Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: CHIỀU NGÀY 25-3 , THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH ĐÃ HỘI KIẾN TỔNG THỐNG NGA VLADIMIR PUTIN TẠI ĐIỆN KREMLIN!

     Sau đây là bản dịch lời phát biểu của 2 ông tại cuộc gặp. Hai vị lãnh đạo gọi nhau là “đồng chí”, “đồng chí Tổng thống”. Bản gốc tiếng Nga lấy từ trang của tổng thống Nga kremlin. ru

Tổng thống V. Putin:

Kính thưa đồng chí Phạm Minh Chính! Thưa các bạn thân mến!

Tôi rất vui được chào đón đồng chí và được gặp đồng chí tại Moskva, trong Điện Kremlin.

Trước hết tôi xin một lần nữa chúc mừng đồng chí, cũng như tất cả những người bạn Việt Nam của chúng tôi, về việc tổ chức thành công Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tôi đã theo dõi rất sát sự kiện quan trọng bậc nhất này trong đời sống đất nước các bạn.

Xin đồng chí chuyển lời thăm hỏi tới đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm. Giữa chúng tôi đã hình thành những quan hệ công việc tốt đẹp, cũng như quan hệ cá nhân thân tình, hữu nghị. Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa: chúng tôi luôn sẵn sàng được đón tiếp đồng chí ấy tại Nga vào bất cứ thời điểm thuận tiện nào.

Việt Nam đã và vẫn là đối tác tin cậy của chúng tôi, là người bạn của chúng tôi. Và quan hệ của chúng ta, như chúng tôi luôn nhấn mạnh từ cả hai phía, chắc chắn đã được thử thách qua thời gian.

Tôi biết đồng chí có chương trình làm việc rất dày đặc: đồng chí đã gặp Chủ tịch Chính phủ Nga (Thủ tướng) Mishustin, cả hai lãnh đạo Quốc hội Nga (Valentina Matvienko và Vyacheslav Volodin), cũng như Thư ký Hội đồng An ninh (Sergey Shoigu).

(Hai bên) đã ký kết thỏa thuận về việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam. Kim ngạch thương mại trong năm 2026, trong những tháng vừa qua, đã tăng thêm 5,7%. Hôm nay chúng ta sẽ thảo luận tất cả các vấn đề, như thường lệ, chúng ta luôn có rất nhiều việc để bàn.

Tôi muốn nhấn mạnh: chúng tôi luôn vui mừng được đón tiếp những người bạn Việt Nam tại Nga.

Thủ tướng Phạm Minh Chính (dịch lại qua bản tiếng Nga)

Kính thưa đồng chí Vladimir Vladimirovich Putin, Tổng thống Liên bang Nga! Kính thưa các đồng chí Nga và Việt Nam!

Trước hết cho phép tôi cảm ơn đồng chí vì bài phát biểu, vì tình cảm rất trân trọng và ấm áp dành cho Việt Nam, cũng như sự quan tâm đặc biệt - từ cá nhân đồng chí - đối với Việt Nam.

Tôi rất vui được gặp lại đồng chí sau ba cuộc gặp tại Hà Nội, tại Kazan và tại Trung Quốc, lần này là tại Moskva, ở trái tim của thủ đô nước Nga. Hôm nay thời tiết cũng ủng hộ chúng ta. Cá nhân tôi và toàn thể các đồng chí trong đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam cũng đã cảm nhận rõ sự ấm áp và đón tiếp nồng hậu từ phía Tổng thống và lãnh đạo Liên bang Nga đối với đoàn chúng tôi.

Nhân dịp này, cho phép tôi chuyển tới đồng chí lời thăm hỏi và những lời chúc tốt đẹp nhất từ Tổng Bí thư Tô Lâm của chúng tôi, từ Chủ tịch nước Lương Cường và từ các lãnh đạo cấp cao Việt Nam, đồng thời mời đồng chí sang thăm Việt Nam trong năm nay, năm 2026.

Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn Liên bang Nga về những tình cảm chân thành, về sự ủng hộ trung thành, tận tụy và vô giá mà lãnh đạo và nhân dân Nga đã dành cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Những năm tháng đồng hành và hợp tác giữa nhân dân hai nước đã để lại dấu ấn không thể phai mờ, đồng thời trở thành biểu tượng của tình hữu nghị truyền thống vô giá giữa các dân tộc chúng ta, trở thành động lực và nguồn cảm hứng cho các thế hệ hôm nay và mai sau trong lịch sử hai nước, đặc biệt dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Vladimir Vladimirovich Putin - người bạn lâu năm của Việt Nam, người đồng chí trung thành, rất gần gũi với lãnh đạo cũng như nhân dân Việt Nam, người luôn dành những tình cảm đặc biệt cho dân tộc chúng tôi và đã đóng góp tích cực vào việc xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Nga với tầm nhìn 100 năm.

Trong suốt 76 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Liên bang Nga, đồng chí Vladimir Vladimirovich Putin là nhà lãnh đạo cấp cao giữ cương vị này trong một phần ba thời gian, tức 27 năm. Đồng chí cũng là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên của Nga đến thăm Việt Nam vào năm 2001, đồng thời là nhà lãnh đạo cấp cao đã thăm đất nước chúng tôi nhiều nhất -5 lần, và sẽ còn đến thăm nhiều lần nữa.

Đồng chí đã đặt nền tảng để hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược năm 2001 và nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện năm 2012, cũng như tạo cơ sở để định hình lại quan hệ trong giai đoạn mới của những sự kiện mang ý nghĩa lịch sử tầm thế kỷ trong thế kỷ XXI.

Tôi cũng xin chúc mừng Liên bang Nga: trong 27 năm dưới sự lãnh đạo của đồng chí, Nga đã thay đổi vị thế từ tình trạng bất ổn trong nước với nền kinh tế suy yếu vào những năm 90 của thế kỷ trước, ngày nay đã trở thành một trong bốn nền kinh tế hàng đầu thế giới theo sức mua. Và hiện nay mức sống của người dân đã được nâng cao rõ rệt, cùng với tinh thần đoàn kết, thống nhất mục tiêu và lý tưởng, đồng thời vai trò của văn hóa cũng được củng cố mạnh mẽ hơn.

Liên bang Nga ngày nay giữ vai trò rất quan trọng và ngày càng trở nên quan trọng hơn trong cấu trúc quốc tế và trong chương trình nghị sự toàn cầu. Chúng tôi có thể tự hào khẳng định rằng Liên bang Nga đang trở nên mạnh mẽ hơn trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay rất phức tạp. Tôi xin chúc mừng đồng chí Tổng thống và toàn thể Liên bang Nga.

Mỗi lần chúng ta gặp nhau, chúng ta luôn có rất nhiều điều để trao đổi với nhau: rất nhiều vấn đề cần thảo luận, vì vậy các cuộc gặp thường kéo dài.

Tôi muốn nói rằng đoàn kết tạo nên sức mạnh, hợp tác mang lại lợi ích, còn đối thoại củng cố niềm tin. Hôm nay, trong bối cảnh tình hình thế giới phức tạp và biến đổi nhanh chóng, tại cuộc gặp này tôi mong muốn trao đổi ý kiến với đồng chí một cách thẳng thắn, thực chất, chân thành, cởi mở và hiệu quả, để cùng đề ra các định hướng hợp tác tiếp theo trong thời gian dài trên cơ sở cùng có lợi, cụ thể hóa sự hợp tác như đã được Tổng Bí thư Tô Lâm và đồng chí thống nhất, nhằm xác định lại và nâng tầm quan hệ trên mọi lĩnh vực theo chiều sâu, thực chất và hiệu quả, đáp ứng lợi ích của cả hai nước trong giai đoạn mới, đóng góp cho hòa bình và ổn định trong khu vực cũng như trên thế giới.

Tôi xin lắng nghe ý kiến của đồng chí, thưa đồng chí Tổng thống.

Tổng thống V. Putin:

Xin cảm ơn rất nhiều vì những lời tốt đẹp dành cho chúng tôi và cho nước Nga.

Chắc chắn tôi sẽ nhận lời mời sang thăm Việt Nam. Chúng tôi luôn đến Việt Nam với những tình cảm đặc biệt và cũng cảm nhận được tình cảm tương tự của người Việt Nam dành cho chúng tôi, dành cho người Nga. Chúng tôi luôn đến một đất nước rất thân thiện và điều đó luôn được cảm nhận rất rõ.

Và dĩ nhiên, đối thoại của chúng ta luôn mang tính hết sức chân thành và rất tin cậy, như giữa những người bạn thân thiết. Hôm nay chúng ta cũng sẽ trao đổi theo tinh thần đó về tất cả những vấn đề cùng quan tâm./.

QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CHỈ KHI MỸ THẤT BẠI Ở IRAN, THẾ GIỚI MỚI CÓ HÒA BÌNH VÀ MỸ CŨNG CHẲNG DÁM MANG QUÂN ĐI XÂM LƯỢC QUỐC GIA NÀO NỮA!

     Iran nằm ở Trung Đông Tây Á, cách Hoa Kỳ khoảng 10.000 km đường chim bay, là thành viên LHQ.

Câu hỏi: Tại sao Ông Mỹ là một quốc gia thành viên/trên 198 quốc gia vùng lãnh thổ độc lập bình đẳng, ông Mỹ muốn lật đổ quốc gia tôn giáo Đạo Hồi Iran để chiếm quyền tự quyết ở Trung Đông, gây hấn can thiệp những nước có chủ quyền như Iran?

Trả lời: Iran là quốc gia dầu mỏ như Iraq, Lybia mà Mỹ từng xâm lược. Các bạn phải hiểu bản chất tại sao Mỹ phải bá chủ Trung Đông trong bối cảnh ở Mỹ cái gì cũng thiếu??? Bởi vì "khi con sói đói khát, nó sẽ ăn mọi thứ kể cả đất sét". Chính phủ Mỹ luôn nuôi dưỡng tư tưởng xâm lược và Mỹ đã xâm lược tới 55 quốc gia vùng lãnh thổ nhưng không giải quết được vấn đề gì ngoài cướp tài nguyên và dầu mỏ và cũng chẳng ai dám lên án Mỹ. 

Thực hiện chính sách can dự tại Trung Đông bất chấp sự lên án của cộng đồng quốc tế, Mỹ dùng "Học thuyết Carter”- sử dụng vũ lực nếu cần để bảo vệ nguồn cung thương mại tại Vùng Vịnh, ông Mỹ tự nhân danh là quốc gia bảo vệ trật tự toàn cầu hậu Chiến tranh Lạnh triển khai hàng chục nghìn binh sĩ tại khu vực Trung Đông để kìm chế Iran, thiết lập căn cứ quân sự tại các nước như Qatar, Bahrain, Kuwait và duy trì hạm đội 5 ở vùng Vịnh Ba Tư.

Đó là một hành động phi pháp và côn đồ chỉ có đám baque ăn báo Mẽo thích thú, tâng bốc. Người Việt độc lập tự chủ không ngumuội hùa theo kẻ ăn cướp như Bố Mỹ của baque từng xâm lược Việt Nam!

Và giờ đây, chỉ có sức mạnh của Iran, chắc chắn Mỹ sẽ co vòi đỉa xâm lược và chỉ khi Mỹ thất bại ở Iran thế giới mới có hòa bình❗️❗️❗️
Ảnh: Internet.
QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: KHI THIÊN TÀI ĐI CHỆCH QUỸ ĐẠO, GÕ NHẦM BÀN PHÍM THIÊN TAI"!

