Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2026

CHIẾN THUẬT NGHI BINH CỦA ĐỊCH - DÙNG "GIẢ ĐỎ" ĐÁNH "ĐỎ" ĐÃ THẤT BẠI!

     Bọn phản động tức tối anh Phan Trung Can ứa máu vì chính anh và đồng đội CCB Việt Nam, những người yêu nước chân chính đã "lôi cổ" "Nối buồn chiến tranh", sau đó là "Chuyện với Thanh" và ổ phản động trong Nhà xuất bản Hội Nhà văn ra trước ánh sáng, mở đường cho An ninh Điều tra Bộ Công an và Công an thành phố Hà Nội điều tra khởi tố vụ án.

Khi vụ án Nguyễn Thành Nam mở rộng điều tra, chúng dùng kế ly gián "dùng giả đỏ để đánh đỏ" - những kẻ đang nấp lùm như ổ phản động Nhà xuất bản Hội Nhà văn (chưa bị lộ) để đánh phá, bịt miệng người yêu nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm nhụt ý chí Nhân dân trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chúng thật sự tinh vi, thậm chí cài cắm những phần tử vào bộ máy chính trị (nấp lùm) tạo một chiến dịch đánh phá người yêu nước chân chính hết sức bài bản trên hệ thống truyền thông.

Rất may mắn, Việt Nam chúng ta không phải là Liên Xô của thập kỷ 80 thế kỷ trước để chúng bịt miệng, tấn công tinh thần Nhân dân đấu tranh tố giác bọn phản động.

Người Việt Nam yêu Đảng, yêu Bác Hồ, yêu hòa bình, yêu độc lập, tự chủ quốc gia đến vô cùng nên chúng ta mới giành được thắng lợi vẻ vang trong mấy ngày qua.

Dù 20 năm, hay hàng trăm năm, tôi vẫn tin sức mạnh của đồng đô la nó sẽ bóp chết Ucraina, Iraq, Lybia, Bangladesh, Nepal... nhưng ở Việt Nam chúng sẽ muôn đời thất bại!





QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: QUANH CHUYỆN NGUYỄN THÚY HẰNG BỊ BẮT!

     Ngày 15-7-2026, VTV đưa tin Nguyễn Thuý Hằng - Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn cùng hai cấp dưới đã bị bắt. Lại nhớ đến bài thơ 4 câu của tôi:

VÌ THÂN

Quyền cao chức trọng cao vời
Biết đâu có lúc đất dời dưới chân
Vì thân không phải vì dân
Địa ngục tăm tối ngàn năm đón chào!

Để nhận quả rất đắng đó lại xuất phát từ chuyện “em Hằng” nhận được sự “ưu ái” của anh Thiều. Một người viết: “Ngược trở tầm này 10 năm trước, khi những nhà văn nhà thơ lột mũ áo ra, thở phì phò tranh giành nhau cái máng báu bở: ghế Giám đốc NXB Hội Nhà văn”. Trung Trung Đỉnh sau một hồi nhùng nhằng cũng phải nhả cái ghế Giám đốc, khi, cũng theo người viết trên: “Rồi đùng cái Nguyễn Quang Thiều chạy được vào chức Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn, ngồi chễm trệ. Làm được 3 năm thì Thiều lấy được luôn chức Chủ tịch Hội Nhà văn. Y vẫn quyết giữ ghế Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Hội Nhà văn, kiêm luôn Chủ tịch Hội Nhà văn. Tới 2024 khi con đỉa no nê, nó mới nhả 1 vòi ra, nhường lại cho con kế toán”. “Con kế toán” chính là Nguyễn Thúy Hằng.

Thế mới biết những kẻ bất tài thất đức khi giành được quyền lực sẽ hại đời, hại người thật ghê gớm, kể cả khi chúng ưu ái cũng mang họa cho người ta.

Nguyên nhân chính LX tan vỡ mà hậu họa là chiến tranh đến nay vẫn chưa dứt chính là quyền lực tối cao đã rơi vào tay 2 kẻ bất tài, thất đức, từ Khơ-rut-sov đến Goocbachov. Nhân vụ “em Hằng” của anh Thiều bị bắt, chúng ta xem lại chút chân dung Nguyễn Quang Thiều.
***
Khi đọc một bài tôi viết, cố Đại tá Bác sĩ Bùi Quốc Trị bình luận: “Cám ơn nhà Tư tưởng, cây bút phê bình Văn học đã cho bản thân và độc giả hiểu thêm về Bảo Ninh cũng như khuôn mặt cùng trái tim thật của một số vị có chức sắc trong hội Nhà văn VN- họ đúng là những kẻ rất nguy hiểm. Nguy hiểm nhất là người đang chiếm được vị trí Chủ tịch Hội Nhà Văn VN là Nguyễn Quang Thiều”. 

Nguyễn Quang Thiều làm thơ từng bị Trần Mạnh Hảo chê là “lai Tây giả cầy”, nhưng chủ yếu TMH “đánh” cách viết do đố kỵ vì Thiều nổi tiếng quá, còn tôi thú thực dù đọc thơ Thiều như ăn sỏi chan nước máy nhưng tôi lại bảo vệ cách viết của Thiều. Vì khác lạ là một giá trị của sáng tác, như trong hội họa người ta tôn vinh Van Gogh, Picasso, v.v… Hơn nữa, tôi cứ nghĩ Thiều là công an, tôi cựu chiến binh thì phải bảo vệ chiến hữu trên mặt trận văn chương nghệ thuật trước một TMH hung hãn, phản Đảng, chửi cả Các Mác. Nhưng rồi dần dần nhận ra Thiều còn ghê gớm hơn Hảo. Thơ Thiều lủng củng, đọc rất ngán, mà phải đọc cả chuỗi, phải “liên văn bản”, thì tôi mới đúng là “té ngửa” khi nhận ra hết ý tứ của Thiều. Ngoài rất nhiều hình ảnh quái dị, bệnh hoạn, Thiều thể hiện quan điểm về chính trị, tư tưởng. Trong bài “Dưới trăng và một bậc cửa”, Thiều viết: “cố hương” của mình “mê mẩn và lạc đường/ Trong những cánh rừng đầy quỷ”; chỗ khác Thiều viết ở Việt Nam, chỉ những người mù mới không bị lạc đường, người dân Việt đã bị “lạc ngay trước cửa ngõ nhà mình”; trong bài “Những người đàn bà mùa đông”, Thiều viết những người phụ nữ “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của đất nước chúng ta như bị giam trong đáy “lưới”, thụ thai không sinh ra con trẻ mà chỉ đẻ ra “những quả trứng ung”; v.v…
Không chỉ sai trái, bệnh hoạn trong sáng tác thơ, Nguyễn Quang Thiều cũng thể hiện trình độ văn chương yếu kém, và quan điểm thẩm mỹ sai trái khi tâng bốc một số tác giả, tác phẩm như ca ngợi Nguyễn Huy Thiệp là “Nhà văn tìm đạo cho dân”, và ca ngợi “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh là “chạm vào mẫu số chung nhân loại”. Một người như vậy nhưng thật e ngại về cái HNV VN khi đã bầu Nguyễn Quang Thiều làm Chủ tịch với số phiếu rất cao. 

Khi đoạt được chức Chủ tịch Hội Nhà Văn VN, Nguyễn Quang Thiều đã có những hành động rất nguy hiểm khi xây dựng TỔ CHỨC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM THEO KHUYNH HƯỚNG PHẢN VĂN CHƯƠNG VÀ PHẢN CHẾ ĐỘ, đã chọn Inrasara làm Chủ tịch Hội đồng Thơ, người đã cổ súy tinh thần Hậu hiện đại, lộn ngược tất cả các giá trị từ đạo lý, thẩm mỹ cho đến nhân tính. Inrasara còn thể hiện sự khao khát trả thù qua bài thơ mang đích danh “Trả thù”, đã trở thành kẻ chống cộng thứ thiệt khi tin rằng chế độ cộng sản của người Việt sớm muộn cũng đổ: “Sáng tạo, người Việt chả làm gì ra hồn, ngược lại với tình chất “quật khởi” của họ Dân tộc này (tức Việt) được cấu trúc bằng bộ gien kì lạ! Triều đại thay đổi vùn vụt, Đinh Lý Trần Lê hay Mạc Trịnh Nguyễn Tây Sơn, hoặc Cộng Sản gì gì sớm muộn cũng đổ...”. Nguyễn Quang Thiều cũng chọn Chủ tịch và thành viên của Hội đồng Lý luận Phê bình là Nguyễn Đăng Điệp và Văn Giá, hai người từng là giám khảo cho Luận văn của Nhã Thuyên điểm 10. Việc cho Luận văn của Nhã Thuyên điểm 10 thể hiện toàn bộ quan điểm chính trị tư tưởng, tư cách đạo đức, trình độ và tài năng văn chương của Nguyễn Đăng Điệp, Nhà Văn, PGS, Viện trưởng Viện Văn học; và của Văn Giá, Nhà Văn, PGS, nguyên là Trưởng khoa Lý luận - phê bình văn học Trường Đại học Văn hóa (Bộ Văn hóa). Bởi Luận văn của Nhã Thuyên đã bị thu hồi vì Nhã Thuyên đã công khai thể hiện tư tưởng phản động, phản văn chương và phản thuần phong mỹ tục.

