Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: IRAN TUYÊN BỐ CHIẾN SỰ SẼ TIẾP DIỄN!

     Trong bài phát biểu được phát sóng trên truyền hình hôm 23/3, ông Mohsen Rezaei, cố vấn quân sự cấp cao của Lãnh tụ Tối cao Iran Mojtaba Khamenei tuyên bố Iran sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi “toàn bộ các lệnh trừng phạt kinh tế được dỡ bỏ và các bảo đảm quốc tế có tính ràng buộc pháp lý được thiết lập nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ vào Iran”.

“Chúng tôi nhận thấy các lực lượng vũ trang đang triển khai các chiến dịch và hoạt động một cách mạnh mẽ. Dự án lãnh đạo của chúng tôi, với việc lựa chọn một nhà lãnh đạo mới, hiện đã đi vào ổn định dưới sự điều hành của ông ấy”, ông Rezaei nói.

Vị cố vấn này cho rằng “cuộc chiến trên thực tế đã kết thúc” từ hơn một tuần trước, đồng thời khẳng định “Mỹ sẵn sàng dừng lại và theo đuổi một lệnh ngừng bắn”. Tuy nhiên, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu “đã thúc đẩy việc tiếp tục chiến sự”. Ông Rezaei cũng nhận định rằng sau ngày thứ 15, “Mỹ đã hiểu rõ rằng không tồn tại con đường dẫn tới chiến thắng trong cuộc chiến này”./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐÁNH NGHI BINH VẪN GIÀNH CHIẾN THẮNG GIÒN GIÃ!

     Trong Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, ta chọn thị xã Buôn Ma Thuột là mục tiêu tiến công then chốt mở đầu chiến dịch. Để bảo đảm chắc thắng, một vấn đề đặt ra cho Bộ tư lệnh Chiến dịch là làm thế nào điều các đơn vị chủ lực của địch tập trung lên hướng Bắc Tây Nguyên, giam chân chúng ở đó để chủ lực ta rảnh tay đánh chiếm Buôn Ma Thuột!

Kế hoạch tác chiến của ta rất chặt chẽ, làm cho địch không thể cựa quậy được khi bị đánh, nhưng trước hết phải điều được Sư đoàn 23 chủ lực của Quân khu 2-Quân đoàn 2 ngụy và một số liên đoàn biệt động quân của chúng lên hướng Gia Lai, Kon Tum. Nhiệm vụ này, Bộ tư lệnh Chiến dịch giao cho Sư đoàn 968 vừa từ Nam Lào về. Ta bố trí Trung đoàn 39 thay thế Sư đoàn 10 ở Bắc Kon Tum; sở chỉ huy Sư đoàn cùng với Trung đoàn 19 thay cho Sư đoàn 320 ở Tây Pleiku.

Là Trưởng ban 2 của Phòng Tham mưu Sư đoàn 968, tôi đã cùng với anh em trinh sát sư đoàn và chỉ huy Trung đoàn 19 nhiều lần trinh sát trận địa xung quanh đồn Tầm, chốt Mỹ, trinh sát đường kéo pháo vào trận địa, đường tiến quân cho bộ đội ta để chuẩn bị cho trận đánh nghi binh này.
Mưu kế đã bày xong, lực lượng đã bố trí theo thế trận bao vây, chia cắt quân địch. Để làm cho chúng mắc bẫy và tin là thật thì dù đánh nghi binh nhưng phải giống như thật, tức là phải nổ súng tiến công quân địch ở những nơi chúng lo đề phòng cẩn mật nhất, đó chính là trục phòng ngự trên Đường 19 Tây Nam Pleiku. Mục tiêu tiến công của ta là trận địa phòng ngự của một đại đội địch ở đồn Tầm, một trận địa phía trước ở chốt Mỹ (trận địa trước đây do quân Mỹ bàn giao lại) và sở chỉ huy nhẹ của một tiểu đoàn ở điểm cao 605 trên Đường 19 phía Tây.
Để làm cho địch tin là thật, Sư đoàn 968 của chúng tôi đã sử dụng một tiểu đoàn của Trung đoàn 19 tiến công đồn Tầm. Trong đó tập trung hỏa lực gồm pháo binh sư đoàn, súng cối và súng bắn thẳng của Trung đoàn 19 tạo nên lưới lửa nhiều tầm, nhiều cỡ. Đặc biệt, pháo 85mm được đặt trên đồi cao ở cự ly 1.000m bắn thẳng vào mục tiêu.
Đúng 14 giờ ngày 28-2-1975, tất cả các loại hỏa lực của đơn vị chúng tôi bắt đầu bắn phá đồn Tầm. Pháo bắn thẳng nhằm từng lô cốt, hầm ẩn nấp, trận địa hỏa lực địch, nhất loạt bắn chế áp. Chờ cho khói đạn và bụi đất tan bớt, pháo cối của ta lại tiếp tục nhả đạn vào các mục tiêu còn lại. Các pháo thủ của ta sau trận đánh này nói với nhau: “Kể từ khi ở chiến trường Lào đến giờ chưa có trận nào bắn sướng tay như hôm nay”. Lúc đó, một chiếc máy bay trinh sát L-19 của địch từ sân bay Cù Hanh bay xuống, lượn mấy vòng quan sát, bị pháo cao xạ của ta bắn chặn vội vàng bay mất, một phần vì hoảng sợ, một phần vì các nơi khác cũng đang bị đánh tới tấp.
Trên hướng Kon Tum, Trung đoàn 39 đang tiến ra đánh địch ở Võ Định trên Đường 14, các trận địa trực tiếp khác ở Ngọc Quăn, điểm cao 751 cũng bị tiến công. Pháo binh sư đoàn đồng thời bắn vào sở chỉ huy Quân khu 2-Quân đoàn 2 địch ở thành phố Pleiku, sân bay Cù Hanh, căn cứ Hàm Rồng.

Trên mạng thông tin chỉ huy của Quân khu 2-Quân đoàn 2, các đơn vị địch tới tấp gửi tin về: “Việt Cộng đánh lớn ở Pleiku; Việt Cộng đang từ hai hướng tiến về Kon Tum”... Tại đồn Tầm, hỏa lực chuẩn bị của ta hiệu quả đến mức làm tê liệt sức chống đỡ của địch. Một phần bị tiêu diệt ngay từ loạt pháo đầu tiên, một số khác bị bộ binh ta vây bọc ở các công sự xung quanh nổ súng chế áp làm cho chúng không ngẩng đầu lên được.
Trước tình huống thuận lợi như vậy, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 19 ra lệnh cho bộ đội không cần mở cửa phá hàng rào kẽm gai mà xung phong thẳng từ cổng đồn đã bị bắn phá tan tành vào trận địa địch, tiêu diệt số còn lại, bắt sống địch, trong đó có cả tên đại đội trưởng. Quân địch ở chốt Mỹ thấy đồn Tầm bị tiến công dữ dội và bị hỏa lực của ta chế áp, làm bị thương một số tên thì cũng vội vã tháo chạy nhưng bị bộ đội ta bắt sống.
Thừa thắng, đồng chí Sư đoàn trưởng Phạm Thanh Sơn từ trên đài quan sát cách đồn Tầm 1km chỉ thị cho Trung đoàn 19 tổ chức lực lượng truy đuổi quân địch trên Đường 19 và tiến công sở chỉ huy nhẹ của tiểu đoàn địch ở điểm cao 605 phía Tây huyện lỵ Thanh An.
Chỉ trong một buổi chiều, trận đánh nghi binh mở màn Chiến dịch Tây Nguyên đã tiêu diệt và đánh chiếm 3 vị trí quan trọng của địch trên Đường 19 kéo dài, tạo ra nguy cơ đối với Quân khu 2-Quân đoàn 2 ngụy bị chia cắt ngay sát thành phố Pleiku và uy hiếp trực tiếp sở chỉ huy Quân khu 2 của chúng. Lập tức tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân khu 2-Quân đoàn 2 triệu tập Bộ Tham mưu Quân khu họp khẩn cấp để đánh giá tình hình. Trong cuộc họp, Đại tá Trịnh Tiêu, Trưởng phòng 2 Quân khu 2 nêu ý kiến “Việt Cộng tấn công vào Kon Tum và Pleiku là đòn nghi binh”, nhưng tướng Phú không tin và ra lệnh cho Chuẩn tướng Phạm Duy Tất, Tư lệnh Biệt động quân sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công vào Pleiku, đồng thời lập tức điều Liên đoàn 29 ra Tây Nam Pleiku, gọi Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 về Tây thị xã Pleiku để tăng cường cho thị xã và sở chỉ huy Quân khu 2.
Nghệ thuật nghi binh của ta thành công đến mức khi ta tiến công quận lỵ Thuần Mẫn ngày 8-3 và đánh quận lỵ Đức Lập ngày 9-3, tức là Buôn Ma Thuột đã bị "phơi" ra trước mũi súng của ta mà Phạm Văn Phú vẫn không đoán biết được ý đồ tác chiến của ta. Mãi đến 4 giờ ngày 10-3, khi xe tăng và bộ binh ta tiến vào thị xã Buôn Ma Thuột, Đại tá Lê Khắc Hy, Tham mưu trưởng Quân khu 2 ngụy vào phòng ngủ đánh thức, Phú mới biết Buôn Ma Thuột là mục tiêu chính của ta thì lúc này đã quá muộn./.
Ảnh: Thiếu tướng NGUYỄN NHƯ HUYỀN, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CỤM TÌNH BÁO HUYỀN THOẠI - ANH HÙNG THẦM LẶNG!

     Trong những chiến công lớn của Cụm Tình báo A20 - H67 và tổ chức cách mạng, dấu ấn của cụm trưởng Sáu Trí được khắc ghi đậm nét.

Cụm trưởng Cụm Tình báo A20 Sáu Trí tên thật là Nguyễn Văn Khiêm, bí danh Phạm Duy Hoàng và Nguyễn Đức Trí, sinh năm 1925, tại Gò Công - Tiền Giang, là anh họ đồng thời cũng là người dẫn dắt điệp viên Nguyễn Văn Lễ (Ba Lễ, mật danh H3) gia nhập Cụm A20.

Dọc ngang giữa lòng địch
Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, Sáu Trí là một trong những thành viên của Đội Thanh niên Tiền phong tham gia cướp chính quyền. Cách mạng thành công, Sáu Trí gia nhập ngành quân báo với bí danh Phạm Duy Hoàng, sau đó chuyển địa bàn hoạt động về Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ, được phân công giữ chức Trưởng chi Quân báo Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Một năm trước khi thực dân Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ (1954), ông bí mật vào nội đô Sài Gòn, xin vào làm việc tại Nha Công an Nam phần của chính quyền thân Pháp, thu thập nhiều thông tin tình báo quan trọng phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ cho đến ngày thắng lợi.

Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết. Ngô Đình Diệm trở về miền Nam và thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tình thế thay đổi, ông Sáu Trí tiếp tục ở lại miền Nam và chuyển sang làm sĩ quan ở Tổng nha Cảnh sát của chính quyền Ngô Đình Diệm cho đến ngày bị lộ vào cuối năm 1962.

