng tiến tới thành công trong các mối quan hệ hay vận dụng vào công việc… Không nghiễm nhiên mà chữ giáo dục luôn luôn đứng trước chữ đào tạo trong mọi hoàn cảnh. Có tài năng, linh động, sáng tạo nhưng không có mục tiêu, định hướng, lý tưởng để phấn đấu thì cái tài năng ấy không những không có ích cho xã hội mà còn làm băng hoại các giá trị xã hội. Bác Hồ đã dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Mà muốn có nhân tài, giáo dục học sinh theo hướng “Tiên học lễ, hậu học văn” để “Trồng người” lại càng cần thiết trong bối cảnh hiện nay, thưa giáo sư Trần Ngọc Thêm.
Ảnh: Giảng viên Nguyễn Hải Yến.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: KHI TÔN NGHIÊM QUỴ NGÃ TRÊN BỤC GIẢNG!

     Một cô giáo đứng giữa lớp học, loạng choạng né những cú đấm. Máu loang trên sàn, hàng chục học sinh chết lặng. Ngày 21/10/2026, cơ quan điều tra ra quyết định bắt khẩn cấp đối tượng liên quan. Nghiêm trị hành vi bạo lực là điều tất yếu, pháp luật phải được thực thi nghiêm minh. Nhưng một quyết định bắt giữ, dù cần thiết đến đâu, cũng không thể khép lại những câu hỏi nhức nhối về căn nguyên của sự việc. Bởi khi bạo lực xuất hiện ngay trên bục giảng, điều bị tổn thương không chỉ là thân thể người giáo viên, mà còn là sự tôn nghiêm của nghề dạy học, sự an toàn của môi trường giáo dục và những giá trị nền tảng trong quá trình hình thành nhân cách con người.

Điều khiến dư luận đau xót hơn cả là nguyên nhân bắt nguồn từ một tình huống hết sức bình thường: học sinh không làm bài tập về nhà, cô giáo nhắc nhở và yêu cầu đứng lên. Chỉ vậy thôi. Một lời nhắc mà biết bao thế hệ học trò từng nghe, từng đỏ mặt, từng cúi đầu nhận lỗi, nay lại bị đáp trả bằng nắm đấm. Hành vi bạo lực là điều không thể biện minh. Nhưng đằng sau cú đấm ấy là một câu hỏi đáng sợ hơn: Điều gì đã diễn ra trong thế giới tinh thần của một đứa trẻ để một lời nhắc nhở thông thường cũng có thể trở thành ngòi nổ cho hành vi hung hãn? Từ khi nào, sự uốn nắn của người thầy lại bị nhìn nhận như một sự xúc phạm cần đáp trả bằng bạo lực? Và vì sao nơi lẽ ra phải an toàn cho cả người dạy lẫn người học lại có thể trở thành hiện trường của một vụ việc nghiêm trọng?

Đáng lo ngại hơn, đây không phải là hồi chuông cảnh báo đầu tiên. Xã hội từng bàng hoàng trước cảnh học sinh tát cô giáo, học sinh ghì đầu, quật ngã thầy chủ nhiệm hay những vụ học trò dùng hung khí tấn công giáo viên. Mỗi vụ việc có nguyên nhân và hoàn cảnh riêng. Tuy nhiên, khi những hành vi xúc phạm, chống đối và hành hung người thầy liên tiếp xuất hiện, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở sự phẫn nộ nhất thời hay việc xử lý từng cá nhân vi phạm. Đằng sau những hành vi ấy là vấn đề đáng báo động về khả năng kiểm soát cảm xúc, ý thức tôn trọng người khác, trách nhiệm với hành vi của bản thân và những lỗ hổng trong quá trình giáo dục nhân cách của một bộ phận người trẻ.