Ngoài ra, từ khi nắm quyền, Nguyễn Quang Thiều, theo Nhà Văn Trúc Phương, đã cướp quyền duyệt đăng của TBT Báo Văn nghệ (HNVVN) đã cho đăng sớm Truyện ngắn “Ba viên xá lợi” của Phạm Lưu Vũ, cho quân Ngụy như đội quân Nhà Phật; Thiều cũng ưu tiên kết nạp vào Hội Nhà Văn VN Nguyễn Hữu Hồng Minh, kẻ làm bài thơ “Lỗ thủng lịch sử” tục tĩu, bẩn thỉu, cho CNCS là “lỗ thủng lịch sử”; Thiều cũng ủng hộ trao giải cho tập thơ của Lau Văn Mua “Nhặt xác em chất chồng bảo tàng”, một tập thơ bệnh hoạn và đạo văn phải thu hồi; v.v… 

Và cho đến hôm nay, với sự ưu ái của mình Thiều đã đẩy Nguyễn Thúy Hằng bị bắt. Nhưng sao Thiều lại trao quyền Giám đốc NXB cho một kế toán? Phải chăng Thiều muốn làm “nhiếp chính” bởi với một cô kế toán thì chỉ như ấu chúa với một NXB. Nhưng sao biết xuất bản sách là sai Thiều không ngăn lại? Nghĩ mình vô can chăng? Nhưng NXB vẫn thuộc HNV chứ thuộc nơi nào? Chắc nghĩ tiền của Nguyễn Thành Nam đủ thuê truyền thông sơn phết che chắn được những sai trái, độc hại của cuốn sách. Nhưng Trời có mắt!!!
QV-ST!

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: CUBA CẦN GẠO, VIỆT NAM MANG SANG CẢ "HỆ ĐIỀU HÀNH" LÀM RUỘNG GIÚP BẠN TỰ CHỦ LƯƠNG THỰC CỰC KỲ ĐẲNG CẤP!

     Giữa những dòng thời sự biến động không ngừng, có một câu chuyện cực kỳ ấm lòng và đậm đà nghĩa tình đang diễn ra trên những cánh đồng Cuba xa xôi mà ít ai để ý đến. Đó không đơn thuần là việc chúng ta mang những bao gạo sang tặng, hay cử chuyên gia sang giúp đỡ xã giao. Đó là câu chuyện của một quốc gia từng thấu hiểu sâu sắc cái đói là gì, nay mang chính "bí kíp xương máu" tích lũy bao năm sang để hồi sinh năng lực tự chủ lương thực cho người anh em thân thiết.

Nghịch lý ở Cuba trước đây là ruộng đất không thiếu, khát vọng có thừa nhưng lại thiếu phân bón, máy móc và nhiên liệu, dẫn đến ruộng hoang cỏ mọc tốt hơn lúa. Trong bối cảnh ngặt nghèo ấy, thứ Việt Nam mang sang không chỉ là bao giống, mà là cả một tư duy làm ruộng kiểu mới: Ít hơn nhưng hiệu quả hơn khiến nông dân nước bạn phải ngả mũ thán phục.

Câu chuyện giờ đây đã bước sang trang mới khi các doanh nghiệp Việt bắt đầu sang Cuba cắm chốt, thuê đất gieo cả 1.000 ha để cùng nông dân tổ chức sản xuất và thương mại hóa.

Từ một nước chỉ xuất khẩu 1,41 triệu tấn gạo năm 1989, đến năm 2024 Việt Nam đã xuất khẩu kỷ lục 9,3 triệu tấn (thu về 5,4 tỷ USD). Vì từng đi lên từ nghèo khó, các kỹ sư Việt Nam cắm bản ở Cuba - vượt qua thiếu điện, thiếu nước, sốt rét và nỗi nhớ nhà - để giúp bạn bằng cả ký ức của một dân tộc từng đói.

Ngày xưa, Chủ tịch Fidel Castro từng nói câu bất hủ: "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình". Ngày nay, người Việt trả nghĩa bằng mồ hôi, bằng những thửa ruộng được san phẳng và bằng những mùa vàng bội thu./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHÚNG TA ĐÃ HỒI SINH CAMPUCHIA NHƯ THẾ ĐÓ!

     Nói về bọn diệt chủng Pôn Pốt, chúng không hề yếu, không đơn thuần chỉ là đội quân tạp nham như nhiều người vẫn nghĩ, quân chủ lực của nó đông, lại được cả Mỹ lẫn Trung Quốc tiếp sức, có Thái Lan làm điểm tựa nên rất hung hăng. Nhưng chả biết do đâu mà đám diệt chủng này lại có suy nghĩ :"Quân Việt Nam đông nhưng yếu". Thậm chí một tên thủ lĩnh Pôn Pốt còn đưa ra cái lập luận Quân Việt Nam đông, nhưng tay chân Thiệu ở miền Nam còn, bộ đội Việt đánh nhau mấy mươi năm qua nên rất mệt mỏi, không còn tinh thần chiến đấu.

Được "bảo kê" như vậy, đám Pôn Pôn bắt đầu "chơi ngu lấy số" - đó là đem quân tấn công Việt Nam.

Sau năm 1975, đó là giai đoạn Quân đội nhân dân Việt Nam rất thiện chiến, kinh nghiệm đánh trận dày dặn, quân thường trực trên 1 triệu người, ngoài số vũ khí được Liên Xô chi viện ra thì còn thu được rất nhiều vũ khí khác do Mỹ để lại. Và không hề mệt mỏi, chán nản như chúng nghĩ ... quân ta tinh thần rất cao với quyết tâm "ở đâu có giặc là ta cứ đi".

Đầu năm 1978, chúng đưa 13 sư đoàn chủ lực tấn công Việt Nam, ta chủ trương đàm phán nhưng chúng không chịu, bọn này gây nên nhiều cuộc thảm sát, lấn chúng ta vào sâu tận 15km, cuộc thảm sát Ba Chúc chúng giết hại tận 3157 người dân Việt. Sau khi Liên Hợp Quốc không hề có động thái phản hồi, Việt Nam quyết định... đánh... phải vùi đám diệt chủng này xuống địa ngục.

Ta đồng loạt phản công, riêng trong năm 1978 đã phủi được hơn 38.000 tên, bắt sống gần 6000 tên nữa. Ngày 23/12/1978, sau khi được tăng viện, với 80.000 quân, quân đội Việt Nam đã tổ chức thêm nhiều trận đánh nữa.

Không dừng lại đó, sau đề nghị cứu giúp của Hun Sen, Heng Somrin và một số lãnh đạo quân nổi dậy ở nước bạn, ta quyết định đưa quân sang tận Campuchia để chấm dứt nạn diệt chủng do chúng gây ra. Ngày 4/1/1979, quân ta vượt sông MeKong, đánh cho các toán Pôn Pốt nhanh chóng gục đổ... đến ngày 9/1/1979, bộ đội Việt Nam đã đi tuần tra tại thủ đô Phnom Pênh rồi. Thủ lĩnh Pôn Pốt đua nhau chạy trốn trên những trên những chiếc xe jeep. Từ 1979-1985, hàng loạt cuộc tấn công quy mô lớn do quân đội Việt Nam tổ chức nhằm thẳng vào các căn cứ khác (cho dù giai đoạn này nhiều đơn vị đã ra Bắc chi viện đẩy lùi Trung Quốc). Đến năm 1986, khi ta có ý định rút quân khỏi Campuchia thì đám tàn quân bắt đầu trỗi dậy, cho dù lúc này đã bị ta đánh cho dạt sang tận đất Thái Lan để núp. Nhận thấy chính quyền mới của Campuchia còn quá non trẻ, chưa vững nên từ năm 1986 -1988 ,hàng loạt căn cứ của Pôn pốt dọc biên giới với Thái Lan bị quân ta tấn công xóa sổ, có những căn cứ mạnh nhất của chúng cũng trụ chưa tới 5 ngày là đứt sạch.