Vào thời điểm ông bị mật vụ chính quyền Sài Gòn theo dõi gắt gao, buộc phải rút vào chiến khu cũng là lúc Cụm A20 được thành lập tại mật khu Bời Lời (Tây Ninh). Với kinh nghiệm hoạt động quân báo thời chống Pháp, đã được thử lửa qua nhiều tình huống thực tế kịch tính, ông Sáu Trí được Phòng Tình báo miền (J22) tin tưởng giao trọng trách làm cụm trưởng Cụm A20.

Qua những chuyến đi về giữa mật khu Bời Lời - căn cứ địa A20 - nội đô Sài Gòn những năm 1962 - 1965, ông Sáu Trí đã xây dựng nhiều cơ sở nội tuyến ngay trong lòng bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, góp phần giúp A20 hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của tổ chức cách mạng. Thời gian này, ông lấy bí danh Nguyễn Đức Trí (bí danh này được giữ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng).

Ra Bắc, vào Nam
Tháng 11-1965, ông Sáu Trí được rút về làm Phó Phòng Quân báo Bộ Tổng Tham mưu miền (B2), bộ phận điệp báo của J22. Về sau, ông được cử giữ chức Trưởng Phòng J22, trở thành một trong những nhà chỉ huy tình báo hàng đầu tại miền Nam. Nhiều năm liền, Sáu Trí đã xây dựng, củng cố và chỉ đạo hoạt động tốt các mạng lưới tình báo chiến lược, thu nhận và phân tích tin tức tình báo, phục vụ đắc lực các hoạt động quân sự của quân giải phóng trên chiến trường miền Nam.

Cuối tháng 11-1973, tại chiến khu Lộc Ninh (nay thuộc tỉnh Bình Phước), Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) tổ chức gặp mặt chia tay 20 sĩ quan cấp tá lên đường ra Bắc học tập, chuẩn bị cho kế hoạch đánh lớn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hai sĩ quan của J22 được cử đi học đợt này là thượng tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) - thủ trưởng và trung tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) - Phó Chính ủy J22. Sáu Trí vào Học viện Quân sự, Tư Cang vào Học viện Chính trị và bắt đầu khóa học 2 năm.

Giữa lúc đó, tình hình chiến trường miền Nam diễn biến ngày càng phức tạp. Bước sang tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên nổ ra và không lâu sau đó là chiến dịch Huế - Đà Nẵng kết thúc thắng lợi, quân ta nhanh chóng giải phóng một vùng trung du và duyên hải miền Trung rộng lớn. Tất cả các cánh quân đều hướng về Sài Gòn trong thời cơ lịch sử ngàn năm có một.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong năm 1975. Số cán bộ B2 ra miền Bắc học tập từ cuối năm 1973 được điều động quay trở lại chiến trường miền Nam. Ông Sáu Trí được lệnh lập tức vào nội đô Sài Gòn, nắm bắt các cơ sở điệp báo cấp cao. Ông Tư Cang xuống Củ Chi, gia nhập Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316 trong vai trò chính ủy.

Làm tốt sứ mệnh đặc biệt
Trở lại căn cứ Lộc Ninh ngày 17-4-1975, ông Sáu Trí được cấp trên phân công nhiệm vụ đặc biệt, đó là phục vụ chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Lúc bấy giờ, điệp viên H3, lưới A20-H67 (H67 là tên mới của A20 kể từ năm 1970) đã xây dựng được một cơ sở mới là đại tá Lộc - thành viên Đảng Tân Đại Việt, người được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giao nhiệm vụ thành lập và chỉ huy một liên đoàn biệt động quân, tăng cường tuyến phòng thủ Sài Gòn. Nhiệm vụ của Sáu Trí là vận động đại tá Lộc làm binh biến tại chỗ, hỗ trợ các cánh quân cách mạng tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Sau khi vào thành để tìm hiểu thông tin về đại tá Lộc qua điệp viên H3, Sáu Trí trở về căn cứ. Sau cuộc họp khẩn cấp trong đêm 25-4, ông được lệnh quay trở lại Sài Gòn ngay, ở tại nhà H3 và bắt đầu tiếp xúc với những điệp viên trong các lưới tình báo nội đô. Kết quả, ngày 30-4, khi 5 cánh quân của quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, liên đoàn biệt động quân do đại tá Lộc chỉ huy hoàn toàn bị vô hiệu hóa.

Chứng nhân thời khắc lịch sử
Cũng trong thời gian vào nội thành làm công tác đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trưa 28-4, tại nhà H3, thình lình kỹ sư Tô Văn Cang và kỹ sư Lê Văn Giàu (những cơ sở cách mạng) đến xin được gặp mặt thủ trưởng Sáu Trí. Nguyên do là nội các Dương Văn Minh trong cơn lúng túng muốn thông qua 2 kỹ sư này để tìm gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam để thương lượng.

Ông Sáu Trí đề nghị Tổng thống Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng ngay và đầu hàng vô điều kiện. Ngày 30-4-1975, ông Sáu Trí và điệp viên Ba Lễ cùng một số đồng đội đến Dinh Độc Lập để chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Tổng thống Dương Văn Minh…
Những ngày đầu sau giải phóng, ông Sáu Trí được cử làm Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quân quản TP Sài Gòn, sau đó ông được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam./.
Ảnh: Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí, bìa phải) và Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang).
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐẶC CÔNG ĐỔI NHIỆM VỤ PHÁ 20 CẦU SANG BẢO VỆ CẦU CHO ĐẠI QUÂN TIẾN VÀO SÀI GÒN. XE TĂNG QUA CẦU SUÝT BỊ BẮN CHÁY VÌ KHÔNG NHỚ MẬT KHẨU!

     Lê Bá Ước sinh năm 1931, tại Rạch Giá, Kiên Giang, tham gia kháng chiến năm 1945. Ông từng là Chính ủy kiêm Đoàn trưởng Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác vang tiếng một thời. Do yêu cầu nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn, đầu năm 1974 Sư đoàn 2 Đặc công được thành lập.

Khi toàn Sư đoàn 2 Đặc công đang khẩn trương triển khai phương án phối hợp với Quân đoàn 4, một mệnh lệnh hỏa tốc được chuyển đến: Trung ương Cục miền Nam yêu cầu dừng ngay kế hoạch và triệu tập Trung tá Lê Bá Ước - Chính uỷ Sư đoàn về trụ sở Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 ở Biên Hòa để nhận nhiệm vụ mới. Tại đây, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An chỉ thị, Sư đoàn phải đánh chiếm tuyến từ sông Buông, cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc đến cầu Sài Gòn nhằm mở đường cho quân đoàn đột phá thẳng vào Dinh Độc Lập; đồng thời giữ vững bến phà Cát Lái, sông Lòng Tàu và toàn bộ hệ thống cầu huyết mạch. Từ nhiệm vụ phá 20 cây cầu, Sư đoàn 2 Đặc công quay sang bảo vệ cầu để tiếp bước đoàn quân chiến thắng. 

Thực hiện mệnh lệnh, Sư đoàn 2 chia làm hai cánh. Cánh hướng đông do Phó sư đoàn trưởng Tống Viết Dương và Chính ủy Lê Bá Ước chỉ huy. Đúng 20 giờ ngày 26-4-1975, Trung đoàn 116 tiến đánh cầu Đồng Nai, chốt giữ địa bàn Long Hưng - An Hòa - Bến Gỗ. Hai ngày đêm liên tục, chiến sĩ đặc công chiến đấu trong tình thế một chống nhiều, vừa đói, vừa thiếu đạn nhưng vẫn kiên quyết bám cầu trước những đợt phản kích ồ ạt của địch bằng pháo binh lẫn xe tăng.

Ngày 29-4, địch phá sập cầu sông Buông ngăn chặn xe tăng của ta tiến công, buộc Lữ đoàn xe tăng 203 phải khắc phục khó khăn tiến dần theo Quốc lộ 15 đến Bến Gỗ, vừa chạy vừa bắn quét ra hai bên đường, vào cả đội hình của Trung đoàn 116 đang chốt giữ. Hai đơn vị không nhận ra nhau vì trời còn tối không nhìn rõ màu cờ. Tại ngã ba Bến Gỗ, các chiến sĩ đặc công canh gác hô mật khẩu “Hồ Chí Minh”, đúng ra phải đáp “Muôn năm” nhưng do anh em đơn vị tăng nhớ nhầm mật khẩu ở trận Bình Thuận nên đáp “19 tháng 5”. Lập tức, tổ B40 của đặc công bắn liền hai phát, may mà không trúng. Thấy không yên tâm, chiến sĩ chốt giữ hỏi lại mật khẩu lần nữa thì đơn vị tăng đáp đúng “Muôn năm”. Lúc này, hai bên mừng rỡ nhảy ra khỏi công sự, xuống xe tăng ôm chầm lấy nhau trong niềm vui khôn xiết.

Lữ đoàn 203 phải cơ động gấp trong khi bộ binh chưa kịp tới, đường nội đô lại xa lạ. Bởi vậy, Phó sư đoàn trưởng Tống Viết Dương đề xuất phương án táo bạo là dùng đặc công thay bộ binh dẫn đường cho xe tăng. Sự phối hợp linh hoạt ấy giúp chiến dịch không chậm dù chỉ một phút.

8 giờ 30 sáng 30-4, đội hình hỗn hợp tăng - đặc công áp sát Thủ Đức. Địch ở trường võ bị bắn trả dữ dội, buộc lực lượng ta đánh vòng sườn, kết hợp dân quân địa phương đè bẹp ổ kháng cự chỉ trong nửa giờ. Tiếp đó, tại hồ An Phú, một xe tăng M-48 của địch bị bắn cháy; hai máy bay A-37 lao đến ném bom hòng phá cầu xa lộ nhưng trượt mục tiêu, cầu vẫn đứng vững.

Vượt cầu Thị Nghè, đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đội hình tăng - đặc công lao thẳng vào trung tâm thành phố. Từ xa, đồng chí Lê Bá Ước nhìn thấy chiếc xe tăng mang số hiệu 390 húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc Lập. Đặc công lập tức tỏa đi, bắt giữ lực lượng bảo vệ, giữ an toàn các khu vực trọng yếu. Đúng 11 giờ 30 phút, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc dinh, cả dân tộc hòa chung một nhịp tim chiến thắng./.
QV-ST!

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: CHUYỆN ĐẠI TƯỚNG KHÔNG CÓ NHÀ RIÊNG!

     Đại tướng Lê Trọng Tấn, một trong tứ đại chiến tướng của Việt Nam “Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn” lại là người không để lại cho mình một ngôi nhà riêng. Điều ấy, nghe tưởng như huyền thoại, nhưng lại là sự thật về vị Đại tướng đặc biệt trong lịch sử dân tộc.

Chiều cuối năm, tôi ngồi trong quán cà phê nhỏ nhìn ra con đường Trường Sơn, ngay trước cổng vào Sân bay Tân Sơn Nhất. Những chiếc máy bay lên xuống đều đặn, mang nhịp sống hối hả của một thành phố đã đổi thay rất nhiều. Ít ai biết, ngay tại khu vực này, hơn nửa thế kỷ trước, từng có một căn biệt thự dang dở - ngôi nhà mà đồng đội, cấp dưới đã cố xây để mời Đại tướng vào ở. Nhưng ông ba lần từ chối, dứt khoát không nhận.

Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Đông Hải - Nguyên Viện trưởng Phân viện kỹ thuật quân sự 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh, con trai Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn thường nói một câu khiến người nghe se lòng: “Cả đời cha tôi, không để lại cho con cháu một tấc đất, một căn nhà. Nhưng ông để lại một tấm gương lớn”. 

Theo ký ức anh Hải, gia đình từng có một thời gian sum họp hiếm hoi tại căn nhà nhỏ 48m² ở số 36 Hoàng Diệu, sống chung khu với các bác Tạ Quang Bửu, Vương Thừa Vũ… Rồi chiến trường lại gọi, mẹ anh dọn sang 36C Lý Nam Đế, tự lo trồng trọt chăn nuôi cải thiện bữa ăn.

Năm 1975, khi Sài Gòn hoàn toàn giải phóng, đồng đội chạy đôn đáo tìm cho Đại tướng Lê Trọng Tấn một căn biệt thự rộng rãi trong số nhà cửa bỏ lại. Nhưng ông chỉ lắc đầu. Cuối cùng, ông chọn căn nhà nhỏ số 2 đường Cửu Long, diện tích chừng 30m².
Thấy ông ở quá chật chội, một lần Đại tướng ra Hà Nội họp, Quân đoàn 4 “đánh úp” bằng cách chở toàn bộ đồ đạc của ông sang biệt thự 195 Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Trở về, thấy “sự đã rồi”, ông tạm ở nhưng vẫn đau đáu chuyện trả lại. Không lâu sau, ông xin giao căn nhà rộng rãi ấy cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để lo cho thương bệnh binh.

Không ai an tâm khi một vị tướng trận mạc lẫy lừng lại sống trong căn nhà nhỏ hẹp, nên anh em tiếp tục thuyết phục ông về biệt thự 126 Pasteur. Ông cũng thử ở, đúng nghĩa “khoác ba lô đến ví dụ” nhưng rồi lại về với căn nhà cũ ở đường Cửu Long. Đó mới là nơi ông thấy đúng với mình với phong cách giản dị, gọn gàng, không ưu tiên cho bản thân chút nào.

Và Đại tướng Lê Trọng Tấn đã sống tại đó, lặng lẽ như chính bản tính của mình, cho đến ngày qua đời 05-12-1986. Sau đó, nhà số 2 đường Cửu Long đã được cấp cho người khác…
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGHE LỜI ÔNG BA QUỐC, THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH THOÁT LƯỠI HÁI TỬ THẦN TRONG BẠO LOẠN CAMPUCHIA NĂM 1997!

     Năm 1997, cuộc xung đột giữa hai đồng Thủ tướng Campuchia Norodom Ranariddh và Hun Sen bất ngờ nổ ra, đẩy tình hình nước bạn vào vòng xoáy đảo chính đầy hỗn loạn. Khi đó, Nguyễn Chí Vịnh vừa được bổ nhiệm Cục trưởng Cục 12 gần một năm. Sáng ấy, nghe chú Văn Duy hỏi: “Đêm qua, Campuchia đảo chính, tình hình thế nào?”, ông sững lại vì hoàn toàn chưa nắm được tin. Chú Duy bồi tiếp “Ô hay, Cục trưởng 12 giờ này không biết gì à?” khiến ông toát mồ hôi. Nguyễn Chí Vịnh lập tức chạy đi tìm liên lạc để nắm tình hình.

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí Sáu Nam, Nguyễn Chí Vịnh chuẩn bị lên đường sang Campuchia giúp nước bạn. Ngày lên đường, ông Ba đứng trước đầu xe, đưa Nguyễn Chí Vịnh một sợi dây gai xâu vài chục chỉ vàng, “vũ khí cuối cùng” của lính đặc nhiệm từ những năm 1977 và lời dặn dò phòng khi không còn chính quyền, không còn xe, không còn gì ngoài chính mạng sống mình với lời dặn:
- Bất kỳ tình huống nào nguy hiểm, cậu phải rút ngay.

Khi sang đến Campuchia, Nguyễn Chí Vịnh vẫn nhớ như in những lời ông Ba căn dặn trước đó. Ông Ba thường nói, trong những chuyến đi như thế này một khi đã mất an toàn thì câu chuyện coi như kết thúc, không có cơ hội thứ hai để rút kinh nghiệm. Vì thế, người làm nghề buộc phải tự tưởng tượng trước mọi tình huống, tự đặt mình vào những kịch bản xấu nhất để còn biết đường sống sót.

Ông Ba hay ví dụ bằng những điều rất thực tế. Ngồi trên xe, khi có chuyện xảy ra, điều tối kỵ nhất là dính chùm. Ông nói: “Khi có động, mở cửa xe ra là bốn người phải chạy bốn hướng. Chạy tản mới có cơ may sống. Còn cứ quây lại với nhau là chết cả chùm”. 

Ông Ba còn dạy, thủ trưởng luôn ngồi ghế trước. Không phải để oai mà vì khi địch nhắm bắn từ bắn tỉa đến AK, M79, B40 hay B41 bao giờ nó cũng nhằm vào cửa sau bên phải. Ông phân tích thêm, nếu bị chặn đường, thấy xe địch chắn phía trước thì chắc chắn phía sau đã có chuẩn bị. Lúc đó, dừng lại là chết, lùi lại cũng chết. Muốn sống thì cứ đè mà đi. Sau này, Nguyễn Chí Vịnh cũng dặn anh em đúng y như thế. 

Và rồi điều ông Ba nói đã trở thành sự thật. Cuối năm 1997, giữa lúc Phnom Penh hỗn loạn nhất, xe Nguyễn Chí Vịnh bị một chiếc bốn chỗ chắn ngang, phía sau như có hàng chục con mắt chờ tấn công, tình thế không khác gì ông Ba dặn. Cậu Đông lái xe cho Nguyễn Chí Vịnh không cần đợi lệnh, đạp ga, cho chiếc Land Cruiser lao thẳng vào xe chắn, ghếch bánh lên rồi trườn qua. Xe thoát tình huống nguy hiểm trong gang tấc. 

Từ năm 1997 đến 1999, tổ C98 do Cục trưởng Nguyễn Chí Vịnh làm Tổ trưởng đã lập được nhiều chiến công, hỗ trợ chính quyền bạn đứng vững qua các cuộc chính biến 1997 và bầu cử 1998. Đến năm 1999, khi tình hình chính trị của bạn đã ổn định thì tổ C98 rút về nước và giải tán, kết thúc nhiệm vụ.

Năm 2006, để ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của tổ công tác khi thực hiện nhiệm vụ quốc tế, Đảng và Nhà nước đã trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho tổ C98./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: 2 CHIẾN SĨ ĐẶC CÔNG PHÁ HỦY 8 B-52 TRÊN ĐẤT THÁI KHIẾN MỸ BÀNG HOÀNG!

     Utapao - “pháo đài bất khả xâm phạm” từng là nơi mỗi đêm 3 đến 5 chiếc B-52 cất cánh, gieo bom xuống Việt Nam. Ít ai ngờ, nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất Thái Lan ấy lại trở thành chiến công rực sáng của chỉ… 2 người lính đặc công Việt Nam.

Sân bay Utapao, xây năm 1952 và được Mỹ mở rộng thành căn cứ chiến lược năm 1968, luôn chứa sẵn khoảng 20 máy bay B-52. Những lớp hàng rào thép gai, tuần tra nghiêm ngặt khiến người Mỹ tin rằng nơi này không ai có thể vượt qua. Nhưng Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công hiểu rằng muốn đánh được, chỉ có thể dựa vào một nhóm cực nhỏ, hoạt động bí mật ngay trên đất Thái.

Tháng 5-1971, đồng chí Lê Toàn, Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công Biệt động 1A, dẫn một tổ công tác vượt biên sang Campuchia, men sát biên giới Thái Lan. Tại đây, ông trực tiếp bắt liên lạc với ba chiến sĩ đang hoạt động bí mật: Trần Thế Lại, Bùi Văn Phương, Vũ Công Đài và thành lập tổ đặc công đặc nhiệm, giao trọng trách đánh sân bay Utapao.

Sau khi nhận nhiệm vụ, Trần Thế Lại phân công Bùi Văn Phương chuẩn bị trận địa ém vũ khí, cải trang thành dân buôn, tiếp cận khu vực sân bay. Từng ngày, Phương âm thầm quan sát hàng rào, thói quen tuần tra, giờ giấc cất, hạ cánh của B-52. Khi mọi dữ liệu đủ chín, tháng 10-1971, tổ đặc công chốt phương án dùng thủ pháo hẹn giờ để phá huỷ bí mật; nếu bị phát hiện, chuyển sang đánh nổ trực tiếp. Hai người được giao vào trận là Vũ Công Đài và Bùi Văn Phương.

Trưa 09-01-1972, hai chiến sĩ áp sát Utapao. Đến 19 giờ, họ hoàn tất ngụy trang, mang theo thủ pháo, lựu đạn, bắt đầu hành trình vượt rào. Hàng rào thép gai 0,3 cm, cao 2 m, cắt không nổi bằng kìm, buộc hai người phải ép sát đất, chui qua từng lớp một như những cái bóng lẫn vào đêm tối.

Trong quá trình đột nhập, họ ba lần gặp tuần tra. Hai lần khéo léo tránh được. Lần thứ ba, trong tình thế không còn lựa chọn, hai chiến sĩ buộc phải nổ súng tiêu diệt nhóm tuần tra gồm hai lính Mỹ và một chó béc-giê, rồi nhanh chóng mở đường tiến sâu vào mục tiêu.

Khi còn cách khu vực đỗ B-52 chỉ 300 m, bất ngờ họ gặp ba xe ô tô và hai lính Mỹ đang vòng kiểm tra. Hai anh lập tức đổi hướng, men theo vùng tối để tránh địch. Nhưng khi khoảng cách chỉ còn 50m, một tổ tuần tra khác phát hiện và nổ súng bắn chặn. Trong khoảnh khắc sinh tử, Bùi Văn Phương tung lựu đạn, tạo khoảng trống đúng một giây và cả hai lao thẳng vào trận địa máy bay.

Họ chạy dọc sân đỗ, bình tĩnh đặt thủ pháo vào từng chiếc B-52. Khi quả cuối cùng được cài xong, Phương ra lệnh rút. Đài rút về cửa mở, Phương vòng sang khu chứa bom để thoát nhanh hơn.

Vừa vượt được hàng rào, Phương nghe phía cửa mở tiếng súng nổ dữ dội. Vũ Công Đài đã ở lại chặn địch, giữ đường rút cho đồng đội và anh dũng hy sinh. Vài phút sau, những tiếng nổ long trời từ bên trong Utapao vang lên, lửa bốc cao rực cả bầu trời đêm. 8 chiếc B-52 bị phá hủy ngay tại chỗ.

Chiến công chỉ bởi 2 chiến sĩ đặc công, giữa trung tâm căn cứ Mỹ trên đất Thái kiên cố trở thành kỳ tích đặc công Việt Nam, khiến cả bộ máy quân sự Mỹ phải choáng váng. Trong đêm ấy, Utapao không còn “bất khả xâm phạm” nữa./.
QV-ST!

