Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: ĐAU NHẤT LÀ KHI CON TRẺ BIẾT RẤT NHIỀU VỀ THẾ GIỚI, NHƯNG LẠI BIẾT QUÁ ÍT VỀ CỘI NGUỒN CỦA MÌNH!

     Ngày xưa đi học, chúng tôi đâu có những khái niệm giáo dục nghe thật kêu. Chúng tôi chỉ biết “Tiên học lễ, hậu học văn”, biết khoanh tay chào thầy cô, biết kính trên nhường dưới, biết thuộc những câu ca dao, tục ngữ mà ông bà đã truyền qua bao đời.

“Uống nước nhớ nguồn.”

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.”

“Bầu ơi thương lấy bí cùng…”

Mấy câu ấy chẳng cần học vị cao siêu. Một đứa trẻ tám tuổi cũng hiểu: làm người phải biết ơn, biết thương đồng bào, biết mình từ đâu mà có.

Ngày ấy, trong những trang sách nhỏ bé còn có những bài thơ viết về Bác Hồ, về người lính, về bà mẹ Việt Nam, về quê hương, về những năm tháng đất nước gian lao. Chúng tôi biết Tố Hữu, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh… không chỉ như những cái tên để làm bài kiểm tra. Qua thơ văn, chúng tôi biết có một thế hệ đã sống, chiến đấu, hy sinh và gửi lại tuổi xuân cho đất nước này.

Một đứa trẻ đọc “Đêm nay Bác không ngủ” có thể chưa hiểu hết lịch sử, nhưng nó hiểu thế nào là thương người lính.

Đọc những câu thơ về Trường Sơn, về người mẹ, về quê hương, nó biết hòa bình hôm nay không phải tự nhiên rơi xuống.

Đọc ca dao, tục ngữ, nó học được đạo làm người trước khi biết gọi đó là “giá trị văn hóa dân tộc”.

Đó là sức mạnh của giáo dục.

Không phải chỉ nhồi vào đầu trẻ con những dữ kiện.

Mà gieo vào lòng chúng một cái rễ.

Điều khiến nhiều người thuộc thế hệ trước trăn trở hôm nay là cảm giác những chất liệu ấy xuất hiện ít hơn hoặc không còn giữ vị trí như trong ký ức của mình. Chương trình giáo dục phải đổi mới, văn học phải có thêm tiếng nói mới, học sinh phải được tiếp xúc với thế giới hiện đại — điều đó hoàn toàn cần thiết.

Nhưng đổi mới không nên đồng nghĩa với việc cái mới bước vào thì cái gốc phải bước ra.

Một đứa trẻ có thể học Shakespeare, học khoa học máy tính, học trí tuệ nhân tạo, học tiếng Anh từ mẫu giáo. Rất tốt.

Nhưng nó cũng phải biết Nguyễn Trãi là ai.

Biết Trần Hưng Đạo là ai.

Biết vì sao ông bà mình nói “uống nước nhớ nguồn”.

Biết vì sao mỗi sáng thứ Hai lá quốc kỳ được kéo lên.

Biết trên mảnh đất mình đang đứng đã từng có những thế hệ đi qua chiến tranh, đói nghèo và mất mát như thế nào.

Nếu không, chúng ta có thể đào tạo được một đứa trẻ rất giỏi.

Nhưng chưa chắc đã nuôi dưỡng được một con người biết mình thuộc về đâu.

Ngày xưa, thầy cô nghiêm lắm.

Cây thước nằm trên bàn giáo viên không chỉ để kẻ bảng. Nhiều thế hệ chúng tôi từng bị gõ tay, phạt đứng, phạt thụt dầu. Có những cách kỷ luật ngày xưa không còn phù hợp và không nên được lãng mạn hóa; trẻ em phải được bảo vệ khỏi bạo lực và xúc phạm.

Nhưng điều đáng tiếc không phải là cây thước không còn được dùng để đánh học sinh.

Điều đáng tiếc là đôi khi uy nghiêm chính đáng của người thầy cũng bị suy giảm theo.

Một nền giáo dục văn minh không cần thầy cô đánh trẻ.

Nhưng nhất định phải giữ được sự kính trọng đối với người dạy học.

Không thể để “không bạo lực” biến thành “không được nghiêm khắc”.

Không thể để “tôn trọng học sinh” biến thành việc người thầy phải run sợ trước mỗi lời nhắc nhở.

Cây thước không nên là công cụ trừng phạt.

Nhưng kỷ luật vẫn phải còn.

Quyền trẻ em phải được bảo vệ.

Nhưng nghĩa vụ của học sinh cũng phải được dạy.

Tự do phải có.

Nhưng tự do không thể tách khỏi trách nhiệm.

Đó mới là giáo dục.

Thế hệ cha anh không đau vì con cháu giỏi hơn mình. Ngược lại, chẳng có cha mẹ nào không mong con mình bay cao hơn.

Điều khiến người ta đau là một ngày nào đó, đứa trẻ có thể nói tiếng nước ngoài rất hay, biết đủ mọi nhân vật nổi tiếng trên thế giới, thuộc tên các thương hiệu toàn cầu…

nhưng hỏi một câu về lịch sử quê hương thì im lặng.

Hỏi một câu ca dao của bà thì không biết.

Hỏi người đã nằm xuống để nó được ngồi bình yên trong lớp học hôm nay là ai thì nó thấy xa lạ.

Đó mới là cái đau đến tận cùng.

Bởi một dân tộc không mất cội nguồn trong một ngày.

Nó mất từng chút một.

Khi một câu chuyện của ông bà không còn được kể.

Khi một câu ca dao không còn đứa trẻ nào thuộc.

Khi một trang sử trở thành thứ chỉ học để thi rồi quên.

Khi lòng biết ơn bị coi là chuyện cũ.

Và đến lúc con cháu quay lại hỏi: “Ông bà chúng ta là ai?”, có khi những người từng biết câu trả lời đã không còn nữa.

Giáo dục hôm nay nhất định phải hiện đại.

Nhưng xin đừng hiện đại đến mức cắt mất bộ rễ của chính mình.

Hãy để trẻ em bước ra thế giới bằng đôi chân thật mạnh.

Nhưng trước khi đi, hãy cho chúng biết dưới đôi chân ấy là đất của tổ tiên.

Hãy dạy chúng khoa học để nhìn về tương lai.

Nhưng cũng hãy dạy lịch sử để chúng biết cúi đầu trước quá khứ.

Hãy dạy chúng quyền của một con người.

Nhưng cũng đừng quên dạy chúng lễ, nghĩa, lòng biết ơn và trách nhiệm.

Bởi cuối cùng, giáo dục không chỉ nhằm tạo ra một người kiếm được thật nhiều tiền.

Giáo dục trước hết phải tạo ra một con người.

Một con người có tri thức để đi xa.

Có nhân cách để đứng thẳng.

Và có cội nguồn để biết đường trở về. 🇻🇳
#QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG KẺ TAY SAI HẾT THỰC DÂN PHÁP ĐẾN ĐẾ QUỐC MỸ...

     Lúc quân đội Việt Minh của tướng Giáp đánh bại Pháp tại Điện Biên Phủ, các tướng lĩnh "phe quốc gia" ở đâu?

Phạm Văn Phú, Thiếu tướng, Tư lệnh Quân đoàn 2 Sài Gòn sau này, lúc đó là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu Đoàn 5 dù, sát cánh cùng quân Pháp phòng ngự tại Đồi C1. Tại đây, Phú tỏ ra rất máu chiến và trung thành, bắt nhịp cho lính Việt hát bài La Marseillaise (Quốc ca Pháp) để động viên sĩ khí xông lên phản kích chiếm lại đồi C1. Vì vậy, ngày 26/4, chỉ huy De Castries đặc cách thăng cấp cho Phú từ trung úy lên đại úy, kiêm Tiểu đoàn phó, Tiểu đoàn 5 Dù để khích lệ tinh thần, cổ vũ sự trung thành này. Cũng nhờ cái danh m.á.u chiến, gan lỳ trong trận này, về sau, sau khi được Việt Minh thả ra, Phú nhanh chóng tạo được tên tuổi dưới thời đại của ông chủ mới - người Mỹ.

Đỗ Cao Trí, Trung tướng Quân đoàn 3 chế độ ngụy VNCH, thời điểm đó là Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 lính dù - quân dù Liên hiệp Pháp, đang chuẩn bị sẵn lực lượng ở căn cứ Chí Hoà, Sài Gòn để sẵn sàng nhảy dù tiếp viện cho quân Pháp đang giãy c.h.ế.t tại Điện Biên Phủ. Lính dù Pháp về cuối trận không thể nhảy xuống được vì hỏa lực và vòng vây ngày càng khép chặt nên kế hoạch không vận đơn vị Trí buộc phải dừng lại. Trí đã gặp may, vì nếu không chết, có lẽ Trí đã cùng Phú vẫy cờ trắng cùng các quan thầy da trắng ra hàng tại đây.

Thiệu, Kỳ, Khánh, Viên, Hinh, Đôn, Kim, Đính, Có, Loan, Xuân, Khiêm, Lãm, Nghi, Vĩ, Trưởng, Đảo, Dương Văn Minh... khoảng 90% tướng lĩnh ngụy VNCH sau này thời điểm đó đang phục vụ dưới lá cờ "Quốc gia Việt Nam" - thực thể hư danh, hoàn toàn lệ thuộc và phục vụ cho mục tiêu tái xâm lược thuộc địa của thực dân Pháp. Diệm cũng là Thủ tướng (có xu hướng xa Pháp, thân Mỹ, Vatican hơn) của chế độ vốn do Pháp nặn ra và được Mỹ viện trợ từ năm 1949.

Quân đội và cảnh sát ngụy VNCH về căn bản là bê nguyên bộ máy quân đội, cảnh sát "Quốc gia Việt Nam" vốn mang tai tiếng trong nhân dân cả nước là tay sai Tây (Pháp) suốt 7 năm, chỉ thay đổi cái tên gọi mà thôi. Cho nên dù tô vẽ thế nào, bóng ma tiền thân vốn là một quân đội tay sai vẫn ám ảnh sĩ quan và binh lính chế độ Sài gòn, như lời chính người trong cuộc - tướng Hạnh, tướng Khánh, tướng Kỳ, tướng Dương Văn Minh đã từng thừa nhận./.
#QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: IRAN HẾT TIỀN TRẢ LƯƠNG NHƯNG BINH SỸ IRAN CHIẾN ĐẤU KHÔNG PHẢI VÌ TIỀN!

     Bộ trưởng Tài chính Mỹ tuyên bố Ngân hàng Trung ương Iran đã phá sản, Iran không còn tiền trả lương cho binh sĩ. Tất cả đều đúng. Nhưng họ đã bỏ sót một chi tiết nhỏ: lính Iran không chiến đấu vì tiền.

Mỹ có thể đo lường sức mạnh của một quốc gia bằng dự trữ ngoại hối, bằng khả năng chi trả, bằng các chỉ số tài chính. Họ đã áp dụng các lệnh trừng phạt tàn khốc suốt nhiều thập kỷ để bóp nghẹt nền kinh tế Iran. Họ đã đóng băng tài sản, cắt đứt kết nối với SWIFT, và làm cho đồng tiền Iran mất giá không phanh.

Và họ đã đạt được mục tiêu. Nền kinh tế Iran đang chết dần. Họ không thể bán dầu. Họ không thể tiếp cận thị trường toàn cầu. Đồng tiền của họ đã mất hơn 90% giá trị so với một thập kỷ trước. Theo các tiêu chuẩn của phương Tây, Iran đã phá sản.

Nhưng câu hỏi là: một quân đội phá sản có chiến đấu không?

Khi Tiền Không Còn Là Động Lực

Mỹ đã áp dụng cùng một chiến thuật ở Iraq, Afghanistan, Libya, Syria. Họ tấn công nền kinh tế, tin rằng khi tiền cạn, ý chí sẽ sụp đổ. Và ở hầu hết nơi, điều đó đã xảy ra.

Nhưng Iran không phải là Iraq hay Afghanistan. Quân đội Iran không được xây dựng trên cơ sở tiền lương. Nó được xây dựng trên ý thức hệ, trên lòng trung thành với một hệ thống, và trên một kẻ thù chung đã được xác định rõ ràng.

Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) không phải là một đội quân đánh thuê. Họ là một lực lượng tư tưởng. Binh sĩ của họ đã được huấn luyện để tin rằng họ đang bảo vệ một di sản hơn 3.000 năm tuổi, chống lại một đế chế đang cố gắng xóa sổ họ. Điều đó không phải là một thứ có thể mua bằng tiền - và cũng không thể bị phá hủy bằng cách cắt lương.

Người dân Iran cũng vậy. Họ đã sống qua các cuộc xâm lược, sự chiếm đóng và các cuộc cách mạng. Họ đã bị trừng phạt trong nhiều thập kỷ. Họ không hy vọng vào một cuộc sống giàu sang hay an nhàn. Họ hy vọng vào sự tồn tại. Và sự tồn tại đó đòi hỏi họ phải tiếp tục, cho dù túi của họ trống rỗng.

Mỹ Đã Nhầm Lẫn Giữa Kẻ Thù Và Nô Lệ

Phương Tây có một điểm mù chiến lược. Họ tin rằng mọi người đều có thể bị mua chuộc, và mọi cuộc chiến đều có thể bị bỏ đói. Điều đó đúng với các quốc gia chư hầu. Điều đó đúng với những người đã quen với việc bị cai trị và đã chấp nhận địa vị nô lệ của mình.

Nhưng một người nô lệ và một người tự do không giống nhau. Một người nô lệ lùi bước khi bị đe dọa mất đi sự thoải mái của mình. Một người tự do lùi bước khi họ thấy không còn lý do để chiến đấu.

Điều phân biệt lính Iran với các đối thủ của họ chính là: họ có một lý do không thể bị mua chuộc và không thể bị đe dọa để tiếp tục.

Bài Học Cho Những Ai Chưa Hiểu

Iran không có tiền. Đúng vậy. Nhưng họ có những thứ quan trọng hơn: ý chí, sự kiên trì và một sự hiểu biết rõ ràng rằng cuộc chiến này là sinh tử.

Bộ trưởng Tài chính Mỹ có thể tuyên bố Iran đã phá sản. Nhưng khi bạn nhìn vào một người lính Iran đang cầm súng, bạn sẽ thấy một chiến binh, không phải một con nợ. Và nếu bạn vẫn nghĩ rằng chiến tranh chỉ là kinh tế, thì bạn đã bỏ lỡ một phần cốt lõi của lịch sử./.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: TỔNG CHỦ BIÊN SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN CÁC CẤP HỌC PHỔ THÔNG - LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO?

     Chưa nói đến động cơ chính trị đưa “rác phẩm vào giáo khoa Ngữ văn, chỉ riêng góc độ chuyên môn mà như này thì buồn cho giáo dục quá!!!

PGS. TS BÙI MẠNH HÙNG CON BUÔN - GIÁO DỤC HAY KẺ DỐT TIẾNG VIỆT, LẠI LÀ "TỔNG CHỦ BIÊN - KIÊM CHỦ BIÊN? SÁCH TIẾNG VIỆT CÁC CẤP!?!

Viết bài này là bài thứ ngót 500 phê phán các loại sách giáo khoa Văn, giáo khoa “Tiếng Việt”, phê phán sự phản giáo dục của bộ GD & ĐT của tôi từ 40 năm nay. Tôi xin chắp tay quỳ xuống lạy rằng: bộ GD ơi, ta chào mi, mi không còn một tí giáo dục nào nữa. Mi vẫn để cho một bọn mafia dốt nát, lưu manh nhiều năm nay bao thầu soạn sách giáo khoa từ tiểu học, trung học cơ sở, đến trung học, đại học, hết bày trò soạn sách này, lại bày trò soạn sách khác, càng cải cách càng sai càng bậy, ăn tiền xương máu của dân hết nghìn tỉ này đến nghìn tỉ khác mà vẫn sai hoàn sai.

PGS,TS Bùi Mạnh Hùng (ngôn ngữ học) đang là trưởng ban các dự án phát triển giáo dục, phân phối các dự án nghìn tỉ viết đi viết lại sách giáo khoa văn, sách “tiếng Việt”, hiện đang làm tổng tổng chủ biên sách tiếng Việt các cấp.

Chỉ cần ngó vào bìa sách “Tiếng Việt”, ta cũng thấy PGS.TS Bùi Mạnh Hùng dốt tiếng Việt.

Xin dẫn cụ thể, trên đầu bìa sách “Tiếng Việt” lớp 1, tập 2: thấy đề rất ngu rằng: “BÙI MẠNH HÙNG (Tổng chủ biên kiêm chủ biên).
Dưới dòng này in tên các đồng tác giả: VŨ KIM BẢNG - TRỊNH CẨM LAN - CHU THỊ PHƯƠNG - ĐẶNG THỊ HẢO TÂM.

Cái sai tiếng Việt nằm chềnh ềnh ra như sau: BÙI MẠNH HÙNG (Tổng chủ biên kiêm chủ biên).

Muốn đúng tiếng Việt chỉ cần đề: BÙI MẠNH HÙNG (chủ biên) là xong!

Vậy, “Tổng chủ biên kiêm chủ biên” là sao hả giời?

Nếu ông viết “tổng chủ biên kiêm chủ biên hình họa” thì còn nghe tạm được, tuy cũng vẫn sai sai. Giống như một ông ngố rừng, dốt đặc cán mai, đề trên danh thiếp rằng: Bùi Mạnh Dũng (Tổng giám đốc kiêm giám đốc) vậy!

Hóa ra ông Bùi Mạnh Hùng này là tiến sĩ phong bì của trường phái “HÀNH VI NỊNH TRONG TIẾNG VIỆT” từng do các “viện trưởng viện ngôn ngữ học” vua đạo văn tạo ra.

Chỉ cần mở vài trang, đã thấy sai be sai bét. Ví dụ, trang 4, sách “Tiếng Việt” tập 2, trong bài “Tôi là học sinh lớp 1” có câu viết: “Tôi tên là Nam, học sinh lớp 1 A, Trường Tiểu học Lê Qúy Đôn”.

Câu này viết sai tiếng Việt: “Trường Tiểu học Lê Qúy Đôn”, thưa sai ở chỗ viết hoa chữ Trường và chữ Tiểu ạ.

Trang 18, trong bài “Ngày sinh của Voi con” có câu văn: “Hôm nay là sinh nhật của Voi con, nhưng nó bị ốm”. Câu này phải viết như thế này mới đúng Tiếng Việt : “Hôm nay sinh nhật Voi con, nhưng nó bị ốm” . Bỏ đi từ “là” và từ “của”…

Có thể tìm ra vô cùng nhiều lỗi sai tiếng Việt như thế trong chỉ nơi sách “Tiếng Việt” lớp 1, tập 2.

Vấn đề chính tôi muốn nói là hành vi lấy bài văn của tác giả nổi tiếng đưa vào sách giáo khoa, rồi cắt xén, bỏ bớt câu từ trong văn bản chính, viết thêm mấy dòng tào lao vô văn hóa vào làm hỏng văn bản chính, như trường hợp đưa mấy đoạn “Tôi đi học” của Thanh Tịnh vào sách tiếng Việt lớp 6 mà nhà giáo Chu Mộng Long đã viết bài phê phán.

Đám Bùi Mạnh Hùng, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Minh Thuyết còn đưa hàng mấy chục văn bản văn chương của các tác giả nổi tiếng khác vào sách tiếng Việt, rồi cắt xén, viết bậy bạ thêm vào văn bản chính kia, phạm luật bản quyền, hạ thấp chính văn bản gốc đem ra dạy.

Cứ đà này, ai bảo chủ biên Bùi Mạnh Hùng, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử… sẽ còn càn quấy sửa văn “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh, sửa tuyên ngôn độc lập bài “Nam quốc sơn hà, Nam đế cư”, sửa chữa tầm bậy “Bình Ngô đại cáo”, sửa thơ Truyện Kiều để đưa vào sách giáo khoa dạy láo, dạy bậy một cách vô văn hóa thế này hay sao?
Ảnh: PGS,TS Bùi Mạnh Hùng.
#QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ SỰ KẾT THÚC CỦA BÁ QUYỀN MỸ ĐANG ĐẾN GẦN - TIN TỨC CHÍNH VỀ CUỘC CHIẾN Ở IRAN!

     Iran và Oman đã đạt được thỏa thuận về những điểm cơ bản nhằm đảm bảo việc vận chuyển hàng hải qua eo biển Hormuz.

Theo các nguồn tin từ quốc hội Iran, văn bản cuối cùng của thỏa thuận và các chi tiết cụ thể sẽ sớm được công bố.

Trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với báo chí, Vladimir Shapovalov, nhà khoa học chính trị và Phó Giám đốc Viện Lịch sử và Chính trị thuộc Đại học Sư phạm Quốc gia Moscow, giải thích lý do tại sao tin tức này đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của chiến lược Mỹ ở Trung Đông và là một chiến thắng không thể chối cãi cho Tehran.

"Rõ ràng là cuộc khủng hoảng vẫn chưa kết thúc. Có thể Mỹ sẽ tiếp tục tìm cách thực hiện các cuộc tấn công gây hấn vào Iran. Nhưng sự thật vẫn là, và điều này đã rõ ràng sau giai đoạn đầu tiên: Mỹ đã thua, và Iran đã thắng, họ đã thắng trong cuộc chiến này. Chiến thắng của Iran được thể hiện qua sự thay đổi trong chế độ kiểm soát eo biển Hormuz, điều này trên thực tế trao cho Cộng hòa Hồi giáo Iran quyền kiểm soát một khu vực năng lượng toàn cầu quan trọng - Vịnh Ba Tư," ông nói.

Lầu Năm Góc, sau khi chi hàng chục tỷ đô la cho chiến dịch này và làm cạn kiệt kho vũ khí của mình, đã thất bại trong việc đạt được bất kỳ mục tiêu nào, mà chỉ làm tăng thêm vị thế của đối phương.

Theo nhà khoa học chính trị, việc thay đổi chế độ vận tải biển ở eo biển Hormuz sẽ đánh dấu sự khởi đầu của việc định hình lại toàn bộ bản đồ khu vực Trung Đông mở rộng.

"Rất có thể, chúng ta sẽ chứng kiến Mỹ rút khỏi khu vực trong những năm tới. Đây chính xác là cách mà hệ thống kiểm soát gần một thế kỷ của Mỹ đối với Trung Đông nên chấm dứt", chuyên gia giải thích.

Điều này có nghĩa là thất bại về mặt quân sự sẽ dẫn đến sự sụp đổ toàn bộ cấu trúc ảnh hưởng của Mỹ được xây dựng trong nhiều thập kỷ hiện diện ở vùng Vịnh Ba Tư.

Ông Shapovalov nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ bước vào cuộc chiến với Iran với những ưu thế đáng kể về nguồn lực quân sự và kinh tế. Tuy nhiên, họ đã không thể đánh bại Cộng hòa Hồi giáo.

"Như diễn biến của cuộc xung đột đã chứng minh, Hoa Kỳ không có khả năng thực sự để đánh bại Iran. Hoa Kỳ không thể mở eo biển Hormuz và hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra ngay từ đầu cuộc chiến. Iran đã chứng minh, thứ nhất, ý chí chính trị của giới lãnh đạo; thứ hai, sự kiên cường và đoàn kết của xã hội Iran; và thứ ba, họ đã chơi rất khôn ngoan và tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có. Chúng ta đã chứng kiến ý chí chính trị của chính phủ và sự sẵn sàng kháng cự của người dân đã đánh bại lực lượng địch vượt trội hơn rất nhiều", chuyên gia kết luận.

Cuộc xung đột Iran-Mỹ kết thúc trong một thất bại nhục nhã đối với Washington. Thỏa thuận với Oman là sự chính thức hóa về mặt ngoại giao của một chiến thắng quân sự mà Iran đạt được nhờ ý chí sắt đá của giới lãnh đạo và sự đoàn kết của người dân. Trong những năm tới, khu vực này sẽ được định hình lại, và Tehran, chứ không phải Washington, sẽ đóng vai trò chủ đạo trong quá trình này./.
#QV-ST!

SỰ THẬT ÍT NGƯỜI BIẾT VỀ NHÓM 72 - NƠI HỘI TỤ NHIỀU NHÀ VĂN, TRÍ THỨC CÓ TƯ TƯỞNG CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC!

