Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: BỘ NỘI VỤ TRẢ LỜI VỀ THÔNG TIN SÁP NHẬP 34 TỈNH, THÀNH CÒN 16 TỈNH, THÀNH!

     Đại diện Bộ Nội vụ khẳng định, hiện nay Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội không có chủ trương về việc tiếp tục sáp nhập tỉnh, thành phố và đơn vị hành chính cấp xã.

Chiều nay, tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 2, báo chí đặt câu hỏi về việc dư luận đang xôn xao trước thông tin tiếp tục sáp nhập tỉnh, xã.

Trả lời câu hỏi, Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương (Bộ Nội vụ) Phan Trung Tuấn nhìn nhận gần đây, thông tin này lan truyền nhiều trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, TikTok, liên quan khả năng “có thể tiếp tục sáp nhập tỉnh, xã”.

Ông Phan Trung Tuấn cho biết, trên mạng xã hội còn lan truyền hình ảnh một công văn của Bộ Nội vụ do một Thứ trưởng Bộ Nội vụ ký, kèm theo phụ lục sắp xếp 34 tỉnh, thành phố còn 16 tỉnh, thành phố.

Đại diện Bộ Nội vụ nhấn mạnh, cuộc cách mạng sắp xếp, tổ chức lại bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở cấp xã năm 2025 là bước đi mang tính chiến lược và có ý nghĩa lịch sử quan trọng.

“Chủ trương này, gồm cả việc hợp nhất 63 tỉnh, thành phố còn 34 tỉnh, thành phố; kết thúc hoàn toàn đơn vị hành chính cấp huyện; sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã đã được Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội cân nhắc kỹ lưỡng, hướng tới sự ổn định lâu dài”, ông Tuấn nêu rõ.

Đảng ủy Chính phủ khi trình Bộ Chính trị và Trung ương đề án về sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp thì Đảng ủy Chính phủ họp 5 lần, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét 3 lần trước khi trình Trung ương ban hành Nghị quyết 60 để thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gắn với sắp xếp các đơn vị hành chính các cấp.

Kết quả, cả nước còn 34 tỉnh, thành phố; 3.321 đơn vị hành chính cấp xã trên cả nước gồm 3 loại hình: xã, phường, đặc khu và gắn với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, vận hành từ 1/7/2025.

Hiện nay, toàn bộ hệ thống chính trị, với sự chỉ đạo toàn diện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Tổng Bí thư Tô Lâm, tới đây chúng ta sẽ chủ yếu tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để bảo đảm vận hành bộ máy thông suốt, quản trị địa phương hiện đại, gần dân, sát dân, phục vụ người dân tốt hơn.

“Chúng tôi khẳng định lại, hiện nay Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội không có chủ trương về việc tiếp tục sáp nhập tỉnh, thành và đơn vị hành chính cấp xã trên cả nước”, ông Tuấn khẳng định.

Ông Tuấn cũng cho biết, tại phiên họp thứ 52 cuối tháng 12/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có xem xét thông qua 2 nghị quyết. Đó là, nghị quyết về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và nghị quyết về phân loại đô thị. Hai nghị quyết này nhằm đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; hoàn thiện các quy hoạch để phát triển kinh tế - xã hội.

“Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cũng đã khẳng định Đảng và Nhà nước chưa có chủ trương sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính trong những năm tới”, ông Tuấn thông tin.

Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương nhấn mạnh, việc hoàn thiện thể chế để cụ thể hóa Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật liên quan, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, hiệu quả quản trị của địa phương, nâng cao chất lượng phục vụ người dân.

“Điều này không nhằm hướng tới việc tiếp tục chia tách, sáp nhập, hay sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã trong thời gian tới”, ông Phan Trung Tuấn khẳng định lại một lần nữa.

Ông cũng thông tin thêm, hồi giữa tháng 11/2025, sau cuộc cách mạng “sắp xếp lại giang sơn”, mạng xã hội lan truyền thông tin sẽ tiếp tục thực hiện sáp nhập từ 34 tỉnh xuống còn 16 tỉnh, thành phố. Bộ Nội vụ khi đó đã lên tiếng khẳng định thông tin sắp xếp từ 34 tỉnh, thành còn 16 trong giai đoạn tới là hoàn toàn không chính xác./.
Ảnh: Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương (Bộ Nội vụ) Phan Trung Tuấn trả lời tại họp báo.
QV-ST!

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA, CON NGƯỜI

     Thời gian qua, các thế lực thù địch nuôi dưỡng âm mưu, dùng nhiều thủ đoạn, chiêu trò nhằm hạ thấp giá trị di sản văn hóa; tấn công vào đạo đức, lối sống và thuần phong mỹ tục dân tộc; xuyên tạc chính sách, thành tựu về quyền con người... Đó cũng là mục tiêu nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, tấn công trực tiếp vào nền tảng tinh thần, bản lĩnh và cốt cách của con người Việt Nam. Do vậy, chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Những luận điệu sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn hóa

Có thể nói, văn hóa, con người Việt Nam là một trong những lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm và luôn được các thế lực thù địch, phản động xác định là một trong những mũi nhọn xuyên tạc. Các đối tượng đã sử dụng rất nhiều “liệu pháp” nhằm từng bước xâm lấn, xâm thực, xâm lăng văn hóa qua việc lan truyền sản phẩm văn hóa phương Tây, lối sống Âu hóa, cá nhân chủ nghĩa, thực dụng... và ca ngợi đó mới là lối sống hiện đại, đáng mơ ước, cổ vũ.

Luận điệu các thế lực thù địch thường tung ra là công kích, đả phá văn hóa truyền thống hướng về nguồn cội. Các đối tượng đưa ra những học thuyết phủ nhận phong tục thờ cúng tổ tiên khi cho rằng người đã chết là hết. Việc thờ cúng chỉ thêm phiền phức, mất thời gian. Việc sử dụng vật phẩm từ lễ cúng tổ tiên là mất vệ sinh, không bảo đảm an toàn cho sức khỏe, không phù hợp với tri thức y học hiện đại và trình độ nhận thức tiên tiến trên thế giới. Khi một thế hệ tương lai không biết đến tổ tiên, dòng giống, không có tâm tri ân, không biết đến đạo lý ông bà, tổ tiên đồng nghĩa với mất gốc. Không có gốc gác, cội nguồn thì đấu tranh, bảo vệ cái gì? Tinh thần chiến đấu gìn giữ phong hóa dân tộc còn không? Đây chính là âm mưu tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch.

Ở mức độ thâm độc hơn, các đối tượng lợi dụng những vấn đề nhạy cảm hoặc những hạn chế nhất thời để đưa ra các luận điệu “phi chính trị hóa văn hóa”. Họ cho rằng văn hóa phải tách khỏi chính trị. Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng tồn tại độc lập với chính trị. Họ coi văn hóa chỉ là những hoạt động thuần túy về nghệ thuật, giải trí, tín ngưỡng... mà không cần sự định hướng, lãnh đạo của một đường lối chính trị cụ thể. Luận điệu tách văn hóa khỏi chính trị là cái cớ để các thế lực thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực văn hóa. Mục đích lớn nhất của chúng là nhằm làm suy yếu vai trò chủ đạo của văn hóa xã hội chủ nghĩa, gieo rắc nghi hoặc trong nhân dân, cán bộ, đảng viên, từ đó bày tỏ thái độ xem nhẹ nội dung xây dựng văn hóa chính trị, văn hóa Đảng. Cũng với thủ đoạn “phi chính trị hóa văn hóa”, các thế lực thù địch sử dụng nó như chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm làm phai nhạt, tiến tới xóa bỏ vai trò chủ đạo của văn hóa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch phủ nhận thành tựu và chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Các đối tượng lợi dụng vấn đề nhân quyền để vu cáo Việt Nam đàn áp dân tộc thiểu số, trong khi thực tiễn Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, bảo đảm quyền con người và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách như: Chính sách bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số; chính sách bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch; chính sách về công tác thông tin, thư viện nhằm lưu trữ những văn bản cổ, về hoạt động nghe-nhìn, sáng tác văn học, nghệ thuật về chủ đề dân tộc thiểu số... 

Cố tình hạ thấp, bóp méo giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam

Về con người, các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc để xuyên tạc, bóp méo hình ảnh và giá trị con người Việt Nam nhằm mục đích làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ nhất, phủ nhận, bóp méo các giá trị cốt lõi của con người Việt Nam. Các đối tượng rêu rao luận điệu lệch lạc nhằm hạ thấp lòng yêu nước, tinh thần dân tộc Việt Nam. Thủ đoạn thường thấy là tìm cách xuyên tạc, phủ nhận những phẩm chất cao quý của người Việt Nam như lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quả cảm, kiên cường trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra, họ cố tình bóp méo những sự kiện lịch sử, gán ghép tinh thần yêu nước với chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Thứ hai, xoáy sâu vào những biểu hiện tiêu cực, những vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, làm lung lay niềm tin của nhân dân vào Đảng. Các đối tượng triệt để lợi dụng internet và mạng xã hội để truyền bá lối sống ngoại lai, không lành mạnh, đề cao chủ nghĩa cá nhân cực đoan, phủ nhận đạo đức truyền thống của con người Việt Nam; xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, từ đó kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Thứ ba, ca tụng, cổ xúy những giá trị quyền con người phương Tây, nhân danh cái gọi là “quyền con người phổ quát”, coi phương Tây là trung tâm, chi phối quyền con người toàn thế giới. Họ ra sức tuyên truyền, cổ vũ cho luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”. Họ dùng chiến thuật “tự chuyển hóa” dần làm cho người dân Việt Nam xa rời chuẩn mực đạo đức văn hóa truyền thống; chạy theo lối sống lợi ích, thực dụng, đề cao cái tôi cá nhân để tự huyễn hoặc về hình ảnh con người hiện đại, Âu hóa.

Không thờ ơ trước “luồng gió độc hại” tiêm nhiễm vào văn hóa, con người Việt Nam

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ, cùng với chú trọng phát triển, lan tỏa các giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức; cần tăng cường “sức đề kháng” của văn hóa, chống lại mọi sự xâm lăng về văn hóa; bài trừ các hình thức văn hóa lai căng, hủ lậu ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục; đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng.

Trước sự tiến công, phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, con người, chúng ta cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn và quan trọng của lĩnh vực văn hóa cùng nhân tố con người trong chiến lược xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Chú trọng đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, lồng ghép những nội dung tuyên truyền qua chương trình giáo dục-đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân; qua tài liệu bồi dưỡng; qua hoạt động ngoại khóa; qua tọa đàm, hội thảo, nói chuyện chuyên đề; qua hệ thống biểu bảng, pa nô, áp phích và tuyên truyền trên không gian mạng. Bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao "sức đề kháng" để có thể miễn nhiễm trước những luận điệu sai trái, thông tin độc hại trên lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật.