TẤT CẢ VÌ CUBA!

     Hiện có thông tin không chính thức rằng tàu Sea Horse chở khí đốt LNG và dầu diesel đến Cuba, khi tàu xuất hiện ở vùng biển Caribe, cách bờ biển Cuba khoảng 1.500km thì bị Hải quân Mỹ phong tỏa, buộc phải quay đầu. (Chưa tìm thấy nguồn chính thức nào).

Được biết, tàu Sea Horse mặc dù là của Nga nhưng tàu này treo cờ Hong Kong, tức trên danh nghĩa thì không thuộc Nga, và không nằm trong danh sách đen bị cấm của Mỹ.

Nếu điều này là sự thật, vậy là mọi hy vọng của Cuba giờ đều đc đổ dồn lên tàu chở dầu Anatoly Kolodkin. Đây là tàu thuộc sở hữu của công ty vận tải biển quốc gia Nga Sovcomflot, treo cờ Nga, và nó nằm trong danh sách đen bị Mỹ, EU và Anh trừng phạt.

Vậy tại sao thuộc diện bị trừng phạt mà Anatoly Kolodkin vẫn dám chở khoảng 750.000 thùng dầu tới viện trợ Cuba? Xin thưa, đó là tuyên bố của nước Nga rằng: sẽ gắng hết sức viện trợ cho người anh em đồng chí Cuba trong điều kiện có thể (BNG Nga tuyên bố vào 17/03, Putin phát đi thông điệp ở Kremlin ngày 18/03).

Hiện Anatoly Kolodkin đã rời cảng Primorsk ở vùng Viễn Đông của Nga và đang trên đường đến cảng Matanzas ở Cuba. Và hiện chính bản thân mình cũng rất hồi hộp, không biết liệu Anatoly Kolodkin có thể vượt qua lệnh phong tỏa đường biển của Mỹ áp đặt xung quanh Cuba hay không? Và thậm chí là đám diều hâu sẽ sử dụng đủ mọi thủ đoạn để bóp nghẹt và phong tỏa Cuba.

Theo như nhiều nguồn thông tin, thì tàu Anatoly Kolodkin được ít nhất một tàu ngầm của Nga đi kèm để đề phòng và cảnh báo những hành động với ý đồ cản trở tàu chở dầu này – Nếu không thì Nga đã không dùng tàu mang cờ và biển hiệu của chính mình, mà như trước đây, đã dùng tàu mang cờ của các quốc gia khác.

Hiện chỉ có Nga và Trung Quốc đã có những động thái cụ thể và quyết liệt để hỗ trợ người đồng chí của mình, chứ không dừng lại ở các động thái mang tính ngoại giao.

Chỉ từ đầu năm đến giờ, Trung Quốc đã viện trợ cho Cuba 60.000 tấn gạo, 80 triệu USD tiền mặt, 10.000 hệ thống điện năng lượng mặt trời độc lập và hơn 100k tấn nhu yếu phẩm.

Và về Nga, thì động thái như chúng ta biết rồi đấy. Rõ ràng, Nga đã bắt đầu hỗ trợ Cuba cụ thể và đây là đòn cân não dành cho chính Trump - Nếu tàu chiến của Mỹ chặn và bắn phá tàu "Anatoly Kolodkin" thì không khác gì Mỹ sẽ tuyên chiến với Nga, và Washington sẽ phải hứng chịu mọi hậu quả do hành động của mình gây ra.

Một quốc gia khác trong khối BRICS là Brazil cũng giúp đỡ Cuba rất nhiều. Theo Bộ Ngoại giao Brazil, nước này vừa mới viện trợ thêm Cuba 20.000 tấn gạo, 150 tấn đậu, 150 tấn gạo chế biến và 500 tấn sữa bột, được chuyển giao thông qua World Food Programme. Ngoài ra, một lô thuốc men, trong đó có thuốc điều trị bệnh lao và vaccine, cũng đã được vận chuyển bằng đường hàng không và đến Cuba trong tuần này. (18-24/03).

Trong năm 2026, Việt Nam ta cũng đã viện trợ Cuba 250 tấn gạo, hỗ trợ hạt giống cao sản CT16 cho vụ mùa đầu xuân của Cuba. Hic hic, mỗi cái Cuba ko có đủ phân bón và năng lượng, thiếu vật tư trang thiết bị nông nghiệp, ko biết vụ mùa đầu xuân này có làm được gì ko nữa.

Mình tin, sẽ có hàng triệu người Việt Nam khác nữa đang chờ đợi động thái tiếp theo của Chính phủ, như kêu gọi quyên góp ủng hộ Cuba chẳng hạn. Đây chính là thời điểm người anh em Cuba đang cần chúng ta nhất.

Cố lên Cuba, người anh em đồng chí chân thành nhất của Việt Nam chúng tôi!
QV-ST!

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU BẾ MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 2, KHÓA XIV CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM!

     Chiều 25/3/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí Đại biểu tham dự Hội nghị,

Sau 03 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, dân chủ, thẳng thắn, sâu sắc, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Trung ương đã thống nhất rất cao đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của Đảng và đất nước, đặc biệt là nhóm nội dung về công tác tổ chức, cán bộ và các quy định nền tảng của Đảng. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi trân trọng cảm ơn và đánh giá cao tinh thần làm việc quyết liệt của các đồng chí Trung ương, các cơ quan giúp việc và toàn thể các đồng chí tham dự Hội nghị.

Để kết thúc Hội nghị, Tôi xin khái quát và nhấn mạnh 5 nội dung công việc:

Thứ nhất: Về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tôi đề nghị cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện thật nghiêm túc, nhất quán "Bốn kiên định" về chính trị, tư tưởng.

Đó là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở để Đảng ta giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với những nguyên lý cốt lõi, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu của thời đại.

Đó là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta. Trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, càng trước khó khăn, thách thức, càng phải giữ vững niềm tin, bản lĩnh và ý chí đối với con đường Đảng ta, Nhà nước ta, Nhân dân ta đã chọn.

Đó là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Đây là yêu cầu khách quan, là quá trình cách mạng có tính quy luật, để không ngừng thúc đẩy tiến bộ xã hội, giải phóng sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế đất nước. Kiên định tinh thần đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc, đổi mới vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân.

Đó là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Nhằm bảo đảm giữ vững sự thống nhất về ý chí, hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng. Giữ cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, củng cố niềm tin sâu sắc trong nhân dân về một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Quy định về Công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng được ban hành trong Hội nghị lần này chính là sự cụ thể hóa "Bốn kiên định" nêu trên.

Thứ hai: Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số".
Đây là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất.

Vì vậy, các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp cần quán triệt sâu sắc " B ốn nguyên tắc" cốt lõi sau:

Một là: tăng trưởng thực chất. Tức là không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với chất lượng tăng trưởng dựa trên tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh quốc gia và giá trị gia tăng thực chất. Mỗi phần trăm tăng trưởng GDP phải chứa đựng hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn. Đảm bảo tăng trưởng hôm nay không làm tổn hại đến nền tảng phát triển của ngày mai, không làm suy giảm nguồn lực đối với thế hệ tương lai của đất nước. Kiên quyết loại bỏ tư duy chạy theo thành tích. Nếu chỉ chạy theo tốc độ mà xem nhẹ chất lượng thì tăng trưởng sẽ không bền vững và cái giá phải trả sẽ rất đắt.

Hai là: kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn. Đây là điều kiện tiên quyết, trụ cột quyết định khả năng vận hành linh hoạt, an toàn và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác phải theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, vừa hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, vừa củng cố niềm tin thị trường, ổn định kỳ vọng và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.

Ba là: tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc sử dụng nguồn lực phải gắn với nguyên tắc khoa học, hạch toán kinh tế xã hội rõ ràng, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn, khắc phục tình trạng dàn trải, kém hiệu quả, lãng phí. Các dự án được lựa chọn phải có tác động chiến lược đối với toàn bộ nền kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng thực chất và góp phần củng cố các kết cấu hạ tầng then chốt của quốc gia.

Bốn là: tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội. Mọi chính sách, dự án và nguồn lực đầu tư đều phải hướng tới việc tạo ra giá trị thực chất cho người dân, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao phúc lợi xã hội và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. Đảm bảo thành quả tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng, tạo nền tảng vững chắc cho sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững.

Trên cơ sở "Bốn nguyên tắc" cốt lõi này, việc triển khai mục tiêu tăng trưởng "hai con số" phải được tiến hành một cách nhất quán, đồng bộ và kiên định, với sự chỉ đạo tập trung cao của Trung ương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương và toàn bộ hệ thống chính trị.

Để tạo "động lực của động lực" cho phát triển , Trung ương cần sớm xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Hội nghị Trung ương 3- Khóa XIV xem xét, quyết định.

Thứ ba: Về phát huy thế mạnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là "Phương thức quản trị địa phương mới", nhằm bỏ tầng nấc trung gian để tổ chức vận hành bộ máy chính quyền cơ sở thông suốt, với nguồn lực được phân bổ hợp lý, công nghệ và dữ liệu được sử dụng hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

Trước hết, phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, chứ không đơn thuần là một sự điều chỉnh về tổ chức bộ máy. Nếu chỉ dừng lại ở việc giảm tầng nấc trung gian, sáp nhập đầu mối, tinh giản hình thức, mà không đồng thời đổi mới cơ chế phân quyền, phân cấp, ủy quyền, không thiết kế lại quy trình xử lý công việc, không chuẩn hóa hệ thống dữ liệu, không làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, không chuyển mạnh phương thức phục vụ từ hành chính quản lý sang hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển thì hiệu quả cải cách sẽ rất hạn chế.

Tiếp theo, phải bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi. Cấp tỉnh không sa vào xử lý sự vụ, làm thay cấp dưới, ôm đồm những việc cơ sở có thể làm được, mà phải tập trung vào những vấn đề mang tính quy hoạch, chiến lược, đầu tư lớn, điều phối nguồn lực, quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát và bảo đảm tính thống nhất, liên kết trong toàn địa bàn, trong vùng. Ngược lại, cấp xã phải được trao điều kiện về nguồn lực để tạo không gian phát triển bên cạnh nhiệm vụ thực sự trở thành nơi giải quyết các công việc trực tiếp gắn với người dân, doanh nghiệp, địa bàn, đời sống hằng ngày, an sinh xã hội, trật tự cơ sở, thủ tục thiết yếu và các yêu cầu cấp bách từ thực tiễn.

Đồng thời phân quyền phải đi liền với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực và hoàn thiện công cụ kiểm soát. Không thể giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã mà không giao tương xứng về cơ chế, biên chế, ngân sách, dữ liệu, hạ tầng số và cơ chế giám sát, kiểm tra phù hợp. Vì vậy, phải đảm bảo phương châm: giao quyền đến đâu, bảo đảm nguồn lực đến đó; phân cấp đến đâu, kiểm soát chặt chẽ đến đó; trao nhiệm vụ đến đâu, nâng cao năng lực tương ứng đến đó.