Một trong những bài học đang bị xem nhẹ chính là lòng biết ơn. Biết ơn không phải là sự phục tùng mù quáng, càng không có nghĩa người thầy luôn đúng hay học trò không được phép phản biện. Biết ơn là hiểu rằng những gì mình nhận được không phải lúc nào cũng là điều hiển nhiên; rằng đằng sau một bài giảng là công sức, trách nhiệm và tâm huyết; đằng sau một lời nhắc nhở có thể là sự quan tâm đến việc học tập và sự trưởng thành của người học. Khi một đứa trẻ chỉ quen đòi hỏi mà không được dạy cách trân trọng, chỉ quen được đáp ứng mà không biết chấp nhận giới hạn, em rất dễ xem mọi sự ngăn cản là xúc phạm, mọi lời phê bình là thù địch, mọi yêu cầu tuân thủ kỷ luật là sự xâm phạm quyền lợi cá nhân.

Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu quy toàn bộ nguyên nhân cho sự suy giảm lòng biết ơn hay sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận học sinh. Nhân cách không tự nhiên hình thành, cũng không tự nhiên lệch lạc. Đó là kết quả của một quá trình giáo dục lâu dài, bắt đầu từ gia đình, được tiếp nối trong nhà trường và chịu ảnh hưởng từ môi trường xã hội. Nếu trẻ chỉ được bảo vệ mà không được dạy chịu trách nhiệm, chỉ được bênh vực mà không được phân định đúng sai, chỉ được đòi hỏi quyền lợi mà không phải thực hiện nghĩa vụ, thì sự nuông chiều rất dễ biến thành thói quen vị kỷ. Khi những hành vi sai trái liên tục được bao biện bằng những lời như “trẻ con chưa biết gì”, “đừng làm tổn thương con” hay “giáo viên phải tự xem lại mình”, người lớn có thể vô tình tước đi cơ hội quan trọng nhất của trẻ: học cách nhận lỗi, sửa sai và chịu trách nhiệm về hậu quả do mình gây ra.

Song, trách nhiệm không chỉ nằm ở gia đình hay học sinh. Một lát cắt đáng suy ngẫm của giáo dục hiện đại là vị thế và khả năng thực thi kỷ luật của người thầy đang đứng trước nhiều sức ép. Người giáo viên được yêu cầu phải nghiêm khắc nhưng không được làm tổn thương học sinh, phải giữ kỷ cương nhưng phải thận trọng trước nguy cơ bị hiểu sai, bị quy kết hoặc bị bỏ mặc khi phát sinh tranh chấp. Trong khi đó, ở một số môi trường, cơ chế phối hợp giữa gia đình và nhà trường chưa đủ chặt chẽ; việc xử lý hành vi chống đối chưa nhất quán; giáo viên có thể rơi vào thế đơn độc ngay trong lớp học của mình.

Cần nhìn nhận vấn đề một cách công bằng: loại bỏ những hình phạt thân thể, những cách giáo dục xúc phạm nhân phẩm là yêu cầu chính đáng và cần thiết. Không thể lấy danh nghĩa tôn nghiêm của người thầy để biện minh cho bạo lực đối với học sinh. Nhưng cũng không thể nhân danh bảo vệ trẻ em để phủ nhận quyền quản lý lớp học, quyền nhắc nhở và trách nhiệm thiết lập kỷ luật của giáo viên. Từ bỏ bạo lực không đồng nghĩa với từ bỏ kỷ cương; tôn trọng học sinh không có nghĩa là dung túng hành vi sai trái. Một nền giáo dục tiến bộ phải phân biệt rạch ròi giữa kỷ luật tích cực và trừng phạt phản giáo dục, giữa quyền được tôn trọng và sự đòi hỏi vô giới hạn, giữa lắng nghe học sinh và thỏa hiệp trước cái sai.

Người thầy không cần được trao quyền trừng phạt tùy tiện, càng không cần khôi phục những hình thức giáo dục dựa trên nỗi sợ. Điều họ cần là một cơ chế kỷ luật rõ ràng, khả thi và được thực thi nhất quán; là sự bảo vệ thực chất từ nhà trường khi bị đe dọa, xúc phạm hoặc hành hung; là sự đồng hành có trách nhiệm của phụ huynh khi con em vi phạm. Những hành vi bạo lực phải được xác minh khách quan, xử lý tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm, không bị bao che bởi tuổi tác, quan hệ hay bất kỳ sức ép nào. Đồng thời, các trường học cần có quy trình ứng phó với tình huống nguy hiểm, hỗ trợ tâm lý và giáo dục phục hồi phù hợp, để ngăn ngừa tái diễn thay vì chỉ chờ sự việc xảy ra rồi mới tìm cách khắc phục.