Thế nên mới có chuyện Pôn pốt hễ thấy mũ cối, tiếng AK điểm xạ là biết chắc sẽ gặp bộ đội thiện chiến của Việt Nam nên chả buồn đánh đấm gì... chạy cái đã.

Từ một thế lực được hai cường quốc nâng đỡ, chỉ trong vòng chưa tới 10 năm, Pôn Pốt bị dập như con, chế độ diệt chủng bị gạch tên.

Những năm tháng đó, hi sinh,mất mát cũng lớn vô cùng... nhưng con dân đất Việt là vậy, sẵn sàng chiến đấu cho Tổ quốc và không đứng nhìn đất nước láng giềng bị thảm sát man rợ đến như vậy./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẨY MẠNH HỌC TẬP, THỰC HÀNH TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHƯƠNG PHÁP, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN MỚI!

     Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 về "Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới"!
 
Qua 10 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; ngăn ngừa có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; tạo động lực quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. 

Tuy nhiên, ở một số nơi, việc học tập và làm theo Bác còn hình thức, thiếu chiều sâu, chưa chú trọng đúng mức việc thực hành, vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh; chưa tạo được chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động; trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chưa gắn với giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của Nhân dân; biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung chậm được khắc phục. Công tác kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên có lúc, có nơi chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt; hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế; cơ chế ràng buộc trách nhiệm và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện còn thiếu cụ thể. 

Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đòi hỏi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực; gắn với chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ Nhân dân. Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cán bộ, đảng viên tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau: 

1. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy giá trị di sản Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, được kết tinh từ cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách của Người; là nguồn sức mạnh, động lực to lớn để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn phát triển mới.

Học tập, thực hành theo Bác phải gắn với trách nhiệm nêu gương, đạo đức công vụ, phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, gần dân, sát dân, vì dân; thực hiện tốt quan điểm "dân là gốc", tôn trọng, lắng nghe, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng; góp phần xây dựng Đảng thật sự "là đạo đức, là văn minh", đội ngũ cán bộ, đảng viên "vừa hồng", "vừa chuyên". Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân trong việc giữ gìn đạo đức, lối sống, thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; lấy sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc và sự hài lòng của Nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo kết quả học tập, thực hành theo Bác.

2. Học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh gắn với xây dựng văn hoá lãnh đạo, văn hoá công vụ và trách nhiệm thực thi công vụ văn hoá ứng xử của cán bộ, đảng viên; cốt lõi là vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. 

Học tập, thực hành theo Bác, trước hết là về bản lĩnh và tư duy đổi mới: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; tập trung tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển. 

Thực hành đạo đức, phương pháp và phong cách làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả, sâu sát thực tiễn, gần dân, sát dân, vì dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; kịp thời thay thế cán bộ né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám quyết, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. 

Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá trong lãnh đạo, quản lý; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; tích cực đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Gắn việc học tập, thực hành theo Bác với các phong trào thi đua yêu nước; khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

3. Phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nêu gương phải trở thành phương thức lãnh đạo quan trọng; lấy sự nêu gương để tạo uy tín, lan toả trách nhiệm, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và hệ thống chính trị. Trách nhiệm nêu gương phải được cụ thể hoá thành tiêu chí đánh giá trong công tác cán bộ, tập trung vào ba nhóm nội dung: Bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới và năng lực tổ chức thực hiện: Kiên định về chính trị, tư tưởng; chủ động nắm bắt tình hình, dự báo chính xác, quyết sách kịp thời; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đạo đức công vụ và kỷ luật thực thi: Gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống; nói đi đôi với làm; làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn, có kết quả và sản phẩm cụ thể; không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Tinh thần phục vụ Nhân dân: Gần dân, trọng dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, vì dân; liêm chính, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch; chống quan liêu, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm.

4. Đổi mới công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng hệ thống dữ liệu, học liệu số về học tập, thực hành theo Bác, bảo đảm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá, phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn, nhất là thanh thiếu niên, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và kiều bào. Tăng cường đối thoại, xử lý tình huống thực tiễn, gắn chặt với thực hiện nhiệm vụ được giao.

Tập trung nghiên cứu, làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của Di sản Hồ Chí Minh trước yêu cầu mới; nhân rộng mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; biểu dương kịp thời các điển hình tiên tiến trong học tập, thực hành theo Bác. Tăng cường kỷ luật phát ngôn, văn hoá ứng xử của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng; chủ động lan toả thông tin chính thống, tích cực; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác trực diện các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu độc. Phát huy vai trò của báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật trong tuyên truyền, quảng bá các tác phẩm, mô hình, tư liệu, hình ảnh, điển hình về học tập, thực hành theo Bác.

5. Chuyển mạnh việc kiểm tra, giám sát xây dựng kế hoạch, đăng ký sang kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hiệu quả giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc, mức độ hài lòng của Nhân dân và chuyển biến thực tế trong đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên; đồng thời, gắn với thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và trì trệ. Đẩy mạnh ứng dựng công nghệ số trong theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá và công khai kết quả thực hiện. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và Nhân dân. Xử lý nghiêm minh, kịp thời tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và cá nhân vi phạm; kiên quyết khắc phục triệt để bệnh hình thức và báo cáo không đúng thực chất trong học tập, thực hành theo Bác.

6. Tổ chức thực hiện

- Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị; xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể; đưa vào nội dung sinh hoạt chi bộ thường kỳ; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện; người đứng đầu phải công khai cam kết cá nhân và tiêu chí nêu gương cụ thể. Lấy kết quả thực hiện cam kết làm điều kiện để đánh giá, xếp loại đảng viên và quy hoạch, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ.

- Đảng uỷ Quốc hội thể chế hoá kịp thời, đồng bộ các quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của Chỉ thị vào hệ thống pháp luật; thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ, nghiêm minh, khả thi để tăng cường giám sát tối cao đối với việc tuân thủ pháp luật, đạo đức công vụ và trách nhiệm giải trình.

- Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá các quan điểm, yêu cầu của Chỉ thị trong chính sách, pháp luật và hoạt động quản lý nhà nước; rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính chồng chéo, mâu thuẫn để khơi thông điểm nghẽn thể chế; gắn thực hành đạo đức công vụ với đẩy mạnh cải cách hành chính; chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương chuẩn hoá tiêu chí đạo đức công vụ và tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức; thể chế hoá các quy định pháp luật, tạo cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, công khai, minh bạch thông tin để Nhân dân và doanh nghiệp giám sát hoạt động công vụ theo quy định.

- Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội; phát huy vai trò giám sát của Nhân dân về đạo đức, lối sống, thực thi công vụ và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền các cấp; thiết lập các cơ chế phản hồi số để tiếp nhận, xử lý thông tin trực tiếp từ Nhân dân.

- Ban Tổ chức Trung ương bổ sung tiêu chí học tập, thực hành theo Bác vào khung đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm; coi đây là tiêu chí quan trọng trong quy hoạch, điều động, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ.

- Uỷ ban Kiểm tra Trung ương bổ sung nội dung kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị vào chương trình kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng; hướng dẫn xử lý kỷ luật các hành vi vi phạm; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Kiên quyết xử lý kỷ luật các tập thể, cá nhân có biểu hiện hình thức trong học tập, thực hành theo Bác, không gắn với giải quyết các vấn đề tồn đọng hoặc không có sản phẩm cụ thể.

- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì nghiên cứu về Di sản Hồ Chí Minh, chú trọng nội dung về bản lĩnh, tư duy kiến tạo phát triển và đạo đức công vụ trong giai đoạn phát triển mới; số hoá dữ liệu Di sản Hồ Chí Minh.

- Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, vận động Nhân dân tìm hiểu, học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, theo dõi, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị. Chủ trì hướng dẫn triển khai học liệu số tương tác cao trong tuyên truyền; phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn gắn việc học tập, thực hành theo Bác với các phong trào thi đua yêu nước.

Chỉ thị này được phổ biến đến chi bộ và các đảng viên./.
QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: ĐÔI DÒNG SUY NGHĨ VỀ NHỮNG GÌ ĐANG XẢY RA SAU "CHUYỆN VỚI THANH"!

     Tôi không định viết về Chuyện với Thanh… vì nghĩ rằng việc này Cơ quan an ninh điểu tra của Công an Hà Nội, các đồng chí đó sẽ mở rộng điều tra để làm sáng tỏ ai liên quan, ai phải khởi tố bị can và sau đó sẽ chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát để đưa ra Toà xét xử một cách công minh đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. 

Thế nhưng liên tiếp gần đây đặc biệt sau bài viết của đồng chí Lưu Đình Phúc , Cục trưởng Cục báo chí - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng trên báo Tuổi trẻ ngày 12/7/2026 với tiêu đề: Sự đánh đồng giữa trách nhiệm quản lý với quan điểm cá nhân. 