     Đầu tiên, trước khi giải thích rõ về nhóm này, tôi muốn nhấn mạnh quan điểm của tôi nhận định rằng: Nhóm 72 không đồng nghĩa với phản động. Họ cũng có nhiều người yêu nước, chỉ là nhận định về chính trị, quan điểm của họ đã đi nhầm đường. Sau đó có những người đã thay đổi theo thời cuộc, nhưng đa số vẫn chấp mê bất ngộ và gây ra những vấn nạn, tiếp tay cho các thế lực phản động, đặc biệt là những lùm xùm quanh vấn đề của hội nhà văn gần đây.  Cụ thể như thế nào thì xin mời mọi người đọc bài phân tích dưới đây.

Trong đợt lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp 1992 vào đầu năm 2013. Ngày 19/1, 72 nhân sĩ, trí thức ký tên đầu tiên vào “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”. Ngày 4/2/2013, đoàn 15 người do Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, dẫn đầu đã trực tiếp trao kiến nghị cùng một dự thảo Hiến pháp thay thế cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. 

Về thực chất, họ đề nghị bỏ Điều 4 của Hiến pháp 1992, tức điều xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Vì vậy, đề xuất này sẽ loại bỏ địa vị lãnh đạo độc quyền được Hiến pháp quy định cho ĐCSVN và mở khả năng cho cạnh tranh chính trị/đa đảng.  

Nhóm 72 cũng đề nghị bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không phải là “bỏ quyền quản lý quân đội của Đảng” theo nghĩa quản lý hành chính, mà là loại bỏ nguyên tắc hiến định về sự lãnh đạo/trung thành của lực lượng vũ trang đối với ĐCSVN. 

Vậy tại sao họ lại đòi hỏi như vậy thì hãy xét về bối cảnh thời điểm đó. 

Đầu những năm 2010, sức hấp dẫn của mô hình dân chủ đa đảng đang rất lớn. Đông Âu sau khi rời bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa đã có Ba Lan, Czech hay các nước Baltic hội nhập thành công vào Liên minh châu Âu. Indonesia sau cải cách chính trị năm 1998 vẫn giữ được tăng trưởng. Philippines bước vào giai đoạn kinh tế phát triển tương đối nhanh. Malaysia có nhiều đảng phái cạnh tranh nhưng vẫn duy trì vị thế của một nền kinh tế khá phát triển trong khu vực. Đặc biệt, làn sóng “Mùa xuân Ả Rập” năm 2011 lúc đó còn được không ít người nhìn như biểu tượng của dân chủ hóa.

Vì vậy ở năm 2013, những người thuộc nhóm 72 tin rằng chỉ cần thay đổi thể chế theo hướng đa đảng, tăng cạnh tranh chính trị thì đất nước sẽ phát triển nhanh hơn, quyền lực sẽ được kiểm soát tốt hơn và xã hội sẽ tiến gần hơn tới những quốc gia phát triển.

Nhưng lịch sử sau đó cho thấy mọi chuyện phức tạp hơn rất nhiều.

Mùa xuân Ả Rập, từng tạo ra nhiều kỳ vọng, đã dẫn Libya, Syria và Yemen vào những cuộc khủng hoảng kéo dài. Ai Cập sau cuộc cách mạng năm 2011 chưa đầy hai năm đã lại chứng kiến quân đội can thiệp vào chính trị. Ngay tại Đông Nam Á, Thái Lan - một quốc gia có hệ thống nhiều đảng và bầu cử cạnh tranh - xảy ra đảo chính quân sự năm 2014, chỉ một năm sau Kiến nghị 72. Những năm tiếp theo, chính trường Thái Lan tiếp tục trải qua hàng loạt cuộc khủng hoảng, thay đổi chính phủ và xung đột giữa các trung tâm quyền lực.

Indonesia và Philippines không rơi vào tình trạng đó, nhưng cũng không chứng minh được rằng đa đảng đương nhiên tạo ra một nền quản trị vượt trội. Indonesia vẫn phải đối diện với ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và giới tinh hoa chính trị. Philippines tiếp tục tồn tại tình trạng các gia tộc chính trị có ảnh hưởng rất lớn. Nói cách khác, lá phiếu cạnh tranh không tự động xóa bỏ tham nhũng, lợi ích nhóm hay bất bình đẳng quyền lực.

Trong khi đó, con đường mà Việt Nam lựa chọn sau năm 2013 lại cho một kết quả đáng chú ý.

Việt Nam không thay đổi chế độ chính trị theo đề xuất của nhóm 72, nhưng cũng không đóng cửa hay trì trệ. Trái lại, đất nước tiếp tục hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, tỷ lệ nghèo giảm mạnh và quy mô nền kinh tế Việt Nam liên tục được mở rộng.

Quan trọng hơn, trong một giai đoạn thế giới trải qua hàng loạt cú sốc - cạnh tranh Mỹ-Trung, đại dịch COVID-19, chiến tranh thương mại, xung đột địa chính trị và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng - Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định chính trị và khả năng hoạch định chính sách dài hạn. Chính sự ổn định đó đã trở thành một trong những yếu tố giúp Việt Nam hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.

Điều này đặt ra một câu hỏi lớn đối với tư duy của năm 2013: nếu việc duy trì một hệ thống chính trị một đảng tất yếu dẫn đến trì trệ, tại sao Việt Nam trong hơn một thập niên sau đó lại tiếp tục tăng trưởng nhanh, hội nhập sâu và nâng cao vị thế quốc tế?

Câu trả lời có lẽ nằm ở một sự thật mà lịch sử ngày càng cho thấy rõ: số lượng đảng chính trị không phải yếu tố duy nhất, thậm chí chưa chắc là yếu tố quyết định sự phát triển của một quốc gia.

Singapore là minh chứng điển hình. Quốc gia này có bầu cử nhưng một lực lượng chính trị thống trị trong nhiều thập niên, đồng thời vẫn xây dựng được một trong những nền kinh tế và bộ máy quản trị hiệu quả nhất thế giới. Ngược lại, không ít quốc gia có đầy đủ hệ thống đa đảng vẫn chìm trong tham nhũng, xung đột chính trị và phát triển trì trệ.

Điều quyết định hơn là năng lực của Nhà nước, chất lượng đội ngũ lãnh đạo, khả năng kiểm soát quyền lực, pháp quyền, giáo dục, chính sách kinh tế, khả năng chống tham nhũng và năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia.

Điều đó không có nghĩa mọi vấn đề mà nhóm 72 từng đặt ra đều vô nghĩa. Những câu hỏi về kiểm soát quyền lực, tham nhũng, trách nhiệm giải trình hay chất lượng thể chế vẫn là những vấn đề Việt Nam phải tiếp tục giải quyết. Không một hệ thống chính trị nào có thể coi mình là hoàn thiện và không cần cải cách.

Nhưng cải cách thể chế hoàn toàn không đồng nghĩa với việc nhất thiết phải chuyển sang đa nguyên, đa đảng.

Nhìn lại từ năm 2026, điểm yếu lớn nhất trong tư duy của nhóm 72 không nhất thiết nằm ở mong muốn đất nước tốt đẹp hơn, mà nằm ở việc đặt quá nhiều kỳ vọng vào một mô hình chính trị cụ thể. Lịch sử 13 năm qua cho thấy đa đảng không phải chiếc chìa khóa vạn năng cho phát triển, cũng không phải phương thuốc tự động chữa được tham nhũng hay kiểm soát quyền lực.

Việt Nam đã không lựa chọn con đường ấy năm 2013. Và thực tế sau hơn một thập niên cho thấy đất nước không những không rơi vào trì trệ như những dự báo bi quan, mà còn tiếp tục phát triển, hội nhập và củng cố vị thế quốc tế. 

Và lịch sử cũng chứng minh, lựa chọn thể chế nào còn phải phụ thuộc vào vị trí địa lý. Không một cường quốc nào chấp nhận thể chế đối nghịch ở ngay sát sườn lại còn nắm giữ vị trí quan trọng. Hãy nhìn vào thái độ của Nga với Ukraina, Của Mỹ với Cuba là có thể hiểu. Việt Nam nằm ở ngay cửa ngõ Đông Nam Á và ảnh hưởng đến lối ra Ấn Độ Dương. Trung Quốc đã bị án ngữ lối ra Thái Bình Dương bởi Đài Loan thì làm sao có thể chấp nhận Việt Nam theo thể chế tư bản. 

Không phải tự nhiên mà chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã từng đi khắp 5 châu 4 biển lại lựa chọn Xã hội chủ nghĩa làm con đường phát triển của dân tộc. Để giành lại độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Vậy cho nên các thành viên của nhóm 72 thân mến, không giúp được thì đừng chống phá. Còn nhiều cách khác để yêu nước./.
#QV-ST!

ÔNG CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGƯỜI CON ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC BAHNAR!

     “Bọn mày cứ đánh đập, tra khảo, cứ b.ắn tao đi chứ đừng để tao cúi đầu! Dân làng, vợ con tao không có tội, bọn mày không được h.ành hạ, tao làm tao chịu! Lời tuyên bố đanh thép ấy vang lên trong đêm tra khảo t.àn khốc đã mở đầu cho những giờ phút oanh liệt cuối cùng của Bok Wừu (Anh hùng Wừu), người con ưu tú của bộ tộc Bahnar.

Tháng 4/1952, trong đợt càn quét khốc liệt tại vùng cách mạng Pledekel, ông bị giặc bắt lần thứ ba. Biết ông là “linh hồn” của phong trào du kích với lắm mưu mẹo, quân Pháp liên tục tra khảo ông suốt nhiều đêm liền nhưng đành bất lực trước khí tiết sắt đá. Nhằm thị uy và đ.è bẹp tinh thần đấu tranh của nhân dân, quân giặc đã giải ông về làng sau những trận tra t.ấn d.ã man. Vừa về đến làng Tul Đoa, chúng t.rói chặt ông vào thân cây rồi ngang nhiên c.ắ.t mũi, xẻo tai và c.h.ặ.t đ.ứ.t mười đầu ngón tay trước sự bàng hoàng, h.ãi hùng của đồng bào.

Nào ngờ trước tội ác man rợ ấy, Bok Wừu vẫn kiên cường không khai dù chỉ nửa lời. Chẳng những thế, ông còn nhìn về phía dân làng dõng dạc dặn dò: “Tôi sẵn sàng nhận lấy cái c.h.ế.t để dân làng, vợ con tôi được sống, tôi nhất định không phản lại dân làng, vợ con, nhất định không đầu hàng! Đừng sợ, hãy c.ă.m t.h.ù và đoàn kết đấu tranh d.iệt cho hết lũ Ayat!” (b.ọn giặc cướp nước).

Khi tỉnh lại sau cơn xỉu, nhận thấy mình khó lòng sống tiếp, ông giả vờ khuất phục nhận dẫn đường cho quân Pháp tiến đánh căn cứ Kam Krin. Hàng trăm quân giặc hí hửng bám theo mà không hề biết mình đang bước vào t.ử địa. Đến đúng phân khu bị phòng dày đặc, lần lượt các tên lính Pháp liên tiếp sập xuống bãi hầm chông. Khi biết bị lừa, tên chỉ phụ trách đồn Pháp đ.i.ê.n cuồng và h.ằ.n học trong cay đắng. Chúng lôi ông xuống khe suối, dùng lưỡi lê c.h.ọ.c t.hủng đôi mắt rồi x.ả đạn s.át hại ông t.àn nhẫn. Đêm ấy, cả làng đẫm nước m.ắt, gạt đi đau thương đốt đuốc băng rừng đi tìm x.á.c ông; tiếng khóc nghẹn ngào hòa lẫn niềm cảm phục và lòng c.ă.m hờn ngút trời vang vọng khắp đại ngàn.

Người anh hùng ấy sinh năm 1905 tại làng Đê Đoa, tòa hành chính Kon Tum, tỉnh Pleiku Der (sau là xã Đắk Sơ Mei, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai). Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến cảnh dân làng bị áp bức đến tận xương tủy, lòng c.ăm thù giặc đã sớm nhen nhóm trong ngực trẻ người con đất núi. Năm 1939, ông là một trong những người đầu tiên tham gia phong trào chống bắt phu, bắt lính tại địa phương, trở thành cán bộ tuyên truyền tin cậy, vận động quần chúng ủng hộ cách mạng – ngọn lửa tiền đề mà sau này được tái hiện trong tác phẩm “Đất nước đứng lên”.