Cùng với đó việc điều hành hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phải được thực hiện với tư duy linh hoạt, khoa học, sát thực tiễn, chống rập khuôn, máy móc. Không thể lấy một khuôn mẫu duy nhất áp cho mọi địa phương, mọi đơn vị cơ sở, bởi điều kiện về dân số, diện tích, tính chất đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, yêu cầu văn hóa, quốc phòng, an ninh, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và khối lượng công việc ở mỗi nơi là rất khác nhau. Nếu triển khai một cách cứng nhắc, rất dễ nảy sinh một bộ máy cồng kềnh mới ngay ở cấp cơ sở, đi ngược lại mục tiêu tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả mà chúng ta đã đặt ra.

Cuối cùng, phải lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo thực chất, là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hiệu quả của cải cách không chỉ đo bằng số lượng đầu mối được sắp xếp lại, mà phải được kiểm nghiệm bằng những kết quả rất cụ thể trong đời sống xã hội: người dân không bị phiền hà; hồ sơ, thủ tục hành chính phải được giải quyết nhanh thông qua khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tinh thần phục vụ Nhân dân của cán bộ, và quan trọng nhất là cấp xã phải thực sự giải quyết được công việc ngay tại chỗ, phù hợp thực tiễn địa phương.

Thứ tư: Về công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí tiêu cực.
Kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, với cách tiếp cận vừa mang tính hệ thống, vừa có chiều sâu chiến lược. Đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy, mà còn là điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển.

Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, với hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn và các cơ chế, chính sách mới theo hướng thông thoáng hơn, cởi mở hơn để khơi thông nguồn lực phát triển, thì nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cũng gia tăng theo cả chiều rộng và mức độ tinh vi. Thực tiễn cho thấy, chính ở những lĩnh vực có nhiều ưu đãi, lại dễ trở thành điểm phát sinh rủi ro nếu thiếu cơ chế phòng ngừa, kiểm tra, kiểm soát hiệu quả. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải thiết kế, cải tiến thể chế đủ chặt chẽ để "không thể" tham nhũng, lãng phí, đồng thời xây dựng cơ chế giám sát đủ mạnh để "không dám" và "không muốn" tham nhũng.

Công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới phải được triển khai với quyết tâm chính trị cao, hành động kiên quyết, kiên trì, thường xuyên và liên tục. Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm, bảo đảm nguyên tắc "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", nhưng đồng thời phải quán triệt sâu sắc tính nhân văn, thượng tôn pháp luật và mục tiêu phát triển. Trong đó, phải thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phân định rõ ranh giới giữa sai phạm do động cơ vụ lợi với sai sót trong quá trình thử nghiệm, đổi mới.

Thứ năm: Về Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Thực tiễn từ diễn biến chính trị, kinh tế, quân sự trên thế giới cho thấy: Một đất nước muốn tăng trưởng nhanh, thu hút đầu tư lớn, mở rộng thị trường, và hội nhập sâu rộng thì trước hết phải là một quốc gia có tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức đề kháng cao trước các cú sốc an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong giai đoạn mới không chỉ là giữ vững chủ quyền quốc gia, biên giới, biển đảo, vùng trời, mà còn là giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ thể chế, bảo vệ lòng tin xã hội, bảo vệ không gian mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ các mạch máu kinh tế và các lợi ích phát triển chiến lược của đất nước. Cần phải nhận thức đầy đủ đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, trọng yếu, cốt lõi, lâu dài, kiên trì của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế cần phải được đặt xuyên suốt trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quyết sách phát triển. Bảo đảm cho phát triển đúng hướng, bền vững, có chủ quyền, có kiểm soát rủi ro và có khả năng tự vệ từ sớm, từ xa, chủ động "giữ nước từ khi nước chưa nguy". Từ đó xây dựng cho được sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong thời bình, trong đó sức mạnh quân sự, sức mạnh an ninh, sức mạnh đối ngoại, sức mạnh kinh tế, sức mạnh khoa học công nghệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau.

Bên cạnh đó, phải đặc biệt coi trọng và phát huy mạnh mẽ "thế trận lòng dân", xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, đô thị lớn, trung tâm kinh tế, hạ tầng trọng yếu và không gian mạng. Đây chính là sự kết hợp giữa "thế" và "lực", giữa phòng thủ quốc gia với phòng thủ xã hội, giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải gắn kết ngày càng chặt chẽ hơn giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ và phát triển, giữa ổn định và đổi mới. Để quốc phòng, an ninh, đối ngoại thực sự trở thành một "cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia" và động lực trực tiếp của phát triển, đồng thời là chỗ dựa chiến lược để đất nước vững vàng đi lên trong kỷ nguyên mới.

Thưa các đồng chí,

Với nền tảng đã được xác lập, với bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao và sự đồng lòng, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng các mục tiêu, khát vọng phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, bền vững hơn và toàn diện hơn.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hãy hành động theo phương châm: Tự chủ chiến lược- Kiên định hai mục tiêu chiến lược 100 năm- Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.

Với tinh thần đó, tôi tuyên bố bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC!

     Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”!

Ngày 26/3 năm nay, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tròn 95 năm xây dựng, trưởng thành và cống hiến. Nhìn lại chặng đường vẻ vang ấy, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống của các thế hệ thanh niên Việt Nam. Trải qua các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước, thanh niên luôn là lực lượng xung kích, đi đầu, không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, được Bác Hồ kính yêu và các thế hệ cách mạng dìu dắt, tuổi trẻ nước ta đã viết nên nhiều trang sử đẹp bằng lý tưởng cao cả, tinh thần yêu nước và khát vọng cống hiến.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, đóng vai trò nòng cốt. Ngay từ những năm chuẩn bị thành lập Đảng, lực lượng thanh niên Việt Nam đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thông qua Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và các tổ chức tiền thân, nhiều thanh niên yêu nước đã sớm tiếp thu lý luận cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, gây dựng cơ sở, rèn luyện tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ và tạo nền tảng chính trị, tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đồng chí, các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng đều đã giữ những cương vị trọng trách ngay từ khi còn đang tuổi thanh niên. Trong các cuộc kháng chiến, tuổi trẻ là lớp người "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", có mặt trên chiến hào, tuyến lửa, hậu phương lớn, công trường và trong những phong trào sôi nổi như "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", "Năm xung phong". Đặc biệt, lực lượng thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần hết sức quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, thanh niên tiếp tục là lực lượng nhanh nhạy tiếp cận cái mới, dám nghĩ, dám làm, đi đầu trong học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế.

Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thời đại mà sức mạnh quốc gia ngày càng được đo bằng năng lực sáng tạo, trình độ khoa học - công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích ứng trước những biến động lớn của thế giới. Năng lực cạnh tranh giữa các nền kinh tế không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên hay vốn đầu tư, mà ngày càng phụ thuộc vào tri thức, công nghệ, mô hình quản trị và giá trị gia tăng mới. Trong bối cảnh thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của đất nước trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Vì vậy, đổi mới sáng tạo không còn là việc riêng của một số ngành hay một số doanh nghiệp, mà phải trở thành tinh thần phát triển chung của cả đất nước, của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị và mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ. Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định đây là động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời tăng cường tiềm lực và năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Chúng ta vui mừng chứng kiến ngày càng nhiều thanh niên Việt Nam khẳng định trí tuệ và bản lĩnh trên nhiều lĩnh vực: từ khoa học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, tự động hóa đến khởi nghiệp sáng tạo, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, giáo dục, y tế, môi trường, văn hóa. Ở nhiều địa phương, dù điều kiện còn khó khăn, nhiều đoàn viên, thanh niên vẫn kiên trì tìm tòi sáng kiến trong lao động, trong chuyển đổi số, trong phục vụ cộng đồng, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Điều đó cho thấy đổi mới sáng tạo không phải điều gì xa vời. Nó có thể bắt đầu từ phòng thí nghiệm hiện đại, nhưng cũng có thể bắt đầu từ một ý tưởng nhỏ nhằm giải quyết vấn đề thiết thực của người dân, doanh nghiệp, địa phương và đất nước.

Đổi mới sáng tạo không chỉ là công nghệ cao hay những dự án thu hút vốn lớn. Trước hết, đó là năng lực nhìn ra điều chưa hợp lý để tìm cách làm tốt hơn; là dám đặt câu hỏi, dám thử nghiệm, dám thay đổi vì lợi ích chung; là biến ý tưởng thành giải pháp, biến tri thức thành năng suất, biến sáng kiến thành giá trị. Một bạn trẻ nghiên cứu thành công công nghệ mới là đổi mới sáng tạo; một kỹ sư cải tiến dây chuyền để tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất là đổi mới sáng tạo; một bác sĩ, giáo viên hay cán bộ trẻ ứng dụng công nghệ để phục vụ nhân dân tốt hơn cũng là đổi mới sáng tạo. Ở đâu có khát vọng vươn lên và tinh thần làm tốt hơn cho cộng đồng, ở đó có đổi mới sáng tạo.

Vì vậy, sự nghiệp đổi mới sáng tạo của thanh niên không giới hạn trong vài lĩnh vực thời thượng mà bao trùm nhiều mặt của đời sống quốc gia. Trong học tập, thanh niên cần rèn tư duy phản biện, tư duy hệ thống, năng lực tự học suốt đời, làm chủ ngoại ngữ, kỹ năng số và phương pháp nghiên cứu khoa học. Trong lao động, phải quý trọng kỷ luật, tôn trọng quy trình nhưng không chấp nhận lối mòn, không bằng lòng với những gì đã có. Trong sản xuất, kinh doanh, cần mạnh dạn ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng quản trị, cải thiện năng suất, xây dựng thương hiệu Việt Nam bằng chất lượng và sáng tạo. Trong khu vực công, thanh niên cần góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả. Trong văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, thanh niên cũng phải chủ động đưa giải pháp mới vào thực tiễn, giữ gìn bản sắc, bảo vệ Tổ quốc trên cả không gian thực và không gian số.

Tuy nhiên, sáng tạo chân chính không thể tách rời lý tưởng sống, đạo đức và trách nhiệm công dân. Thanh niên phải dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm cái mới; nhưng điều đó không có nghĩa là tùy tiện, nóng vội, chạy theo trào lưu hay sự nổi tiếng nhất thời. Đổi mới sáng tạo phải gắn với phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tuân thủ pháp luật, tôn trọng đạo đức, văn hóa, lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một sáng kiến chỉ thật sự có giá trị khi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, xã hội văn minh hơn, con người được phục vụ tốt hơn, đất nước mạnh hơn, độc lập, tự chủ hơn. Tuổi trẻ càng giỏi công nghệ, càng tiếp cận nhanh với cái mới, càng phải giữ vững lý tưởng, bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và lòng yêu nước. Đó là điều bảo đảm để đổi mới sáng tạo đi đúng hướng, phát triển lành mạnh, bền vững.