Bên cạnh đó, cần tăng cường, chủ động cung cấp thông tin chính thống về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, con người; đồng thời làm sáng tỏ những thành tựu to lớn của Đảng, Nhà nước ta trong việc xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng như những thành quả về quyền con người trên tất cả lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, điều có ý nghĩa then chốt là phải phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Quán triệt và hiện thực hóa quan điểm của Đảng là phát triển văn hóa phải ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội; không ngừng chăm lo, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân. Chú trọng quan tâm xây dựng và hiện thực hóa: 1) Hệ giá trị quốc gia Việt Nam gồm 9 thành tố: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc; 2) Hệ giá trị văn hóa Việt Nam gồm 4 thành tố: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; 3) Hệ giá trị gia đình Việt Nam gồm 4 thành tố: Ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh; 4) Chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới gồm 8 thành tố: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo.

Với bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tổ chức vận hành trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, việc sử dụng các biện pháp pháp luật để xử lý nghiêm các trường hợp tung tin sai sự thật, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, con người là cần thiết. Không ai được lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để đăng tải những thông tin không đúng sự thật, sai sự thật, gây tâm lý nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân. Mọi hành vi lợi dụng internet và mạng xã hội để truyền bá thông tin sai lệch, gây nhiễu loạn tư tưởng, tạo ra các luồng ý kiến trái chiều, tiêu cực về những chủ trương, chính sách văn hóa của Đảng, làm mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước phải bị nghiêm trị kịp thời. 

Đặc biệt, mỗi người dân Việt Nam cần được nuôi dưỡng, làm giàu ý thức Việt Nam trong kỷ nguyên mới, đó là tự lực, tự chủ, tự cường, tự tôn và tự hào dân tộc; chung tay góp sức xây dựng, bảo vệ, phát triển nền văn hóa Việt Nam xứng đáng với một dân tộc có bề dày văn hiến hàng nghìn năm lịch sử. Đó cũng là cơ sở để chúng ta phát huy ý chí, khát vọng của hơn 100 triệu người Việt trong kỷ nguyên phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc./.
Ảnh: Thiếu nữ đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trong không gian Lễ hội Hoa Ban, tỉnh Điện Biên.
QV-ST!

DÂN LÀ GỐC!

     Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng đã nêu bật tư tưởng xuyên suốt trong văn kiện và cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam: Dân là gốc.

Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Tuy nhiên, trong thực tiễn, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn biểu hiện xa dân, thờ ơ, vô cảm với dân. Những biểu hiện này là lực cản, khiến các nghị quyết, chủ trương của Đảng gặp vướng mắc khi thực thi, chưa mang lại hiệu quả mong muốn, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Đây là hạn chế cần được kiên quyết khắc phục để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ta.

Kể từ khi ra đời tới nay, yếu tố đặc biệt quan trọng để Đảng ta thực hiện thành công sứ mệnh lãnh đạo dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam vượt muôn vàn khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và đưa đất nước đạt tới trình độ phát triển như ngày nay là vì Đảng luôn được nhân dân tin yêu, ủng hộ, đồng hành.

Trong kháng chiến, dù có bị tra khảo, đòn roi của kẻ thù, bị đe dọa tính mạng thì nhân dân vùng bị địch tạm chiếm vẫn quyết không khai báo cán bộ, đảng viên, vì họ biết đó là những người một lòng một dạ vì nước, vì dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta sục sôi khí thế cách mạng với nhiều khẩu hiệu, phong trào như: “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”...

Đất nước sau ngày giải phóng khó khăn trăm bề, bị bao vây, cấm vận, kinh tế kiệt quệ vì chiến tranh và những sai lầm trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp. Dù đời sống rất khó khăn, nhưng vì hiểu được phẩm chất cách mạng của Đảng nên nhân dân vẫn giữ trọn niềm tin vào Đảng, hết lòng, hết sức ủng hộ Đảng, đồng hành, thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, từ đó đất nước mới có những kỳ tích đổi mới. Chính sự tin yêu của nhân dân, sự đoàn kết, đồng lòng của cả dân tộc đã tạo nên sức mạnh vô song của Đảng ta, Nhà nước ta, chế độ ta.

Nhưng bước vào thời kỳ kinh tế thị trường với bao cám dỗ, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã đánh mất phẩm chất đạo đức cách mạng, phai nhạt lý tưởng, không còn giữ được tinh thần phụng sự. Không ít cán bộ, đảng viên khi gặp nhân dân thì có thái độ trịch thượng, hách dịch như “quan cách mạng”, gây đủ thứ khó khăn, rồi tìm cách vòi vĩnh.

Việc gì có tư lợi thì những cán bộ, đảng viên này rất xông xáo, nhiệt tình, ngược lại, việc không mang lại nhiều lợi lộc thì họ thờ ơ. Họ vô cảm trước sự vất vả của nhân dân. Họ che giấu thực trạng, che giấu thông tin, lờ đi những tâm tư, nguyện vọng chính đáng, góp ý chân thành của nhân dân. Họ luôn "tô hồng" các báo cáo thành tích, luôn vỗ tay, tung hô quá đà bất chấp thực tế, khiến cán bộ cấp cao không nắm rõ được tình hình. Cùng với đó là những biểu hiện lợi ích nhóm trong xây dựng chính sách, pháp luật.

Chính sách, pháp luật lẽ ra phải xuất phát từ cuộc sống, phục vụ người dân thì không ít chính sách, pháp luật rất thiếu hợp lý, làm mọi thứ trở nên đảo lộn, tắc nghẽn. Kết quả là người dân nhiều khi thấy như bị hành tội ở cơ quan hành chính, không cảm nhận được đây là nơi phải phục vụ mình. Người dân ác cảm với các hành vi nhũng nhiễu, từ đó thiếu tin tưởng vào đội ngũ cán bộ, công chức, không cảm nhận được rằng “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. 

Thời gian qua, Đảng ta đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhiều cán bộ cấp cao vì tham nhũng, tiêu cực mà “ngã ngựa”, bị kỷ luật đảng, bị xử lý hình sự. Điều đó cho thấy tính nghiêm minh của kỷ luật đảng, của pháp luật và góp phần củng cố niềm tin của nhân dân.

Tuy nhiên, điều mà nhân dân vẫn luôn mong mỏi là hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí phải được thể hiện qua chất lượng phục vụ người dân của hệ thống hành chính. Người dân phải được phục vụ tốt hơn, dễ chịu hơn, "dễ thở" hơn. Mọi hành vi nhũng nhiễu, tham nhũng, tiêu cực phải được ngăn chặn và trừng trị thích đáng. Chính sách, pháp luật phải vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn đời sống và văn hóa Việt Nam. Bởi các chính sách, pháp luật cứng nhắc, thiếu sự thấu cảm với khó khăn của nhân dân đều rất khó đi vào đời sống và gây ra phản ứng tiêu cực trong xã hội.

Vừa qua, các nhiệm vụ tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số được chỉ đạo thực hiện rất quyết liệt, với mục tiêu phục vụ nhân dân tốt hơn, tiết kiệm nguồn lực, hạn chế lực cản nhằm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh hơn.

Tuy nhiên, bộ máy mới, quy trình mới, cán bộ mới đòi hỏi cần có thời gian thích nghi, không thể thông suốt ngay. Do đó, cán bộ, đảng viên nên thẳng thắn, mạnh dạn báo cáo tình hình thực tế, từ đó đề xuất các giải pháp để công việc trôi chảy hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn. Nguy hiểm nhất là cán bộ, công chức “mũ ni che tai”, cứ một mực báo cáo là “tốt rồi”, “tốt rồi”, trong khi đó vẫn có những khâu, những việc, những nơi gây phiền hà, bức xúc cho nhân dân.  

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm-Chủ tịch Đoàn Chủ tịch đại hội, Trưởng Tiểu ban Văn kiện trình bày đã nêu bật tư tưởng xuyên suốt trong văn kiện và cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam: Dân là gốc. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào nhân dân. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

Báo cáo khẳng định rằng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp.

Báo cáo phân tích để từ đó thấy rằng: “Chưa bao giờ nguyện ước về một Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc lại gần với chúng ta như hôm nay; nhưng cũng chưa bao giờ chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức, nhiều đòi hỏi gay gắt, nhiều sức ép cạnh tranh như lúc này”. Từ đó, báo cáo nhấn mạnh rằng, bước vào giai đoạn mới, càng phải chăm lo xây dựng "thế trận lòng dân". "Thế trận lòng dân" vững thì quốc phòng, an ninh vững; "thế trận lòng dân" vững thì cải cách mới đi tới cùng. "Thế trận lòng dân" vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hóa giải, đúng như Bác Hồ đã dạy: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong".

Từ đó, báo cáo nhấn mạnh rằng: “Mỗi đại biểu dự đại hội, mỗi cán bộ, đảng viên trên cả nước, khi nghiên cứu văn kiện, hãy tự hỏi: Việc này có lợi gì cho dân? Có làm cho dân tin hơn không? Có làm cho cuộc sống của nhân dân tốt đẹp hơn không? Có làm cho đất nước giàu mạnh hơn không? Nếu câu trả lời chưa rõ, phải tiếp tục hoàn thiện, bởi mọi quyết sách chỉ có ý nghĩa khi được nhân dân đồng tình, ủng hộ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân”.

Báo cáo do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày đã thấu được lòng dân, đã thẳng thắn chỉ ra những vấn đề mà toàn Đảng ta cần phải làm tốt hơn nữa trong nhiệm kỳ tới. Nhiệm kỳ tới là nhiệm kỳ mà Đảng cần quan tâm chăm lo hơn nữa việc xây dựng "thế trận lòng dân". Cần phải chấn chỉnh các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, xuôi chiều bất chấp thực tế, bất chấp cảm nhận của người dân.

Cán bộ, đảng viên cần phải nghĩ thật, nói thật, làm thật, có hiệu quả thật để từ đó, người dân được thụ hưởng thật. Có làm được như vậy thì công cuộc cải cách đang được đặt ra mới được thực hiện hiệu quả, các mục tiêu phát triển mới đạt được và đất nước ta, chế độ ta mới vững bền./.
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
QV-ST!

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 04 THÁNG 03 NĂM 1955!