Khỏe như cây rừng và thoắt ẩn thoắt hiện như con sóc, Bok Wừu cùng dân làng gài hầm chông tiêu diệt “con heo Tây”, trực tiếp chỉ huy phục kích khiến các đồn bốt quanh vùng hoang mang cực độ. Giặc treo thưởng vô số bạc trắng và muối ngon nhưng không ai phản bội ông; chúng quay sang đ.ốt phá, bắt bớ phụ nữ và tr.ẻ em để ép ông ra hàng. Trước đợt bắt lần thứ ba, ông từng hai lần rơi vào tay giặc nhưng đều mưu trí trốn thoát ngoạn mục: lần đầu vào tháng 12/1950 khi nhảy khỏi xe áp giải lúc qua khúc cua hiểm trở để lao vào rừng sâu, và lần thứ hai vào tháng 01/1951 khi bị bắt tại cuộc họp ở bìa rẫy làng Thung nhưng lại lừa địch trốn thoát thành công rồi chính thức thoát ly ra căn cứ.

Sự hy sinh anh dũng của Bok Wừu không làm dân làng sợ hãi mà càng biến Đê Đoa thành “địa chỉ đỏ” kiên cường che chở cho bộ đội xuyên suốt hai cuộc kháng chiến. Bốn năm sau ngày ông đi xa, Bok Wừu được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì. Ngày nay, tên của ông đã được trân trọng đặt cho các ngôi trường, con đường tại Gia Lai, và câu chuyện về người anh hùng Bahnar “thà chết chứ nhất quyết không cúi đầu” sẽ mãi là niềm tự hào bất tử của đại ngàn Tây Nguyên.

Sự hy sinh oanh liệt của Anh hùng Bok Wừu là tượng đài vĩnh cửu về lòng kiên trung, khí tiết quật cường và tình yêu quê hương đất nước tha thiết của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Dẫu mười ngón tay bị ch.ặt đ.ứ.t, đôi mắt bị kh.o.ét đi, nhưng tấm lòng sắt son với Tổ quốc của ông vẫn “sáng như sao đêm”, trở thành ngọn đuốc soi đường cho bao thế hệ. Trân trọng và biết ơn sâu sắc trước những cống hiến, hy sinh vô bờ bến ấy, thế hệ trẻ hôm nay nguyện ghi nhớ bài học đắt giá về tinh thần yêu nước, từ đó không ngừng học tập, rèn luyện để góp sức xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.

Nếu cảm thấy xúc động và tự hào trước khí tiết kiên trung của Anh hùng Bok Wừu, hãy để lại suy nghĩ của bạn bên dưới bài viết nhé. Đừng quên theo dõi, đồng hành cùng Thanh Tân để tiếp tục đón đọc và lan tỏa những trang sử hào hùng của dân tộc! ❤️🇻🇳
#QV-ST!

TỘI ÁC TÀY TRỜI CỦA MỸ - NGỤY: TƯỚNG NGỤY NGUYỄN NGỌC LOAN - TAY SAI ĐẮC LỰC CỦA MỸ!

     Trong ảnh là giặc cỏ Nguyễn Ngọc Loan, cấp bậc thiếu tướng không lực VNCH, tên này độc ác, máu lạnh và tàn bạo bậc nhất của chế độ nguỵ quân nguỵ quyền. Hắn chính là kẻ đã rút súng lục bắn chết chiến sỹ đại uý biệt động SG Nguyễn Văn Lém ngay giữa phố vào ngày 1/2/1968 khiến cả thế giới phẫn nộ, kể cả những người dân Mỹ khi nhìn thấy bức ảnh này, tạo nên làn sóng phản chiến chưa từng có. Và chính hắn cũng là kẻ đã tra tấn đến chết đối với AHLLVTND đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo. Tội ác của hắn cũng gắn liền với việc đàn áp Phật giáo năm 1966 với sự hậu thuẫn của Nguyễn Cao Kỳ khi đó làm chủ tịch UB hành pháp. Thiệu và giới chủ Mỹ vốn không ưa Loan vì Loan theo Kỳ nên vào tháng 5/1968, 1 chiếc trực thăng UH1B đảo 1 vòng trên đầu đơn vị của Loan rồi nã rocket và xả đại liên xuống khiến Loan chỉ bị nát chân, may mắn thoát chết trong màn kịch lạc đạn. 4 viên đại tá thân tín của y là Lê Ngọc Trụ, Đào Bá Phước, Phó Quốc Chụ và Nguyễn Văn Luận cùng với 2 trung tá Nguyễn Ngọc Xinh, Nguyễn Bảo Thụy chết ngay tại chỗ.

Từ lúc bị bắn nát chân, Nguyễn Ngọc Loan bị thất sủng, chính thức giã từ sự nghiệp nhà binh tại đây. Khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, Nguyễn Ngọc Loan bị cho là bị Mỹ bỏ lại vì nghi ngờ có ý định cản trở cuộc di tản, nhưng sau đó nhờ các chiến hữu cũ, hắn ta cùng gia đình vẫn được đưa sang Utapao, Thái Lan và bị hàng ngàn người phản đối kịch liệt. Sang Mỹ, hắn ta tiếp tục đối mặt với yêu cầu trục xuất vì vụ bắn chết một người bị trói trên đường phố Sài Gòn. Cuối cùng, hắn ta được phép định cư tại Virginia và mở một tiệm pizza.

Đến năm 1991, quá khứ của Loan bị người dân địa phương phát hiện, phản đối, chửi rủa và tố cáo công khai. Thậm chí, có người còn vào nhà vệ sinh của tiệm và viết lên tường câu “We know who you are” (Chúng tao biết mày là ai). Ngày 14/7/1998, Nguyễn Ngọc Loan chết vì ung thư vòm họng tại Virginia, khép lại cuộc đời đầy tranh cãi gắn với hình ảnh hành quyết giữa đường phố Sài Gòn năm 1968./.


#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: XIN ĐỪNG TRAO TRỨNG CHO ÁC!

     Thưa các bạn! Hơn 40 năm qua, nền Giáo dục - Đào tạo (GD ĐT) nước ta đã phải trải qua rất nhiều khúc quanh co, trắc trở, nổi cộm những khó khăn, trì trệ; tồi tệ nhất là dưới thời ông Phùng Xuân Nhạ làm Bộ trưởng, đã đưa ra những thiết chế về quản lý, vận hành không phù hợp, kém hiệu quả, nên chất lượng GD - ĐT không tương xứng với sự đầu tư và kỳ vọng; trong đó có hệ lụy từ việc biên tập, xuất bản sách giáo khoa không đồng bộ, thiếu thống nhất, kém chất lượng, xa rời thực tiễn.

Kể từ năm 1982 đến 2025, ngành GD ĐT liên tục thay đổi phương thức quản lý, điều hành, nội dung giảng dạy và thay đổi sách giáo khoa. Một học sinh qua 12 năm học (từ lớp 1 đến lớp 12), mà phải vài lần thay đổi sách giáo khoa, vài lần thay đổi quan niệm và phương thức học tập, thì không thể tránh được hệ lụy xấu.

Bức xúc nhất là việc liên tục thay và phát hành cùng lúc nhiều loại sách giáo khoa, cứ tưởng rằng những “cải cách” ấy là hay, là tốt, nhưng kết quả đem lại rất tệ, chỉ béo bở cho các “nhóm lợi ích”. Năm 2020 Bộ GD & ĐT, đứng đầu là Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã chọn những người “có vấn đề về quan điểm chính trị” nằm trong nhóm “72 nhân sỹ, trí thức”, mà người dân hay gọi là “những kẻ trở cờ, phản đảng” đó là ông Nguyễn Minh Thuyết làm Chủ biên - Tổng chủ biên, ông Trần Đình Sử làm Chủ tịch hội đồng thẩm định, ông Đỗ Ngọc Thống thành viên biên soạn và cho họ xuất bản, rồi đưa bộ sách giáo khoa Cánh Diều đầy tai tiếng vào sử dụng.

Chúng ta ai cũng biết, ông Nguyễn Minh Thuyết, ông Hồ Ngọc Đại, ông Trần Đình Sử, ông Đỗ Ngọc Thống..... là những thành viên trong “Nhóm 72” phản đối thể chế đơn Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN, đòi thực hiện đa Đảng đối lập, đa nguyên chính trị ở nước ta đòi thay đổi tên nước, tên Đảng Trung lập hóa LLVT Năm 2020, ông Trần Đình Sử thể hiện chống đối sự lãnh đạo của Đảng CSVN rất kịch liệt: Trong một bài phát biểu, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “…Tiềm lực, tiền đồ, vị thế và uy tín của dân tộc, của đất nước ta chưa bao giờ tươi đẹp, vẻ vang như hôm nay…”. Thì hôm sau ông Trần Đình Sử lên FB viết dòng trạng thái “...Trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam, chưa có chế độ chính trị nào thối nát như chế độ chính trị hiện nay…”.

Vì có quan điểm chính trị trái ngược với Đảng, Nhà nước ta, nên nội dung trong bộ sách giáo khoa Ngữ văn tiếng việt do ông Thuyết chủ biên, ông Thống Biên tập, ông Sử thẩm định, đưa vào giảng dạy, không có bài nào ca ngợi chế độ ưu việt của thể chế chính trị của nước ta, không ca ngợi truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, nhất là những tấm gương cách mạng quật cường trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước, không có bài nào ca ngợi Đảng CSVN, ca ngợi QĐND và CAND, không ca ngợi những thành tựu lớn lao của toàn Đảng toàn dân toàn quân ta giành được trên chặng đường đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập tự do, xây dựng, phát triển đất nước...; mà toàn mượn những truyện ngụ ngôn xa lạ của nước ngoài (chủ yếu là của Tây Âu) vào in ấn, giảng dạy, rất lạc lõng, vô bổ; đặc biệt là họ còn đưa trích đoạn các tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Thiên Mã” của Hà Thủy Nguyên, những người có tư tưởng đen tối vào sách giáo khoa để giảng dạy. Sách giáo khoa ngữ văn Cánh Diều của ông Thuyết, ông Sử góp phần dẫn dắt nhận thức, làm cho thế hệ trẻ sống thực dụng, phai nhạt lý tưởng, xa rời truyền thống văn hóa chân thiện mỹ của dân tộc. Có chăng các thế lực thù địch và chống đối Đảng, Nhà nước, chống đối thể chế chính trị định hướng XHCN ở nước ta đã len lỏi, trà trộn, cài cắm vào bộ máy quản lý, điều hành để phá hoại hệ thống GD - ĐT, lung lạc thế hệ trẻ?.

Nhận rõ nguy hại trên, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã có ý kiến chỉ đạo Bộ GD ĐT phải nghiêm túc rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, sửa đổi công tác quản lý, điều hành và chỉ đạo chuyên môn; phải biên tập, xuất bản sách giáo khoa sao cho phù hợp và chất lượng. 

Từ năm học 2026 - 2027, Đảng, Chính phủ có chủ trương và kế hoạch chiến lược, nhằm kiện toàn, củng cố, phục hưng nền Giáo dục; trong đó nhất quán cả nước chỉ biên tập, xuất bản 1 bộ sách giáo khoa thống nhất, đảm bảo chuẩn mực, chất lượng; đây là quan điểm đúng đắn. 

Đề nghị Đảng, Chính phủ cần phải chọn mặt gửi vàng, tiến cử những cán bộ, chuyên gia trung thành với đảng, tổ quốc, những người có tầm, có tâm, mang trong trái tim bầu nhiệt huyết cách mạng, để giao cho các trọng trách lãnh đạo, quản lý, điều hành hệ thống tổ chức ngành GD&ĐT từ cấp Bộ tới tỉnh, xã và các trường, lớp, để thực hiện thành công, tốt đẹp nhiệm vụ cao cả của ngành GD&ĐT. Cần phải quan tâm đặc biệt đến công tác biên tập, xuất bản sách giáo khoa; đảm bảo đổi mới, phát triển trến cơ sở kế thừa những tinh hoa, thành tựu đã có; tiên tiến nhưng vẫn giàu bản sắc, văn hiến của dân tộc. Làm cho sách giáo khoa không chỉ là công cụ, phương tiện giảng dạy kiến thức chuyên môn, mà còn là nơi nuôi dưỡng, chăm chút, hun đúc cho các cháu học sinh thế hẹ tương lai của đất nước vừa hồng vừa chuyên, sống có lý tưởng, hoài bão; thắp lên trong tâm hồn các cháu tình yêu cuộc sống, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu Đảng, yêu kính Bác Hồ, niềm tự hào và tự tôn dân tộc; biết phấn đấu, lao động sáng tạo, sẵn sàng cống hiến, hy sinh. có đức rộng tài cao, kế tục truyền thống vẻ vang của ông cha, bảo vệ, xây dựng, phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh; làm cho dân tộc ngày càng rạng rỡ, huy hoàng”.