     Có những câu chuyện nghe xong chỉ biết vừa buồn cười vừa thở dài. Một cậu học sinh lớp 12, tự học Python, C++, mày mò từ những dòng code đầu tiên đến mức có thể viết ra cả bộ mã đánh cắp dữ liệu - nghe qua thì đúng chất “tuổi trẻ tài cao”. Nhưng tiếc thay, tài năng ấy lại chọn đi đường tắt… vào thẳng ngõ cụt.

Ban đầu cũng giống bao bạn trẻ đam mê công nghệ khác, học lập trình để khám phá thế giới số. Nhưng khi đã hiểu được cấu trúc hệ điều hành, cách trình duyệt lưu dữ liệu, thay vì nghĩ đến việc bảo mật, phát triển phần mềm hữu ích, cậu lại chuyển hướng sang “khai thác” người dùng. Nói vui thì là “từ coder hóa thành… collector”, nhưng thu thập không phải dữ liệu nghiên cứu, mà là thông tin cá nhân của người khác. Một cú rẽ sai, biến tiềm năng thành nguy cơ.

Câu chuyện này khiến người ta nhớ đến kiểu “thiên tài lệch pha”: thông minh, nhanh nhạy, nhưng thiếu định hướng và chuẩn mực. Trong thế giới mạng, ranh giới giữa sáng tạo và vi phạm đôi khi chỉ là một dòng code. Viết một chương trình có thể giúp bảo vệ người dùng, nhưng cũng chính kỹ năng đó, nếu bị sử dụng sai, lại trở thành công cụ xâm nhập, đánh cắp, phá hoại. Khác biệt không nằm ở trình độ, mà nằm ở lựa chọn.

Hài hước ở chỗ, nhiều người vẫn nghĩ hacker là những “cao thủ ẩn danh”, nhưng thực tế đôi khi chỉ là những bạn trẻ “chưa kịp trưởng thành đã vội… phạm sai lầm”. Chưa kịp bước vào cánh cửa đại học đã tự tay mở cửa… phòng làm việc của cơ quan điều tra. Một kiểu “khởi nghiệp thất bại” mà không ai mong muốn.

Nhưng đằng sau câu chuyện mang màu sắc trào phúng ấy là lời cảnh báo rất thật. Trong thời đại số, lỗ hổng không nằm ở đâu xa, mà có thể ở ngay trong chiếc máy tính, điện thoại, hay thậm chí là một cú click vô tư của người dùng. Những đoạn mã độc, những phần mềm giả mạo, những đường link tưởng chừng vô hại – tất cả đều có thể là “cửa hậu” chờ sẵn. Không phải ai cũng là thiên tài lập trình, nhưng chỉ cần một người “tài cao đi sai đường” là đủ để hàng trăm, hàng nghìn người khác trở thành nạn nhân.

Vì vậy, thay vì chỉ cười cho qua, mỗi người dùng Internet cần tự trang bị cho mình sự cảnh giác. Không tải phần mềm lạ, không click vào đường link không rõ nguồn gốc, thường xuyên cập nhật hệ thống và bảo mật dữ liệu cá nhân. Đừng để sự chủ quan biến mình thành “miếng mồi” cho những kẻ đang rình rập sau màn hình.

Tuổi trẻ tài năng là điều đáng quý, nhưng tài năng chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi đúng hướng. Còn nếu không, từ một “ngôi sao công nghệ tương lai”, rất dễ trở thành một ví dụ điển hình cho bài học: thông minh không đồng nghĩa với đúng đắn, và chỉ một lựa chọn sai cũng đủ khiến cả hành trình rẽ sang hướng khác. Trong thế giới số đầy cơ hội lẫn cạm bẫy, tỉnh táo đôi khi còn quan trọng hơn cả tài năng./.
QV-ST!

BÓC TRẦN NHỮNG THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC KẾT QUẢ BẦU CỬ Ở VIỆT NAM!

     Các đối tượng chống phá xuyên tạc kết quả của việc bỏ phiếu hòng gây rối xã hội, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Nghị quyết về kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI được công bố vào chiều 21/3, song trước đó và ngay cả trước ngày cử tri cả nước đi bỏ phiếu (ngày 15/3), các đối tượng chống phá đã chuẩn bị sẵn các bài viết với những từ khóa “không công bằng”, “phi dân chủ”, “thiếu minh bạch”… Mục đích sau cùng của họ không chỉ bôi nhọ tiến trình bầu cử, cũng không chỉ xuyên tạc kết quả của việc bỏ phiếu mà là hòng gây rối xã hội, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Dĩ nhiên, các lực lượng thiếu thiện chí với Việt Nam ở nước ngoài và những người bất mãn ở trong nước “không vui” với thông tin chính thức về kết quả cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp khóa 2026 – 2031. Họ không cam lòng với những kết quả hiển nhiên mà Hội đồng Bầu cử quốc gia cũng như hàng chục triệu cử tri đã góp công, góp sức tạo ra.

Đó là, theo báo cáo sơ bộ của 34 tỉnh, thành phố, có khoảng 76,198 triệu người trong tổng số gần 76,424 triệu cử tri đi bầu, đạt 99,7% - tỷ lệ trung bình cả nước cao nhất từ trước đến nay.

Đó là trong tổng số 500 người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI có 214 người do các cơ quan, tổ chức ở trung ương giới thiệu đã trúng cử.

Đó là cơ cấu thành phần đại biểu Quốc hội khóa mới đã giảm số đại biểu kiêm nhiệm làm việc trong các cơ quan hành pháp, tư pháp, tăng tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách – số đại biểu Quốc hội dự kiến hoạt động chuyên trách trúng cử cao nhất từ trước đến nay, đạt 40% (cao hơn 1,4% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; 5,5% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV; 7,2% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII; 10,6% so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII).

Đó là việc các cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã trúng cử đại biểu Quốc hội tại các đơn vị bầu cử khác nhau trên cả nước, thể hiện sự tín nhiệm cao trước cử tri.

Đó là lời khẳng định của Ủy viên Hội đồng Bầu cử quốc gia, Phó Trưởng Tiểu ban Nhân sự Nguyễn Hữu Đông rằng kết quả bầu đủ 500 đại biểu Quốc hội, 2.552 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và 72.437 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, cho thấy công tác nhân sự được chuẩn bị kỹ lưỡng, dân chủ, đúng quy định của pháp luật.

Các đối tượng chống phá không cam lòng trước sự thật đã được chứng minh qua tiến trình và kết quả bầu cử: Ý thức chính trị và trách nhiệm công dân của cử tri được nâng cao; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp được triển khai quyết liệt, đồng bộ; công tác thông tin, tuyên truyền được tổ chức rộng khắp, hiệu quả. Các nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch được bảo đảm xuyên suốt trong toàn bộ quy trình bầu cử, từ dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng; hiệp thương, lấy ý kiến cử tri; giới thiệu người ứng cử; vận động bầu cử; đến tổ chức bỏ phiếu, kiểm phiếu, qua đó lựa chọn được những đại biểu đủ tiêu chuẩn, xứng đáng.

Bất luận thực tiễn cuộc sống ở Việt Nam đã thay đổi tích cực như thế nào, tiến trình bầu cử được thực hiện chặt chẽ ra sao thì các đối tượng chống phá vẫn một mực phủ nhận với những lập luận mơ hồ, không dựa vào chứng cứ cụ thể nào. Thậm chí có cả những hành động mang tính khôi hài là ra lời "hiệu triệu” trên mạng xã hội về việc “ký tuyên bố chung phủ nhận kết quả bầu cử”.

Dù đây là những tiếng nói lạc lõng, đi ngược xu thế chung ở Việt Nam thì chúng ta cũng cần nhận thức rõ về thủ đoạn và mục tiêu của những đối tượng đang cố tình xuyên tạc kết quả bầu cử.

Thủ đoạn: Lu loa rằng kết quả bầu cử đã được “sắp đặt”, bỏ phiếu chỉ là “hình thức”. Mục tiêu: Tạo ra sự hoài nghi về tính minh bạch của bầu cử, làm giảm niềm tin của người dân đối với Đảng, với chế độ.

Thủ đoạn: Bóp méo sự thật về 5 bước cốt lõi trong quy trình hiệp thương giới thiệu nhân sự ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Mục tiêu: Tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận bản chất dân chủ của chế độ bầu cử, từ đó chống phá con đường phát triển của đất nước đã được lựa chọn.

Thủ đoạn: “Khuấy cho nước đục” - lợi dụng mạng xã hội để lan truyền thông tin sai lệch, thổi phồng các hiện tượng cá biệt để tạo ra hiệu ứng đám đông, gây hoang mang trong dư luận. Mục tiêu: Gây chia rẽ, hoang mang làm nhiễu loạn xã hội, kích động các đối tượng bất mãn và những người thiếu lập trường kiên định.

Thủ đoạn: “Đi nhiều thành lối”, lời bịa đặt về các hiện tượng tiêu cực lặp đi lặp lại, biến không thành có, biến con kiến thành con voi. Mục tiêu: Làm sai lệch cách nhìn về tiến trình bầu cử nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung trên trường quốc tế./.
Theo TTXVN.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRUNG ƯƠNG THỐNG NHẤT GIỚI THIỆU NHÂN SỰ LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT NHÀ NƯỚC!

     Sau 3 ngày làm việc khẩn trương và trách nhiệm (23 - 25/3/2026), Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV đã chính thức bế mạc với nhiều quyết sách mang tính bước ngoặt cho giai đoạn phát triển mới của đất nước:

✅ VỀ NHÂN SỰ CHỦ CHỐT: Ban Chấp hành Trung ương đã biểu quyết với sự thống nhất rất cao, giới thiệu nhân sự để Quốc hội khóa XVI bầu và phê chuẩn các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước. Đây là bước chuẩn bị quan trọng nhằm đảm bảo sự kế thừa và sức mạnh bộ máy lãnh đạo trong nhiệm kỳ mới.

✅ VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY: Thống nhất chủ trương kiện toàn cơ cấu tổ chức các cơ quan Nhà nước; chuyển một số cơ quan thông tấn, viện nghiên cứu lớn về trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng để tăng cường hiệu quả điều hành.

✅ VỀ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH: Đồng ý chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương mở ra không gian phát triển mới cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam./.


QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: GIẢI MÃ TRẬN ĐÁNH KHO XĂNG NHÀ BÈ CỦA ĐẶC CÔNG RỪNG SÁC!

     Trong suốt thập niên 1960 - 1970, Tổng kho xăng dầu Nhà Bè là “yết hầu” của toàn bộ miền Nam, nơi dự trữ nhiên liệu cho ba tập đoàn dầu khí lớn nhất thời đó: Caltex, Shell và Esso. Trong đó, kho của Shell chiếm vị trí chiến lược nhất, cung cấp tới 60% xăng dầu cho mọi hoạt động quân sự - dân sự của chính quyền Sài Gòn. Bởi vậy, khu kho được bao bọc bằng 12 lớp rào thép, mức bảo vệ tương đương hệ thống rào cản mà quân Pháp từng dựng lên tại Điện Biên Phủ.

Sau 14 tháng trinh sát, vào ngày 02.12.1973, Đội 5 Đặc công Rừng Sác tuyển chọn 8 chiến sĩ tinh nhuệ nhất chia làm hai tổ, nhận nhiệm vụ thâm nhập “con đường máu”. Họ bàn bạc 11 tình huống xấu nhất, chuẩn bị cho mọi khả năng và được Đoàn 10 Rừng Sác làm lễ truy điệu trước khi xuất quân. Trong buổi lễ, phân đội phó Hà Quang Vóc thề: “Chưa đốt kho Shell, chưa trở về”.