     “Xa xỉ thì nhiều bệnh, cần kiệm thì sống lâu”!
Trong bút danh C.B được Báo Nhân dân, số 367 đăng ngày 04 tháng 3 năm 1955, nói về vấn đề sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối liên hệ giữa đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên với sức khỏe của nhân dân. Người coi trong đó đạo đức, lối sống là nhân tố rất quan trọng, có ảnh hưởng đến sức khỏe con người và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, nhất là khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta mới giành thắng lợi, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hết sức khó khăn, nền kinh tế lạc hậu, đội ngũ cán bộ chủ yếu chưa được đào tạo căn bản. Vì vậy, để đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện thống nhất nước nhà, bảo đảm cho nhân dân có sức khỏe tốt, có cuộc sống tốt đẹp, cần chú trọng trong công tác đào tạo và xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, quan tâm đến sức khỏe của nhân dân; cán bộ, đảng viên cần ra sức rèn luyện, phấn đấu, tránh những thói hư, tật xấu; nhân dân hăng say rèn luyện sức khỏe nâng cao tuổi thọ… Qua đó, cùng góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Để phòng chống căn bệnh “xa xỉ” thì phải chống lối sống vô độ, xa hoa lãng phí, ăn chơi trác táng, cục bộ, ích kỷ, vụ lợi, ham quyền lực, ham của cải làm giàu bất chính, sống hưởng thụ, không chăm chỉ làm việc. Đối với đồng chí, đồng đội, không được kèn cựa, địa vị, gây mất đoàn kết; đối với nhân dân thì không được quan liêu, sách nhiễu, xa rời hoặc dân chủ giả tạo; không mải lo lợi ích cá nhân, gia đình mà quên hết lợi ích của Đảng, của dân; cơ hội, thực dụng, vụ lợi, tham nhũng, nói không đi với làm, làm trái với chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút ý chí chiến đấu, mơ hồ hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội… Đồng thời, phải “cần kiệm”, tức là phải cần cù, siêng năng với tinh thần tự lực; không xa hoa, lãng phí; xây dựng một lối sống chuẩn mực và đạo đức cách mạng trong sáng. Có như vậy mới tránh được những thói hư tật xấu, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng, để phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.

Trong Quân đội, quán triệt, triển khai thực hiện Kế hoạch số 696-KH/QU ngày 29/7/2017 của Thường vụ QUTƯ về thực hiện Kết luận số 10-KL/TƯ của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Khóa X về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị xác định chỉ tiêu thực hành tiết kiệm cụ thể, tổ chức thực hiện đúng trọng tâm, trọng điểm, thường xuyên với quyết tâm cao, gắn với chương trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; nâng cao nhận thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sỹ toàn quân trong củng cố kỷ luật tài chính, quản lý, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả ngân sách, tài sản của Nhà nước, quân đội. Đề cao tính gương mẫu của cấp trên, cán bộ chủ trì các cấp và cán bộ, đảng viên trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, xử lý nghiêm các biểu hiện vi phạm./.
QV-ST!

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

COI TRỌNG PHẢN BIỆN ĐỂ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

BÀI 1: CẦN XÂY DỰNG, KHUYẾN KHÍCH HỆ SINH THÁI PHẢN BIỆN!

     Kiểm soát quyền lực là điều kiện tiên quyết để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân. Để tối ưu hóa kiểm soát quyền lực, đòi hỏi sự vận hành tổng hòa các giải pháp trong cơ chế công khai, minh bạch, thượng tôn pháp luật, coi trọng kỷ cương, kỷ luật đảng. Với tinh thần lấy “xây” để “chống”, việc xây dựng, khuyến khích một hệ sinh thái phản biện trong Đảng, hệ thống chính trị và đời sống xã hội chính là giải pháp góp phần kiểm soát quyền lực hiệu quả, bền vững...

Bài học lịch sử và đòi hỏi khách quan

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trong phần đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đã thẳng thắn chỉ rõ: Công tác cán bộ còn một số bất cập, trước hết là khâu đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ cấp chiến lược có mặt còn hạn chế...

Kiểm soát quyền lực là hệ thống các giải pháp, quy trình và cơ chế, trọng tâm là công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát... nhằm theo dõi, đánh giá, ngăn chặn sự tha hóa, độc đoán, lạm quyền, vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật Nhà nước trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị các cấp. Mục đích cao nhất của kiểm soát quyền lực là để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh; để đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp, thực sự là công bộc của dân như lời Bác Hồ dạy.

Nhìn lại hai nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng, chúng ta thấy rõ, với tinh thần kiên trì, quyết liệt, việc kiểm soát quyền lực gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những kết quả mang tính đột phá. Tuy nhiên, việc kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược vẫn còn những hạn chế nhất định. Những đánh giá được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng mang tính khách quan, thể hiện tinh thần cầu thị, thẳng thắn nhìn vào sự thật để xây dựng quyết tâm chính trị chiến lược của Đảng. Công tác quy hoạch cán bộ, đánh giá cán bộ và kiểm soát quyền lực có mối quan hệ biện chứng, thống nhất trong một chỉnh thể. Vì vậy, quá trình kiểm soát quyền lực không thể tách rời khỏi công tác cán bộ, nhất là khâu quy hoạch, quản lý, đánh giá cán bộ. Lựa chọn, quy hoạch cán bộ đúng, quản lý tốt, đánh giá thực chất thì kiểm soát quyền lực sẽ hiệu quả. Ngược lại, bất cứ một khâu nào làm sai, sẽ gây hệ lụy đến cả hệ thống.

Cần thấy rằng, yêu cầu kiểm soát quyền lực và những hạn chế trong lĩnh vực này không phải đến Đại hội XIV Đảng ta mới đặt ra, mà nó là vấn đề mang tính lịch sử, tồn tại xuyên suốt trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp của mọi quốc gia, dân tộc. Đất nước càng phát triển, xã hội càng tiến lên văn minh, hiện đại thì mục tiêu, yêu cầu kiểm soát quyền lực càng đặt ra cao hơn, toàn diện hơn. Trong xã hội hiện đại, quyền lực trong bộ máy cầm quyền có sức hấp dẫn lớn. Nếu không có cơ chế giám sát, kiểm soát đủ mạnh và hiệu quả, lợi ích mà quyền lực mang lại sẽ là tác nhân khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ rơi vào chuyên quyền, độc đoán, tham nhũng, lợi ích nhóm, tha hóa đạo đức, có hại cho đất nước. Mức độ nguy hại sẽ tăng lên gấp bội, gây hệ lụy khôn lường nếu tha hóa quyền lực xảy ra trong đối tượng cán bộ cấp chiến lược. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần sử dụng cách nói hình tượng “Nhốt quyền lực trong chiếc lồng cơ chế” để khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của kiểm soát quyền lực và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Đảng ta đã dũng cảm, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ và đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực một cách đồng bộ, hiệu quả hơn trong nhiệm kỳ mới. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Từ Đại hội XIV, yêu cầu kiểm soát quyền lực đặt ra rất cao và có nhiều điểm mới mang tính đột phá, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao cơ chế giám sát với hệ thống giải pháp mang tính khoa học, thực tiễn. Trong tổng thể các giải pháp, việc xây dựng, khuyến khích một hệ sinh thái phản biện chính là một trong những phương thức kiểm soát quyền lực, ngăn chặn suy thoái, tiêu cực từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. Cùng với những công cụ mang tính pháp lý như thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, xử lý..., phản biện chính là kênh thông tin giúp chúng ta nhận diện sớm những biểu hiện lệch lạc trong tư duy, tư tưởng của cán bộ, đảng viên; giúp các quyết định quan trọng được soi chiếu đa chiều, hạn chế chuyên quyền, độc đoán, chủ quan, duy ý chí...

Nhìn lại 40 năm đổi mới, chúng ta thấy rõ dấu ấn của phản biện gắn liền với những dấu mốc quan trọng của đất nước, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị và triển khai đường lối đổi mới từ Đại hội VI của Đảng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm đầu thập niên 1980, nhiều ý kiến phản biện xuất phát từ thực tiễn cơ sở đã mạnh dạn chỉ ra những bất cập của cơ chế quản lý cũ, đòi hỏi phải có cách nghĩ, cách làm mới mang tính đột phá. TP Hồ Chí Minh với vai trò “đầu tàu”, đã mạnh dạn, dũng cảm thoát ra và vượt lên cung cách quản lý cũ, thể nghiệm thành công những mô hình mới về kinh tế thị trường. Sự đột phá, “vượt rào” ấy bắt nguồn từ tư duy phản biện, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của thành phố lúc bấy giờ. Những cách làm linh hoạt trong quản lý kinh tế, lưu thông chuỗi cung ứng sản xuất, kinh doanh là kết quả của tư duy phản biện xuất phát từ yêu cầu bức thiết, cấp bách của thực tiễn. Chính những bước đi đột phá ấy đã góp phần hình thành đường lối đổi mới được Đại hội VI khởi xướng, mở ra giai đoạn phát triển mới cho đất nước.

Lịch sử đã chứng minh, trong những bước ngoặt trọng đại của dân tộc, trước khi ban hành quyết định chính thức, cha ông ta luôn có những “Hội nghị Diên Hồng” để lắng nghe ý kiến đề xuất, phản biện, hiến kế từ các tầng lớp nhân dân. Chỉ khi quy tụ lòng dân về một mối, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc mới được phát huy cao nhất, giúp sự nghiệp cách mạng thành công. Từ những bài học lịch sử và yêu cầu mới đặt ra, chúng ta thấy, khi phản biện được khuyến khích thực hiện trên tinh thần thượng tôn pháp luật và xuất phát từ lợi ích chung, sẽ giúp Đảng, Nhà nước điều chỉnh, hoàn thiện chủ trương, quyết sách, tránh được những sai lầm mang tính hệ thống. Coi trọng phản biện để kiểm soát quyền lực, vì thế, là một yêu cầu mang tính khách quan, vừa cấp bách, vừa là chiến lược lâu dài...

Phản biện khoa học thúc đẩy phát triển

Trong tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước những năm tới, Nghị quyết Đại hội XIV nêu rõ quan điểm chỉ đạo: Tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trọng tâm là cấp chiến lược và cấp cơ sở, nhất là người đứng đầu. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, nhất là tăng cường giám sát thường xuyên...