Việc biên tập, thẩm định, xuất bản sách giáo khoa xin đừng trao trứng cho ác!”.

Trên đây là niềm trăn trở và ý kiến của cá nhân tôi. Nếu đúng thì mong các bạn ủng hộ, đồng hành; nếu có gì chưa phải mong các bạn vị tha. 

Trân trọng cảm ơn!
Bài và ảnh của CCB Đỗ trọng Lân.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: “XIN HỎI BÁC BỘ TRƯỞNG NHỮNG HÌNH ĐÃ CHỤP LẠI TRÊN TRANG THONG TIN CÓ LÀ THẬT KO BÁC”!

     Cùng quan điểm và ủng hộ nội dung bài viết của tác giả.
B. Dục ơi là dục 
Buồn ơi là buồn 
Tức ơi là tức 
Căm ơi là căm!

Hôm qua, tôi thấy thông tin này được BGD đăng tải, tuy nhiên không thể vào bình luận được, bởi BGD đã giới hạn tương tác.

Xét cho công tâm với ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền lợi xây dựng và bảo vệ đất nước của mỗi người dân Việt Nam: Tôi không phản đối việc học tiếng Anh, bởi tiếng Anh cũng chỉ là một ngoại ngữ, việc học tiếng Anh cũng cần thiết để xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam vững mạnh; tuy nhiên tiếng Anh không thể là ngôn ngữ thứ hai trong trường học; bởi: ở lứa tuổi mầm non và tiểu học các cháu còn quá nhỏ, tuổi này không thể cõng thêm môn ngoại ngữ “Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trong trường học”, vì ở cấp tiểu học, nhiều trẻ cần được học rành tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ) và ở tuổi này cũng rất cần tập viết, tập nhận mặt chữ cái tiếng Việt và thông thạo chữ số tiếng Việt, trẻ ở độ tuổi này cần phải tập trung cho đọc thông, viết thạo, trẻ độ tuổi này chưa phải tuổi đi làm việc để giao tiếp bằng tiếng Anh, khi học lên bậc THCS hoặc THPT thì có thể có thêm môn ngoại ngữ: Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Nga, Đức, Hàn, Nhật,... vv...; Việt Nam ta hội nhập là để phát triển kinh tế và..., khi các bạn học sinh đã trưởng thành (vào đại học) hoặc làm bất cứ công việc gì cần thiết phải thông thạo ngoại ngữ (tiếng Anh) khi đó cần bắt buộc phải rèn luyện thêm ngoại ngữ và học tốt tiếng Anh...để đảm bảo đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ...; chứ không thể “tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trong trường học”. Cần phải có quyết sách đúng đắn và phù hợp, thực tế trẻ độ tuổi mầm non và tiểu học ở một số địa phương cho học tiếng Anh quá sớm, khi ở trường học cả ngày cứ giao tiếp tiếng Anh trong khi tiếng Việt trẻ còn chưa sõi... khi tan học về ở nhà, ông bà, cha mẹ, xóm phố giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt (tiếng mẹ đẻ) thì trẻ cứ ngơ ngác và NO NO NO..., vậy mọi người và quý bộ GD&ĐT thấy thực trạng này lợi hay hại..., tốt hay không tốt...?! phá hay xây, học cái hay thì chưa thấy đâu... mà ở tuổi trẻ nhỏ như này là chưa cần thiết vi trẻ dễ phân tâm và chưa thực sự phân biệt được phải, trái, đúng, sai...; rất mong Quý BGD cần phải biết cầu thị và nhìn nhận thấu hiểu được thực trạng để xây và trồng người cho phù hợp (thành tích xuất sắc trong tiếng Anh (là ngôn ngữ thứ hai trong trường học) không biết có làm cho đất nước và dân tộc Việt Nam ta được trường tồn và phát triển đúng hướng, “tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai trong trường học” có đảm bảo để giữ gìn và phát huy đậm nét bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Việt, bởi: "văn hóa còn - dân tộc Việt còn" . Ý Đảng cần phải hợp lòng dân./.

#QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: GỬI NHÀ VĂN HÀ THUỶ NGUYÊN!

     Bài đã gửi đến Tổng Biên tập Báo Cựu Chiến binh Việt Nam. Mong được bà con quan tâm và chúc an vui cuối tuần nhé!

Vì các cơ quan chức năng chưa có kết luận, theo tuổi tác và tập quán văn hóa người Việt, tôi xưng “chú - cháu” với Hà Thuỷ Nguyên trong Status này.

Cách nay đúng 1 tuần, chú đăng bài trên Báo Cựu chiến binh Việt Nam: Ngăn chặn “rác phẩm” văn học nghệ thuật. Trong nội dung, bài báo nói chủ yếu về cháu. Ba ngày sau khi báo phát hành, chú nhận được bức thư cháu gửi cho Tổng Biên tập yêu cầu đính chính, thực chất là cháu muốn lấp liếm, chối tội (chú nói “tội” dưới góc độ đạo đức). Những điều cháu viết trong thư, chú đã giải thích và cung cấp bằng chứng đầy đủ cho Tổng Biên tập báo làm rõ các vấn đề cháu nêu trong thư.

Thứ nhất, cháu cho rằng chú “sử dụng thông tin chưa xác minh trên mạng xã hội”, tức thông tin thất thiệt bịa đặt tấn công cháu để viết bài phê phán vu oan gây hoạ cho cháu! Điểm này thì cháu nhầm to, vì chú đã lưu đầy đủ những gì cháu đăng ở Facerbook cá nhân và trên trang Book Hunter. Việc lưu trữ đó vừa làm tư liệu viết bài, vừa là bằng chứng nếu liên quan đến pháp lý. Chú biết cháu đã xóa hầu hết thông tin đăng trên mạng, nhưng không thể xoá được dấu vết. Cộng đồng chỉ biết cuốn Hoàng hôn của các vị thần có 17 chương. Riêng chú biết là cuốn sách có tới 19 chương và chú đã lưu đầy đủ.

Thứ 2, cháu nói cháu không dịch bài báo của Olga Dror: “Thiết lập tín ngưỡng Hồ Chí Minh: truyền thống Việt và sự biến tướng” (Establising Ho Chi Minh's Cult: Vietnamese Traditions), mà nói là tác giả khác! Chú có bằng chứng là cháu dịch và còn nói rất tệ về Lãnh tụ (ảnh dưới). Cháu nói: “Không phải mình viết đâu nha! Chỉ là đang dịch vội một bài nghiên cứu về tín ngưỡng ông Hồ ở Việt Nam thôi”. Thế đấy!

Thứ ba, cháu nói không xuất bản cuốn “Văn hóa đại chúng & tương lai dân trí tại Việt Nam”. Chú thừa nhận đó chỉ là chủ đề của các buổi tọa đàm dưới sự dẫn dắt của cháu trên mạng. Điểm này cần đính chính. Bài báo chú phê phán cháu bôi nhọ, hạ bệ Lãnh tụ Hồ Chí Minh, báng bổ Thánh Thần, xuyên tạc lịch sử, cách mạng, thể chế chính trị đất nước nằm chủ yếu trong cuốn “Hoàng hôn của các vị thần” gồm 19 chương. Cộng đồng đa phần biết 17 chương thôi. Trong cuốn này thì sự bôi nhọ, xuyên tạc của cháu về Chủ tịch Hồ chí Minh, chế độ chính trị XHCN so với cuốn sách “Chuyện với Thanh - lời kể mới về ánh sáng” của Nguyễn Thành Nam thì độ bỉ ổi của cháu có độ đậm hơn nhiều. Trong bài báo, chú trích vài dòng thôi để bạn đọc đỡ “sốc”. Ngoài tác phẩm này, cháu còn xuyên tạc ở nhiều bài viết và tác phẩm khác nữa. Chẳng hạn, cháu phỉ báng thậm tệ Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; trong bài "Tản mạn về truyền thuyết “rùa thần” ở hồ Hoàn Kiếm, cháu đã “tâm linh hóa chính trị” một cách ma mị rằng, cái chết của “linh vật” (cháu gọi rùa Hồ Gươm là con “giải Thượng Hải”) trước Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam, báo hiệu sự diệt vong của chế độ XHCN...

Thực tình, chú không nghĩ là sau khi đọc bài báo, cháu sẽ gửi thư cho Tổng Biên tập đâu, mà nghĩ cháu sẽ nhanh chóng xóa nội dung, khóa trang Web, tiêu hủy dấu vết rồi kiện chú ra tòa đó! Vì thế chú đã lưu trữ đủ tư liệu làm bằng chứng cháu ạ.

Lời kết: chú là một người lính có cả chục năm chiến đấu ở chiến trường, chứng nhân của bao hy sinh mất mát... Chú rất quý trọng cuộc sống hòa bình hôm nay. Chú buồn khi thấy cháu là cây bút ít nhiều có tài, song lòng không sáng, tâm hồn vần đục, khuyết tật, bị các thế lực bỉ ổi chốn trần tục, hắc ám chốn tâm linh dẫn dắt. Hy vọng tuổi đời còn trẻ, còn gia đình, con cái, chú mong cháu sớm tỉnh ngộ, đừng sa bùn lầy thêm nữa.
Chào cháu!

Ảnh: 1 bằng chứng về Hà Thuỷ Nguyên.
Tg: Nguyên Hà-PGS, TS triết học.
#QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: TÌNH HÌNH VỀ HÀ THUỶ NGUYÊN!

     Sau một số bài, Nguyên Hà viết về hiện tượng Hà Thuỷ Nguyên: "Ngăn chặn "rác phẩm" văn học nghệ thuật", "Gửi nhà văn Hà Thuỷ Nguyên"... Status này xin thông báo đến anh chị em - cộng đồng yêu nước chân chính, Nguyên Hà tạm dừng để quan sát, theo dõi, thẩm định tiếp về tác giả này.

Sở dĩ tạm ngưng là bởi, mấy ngày nay, Nguyên Hà đã nhận được nhiều cuộc gọi, tin nhắn của người lạ (tự xưng là văn nghệ sĩ, cán bộ này nọ) đề nghị không viết về Hà Thuỷ Nguyên nữa, với lý do họ đưa ra là tác giả là "hư cấu nghệ thuật!" hoặc có sai sót do nhận thức chính trị nhưng đã thay đổi!?!... Còn chồng của Hà Thuỷ Nguyên (Nam Lê) nhắn qua Messenger nói là "muốn giải thích về sự hiểu lầm nào đó!" (Nguyên Hà không kết nối). Đặc biệt Hà Thuỷ Nguyên đã trực tiếp gọi điện thoại cho Nguyên Hà trình bày "thông tin cháu khởi kiện chú là thông tin thất thiệt"; khẳng định mình là "người yêu nước, tôn trọng lịch sử, thành quả cách mạng, có bố sinh năm 1939, từng tham gia thanh niên xung phong trong kháng chiến giành độc lập dân tộc...".

-> Nguyên Hà trả lời rõ: chú cảm ơn và ghi nhận cuộc gọi. Chú tiếp tục theo dõi, đối chiếu lời cháu nói với thực tế việc làm xem có đúng không! Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về phương pháp tự phê và phê bình là: "Phê bình việc chứ không phê bình người".