Đêm tối trời, khi thủy triều từ cửa biển Vũng Tàu cuộn theo sông Lòng Tàu đổ vào Nhà Bè, 8 chiến sĩ đặc công buộc mình vào cùng một sợi dây, thả trôi giữa dòng nước xiết. Nhờ kỹ thuật đi rào hoàn hảo, họ vượt qua tầng bảo vệ phía ngoài, tiến sát khu kho. Gần nửa giờ bám sát hàng rào chống đạn B41, họ bất ngờ nghe tiếng hô hoán của một toán lính. Tưởng bị lộ, cả tổ áp sát chuẩn bị đối phó, nhưng hóa ra đó chỉ là “hô giả”. Đợi lính rút đi, họ tiếp tục cắt rào, băng qua bãi đất 200m² trống trải dưới ánh đèn pha và tầm quan sát dày đặc.

Khi vừa chạm đến hàng rào cao 1,5m, một luồng ánh sáng bất ngờ quét ngang mặt họ. Hai tốp lính xuất hiện, áp sát tới mức một tên gần giẫm lên nơi tổ trưởng đang nằm. Bàn tay chiến sĩ đã siết chặt chuôi dao, nhưng đúng lúc đó, tốp lính quay đi, tiếp tục tuần tra. Chỉ với vài nhịp thở nữa thôi, tất cả có thể đã đổi chiều. Nhưng sự bình tĩnh và bản lĩnh giúp họ vượt nốt lớp phòng vệ cuối cùng của “trận địa kiên cố nhất miền Nam”.

0 giờ 35 phút ngày 03.12.1973, bầu trời Nhà Bè nảy lên một ánh chớp khổng lồ. Kho Shell nổ tung. Tiếng còi báo động rít dài. Tàu chiến, xuồng máy náo loạn trên sông, trực thăng và phản lực quần thảo dữ dội. Trong lúc đó, 8 chiến sĩ đặc công vừa ra đến giữa sông thì bị phát hiện, buộc phải cắt dây tỏa nhanh vào màn đêm. Tiếc là sau đó, 2 chiến sĩ của ta bị địch phát hiện. Khi đối diện với kẻ thù, hai anh đã liều mình dùng lựu đạn mang theo để giết địch nhưng cũng hy sinh là Phạm Văn Tiềm và Nguyễn Công Bao.

Ngọn lửa từ kho Shell bùng lên dữ dội, từng cột khói đen dựng thành vách khổng lồ phủ kín bầu trời Sài Gòn. Suốt 12 ngày đêm, kho Shell cháy rực, gây phản ứng dây chuyền khiến Caltex và Esso phải mở van xả để cứu cơ sở của mình. Dòng xăng dầu lênh láng kéo dài từ sông Sài Gòn, Lòng Tàu đến tận Vàm Láng.

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu huy động mọi phương tiện, thậm chí cả máy bay rải hóa chất nhưng vẫn bất lực. Thiệt hại của các tập đoàn dầu khí Mỹ ước tính hơn 20 triệu USD. Báo chí Sài Gòn và thế giới đồng loạt đưa tin, kinh ngạc trước trận đánh táo bạo bậc nhất của lực lượng Đặc công Rừng Sác đã khiến Nhà Bè hóa biển lửa và ghi tên mình vào lịch sử như một trong những lực lượng đặc biệt tinh nhuệ nhất thời đại./.


QV-ST!

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT VỀ VIỆC HOÁN CẢI MÁY BAY VẬN TẢI THÀNH MÁY BAY NÉM BOM XUÂN MẬU THÂN 1968!

     Trong ký ức của những người lính không quân năm ấy, IL-14 không chỉ là chiếc máy bay vận tải hai động cơ cánh quạt do Liên Xô viện trợ; nó là “cánh chim thép” mang theo ý chí quyết thắng của miền Bắc hướng về chiến trường Trị - Thiên rực lửa. Tốc độ chỉ 380 km/giờ, tầm hoạt động 700 km, cấu trúc thuần túy vận tải, vậy mà đến cuối 1967, những chiếc máy bay già nua ấy đã được Trung đoàn 919 cải biến thành phương tiện ném bom và thả đạn đầy táo bạo.

Trong xưởng kỹ thuật đơn sơ ngày đó, tổ cơ khí do anh hùng LLVTND Nguyễn Tường Long phụ trách ngày đêm cặm cụi. Dưới thân và cánh IL-14, bốn giá bom được lắp thêm để có thể treo 4 quả 100 kg hoặc 2 quả 250 kg. Sàn khoang hành khách được khoét thủng, gắn 27 ống chứa đạn cối; phía bên trong dựng khung giá cho 50 ống cối 120 mm. Cơ chế thả bom, thả cối… chỉ bằng dây cáp, chốt hãm và sức người. Nhưng chính từ sự mộc mạc ấy, ba chiếc IL-14 đã kịp hoàn thiện để xung trận đúng dịp Mậu Thân.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 6 tổ lái của Đại đội IL-14 và các phi công tăng cường. Mỗi tổ chỉ 5 người: lái chính, lái phụ, dẫn đường, cơ giới, thông tin. Tất cả đều phải kiêm cả nhiệm vụ thả bom, thả cối. Riêng các tổ thả dù tiếp tế phải mang thêm hai chiến sĩ dù. Hai tốp được hình thành: một chuyên ném bom đồn Mang Cá, một thả hàng vào thung lũng Tam Giang (Phước Tích, phía tây Huế).

Thời điểm xuất kích tối ưu là 15 - 16 giờ, để khi hoàng hôn buông xuống, IL-14 kịp áp sát mục tiêu, vừa tránh radar, vừa có đủ nhiên liệu quay về. Nhưng thời tiết tháng 2/1968 miền Bắc lại cực xấu khi trời lạnh, mù dày, mưa phùn, tầm nhìn hạn chế.

Đêm 7/2/1968, cả 6 tổ bay được lệnh cất cánh dù thời tiết rất tồi tệ. Đồng chí Phan Khắc Hy có mặt tại sân để động viên, tiễn từng tổ bay lên đường. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Bang, sôi nổi và gần gũi, còn dúi khăn dù cho đồng đội để chống lạnh.

Tốp ném bom vào Mang Cá, tốp thả dù vào Phước Tích. Nhưng mây thấp, đạn phòng không dày đặc, máy bay địch quần thảo khiến việc xác định mục tiêu gần như bất khả. Tổ của anh Phan Kế đã vĩnh viễn không trở về. Dù tổn thất, không ai chùn bước. Đại đội trưởng Bang đề nghị nếu không tìm thấy Mang Cá, cho phép đánh mục tiêu phụ như Tà Cơn hoặc Cửa Việt.

Chỉ trong một tuần ngắn ngủi tháng 2/1968, Đại đội IL-14 mất 20 cán bộ, chiến sĩ. Những cánh IL-14 ấy đã hoàn thành những chuyến bay ném bom đầu tiên dội lên đầu căn cứ quân sự Mỹ - ngụy. Dù giản dị, thô sơ và yếu ớt, IL-14 vẫn trở thành biểu tượng của lòng quả cảm, nơi ý chí vượt lên trên cả giới hạn của máy móc và con người. Những tổ bay thực hiện nhiệm vụ gần như cảm tử, sẵn sàng hy sinh khi xuất kích, góp phần làm hoang mang, chia rẽ trong lòng nước Mỹ sau Xuân Mậu Thân 1968./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: IRAN TUYÊN BỐ CHIẾN SỰ SẼ TIẾP DIỄN!

     Trong bài phát biểu được phát sóng trên truyền hình hôm 23/3, ông Mohsen Rezaei, cố vấn quân sự cấp cao của Lãnh tụ Tối cao Iran Mojtaba Khamenei tuyên bố Iran sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến khi “toàn bộ các lệnh trừng phạt kinh tế được dỡ bỏ và các bảo đảm quốc tế có tính ràng buộc pháp lý được thiết lập nhằm ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ vào Iran”.

“Chúng tôi nhận thấy các lực lượng vũ trang đang triển khai các chiến dịch và hoạt động một cách mạnh mẽ. Dự án lãnh đạo của chúng tôi, với việc lựa chọn một nhà lãnh đạo mới, hiện đã đi vào ổn định dưới sự điều hành của ông ấy”, ông Rezaei nói.

Vị cố vấn này cho rằng “cuộc chiến trên thực tế đã kết thúc” từ hơn một tuần trước, đồng thời khẳng định “Mỹ sẵn sàng dừng lại và theo đuổi một lệnh ngừng bắn”. Tuy nhiên, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu “đã thúc đẩy việc tiếp tục chiến sự”. Ông Rezaei cũng nhận định rằng sau ngày thứ 15, “Mỹ đã hiểu rõ rằng không tồn tại con đường dẫn tới chiến thắng trong cuộc chiến này”./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐÁNH NGHI BINH VẪN GIÀNH CHIẾN THẮNG GIÒN GIÃ!

     Trong Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, ta chọn thị xã Buôn Ma Thuột là mục tiêu tiến công then chốt mở đầu chiến dịch. Để bảo đảm chắc thắng, một vấn đề đặt ra cho Bộ tư lệnh Chiến dịch là làm thế nào điều các đơn vị chủ lực của địch tập trung lên hướng Bắc Tây Nguyên, giam chân chúng ở đó để chủ lực ta rảnh tay đánh chiếm Buôn Ma Thuột!

Kế hoạch tác chiến của ta rất chặt chẽ, làm cho địch không thể cựa quậy được khi bị đánh, nhưng trước hết phải điều được Sư đoàn 23 chủ lực của Quân khu 2-Quân đoàn 2 ngụy và một số liên đoàn biệt động quân của chúng lên hướng Gia Lai, Kon Tum. Nhiệm vụ này, Bộ tư lệnh Chiến dịch giao cho Sư đoàn 968 vừa từ Nam Lào về. Ta bố trí Trung đoàn 39 thay thế Sư đoàn 10 ở Bắc Kon Tum; sở chỉ huy Sư đoàn cùng với Trung đoàn 19 thay cho Sư đoàn 320 ở Tây Pleiku.