Quan điểm chỉ đạo từ Đại hội XIV của Đảng là sự kế thừa, phát huy những thành tựu, bài học kinh nghiệm từ các kỳ đại hội trước, đặc biệt là trong hai nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII. Đồng thời, Đảng ta tiếp tục bổ sung, nhấn mạnh sự liên kết các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực. Đáng chú ý là sự nhấn mạnh việc tăng cường giám sát thường xuyên. Với cơ cấu quyền lực đa tầng từ Trung ương đến các địa phương, việc giám sát thường xuyên cũng đòi hỏi phải được tiến hành theo phương châm đa tầng, đa chủ thể, đa phương thức. Xây dựng và khuyến khích phát triển một hệ sinh thái phản biện lành mạnh, đa tầng, đa chủ thể, trước hết là trong Đảng và hệ thống chính trị, tiếp đến là phản biện nhân dân, chính là cách để duy trì giám sát thường xuyên, liên tục. Đó chính là một hệ sinh thái phản biện khoa học. Từ hành vi phản biện, thái độ phản biện đến văn hóa phản biện phải luôn luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết. Phản biện để đi đến thống nhất nhận thức và hành động. Phản biện để hiến kế, kiến tạo xây dựng. Đó chính là nguyên tắc và văn hóa phản biện trong hệ sinh thái dân chủ, kỷ cương, văn minh, tiến bộ. Ở đâu, lúc nào coi nhẹ hoặc triệt tiêu phản biện khoa học, sự tha hóa quyền lực sẽ như mầm nấm độc, trỗi dậy và gây hại...
(còn nữa)
QV-ST!

COI TRỌNG PHẢN BIỆN ĐỂ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

BÀI 2: “XÂY” và “CHỐNG” TRONG PHẢN BIỆN, KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC
(Tiếp theo và hết)

     Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ là: Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa...

Phản biện để hiến kế, kiến tạo, xây dựng

Với quan điểm xuyên suốt lấy “xây” để “chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ sinh thái phản biện trong Đảng, hệ thống chính trị và đời sống xã hội cũng phải nhất quán quan điểm lấy “xây” để “chống”. Khi tham gia phản biện, dù là ai, ở đâu, phản biện nội dung gì, phản biện theo cách nào... cũng phải xuất phát từ động cơ trong sáng, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc, phục vụ quyền lợi của nhân dân.

Trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, phản biện là để góp phần làm cho chủ trương, đường lối, chính sách được ban hành đúng, trúng và sát yêu cầu thực tiễn. Sau thành công tốt đẹp của Đại hội XIV, nhiệm vụ của toàn Đảng lúc này là phải nhanh chóng đưa nghị quyết đi vào cuộc sống bằng những chương trình, kế hoạch hành động tổng thể và cụ thể. Phản biện giúp chúng ta nhìn rõ những bất cập, điểm nghẽn, hạn chế trong triển khai nghị quyết để cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng vào thực tiễn nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp... Trong kiểm soát quyền lực, phản biện giúp chúng ta phát hiện sớm các biểu hiện lạm quyền, độc đoán, lợi ích nhóm, chồng chéo, lãng phí... từ đó điều chỉnh hành vi quyền lực ngay từ khi các biểu hiện suy thoái mới manh nha. Phản biện xây dựng, bên cạnh cái tâm trong sáng, động cơ không vụ lợi, đòi hỏi chủ thể phản biện phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn phù hợp và tinh thần trách nhiệm cao. Người phản biện không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra cái sai, cái dở, cái hạn chế, mà quan trọng hơn là từ những điều đó phải có tiếng nói hiến kế, góp phần kiến tạo giải pháp. Khi phản biện được thực hiện với động cơ trong sáng, vì lợi ích chung sẽ trở thành nguồn lực quan trọng giúp Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực, hiệu quả cầm quyền trong bối cảnh mới.

Chống lợi dụng phản biện và né tránh phản biện

Song song với việc khuyến khích phản biện, cần kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lợi dụng phản biện để phục vụ động cơ cá nhân, đấu đá nội bộ, hạ bệ lẫn nhau hoặc tiếp tay cho các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Những kiểu “phản biện” gieo rắc hoài nghi, gây mất đoàn kết nội bộ cần được nhận diện rõ và xử lý nghiêm minh. Một trong những thách thức trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay chính là những hành vi lợi dụng không gian mạng, lợi dụng môi trường dân chủ và tự do ngôn luận để tuyên truyền chống phá Đảng, chống phá chế độ. Thủ đoạn phổ biến của chúng là núp bóng “phản biện”, “đấu tranh” để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền công kích, nói xấu, bôi đen hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước; phủ nhận, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Diện mạo của truyền thông “bẩn” trên không gian mạng trước, trong và sau Đại hội XIV của Đảng cho thấy, việc lợi dụng phản biện xã hội để gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây mất đoàn kết nội bộ, đánh vào niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước... do các phần tử cơ hội thực hiện, diễn biến ngày càng tinh vi. Các đối tượng này thường sử dụng chiêu bài so sánh, đối trọng, đối đầu... trong bình luận, đánh giá về công tác cán bộ của Đảng để tạo uy tín giả, tạo niềm tin giả nhằm lèo lái dư luận đi theo cái bẫy dân túy. Cái gọi là “phản biện”, “đấu tranh vì tương lai dân tộc”..., hoàn toàn không phải là phản biện mà thực chất là những con bài đầy toan tính trong thao túng nhận thức, lũng đoạn tâm lý xã hội...

Để có một hệ sinh thái phản biện văn minh, lành mạnh, tiến bộ, chúng ta rất cần những tiếng nói thẳng thắn, khách quan, có hàm lượng khoa học và trải nghiệm thực tiễn từ các giới chuyên gia, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà quản lý, doanh nhân... trong nước và kiều bào ở nước ngoài. Tuy nhiên, đó phải là những con người có thiện chí và những ý kiến phản biện khoa học, mang tinh thần xây dựng. Mọi biểu hiện lợi dụng, núp bóng phản biện vì động cơ cá nhân, phản trắc, phản bội... đều phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ.

Phản biện phản khoa học, phản biện vì động cơ cá nhân, lợi dụng phản biện để cấu kết, móc nối với các thành phần, tổ chức phản động để chống phá Đảng, chống phá chế độ... rất nguy hại, nhưng chúng ta vẫn có phương thức, giải pháp nhận diện, đấu tranh. Còn kiểu né tránh phản biện, thủ tiêu đấu tranh... thì nó vừa nguy hại, lại vừa khó nhận diện, đấu tranh. Thực chất, đây là những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Nó là thuộc tính của những kiểu cán bộ cầu an, “mũ ni che tai”, đạo đức giả, phông bạt làm màu... Đó là kiểu người luôn có xu hướng cuộn mình trong tổ kén, núp bóng chờ thời, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ. Trong công tác cũng như trong cuộc sống, họ mang hội chứng “makeno” (mặc kệ nó), bàng quan với nỗi lo của dân, không quan tâm đến thời cuộc, chỉ nói dựa theo ý lãnh đạo, làm cho vừa lòng cấp trên cốt để êm đường thăng tiến. Đây cũng chính là một dạng của tha hóa quyền lực. Kiểu người này mà càng leo cao, chui sâu vào bộ máy lãnh đạo thì nguy cơ tha hóa quyền lực càng cao. Coi trọng phản biện để kiểm soát quyền lực đòi hỏi ngay từ mỗi tổ chức Đảng phải “đọc vị” cho được, chỉ cho ra những dấu hiệu này để đấu tranh phê bình, tự phê bình, làm căn cứ lựa chọn, giới thiệu, bổ nhiệm, quản lý, đánh giá cán bộ. Tuyệt đối không để kẻ cơ hội có cơ hội thực hiện mưu đồ, động cơ cá nhân.

Đại hội XIV của Đảng đã hoạch định đường lối, chiến lược, sách lược lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá đã được xác định rõ với những dấu mốc rất quan trọng trong nhiệm kỳ và tầm nhìn đến năm 2045. Để Đảng ta hội tụ đủ bản lĩnh, sức mạnh, uy tín, niềm tin lãnh đạo đất nước, việc kiểm soát quyền lực phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi, gắn với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả thực thi nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên. Để phản biện thực sự là một thành tố trong cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, cần triển khai đồng bộ các giải pháp. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn và cơ chế bảo vệ người phản biện đúng đắn, vì lợi ích chung. Không để người dám nói, dám phản biện vì lợi ích chung bị cô lập hoặc chịu áp lực không đáng có. Cùng với đó, cần nâng cao chất lượng phản biện, coi trọng phản biện khoa học, có luận cứ, luận chứng rõ ràng, gắn chặt với thực tiễn và thượng tôn pháp luật. Phản biện phải đi liền với hiến kế, đề xuất giải pháp cụ thể, tránh sa vào phê phán chung chung hoặc lợi dụng phản biện để chống phá. Cần phát huy vai trò của báo chí cách mạng, nhất là hệ thống các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện giữ vai trò định hướng dư luận trong việc mở rộng không gian phản biện khoa học, góp phần xây dựng văn hóa phản biện lành mạnh trong Đảng, hệ thống chính trị và đời sống xã hội.

Kiểm soát quyền lực bằng hệ sinh thái phản biện khoa học là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao cùng bản lĩnh và trí tuệ tập thể. Khi phản biện được coi trọng đúng mức, quyền lực sẽ luôn được soi chiếu, điều chỉnh, vận hành đúng mục tiêu vì nhân dân, vì sự phát triển bền vững, hưng thịnh của quốc gia, dân tộc./.
QV-ST!

THẤM NHUẦN GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC VÀ VĂN MINH CỦA ĐẢNG ĐỂ PHÒNG NGỪA SUY THOÁI

     Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã làm từ nhiều năm nay góp phần ngăn chặn, đẩy lùi được một phần sự suy thoái ở một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên làm giảm uy tín của Đảng. Trong hoàn cảnh mới, để hoàn thành trọng trách trước đất nước, nhân dân để xứng đáng đảng cầm quyền thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì Đảng phải tự vượt lên mình để củng cố và hoàn thiện tấm gương văn hóa soi rọi con đường phát triển cho toàn dân tộc.

1. Câu “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” do Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ở Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 với tư cách là Chủ tịch Đảng. Nhắc lại thời điểm ra đời của câu nói này để nhận thức sâu hơn tư tưởng của Hồ Chí Minh về một Đảng cầm quyền đang lãnh trách nhiệm to lớn trước đất nước. Trong hoàn cảnh thời đó, nguy cơ về sự tha hóa quyền lực và những biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, đảng viên chưa lớn (tha hóa đạo đức, quyền lực, tư tưởng chính trị, lối sống...) nhưng trong các bài viết khác nhau của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những năm trước và cả sau thời điểm này, Người đã nhấn mạnh đến vai trò gương mẫu, hành vi nêu gương của đảng viên, đạo đức cách mạng, về mục tiêu tối thượng của Đảng...

Trong những lời cuối cùng trước khi từ biệt thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự lo lắng đầu tiên “nói về Đảng”-một đảng cầm quyền, về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, về tinh thần đoàn kết để xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ của nhân dân. Điều đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn ở Đảng không chỉ ở chỗ Đảng đã nắm quyền lãnh đạo mà điều quan trọng hơn là quyền lực đạo đức, quyền lực uy tín, quyền lực của sự tín nhiệm và sự gắn bó với nhân dân mới là quan trọng nhất của một tổ chức chính trị. Đó là nền tảng lâu bền nhất với một đảng cầm quyền. Chưa biết cụ thể khi nào cuộc chiến tranh giành độc lập và thống nhất đất nước thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn về lâu dài, Đảng cần có kế hoạch “nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” (Di chúc).