Bài viết này đã gây ra cơn bão dư luận trên mạng xã hội theo hai chiều hướng ủng hộ và phê phán, mấy ngày qua tôi đã nhận nhiều cuộc gọi, nhận nhiều tin nhắn của nhiều anh em là đồng đội, là cấp trên ngày trước của tôi, của các bạn trẻ quan tâm đến các sự kiện của nước nhà, tất cả đều hỏi tôi sao một cán bộ cấp Cục lại có quan điểm xem thường quần chúng và nhân dân như vậy? Lại được một số cơ quan truyền thông không yêu gì chế độ ta và những kẻ chống Cộng sử dụng, vậy hiểu vấn đề này như thế nào? 

Tôi không thể trả lời hết cho từng người và cũng không viết để phản biện bài báo đó, vì có rất nhiều bài viết trên mạng, trên báo của các tác giả Vững Nguyễn, Thuỷ Phạm, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Trọng Nghĩa, Quang Minh… đã phân tích cái đúng cái sai của bài báo do Cục trưởng đăng trên báo Tuổi trẻ.

Ở đây tôi chỉ cung cấp một số thông tin theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, của Đảng ta và Tư tưởng Hồ Chí Minh để các bạn dựa vào đó có cái nhìn khách quan và tự đánh giá : 
- Chủ nghĩa Mác-Lê Nin: Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh” (1845) của Mác, trong đó ông đã khẳng định: “Hoạt động lịch sử là hoạt động của quần chúng”; Ăng Ghen trong tác phẩm “Lu Vich Phoi Ơ Bắc” ông cũng khẳng định “Những động lực chân chính của lịch sử phải tìm trong quần chúng nhân dân” ; Lê Nin, trong tác phẩm “Làm gì?”(1902) Người đã viết “Cách mạng là ngày hội của quần chúng” và trong “Nhà nước và cách mạng” (1917) ông đã khẳng định “Sức mạnh của cách mạng nằm ở tính sáng tạo của quần chúng” và khi nói về sự nghiệp Cách mạng tháng Mười, Lê Nin đã chỉ rõ “Hàng triệu, hàng chục triệu người sáng tạo nên lịch sử”… tất cả những quan điểm trên của các nhà kinh điển CN Mác - Lê Nin đã cho ta những luận điểm trở thành bất biến, đó là: Nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử - quần chúng là người làm nên lịch sử ; Không phải cá nhân kiệt xuất làm nên lịch sử nếu họ tách rời quần chúng nhân dân.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh: Có lẽ Bác Hồ không chí thấm nhuần chủ nghĩa Mac - Lê Nin mà Người đã vận dụng một cách đầy đủ sâu sắc nhất về xác định vai trò của quần chúng, của nhân dân, thể hiện: “Trong bầu trời không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”, “Nước lấy dân làm gốc”, “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”, “Dân là gốc; Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”, “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” (Hồ Chí Minh toàn tập). Chúng ta đang học tập và làm theo Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì càng phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Bác về nhân dân.

- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua văn kiện hai kỳ Đại hội gần đây:
Đại hội XIII: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.
Đại hội XIV: “Dân là gốc”, “Mọi chủ trương, chính sách đều phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”, Cương lĩnh của Đảng 2011 đã khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Tất cả những dẫn chứng trên đã khẳng định Đảng ta luôn xác định rõ vai trò của nhân dân, một điều mà đã là cán bộ đảng viên của Đảng phải thấu suốt và quán triệt để thực sự là công bộc, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Không chỉ trong quan điểm đường lối của Đảng, tư tưởng của Bác Hồ mà đã được cụ thể hóa trong Hiến pháp và luật pháp, Hiến pháp 2013 đã xác định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nan là Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” do vậy mọi sự coi thường quần chúng, xem quần chúng là đám đông ô hợp, là công cụ để thực hiện, là tầng lớp hạ lưu, là bần cố nông đấu tố… đều vi phạm Hiến pháp và luật pháp nước ta.

Còn với các bậc tiền nhân của dân tộc ta, các vị đã dạy “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc” (Trần Hưng Đạo); “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, lật thuyền mới biết dân như nước” (Nguyễn Trãi )… Tư tưởng xuyên suốt tạo nên bản sắc, truyền thống dân tộc ta chính là: Dân là gốc, là chủ thể quốc gia dân tộc, là sức mạnh làm nên lịch sử, mọi thắng lợi trong công cuộc dựng nước và giữ nước hơn bốn ngàn năm qua của dân tộc ta đều ở nhân dân làm nên dưới sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền.

Tôi nhắc lại những vấn đề trên để hễ đã là cán bộ đảng viên của Đảng thì phải ra sức học tập, thấm nhuần truyền thống của dân tộc, nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương, nghị quyết của Đảng, luật pháp nhà nước. Phải thực sự trọng Dân, kính Dân, phục vụ Nhân dân như lời Bác Hồ đã dạy:… phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân, còn nếu ngược lại họ chưa xứng với danh hiệu Đảng viên của Đảng. Từ đây ta liên hệ lại bài viết của đồng chí Cục trưởng Cục báo chí ta sẽ thấy rõ đúng sai!
Bài và ảnh: Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Nguyên Cục trưởng Cục TuH, TCCT/QĐND Việt Nam.
QV-ST!

VÌ AN NINH TỔ QUỐC: ĐIỀU ĐÁNG LO KHÔNG PHẢI LÀ NHÂN DÂN CÒN LÊN TIẾNG...

     Điều đáng lo không phải là Nhân dân còn tranh luận, mà là một ngày nào đó Nhân dân không còn muốn lên tiếng.

Trong chương trình nghệ thuật “Tổ quốc bình yên” kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, một khoảnh khắc giản dị mà xúc động đã chạm đến trái tim khán giả. Trên sân khấu, MC Hồng Nhung trao cho Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Xuân Hà nắm cơm lam gói trong lá rừng, một món quà gợi lại ký ức những năm tháng ông cắm bản ở Mang Yang (Gia Lai), khi chàng trai Hà Nội năm nào tình nguyện dấn thân vào vùng trọng điểm FULRO để làm nhiệm vụ an ninh.

Từ một nắm cơm lam giản dị trên sân khấu chương trình “Tổ quốc bình yên”, câu chuyện về hành trình làm công tác an ninh của Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Nguyễn Xuân Hà không chỉ gợi lại ký ức gian khổ giữa đại ngàn Tây Nguyên, mà còn mở ra một thông điệp sâu sắc về sức mạnh của lòng dân, yếu tố cốt lõi làm nên mọi thắng lợi bền vững, từ quá khứ đến hiện tại.

Khoảnh khắc ông gặp lại ông Yana, người từng theo FULRO, từng lầm đường lạc lối là minh chứng sống động cho sức mạnh ấy. Hai mái đầu bạc nắm chặt tay nhau, nghẹn ngào như những người bạn cũ. Ít ai biết rằng, để có cái bắt tay hôm nay là cả một chặng đường dài của những năm tháng “ăn củ mài, uống nước suối, ngủ trong rừng”, kiên trì sống giữa đồng bào, thực hành trọn vẹn tinh thần “Ba nhất”: kỷ luật nhất, trung thành nhất, gần dân nhất để cảm hóa, kéo những con người lầm lỡ trở về với cộng đồng.

Thực tiễn ấy khẳng định một chân lý giản dị mà sâu sắc: không có thứ vũ khí nào mạnh hơn sự chân thành; không có mệnh lệnh nào bền vững hơn sự đồng hành, sẻ chia; và cũng không có chiến thắng nào của lực lượng an ninh nếu thiếu đi niềm tin của Nhân dân. Triết lý ấy được Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hà đúc kết cô đọng: “Muốn suối ngàn chảy thành sông sâu phải tụ nước từ vạn mạch ngầm nhỏ. Công tác an ninh không có chỗ cho sự xa dân; mỗi người dân phải là một cặp mắt, một đôi tai của thế trận lòng dân”.

Bài học từ những năm tháng chống FULRO vì thế không hề cũ. Trong bối cảnh hôm nay, khi không gian mạng trở thành một “cánh rừng” rộng lớn, phức tạp và nhiều tầng lớp, giá trị của “thế trận lòng dân” càng trở nên cấp thiết. Ở đó có những tiếng nói xây dựng, nhưng cũng không thiếu những luồng thông tin sai lệch; có những người phản biện trách nhiệm, nhưng cũng có những cá nhân bị tác động bởi lợi ích vật chất, bởi sự dẫn dắt lệch lạc về văn hóa, thậm chí bị lợi dụng để phục vụ cho những mục đích không lành mạnh.