Là Trưởng ban 2 của Phòng Tham mưu Sư đoàn 968, tôi đã cùng với anh em trinh sát sư đoàn và chỉ huy Trung đoàn 19 nhiều lần trinh sát trận địa xung quanh đồn Tầm, chốt Mỹ, trinh sát đường kéo pháo vào trận địa, đường tiến quân cho bộ đội ta để chuẩn bị cho trận đánh nghi binh này.
Mưu kế đã bày xong, lực lượng đã bố trí theo thế trận bao vây, chia cắt quân địch. Để làm cho chúng mắc bẫy và tin là thật thì dù đánh nghi binh nhưng phải giống như thật, tức là phải nổ súng tiến công quân địch ở những nơi chúng lo đề phòng cẩn mật nhất, đó chính là trục phòng ngự trên Đường 19 Tây Nam Pleiku. Mục tiêu tiến công của ta là trận địa phòng ngự của một đại đội địch ở đồn Tầm, một trận địa phía trước ở chốt Mỹ (trận địa trước đây do quân Mỹ bàn giao lại) và sở chỉ huy nhẹ của một tiểu đoàn ở điểm cao 605 trên Đường 19 phía Tây.
Để làm cho địch tin là thật, Sư đoàn 968 của chúng tôi đã sử dụng một tiểu đoàn của Trung đoàn 19 tiến công đồn Tầm. Trong đó tập trung hỏa lực gồm pháo binh sư đoàn, súng cối và súng bắn thẳng của Trung đoàn 19 tạo nên lưới lửa nhiều tầm, nhiều cỡ. Đặc biệt, pháo 85mm được đặt trên đồi cao ở cự ly 1.000m bắn thẳng vào mục tiêu.
Đúng 14 giờ ngày 28-2-1975, tất cả các loại hỏa lực của đơn vị chúng tôi bắt đầu bắn phá đồn Tầm. Pháo bắn thẳng nhằm từng lô cốt, hầm ẩn nấp, trận địa hỏa lực địch, nhất loạt bắn chế áp. Chờ cho khói đạn và bụi đất tan bớt, pháo cối của ta lại tiếp tục nhả đạn vào các mục tiêu còn lại. Các pháo thủ của ta sau trận đánh này nói với nhau: “Kể từ khi ở chiến trường Lào đến giờ chưa có trận nào bắn sướng tay như hôm nay”. Lúc đó, một chiếc máy bay trinh sát L-19 của địch từ sân bay Cù Hanh bay xuống, lượn mấy vòng quan sát, bị pháo cao xạ của ta bắn chặn vội vàng bay mất, một phần vì hoảng sợ, một phần vì các nơi khác cũng đang bị đánh tới tấp.
Trên hướng Kon Tum, Trung đoàn 39 đang tiến ra đánh địch ở Võ Định trên Đường 14, các trận địa trực tiếp khác ở Ngọc Quăn, điểm cao 751 cũng bị tiến công. Pháo binh sư đoàn đồng thời bắn vào sở chỉ huy Quân khu 2-Quân đoàn 2 địch ở thành phố Pleiku, sân bay Cù Hanh, căn cứ Hàm Rồng.

Trên mạng thông tin chỉ huy của Quân khu 2-Quân đoàn 2, các đơn vị địch tới tấp gửi tin về: “Việt Cộng đánh lớn ở Pleiku; Việt Cộng đang từ hai hướng tiến về Kon Tum”... Tại đồn Tầm, hỏa lực chuẩn bị của ta hiệu quả đến mức làm tê liệt sức chống đỡ của địch. Một phần bị tiêu diệt ngay từ loạt pháo đầu tiên, một số khác bị bộ binh ta vây bọc ở các công sự xung quanh nổ súng chế áp làm cho chúng không ngẩng đầu lên được.
Trước tình huống thuận lợi như vậy, đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 19 ra lệnh cho bộ đội không cần mở cửa phá hàng rào kẽm gai mà xung phong thẳng từ cổng đồn đã bị bắn phá tan tành vào trận địa địch, tiêu diệt số còn lại, bắt sống địch, trong đó có cả tên đại đội trưởng. Quân địch ở chốt Mỹ thấy đồn Tầm bị tiến công dữ dội và bị hỏa lực của ta chế áp, làm bị thương một số tên thì cũng vội vã tháo chạy nhưng bị bộ đội ta bắt sống.
Thừa thắng, đồng chí Sư đoàn trưởng Phạm Thanh Sơn từ trên đài quan sát cách đồn Tầm 1km chỉ thị cho Trung đoàn 19 tổ chức lực lượng truy đuổi quân địch trên Đường 19 và tiến công sở chỉ huy nhẹ của tiểu đoàn địch ở điểm cao 605 phía Tây huyện lỵ Thanh An.
Chỉ trong một buổi chiều, trận đánh nghi binh mở màn Chiến dịch Tây Nguyên đã tiêu diệt và đánh chiếm 3 vị trí quan trọng của địch trên Đường 19 kéo dài, tạo ra nguy cơ đối với Quân khu 2-Quân đoàn 2 ngụy bị chia cắt ngay sát thành phố Pleiku và uy hiếp trực tiếp sở chỉ huy Quân khu 2 của chúng. Lập tức tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân khu 2-Quân đoàn 2 triệu tập Bộ Tham mưu Quân khu họp khẩn cấp để đánh giá tình hình. Trong cuộc họp, Đại tá Trịnh Tiêu, Trưởng phòng 2 Quân khu 2 nêu ý kiến “Việt Cộng tấn công vào Kon Tum và Pleiku là đòn nghi binh”, nhưng tướng Phú không tin và ra lệnh cho Chuẩn tướng Phạm Duy Tất, Tư lệnh Biệt động quân sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công vào Pleiku, đồng thời lập tức điều Liên đoàn 29 ra Tây Nam Pleiku, gọi Trung đoàn 45, Sư đoàn 23 về Tây thị xã Pleiku để tăng cường cho thị xã và sở chỉ huy Quân khu 2.
Nghệ thuật nghi binh của ta thành công đến mức khi ta tiến công quận lỵ Thuần Mẫn ngày 8-3 và đánh quận lỵ Đức Lập ngày 9-3, tức là Buôn Ma Thuột đã bị "phơi" ra trước mũi súng của ta mà Phạm Văn Phú vẫn không đoán biết được ý đồ tác chiến của ta. Mãi đến 4 giờ ngày 10-3, khi xe tăng và bộ binh ta tiến vào thị xã Buôn Ma Thuột, Đại tá Lê Khắc Hy, Tham mưu trưởng Quân khu 2 ngụy vào phòng ngủ đánh thức, Phú mới biết Buôn Ma Thuột là mục tiêu chính của ta thì lúc này đã quá muộn./.
Ảnh: Thiếu tướng NGUYỄN NHƯ HUYỀN, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CỤM TÌNH BÁO HUYỀN THOẠI - ANH HÙNG THẦM LẶNG!

     Trong những chiến công lớn của Cụm Tình báo A20 - H67 và tổ chức cách mạng, dấu ấn của cụm trưởng Sáu Trí được khắc ghi đậm nét.

Cụm trưởng Cụm Tình báo A20 Sáu Trí tên thật là Nguyễn Văn Khiêm, bí danh Phạm Duy Hoàng và Nguyễn Đức Trí, sinh năm 1925, tại Gò Công - Tiền Giang, là anh họ đồng thời cũng là người dẫn dắt điệp viên Nguyễn Văn Lễ (Ba Lễ, mật danh H3) gia nhập Cụm A20.

Dọc ngang giữa lòng địch
Trong Cách mạng Tháng Tám 1945, Sáu Trí là một trong những thành viên của Đội Thanh niên Tiền phong tham gia cướp chính quyền. Cách mạng thành công, Sáu Trí gia nhập ngành quân báo với bí danh Phạm Duy Hoàng, sau đó chuyển địa bàn hoạt động về Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ, được phân công giữ chức Trưởng chi Quân báo Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Một năm trước khi thực dân Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ (1954), ông bí mật vào nội đô Sài Gòn, xin vào làm việc tại Nha Công an Nam phần của chính quyền thân Pháp, thu thập nhiều thông tin tình báo quan trọng phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ cho đến ngày thắng lợi.

Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết. Ngô Đình Diệm trở về miền Nam và thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tình thế thay đổi, ông Sáu Trí tiếp tục ở lại miền Nam và chuyển sang làm sĩ quan ở Tổng nha Cảnh sát của chính quyền Ngô Đình Diệm cho đến ngày bị lộ vào cuối năm 1962.

Vào thời điểm ông bị mật vụ chính quyền Sài Gòn theo dõi gắt gao, buộc phải rút vào chiến khu cũng là lúc Cụm A20 được thành lập tại mật khu Bời Lời (Tây Ninh). Với kinh nghiệm hoạt động quân báo thời chống Pháp, đã được thử lửa qua nhiều tình huống thực tế kịch tính, ông Sáu Trí được Phòng Tình báo miền (J22) tin tưởng giao trọng trách làm cụm trưởng Cụm A20.

Qua những chuyến đi về giữa mật khu Bời Lời - căn cứ địa A20 - nội đô Sài Gòn những năm 1962 - 1965, ông Sáu Trí đã xây dựng nhiều cơ sở nội tuyến ngay trong lòng bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, góp phần giúp A20 hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của tổ chức cách mạng. Thời gian này, ông lấy bí danh Nguyễn Đức Trí (bí danh này được giữ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng).

Ra Bắc, vào Nam
Tháng 11-1965, ông Sáu Trí được rút về làm Phó Phòng Quân báo Bộ Tổng Tham mưu miền (B2), bộ phận điệp báo của J22. Về sau, ông được cử giữ chức Trưởng Phòng J22, trở thành một trong những nhà chỉ huy tình báo hàng đầu tại miền Nam. Nhiều năm liền, Sáu Trí đã xây dựng, củng cố và chỉ đạo hoạt động tốt các mạng lưới tình báo chiến lược, thu nhận và phân tích tin tức tình báo, phục vụ đắc lực các hoạt động quân sự của quân giải phóng trên chiến trường miền Nam.

Cuối tháng 11-1973, tại chiến khu Lộc Ninh (nay thuộc tỉnh Bình Phước), Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh miền Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) tổ chức gặp mặt chia tay 20 sĩ quan cấp tá lên đường ra Bắc học tập, chuẩn bị cho kế hoạch đánh lớn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Hai sĩ quan của J22 được cử đi học đợt này là thượng tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) - thủ trưởng và trung tá Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) - Phó Chính ủy J22. Sáu Trí vào Học viện Quân sự, Tư Cang vào Học viện Chính trị và bắt đầu khóa học 2 năm.

Giữa lúc đó, tình hình chiến trường miền Nam diễn biến ngày càng phức tạp. Bước sang tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên nổ ra và không lâu sau đó là chiến dịch Huế - Đà Nẵng kết thúc thắng lợi, quân ta nhanh chóng giải phóng một vùng trung du và duyên hải miền Trung rộng lớn. Tất cả các cánh quân đều hướng về Sài Gòn trong thời cơ lịch sử ngàn năm có một.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong năm 1975. Số cán bộ B2 ra miền Bắc học tập từ cuối năm 1973 được điều động quay trở lại chiến trường miền Nam. Ông Sáu Trí được lệnh lập tức vào nội đô Sài Gòn, nắm bắt các cơ sở điệp báo cấp cao. Ông Tư Cang xuống Củ Chi, gia nhập Lữ đoàn Đặc công Biệt động 316 trong vai trò chính ủy.

Làm tốt sứ mệnh đặc biệt
Trở lại căn cứ Lộc Ninh ngày 17-4-1975, ông Sáu Trí được cấp trên phân công nhiệm vụ đặc biệt, đó là phục vụ chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Lúc bấy giờ, điệp viên H3, lưới A20-H67 (H67 là tên mới của A20 kể từ năm 1970) đã xây dựng được một cơ sở mới là đại tá Lộc - thành viên Đảng Tân Đại Việt, người được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu giao nhiệm vụ thành lập và chỉ huy một liên đoàn biệt động quân, tăng cường tuyến phòng thủ Sài Gòn. Nhiệm vụ của Sáu Trí là vận động đại tá Lộc làm binh biến tại chỗ, hỗ trợ các cánh quân cách mạng tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Sau khi vào thành để tìm hiểu thông tin về đại tá Lộc qua điệp viên H3, Sáu Trí trở về căn cứ. Sau cuộc họp khẩn cấp trong đêm 25-4, ông được lệnh quay trở lại Sài Gòn ngay, ở tại nhà H3 và bắt đầu tiếp xúc với những điệp viên trong các lưới tình báo nội đô. Kết quả, ngày 30-4, khi 5 cánh quân của quân giải phóng tiến vào Sài Gòn, liên đoàn biệt động quân do đại tá Lộc chỉ huy hoàn toàn bị vô hiệu hóa.