Nhắc lại thế để khẳng định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tới đạo đức và văn minh của Đảng không chỉ từ yêu cầu đạo đức của một đảng cầm quyền, mà còn nói tới sự văn minh của cách cầm quyền không đơn giản chỉ là một đảng chính trị mà ở sự gắn bó máu thịt với đất nước, nhân dân, ở mục tiêu duy nhất phấn đấu vì nhân dân, dân tộc. Đây là cốt lõi của vấn đề, là cái gốc tạo nên sự bền vững của quyền lực Đảng. Quyền lực ấy không vì mục đích tự thân mà để phụng sự đất nước.

2. Từ thực tiễn hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự phân biệt rõ ràng giữa đảng cộng sản cầm quyền với các đảng phái chính trị khác ở mấy khía cạnh: Đảng cộng sản tuy nắm quyền lãnh đạo nhưng không phải là một “đảng cai trị” như các đảng phái chính trị khác, không phải là một tổ chức quyền lực dù được luật pháp bảo trợ, càng không phải là một nhóm lợi ích mà là một lực lượng lãnh đạo chịu trách nhiệm về mọi vấn đề của đất nước trước Tổ quốc và nhân dân.

Các đảng phái chính trị khác trong các tuyên ngôn của mình cũng nói tới họ phụng sự nhân dân, đất nước, nhưng cần phân biệt ở cái gốc, ở đây là: Đảng ấy vì ai mà tồn tại, hành động nhằm mục đích gì, đại diện cho ai? Trách nhiệm và đạo đức của Đảng ở chỗ là bộ tham mưu, là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng, là lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của nhân dân, đất nước, là ý Đảng luôn hòa với lòng dân, được nhân dân yêu mến và ủng hộ từ tư tưởng chính trị, đường hướng hoạt động đến những tổ chức và con người cụ thể trong quan hệ với dân.

Một đảng hay tổ chức chính trị có thể giành được chính quyền bằng luật pháp, nhưng sự cầm quyền ấy có được ủng hộ lâu dài hay không lại là chuyện khác. Cách dùng từ “Đảng ta” không chỉ có các thành viên của Đảng mới dùng mà nhân dân nói chung, người ngoài Đảng cũng nói không phải như một thói quen mà nói lên sự gắn bó và tin yêu Đảng, nói về uy tín của Đảng trong xã hội.

3. Trong hoàn cảnh hiện nay, mệnh đề “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” được nhắc lại gắn với yêu cầu đổi mới sâu sắc, toàn diện để đất nước Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là việc nhắc lại một mệnh đề cũ mà phải đặt nó trong một bối cảnh xã hội khác trước, khi Đảng đã có kinh nghiệm lãnh đạo đất nước hơn 80 năm, đã trải qua nhiều kinh nghiệm, thành công về nhiều mặt và cả chưa thành công trên một số mặt, khi hoàn cảnh xã hội đã đặt ra cả những thuận lợi và những thách thức khác trước. Ở đây có vấn đề cần nhìn lại, nhận thức đúng thế và lực đã có, cần tạo ra sinh lực mới cho sự phát triển. Mục tiêu vào năm thứ 100 (tức năm 2045), kinh tế nước nhà là một trong những nền kinh tế hàng đầu, đất nước hiện đại, nhân dân hạnh phúc.

Mục tiêu ấy đặt ra trách nhiệm vô cùng lớn cho Đảng. Với tư cách là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của đất nước gần một thế kỷ qua, không thể không thừa nhận những chiến công huy hoàng, nhưng cũng không thể không nhận thấy một số khuyết tật, yếu kém của hệ thống mà Đảng phải chịu trách nhiệm chính. Sự suy thoái ở cả tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận của Đảng (tổ chức, cá nhân, đại diện...), tình trạng tham nhũng, lối sống xa dân, hưởng thụ, mất ý chí chiến đấu... như virus tàn phá cơ thể Đảng. 

Đảng đã chỉ ra căn nguyên của các bệnh lạm dụng quyền lực, thiếu kiểm soát quyền lực, suy thoái tư tưởng chính trị, suy thoái đạo đức, xa dân, nói không đi đôi với làm, thiếu gương mẫu khi thực thi công vụ và đời sống cá nhân xa hoa thì Đảng sẽ tìm ra những giải pháp mang tính đột phá để xử lý. Đó là con đường duy nhất để lấy lại vị thế, lòng tin với nhân dân. Không phải trở lại với những điều tốt đẹp như trước đây mà còn phải mới hơn, tốt hơn, hiệu quả hơn vì thời đại mới đòi hỏi những yêu cầu, tiêu chuẩn mới.

Ba vấn đề lớn nhất, dễ gây ra những sai lầm nhất của Đảng cầm quyền nếu làm không tốt là ở đạo đức chính trị, văn hóa chính trị và quan hệ với nhân dân. Dễ nhận thấy nhất ở những tổ chức và cá nhân vi phạm kỷ luật, phạm pháp những năm qua là vấn đề kiểm soát quyền lực không thực sự chặt chẽ, quyết liệt, nghiêm minh. Có cán bộ và tổ chức có quyền lực đã lạm dụng quyền lực để thao túng các quan hệ xã hội vì lợi ích cá nhân và phe nhóm. Văn minh chính trị, văn minh quyền lực chưa được xây dựng thành những cơ chế giám sát hiệu quả, còn nặng về hô hào, khích lệ. Nhiều tổ chức và cá nhân tự cho mình quyền đứng cao hơn luật pháp, đồng nhất tổ chức và cá nhân họ là pháp luật. Họ ban phát đúng sai, nhân danh chân lý trong nhiều vấn đề xã hội và chuyên môn sâu. Nhiều vấn đề không tường minh. Nhiều chính sách bị điều chỉnh không theo nguyên tắc, quy định, pháp luật, không vì lợi ích đất nước, nhân dân. Phần lớn các quyết định của Đảng khi kỷ luật tổ chức, cá nhân thường có nội dung “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ”, “làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của tổ chức và cá nhân” chứng tỏ tổ chức, địa phương ấy đã đứng ngoài, đứng trên pháp luật, không minh bạch trách nhiệm, bao che cho nhau tạo nên một “tổ hợp” quyền lực để dễ bề thao túng. Nhiều cấp ủy cấp tỉnh như Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Bắc Ninh... và Bình Dương, Vĩnh Phúc (trước đây)... thời gian qua là những bằng chứng về sự vi phạm này.

Nhiều người hay nói xử lý tham nhũng không có vùng cấm, nhưng cơ chế để che giấu, kết bè cánh vi phạm, lũng đoạn chính quyền, sự bắt tay giữa cơ quan quyền lực với các doanh nghiệp thời gian qua đã gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế, xâm phạm quyền lợi của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức chính trị, uy tín của Đảng, lòng tin của nhân dân. Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiện nay thực chất là một trong những giải pháp căn cơ để khôi phục tính chính danh và tính chất đạo đức, văn minh của Đảng.

4. Một trong những nội dung quan trọng của đạo đức và văn minh của Đảng chính là văn hóa chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh lợi ích của giai cấp, dân tộc là lợi ích của Đảng. Thời kỳ vận mệnh quốc gia như "chỉ mành treo chuông", Người đã nêu vấn đề “Tổ quốc trên hết” như tư tưởng bao trùm, nguyên tắc nền tảng của văn hóa chính trị. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên tất cả nên Đảng đã nhân lên sức mạnh và trở thành tổ chức chính trị được nhân dân tin cậy, yêu mến và ủng hộ. Đảng không đứng trên pháp luật dù cầm quyền, đảng lãnh đạo bằng pháp luật chứ không bằng mệnh lệnh, càng không vì đặc quyền và từ đặc quyền. Tinh thần thượng tôn pháp luật và nêu gương của các thành viên của Đảng đem lại uy tín cho Đảng. Trong suốt sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, có thành công, có thất bại, có đúng, có sai lầm, khuyết điểm, Đảng đã nhận những khuyết điểm của mình và khắc phục những sai lầm, khuyết điểm công khai. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”. Soi vào thực tiễn thì đây là một bài học lớn sâu sắc về văn minh chính trị.

Đảng là một tổ chức chính trị nhưng có các thành viên giữ những cương vị lãnh đạo chủ chốt từ cấp cao nhất xuống cơ sở. Các cá nhân ấy như những biểu tượng của Đảng. Họ thực hiện tốt trách nhiệm của mình thì đạo đức và văn minh của Đảng được đề cao. Trong quan hệ với nhân dân, họ là biểu tượng cho tổ chức. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những lãnh tụ của Đảng rất mẫu mực, dù làm gì, đến thăm ai, đi đâu cũng được nhân dân quý mến, kính trọng. Nhân dân tin yêu lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng vì họ nhìn thấy sự gắn bó máu thịt giữa cán bộ cấp cao với nhân dân, thấy mọi việc người lãnh đạo làm đều vì nhân dân, đất nước.

Lắng nghe dân, biết dân cần gì thì tìm cách đáp ứng bởi với mỗi người, mỗi tổ chức đều thấm nhuần tư tưởng điều gì có lợi cho dân thì gắng sức làm, điều gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Đạo đức và văn minh của Đảng là ở đó, hiện hữu rất cụ thể vì họ thực sự vì nước, vì dân cả trong tình cảm lẫn hành động. Trong giai đoạn mới của đất nước, trách nhiệm của Đảng với việc củng cố, tăng cường tinh thần đạo đức và văn minh càng phải được đề cao bởi những trọng trách và kỳ vọng nhân dân đặt vào Đảng.

Lâu nay, trong nhận thức, từ cơ sở đến Trung ương, thường chỉ tồn tại quan niệm lãnh đạo nhân dân mà không thấy rằng trong lãnh đạo cũng cần học dân. Nhiều ví dụ cụ thể chứng minh rằng trong kinh tế, khoa học, tổ chức đời sống..., người dân có những sáng kiến mang tính đột phá. Thực tế cho thấy, có nhiều doanh nghiệp tư nhân quản lý và tổ chức sản xuất thành công hơn một số doanh nghiệp nhà nước. Nhiều nhà khoa học có những phát minh, sáng chế hơn hẳn một số cơ sở nghiên cứu do Nhà nước lập ra, điều hành. Học nhân dân để vì nhân dân cũng là một biểu hiện đạo đức, văn minh của văn hóa chính trị. Nhân dân kỳ vọng đất nước vươn mình vào kỷ nguyên mới vì có Đảng biết vượt lên chính mình để cống hiến cho đất nước, nhân dân./.
QV-ST!