Chính trong bối cảnh ấy, một tín hiệu đáng trân trọng là ngày càng nhiều người dân yêu nước đã chủ động lên tiếng, phản biện, bảo vệ sự thật và các giá trị đúng đắn. Đây không chỉ là biểu hiện của tinh thần công dân, mà còn là sự tiếp nối của “thế trận lòng dân” trong thời đại số. Tuy nhiên, bài học cốt lõi vẫn còn nguyên giá trị: phải biết phân biệt, không đánh đồng; tách quần chúng khỏi những phần tử lợi dụng; nhận diện rõ đâu là bức xúc chính đáng, đâu là sự xuyên tạc có chủ đích.

Nếu ngày trước, giữa đại ngàn Tây Nguyên, mọi người dân từng lầm lỡ đều bị nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ, thì sẽ không bao giờ có cái bắt tay giữa Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hà và ông Yana hôm nay. Và nếu trong hiện tại, mọi tiếng nói trên không gian mạng đều bị quy chụp, hoặc ngược lại, mọi quan điểm cực đoan đều được dung túng, thì sẽ rất khó xây dựng được một môi trường đối thoại lành mạnh và một nền tảng xã hội bền vững.

Điều đáng lo không phải là Nhân dân còn tranh luận, mà là một ngày nào đó Nhân dân không còn muốn lên tiếng. Bởi khi tiếng nói bị thay thế bằng sự im lặng, phía sau đó có thể là sự thờ ơ, là mất niềm tin, là cảm giác bị đứng ngoài những vấn đề của đất nước. Một dân tộc mạnh không phải là dân tộc không có tranh luận, mà là dân tộc mà mỗi người dân còn thấy mình có trách nhiệm với vận mệnh chung.

Dĩ nhiên, yêu nước không đồng nghĩa với việc phát ngôn tùy tiện; phản biện không đồng nghĩa với quyền xúc phạm hay quy kết. Một xã hội pháp quyền đòi hỏi sự tôn trọng quy trình, chứng cứ và khuôn khổ pháp luật. Tiếng nói của Nhân dân vì thế chỉ thực sự có sức nặng khi đi cùng sự tỉnh táo, trách nhiệm và niềm tin vào các thiết chế.

Ở chiều ngược lại, điều đó cũng đặt ra yêu cầu đối với những người làm công tác lãnh đạo, quản lý và dân vận: phải biết lắng nghe, đối thoại, giải trình và phân loại đúng các nhóm đối tượng để có cách tiếp cận phù hợp. Bởi lực lượng an ninh không thể mạnh nếu đứng xa Nhân dân, cũng như báo chí cách mạng không thể vững nếu chỉ nói mà không lắng nghe.

Hình ảnh cái nắm tay giữa Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hà và ông Yana vì thế không chỉ là một cuộc hội ngộ cá nhân. Đó là biểu tượng của niềm tin được gây dựng, của sự cảm hóa bằng chân thành, của sự kết nối giữa công tác an ninh và công tác quần chúng. Và hơn hết, đó là lời nhắc nhở rằng sức mạnh của một quốc gia không đến từ sự im lặng, mà đến từ những tiếng nói còn đau đáu với đất nước, những tiếng nói được lắng nghe, định hướng và đồng hành đúng cách.

Phía sau mỗi vụ việc luôn là nhiều tầng nấc của pháp luật, của tổ chức, của công tác cán bộ và của trách nhiệm chính trị. Có những việc không thể giải quyết bằng sự sốt ruột, càng không thể chỉ bằng áp lực dư luận.

Một xã hội pháp quyền cần quy trình. Một nền hành chính nghiêm túc cần chứng cứ. Và một nền dân chủ trưởng thành cần những công dân biết giữ cảm xúc của mình trong khuôn khổ pháp luật. Vì thế, tiếng nói của Nhân dân sẽ càng có sức nặng khi đi cùng sự bình tĩnh, trách nhiệm và niềm tin vào các thiết chế.

Nhưng điều đó cũng đặt ra yêu cầu ngược lại đối với những người làm công tác lãnh đạo, quản lý và dân vận: phải biết lắng nghe, biết giải trình, biết đối thoại. Quan trọng hơn, phải phân biệt được đâu là tiếng nói cần vận động, đâu là tiếng nói cần thuyết phục, và đâu là đối tượng phải đấu tranh.

Lực lượng an ninh chưa bao giờ mạnh lên khi đứng xa Nhân dân. Báo chí cách mạng cũng chưa bao giờ mạnh lên nếu chỉ nói mà không lắng nghe. Mọi phong trào cách mạng của đất nước này đều bắt đầu từ lòng dân. Và mọi thắng lợi bền vững cũng đều quay trở về với lòng dân.

Có lẽ vì thế, hình ảnh Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hà và ông Yana nắm chặt tay nhau giữa Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục khiến nhiều người xúc động. Đó không chỉ là cái bắt tay của hai con người, mà là sự gặp gỡ giữa niềm tin và sự cảm hóa, giữa công tác an ninh và công tác quần chúng, giữa sức mạnh của pháp luật và sức mạnh của lòng người.

Bài học ấy đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Bởi suy cho cùng, điều làm nên sức mạnh của một quốc gia chưa bao giờ là sự im lặng của Nhân dân.

Sức mạnh ấy nằm ở chỗ: mỗi tiếng nói còn đau đáu với đất nước đều được lắng nghe, được định hướng, được đồng hành và được đặt đúng vị trí của nó. Một tiếng nói có thể còn vụng về, còn cảm tính, nhưng nếu xuất phát từ lòng yêu nước thì vẫn đáng quý hơn rất nhiều so với sự thờ ơ lạnh lùng. Bởi người dân còn lên tiếng là người dân còn tin.

Và đến một ngày, nếu người dân không còn muốn nói, không còn muốn góp ý, không còn tha thiết với việc nước… Thì đó mới là điều đáng lo nhất, không chỉ với người làm công tác an ninh, công tác dân vận, mà với bất kỳ ai mang trên mình trách nhiệm với quốc gia này.

Dẫu có những thời điểm xã hội dậy sóng bởi tranh luận, thậm chí có lúc bị dẫn dắt bởi những thông tin sai lệch hay động cơ không trong sáng, thì điều không thể phủ nhận là: hôm nay, vẫn còn rất nhiều người dân yêu nước không chọn im lặng. Họ lên tiếng, phản biện, bảo vệ những giá trị đúng đắn, không phải bằng cực đoan, mà bằng trách nhiệm công dân.

Chính những tiếng nói ấy đã góp phần tạo nên những chuyển động quan trọng trong đời sống xã hội. Nếu không có sự quan tâm và phản biện mạnh mẽ của dư luận, liệu những tranh luận quanh “Nỗi buồn chiến tranh” có được nhìn nhận lại một cách thấu đáo, công bằng hơn? Nếu không có áp lực từ những người dân còn trăn trở với đúng – sai, thật – giả, liệu câu chuyện “Chuyện với Thanh” có đi đến kết cục như hôm nay? Và chắc chắn, không chỉ dừng lại ở hai ví dụ đó.

Điều này cho thấy một thực tế: sức mạnh của xã hội không nằm ở sự đồng thuận tuyệt đối, mà nằm ở việc vẫn còn những con người dám lên tiếng vì điều họ tin là đúng. Một xã hội khỏe mạnh là xã hội còn phản biện, còn đối thoại, còn quan tâm đến vận mệnh chung.

Dĩ nhiên, phản biện phải đi cùng trách nhiệm; yêu nước không đồng nghĩa với tùy tiện trong phát ngôn. Nhưng khi những tiếng nói ấy xuất phát từ tinh thần xây dựng, từ mong muốn bảo vệ những giá trị cốt lõi của dân tộc, thì đó chính là “mạch ngầm” quý giá nuôi dưỡng niềm tin xã hội.

Bởi suy cho cùng, điều đáng lo không phải là những tranh luận còn tồn tại. Điều đáng lo là một ngày nào đó, người dân không còn muốn lên tiếng nữa. Khi ấy, sự im lặng sẽ không phải là bình yên, mà là khoảng trống của niềm tin.

Và cũng giống như bài học từ những năm tháng làm công tác an ninh giữa đại ngàn năm xưa: sức mạnh bền vững nhất không đến từ mệnh lệnh, mà đến từ lòng dân. Khi còn những con người dám quan tâm, dám phản biện, dám bảo vệ điều đúng đắn, thì dù phong ba, bão táp thế nào, nền tảng của quốc gia vẫn không dễ gì bị lay chuyển./.