Chứng nhân thời khắc lịch sử
Cũng trong thời gian vào nội thành làm công tác đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trưa 28-4, tại nhà H3, thình lình kỹ sư Tô Văn Cang và kỹ sư Lê Văn Giàu (những cơ sở cách mạng) đến xin được gặp mặt thủ trưởng Sáu Trí. Nguyên do là nội các Dương Văn Minh trong cơn lúng túng muốn thông qua 2 kỹ sư này để tìm gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam để thương lượng.

Ông Sáu Trí đề nghị Tổng thống Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng ngay và đầu hàng vô điều kiện. Ngày 30-4-1975, ông Sáu Trí và điệp viên Ba Lễ cùng một số đồng đội đến Dinh Độc Lập để chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Tổng thống Dương Văn Minh…
Những ngày đầu sau giải phóng, ông Sáu Trí được cử làm Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quân quản TP Sài Gòn, sau đó ông được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam./.
Ảnh: Thiếu tướng tình báo Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí, bìa phải) và Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang).
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐẶC CÔNG ĐỔI NHIỆM VỤ PHÁ 20 CẦU SANG BẢO VỆ CẦU CHO ĐẠI QUÂN TIẾN VÀO SÀI GÒN. XE TĂNG QUA CẦU SUÝT BỊ BẮN CHÁY VÌ KHÔNG NHỚ MẬT KHẨU!

     Lê Bá Ước sinh năm 1931, tại Rạch Giá, Kiên Giang, tham gia kháng chiến năm 1945. Ông từng là Chính ủy kiêm Đoàn trưởng Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác vang tiếng một thời. Do yêu cầu nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn, đầu năm 1974 Sư đoàn 2 Đặc công được thành lập.

Khi toàn Sư đoàn 2 Đặc công đang khẩn trương triển khai phương án phối hợp với Quân đoàn 4, một mệnh lệnh hỏa tốc được chuyển đến: Trung ương Cục miền Nam yêu cầu dừng ngay kế hoạch và triệu tập Trung tá Lê Bá Ước - Chính uỷ Sư đoàn về trụ sở Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 ở Biên Hòa để nhận nhiệm vụ mới. Tại đây, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An chỉ thị, Sư đoàn phải đánh chiếm tuyến từ sông Buông, cầu Đồng Nai, Rạch Chiếc đến cầu Sài Gòn nhằm mở đường cho quân đoàn đột phá thẳng vào Dinh Độc Lập; đồng thời giữ vững bến phà Cát Lái, sông Lòng Tàu và toàn bộ hệ thống cầu huyết mạch. Từ nhiệm vụ phá 20 cây cầu, Sư đoàn 2 Đặc công quay sang bảo vệ cầu để tiếp bước đoàn quân chiến thắng. 

Thực hiện mệnh lệnh, Sư đoàn 2 chia làm hai cánh. Cánh hướng đông do Phó sư đoàn trưởng Tống Viết Dương và Chính ủy Lê Bá Ước chỉ huy. Đúng 20 giờ ngày 26-4-1975, Trung đoàn 116 tiến đánh cầu Đồng Nai, chốt giữ địa bàn Long Hưng - An Hòa - Bến Gỗ. Hai ngày đêm liên tục, chiến sĩ đặc công chiến đấu trong tình thế một chống nhiều, vừa đói, vừa thiếu đạn nhưng vẫn kiên quyết bám cầu trước những đợt phản kích ồ ạt của địch bằng pháo binh lẫn xe tăng.

Ngày 29-4, địch phá sập cầu sông Buông ngăn chặn xe tăng của ta tiến công, buộc Lữ đoàn xe tăng 203 phải khắc phục khó khăn tiến dần theo Quốc lộ 15 đến Bến Gỗ, vừa chạy vừa bắn quét ra hai bên đường, vào cả đội hình của Trung đoàn 116 đang chốt giữ. Hai đơn vị không nhận ra nhau vì trời còn tối không nhìn rõ màu cờ. Tại ngã ba Bến Gỗ, các chiến sĩ đặc công canh gác hô mật khẩu “Hồ Chí Minh”, đúng ra phải đáp “Muôn năm” nhưng do anh em đơn vị tăng nhớ nhầm mật khẩu ở trận Bình Thuận nên đáp “19 tháng 5”. Lập tức, tổ B40 của đặc công bắn liền hai phát, may mà không trúng. Thấy không yên tâm, chiến sĩ chốt giữ hỏi lại mật khẩu lần nữa thì đơn vị tăng đáp đúng “Muôn năm”. Lúc này, hai bên mừng rỡ nhảy ra khỏi công sự, xuống xe tăng ôm chầm lấy nhau trong niềm vui khôn xiết.

Lữ đoàn 203 phải cơ động gấp trong khi bộ binh chưa kịp tới, đường nội đô lại xa lạ. Bởi vậy, Phó sư đoàn trưởng Tống Viết Dương đề xuất phương án táo bạo là dùng đặc công thay bộ binh dẫn đường cho xe tăng. Sự phối hợp linh hoạt ấy giúp chiến dịch không chậm dù chỉ một phút.

8 giờ 30 sáng 30-4, đội hình hỗn hợp tăng - đặc công áp sát Thủ Đức. Địch ở trường võ bị bắn trả dữ dội, buộc lực lượng ta đánh vòng sườn, kết hợp dân quân địa phương đè bẹp ổ kháng cự chỉ trong nửa giờ. Tiếp đó, tại hồ An Phú, một xe tăng M-48 của địch bị bắn cháy; hai máy bay A-37 lao đến ném bom hòng phá cầu xa lộ nhưng trượt mục tiêu, cầu vẫn đứng vững.

Vượt cầu Thị Nghè, đến đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đội hình tăng - đặc công lao thẳng vào trung tâm thành phố. Từ xa, đồng chí Lê Bá Ước nhìn thấy chiếc xe tăng mang số hiệu 390 húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc Lập. Đặc công lập tức tỏa đi, bắt giữ lực lượng bảo vệ, giữ an toàn các khu vực trọng yếu. Đúng 11 giờ 30 phút, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc dinh, cả dân tộc hòa chung một nhịp tim chiến thắng./.
QV-ST!

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: CHUYỆN ĐẠI TƯỚNG KHÔNG CÓ NHÀ RIÊNG!

     Đại tướng Lê Trọng Tấn, một trong tứ đại chiến tướng của Việt Nam “Nhất Tấn, nhì An, tam Đan, tứ Chơn” lại là người không để lại cho mình một ngôi nhà riêng. Điều ấy, nghe tưởng như huyền thoại, nhưng lại là sự thật về vị Đại tướng đặc biệt trong lịch sử dân tộc.

Chiều cuối năm, tôi ngồi trong quán cà phê nhỏ nhìn ra con đường Trường Sơn, ngay trước cổng vào Sân bay Tân Sơn Nhất. Những chiếc máy bay lên xuống đều đặn, mang nhịp sống hối hả của một thành phố đã đổi thay rất nhiều. Ít ai biết, ngay tại khu vực này, hơn nửa thế kỷ trước, từng có một căn biệt thự dang dở - ngôi nhà mà đồng đội, cấp dưới đã cố xây để mời Đại tướng vào ở. Nhưng ông ba lần từ chối, dứt khoát không nhận.

Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Đông Hải - Nguyên Viện trưởng Phân viện kỹ thuật quân sự 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh, con trai Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn thường nói một câu khiến người nghe se lòng: “Cả đời cha tôi, không để lại cho con cháu một tấc đất, một căn nhà. Nhưng ông để lại một tấm gương lớn”. 

Theo ký ức anh Hải, gia đình từng có một thời gian sum họp hiếm hoi tại căn nhà nhỏ 48m² ở số 36 Hoàng Diệu, sống chung khu với các bác Tạ Quang Bửu, Vương Thừa Vũ… Rồi chiến trường lại gọi, mẹ anh dọn sang 36C Lý Nam Đế, tự lo trồng trọt chăn nuôi cải thiện bữa ăn.

Năm 1975, khi Sài Gòn hoàn toàn giải phóng, đồng đội chạy đôn đáo tìm cho Đại tướng Lê Trọng Tấn một căn biệt thự rộng rãi trong số nhà cửa bỏ lại. Nhưng ông chỉ lắc đầu. Cuối cùng, ông chọn căn nhà nhỏ số 2 đường Cửu Long, diện tích chừng 30m².
Thấy ông ở quá chật chội, một lần Đại tướng ra Hà Nội họp, Quân đoàn 4 “đánh úp” bằng cách chở toàn bộ đồ đạc của ông sang biệt thự 195 Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Trở về, thấy “sự đã rồi”, ông tạm ở nhưng vẫn đau đáu chuyện trả lại. Không lâu sau, ông xin giao căn nhà rộng rãi ấy cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để lo cho thương bệnh binh.

Không ai an tâm khi một vị tướng trận mạc lẫy lừng lại sống trong căn nhà nhỏ hẹp, nên anh em tiếp tục thuyết phục ông về biệt thự 126 Pasteur. Ông cũng thử ở, đúng nghĩa “khoác ba lô đến ví dụ” nhưng rồi lại về với căn nhà cũ ở đường Cửu Long. Đó mới là nơi ông thấy đúng với mình với phong cách giản dị, gọn gàng, không ưu tiên cho bản thân chút nào.

Và Đại tướng Lê Trọng Tấn đã sống tại đó, lặng lẽ như chính bản tính của mình, cho đến ngày qua đời 05-12-1986. Sau đó, nhà số 2 đường Cửu Long đã được cấp cho người khác…
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGHE LỜI ÔNG BA QUỐC, THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN CHÍ VỊNH THOÁT LƯỠI HÁI TỬ THẦN TRONG BẠO LOẠN CAMPUCHIA NĂM 1997!

     Năm 1997, cuộc xung đột giữa hai đồng Thủ tướng Campuchia Norodom Ranariddh và Hun Sen bất ngờ nổ ra, đẩy tình hình nước bạn vào vòng xoáy đảo chính đầy hỗn loạn. Khi đó, Nguyễn Chí Vịnh vừa được bổ nhiệm Cục trưởng Cục 12 gần một năm. Sáng ấy, nghe chú Văn Duy hỏi: “Đêm qua, Campuchia đảo chính, tình hình thế nào?”, ông sững lại vì hoàn toàn chưa nắm được tin. Chú Duy bồi tiếp “Ô hay, Cục trưởng 12 giờ này không biết gì à?” khiến ông toát mồ hôi. Nguyễn Chí Vịnh lập tức chạy đi tìm liên lạc để nắm tình hình.

Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí Sáu Nam, Nguyễn Chí Vịnh chuẩn bị lên đường sang Campuchia giúp nước bạn. Ngày lên đường, ông Ba đứng trước đầu xe, đưa Nguyễn Chí Vịnh một sợi dây gai xâu vài chục chỉ vàng, “vũ khí cuối cùng” của lính đặc nhiệm từ những năm 1977 và lời dặn dò phòng khi không còn chính quyền, không còn xe, không còn gì ngoài chính mạng sống mình với lời dặn:
- Bất kỳ tình huống nào nguy hiểm, cậu phải rút ngay.

Khi sang đến Campuchia, Nguyễn Chí Vịnh vẫn nhớ như in những lời ông Ba căn dặn trước đó. Ông Ba thường nói, trong những chuyến đi như thế này một khi đã mất an toàn thì câu chuyện coi như kết thúc, không có cơ hội thứ hai để rút kinh nghiệm. Vì thế, người làm nghề buộc phải tự tưởng tượng trước mọi tình huống, tự đặt mình vào những kịch bản xấu nhất để còn biết đường sống sót.