Bởi vậy, chống bạo lực học đường không thể chỉ là cuộc chiến giữa người lớn và trẻ nhỏ, càng không thể là sự lựa chọn một phía giữa bảo vệ học sinh và bảo vệ giáo viên. Đó phải là nỗ lực bảo vệ cả người dạy lẫn người học trước mọi hành vi bạo lực, đồng thời xây dựng một môi trường mà quyền luôn đi đôi với nghĩa vụ, sự cảm thông luôn đi cùng nguyên tắc và lòng nhân ái không bao giờ đồng nghĩa với dễ dãi. Gia đình phải dạy con biết kính trọng người khác, biết nhận lỗi và chịu trách nhiệm. Nhà trường phải xây dựng kỷ cương bằng những quy tắc minh bạch, nhất quán. Xã hội phải lên án hành vi bạo lực nhưng cũng cần tránh những phán xét cực đoan, quy chụp cả một thế hệ từ sai phạm của một số cá nhân.

Dẫu vậy, cũng cần khẳng định rằng những hành vi bạo lực của một bộ phận học sinh không thể đại diện cho toàn bộ thế hệ trẻ. Vẫn có hàng triệu học sinh lễ phép, chăm chỉ, biết kính thầy, yêu bạn và trân trọng công sức của những người đang ngày đêm dìu dắt mình. Chính vì thế, điều cần thiết không phải là gieo rắc nỗi bi quan về sự suy đồi của đạo đức học đường, mà là nhìn thẳng vào những biểu hiện lệch lạc, nhận diện đúng nguyên nhân và hành động quyết liệt trước khi những cảnh tượng đau lòng trở thành điều bình thường trong đời sống giáo dục.

Một xã hội có thể xây dựng những ngôi trường hiện đại, trang bị những phương tiện dạy học tiên tiến và truyền đạt khối lượng tri thức khổng lồ. Nhưng nếu học sinh không được dạy cách tôn trọng con người, không biết kiềm chế cơn giận, không hiểu giới hạn của hành vi và không phải chịu trách nhiệm khi làm tổn thương người khác, thì nền giáo dục ấy vẫn còn thiếu một nền móng căn bản. Tri thức có thể giúp con người tiến xa, nhưng chỉ có nhân cách mới giúp con người biết dừng lại trước điều sai trái.

Khi người thầy phải run sợ trước chính học trò của mình, đó không còn là nỗi đau riêng của một giáo viên, mà là lời cảnh báo đối với toàn bộ môi trường giáo dục. Bục giảng không thể trở thành nơi người dạy phải cân nhắc từng lời vì sợ bị tấn công; lớp học không thể là nơi bạo lực lên tiếng thay cho đối thoại; và lòng nhân ái không thể bị biến thành cái cớ để dung túng sự vô kỷ luật.

Bởi suy cho cùng, giáo dục không chỉ là dạy một đứa trẻ biết thêm bao nhiêu kiến thức, mà còn là giúp em hiểu phải sống với người khác như thế nào. Khi người thầy mất đi sự an toàn, khi kỷ cương bị hiểu lầm là áp đặt, khi lòng biết ơn bị thay thế bằng tâm lý đòi hỏi, thứ quỵ ngã trên bục giảng không chỉ là một con người, mà còn là niềm tin vào những giá trị làm nên ý nghĩa của giáo dục. Và nếu không kịp thời dựng lại những giá trị ấy bằng trách nhiệm của gia đình, sự nghiêm minh của nhà trường và nguyên tắc thượng tôn pháp luật, chúng ta sẽ phải trả giá không chỉ bằng những vết thương trước mắt, mà bằng cả những khoảng trống nhân cách kéo dài trong tương lai./.
#QV-ST!