Ảnh 1: MC Hồng Nhung trao Thiếu tướng Nguyễn Xuân Hà nắm cơm lam gói lá rừng, gợi ký ức những năm tháng ông dấn thân làm nhiệm vụ an ninh ở vùng trọng điểm FULRO.
này.
Ảnh 2: Hai mái đầu bạc nắm chặt tay nhau, nghẹn ngào như những người bạn cũ. Ít ai biết rằng, để có cái bắt tay hôm nay là cả một chặng đường dài của những năm tháng.
QV-ST!

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ LÀ NỀN TẢNG BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA VIỆT NAM. BẤT KỲ AI ÂM MƯU PHÁ HOẠI ĐỀU PHẢI BỊ XỬ LÝ!

     Mờ sáng 12/7/1946, lực lượng an ninh bất ngờ đột kích căn nhà số 7 phố Ôn Như Hầu, Hà Nội. Máy in tiền giả, hầm tra tấn cùng kế hoạch đảo chính của tổ chức phản động Quốc dân Đảng cấu kết với thực dân Pháp bị lật tẩy, bẻ gãy ngay từ trong trứng nước.

Bài học từ Ôn Như Hầu vẫn nguyên giá trị sau 80 năm: Sự ổn định chính trị không tự nhiên mà có.

Lịch sử đã bước sang trang mới, nhưng tham vọng giật sập mặt hồ phẳng lặng của nền chính trị Việt Nam thì chưa bao giờ khép lại chỉ thay đổi cách thức. 

Năm 1946, kẻ địch dùng súng đạn, hầm tối và bạo loạn thực địa để đe dọa một chính quyền non trẻ. 

Đến vụ khủng bố tại Đắk Lắk tháng 6/2023, công cụ tiến hóa thành các đòn kích động bạo lực xuyên biên giới, lợi dụng mạng xã hội và các vấn đề dân tộc, tôn giáo của các tổ chức lưu vong nước ngoài để chia rẽ lòng dân. 

Đến năm 2026, chiến trường dời hẳn lên không gian mạng với AI, Deepfake và các đòn tấn công APT. Minh chứng là hơn 600.000 cuộc tấn công dồn dập nhắm vào trên 10.000 hệ thống thông tin trọng yếu của Đảng và Nhà nước nhằm đánh cắp dữ liệu, làm rò rỉ bí mật quốc gia và thực hiện "chiến tranh nhận thức". 

Phương thức từ thô sơ đến tinh vi, nhưng bản chất vẫn vẹn nguyên: Khoét sâu chia rẽ từ bên trong để tạo bất ổn từ bên ngoài.

Chính từ thực tiễn đó, tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra định hướng vĩ mô rất rõ ràng: Chuyển mạnh từ tư thế “phản ứng sau sự việc” sang “chủ động thiết lập lá chắn tầm xa”, kiên quyết đấu tranh phòng, chống gián điệp, phản động, xử lý nghiêm các phần tử nội gián từ bên trong cũng như các đối tượng chống đối từ ngoài biên giới.

Lời răn đe từ quá khứ và mệnh lệnh của hiện tại rất rõ ràng: Ổn định là gốc rễ của thịnh vượng, là lằn ranh đỏ tối cao không có vùng thỏa hiệp. Bất cứ kẻ nào dù ẩn mình dưới danh nghĩa gì, ở trong hay ngoài biên giới nếu nuôi tham vọng giật sập nền tảng ấy, chắc chắn sẽ bị xử lý./.



QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: “MƯU SINH RA KẾ, THỂ ĐẺ RA THỜI. ĐÁNH BẰNG MƯU KẾ, THẮNG BẰNG THỜI THẾ”, - THƯỢNG TƯỚNG, GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN HOÀNG MINH THẢO (1921-2008)!

     Lời đúc kết kinh điển ấy không chỉ là phương châm cốt lõi trong suốt cuộc đời binh nghiệp của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, mà còn là kim chỉ nam cho nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại. Là một chiến tướng tài danh với tư duy thao lược sắc bén, ông luôn đam mê đánh giặc bằng mưu kế và thế trận. Qua hàng trăm trận đánh, hàng loạt chiến dịch lớn nhỏ, tài năng của ông đã tỏa sáng như một minh chứng sống động cho việc kế thừa và nâng tầm tinh hoa quân sự của cha ông: Dùng mưu lược để “chuyển yếu thành mạnh”, “lấy ít địch nhiều”, dùng ý chí và trí tuệ để khuất phục kẻ thù có ưu thế tuyệt đối về vũ khí và trang bị.

Trong một lần triệu tập Trung tướng Hoàng Minh Thảo (quân hàm của ông lúc bấy giờ) ra Hà Nội để tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đặt một câu hỏi mang tính quyết định: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”. Không một chút do dự, tướng Hoàng Minh Thảo khẳng định: “Đánh Tây Nguyên thì phải đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu nhưng lại cực kỳ hiểm yếu. Đây là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên Bắc Tây Nguyên, xuống đồng bằng ven biển, vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi”.

Nhãn quan chiến lược thiên tài này sau đó đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trân trọng ghi lại trong hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”:
“Trong buổi làm việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột... Tôi rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận.”

Trở thành “linh hồn” của Chiến dịch Tây Nguyên 1975, tướng Hoàng Minh Thảo đã hiện thực hóa hoàn hảo tư duy nghệ thuật ấy: “Ta ghìm địch ở đầu mạnh (Bắc Tây Nguyên) để phá vỡ địch ở đầu yếu (Nam Tây Nguyên)”. Đòn nghi binh tài tình và cú “điểm huyệt” sấm sét vào Buôn Ma Thuột đã làm rung chuyển toàn bộ chiến trường, mở toang cánh cửa cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đi đến thắng lợi cuối cùng.

Trong bối cảnh thế giới số và hội nhập toàn cầu hiện nay, tư tưởng nghệ thuật “Mưu - Kế - Thế - Trận” của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo vẫn vẹn nguyên giá trị thời đại, trở thành bài học sâu sắc định hình bản lĩnh và nâng tầm trí tuệ cho thế hệ trẻ. Tiếp nối tinh thần ấy, người trẻ hôm nay cần biết “bày mưu” trong học tập để chủ động chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại và làm chủ những công nghệ lõi tiên tiến nhất. Họ phải biết “lập kế” trong công tác để mỗi hành động, mỗi phần việc đều mang tính khoa học, đột phá và đạt hiệu quả tối ưu. Không dừng lại ở đó, tuổi trẻ cần chủ động “tạo thế” trong rèn luyện bằng cách không ngừng tự soi, tự sửa, bồi đắp đức tài, xây dựng một bản lĩnh chính trị kiên định cùng một thể lực bền bỉ để làm bệ phóng cho tương lai. Để rồi, khi đối mặt với những giông bão hay thử thách lớn lao của cuộc đời, họ sẵn sàng “vào trận” bằng một niềm tin sắt đá, bằng ý chí kiên cường và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của những người kế thừa vĩ đại.

Thấm nhuần tấm gương của vị tướng huyền thoại, thế hệ trẻ hôm nay quyết tâm nối dài mạch nguồn truyền thống của cha anh, rèn luyện toàn diện đức, trí, thể, lực để sẵn sàng dấn thân, cống hiến và tỏa sáng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 6 PHÚT CỦA MỘT HUYỀN THOẠI - KHI ĐỊNH KIẾN BỊ ĐÁNH BẠI BỞI TRÍ TUỆ VIỆT!

1. "Cú sốc" từ con số 6 phút

Trong y khoa, 6 phút là thời gian quá ngắn để một bác sĩ gây mê chuẩn bị dụng cụ. Nhưng với Giáo sư Tôn Thất Tùng, 6 phút là thời gian ông thực hiện một ca cắt gan - ca phẫu thuật mà trước đó, các chuyên gia hàng đầu thế giới phải mất từ 3 đến 4 giờ đồng hồ.

2. Khi "sự bất thường" trở thành lối mở cho nhân loại

Trước Tôn Thất Tùng, gan được coi là "hộp đen" cấm kỵ vì nguy cơ mất máu tử vong cực cao. Trong khi giới y khoa thời đó coi những con g.iun trong gan chỉ là "ca lạ", Tôn Thất Tùng lại nhìn thấy một lối mở.

Ông đã dành 4 năm, tự tay phẫu tích hơn 200 lá gan để vẽ lại chính xác hệ thống mạch máu bên trong. 

Ông đã làm được điều không tưởng: Biến một bộ phận bí ẩn thành một tấm bản đồ tường tận. Nhờ đó, ông tìm ra "công thức vàng" - thắt cuống mạch máu trước khi cắt. 

Thay vì mất 4 giờ loay hoay cầm máu như các chuyên gia phương Tây, ông chỉ cần 6 phút để hoàn thành ca m.ổ an toàn. Ông không chỉ phẫu thuật, ông đã thiết lập lại toàn bộ quy tắc phẫu thuật gan cho nhân loại.