Tôi mong thanh niên Việt Nam hôm nay luôn ghi nhớ: yêu nước trong thời đại mới không chỉ thể hiện bằng cảm xúc, mà phải được thể hiện bằng tri thức, năng lực hành động, tinh thần chinh phục những đỉnh cao mới của khoa học - công nghệ và ý chí làm chủ tương lai đất nước. Thành công bắt đầu từ tinh thần không ngừng học hỏi, không ngừng hoàn thiện, không ngừng đặt ra yêu cầu cao hơn cho bản thân. Không có thành công bền vững nếu thiếu lao động nghiêm túc; không có công trình lớn nếu thiếu tích lũy bền bỉ; không có thành tựu thật sự nếu chỉ dựa vào may mắn hay cảm hứng nhất thời. Con đường đi tới thành công đòi hỏi cả tài năng lẫn kỷ luật, cả nhiệt huyết lẫn chiều sâu, cả khát vọng lớn lẫn sự khiêm tốn, cầu thị.

Tổ quốc cần ở thanh niên một tinh thần học tập suốt đời. Trong thế giới biến động nhanh chóng, tri thức hôm nay có thể nhanh chóng lạc hậu nếu chúng ta dừng lại. Bởi vậy, học tập không chỉ giới hạn trong nhà trường hay những năm đầu đời, mà phải trở thành một phẩm chất thường trực. Thanh niên Việt Nam cần chủ động cập nhật tri thức mới, nâng cao kỹ năng số, năng lực sử dụng công nghệ, ngoại ngữ, hợp tác quốc tế và khả năng làm việc trong môi trường đa ngành, đa văn hóa. Nhưng học tập không chỉ để có việc làm hay để tiến thân; học tập còn để mở rộng tầm nhìn, nâng cao năng lực cống hiến, để khi đất nước cần, mỗi bạn trẻ đều có đủ trình độ và bản lĩnh nhận nhiệm vụ khó hơn, lớn hơn. Một quốc gia mạnh về đổi mới sáng tạo trước hết phải là quốc gia có người trẻ ham học hỏi và có môi trường thuận lợi để biến tri thức thành hành động.

Thanh niên cũng cần nuôi dưỡng mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, lập nghiệp, nhưng đó phải là khởi nghiệp bằng trí tuệ, đạo đức kinh doanh và khát vọng tạo ra giá trị mới cho xã hội. Khởi nghiệp không chỉ để thành công cho riêng mình, mà còn để giải quyết vấn đề của cộng đồng, tạo việc làm cho người khác, góp phần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Tôi mong những doanh nhân trẻ Việt Nam không chỉ mơ ước xây dựng doanh nghiệp lớn, mà còn xây dựng doanh nghiệp tử tế; không chỉ tìm kiếm lợi nhuận, mà còn hướng tới giá trị bền vững; không chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ, mà bằng công nghệ, chất lượng, quản trị và uy tín. Đất nước rất cần những nhà khoa học trẻ dám đi vào lĩnh vực mới, những kỹ sư trẻ chinh phục công nghệ cốt lõi, những nông dân trẻ làm nông nghiệp thông minh, những công chức trẻ cải cách mạnh mẽ quy trình công vụ, những văn nghệ sĩ trẻ sáng tạo tác phẩm có giá trị và những chiến sĩ trẻ làm chủ công nghệ hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Tựu chung lại, lực lượng thanh niên hôm nay có thể đưa ra phương châm hành động: "Bản lĩnh tự cường - Tiên phong sáng tạo - Khát vọng cống hiến - Làm chủ tương lai".

Để đạt được điều đó, không thể chỉ đặt kỳ vọng lên vai thanh niên mà cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải cùng hành động. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ rào cản, tạo môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi cho sáng tạo, khuyến khích thử nghiệm và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung. Các cơ sở giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, chú trọng hình thành tư duy độc lập, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác và thực hành. Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cần tăng cường gắn kết, hình thành chuỗi liên thông từ nghiên cứu đến ứng dụng, từ ý tưởng đến sản phẩm, từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Khi thể chế thông thoáng, môi trường thuận lợi và niềm tin xã hội được củng cố, sức sáng tạo của tuổi trẻ sẽ được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ hơn.

Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, thực sự là người bạn đồng hành của thanh niên, là mái nhà chung để tập hợp, cổ vũ, phát hiện, bồi dưỡng và nâng đỡ tài năng trẻ. Phong trào thanh niên phải trở thành môi trường để thế hệ trẻ trưởng thành về lý tưởng, đạo đức, năng lực và trách nhiệm; đồng thời là nơi phát hiện những nhân tố mới, mô hình hay, cách làm hiệu quả và những tấm gương tiêu biểu. Khi được tổ chức tốt và khơi dậy đúng hướng, thanh niên hoàn toàn có thể tạo ra những đóng góp thiết thực cho đất nước và cộng đồng.

Tôi đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà khoa học và toàn thể nhân dân tiếp tục quan tâm sâu sắc hơn đến sự trưởng thành của thế hệ trẻ. Cần lắng nghe tiếng nói của thanh niên, tôn trọng những ý tưởng đúng đắn và đồng hành cùng thanh niên trong học tập, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp, lập thân, lập nghiệp. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững không thể thiếu niềm tin vào lớp trẻ. Nhưng niềm tin ấy không chỉ dừng ở lời nói mà phải được thể hiện bằng cơ chế, chính sách, nguồn lực, môi trường thuận lợi, cùng với sự nêu gương, dìu dắt và trao truyền trách nhiệm của các thế hệ đi trước.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, mong rằng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay sẽ tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, hun đúc khát vọng cống hiến, làm giàu trí tuệ, rèn luyện bản lĩnh, bồi dưỡng đạo đức, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, dũng cảm bước vào những lĩnh vực mới, việc khó, việc chưa có tiền lệ. Với niềm tin đó, chúng ta có cơ sở để kỳ vọng rằng thế hệ trẻ Việt Nam sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc bằng ngôn ngữ của thời đại hôm nay: ngôn ngữ của tri thức, của sáng tạo, của trách nhiệm và của khát vọng vươn lên không ngừng./.

QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳HƠN CẢ MỘT TƯỢNG ĐÀI🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