Ông Ba hay ví dụ bằng những điều rất thực tế. Ngồi trên xe, khi có chuyện xảy ra, điều tối kỵ nhất là dính chùm. Ông nói: “Khi có động, mở cửa xe ra là bốn người phải chạy bốn hướng. Chạy tản mới có cơ may sống. Còn cứ quây lại với nhau là chết cả chùm”. 

Ông Ba còn dạy, thủ trưởng luôn ngồi ghế trước. Không phải để oai mà vì khi địch nhắm bắn từ bắn tỉa đến AK, M79, B40 hay B41 bao giờ nó cũng nhằm vào cửa sau bên phải. Ông phân tích thêm, nếu bị chặn đường, thấy xe địch chắn phía trước thì chắc chắn phía sau đã có chuẩn bị. Lúc đó, dừng lại là chết, lùi lại cũng chết. Muốn sống thì cứ đè mà đi. Sau này, Nguyễn Chí Vịnh cũng dặn anh em đúng y như thế. 

Và rồi điều ông Ba nói đã trở thành sự thật. Cuối năm 1997, giữa lúc Phnom Penh hỗn loạn nhất, xe Nguyễn Chí Vịnh bị một chiếc bốn chỗ chắn ngang, phía sau như có hàng chục con mắt chờ tấn công, tình thế không khác gì ông Ba dặn. Cậu Đông lái xe cho Nguyễn Chí Vịnh không cần đợi lệnh, đạp ga, cho chiếc Land Cruiser lao thẳng vào xe chắn, ghếch bánh lên rồi trườn qua. Xe thoát tình huống nguy hiểm trong gang tấc. 

Từ năm 1997 đến 1999, tổ C98 do Cục trưởng Nguyễn Chí Vịnh làm Tổ trưởng đã lập được nhiều chiến công, hỗ trợ chính quyền bạn đứng vững qua các cuộc chính biến 1997 và bầu cử 1998. Đến năm 1999, khi tình hình chính trị của bạn đã ổn định thì tổ C98 rút về nước và giải tán, kết thúc nhiệm vụ.

Năm 2006, để ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc của tổ công tác khi thực hiện nhiệm vụ quốc tế, Đảng và Nhà nước đã trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho tổ C98./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: 2 CHIẾN SĨ ĐẶC CÔNG PHÁ HỦY 8 B-52 TRÊN ĐẤT THÁI KHIẾN MỸ BÀNG HOÀNG!

     Utapao - “pháo đài bất khả xâm phạm” từng là nơi mỗi đêm 3 đến 5 chiếc B-52 cất cánh, gieo bom xuống Việt Nam. Ít ai ngờ, nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất Thái Lan ấy lại trở thành chiến công rực sáng của chỉ… 2 người lính đặc công Việt Nam.

Sân bay Utapao, xây năm 1952 và được Mỹ mở rộng thành căn cứ chiến lược năm 1968, luôn chứa sẵn khoảng 20 máy bay B-52. Những lớp hàng rào thép gai, tuần tra nghiêm ngặt khiến người Mỹ tin rằng nơi này không ai có thể vượt qua. Nhưng Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công hiểu rằng muốn đánh được, chỉ có thể dựa vào một nhóm cực nhỏ, hoạt động bí mật ngay trên đất Thái.

Tháng 5-1971, đồng chí Lê Toàn, Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công Biệt động 1A, dẫn một tổ công tác vượt biên sang Campuchia, men sát biên giới Thái Lan. Tại đây, ông trực tiếp bắt liên lạc với ba chiến sĩ đang hoạt động bí mật: Trần Thế Lại, Bùi Văn Phương, Vũ Công Đài và thành lập tổ đặc công đặc nhiệm, giao trọng trách đánh sân bay Utapao.

Sau khi nhận nhiệm vụ, Trần Thế Lại phân công Bùi Văn Phương chuẩn bị trận địa ém vũ khí, cải trang thành dân buôn, tiếp cận khu vực sân bay. Từng ngày, Phương âm thầm quan sát hàng rào, thói quen tuần tra, giờ giấc cất, hạ cánh của B-52. Khi mọi dữ liệu đủ chín, tháng 10-1971, tổ đặc công chốt phương án dùng thủ pháo hẹn giờ để phá huỷ bí mật; nếu bị phát hiện, chuyển sang đánh nổ trực tiếp. Hai người được giao vào trận là Vũ Công Đài và Bùi Văn Phương.

Trưa 09-01-1972, hai chiến sĩ áp sát Utapao. Đến 19 giờ, họ hoàn tất ngụy trang, mang theo thủ pháo, lựu đạn, bắt đầu hành trình vượt rào. Hàng rào thép gai 0,3 cm, cao 2 m, cắt không nổi bằng kìm, buộc hai người phải ép sát đất, chui qua từng lớp một như những cái bóng lẫn vào đêm tối.

Trong quá trình đột nhập, họ ba lần gặp tuần tra. Hai lần khéo léo tránh được. Lần thứ ba, trong tình thế không còn lựa chọn, hai chiến sĩ buộc phải nổ súng tiêu diệt nhóm tuần tra gồm hai lính Mỹ và một chó béc-giê, rồi nhanh chóng mở đường tiến sâu vào mục tiêu.

Khi còn cách khu vực đỗ B-52 chỉ 300 m, bất ngờ họ gặp ba xe ô tô và hai lính Mỹ đang vòng kiểm tra. Hai anh lập tức đổi hướng, men theo vùng tối để tránh địch. Nhưng khi khoảng cách chỉ còn 50m, một tổ tuần tra khác phát hiện và nổ súng bắn chặn. Trong khoảnh khắc sinh tử, Bùi Văn Phương tung lựu đạn, tạo khoảng trống đúng một giây và cả hai lao thẳng vào trận địa máy bay.

Họ chạy dọc sân đỗ, bình tĩnh đặt thủ pháo vào từng chiếc B-52. Khi quả cuối cùng được cài xong, Phương ra lệnh rút. Đài rút về cửa mở, Phương vòng sang khu chứa bom để thoát nhanh hơn.

Vừa vượt được hàng rào, Phương nghe phía cửa mở tiếng súng nổ dữ dội. Vũ Công Đài đã ở lại chặn địch, giữ đường rút cho đồng đội và anh dũng hy sinh. Vài phút sau, những tiếng nổ long trời từ bên trong Utapao vang lên, lửa bốc cao rực cả bầu trời đêm. 8 chiếc B-52 bị phá hủy ngay tại chỗ.

Chiến công chỉ bởi 2 chiến sĩ đặc công, giữa trung tâm căn cứ Mỹ trên đất Thái kiên cố trở thành kỳ tích đặc công Việt Nam, khiến cả bộ máy quân sự Mỹ phải choáng váng. Trong đêm ấy, Utapao không còn “bất khả xâm phạm” nữa./.
QV-ST!

TẤT CẢ VÌ CUBA!

     Hiện có thông tin không chính thức rằng tàu Sea Horse chở khí đốt LNG và dầu diesel đến Cuba, khi tàu xuất hiện ở vùng biển Caribe, cách bờ biển Cuba khoảng 1.500km thì bị Hải quân Mỹ phong tỏa, buộc phải quay đầu. (Chưa tìm thấy nguồn chính thức nào).

Được biết, tàu Sea Horse mặc dù là của Nga nhưng tàu này treo cờ Hong Kong, tức trên danh nghĩa thì không thuộc Nga, và không nằm trong danh sách đen bị cấm của Mỹ.

Nếu điều này là sự thật, vậy là mọi hy vọng của Cuba giờ đều đc đổ dồn lên tàu chở dầu Anatoly Kolodkin. Đây là tàu thuộc sở hữu của công ty vận tải biển quốc gia Nga Sovcomflot, treo cờ Nga, và nó nằm trong danh sách đen bị Mỹ, EU và Anh trừng phạt.

Vậy tại sao thuộc diện bị trừng phạt mà Anatoly Kolodkin vẫn dám chở khoảng 750.000 thùng dầu tới viện trợ Cuba? Xin thưa, đó là tuyên bố của nước Nga rằng: sẽ gắng hết sức viện trợ cho người anh em đồng chí Cuba trong điều kiện có thể (BNG Nga tuyên bố vào 17/03, Putin phát đi thông điệp ở Kremlin ngày 18/03).

Hiện Anatoly Kolodkin đã rời cảng Primorsk ở vùng Viễn Đông của Nga và đang trên đường đến cảng Matanzas ở Cuba. Và hiện chính bản thân mình cũng rất hồi hộp, không biết liệu Anatoly Kolodkin có thể vượt qua lệnh phong tỏa đường biển của Mỹ áp đặt xung quanh Cuba hay không? Và thậm chí là đám diều hâu sẽ sử dụng đủ mọi thủ đoạn để bóp nghẹt và phong tỏa Cuba.

Theo như nhiều nguồn thông tin, thì tàu Anatoly Kolodkin được ít nhất một tàu ngầm của Nga đi kèm để đề phòng và cảnh báo những hành động với ý đồ cản trở tàu chở dầu này – Nếu không thì Nga đã không dùng tàu mang cờ và biển hiệu của chính mình, mà như trước đây, đã dùng tàu mang cờ của các quốc gia khác.

Hiện chỉ có Nga và Trung Quốc đã có những động thái cụ thể và quyết liệt để hỗ trợ người đồng chí của mình, chứ không dừng lại ở các động thái mang tính ngoại giao.

Chỉ từ đầu năm đến giờ, Trung Quốc đã viện trợ cho Cuba 60.000 tấn gạo, 80 triệu USD tiền mặt, 10.000 hệ thống điện năng lượng mặt trời độc lập và hơn 100k tấn nhu yếu phẩm.

Và về Nga, thì động thái như chúng ta biết rồi đấy. Rõ ràng, Nga đã bắt đầu hỗ trợ Cuba cụ thể và đây là đòn cân não dành cho chính Trump - Nếu tàu chiến của Mỹ chặn và bắn phá tàu "Anatoly Kolodkin" thì không khác gì Mỹ sẽ tuyên chiến với Nga, và Washington sẽ phải hứng chịu mọi hậu quả do hành động của mình gây ra.

Một quốc gia khác trong khối BRICS là Brazil cũng giúp đỡ Cuba rất nhiều. Theo Bộ Ngoại giao Brazil, nước này vừa mới viện trợ thêm Cuba 20.000 tấn gạo, 150 tấn đậu, 150 tấn gạo chế biến và 500 tấn sữa bột, được chuyển giao thông qua World Food Programme. Ngoài ra, một lô thuốc men, trong đó có thuốc điều trị bệnh lao và vaccine, cũng đã được vận chuyển bằng đường hàng không và đến Cuba trong tuần này. (18-24/03).

Trong năm 2026, Việt Nam ta cũng đã viện trợ Cuba 250 tấn gạo, hỗ trợ hạt giống cao sản CT16 cho vụ mùa đầu xuân của Cuba. Hic hic, mỗi cái Cuba ko có đủ phân bón và năng lượng, thiếu vật tư trang thiết bị nông nghiệp, ko biết vụ mùa đầu xuân này có làm được gì ko nữa.

Mình tin, sẽ có hàng triệu người Việt Nam khác nữa đang chờ đợi động thái tiếp theo của Chính phủ, như kêu gọi quyên góp ủng hộ Cuba chẳng hạn. Đây chính là thời điểm người anh em Cuba đang cần chúng ta nhất.

Cố lên Cuba, người anh em đồng chí chân thành nhất của Việt Nam chúng tôi!
QV-ST!

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU BẾ MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 2, KHÓA XIV CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM!