Anh chị em ạ! Theo đó, dù Hà Thuỷ Nguyên có thanh minh thế nào thì những gì mà tác giả đã làm, Nguyên Hà lưu trữ được trên trang Facerbook cá nhân và trên Book Hunter cùng các mối quan hệ của Hà Thuỷ Nguyên với nhiều đối tượng phức tạp về chính trị như "nhóm 72", "văn đoàn độc lập"... không thể không đặt ra nghi vấn!?! Những việc làm đó đã nói lên thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả là người như thế nào. Bởi, "quan điểm về đời sống, về thực tiễn luôn là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức". Những điều Hà Thuỷ Nguyên sử dụng các thủ pháp văn học nghệ thuật, núp bóng "đa chiều", "tâm linh", "khai phóng - sáng tạo" phỉ báng, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; viết báng bổ Thần Thánh trong truyền thuyết dân gian Việt Nam và các nhân vật lịch sử khác; viết xuyên tạc về các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất non sông; viết phủ định thể chế chính trị XHCN, với tư tưởng "khai phóng" kích động lớp trẻ "thoát ly" khỏi ý thức hệ mà ông cha đã theo đuổi để giành, giữ độc lập dân tộc, đưa đất nước đi theo con đường XHCN... Đó là tấm gương phản chiếu chân thực thế giới quan, nhân sinh quan, là sự hiện thực hóa trong sáng tác của tác giả. Đã bao người từng nói, tác phẩm là sự "dứt ruột đẻ ra", là đứa con tinh thần của nhà văn.

Với lý do trên, Nguyên Hà tạm dừng để theo dõi xem Hà Thuỷ Nguyên chứng minh mình là ai? Có phải đã thay đổi thực sự hay không, để có quan điểm đánh giá và thái độ tiếp theo...
Tg: Nguyên Hà-PGS, TS triết học.
#QV-ST!

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

BẢN CHẤT THẬT SỰ SAU ÁNH HÀO QUANG "NOBEL VĂN HỌC" VÀ SỰ THA HÓA CỦA MỘT BỘ PHẬN VĂN NGHỆ SĨ VIỆT NAM!

     Nhiều thập kỷ qua, hai giải thưởng Nobel Hòa bình và Nobel Văn học luôn được bao phủ bởi một ánh hào quang đạo mạo, được tụng ca như đỉnh cao của các giá trị nhân văn toàn cầu. Thế nhưng, nếu chúng ta lột trần lớp vỏ bọc hoa mỹ ấy, sẽ thấy một thực tế nghiệt ngã: Đây thực chất là những công cụ chính trị tinh vi, nơi Mỹ và phương Tây ban phát quyền lực mềm để định hình tư duy và phục vụ lợi ích địa chính trị ích kỷ của chúng.

Đáng buồn thay, ánh hào quang giả tạo ấy lại đang trở thành thứ "bả độc", làm tha hóa một bộ phận người cầm bút tại Việt Nam, biến họ thành những kẻ bồi bút mục ruỗng, tự đánh mất thiên chức cao quý của văn chương.

1. Nobel Hòa bình và Văn học: Những quân bài địa chính trị của phương Tây 

Bản chất của giải Nobel Hòa bình, Nobel Văn học từ lâu đã không còn giữ được sự thuần khiết ban đầu. Được quyết định bởi Ủy ban Nobel Na Uy gồm các cựu chính trị gia phương Tây, giải thưởng này liên tục bị biến thành thứ vũ khí ngoại giao để răn đe các quốc gia không phục tùng ý chí của Mỹ và đồng minh. 

Lịch sử đã chứng minh, năm nào Hoa Kỳ muốn gia tăng áp lực lên Nga, Trung Quốc hay Iran, thì y như rằng năm đó giải Hòa bình được trao cho các nhân vật bất đồng chính kiến ngay trong lòng các nước này (như trường hợp năm 1989, 2010 hay 2022). 

Đỉnh điểm của sự mỉa mai là năm 2009, khi cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama được vinh danh Nobel Hòa bình khi vừa nhậm chức vài tháng và chưa có bất kỳ đóng góp thực tế nào cho hòa bình thế giới, ngoài việc tiếp tục các chiến dịch quân sự tại Trung Đông.

Tương tự, giải Nobel Văn học do Viện Hàn lâm Thụy Điển dẫn dắt cũng không nằm ngoài vòng xoáy chính trị hóa. Văn chương muốn lọt vào mắt xanh của các vị giám khảo da trắng không thuần túy dựa trên giá trị nghệ thuật, mà phải lồng ghép các tư tưởng "độc hại đúng chuẩn phương Tây": bôi đen thể chế, phủ nhận các giá trị truyền thống, hoặc đào sâu vào mặt tối của các nước xã hội chủ nghĩa. 

Các trường hợp lịch sử, điển hình như cuốn Bác sĩ Zhivago (1958) hay các tác phẩm của Aleksandr Solzhenitsyn (1970) được vinh danh không chỉ vì giá trị văn học, mà vì chúng đóng vai trò như những mũi tên tâm lý chiến sắc lạnh tấn công trực diện vào đối thủ của Mỹ (tức Liên Xô) ở thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

2. Hệ thống giải thưởng phương Tây: Những "chiếc bánh vẽ" tôn vinh sự phản bội.

Không chỉ dừng lại ở giải Nobel Văn học, các thế lực phương Tây đã thiết lập một hệ thống giải thưởng văn chương chằng chịt, mang danh nghĩa "tự do ngôn luận", "nhân quyền" hay "hòa giải" để hợp thức hóa việc tài trợ và hà hơi tiếp sức cho các thành phần chống phá. Khi lột trần động cơ của các tổ chức này, người ta dễ dàng nhận ra công thức chung: Tác phẩm càng bôi nhọ đất nước, càng phủ nhận thành quả cách mạng thì giải thưởng càng lớn. Mình lấy ví dụ.

- Giải PEN Quốc tế (PEN International Awards): Tổ chức này liên tục vinh danh những kẻ nhân danh "nhà văn, nhà báo độc lập" tại các quốc gia đang phát triển. Thực chất, giải thưởng của PEN là một dạng "bảo hiểm chính trị", biến những kẻ vô danh, bất tài ở quê nhà thành "biểu tượng bị đàn áp" ngay khi chúng bắt đầu có các hoạt động chống phá Nhà nước.

- Giải Tự do Xuất khẩu Jeri Laber (Mỹ) hay Giải Hermann Kesten (Đức): Đây là những cái bẫy tài chính lộ liễu. Tiêu chí hàng đầu của các giải này không nằm ở nghệ thuật ngôn từ, mà nằm ở mức độ "gây hấn" của tác giả đối với thể chế chính trị hiện hành.

Trường hợp của Cao Hành Kiện (Nobel Văn học 2000) và Mạc Ngôn (Nobel Văn học 2012) là những minh chứng sống động nhất. Viện Hàn lâm Thụy Điển đã phơi bày sự thiên vị chính trị trắng trợn qua hai trường hợp này. Cao Hành Kiện được trao giải ngay sau khi rời bỏ Trung Quốc và viết những tác phẩm chỉ trích trực diện chính quyền Bắc Kinh. Trong khi đó, dù Mạc Ngôn là một cây bút có thực tài, nhưng phương Tây chọn vinh danh ông vào năm 2012 chủ yếu vì các tác phẩm của ông (như Báu vật của đời, Đàn hương hình) đã lột tả những góc tối tăm, khắc nghiệt và nghèo đói của xã hội Trung Quốc giai đoạn trước, đúng với những gì truyền thông phương Tây muốn rêu rao.

3. Sự bất tài tiến hóa thành phản động và hội chứng "đi tù để sang Mỹ"

Chính bộ lọc thượng đẳng và đầy tính định hướng ấy của phương Tây đã dung túng, sinh ra một hiện tượng nhức nhối trong giới viết lách: Xu hướng chống đối để cầu vinh.

Bản chất cốt lõi của văn chương chân chính là sự kết tinh của tư tưởng lớn và nền tảng triết học sâu sắc. Khi một bộ phận người viết hoàn toàn bất tài, không có thực lực để tạo nên những tác phẩm lay động lòng người, họ lựa chọn con đường tắt đen tối: Làm phản động. Họ cay cú, quay lưng lại với nhân dân, ra sức viết lách chống phá, bóp méo sự thật lịch sử để đổi lấy sự chú ý của các quỹ văn hóa, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Đối với họ, việc bôi nhọ chính quê hương mình là tấm hộ chiếu nhanh nhất để được phương Tây dán nhãn "nhà văn quả cảm" hay "ngọn hải đăng tự do".

Chiêu bài này phối hợp nhịp nhàng với chiến lược "nhặt rác" của đám diều hâu ở Washington. Bằng việc kích động các phần tử này to mồm chống đối để rồi vướng vào vòng lao lý, nước Mỹ mở sẵn một lối thoát mang tên "tị nạn chính trị". 

Nhưng cái kết của sự phản bội chưa bao giờ là sự viên mãn. Khi đặt chân đến "miền đất hứa" với vốn liếng tiếng Anh bập bẹ và một tâm hồn trống rỗng, những kẻ nhân danh văn sỹ ấy nhanh chóng bị vứt ra lề xã hội, phải làm những công việc chân tay cực nhọc để mưu sinh qua ngày. Ví dụ như nhặt rác này, bưng phở này, làm móng làm nail, hay thợ hồ chả hạn ...

Dù vậy, đối với những kẻ lười lao động nhưng ngu dốt, ham danh vọng, đây vẫn là một phép tính kinh tế béo bở. Không có hàng tỷ đồng để di cư hợp pháp, không đủ sức khỏe để vượt biên trái phép, họ chọn cách: Đi tù vài năm tại quê nhà để đổi lấy một suất bay sang Mỹ miễn phí. Một bi kịch của sự hèn nhát và cơ hội, ẩn núp dưới danh nghĩa lý tưởng cao đẹp.

4. Vết trượt của "Nỗi buồn chiến tranh" và bài học về sự lợi dụng của truyền thông phương Tây

Tại Việt Nam, trường hợp của tay bồi bút phản trắc Bảo Ninh và rác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (tên gốc: Thân phận của tình yêu) chính là một ví dụ điển hình, để lại bài học xương máu về việc một tác phẩm văn học bị phương Tây "bóp méo" và biến thành công cụ chính trị như thế nào.

Ở 1 góc độ nào đấy, chính nỗi buồn chiến tranh khi mới ra đời là một thể nghiệm lập ngôn mới về góc khuất của người lính sau cuộc chiến. Tuy nhiên, bằng ngòi bút phản trắc và giọng văn ngáo ngơ của mình, Bảo Ninh đã mặc sức bôi nhọ hình ảnh thiêng liêng của người bộ đội Cụ Hồ. Vậy nên, Mỹ và phương Tây đã nhắm đến nó và biến rác phẩm này thành một mầm độc để lây lan, tàn phá nền văn chương Việt Nam. Ngay khi Nỗi buồn chiến tranh được dịch sang tiếng Anh và các ngôn ngữ phương Tây, các hội đồng giải thưởng quốc tế đã lập tức chộp lấy nó như một "báu vật". Họ trao tặng cho tác phẩm này Giải thưởng Văn học dịch Independent (Anh) năm 1994 và Giải thưởng Văn học châu Á Nikkei (Nhật Bản) năm 2011.

Tại sao phương Tây lại sùng bái Nỗi buồn chiến tranh đến thế? Đơn giản là vì cuốn sách đã chạm đúng vào mưu đồ truyền thông của họ: Thay vì tôn vinh cuộc chiến đấu chính nghĩa, anh hùng của quân và dân ta để giành độc lập dân tộc, tác phẩm lại đậm đặc sự rệu rã, bi lụy, tuyệt vọng và những chấn thương tâm lý kéo dài. Phương Tây đã triệt để lợi dụng, ca ngợi cuốn sách này để thực hiện chiến dịch "xét lại lịch sử", biến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại thành một bi kịch vô nghĩa, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa kẻ đi xâm lược và người vệ quốc.

Bi kịch lớn hơn nằm ở chỗ, thay vì tỉnh táo nhận ra âm mưu phi chính trị hóa quân đội, phi chính trị hóa cuộc chiến tranh nhân dân của ngoại bang, Hội Nhà văn Việt Nam, đặc biệt là dưới thời của những kẻ "ăn bả Tây" như Nguyễn Quang Thiều lại hùa theo luồng truyền thông đó. Chúng, những gã quái thai ăn phải bả Tây đó đồng lòng tung hô rác phẩm này lên hàng "kiệt tác", biến một cuốn tiểu thuyết mang cái nhìn bi quan, một chiều thành một thứ khuôn mẫu cho thế hệ trẻ. Sự tha hóa, nhu nhược của ban lãnh đạo Hội đã khiến họ không còn đủ sức đề kháng để bảo vệ tính chính nghĩa của văn học cách mạng, vô tình tiếp tay cho các thế lực thù địch hạ bệ chính những giá trị thiêng liêng mà thế hệ cha anh đã phải đổi bằng xương máu.