     Về quê hương địa đạo Củ Chi, ghé vào xã Phước Hiệp, thăm Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Rành. Người dân quanh vùng thường gọi má bằng những cái tên thân thương: “Má Tám Rành”, “Bà mẹ Củ Chi”, “Bà mẹ Đất thép”, “Bà má Dũng sĩ”. Ngoài ra, do ghiền trầu từ thời trẻ, nên má còn được gọi là “Má Tám Trầu”.
Tuổi thơ nhọc nhằn!
Cô bé Rành chào đời năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo, sẵn có truyền thống yêu nước ở ấp Trại Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh). Bấy giờ, ở Nam kỳ, hội kín phát triển mạnh, đặc biệt là phong trào “Thiên Địa hội” của Phan Xích Long nổ ra tại Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân. Năm 1913, người cha của Rành bị thực dân Pháp bắt vì tội “làm quốc sự”, bị đày ra Côn Đảo và biệt tích. Nhà chỉ có hai anh em, quá nghèo và cực khổ, nên người anh của Rành đi ở trừ nợ từ trước. Ngày ngày, Rành đi mò tôm, xúc cá, mang ra chợ kiếm cái đắp đổi qua ngày. Nỗi đau mất cha còn chưa kịp nguôi ngoai, thì người mẹ đột ngột qua đời. Với món nợ truyền kiếp, nhưng “gia sản” chỉ có căn lều rách te tua như lều vịt, nên dù mới 14 tuổi, Rành bị tay xã trưởng cho người lôi về nhà hắn. Quãng đời đi ở đợ làm công, đói rách, cơ cực không sao kể xiết. Nhưng cô bé Rành cứ thế vụt lớn lên thành một thiếu nữ biết tự trọng, giàu tình cảm và cứng cỏi.
Mười tám tuổi, Rành gặp anh hương sư Nguyễn Văn Cầm (Tám Cầm), quê ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, Long An, về dạy học trong vùng. Rồi họ nên vợ, nên chồng. Hai năm sau, tại ấp Trại Đèn, đứa con trai đầu lòng chào đời. Rồi anh Tám được cử về miền Tây trông coi một ngôi trường vừa mới mở. Tại đây, Tám Cầm gặp được những người cùng chung chí hướng, yêu nước, ghét Tây.
Dâng hiến cho cách mạng và kháng chiến
Trong vòng 22 năm (1920-1942), má Nguyễn Thị Rành sinh hạ 10 người con, 8 trai, 2 gái. Năm 1941, thầy giáo Cầm quyết định nghỉ dạy để có điều kiện hoạt động cách mạng, tham gia Việt Minh. Vợ chồng má luôn giáo dưỡng con cái biết sống tử tế, giàu tình thương và có nghĩa khí; anh chị làm gương cho em út. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, thực dân Pháp trở lại gấy hấn, đánh chiếm Sài Gòn, rồi mở rộng ra toàn xứ Nam bộ. Nguyễn Văn Dúng, người con lớn đã giấu cha mẹ gia nhập bộ đội, anh được phân công làm Xã đội trưởng xã Phước Hiệp. Má nói với đàn con: Đứa nào lớ quớ theo giặc, tao chém! Năm 1947, má Tám Rành tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc xã. Trong lúc chỉ huy anh em đánh bọc hậu một đơn vị địch, anh Hai Dúng hy sinh, để lại người vợ trẻ và đứa con trai. Thương con đứt ruột, má xót xa cho con dâu còn quá trẻ và đứa cháu đích tôn thơ dại. Nhưng không gì cản được các con của má lần lượt nối tiếp nhau cầm súng đánh giặc. Năm 1954, má Nguyễn Thị Rành làm Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ và là Chính trị viên Xã đội Phước Hiệp. Những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, vợ chồng má nhận thêm một tin xé ruột: người con thứ 2 là Nguyễn Văn Sóc, tiểu đội trưởng đặc công hy sinh tại Long An.
Trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, Củ Chi là một trong những nơi bị địch đàn áp khốc liệt, nhất là sau khi có đạo luật phát xít 10/59, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Ngoài việc tham gia “đội quân tóc dài”, đấu tranh trực diện với địch, má Tám còn đào hầm nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho du kích… Địch bắt nhốt má nửa tháng trời tại đồn quận lỵ Củ Chi, để hòng dụ Nguyễn Văn Vé người con thứ 4 ra hồi chánh. Và thêm một khúc ruột của má bị cắt lìa, chiến sĩ du kích Năm Vé anh dũng hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, vợ chồng má kêu cả đàn con đến trước thi hài của Năm Vé và nói như dao chém đá: “Mấy đứa bây coi gương của anh Hai, anh Ba, thằng Năm. Coi đó mà trả thù cho tụi nó!”. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, gần giáp Tết, má Tám Rành cùng một số người trong Hội Mẹ chiến sĩ được mời dự hội nghị do Huyện ủy Củ Chi tổ chức bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Ngắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh, lòng má bừng lên một tinh thần mới!
Năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Cùng với việc xây dựng căn cứ Đồng Dù, địch tăng cường chà xát, biến Củ Chi thành vùng trắng, bình địa. Sau khi bẻ gãy 2 trận càn với quy mô cực lớn là Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất”, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (tháng 9/1967), Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng”. Cùng trong năm này, má Rành ba lần nhận tin dữ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hè, người con thứ 5 bị địch khui hầm, trúng đạn chỉ cách nhà mẹ chừng vài trăm thước. Tiếp đến, đứa cháu nội Nguyễn Văn Rưng (con anh Hai Dúng), tiểu đội phó đặc công, hy sinh. Người con thứ 8, Nguyễn Văn Nâng, Xã đội trưởng Phước Hiệp bị pháo địch dập trúng. Là chính trị viên xã đội, má nuốt nước mắt, cắn chặt môi, nén lòng để giữ vững tinh thần cho các chiến sĩ du kích tiếp tục chiến đấu.
Tết Mậu Thân 1968, ông giáo Tám đau yếu phải về quê nội dưỡng bệnh. Một mình má Tám sửa soạn ban thờ cúng gia tiên. Trước 5 bát nhang, má lầm rầm khấn: Các con sống làm chiến sĩ, chết anh hùng vì dân vì nước, ráng phù hộ cho anh em đánh giặc. Rồi má lấy chéo khăn rằn chấm nước mắt… Ra giêng, má Tám Rành đứt đoạn thêm hai khúc ruột nữa. Chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, con thứ 7, vừa ngã xuống; tiếp đến Nguyễn Văn Huội, con thứ 6 hy sinh trong trận nhổ đồn địch ở An Nhơn Tây. Nhận tin dữ, má ôm con dâu và đứa cháu nội (con Bảy Huội) vào lòng, ngỡ mình không sống nổi. Bọn ác ôn đưa má Tám về đồn, giở trò dọa dẫm đủ đường, suốt tuần lễ, má không ăn, chỉ nhai trầu, uống nước cầm hơi. Cuối cùng chúng đành chào thua và thả bà Tám Trầu “cứng cổ”. Huyện ủy, Huyện đội Củ Chi lo cho sự an nguy của má Tám, nhưng má không chịu. Má nói với anh em, tụi bây báo với cấp trên, Tám Rành này còn giọt máu cuối cùng vẫn một lòng một dạ với cách mạng!
Đầu năm 1969, trong một trận đột nhập căn cứ địch, quân ta diệt nhiều tên. Khi đơn vị lui quân, chiến sĩ Nguyễn Văn Luông, người trai út của má Rành ở lại cản hậu và trúng đạn. Trước tột cùng nỗi đau, cả 8 người con trai cùng đứa cháu đích tôn hy sinh, năm sau, ông giáo Tám Cầm về với ông bà tổ tiên. Năm 1970, thêm đứa cháu ngoại là chiến sĩ Huỳnh Văn Cường, con chị Nguyễn Thị Săng (con thứ 3 của má), hy sinh tại Mộc Hóa, Long An.
Dường như má Rành đã khô kiệt nước mắt. Con người má quánh đặc nỗi đau. Nhưng không chỉ lao vào hoạt động, má như cây cột trụ làm chỗ dựa vững chắc cho con dâu, con gái kiên cường sống. Ngày 29/4/1975, từ sáng sớm má Tám đã xuống đường. Má treo cờ đỏ sao vàng lên ngọn cây điệp ở đầu ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, mở màn cho cuộc nổi dậy giành chính quyền của nhân dân xã nhà.
Tượng đài bất tử
Ngày 6/11/1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Thị Rành, vì đã “làm được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”. Ngày 26/1/1979, má Tám Rành qua đời. Năm 1983, vợ chồng má được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Đến năm 1994, má Rành được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có 8 người con và 2 cháu nội, ngoại hy sinh cho Tổ quốc. Để ghi nhớ công ơn của “Bà mẹ Đất thép”, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định chọn con đường đẹp nhất Củ Chi mang tên Nguyễn Thị Rành. Đường dài gần 20km, từ ngã rẽ quốc lộ 22 thuộc ấp Bàu Đưng, xã Tân An Hội, kéo qua Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, An Nhơn Tây và kết thúc tại điểm đầu tỉnh lộ 8, xã Phú Mỹ Hưng. Trên con đường này, có một trạm y tế mang tên má Tám.
Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (2011-2016) ra nghị quyết chọn công trình Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Rành là 1 trong 6 công trình trọng điểm của nhiệm kỳ 2011-2016. Công trình được khởi công từ tháng 7/2012 và khánh thành cuối tháng 1/2013 trên nền nhà cũ của má. Giai đoạn 2 mở rộng được hoàn thành vào tháng 10/2016, với tổng diện tích 5.609 m2. Kinh phí xây dựng do cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ 24 quận, huyện, các đơn vị và Mạnh thường quân đóng góp. Bên trong nhà có phù điêu chân dung má Tám Rành. Phía trên bàn thờ là ảnh Bác Hồ với câu nói của Người: “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”. Tiếp đến là bài vị thờ chồng má, cùng 8 con trai, 2 cháu liệt sĩ. Phía trước trang thờ, trên hai cột được chạm khắc cặp câu đối: “Trước sau một dạ anh hùng, quê nghèo đất thép; Con cháu mười người Liệt sĩ, tay trắng lòng son”. Gia tài của “Bà mẹ Củ Chi” được lồng trong tủ kính là 5 cái chén đĩa, 1 cây đèn bão, 1 cái cối giã trầu bằng đồng bé tẹo và một xấp dày giấy báo tử… Chỉ vậy thôi, nhưng dân tộc này, đất nước này sẽ trường tồn mãi mãi bởi những người mẹ như má Nguyễn Thị Rành. Mất con nhưng còn nước! Đức hy sinh của má Tám Rành không gì sánh nổi, vâng, có lẽ nó còn hơn cả một tượng đài...!
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: BÍ MẬT SAU NHỮNG VỤ “BẮT CÓC CUNG NỮ” CỦA VUA THÀNH THÁI

     Vua Thành Thái từng âm thầm xây dựng một đội nữ binh núp bóng cung nữ với mưu đồ chống thực dân Pháp. Tuy nhiên, lý do vì sao nhà vua lại chọn “nữ binh” thay vì “nam binh” thì không phải ai cũng biết.

Cuốn “Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam” có viết: “Lợi dụng cái yếu của xã hội trọng nam khinh nữ, khi người ta ít chú ý đến võ lực của nữ, mà trong tam cung lục viện, số nữ lại đông nhất vì triều đình có quyền tuyển nữ. Vậy nên Thành Thái nghĩ đến việc dùng lực lượng phái đẹp chống Pháp, giành độc lập”.

Để che mắt kẻ thù, ông đóng vai vị vua hám sắc, cho cận vệ dàn cảnh “bắt cóc” các thiếu nữ từ những vùng lân cận, đưa vào cung cấm.

Mỗi đội quân gồm 50 người, sau khi huấn luyện thuần thục sẽ được bí mật trả về địa phương chờ ngày khởi sự, nhường chỗ cho đợt tuyển quân mới.

Để đảm bảo kinh phí và giữ bí mật, nhà vua còn cho các nữ binh dệt vải và tổ chức phiên chợ ngay trong Đại Nội. Đồng thời, ông cũng phối hợp với họa sĩ Lê Văn Miến, nghiên cứu và đúc vũ khí cho lực lượng này.

Khi kế hoạch đang tiến triển thuận lợi với 4 đội quân (khoảng 200 người) thì sự việc bị bại lộ do sự phản bội của một số đại thần.

Trước sức ép của Khâm sứ Pháp Levécque, vua Thành Thái buộc phải giả điên, xé bản vẽ vũ khí để bảo vệ thuộc hạ.

Chính quyền thực dân nhân cơ hội này ép ông thoái vị, đồng thời ra điều kiện: nếu muốn giữ ngai vàng phải ký vào giấy xin lỗi và công khai thú nhận mưu đồ chống đối trước quốc dân.

Nhưng thay vì nghe lời chúng, Thành Thái đã ném thẳng tờ tuyên cáo thảo sẵn ấy xuống đất và chấp nhận kiếp lưu đày để giữ trọn lòng yêu nước.

Dẫu đội nữ binh chưa có cơ hội thực chiến, lịch sử vẫn ghi nhận hình tượng một vị vua khí tiết, luôn sục sôi tinh thần chống Pháp, quyết không cúi đầu làm bù nhìn mất nước./.
QV-ST!

TIỆC BUFFET LỊCH SỬ "YÊU NƯỚC CHỨ KHÔNG YÊU ĐẢNG" - MỜI CHỌN MÓN!

     Qua nay kẻ hèn này có lên 02 bài viết bóc tách cái bản chất thật sự của luận điệu "Yêu nước chứ không yêu Đảng", phần đông đều tán đồng ủng hộ, nhưng đâu đó vẫn nhiều ý kiến vẫn còn chấp niệm với quan điểm nhất quyết là thời nay có thể yêu nước chứ không cần thiết phải yêu Đảng. Với đủ mọi loại lý lẽ từ chửi cùn đến dùng AI phân tích máy móc logic hình thức về một vấn đề khoa học chính trị vốn phức tạp với hệ thống lý luận và bối cảnh lịch sử - cụ thể của nó. Tôi cũng không lấy làm phiền lòng vì chuyện đó vì hệ quy chiếu và xuất phát điểm nhận thức của mỗi người mỗi khác.

Cơ mà sáng nay tôi lại thấy phơi phới trong bụng vì hôm qua sau buổi giảng, tui nghe loáng thoáng các bạn sinh viên khen thầy giảng hay lại còn đẹp trai, hẹ hẹ, gì chứ được khen là tui khoái lắm. Nên hôm nay tôi rộng lượng chiêu đãi các bạn "yêu Tổ quốc 4000 năm chứ không nhất thiết phải yêu chế độ" một bữa buffet lịch sử, vừa để ôn bài vừa cho các bạn tha hồ lựa chọn.

Thế này đi, coi như là tôi đồng ý với các bạn quan điểm đó. Nhưng mà, yêu thì phải có đối tượng, không thể yêu một thứ vô hình hài. Để chiều lòng cái sự "tỉnh táo" ấy, chúng ta hãy cùng thực hiện một chuyến du hành ngược dòng thời gian, đi tìm xem trong suốt chiều dài lịch sử, có cái "Việt Nam" nào phù hợp với gu thẩm mỹ chính trị đứng ngoài hệ điều hành của các bạn hay không nhé. Món ngon ở cuối!

Let's go!!!

🍗 Trạm dừng chân thứ nhất: Thời kỳ hoang sơ "ăn lông ở lỗ".
Nếu bạn ghét sự quản lý của chính quyền, ghét mọi hệ thống tổ chức, thì có lẽ thời Cộng sản nguyên thủy là thiên đường. Ở đây không có Đảng, không có Nhà nước, không có pháp luật. Bạn được tự do tuyệt đối trong hang đá, sáng đi săn bắn hái lượm, chiều chạy trốn thú dữ. Tuy nhiên, có một vấn đề nhỏ: lúc này chưa hề có khái niệm “quốc gia” hay “biên giới”. Bạn chỉ là một sinh vật đang tìm cách sinh tồn đơn thuần. Yêu nước kiểu gì khi thực thể “Nước” còn chưa hình thành?