TỪ NGỘ NHẬN VỀ “THIÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN” ĐẾN VẾT NỨT NIỀM TIN!

     Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và không gian số bùng nổ, việc so sánh mô hình phát triển giữa các quốc gia là nhu cầu tự nhiên. Tuy nhiên, khi những so sánh ấy bị giản lược, phiến diện, thậm chí bị dẫn dắt có chủ ý, chúng không còn là công cụ tham khảo khoa học mà trở thành “cái bẫy tư tưởng”, âm thầm khoét sâu vào nền tảng niềm tin chính trị. Thực tiễn cho thấy, không ít biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay bắt nguồn từ sự ngộ nhận, thần tượng hóa cái gọi là “thiên đường phát triển” ở bên ngoài, trong khi phủ nhận hoặc hoài nghi con đường phát triển mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn.

Từ nhu cầu so sánh đến nguy cơ lệch chuẩn nhận thức

So sánh là một phương pháp phổ biến trong khoa học xã hội và quản lý phát triển. Đảng ta chưa bao giờ phủ nhận việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Ngược lại, nhiều văn kiện quan trọng khẳng định rõ yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi việc so sánh bị tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa, trình độ phát triển, thậm chí bị giản lược thành những đối chiếu cảm tính: Nước này “giàu hơn”, xã hội kia “tự do hơn”, mô hình nọ “văn minh hơn”. Nguy hiểm hơn, một số luận điệu cố tình tuyệt đối hóa ưu điểm, che giấu mâu thuẫn nội tại, khiếm khuyết xã hội của các quốc gia đó, từ đó gieo rắc tâm lý tự ti, hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, từng nhấn mạnh: “So sánh phát triển nếu không đặt trong chỉnh thể lịch sử-văn hóa-thể chế sẽ rất dễ trở thành công cụ dẫn dắt nhận thức lệch lạc, nhất là trong môi trường truyền thông đa chiều hiện nay”.

Thực tế cho thấy, những biểu hiện “tự diễn biến” về tư tưởng không xuất hiện đột ngột, mà thường bắt đầu từ các vết nứt nhỏ trong nhận thức: Nghi ngờ mô hình phát triển, giảm sút niềm tin vào năng lực lãnh đạo, từ đó dần xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định rõ: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời chỉ ra nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) nhấn mạnh yêu cầu chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó cảnh báo rõ thủ đoạn lợi dụng so sánh mô hình phát triển, thể chế chính trị để gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động niềm tin. Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) tiếp tục chỉ rõ: Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị ngày càng tinh vi, thường núp bóng dưới các luận điệu “khách quan”, “so sánh”, “tham khảo mô hình nước ngoài”... Đây là căn cứ lý luận-chính trị quan trọng để nhận diện đúng bản chất của những quan điểm thần tượng hóa cái gọi là "thiên đường phát triển".

“Thiên đường phát triển” - một khái niệm được tô vẽ có chủ ý

Không phải ngẫu nhiên mà các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị thường xuyên khai thác hình ảnh “thiên đường phát triển” ở một số quốc gia phương Tây hay khu vực khác. Đây là thủ pháp quen thuộc: Lấy một vài chỉ số kinh tế, phúc lợi xã hội hoặc quyền tự do cá nhân được phóng đại, tách khỏi những mặt trái như phân hóa giàu-nghèo, khủng hoảng nhập cư, bạo lực xã hội, bất ổn chính trị... để tạo ra một bức tranh lý tưởng hóa. Trong khi đó, những thành tựu phát triển to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam sau 40 năm đổi mới lại bị cố tình làm mờ, thậm chí xuyên tạc. Từ một nước nghèo, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, kinh tế tăng trưởng thuộc nhóm cao của khu vực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội phân tích: “Cái gọi là “thiên đường phát triển” thực chất chỉ tồn tại trong những lát cắt truyền thông có chọn lọc. Không có mô hình nào hoàn hảo, càng không có con đường phát triển chung cho mọi quốc gia. Nguy hiểm là ở chỗ người ta cố tình biến sự khác biệt thành cái cớ để phủ nhận con đường mà một dân tộc đã lựa chọn bằng lịch sử và hy sinh”.

Những luận điệu thần tượng hóa này, nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, sẽ từng bước bào mòn niềm tin, tạo ra tâm lý “so bì”, “đứng núi này trông núi nọ”, từ đó dẫn tới "tự diễn biến" trong tư duy chính trị.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, không ít biểu hiện dao động về nhận thức chính trị bắt nguồn từ việc tiếp nhận thông tin so sánh quốc tế một chiều, thiếu kiểm chứng, đặc biệt trên không gian mạng. Nhiều nội dung truyền thông cố tình lựa chọn các chỉ số bề nổi về thu nhập, phúc lợi, tự do cá nhân, trong khi né tránh hoặc làm mờ các vấn đề nội tại như phân hóa xã hội, bất ổn chính trị, suy giảm niềm tin công chúng tại chính những quốc gia được ca ngợi. Trong công tác xây dựng Đảng đã xuất hiện hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ trẻ bộc lộ tâm lý so bì, ngộ nhận, từ đó giảm sút ý chí phấn đấu, ngại va chạm, né tránh đấu tranh bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng. Đây không phải biểu hiện chống đối trực diện, nhưng là những “vết nứt âm thầm” trong niềm tin, nếu không được nhận diện và uốn nắn kịp thời sẽ tiềm ẩn nguy cơ "tự diễn biến" về tư tưởng. Ở chiều ngược lại, chính thực tiễn Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn, thách thức lớn đã cho thấy tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng ta lựa chọn, củng cố niềm tin xã hội và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống.

Một đặc điểm nguy hiểm của “tự diễn biến” hiện nay là tính âm thầm, mềm hóa, phi đối kháng trực diện. Không ít người vẫn khẳng định mình “không chống Đảng, không chống chế độ”, nhưng lại thường xuyên đặt câu hỏi theo hướng phủ định: Vì sao ta không đi theo con đường khác? Vì sao mô hình này không giống mô hình kia? Vì sao nước ngoài làm được mà ta không làm như họ?...

Những câu hỏi ấy nếu xuất phát từ tinh thần xây dựng, nghiên cứu khoa học thì là điều bình thường. Nhưng khi chúng được lặp đi lặp lại trong một hệ quy chiếu lệch chuẩn, thiếu nền tảng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiếu hiểu biết về thực tiễn Việt Nam thì rất dễ trở thành mầm mống của "tự diễn biến". Thực tiễn công tác xây dựng Đảng cho thấy, ở một số nơi, một số cán bộ, đảng viên dao động về nhận thức, giảm sút ý chí phấn đấu, ngại bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng, thậm chí né tránh đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Đây chính là hệ quả của quá trình bị tác động lâu dài bởi những so sánh lệch chuẩn và hình ảnh “thiên đường phát triển” được tô vẽ.

Đại tá, PGS, TS Cao Văn Trọng, Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định: “Tự diễn biến" nguy hiểm nhất không phải ở lời nói công khai chống đối, mà ở sự thay đổi hệ giá trị bên trong con người. Khi niềm tin bị xói mòn, hành động lệch lạc chỉ còn là vấn đề thời gian”.

Thực tiễn thế giới: Không có mô hình phát triển “vạn năng”

Nhìn ra thế giới một cách khách quan sẽ thấy, nhiều quốc gia từng được coi là “hình mẫu phát triển” cũng đang đối mặt với khủng hoảng sâu sắc: Bất ổn chính trị kéo dài, xung đột xã hội, phân hóa giàu-nghèo gia tăng, niềm tin của người dân vào thể chế suy giảm. Ngay trong lòng các nước phát triển, phong trào phản đối, chia rẽ xã hội, cực đoan hóa chính trị diễn ra ngày càng gay gắt. Trong khi đó, Việt Nam kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy con người làm trung tâm, không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Đó không phải là con đường dễ dàng, nhưng là con đường phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) nhiều lần nhấn mạnh: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tìm tòi, vừa làm vừa tổng kết, không rập khuôn, không giáo điều, nhưng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây chính là lời giải đáp thuyết phục nhất cho những luận điệu đòi “đổi hướng”, “đi theo mô hình khác” một cách giản đơn.

GS, TS Tạ Ngọc Tấn, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: “Không có mô hình phát triển nào mang tính khuôn mẫu cho mọi quốc gia. Việc so sánh nếu thiếu nền tảng lý luận và hệ quy chiếu khoa học rất dễ dẫn tới ngộ nhận, từ đó làm suy giảm niềm tin chính trị và nảy sinh biểu hiện "tự diễn biến" về tư tưởng”.

TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng nhấn mạnh: “Hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với sao chép mô hình. Mỗi con đường phát triển phải xuất phát từ điều kiện lịch sử, văn hóa và thể chế cụ thể của từng quốc gia”.

Nhận diện và hóa giải “ảo ảnh thiên đường phát triển”

Để ngăn chặn nguy cơ "tự diễn biến" từ những ngộ nhận về mô hình phát triển, trước hết cần nâng cao năng lực nhận diện trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. So sánh phải dựa trên cơ sở khoa học, toàn diện, đặt trong bối cảnh cụ thể, tuyệt đối tránh tâm lý sùng bái hay phủ định sạch trơn. Bên cạnh đó, công tác giáo dục lý luận chính trị cần tiếp tục được đổi mới theo hướng gắn lý luận với thực tiễn sinh động của đất nước, giúp người học thấy rõ vì sao con đường Đảng và nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, phù hợp và có tính tất yếu lịch sử. Quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự xây dựng cho mình “sức đề kháng tư tưởng”, không dao động trước những luận điệu hào nhoáng, không để những so sánh phiến diện dẫn dắt nhận thức và hành động.

Niềm tin chính trị không phải là khái niệm trừu tượng, mà được xây dựng từ thực tiễn phát triển đất nước, từ sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, từ hiệu quả quản trị quốc gia. Đấu tranh với quan điểm thần tượng hóa “thiên đường phát triển” cũng chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ.

Trong bối cảnh mới, khi thông tin đa chiều vừa là cơ hội vừa là thách thức, việc giữ vững niềm tin càng đòi hỏi bản lĩnh chính trị, sự tỉnh táo và trách nhiệm xã hội của mỗi người. Nhận diện đúng “ảo ảnh”, bóc tách những so sánh lệch chuẩn chính là cách để vá lại những “vết nứt âm thầm”, củng cố nền tảng tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có “thiên đường phát triển” nào được sao chép nguyên xi, chỉ có con đường phù hợp nhất với mỗi dân tộc. Với Việt Nam, đó là con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã, đang và sẽ kiên định lựa chọn./.
QV-ST!

TRÁCH NHIỆM PHẢI LÀM, SAO LẠI BAN ƠN?