     Chiều 25/3/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí Đại biểu tham dự Hội nghị,

Sau 03 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, dân chủ, thẳng thắn, sâu sắc, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Trung ương đã thống nhất rất cao đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của Đảng và đất nước, đặc biệt là nhóm nội dung về công tác tổ chức, cán bộ và các quy định nền tảng của Đảng. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi trân trọng cảm ơn và đánh giá cao tinh thần làm việc quyết liệt của các đồng chí Trung ương, các cơ quan giúp việc và toàn thể các đồng chí tham dự Hội nghị.

Để kết thúc Hội nghị, Tôi xin khái quát và nhấn mạnh 5 nội dung công việc:

Thứ nhất: Về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tôi đề nghị cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện thật nghiêm túc, nhất quán "Bốn kiên định" về chính trị, tư tưởng.

Đó là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở để Đảng ta giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với những nguyên lý cốt lõi, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu của thời đại.

Đó là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta. Trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, càng trước khó khăn, thách thức, càng phải giữ vững niềm tin, bản lĩnh và ý chí đối với con đường Đảng ta, Nhà nước ta, Nhân dân ta đã chọn.

Đó là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Đây là yêu cầu khách quan, là quá trình cách mạng có tính quy luật, để không ngừng thúc đẩy tiến bộ xã hội, giải phóng sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế đất nước. Kiên định tinh thần đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc, đổi mới vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân.

Đó là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Nhằm bảo đảm giữ vững sự thống nhất về ý chí, hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng. Giữ cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, củng cố niềm tin sâu sắc trong nhân dân về một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Quy định về Công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng được ban hành trong Hội nghị lần này chính là sự cụ thể hóa "Bốn kiên định" nêu trên.

Thứ hai: Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số".
Đây là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất.

Vì vậy, các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp cần quán triệt sâu sắc " B ốn nguyên tắc" cốt lõi sau:

Một là: tăng trưởng thực chất. Tức là không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với chất lượng tăng trưởng dựa trên tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh quốc gia và giá trị gia tăng thực chất. Mỗi phần trăm tăng trưởng GDP phải chứa đựng hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn. Đảm bảo tăng trưởng hôm nay không làm tổn hại đến nền tảng phát triển của ngày mai, không làm suy giảm nguồn lực đối với thế hệ tương lai của đất nước. Kiên quyết loại bỏ tư duy chạy theo thành tích. Nếu chỉ chạy theo tốc độ mà xem nhẹ chất lượng thì tăng trưởng sẽ không bền vững và cái giá phải trả sẽ rất đắt.

Hai là: kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn. Đây là điều kiện tiên quyết, trụ cột quyết định khả năng vận hành linh hoạt, an toàn và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác phải theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, vừa hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, vừa củng cố niềm tin thị trường, ổn định kỳ vọng và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.

Ba là: tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc sử dụng nguồn lực phải gắn với nguyên tắc khoa học, hạch toán kinh tế xã hội rõ ràng, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn, khắc phục tình trạng dàn trải, kém hiệu quả, lãng phí. Các dự án được lựa chọn phải có tác động chiến lược đối với toàn bộ nền kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng thực chất và góp phần củng cố các kết cấu hạ tầng then chốt của quốc gia.

Bốn là: tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội. Mọi chính sách, dự án và nguồn lực đầu tư đều phải hướng tới việc tạo ra giá trị thực chất cho người dân, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao phúc lợi xã hội và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. Đảm bảo thành quả tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng, tạo nền tảng vững chắc cho sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững.

Trên cơ sở "Bốn nguyên tắc" cốt lõi này, việc triển khai mục tiêu tăng trưởng "hai con số" phải được tiến hành một cách nhất quán, đồng bộ và kiên định, với sự chỉ đạo tập trung cao của Trung ương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương và toàn bộ hệ thống chính trị.

Để tạo "động lực của động lực" cho phát triển , Trung ương cần sớm xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Hội nghị Trung ương 3- Khóa XIV xem xét, quyết định.

Thứ ba: Về phát huy thế mạnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là "Phương thức quản trị địa phương mới", nhằm bỏ tầng nấc trung gian để tổ chức vận hành bộ máy chính quyền cơ sở thông suốt, với nguồn lực được phân bổ hợp lý, công nghệ và dữ liệu được sử dụng hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

Trước hết, phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, chứ không đơn thuần là một sự điều chỉnh về tổ chức bộ máy. Nếu chỉ dừng lại ở việc giảm tầng nấc trung gian, sáp nhập đầu mối, tinh giản hình thức, mà không đồng thời đổi mới cơ chế phân quyền, phân cấp, ủy quyền, không thiết kế lại quy trình xử lý công việc, không chuẩn hóa hệ thống dữ liệu, không làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, không chuyển mạnh phương thức phục vụ từ hành chính quản lý sang hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển thì hiệu quả cải cách sẽ rất hạn chế.

Tiếp theo, phải bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi. Cấp tỉnh không sa vào xử lý sự vụ, làm thay cấp dưới, ôm đồm những việc cơ sở có thể làm được, mà phải tập trung vào những vấn đề mang tính quy hoạch, chiến lược, đầu tư lớn, điều phối nguồn lực, quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát và bảo đảm tính thống nhất, liên kết trong toàn địa bàn, trong vùng. Ngược lại, cấp xã phải được trao điều kiện về nguồn lực để tạo không gian phát triển bên cạnh nhiệm vụ thực sự trở thành nơi giải quyết các công việc trực tiếp gắn với người dân, doanh nghiệp, địa bàn, đời sống hằng ngày, an sinh xã hội, trật tự cơ sở, thủ tục thiết yếu và các yêu cầu cấp bách từ thực tiễn.

Đồng thời phân quyền phải đi liền với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực và hoàn thiện công cụ kiểm soát. Không thể giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã mà không giao tương xứng về cơ chế, biên chế, ngân sách, dữ liệu, hạ tầng số và cơ chế giám sát, kiểm tra phù hợp. Vì vậy, phải đảm bảo phương châm: giao quyền đến đâu, bảo đảm nguồn lực đến đó; phân cấp đến đâu, kiểm soát chặt chẽ đến đó; trao nhiệm vụ đến đâu, nâng cao năng lực tương ứng đến đó.

Cùng với đó việc điều hành hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phải được thực hiện với tư duy linh hoạt, khoa học, sát thực tiễn, chống rập khuôn, máy móc. Không thể lấy một khuôn mẫu duy nhất áp cho mọi địa phương, mọi đơn vị cơ sở, bởi điều kiện về dân số, diện tích, tính chất đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, yêu cầu văn hóa, quốc phòng, an ninh, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và khối lượng công việc ở mỗi nơi là rất khác nhau. Nếu triển khai một cách cứng nhắc, rất dễ nảy sinh một bộ máy cồng kềnh mới ngay ở cấp cơ sở, đi ngược lại mục tiêu tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả mà chúng ta đã đặt ra.

Cuối cùng, phải lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo thực chất, là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hiệu quả của cải cách không chỉ đo bằng số lượng đầu mối được sắp xếp lại, mà phải được kiểm nghiệm bằng những kết quả rất cụ thể trong đời sống xã hội: người dân không bị phiền hà; hồ sơ, thủ tục hành chính phải được giải quyết nhanh thông qua khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tinh thần phục vụ Nhân dân của cán bộ, và quan trọng nhất là cấp xã phải thực sự giải quyết được công việc ngay tại chỗ, phù hợp thực tiễn địa phương.

Thứ tư: Về công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí tiêu cực.
Kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, với cách tiếp cận vừa mang tính hệ thống, vừa có chiều sâu chiến lược. Đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy, mà còn là điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển.

Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, với hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn và các cơ chế, chính sách mới theo hướng thông thoáng hơn, cởi mở hơn để khơi thông nguồn lực phát triển, thì nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cũng gia tăng theo cả chiều rộng và mức độ tinh vi. Thực tiễn cho thấy, chính ở những lĩnh vực có nhiều ưu đãi, lại dễ trở thành điểm phát sinh rủi ro nếu thiếu cơ chế phòng ngừa, kiểm tra, kiểm soát hiệu quả. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải thiết kế, cải tiến thể chế đủ chặt chẽ để "không thể" tham nhũng, lãng phí, đồng thời xây dựng cơ chế giám sát đủ mạnh để "không dám" và "không muốn" tham nhũng.

Công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới phải được triển khai với quyết tâm chính trị cao, hành động kiên quyết, kiên trì, thường xuyên và liên tục. Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm, bảo đảm nguyên tắc "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", nhưng đồng thời phải quán triệt sâu sắc tính nhân văn, thượng tôn pháp luật và mục tiêu phát triển. Trong đó, phải thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phân định rõ ranh giới giữa sai phạm do động cơ vụ lợi với sai sót trong quá trình thử nghiệm, đổi mới.

Thứ năm: Về Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Thực tiễn từ diễn biến chính trị, kinh tế, quân sự trên thế giới cho thấy: Một đất nước muốn tăng trưởng nhanh, thu hút đầu tư lớn, mở rộng thị trường, và hội nhập sâu rộng thì trước hết phải là một quốc gia có tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức đề kháng cao trước các cú sốc an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong giai đoạn mới không chỉ là giữ vững chủ quyền quốc gia, biên giới, biển đảo, vùng trời, mà còn là giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ thể chế, bảo vệ lòng tin xã hội, bảo vệ không gian mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ các mạch máu kinh tế và các lợi ích phát triển chiến lược của đất nước. Cần phải nhận thức đầy đủ đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, trọng yếu, cốt lõi, lâu dài, kiên trì của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế cần phải được đặt xuyên suốt trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quyết sách phát triển. Bảo đảm cho phát triển đúng hướng, bền vững, có chủ quyền, có kiểm soát rủi ro và có khả năng tự vệ từ sớm, từ xa, chủ động "giữ nước từ khi nước chưa nguy". Từ đó xây dựng cho được sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong thời bình, trong đó sức mạnh quân sự, sức mạnh an ninh, sức mạnh đối ngoại, sức mạnh kinh tế, sức mạnh khoa học công nghệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau.

Bên cạnh đó, phải đặc biệt coi trọng và phát huy mạnh mẽ "thế trận lòng dân", xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, đô thị lớn, trung tâm kinh tế, hạ tầng trọng yếu và không gian mạng. Đây chính là sự kết hợp giữa "thế" và "lực", giữa phòng thủ quốc gia với phòng thủ xã hội, giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải gắn kết ngày càng chặt chẽ hơn giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ và phát triển, giữa ổn định và đổi mới. Để quốc phòng, an ninh, đối ngoại thực sự trở thành một "cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia" và động lực trực tiếp của phát triển, đồng thời là chỗ dựa chiến lược để đất nước vững vàng đi lên trong kỷ nguyên mới.

Thưa các đồng chí,

Với nền tảng đã được xác lập, với bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao và sự đồng lòng, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng các mục tiêu, khát vọng phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, bền vững hơn và toàn diện hơn.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hãy hành động theo phương châm: Tự chủ chiến lược- Kiên định hai mục tiêu chiến lược 100 năm- Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.

Với tinh thần đó, tôi tuyên bố bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC!

     Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”!