3. Lời đáp trả bằng sự xuất chúng

Đó là lúc cuộc chiến bắt đầu. Trong suốt 4 năm, giữa căn phòng m.ổ nồng mùi hóa chất và sự coi thường của giới t.hực d.ân, ông đã m.ổ hơn 200 x.ác người. Ông dùng một con dao nạo thô sơ, tỉ mỉ bóc tách, vẽ lại từng đường đi của mạch máu mà chưa một tài liệu y khoa nào trên thế giới mô tả.

Bởi vì ông mang trong mình một nỗi đau của kẻ bị "xem thường". Khi bị những gã t.hực d.ân cười khẩy rằng "Anh quên là người P.háp đã chiếm thành Nam Định và Hà Nội chỉ với vài ba chục người lính thôi ư?", Tôn Thất Tùng không đáp trả bằng súng đạn. Ông đáp trả bằng sự xuất chúng. Ông muốn chứng minh rằng: Trí tuệ của người Việt không nằm dưới chân ai cả.

4. Những đêm không ngủ và sự đồng điệu giữa hai tư tưởng lớn

Có lẽ chính sự kiên cường ấy đã khiến Bác Hồ dành cho ông một sự trân trọng đặc biệt. Giữa bộn bề của cuộc kháng chiến, Bác không chỉ coi ông là một người thầy thuốc, mà còn là một người bạn. 

Trong những ngày kháng chiến, Bác từng hỏi ông về con trai đầu lòng: "Tên chú là Tùng, có bộ mộc nên tôi đặt tên con chú là Bách. Chú thấy thế nào?". Tùng và Bách - một sự gửi gắm về sự kiên định, bền bỉ của người quân tử trước mọi bão giông.

Câu chuyện Bác đặt tên con trai ông không đơn thuần là một cái tên, mà là lời khẳng định về bản lĩnh của người quân tử trước mọi bão giông thời đại. Bác nhìn thấy ở ông một tâm hồn Việt Nam không bao giờ cúi đầu trước khó khăn.

Chính sự thấu hiểu từ những người vĩ đại đã tiếp thêm sức mạnh cho giáo sư. Ông hiểu rằng: Nỗ lực của bản thân không chỉ để khẳng định cái tôi, mà là để khẳng định phẩm giá của cả một dân tộc trên bản đồ y khoa thế giới.

5. 20 năm chờ đợi để làm thế giới bàng hoàng

Khi ông công bố phương pháp của mình, thay vì nhận được sự tung hô, ông nhận được sự "vùi dập" từ Viện Hàn lâm P.hẫu t.huật P.aris. Họ gọi ông là kẻ phản khoa học. 

Ông đã im lặng. 20 năm tiếp theo, ông không tranh cãi. Ông chờ đợi.

Đến năm 1961, khi thế giới cuối cùng cũng nhận ra mình đã sai, họ bàng hoàng nhìn vị giáo sư Việt Nam bước lên đỉnh cao. Không phải vì ông may mắn, mà vì ông đã chuẩn bị cho sự thành công đó từ 20 năm trước. 

Ông từng chiêm nghiệm: "Nhà phát minh sáng chế phải là người can đảm rất mực, không hề biết nản chí là gì... Không nên có mặc cảm tự ti, nghe T.ây bảo sai là thôi, không dám làm nữa."

6. Thông điệp gửi lại cho thế hệ mai sau

Sự tử tế của một người thầy thuốc không chỉ nằm ở tấm lòng, mà còn ở sự kiêu hãnh của tri thức. 

Cuộc đời của Giáo sư không chỉ là những ca m.ổ gan, đó là một thông điệp: Đừng bao giờ để định kiến của người khác trở thành giới hạn của chính mình.

Anh em đang cảm thấy nản lòng trước những hoài nghi của thế giới, hãy nhớ về một người đàn ông Việt Nam, với con dao nạo thô sơ trong tay, đã dạy cho cả thế giới cách để trở nên vĩ đại.

Nếu anh em cũng tin rằng trí tuệ Việt Nam hoàn toàn có thể đứng ngang hàng với thế giới, hãy chia sẻ bài viết này./.
QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: ĐỔI MỚI SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN - NHỮNG DẤU HIỆU "LỆCH CHUẨN" VÀ NGHI VẤN CẦN LÀM RÕ!

     Đối chiếu Đường lối, phương châm giáo dục của Đảng đã được pháp luật hóa tại Khoản 1, Điều 3 Luật Giáo dục 2019 với quá trình đổi mới sách giáo khoa phổ thông cho thấy nhiều dấu hiệu “lệch chuẩn”. Riêng môn Tiếng Việt và Ngữ văn không chỉ bộc lộ những hạn chế về nội dung so với trước khi đổi mới mà còn có dấu hiệu chệch định hướng giáo dục xã hội chủ nghĩa. Từ đó đặt ra nghi vấn: liệu có hay không “cái bắt tay ngầm” giữa một số cá nhân thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và một số nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, với động cơ không trong sáng, dẫn đến sự “lệch chuẩn” này?

Để làm rõ những dấu hiệu “lệch chuẩn” trong quá trình đổi mới môn Tiếng Việt và Ngữ văn, cần nhìn lại Chương trình phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Hội Nhà văn Việt Nam được ký ngày 10/1/2013 về phát triển văn học trong nhà trường giai đoạn 2013–2020. Đây là văn bản triển khai nhằm thực hiện Nghị quyết số 23/NQTW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới” và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

Chương trình phối hợp xác định rõ vai trò của hai bên: Hội Nhà văn Việt Nam hiện thực hóa các định hướng thông qua hoạt động chuyên môn, sáng tác và đội ngũ nhà văn; Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm triển khai trên cơ sở khoa học giáo dục. Đáng chú ý, Bộ được giao chủ động mời Hội Nhà văn tham gia nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn; đồng thời, Hội Nhà văn có trách nhiệm giới thiệu những nhà văn có uy tín, đủ năng lực tham gia biên soạn, phản biện và góp ý chương trình, sách giáo khoa để Bộ xem xét, quyết định.

Nếu được thực hiện đúng mục tiêu, cơ chế phối hợp này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng chương trình và sách giáo khoa, đặc biệt là chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt và Ngữ văn; đồng thời bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học, giáo dục thẩm mỹ và giá trị nhân văn cho giáo viên, học sinh, sinh viên.

Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ, những tranh luận về chất lượng và định hướng của chương trình Ngữ văn mới khiến dư luận đặt câu hỏi về hiệu quả thực tế của cơ chế phối hợp này. Càng đáng chú ý hơn khi tháng 7/2025, Hội Nhà văn Việt Nam tiếp tục đề xuất triển khai định hướng giáo dục giá trị sống, lý tưởng sống và văn hóa, nghệ thuật trong các trường phổ thông.

Thực tế cho thấy, quá trình triển khai Chương trình phối hợp và các định hướng nêu trên chưa đạt được mục tiêu như kỳ vọng. Theo lý thuyết, sự phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Hội Nhà văn Việt Nam, nếu được thực hiện đúng tinh thần và mục tiêu đã đề ra, phải tạo ra bước chuyển biến rõ nét trong đổi mới nội dung môn Tiếng Việt và Ngữ văn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Tuy nhiên, kết quả đạt được không chỉ bộc lộ nhiều hạn chế mà còn xuất hiện những biểu hiện bị cho là “lệch chuẩn”, làm dấy lên nhiều tranh luận trong dư luận và giới chuyên môn.

Từ thực tế đó, câu hỏi đặt ra là: nguyên nhân của những hạn chế và dấu hiệu “lệch chuẩn” này xuất phát từ đâu? Xét ở góc độ chuyên môn, khó có thể quy nguyên nhân cho năng lực của đội ngũ tham gia xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa. Phần lớn đều là các nhà văn có uy tín, các chuyên gia giáo dục có học vị tiến sĩ, chức danh từ phó giáo sư trở lên, được Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Nhà văn Việt Nam lựa chọn tham gia những khâu quan trọng của quá trình đổi mới. Chính vì vậy, khoảng cách giữa chất lượng đội ngũ và kết quả thực tế càng đặt ra nhiều dấu hỏi cần được lý giải.

Từ đó xuất hiện một nghi vấn cần được làm rõ: liệu có hay không việc một số cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã lợi dụng cơ chế phối hợp, lạm dụng quyền hạn hoặc hành động không đúng với mục tiêu của Chương trình phối hợp và các định hướng đã được phê duyệt, dẫn đến việc làm sai lệch mục tiêu, phương châm giáo dục xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa môn Tiếng Việt và Ngữ văn?