     Một trong những việc khiến nhiều người dân bất bình và các thế lực thù địch, đối tượng bất mãn lợi dụng chống phá là một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức thiếu tinh thần phục vụ nhân dân; nhất là “biến” những việc thuộc nghĩa vụ, trách nhiệm mình phải làm thành quyền “ban phát” cho người dân, doanh nghiệp và cấp dưới, buộc đối tượng lẽ ra được phục vụ phải mang ơn, thậm chí phải hối lộ, “bôi trơn”...

Chuyện khiến nhiều người dân va vấp và bức xúc nhất có lẽ là việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) lần đầu, vì hầu như hộ dân nào cũng phải làm sổ đỏ. Trách nhiệm giải quyết việc này thuộc chính quyền địa phương, trực tiếp là cán bộ địa chính phải hướng dẫn người dân làm các thủ tục cần thiết, kiểm tra đủ điều kiện để cấp sổ đỏ thì trình cấp có thẩm quyền ký duyệt; nếu không đủ điều kiện phải thông báo rõ lý do và hướng dẫn người dân cần phải làm gì tiếp theo.

Thế nhưng thực tế nhiều trường hợp phải chạy vạy, nhờ vả, phải thông qua “cò”, tốn nhiều tiền thì mới được cấp sổ đỏ-dù đó là quyền lợi hợp pháp của công dân, cơ quan chức năng phải có trách nhiệm thực hiện. Đặc biệt, có trường hợp người dân không khỏi thắc mắc, bức xúc khi thấy mảnh đất gần nhà mình có nguồn gốc tương tự, thậm chí là đất lấn chiếm, đất nông nghiệp... lại nhanh được cấp sổ đỏ (!)

Còn nhiều việc khác bị không ít cán bộ, công chức, viên chức “biến” từ nghĩa vụ, trách nhiệm phải làm thành sự “ban phát” cho người dân, doanh nghiệp, như: Giải quyết các thủ tục hành chính; cung cấp những thông tin theo quy định (thông tin quy hoạch, các chính sách, hướng dẫn...); các tập thể, cá nhân đề nghị huân chương hoặc hình thức khen thưởng khác; cấp các loại giấy phép; đăng ký kinh doanh, sản phẩm... Ví dụ điển hình là vừa qua, một số cán bộ Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đã bị xử lý vì đặt ra “cơ chế ngầm”, mỗi hồ sơ của doanh nghiệp phải nộp vài triệu đồng mới được ký duyệt, nếu không sẽ bị trả lại không rõ lý do. Việc cán bộ, nhân viên các cơ quan chức năng cố tình đặt ra cơ chế “xin-cho”, “gây khó để có... phong bì” đã tạo nên nạn “tham nhũng vặt” khiến nhân dân rất bất bình, các thế lực thù địch có cớ chống phá, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Ngoài ra, trong giải quyết công việc của một số cơ quan, tổ chức cũng có tình trạng cấp trên “hành” cấp dưới, biến những việc thuộc trách nhiệm của mình thành “ban ơn”. Ví dụ như trong việc cấp kinh phí và trang thiết bị thuộc tài sản công, điều động, bổ nhiệm, nâng lương, khen thưởng, mượn nhà công vụ hay thuê, mua nhà ở xã hội... Những việc này theo quy định thì cấp trên phải làm trên cơ sở xem xét khách quan, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho cấp dưới; nhưng không hiếm cán bộ tự cho mình có quyền ưu tiên, thiên vị hoặc gây khó, tạo tình huống xin-cho, thậm chí còn chỉ đạo cấp dưới làm không đúng quy định để “đặc cách” người nhờ vả mình, hình thành lệ xấu chạy chọt, xin xỏ. Hệ lụy là những người ngay thẳng, không quỵ lụy "đi cửa sau" thì thiệt thòi, nảy sinh tư tưởng chán nản, bất mãn, nội bộ mất đoàn kết.

Tư tưởng “ban phát” làm cho nhiều cán bộ mặc nhiên coi những người được mình “ban ơn” phải mang ơn và trả ơn; nếu không thì sẽ bị quy chụp là vô ơn, không biết điều, thậm chí bị rêu rao là “ăn cháo đá bát”. Thói xấu này làm cho cấp dưới bức xúc vì thực tế họ có đủ tiêu chuẩn được nhận những quyền lợi hợp pháp do tập thể thống nhất đề nghị chứ không cần cấp trên “ban ơn”, tạo điều kiện.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ. Kiên quyết xóa bỏ cơ chế "xin-cho", giảm tối đa thủ tục hành chính... Lấy thời gian, chi phí của người dân và doanh nghiệp làm thước đo chất lượng cải cách; bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh... Đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của nhân dân.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: Phải tăng cường kiểm soát quyền lực, không để người dân phải xin những gì lẽ ra được hưởng. Mô hình quản trị quốc gia phải dựa trên pháp luật minh bạch, dữ liệu tin cậy, hạ tầng số hiện đại, bộ máy tinh gọn, cán bộ liêm chính, kỷ cương đi đôi với phục vụ. Đó mới là quản trị kiến tạo phát triển, không phải quản trị xin-cho.

Như vậy, Đảng, Nhà nước ta đã xác định rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân; phải quan tâm chăm lo, bảo đảm những quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo phẩm chất, năng lực, hiệu quả công việc của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Quan điểm này được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ.

Tuy nhiên, trước thực tế một bộ phận cán bộ, nhân viên các cơ quan công quyền vẫn cố tình phớt lờ bổn phận, trách nhiệm, gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân, Đảng, Nhà nước cần có biện pháp xử lý dứt điểm, kiên quyết không để “con sâu làm rầu nồi canh”, gây ảnh hưởng xấu tới kỷ cương, phép nước và đặc biệt là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trong giai đoạn cách mạng mới, với sự chống phá ngày càng quyết liệt, tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, chúng ta càng phải chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, càng phải tăng cường kỷ luật thực thi công vụ để thể hiện rõ tinh thần vì nhân dân phục vụ. Kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng những vụ việc cán bộ, công chức tiêu cực, “hành dân” để thổi phồng, suy diễn, quy chụp Đảng, Nhà nước ta “nói hay, làm dở”, “nói một đằng, làm một nẻo” hòng thực hiện mưu đồ nham hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động tâm lý bất mãn, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không chỉ là đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận mà quan trọng nhất là phải bắt đầu từ những việc cụ thể trong thực thi công vụ hằng ngày. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải nhận thức rõ: Phục vụ nhân dân là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình chứ không phải sự ban phát; không thể biến trách nhiệm, việc phải làm thành đặc quyền cho hay không cho, khiến người dân, doanh nghiệp và cấp dưới phải xin xỏ, nhờ vả và chạy chọt, từ đó nảy sinh tư tưởng bất mãn, bức xúc, mất niềm tin./.
QV-ST!

HỌ BUỘC CHÚNG TA TIẾP TỤC ĐẤU TRANH LOẠI BỎ "RÁC PHẨM" NỖI BUỒN CHIẾN TRANH!

     Vào hồi 09h35, ngày 27/2/2026, Chương trình Văn học Nghệ thuật phát trên VTV1 một lần nữa dành thời lượng đáng kể ngợi ca, tôn vinh "rác phẩm" Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Điều đáng nói là VTV1, Đài THVN là kênh chính luận số 1, không phải là kênh truyền thông "trung tính", ất ơ. Vì thế đừng vin cớ là tác phẩm được xuất bản hợp pháp để làm "điểm tựa" định vị giá trị cho "rác phẩm" đã bị hàng triệu người bóc mẽ, lên án suốt thời gian qua. Nên nhớ, đã có vô vàn hàng giả đủ loại được cấp phép của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, làm hại sức khoẻ thể chất, tinh thần của người tiêu dùng đã bị phát hiện, xử lý theo pháp luật. Và hàng giả không vì thế mà bị triệt tiêu. Vì lợi nhuận, nó vẫn tiếp tục luồn lách, nẩy nở như nấm sau mưa đầu Hạ.
      Chúng ta đều biết, văn học cách mạng Việt Nam, ngay từ đầu đã hình thành, phát triển trên cơ sở "vị nhân sinh", vì cuộc sống con người; phụng vụ sự nghiệp đấu tranh dành độc lập, tự do, thống nhất dân tộc. Đó là tôn chỉ, mục đích đã được định vị, chứ không phải là thứ văn học trừu tượng, nhân văn phi lịch sử. Vì thế không thể lấy quan điểm "hậu hiện đại" lỗi thời, cũng như không thể lấy quan điểm "giải thiêng” của một số trào lưu văn học nghệ thuật phương Tây để soi chiếu đánh giá văn học viết về chiến tranh cách mạng Việt Nam, nhằm bảo vệ "rác phẩm" Nỗi buồn chiến tranh. 
     Cách làm của VTV1 là sự khiên cưỡng, ngụy biện lại gây sóng gió dữ dội trên cộng đồng mạng. Sau nhiều sai sót trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ đạo làm rõ, xử lý những sai sót của VTV1 để lấy lại lòng tin của công chúng. Việc lấy lại lòng tin do sai sót trước chưa được khẳng định, thì VTV1 lại "sai sót" mới bổ sung. Theo nhiều khán giả, thì việc bào chữa "rác phẩm" Nỗi buồn chiến tranh không phải là "sai sót" mà là là sự sắp đặt có kế hoạch để bịt miệng những người đấu tranh bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ sự thật lịch sử, danh dự Quân đội Nhân dân Việt Nam và xương máu của hàng triệu chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất dân tộc./.

QV-ST!

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 03 THÁNG 3 NĂM 1959!

     “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ.

Thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam còn luôn chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ để góp phần quan trọng tới việc hoàn thành nhiệm vụ, tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nắm vững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đạo đức của người cán bộ cách mạng trong giai đoạn mới để quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện thật sự khoa học, công tâm, theo một quy trình dân chủ, trong đó chú trọng việc xây dựng cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành có trình độ chuyên môn giỏi, thật sự kiên định vững vàng, tin cậy về bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ, năng động, sáng tạo, có kiến thức cơ bản trong điều hành tổ chức, giải quyết mọi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

QV-ST!

TỈNH TÁO VỚI CHIÊU trò MƯỢN CÁC DIỄN NGÔN CHÍNH TRỊ ĐỂ CHỐNG PHÁ!