Ngày 26/3 năm nay, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tròn 95 năm xây dựng, trưởng thành và cống hiến. Nhìn lại chặng đường vẻ vang ấy, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống của các thế hệ thanh niên Việt Nam. Trải qua các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước, thanh niên luôn là lực lượng xung kích, đi đầu, không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, được Bác Hồ kính yêu và các thế hệ cách mạng dìu dắt, tuổi trẻ nước ta đã viết nên nhiều trang sử đẹp bằng lý tưởng cao cả, tinh thần yêu nước và khát vọng cống hiến.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, đóng vai trò nòng cốt. Ngay từ những năm chuẩn bị thành lập Đảng, lực lượng thanh niên Việt Nam đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thông qua Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và các tổ chức tiền thân, nhiều thanh niên yêu nước đã sớm tiếp thu lý luận cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, gây dựng cơ sở, rèn luyện tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ và tạo nền tảng chính trị, tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đồng chí, các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng đều đã giữ những cương vị trọng trách ngay từ khi còn đang tuổi thanh niên. Trong các cuộc kháng chiến, tuổi trẻ là lớp người "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", có mặt trên chiến hào, tuyến lửa, hậu phương lớn, công trường và trong những phong trào sôi nổi như "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", "Năm xung phong". Đặc biệt, lực lượng thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần hết sức quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, thanh niên tiếp tục là lực lượng nhanh nhạy tiếp cận cái mới, dám nghĩ, dám làm, đi đầu trong học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế.

Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thời đại mà sức mạnh quốc gia ngày càng được đo bằng năng lực sáng tạo, trình độ khoa học - công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích ứng trước những biến động lớn của thế giới. Năng lực cạnh tranh giữa các nền kinh tế không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên hay vốn đầu tư, mà ngày càng phụ thuộc vào tri thức, công nghệ, mô hình quản trị và giá trị gia tăng mới. Trong bối cảnh thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của đất nước trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Vì vậy, đổi mới sáng tạo không còn là việc riêng của một số ngành hay một số doanh nghiệp, mà phải trở thành tinh thần phát triển chung của cả đất nước, của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị và mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ. Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định đây là động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời tăng cường tiềm lực và năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Chúng ta vui mừng chứng kiến ngày càng nhiều thanh niên Việt Nam khẳng định trí tuệ và bản lĩnh trên nhiều lĩnh vực: từ khoa học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, tự động hóa đến khởi nghiệp sáng tạo, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, giáo dục, y tế, môi trường, văn hóa. Ở nhiều địa phương, dù điều kiện còn khó khăn, nhiều đoàn viên, thanh niên vẫn kiên trì tìm tòi sáng kiến trong lao động, trong chuyển đổi số, trong phục vụ cộng đồng, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Điều đó cho thấy đổi mới sáng tạo không phải điều gì xa vời. Nó có thể bắt đầu từ phòng thí nghiệm hiện đại, nhưng cũng có thể bắt đầu từ một ý tưởng nhỏ nhằm giải quyết vấn đề thiết thực của người dân, doanh nghiệp, địa phương và đất nước.

Đổi mới sáng tạo không chỉ là công nghệ cao hay những dự án thu hút vốn lớn. Trước hết, đó là năng lực nhìn ra điều chưa hợp lý để tìm cách làm tốt hơn; là dám đặt câu hỏi, dám thử nghiệm, dám thay đổi vì lợi ích chung; là biến ý tưởng thành giải pháp, biến tri thức thành năng suất, biến sáng kiến thành giá trị. Một bạn trẻ nghiên cứu thành công công nghệ mới là đổi mới sáng tạo; một kỹ sư cải tiến dây chuyền để tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất là đổi mới sáng tạo; một bác sĩ, giáo viên hay cán bộ trẻ ứng dụng công nghệ để phục vụ nhân dân tốt hơn cũng là đổi mới sáng tạo. Ở đâu có khát vọng vươn lên và tinh thần làm tốt hơn cho cộng đồng, ở đó có đổi mới sáng tạo.

Vì vậy, sự nghiệp đổi mới sáng tạo của thanh niên không giới hạn trong vài lĩnh vực thời thượng mà bao trùm nhiều mặt của đời sống quốc gia. Trong học tập, thanh niên cần rèn tư duy phản biện, tư duy hệ thống, năng lực tự học suốt đời, làm chủ ngoại ngữ, kỹ năng số và phương pháp nghiên cứu khoa học. Trong lao động, phải quý trọng kỷ luật, tôn trọng quy trình nhưng không chấp nhận lối mòn, không bằng lòng với những gì đã có. Trong sản xuất, kinh doanh, cần mạnh dạn ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng quản trị, cải thiện năng suất, xây dựng thương hiệu Việt Nam bằng chất lượng và sáng tạo. Trong khu vực công, thanh niên cần góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả. Trong văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, thanh niên cũng phải chủ động đưa giải pháp mới vào thực tiễn, giữ gìn bản sắc, bảo vệ Tổ quốc trên cả không gian thực và không gian số.

Tuy nhiên, sáng tạo chân chính không thể tách rời lý tưởng sống, đạo đức và trách nhiệm công dân. Thanh niên phải dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm cái mới; nhưng điều đó không có nghĩa là tùy tiện, nóng vội, chạy theo trào lưu hay sự nổi tiếng nhất thời. Đổi mới sáng tạo phải gắn với phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tuân thủ pháp luật, tôn trọng đạo đức, văn hóa, lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một sáng kiến chỉ thật sự có giá trị khi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, xã hội văn minh hơn, con người được phục vụ tốt hơn, đất nước mạnh hơn, độc lập, tự chủ hơn. Tuổi trẻ càng giỏi công nghệ, càng tiếp cận nhanh với cái mới, càng phải giữ vững lý tưởng, bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và lòng yêu nước. Đó là điều bảo đảm để đổi mới sáng tạo đi đúng hướng, phát triển lành mạnh, bền vững.

Tôi mong thanh niên Việt Nam hôm nay luôn ghi nhớ: yêu nước trong thời đại mới không chỉ thể hiện bằng cảm xúc, mà phải được thể hiện bằng tri thức, năng lực hành động, tinh thần chinh phục những đỉnh cao mới của khoa học - công nghệ và ý chí làm chủ tương lai đất nước. Thành công bắt đầu từ tinh thần không ngừng học hỏi, không ngừng hoàn thiện, không ngừng đặt ra yêu cầu cao hơn cho bản thân. Không có thành công bền vững nếu thiếu lao động nghiêm túc; không có công trình lớn nếu thiếu tích lũy bền bỉ; không có thành tựu thật sự nếu chỉ dựa vào may mắn hay cảm hứng nhất thời. Con đường đi tới thành công đòi hỏi cả tài năng lẫn kỷ luật, cả nhiệt huyết lẫn chiều sâu, cả khát vọng lớn lẫn sự khiêm tốn, cầu thị.

Tổ quốc cần ở thanh niên một tinh thần học tập suốt đời. Trong thế giới biến động nhanh chóng, tri thức hôm nay có thể nhanh chóng lạc hậu nếu chúng ta dừng lại. Bởi vậy, học tập không chỉ giới hạn trong nhà trường hay những năm đầu đời, mà phải trở thành một phẩm chất thường trực. Thanh niên Việt Nam cần chủ động cập nhật tri thức mới, nâng cao kỹ năng số, năng lực sử dụng công nghệ, ngoại ngữ, hợp tác quốc tế và khả năng làm việc trong môi trường đa ngành, đa văn hóa. Nhưng học tập không chỉ để có việc làm hay để tiến thân; học tập còn để mở rộng tầm nhìn, nâng cao năng lực cống hiến, để khi đất nước cần, mỗi bạn trẻ đều có đủ trình độ và bản lĩnh nhận nhiệm vụ khó hơn, lớn hơn. Một quốc gia mạnh về đổi mới sáng tạo trước hết phải là quốc gia có người trẻ ham học hỏi và có môi trường thuận lợi để biến tri thức thành hành động.

Thanh niên cũng cần nuôi dưỡng mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, lập nghiệp, nhưng đó phải là khởi nghiệp bằng trí tuệ, đạo đức kinh doanh và khát vọng tạo ra giá trị mới cho xã hội. Khởi nghiệp không chỉ để thành công cho riêng mình, mà còn để giải quyết vấn đề của cộng đồng, tạo việc làm cho người khác, góp phần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Tôi mong những doanh nhân trẻ Việt Nam không chỉ mơ ước xây dựng doanh nghiệp lớn, mà còn xây dựng doanh nghiệp tử tế; không chỉ tìm kiếm lợi nhuận, mà còn hướng tới giá trị bền vững; không chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ, mà bằng công nghệ, chất lượng, quản trị và uy tín. Đất nước rất cần những nhà khoa học trẻ dám đi vào lĩnh vực mới, những kỹ sư trẻ chinh phục công nghệ cốt lõi, những nông dân trẻ làm nông nghiệp thông minh, những công chức trẻ cải cách mạnh mẽ quy trình công vụ, những văn nghệ sĩ trẻ sáng tạo tác phẩm có giá trị và những chiến sĩ trẻ làm chủ công nghệ hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Tựu chung lại, lực lượng thanh niên hôm nay có thể đưa ra phương châm hành động: "Bản lĩnh tự cường - Tiên phong sáng tạo - Khát vọng cống hiến - Làm chủ tương lai".

Để đạt được điều đó, không thể chỉ đặt kỳ vọng lên vai thanh niên mà cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải cùng hành động. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ rào cản, tạo môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi cho sáng tạo, khuyến khích thử nghiệm và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung. Các cơ sở giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, chú trọng hình thành tư duy độc lập, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác và thực hành. Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cần tăng cường gắn kết, hình thành chuỗi liên thông từ nghiên cứu đến ứng dụng, từ ý tưởng đến sản phẩm, từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Khi thể chế thông thoáng, môi trường thuận lợi và niềm tin xã hội được củng cố, sức sáng tạo của tuổi trẻ sẽ được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ hơn.

Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, thực sự là người bạn đồng hành của thanh niên, là mái nhà chung để tập hợp, cổ vũ, phát hiện, bồi dưỡng và nâng đỡ tài năng trẻ. Phong trào thanh niên phải trở thành môi trường để thế hệ trẻ trưởng thành về lý tưởng, đạo đức, năng lực và trách nhiệm; đồng thời là nơi phát hiện những nhân tố mới, mô hình hay, cách làm hiệu quả và những tấm gương tiêu biểu. Khi được tổ chức tốt và khơi dậy đúng hướng, thanh niên hoàn toàn có thể tạo ra những đóng góp thiết thực cho đất nước và cộng đồng.

Tôi đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà khoa học và toàn thể nhân dân tiếp tục quan tâm sâu sắc hơn đến sự trưởng thành của thế hệ trẻ. Cần lắng nghe tiếng nói của thanh niên, tôn trọng những ý tưởng đúng đắn và đồng hành cùng thanh niên trong học tập, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp, lập thân, lập nghiệp. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững không thể thiếu niềm tin vào lớp trẻ. Nhưng niềm tin ấy không chỉ dừng ở lời nói mà phải được thể hiện bằng cơ chế, chính sách, nguồn lực, môi trường thuận lợi, cùng với sự nêu gương, dìu dắt và trao truyền trách nhiệm của các thế hệ đi trước.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, mong rằng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay sẽ tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, hun đúc khát vọng cống hiến, làm giàu trí tuệ, rèn luyện bản lĩnh, bồi dưỡng đạo đức, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, dũng cảm bước vào những lĩnh vực mới, việc khó, việc chưa có tiền lệ. Với niềm tin đó, chúng ta có cơ sở để kỳ vọng rằng thế hệ trẻ Việt Nam sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc bằng ngôn ngữ của thời đại hôm nay: ngôn ngữ của tri thức, của sáng tạo, của trách nhiệm và của khát vọng vươn lên không ngừng./.

QV-ST!