5. Bản án cho Hội Nhà văn và sự tha hóa mang tên Nguyễn Quang Thiều 

Nhìn vào bức tranh văn học nước nhà hiện nay, công chúng không khỏi đau xót và phẫn nộ trước sự bất lực, nhu nhược, thậm chí là đồng lõa của Hội Nhà văn Việt Nam, dưới sự dẫn dắt của cựu Chủ tịch Nguyễn Quang Thiều. Là cơ quan đại diện cho nền văn học nước nhà, Hội Nhà văn đáng lẽ phải là bức tường thành vững chãi bảo vệ tư tưởng, định hướng thẩm mỹ lành mạnh và khơi dậy tinh thần yêu nước trong mỗi trang viết. Thế nhưng, tổ chức này đang cho thấy sự mục ruỗng từ bên trong.

Dưới thời của Nguyễn Quang Thiều, người ta chỉ thấy một bầu không khí bệ rạc, nơi những giá trị thực tài bị gạt sang một bên để nhường chỗ cho những tư duy lệch lạc, những buổi tung hô sáo rỗng. Bản thân người đứng đầu và ban lãnh đạo Hội đã không đủ bản lĩnh, không có những tác phẩm xứng tầm với tầm vóc của thời đại, lại mang tâm lý tự ti trước văn hóa phương Tây. Họ vô hình trung ăn phải thứ "bả" dân chủ giả hiệu, dung túng cho những tư tưởng lai căng, nhắm mắt làm ngơ trước những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của các hội viên.

Vì thực tài không có, nhiều kẻ nhân danh văn nghệ sĩ trong bộ máy này đã dần biến chất. Chúng trượt dài trên con đường tha hóa, vừa bị các thế lực thù địch lợi dụng làm công cụ tinh vi để chống phá Đảng và Nhà nước trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, vừa tự biến mình thành những gã bồi bút mục ruỗng. Chúng viết không vì nhân dân, không vì sự phát triển của dân tộc, mà viết theo đơn đặt hàng, viết để vuốt ve cái tôi ích kỷ và tìm kiếm sự thừa nhận từ bên ngoài. Đó là một nỗi nhục lớn của văn chương, một vết nhơ khó rửa sạch khi những người cầm bút, vốn được coi là kỹ sư tâm hồn, lại chủ động bán rẻ lương tri để làm tay sai cho ngoại bang.
---------
Các bạn ạ. Văn chương chân chính phải bắt rễ từ lòng đất mẹ, thấm đẫm hơi thở của nhân dân và phụng sự cho đại nghĩa của dân tộc. Hệ thống giải thưởng văn chương phương Tây thực chất chỉ là một mặt trận tâm lý chiến không tiếng súng. Từ những giải thưởng lớn như Nobel cho đến các giải thưởng dịch thuật hay nhân quyền, tất cả đều phục vụ cho mục đích tối thượng: Đồng hóa tư duy và xóa bỏ bản sắc chiến đấu của các dân tộc độc lập.

Việc một bộ phận văn nghệ sĩ, cùng sự tiếp tay của Hội Nhà văn dưới quyền Nguyễn Quang Thiều, mê muội chạy theo những hư danh này là một biểu hiện sắc nét của sự suy thoái tư tưởng. 

Đã đến lúc văn học nước nhà cần nhìn thẳng vào sự thật, kiên quyết thanh lọc những tế bào mục ruỗng, trả lại sự trong sạch và đanh thép cho ngòi bút, để văn học Việt Nam thực sự là vũ khí sắc bén bảo vệ chế độ và nâng đỡ tâm hồn con người, chứ không phải là nơi dung dưỡng cho những kẻ cơ hội, bán nước cầu vinh.
Cám ơn tất cả các bạn!
#QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: SỰ RA ĐỜI CỦA CÁI GỌI LÀ “CHẾ ĐỘ VNCH”!

     VNCH là bộ náy lắp ráp bằng phế liệu chiến tranh. Cụ thể như sau:
1/ Trước năm 1955, làm gì có cái VNCH, cờ vàng 3 sọc đỏ cũng không phải do VNCH và Mỹ vẽ ra. Cờ vàng 3 sọc là của tổ chức Etat du VietNam/ CP Quốc gia VN (QGVN) do quân Pháp lập ra năm 1949, khi Pháp trở lại xâm lược Việt Nam (từ 1945-1954). Pháp phong cho Bảo Đại (đã thoái vị) làm quốc trưởng; lấy mẫu cờ vàng 3 sọc xanh của nước Nam kỳ tự trị do Dargenlieur lập ra ở Nam Kỳ đổi 3 sọc xanh thành 3 sọc đỏ làm quốc kỳ. Ăn cắp bản nhạc “Tiếng gọi thanh niên” Lưu Hữu Phước (của đảng viên ĐCSVN) chế lời thành “Này công dân ơi” làm quốc ca.

Năm 1954, quân Pháp bị đánh bại, Mỹ vào thay Pháp, đưa Ngô Đình Diệm đang ở Mỹ (do Tòa thánh Vatican và Hồng y Giáo chủ Spellman nuôi ở New York từ năm 1945) về Sài Gòn làm thủ CP QGVN, gày 7.7.54. Năm 1955, Ngày 23.10.1955, N.Đ.Diệm truất phế Bảo Đại, lên làm Quốc trưởng QGVN.

Ngày 26.10.1956, Ngô Đình Diệm tuyên bố lập nước miền nam riêng bằng cách đổi tên QGVN thành VNCH, biến miền nam thành tiền đồn chống cộng theo Kế hoạch Memphis của Hội đồng an ninh Hoa Kỳ. N. Đ. Diệm tự tấn phong mình làm Tổng thống đệ nhứt VNCH, ban hành hiến pháp, xác định ranh giới nước Việt Nam của ông ta từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau.

2/ Quốc kỳ, quốc ca giữ nguyên như thời Bảo Đại hát suốt hát suốt 20 năm, ở hải ngoại thì mãi đến ngày nay.

Như vậy, Mỹ góp nhặt phế liệu chiến tranh từ tổ chức Etat du VN/QGVN (1949-1954) của Pháp bỏ lại để lắp ráp thành bộ máy VNCH. Bộ máy này gồm các bộ phận như sau:
2/ Tổng Thống và bộ máy cầm quyền: Ngô Đình Diệm quan thượng thư triều vua Bảo Đại nhưng ủng hộ Phát xít Nhật chiếm đóng Việt Nam. Sau CM tháng Tám 1945, Nhật Pháp bị đánh đổ, Ngô Đình Diệm chạy trốn sang Vatican rồi được gởi sang Mỹ cho Hồng y Giáo chủ Spellman địa phận New York nuôi dưỡng với mục đích sẽ đưa về lại miền nam Việt Nam thực hiện sứ mệnh chống chủ nghĩa Cộng sản theo ý nguyện của Vatican và Hoa Kỳ. Ngô Đình Diệm và dòng họ Ngô Đình là những tín đồ Kitô La Mã ngoan đạo và trung thành với Tòa Thánh.

Ngày 7.7.54, trước khi kí hiệp đình Geneve 2 tuần (20/7/54 mới ký), NĐDiệm được TT Hoa Kỳ Eisenhower thống nhất với Tòa thánh Vatican đưa về lại Sai Gòn tiếp quản Bộ máy cầm quyền QGVN gồm toàn bộ các quan chức tay sai là phế liệu của bộ máy cầm quyền thực dân Pháp bỏ cùng với một số quan chức do Mỹ đào tạo.

3/ Quân lính: Nòng cốt là số sỹ quan, binh lính quân đội Pháp gốc người Viêt do Pháp đào tạo, phục vụ quân đội Pháp trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam từ năm 1945-1954. Quân Pháp bị đánh bại, số lính gốc Việt tan rả, Mỹ gom toàn bộ số lính này khoảng 200 ngàn người cộng với khoản 75 ngàn quân cảnh sát làm chỗ dựa cho Ngô Đình Diệm cưởng chiếm và bình định miền nam. Về sau, số lượng các loại lính tăng lên gần 1 triệu rưởi người với đầy đủ các binh chủng. Quân đội do Mỹ nuôi ăn và trang bị vũ khí, quân trang, quân dụng rất hiện đại. 

4/Bộ máy cầm quyền, nhà tù, phương tiện làm việc, thủ đoạn cai trị, lật đổ, giết người... tất tần tật đều do Sứ quán Mỹ và Trung tâm CIA chỉ đạo theo lệnh chính phủ Hoa Kỳ Eisenhower. Cụ thể là “Kế hoạch Memphis” của Hội đồng an ninh Hoa Kỳ - Xây dựng miền Nam Việt Nam thành tiền đồn chống cộng của Mỹ.

5/ Bầu cử: Ngoài việc tranh giành đấu đá của mấy chục đảng phái xôi thịt do nước ngoài bảo trợ trong các lần bầu bán nghị viên và hội đồng các cấp, ngụy quyền SG có 4 lần bầu bán tổng thống: -Lần 1/1955: Trưng cầu dân ý, quy định chỉ bầu phiếu đỏ cho Ngô Đình Diêm, phiếu xanh Bảo Đại bỏ giỏ rác. - Lần 2/1961: Độc diễn của Ngô Đình Diệm - của độc đảng đảng Cần Lao nhân vị/Thiên chúa giáo, các đảng phái khác bị diệt sạch. - Lần 3/1967 và Lần 4/1971: là độc diễn cũng của liên danh 2 tên sỹ quan Pháp gốc Việt: Thiệu và Kỳ.

Miệng thì bô bô lúc nào cũng CS, CS... Năm 1975: Khi Mỹ thua chạy, tất cả đám phế liệu này cắm đầu chạy theo, đạp nhau mà chạy, đứa to chạy trước, đứa nhỏ chạy sau, bỏ lại đám tàn binh trước sức tiến công như vũ bão của quân dân Việt Nam.

6/ Thành tích của tổ chức phế liệu này: Là kéo dài sự xâm lược của Pháp bằng sự xâm lăng chia cắt Việt Nam của Mỹ, gây không biết bao nhiêu tội ác suốt 30 năm, giết hại hàng triệu dân, hủy diệt hàng ngàn làng quê VN bằng bom đạn và chất độc màu da cam. Giao cho TQ và các nước ĐNA chiếm hết quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa và một số đảo khác của Việt Nam.

7/ Về cai trị: 20 năm cai trị miền nam, nhà cầm quyền Sai Gòn chỉ cai trị bộ máy cầm quyền, chứ dân chúng thì họ chẳng quản lý được bao nhiêu. “Ảo tưởng và đại lầm chết người” của nhà cầm quyền SG là họ luôn cho rằng người dân miền nam là của họ. Thực tế thì họ chỉ quán lý được một phần trong bộ máy cầm quyền và những người hưởng nhiều lợi quyền từ chế độ ngoại xâm. Hầu hết nhân dân miền nam kể cả một số nhiều người đang làm cho ngụy, họ tham gia chiến đấu, ủng hô kháng chiến chống Mỹ và tay sai giải phóng miền nam, thống nhất Tổ quốc. Vì thế, khi vở lẽ ra thì họ chỉ còn biết đạp lên nhau mà chạy, chạy không được thì đầu hàng vô điều kiện.

Năm 1973 Mỹ ký hiệp định Paris với CP VNDCCH và CP CM miền Nam Việt Nam cuốn cờ về nước. “Mỹ cút, ngụy nhào”- Người cầm đầu và bộ máy phế liệu VNCH đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng trước sức tiến công như vũ bảo của quân dân Việt Nam. Quân xâm lược và phế liệu VNCH bị quét sạch ra khỏi biên cương Tổ quốc. Giang sơn Việt Nam đã thu về một mối vào ngày 30.4.1975./.
Ảnh 1: Tranh cổ động kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam.

Ảnh 2: Cảnh chính quyền “Việt Nam Cộng hòa” xử bắn sinh viên Lê Văn Khuyên ngày 29/1/1965 ngay trên đường phố Sài Gòn (ảnh: Tư liệu).
#QV-ST!

TIN AN NINH TRẬT TỰ: BẮT TẠM GIAM ÔNG VÕ XUÂN TRƯỜNG - CHỦ TỊCH HĐQT, GIÁM ĐỐC CTCP MEKOLOR!