     Trong thời đại công nghệ số với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, tư tưởng của con người rất dễ bị chi phối bởi các dòng thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là khi nó được thế lực thù địch, cơ hội chính trị mượn các diễn ngôn chính trị làm phương tiện để thao túng. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện và phê phán những chiêu trò ẩn giấu sau những diễn ngôn chính trị là rất cần thiết, có ý nghĩa góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những hệ lụy khôn lường từ diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”

Diễn ngôn chính trị là kiểu diễn ngôn đề cập đến các vấn đề quản lý xã hội, khi nó thể hiện mối quan tâm của con người đối với các vấn đề quản lý nhà nước. Diễn ngôn chính trị không chỉ giới hạn trong phát biểu của các chính trị gia mà còn được thể hiện qua các văn kiện pháp lý, chiến dịch truyền thông, các cuộc tranh luận công khai và hiện nay nó tồn tại cả ở các phương tiện truyền thông đại chúng, trên các nền tảng mạng xã hội hiện đại. Do tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại” bởi các chủ thể khác nhau nên diễn ngôn chính trị luôn chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực.

“Đồng phục tư tưởng” là một diễn ngôn chính trị đã xuất hiện từ lâu, nhưng gần đây nhất nó được các thế lực thù địch và những người bất đồng chính kiến mang tâm thế chống phá “diễn lại” qua một số bài viết trên mạng xã hội. Ẩn chứa đằng sau cụm từ gợi hình này là những chiêu trò mang vẻ “khoa học giả định” nhưng lại nhằm mục đích phê phán, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi nhắc đến “đồng phục tư tưởng”, nhiều người, nhất là những người thiếu nhãn quan chính trị sắc bén sẽ dễ dàng chấp nhận nó và xem đó là cách “đặt lại vấn đề” về sự đa dạng tư tưởng, dung nạp chính trị và sự tôn trọng lịch sử đa chiều, mà đâu biết rằng nó đã và đang tạo ra những hệ lụy hết sức nguy hại trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, tạo ra sự hoài nghi đối với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi sử dụng diễn ngôn “đồng phục tư tưởng”, các thế lực thù địch đã cố tình dùng lối nói bóng bẩy nhằm gán ghép sự lãnh đạo tư tưởng của Đảng thành thứ gì đó “áp đặt”, “độc đoán”. Đây là cách họ tiêm nhiễm công chúng, khiến một số người, nhất là giới trẻ và những người chưa có hiểu biết lý luận dần nghi ngờ và không còn tin tưởng vào hệ tư tưởng của Đảng. Một khi sự nghi ngờ len lỏi, họ sẽ nghĩ rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh “đã lỗi thời” hoặc “không còn phù hợp” và dần mất niềm tin. Khi gán nhãn “đồng phục tư tưởng” lên Chủ nghĩa Mác-Lênin và tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch còn hướng tới phủ định công lao và nỗ lực phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không tỉnh táo trước diễn ngôn này, người dân sẽ ngộ nhận rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam không có sự đổi mới trong tư duy, tư tưởng mà chỉ có sự rập khuôn máy móc, chỉ có “một màu duy nhất”, và khi đó, niềm tin vào nỗ lực đổi mới của Đảng bị suy giảm, không chỉ trong nhân dân, mà thậm chí còn cả trong chính nội bộ Đảng.

Thứ hai, chia rẽ và kích hoạt xung đột nhận thức. Khi bị tiêm nhiễm vào cái gọi là “đồng phục tư tưởng”, nhiều người sẽ cho rằng sự thống nhất trong công tác tư tưởng là “sự ép buộc” và không thấy được sự cần thiết của tính thống nhất trong đường lối cách mạng. Diễn ngôn này đã và đang tạo ra sự xung đột, phân hóa giữa các thế hệ và các vùng miền. Chẳng hạn, một bộ phận những người từng gắn bó với chế độ cũ (hoặc thế hệ kế cận họ), khi nghe đến cụm từ “đồng phục tư tưởng”, họ dễ liên tưởng đến hình ảnh bị “áp đặt”.

Trong khi đó, một số người hoặc các thế hệ trẻ lớn lên trong thời bình, ít va chạm trực tiếp với quá khứ lại không chia sẻ cảm xúc hoặc ít đồng cảm. Hệ quả là, thay vì tìm thấy mẫu số chung để hòa giải ký ức và tăng cường gắn kết, các bên lại sa vào những tranh luận không đáng có, nhất là khi lại dựa trên cảm xúc lịch sử nhiều hơn lý trí và sự thấu hiểu toàn diện. Điều này vô tình “đóng băng” những mâu thuẫn lịch sử vốn có thể được hóa giải qua đối thoại và xây dựng niềm tin. Diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” đã lợi dụng chính những vết rạn lịch sử và cảm xúc chia rẽ, biến nó thành chất xúc tác cho xung đột ý thức hệ, từ đó kích động và khơi dậy những nghi ngờ đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ ba, tạo ra nguy cơ “phân mảnh” hệ giá trị trong một xã hội đang cần sự đồng thuận cao. Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, khi những biến động địa-chính trị, xung đột lợi ích, khủng hoảng giá trị và âm mưu “diễn biến hòa bình” len lỏi vào mọi ngóc ngách đời sống, thì sự nhất quán trong hệ giá trị cốt lõi càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Với Việt Nam, hệ giá trị đó chính là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Đây không phải là khuôn mẫu khép kín, mà là nền tảng linh hoạt, dẫn dắt tiến trình đổi mới tư duy và hành động một cách kiên định... Vậy nên, diễn ngôn “đồng phục tư tưởng” chính là thủ đoạn nhằm gieo rắc sự hoài nghi đối với tính chính danh và khả năng quy tụ niềm tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, làm lệch hướng phản biện, dễ dẫn tới phản kháng cực đoan hoặc thờ ơ chính trị. Khi “đánh đồng” tư tưởng và công tác tư tưởng là một dạng “đồng phục”, các thế lực thù địch đã sử dụng thủ pháp đánh tráo khái niệm nhằm tầm thường hóa tư tưởng (vốn là nền tảng nhận thức, lập trường và phương hướng hành động) như một dạng hình thức bề ngoài có thể thay đổi tùy hứng. Bởi trong lẽ thông thường, “đồng phục” thường gợi liên tưởng về sự đồng đều, thống nhất, nhưng đồng thời cũng ngầm ám chỉ sự đồng hóa, mất cá tính. Đây là cách họ dẫn dắt đến luận điểm: Nếu tư tưởng chỉ là “đồng phục” thì nên được “đổi mẫu”, “thay mới” theo mùa, theo thời gian, vì thế, nó cũng khiến người dân rơi vào tình trạng thờ ơ chính trị và cho rằng “tư tưởng nào cũng được, không cần quan tâm”.

Thực tiễn ở Việt Nam không có cái gọi là “đồng phục tư tưởng”

Về bản chất, diễn ngôn chính trị thường mang tính đa nghĩa, linh hoạt và dễ bị “diễn giải lại”. Tuy nhiên, cái nguy hại không thể hiện ở diễn ngôn, mà nằm ở cách diễn ngôn đó được dùng để đánh tráo khái niệm. Vậy nên, chúng ta cần lý trí tỉnh táo để nhận diện, cần bản lĩnh để phản biện và cần tri thức để lý giải thấu đáo, khoa học.

Trước hết, cần nói rằng, tư tưởng không phải “đồng phục”, mà là cốt lõi của bản lĩnh dân tộc. Tư tưởng là những suy nghĩ, quan điểm, niềm tin mang tính cá nhân. Nhưng khi vượt ra khỏi giới hạn cá nhân để hòa quyện với những đòi hỏi sâu xa của thời đại, với nhu cầu vận động của xã hội và lịch sử thì nó không còn là tư tưởng đơn lẻ mà trở thành hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng không phải là sản phẩm tức thời hay ngẫu nhiên. Nó được hình thành qua quá trình kết tinh lịch sử: Từ điều kiện vật chất-xã hội cụ thể, từ lợi ích và yêu cầu chính đáng của các giai cấp, từ chiều sâu văn hóa-lịch sử và đặc biệt từ vai trò sáng tạo, tổng kết, lý giải thực tiễn của con người. Vì thế, hệ tư tưởng không thể bị giản lược, không thể xếp vào thứ “trang phục” tinh thần theo kiểu “khoác lên” rồi “cởi bỏ”. Ví von tư tưởng là “đồng phục” để rồi hô hào “cởi bỏ” là một chiêu trò nhằm tầm thường hóa những gì thuộc về chiều sâu lý luận chính trị khoa học và bản lĩnh dân tộc. 

Với Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã lựa chọn. Đây không phải là “bộ cánh của quá khứ” mà là kim chỉ nam, được kiểm nghiệm qua thực tiễn và tiếp tục soi đường trong kỷ nguyên mới.

Trong dòng chảy lịch sử, thế giới từng chứng kiến nhiều mô hình chính trị khắc nghiệt, nơi tư tưởng bị đồng hóa, sáng tạo bị trấn áp và phản biện trở thành điều cấm kỵ. Nhưng tại Việt Nam, thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã cho thấy một hướng đi khác: Không gian tư tưởng không bị bóp nghẹt mà được nuôi dưỡng trong tinh thần đổi mới, khoa học và nhân văn. Đảng không chỉ kiên định với nền tảng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn chủ động cập nhật yêu cầu thời đại, mở rộng cánh cửa cho phản biện xây dựng và sáng tạo đổi mới. Phản biện không bị xem là đối lập mà được xem là nghĩa cử có trách nhiệm với sự nghiệp phát triển đất nước. Sáng tạo không bị gò bó, mà được khơi nguồn từ chính thực tiễn đời sống sôi động, từ tiếng nói của nhân dân, của trí thức, nhà khoa học, cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn 40 năm đổi mới của Việt Nam đã chứng minh rõ ràng: Đất nước không ngừng hoàn thiện, tự điều chỉnh và phát triển dựa trên một nền tảng tư tưởng vững chắc, linh hoạt, sáng tạo. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nền tảng trụ cột, định hướng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. 

Những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua không chỉ là sự tăng lên của các chỉ số, chỉ tiêu mà còn là chứng cứ sống động cho thấy tư duy lãnh đạo của Đảng không rập khuôn, không giáo điều và luôn vận động, sáng tạo để thích nghi và dẫn dắt Nhà nước và xã hội. Từ một quốc gia nghèo nàn, phụ thuộc vào viện trợ, sau 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Việt Nam đã vươn mình trở thành một trong những nền kinh tế năng động với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) duy trì ở mức ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; đời sống người dân không ngừng cải thiện, chỉ số phát triển con người (HDI) tăng liên tục. Những kết quả này là nhờ Đảng ta kịp thời nắm bắt những chuyển biến của tình hình và xử lý thích ứng, linh hoạt với sự biến động bất thường, tận dụng các cơ hội, vượt qua thách thức, lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển đất nước, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Những thành tựu mà chúng ta đạt được là những minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định, ở Việt Nam hoàn toàn không tồn tại cái gọi là “đồng phục tư tưởng” mà các thế lực thù địch rêu rao, bịa đặt./.
QV-ST!