Nhưng nếu bạn bảo thời này thiếu tiện nghi và "mọi rợ" quá, mà vẫn khao khát cái tự do tuyệt đối ấy, thì mời bạn hướng đến chế độ Cộng sản chủ nghĩa – giai đoạn phát triển cao nhất của xã hội loài người, nơi "làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu". Ơ, nhưng tới đây thì có gì đó hơi "cấn". Chẳng phải các bạn đang phủ định Đảng Cộng sản sao? Nếu đã không thích Đảng, thì cái xã hội đích thực mà Đảng hướng tới chắc các bạn cũng chẳng mong chờ gì mấy. Vậy là loại ngay giả thuyết đầu tiên.

🍉 Trạm 2: Thời Văn Lang – Âu Lạc.
Nhà nước sơ khai đã xuất hiện, không có Đảng, chỉ có Vua Hùng và các Lạc hầu, Lạc tướng. Thế nhưng, thực tế là diện tích đất nước bấy giờ bé tẹo, rừng thiêng nước độc chiếm đến 90%. Bạn lỡ miệng phê bình triều đình một câu như Mai An Tiêm là lập tức bị tống ra đảo hoang tự trồng dưa hấu ngay, chẳng có cơ hội nào để đòi dân chủ hay nhân quyền. Chưa kể các bộ tộc lân bang cứ dăm bữa nửa tháng lại xách gậy gộc qua "hỏi thăm" nhau. Muốn yêu cái dải đất hình chữ S toàn vẹn như bây giờ ư? Mơ đi, vì lúc đó phương Nam vẫn còn là rừng rậm chưa khai phá và quốc gia thì quá đỗi mong manh.

⛓️ Trạm 3: Ngàn năm Bắc thuộc.
Đây là giai đoạn "không có Đảng" dài nhất lịch sử. Nhiều bạn bảo không cần thể chế độc lập, chỉ cần "yêu dân tộc" là được, vậy mời bạn về đây. Thực tế là buổi sáng bạn phải lặn xuống biển mò ngọc trai trong cảnh xiềng xích, chiều lên rừng săn voi lấy ngà cống nạp cho thiên triều. Phản kháng ư? Nó dìm cho trong bể máu ngay lập tức. Bạn có muốn yêu một cái Việt Nam thân phận nô lệ, đến cái tên nước còn bị xóa sổ để thay bằng "An Nam đô hộ phủ"? Chắc chắn là không "chill" chút nào rồi.

⚔️ Trạm 4: Thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ.
Hẳn nhiều người sẽ reo lên: “Đây rồi, yêu nước thời này là chuẩn nhất!”. Cả nghìn năm xưng Vương xưng Đế, đánh thắng ngoại xâm thần thánh với những chiến công lẫy lừng: Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Lý Thường Kiệt với bản tuyên ngôn "Nam quốc sơn hà", Trần Hưng Đạo ba lần đại thắng quân Mông Nguyên rung chuyển thế giới, hay Quang Trung đại phá quân Thanh thần tốc. Thời đại ấy để lại cho chúng ta di sản văn hóa đồ sộ, lòng tự tôn dân tộc và tinh thần bất khuất.
Nhưng phải nói thật: yêu nước thời này gắn chặt với ý niệm “Trung quân”. Vua là đại diện duy nhất của quốc gia. Thử bảo yêu nước mà không trung với vua, ghét triều đình xem? Nhẹ thì chém đầu thị chúng, còn phần đông là tru di cửu tộc, gia phả về zero ngay lập tức. Lúc này không có khái niệm “công dân” như bây giờ, chỉ có “con dân”, láo nháo đòi dân chủ quan phủ lại cho 100 trượng hoặc bêu đầu cổng thành ngay.

Và cũng phải nhìn thẳng sự thật: thời phong kiến không phải lúc nào cũng “thịnh trị”. Lúc yên ổn thì cũng có lúc loạn lạc kinh hoàng như Loạn 12 sứ quân, Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyễn phân tranh khiến dân lành lầm than. Chưa kể những ông vua bán nước, vì ngai vàng mà sẵn sàng khom lưng quỳ gối trước lân bang, "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi giày mả tổ" khiến dấy động can qua, dân đen bị lắm phen bị “nướng trên ngọn lửa hung tàn”.

Tuy nhiên, tinh thần dân tộc quật cường, ý chí chống ngoại xâm, văn hóa đoàn kết, nghĩa tình tích lũy nghìn năm ấy lại chính là những giá trị được kế thừa mạnh mẽ nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chẳng phải Đảng chính là người tiếp nối xuất sắc nhất cái hào khí đó để đưa dân tộc vượt qua những cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược hay sao? Nếu bạn nói bạn yêu cái “tinh thần dân tộc” được trao truyền qua nhiều đời ấy, mà lại phủ nhận tổ chức đang kế thừa và phát triển nó hiệu quả nhất trong thực tế thì thật có vấn đề về tư duy và tình cảm.

🗼 Trạm 5: Thời Pháp thuộc.
Mọi chuyện còn khó nói hơn nữa, bởi vì... không có nước để mà yêu. Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ, bị chia làm ba kỳ hòng "chia để trị". Người dân làm phu phen, đồn điền, hóa thân vào đất nước trên những gốc cao su, hầm mỏ, sống và ch.ết đều khổ hơn súc vật. Phản kháng thì bị dìm trong máu. Yêu nước thời này là yêu trong đau khổ, bế tắc. Còn nếu sống “ổn” thời đó, thường chỉ có một kiểu: làm tay sai, mật thám, chỉ điểm cho Tây. Mà cái hạng đó bảo “tôi yêu nước”... nghe nó khập khiễng đến buồn cười.

Rồi lịch sử chuyển bước. Một lực lượng xuất hiện, tập hợp nhân dân giành lại độc lập, thống nhất đất nước. Lần đầu dân ta được đi bầu cử, được thực hiện quyền dân chủ, biết con chữ thay vì rượu cồn, thuốc phiện. Hỏi người dân thích đất nước thời nào hơn, lịch sử đã trả lời hộ bạn rồi.

🇻🇳 Trạm 6: Đến đây, bạn lại nói: “Ừ, tôi vẫn yêu nước. Nhưng tôi không yêu Đảng.”
Thế thì thử nhìn một phương án khác: miền Nam trước 1975. Ở đó có chế độ khác, có đảng khác. Nhưng đổi lại là gì? Là lệ thuộc viện trợ Mỹ, đảo chính liên miên, chiến tranh kéo dài, dồn dân vào ấp chiến lược, thảm sát và bất ổn. Nếu người dân thực sự “yêu” cái chế độ đó, thì đã không có địa đạo Củ Chi, không có Mặt trận Giải phóng, không có hàng triệu người đứng lên đánh đổi mạng sống để xóa bỏ nó. 

Nếu không có Đảng Cộng sản đánh đuổi Pháp, buộc các nước phải ký Hiệp định Geneva thì cũng chẳng bao giờ có cái chính quyền bù nhìn do Mỹ dựng nên để bạn ngồi đó mà hoài niệm. Vậy cái “nước” mà bạn muốn yêu ở đó - có thật sự được chính người dân thời đó yêu không? Hay chỉ là sự hoài niệm của một số ít người ăn trên ngồi chốc trên nỗi đau đồng bào?

🛑 Trạm 7: Đi một vòng quá khứ, có vẻ… không có đáp án nào trọn vẹn. Thế thì quay về hiện tại.
Bạn nói yêu nước Việt Nam hôm nay, nhưng không yêu Đảng. Vậy bạn đang kỳ vọng cái gì? Một tương lai khác? Chắc là thích đa nguyên đa đảng đúng không? Nghe có vẻ hấp dẫn đấy... nhưng đặt vào thực tế Việt Nam - một đất nước địa chính trị nhạy cảm, trải dài từ bắc xuống nam, hẹp về chiều rộng, từng có lịch sử bị chia cắt bới thực dân mà đa đảng thì chắc chắn sẽ phân hóa: miền Bắc một đảng, miền Trung một đảng, miền Nam một đảng. Nước lớn nhảy vào thao túng, ông lớn phía Bắc kiểm soát phía này, tư bản phương Tây thâu tóm phía nọ, thậm chí dựng lên những nhà nước tự trị để dễ bề chia cắt. Đất nước lại rơi vào cảnh chia năm xẻ bảy, phe phái bắn giết lẫn nhau, bạn làm gì còn "đất nước chữ S toàn vẹn" để mà yêu.

Còn nếu là một đảng khác nắm quyền mà vẫn giữ đúng chính sách độc lập, tự chủ và bảo vệ dân nghèo như hiện nay - thì đó chính là Đảng Cộng sản rồi, chỉ khác cái tên thôi. Còn nếu đảng đó chọn hướng khác, ví dụ một chế độ Cộng hòa nghiêng hẳn về một phe để "chọn bên", hãy nhìn gương Ukraine bài Nga để nghiêng về phương Tây rồi bây giờ tan hoang như thế nào.

Từ bỏ sự ổn định hiện có, từ bỏ một cơ đồ đã phải đổi bằng bao máu xương và nước mắt của cha ông để xây dựng hòng đổi lấy một cái "mơ hồ bất định", liệu đó có gọi là khôn ngoan? Hay nói thẳng ra đó là sự ngu dốt, là tội nhân thiên cổ! Lịch sử dân tộc không phải là một "phép thử" để sai thì xóa game làm lại. Cái giá phải trả là sự lầm than của hàng triệu con người và tương lai của cả dân tộc đấy, đừng đùa!!!

Cuối cùng, nếu tất cả các món trên bạn đều không yêu thì chắc bạn chỉ yêu nước Mỹ? Ơ nhưng mà ở Mỹ mà yêu nước thì lại càng phải yêu đảng đó thôi. Không yêu sao bầu cho Dân chủ hay Cộng hòa? Rồi vì ủng hộ đảng này ghét đảng kia mà chửi nhau, mạt sát, biểu tình phản đối nhau như dân chợ búa. Không yêu sao lại có cả bài hát “Hãy bầu cho Tổng thống Trump”? Ở đâu cũng thế, muốn yêu nước thì phải gắn liền với cái thể chế đang vận hành quốc gia đó.

Sau cùng loạt bài này nên kết lại ở đây, ai hiểu cũng đã hiểu, ai không hiểu cũng cố mà vừa tức vừa hiểu đi. 3 bài có lẽ đủ để chỉ mặt, gọi tên thực chất của những luận điệu “yêu nước nhưng không yêu Đảng”. Đừng tưởng mình "tư duy độc lập", đó thực chất là chiêu bài tâm lý chiến núp bóng hòng chia rẽ dân tộc. Những kẻ rêu rao câu này hoặc là mù quáng, ngu dốt hoặc có tâm địa xấu xa, xảo trá muốn biến đất nước thành một cơ thể không có bộ não lãnh đạo để dễ bề thao túng.

Yêu nước chân chính là phải tỉnh, phải trân trọng những gì đang có và vững tin vào con đường mình đang đi. Đừng để đến lúc mất nước rồi mới ngồi đó mà hối hận, lúc đó thì...cái nịt cũng không có mà yêu!

Như mọi khi, thấy hay thì đọc không like cũng được nhưng copy bê đi chỗ khác ghi nguồn giúp mình nhé. Không làm bị trĩ ráng chịu!
QV-ST!