     Ngày 6/8/2026, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Cần Thơ cho biết đã khởi tố bị can, bắt tạm giam, khám xét nơi ở và nơi làm việc đối với ông Võ Xuân Trường - Chủ tịch HĐQT, Giám đốc CTCP Mekolor để điều tra về tội "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".

Theo kết quả điều tra, năm 2021, CTCP Mekolor do ông Võ Xuân Trường làm Chủ tịch HĐQT, Giám đốc kiêm người đại diện theo pháp luật đã mở tài khoản tại một chi nhánh ngân hàng ở Cần Thơ.

Sau đó, ông Trường cung cấp cho ngân hàng bộ hồ sơ về việc chuyển 10 tỷ Euro từ đối tác là Công ty Immobilien Partner GmbH (Đức) vào tài khoản của CTCP Mekolor thông qua Deutsche Bank (Đức), kèm theo điện thanh toán (MT103) và điện tra soát (MT199) đề ngày 22/6/2021 để ngân hàng thực hiện thủ tục tiếp nhận khoản tiền này.

Tuy nhiên, sau quá trình tra soát, ngân hàng không ghi nhận giao dịch chuyển tiền như hồ sơ do CTCP Mekolor cung cấp, đồng thời cảnh báo khách hàng về dấu hiệu tài liệu giả mạo. Ngân hàng và các cơ quan chức năng cũng đã thông tin về nguy cơ lừa đảo, nhưng CTCP Mekolor không đồng tình, thậm chí gửi đơn lên Tòa Trọng tài Quốc tế (ICC), cho rằng ngân hàng với sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chiếm đoạt và sử dụng số tiền 10 tỷ Euro.

Theo cơ quan điều tra, sau đó ông Võ Xuân Trường cùng một số cá nhân, tổ chức liên quan đã cố tình đăng tải thông tin sai sự thật trên nhiều website quốc tế và mạng xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, hoạt động của các cơ quan nhà nước và hệ thống ngân hàng. Hành vi này từng bị Sở Thông tin và Truyền thông TP. Cần Thơ xử phạt hành chính về việc cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức cũng như danh dự, nhân phẩm của cá nhân.

Mặc dù đã bị xử phạt, ông Trường được cho là vẫn tiếp tục sử dụng tài khoản Facebook "Philip Vo" để đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết có nội dung sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự, đồng thời xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Cùng ngày, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Cần Thơ đồng loạt khám xét nơi ở của ông Võ Xuân Trường tại TP. HCM và trụ sở CTCP Mekolor trên đường Lý Tự Trọng (TP. Cần Thơ). Qua khám xét, lực lượng chức năng đã thu giữ nhiều tài liệu và vật chứng liên quan trực tiếp đến vụ án để phục vụ công tác điều tra.

Hiện Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Cần Thơ đang tiếp tục củng cố hồ sơ, mở rộng điều tra và xử lý vụ án theo quy định của pháp luật./.
#QV-ST!

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: NHẮC LẠI LỊCH SỬ LÀ ĐỂ NHẮC NHỚ CHỨ KHÔNG PHẢI HẬN THÙ!

     🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳Một người bạn Mỹ nó nói với tôi rằng...“Tao không hiểu sao ở đất nước mày lại ôm thù hận lịch sử lâu đến thế. Đến bây giờ tao vẫn gặp nhiều người cứ nói đi nói lại về lịch sử, về chiến tranh, và nhiều khi vẫn coi dân tộc tao là kẻ thù! Ở đất nước tao (Mỹ) lịch sử là lịch sử, dù chiến tranh đẫm máu và tàn khốc bao nhiêu thì bọn tao cũng đem bỏ nó vào một quyển sách rồi cất vào thư viện”.

Tụi tao không quên, nhưng không nhắc lại với thù hận nữa. Và người Việt Nam, chúng tao cũng không còn thù hằn. Chúng tao vẫn chào đón thân thiện và trong đầu luôn nghĩ: Hãy hướng về tương lai... 

Trả lời:
- Mày đã bao giờ tự tay chôn đứa con của mày vì bị trúng bom Mỹ chưa? Đã bao giờ phải đi lắp xác người sao cho đúng vị trí và giới tính chưa?

- Mày đã bao giờ đau xót, nức nở ám ảnh đứt ruột hy sinh đứa con nhỏ 3 tháng bịt hơi để bé đỡ khóc cho bọn lính biệt kích Mỹ không phát hiện ra nơi chốn để cứu cả làng chưa?

- Mày đã từng chứng kiến cảnh cả gia đình gục chết ngay tại mâm cơm khi bị lính Hàn Quốc điên cuồng xả súng chưa 

Nhiều làng quê ở Nam Bộ có ngày “Giỗ Đại Hàn” cả làng bị quân Hàn Quốc thảm sát, trẻ sơ sinh cắt đầu quăng vào bụi, thân em bé bị chúng xé làm hai mảnh… Phụ nữ có thai thì đánh cho trụy thai , không có thai thì bị hiếp rồi đâm chết, vô cùng dã man, tàn bạo, man rợ, chưa từng có trong lịch sử loài người mày thấy chưa?

Tên gọi Mãnh Hổ - Rồng xanh đã gây ra trên 43 vụ thảm sát đẫm máu, là những cái tên đến giờ nhiều người còn ám ảnh trong giấc ngủ với các vụ thảm sát trong đó có ít nhất 13 vụ giết trên 100 người. Từ Bình An huyện Tây Sơn, ngày 12-1965, 28-2-1966 và 8-4-1966, lính Hàn đã tàn sát 1028 người ở xóm (An Khánh và xóm Giữa) chúng giết một lúc 352 người; ở Gò Dài 380 người,trong đó phần lớn cụ già, phụ nữ và trẻ em.

- Mày có chứng kiến con gái mày bị đám lính Mỹ đè hiếp rồi ném xác vào đống rác ở đô thành Sài Gòn chưa? Hay việc đốt nhà bắt trâu bò, lùa người ra tập bắn cho tân binh mới chưa?

- Mày có thấy cảnh lính Mỹ năm 1968 tại Mỹ Lai đã tàn sát 504 người và 22 người bị bắn vào đầu trong đó đáng kể có 182 phụ nữ đang mang thai và 173 trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 13 tuổi, 60 người già, 89 trung niên nhân chứng duy nhất may mắn sống sót là bà Phạm Thị Trinh lúc đó 10 tuổi đến nay vẫn còn sống kể lại với các phóng viên báo chí quốc tế.

- Mày có biết từ 1955 - 1960 chính sách Tố cộng diệt cộng của Ngô Đình Diệm với 24.000 bị thương, 80.000 bị chặt đầu xử bắn, 275.000 bị cầm tù, 500.000 bị đưa đi các trại tập trung chỉ vì phản đối cái chế độ tay sai Mỹ là VNCH.

- Hay tại nhà tù Phú Lợi - Hỏa Lò - Phú Quốc với hàng ngàn người bị tra tấn từ mổ bụng, moi gan, cùm kẹp sau đó bị giết chết.

- Hay thảm sát Khu trù mật Vị Thanh - Hỏa Lựu 1959 (Hậu Giang) với hơn 1 nghìn người dân thường.

- Bà mợ của tao khi đó mới 10 tuổi phải chứng kiến người mẹ của mình bị trúng đạn pháo của quân Mỹ trong cơn mưa rừng lạnh giá, không thể chôn cất mẹ mình và lấy tạm áo mưa đắp lên thi thể mẹ rồi dò dẫm tìm đường về nhà...

- Bao nhiêu người lính sinh viên miền Bắc gác lại ước mơ giảng đường đại học để lên đường vào nam chiến đấu. Mày nghĩ gì về ước muốn của họ được 1 lần ăn cơm mẹ nấu, được quét nhà cho mẹ, được thả diều, 1 lần trên triền đê,... được yêu đương rồi chết cũng cam lòng... hay những trẻ em được cắp sách đến trường thay vì ngôi nhà thì các em phải sơ tán dưới hầm?

- Mày đã nhìn thấy cảnh Thảm sát Ba Chúc của Khơ me đỏ những cái đầu được móc trên những hàng rào, với những cái chết kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại chưa?

- Ông bác tao kể, có đứa bạn của bác ấy: cụ ngoại theo lính đánh thuê vnch để lấy tiền tiêu, còn cậu út vì hòa bình tự do thống nhất đất nước vì lý tưởng đi theo quân giải phóng. Ông ngoại nó và cậu út về thăm nhà cùng 1 ngày 2 người xách súng chĩa vào nhau. Bà ngoại nó van xin 2 người vì chút tình cha con đừng giết nhau, cậu út nó hạ súng rút lui ra phía ngõ sau... Ông ngoại tử trận ở Tây Nguyên, cậu út cũng thành liệt sĩ và đều là nạn nhân của đế quốc tay sai gây nên.

- Những lãnh tụ cao nhất của Đảng CSVN đã khóc như đứa trẻ khi nghe tin đồng bào miền nam bị đám lính chúng mày dồn ấp chiến lược, tra hỏi bắt bớ quân dân miền Nam thảm sát mấy trăm mạng người trong cùng 1 ngày.
...
Nhà mày có kỷ vật "giấy báo tử" hiện thân của quá khứ đau thương? Có cả gia đình hy sinh hết, có gia đình chín mười người con hy sinh. Ròng rã bao nhiêu năm trời hết người này đi đến lớp người khác ra đi theo tiếng gọi con tim cho Tổ quốc, với hơn 1 triệu giấy báo tử gửi về cho mẹ "mẹ ơi con đã hy sinh cho Tổ quốc con yêu".

Ngày nay di chứng chất độc da cam còn quằn quại với nỗi đau người ở lại, những quả bom với danh nghĩa "quà dân chủ" vẫn còn tìm thấy trên khắp cả nước...

Chắc mày không biết đâu cả dân tộc của tao chiến đấu để đánh đuổi quân xâm lược, ai cũng mong chỉ được nhìn thấy tự do hòa bình không còn cảnh chiến tranh, thống nhất đất nước.

Chúng tao không nuôi lòng hận thù với ai, nhưng chúng tao không bao giờ quên những gì mà tụi mày và đám lính đánh thuê và chủ nghĩa đế quốc đã gây ra cho dân tộc tao. Có bao giờ, mày hiểu không.. 

Giờ đây đất nước tao mở rộng vòng tay và làm bạn với các nước trên tinh thần tôn trọng thể chế chính trị, độc lập tự do hợp tác cùng có lợi.

Bạn à: Tao vẫn phải nhắc về lịch sử đổi bằng xương máu đó của dân tộc tao thì có gì sai chứ? Đó là sự thật lịch sử, con tao cháu tao phải có quyền biết về điều đó. Tao sống trong thời bình, nhưng tao không muốn đời bọn tao và tương lai các cháu lớn lên trong cảnh chiến tranh, mất mát, chia ly cho nên dân tộc tao luôn cảnh giác cao độ cây AK47 chúng tao vẫn thủ sau lưng. Ý chí con người Việt không lúc nào bị động mất cảnh giác. Đừng nghĩ kẻ có quyền ỷ sức, ỷ từ "tự do - nhân quyền" mà mang tới Việt Nam thêm lần nào nữa.

Mọi âm mưu diễn biến hòa bình, âm mưu phá hoại Việt Nam qua cách mạng màu chúng tao luôn cảnh giác và diệt trừ nó.

Bởi quyền sống, quyền con người quyền tự do chúng tao vẫn đang làm rất tốt và tao còn sống là tao còn viết để con cháu tao nhớ lấy đừng quên CÓ 1 VIỆT NAM TỪNG NHƯ THẾ!


-VIỆT NAM🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳 ..ơi Đồng Bào ơi 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳…

P/s: Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

“Nếu giới trẻ Việt Nam quên đi lịch sử, thì chính chúng là người phải dùng máu của mình để viết lại lịch sử dân tộc”

Đừng đợi đến khi con trưởng thành mới dạy con biết ơn. Hãy gieo những hạt mầm ấy ngay từ khi con còn bé. Bởi một đứa trẻ lớn lên cùng lòng biết ơn sẽ biết trân trọng hòa bình, biết yêu quê hương, yêu đồng bào và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.

Lịch sử không chỉ để nhớ về quá khứ. Lịch sử là ngọn đèn soi đường cho tương lai. Và giữ cho ngọn đèn ấy luôn sáng là trách nhiệm của tất cả chúng ta./.
QV-ST!