Đây là giả thiết cần được kiểm chứng bằng chứng cứ khách quan, thay vì chỉ dừng ở suy đoán. Để xem xét nghi vấn này, trước hết có thể tiếp cận từ hai căn cứ sau đây:
Thứ nhất, cần xem xét giả thiết về mối liên hệ giữa quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa môn Tiếng Việt và Ngữ văn với một số cá nhân từng có quan điểm chính trị khác với đường lối của Đảng và Nhà nước. Trong đó, dư luận từng nhắc đến “nhóm 72”, nhóm gồm một số trí thức, nhà văn và nhân sĩ đã ký kiến nghị trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 2013, đề xuất thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” và bãi bỏ Điều 4 Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ thực tế đó, một giả thiết được đặt ra là: sau khi các kiến nghị theo phương thức trực tiếp không đạt kết quả, liệu có hay không việc một số cá nhân chuyển sang tác động gián tiếp thông qua lĩnh vực văn hóa, văn học và giáo dục nhằm từng bước truyền tải hoặc hiện thực hóa những quan điểm của mình? Nếu giả thiết này có cơ sở, thì cần làm rõ liệu quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa môn Tiếng Việt và Ngữ văn có bị một số cá nhân lợi dụng để tác động làm sai lệch mục tiêu, định hướng giáo dục đã được Đảng và Nhà nước xác định hay không.

Nghi vấn này càng cần được làm rõ khi trong đội ngũ tham gia xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông mới và biên soạn sách giáo khoa có những cá nhân từng được cho là có liên hệ hoặc có quan điểm gần với “nhóm 72”, trong đó có người giữ cương vị Tổng Chủ biên Chương trình giáo dục phổ thông và Tổng Chủ biên sách giáo khoa môn Tiếng Việt, Ngữ văn. Tuy nhiên, việc đánh giá mối liên hệ giữa yếu tố nhân sự và chất lượng, định hướng của chương trình chỉ có thể được kết luận trên cơ sở các chứng cứ khách quan, toàn diện và có thể kiểm chứng.

Thứ hai, nếu giả thiết về “cái bắt tay ngầm” là có cơ sở, thì quá trình làm “lệch chuẩn” môn Tiếng Việt và Ngữ văn đã được triển khai ngay sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực. Theo cách nhìn này, Chương trình phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Hội Nhà văn Việt Nam giai đoạn 2013–2020 đã bị một số cá nhân lợi dụng để chuẩn bị cho việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa từ năm 2018 theo hướng chệch khỏi mục tiêu giáo dục đã được xác định. Sự tác động, nếu có, được cho là diễn ra trên cả hai phương diện: thiết kế chương trình và biên soạn nội dung.

Về thiết kế chương trình, họ đã tác động giảm thiểu thời lượng, nhiều nội dung có vai trò bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách theo định hướng giáo dục xã hội chủ nghĩa đã bị thu hẹp đáng kể. Biểu hiện là dòng văn học cách mạng không còn giữ vị trí chủ lưu; nhiều tác phẩm về truyền thống yêu nước, lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc bị cắt giảm hoặc loại bỏ; số lượng tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà cách mạng tiền bối viết về lịch sử, đạo đức, lối sống cũng giảm rõ rệt. Ngược lại, chương trình bổ sung nhiều tác phẩm trong và ngoài nước được cho là ít hoặc không nhấn mạnh giá trị giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần cộng đồng, trong khi đề cao khuynh hướng phát triển chủ nghĩa cá nhân.

Về biên soạn nội dung, với danh nghĩa “cách nhìn đa chiều”, phát triển tư duy “khai phóng, sáng tạo”, họ từng bước đưa vào môn Tiếng Việt và Ngữ văn những tác phẩm, nội dung mang khuynh hướng phi giai cấp, phi dân tộc, đề cao chủ nghĩa cá nhân, coi nhẹ các giá trị tập thể và bản sắc dân tộc. Đáng lo ngại hơn, núp bóng xu hướng “đa chiều” và “giải thiêng” trong văn học, nghệ thuật, họ lồng ghép những nội dung đa nghĩa, gây tranh cãi, thậm chí có biểu hiện xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, hạ thấp hình tượng anh hùng dân tộc, lãnh tụ cách mạng và “Bộ đội Cụ Hồ”.

Một ví dụ điển hình là việc đưa trích đoạn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (đã lược bỏ một số tình tiết nhạy cảm) vào sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 (tập 1), đồng thời giới thiệu tác giả, tác phẩm trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 thuộc bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 12/2025, đây là bộ sách được sử dụng thống nhất trên phạm vi cả nước. Theo quan điểm của tác giả, việc lựa chọn tác phẩm này không chỉ làm lệch chuẩn nhận thức về các giá trị đạo đức, thẩm mỹ và truyền thống yêu nước, mà còn có nguy cơ làm phai nhạt nhận thức về tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, từ đó tác động tiêu cực đến lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của học sinh. Bởi lẽ, tác phẩm có thể hình thành quan niệm rằng mọi cuộc chiến tranh đều vô nghĩa, phi nghĩa và cần tránh xa, dẫn đến cách nhìn phiến diện về lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, làm mờ nhạt những hy sinh, cống hiến to lớn của các thế hệ cha ông trong sự nghiệp giành và giữ độc lập, tự do của Tổ quốc.

Trong khi đó, lịch sử và thực tiễn đã khẳng định chiến tranh là một hiện tượng xã hội khách quan; xét theo luật pháp và công lý quốc tế, có chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa. Đối với Việt Nam, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đều là những cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Vì vậy, cùng với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, giáo dục lòng yêu nước, ý thức quốc phòng và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc luôn phải được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của nền giáo dục. Từ góc nhìn đó, vấn đề đặt ra là: nếu thế hệ trẻ tiếp nhận quan niệm phủ nhận tính chính nghĩa của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thì liệu điều đó có ảnh hưởng đến bản lĩnh chính trị, ý chí và trách nhiệm của họ trong sự nghiệp bảo vệ đất nước khi Tổ quốc đứng trước nguy cơ bị xâm lược hay không?

Gần đây, theo tác giả, tiếp tục xuất hiện trường hợp cuốn “Chuyện với Thanh - lời kể mới về ánh sáng” của Nguyễn Thành Nam với những nội dung bị cho là tầm thường hóa, xuyên tạc, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên tạc lịch sử và thành quả cách mạng Việt Nam. Điều đáng lo ngại hơn là những quan điểm này được cho là đã được truyền bá tới sinh viên thông qua hoạt động giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo đại học.

Tiếp đó, nội dung và đáp án đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn năm 2026, theo tác giả, cũng thể hiện tinh thần “giáo dục khai phóng”, bị cho là xa lạ với đường lối, phương châm giáo dục xã hội chủ nghĩa. Bởi, theo lập luận của tác giả, “giáo dục khai phóng” chỉ là một tư tưởng, một triết lý giáo dục mang tính phi chính trị, phi giai cấp và phi dân tộc.

Từ những phân tích trên, có cơ sở để đặt ra câu hỏi: liệu những nội dung được gọi là “đổi mới” trong chương trình và sách giáo khoa môn Tiếng Việt, Ngữ văn thời gian qua có đơn thuần là vấn đề chuyên môn, hay là biểu hiện của sự tác động có chủ đích nhằm từng bước làm chệch hướng mục tiêu, phương châm giáo dục xã hội chủ nghĩa? Nếu giả thiết về một “cái bắt tay ngầm” là có cơ sở, thì đây không chỉ là vấn đề của riêng môn Ngữ văn, mà còn liên quan trực tiếp đến việc giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng giáo dục quốc gia và sự hình thành nhân cách, lý tưởng của các thế hệ tương lai.

Bài viết không nhằm đưa ra kết luận cuối cùng, mà chỉ tiếp cận vấn đề từ góc nhìn phân tích, trên cơ sở đối chiếu giữa chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của pháp luật với thực tiễn đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Những nhận định và nghi vấn nêu ra là quan điểm cá nhân của tác giả, xuất phát từ trách nhiệm công dân đối với sự nghiệp giáo dục, đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và tương lai của đất nước.

Đúng hay không có “cái bắt tay ngầm”, có hay không sự lợi dụng quá trình đổi mới giáo dục để làm sai lệch mục tiêu, phương châm giáo dục đã được Đảng và Nhà nước xác định, cần được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiểm tra, đánh giá trên cơ sở chứng cứ khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Chỉ khi những vấn đề này được làm sáng tỏ, quá trình đổi mới giáo dục mới thực sự trở về đúng mục tiêu là đào tạo những thế hệ công dân vừa có tri thức, vừa có bản lĩnh chính trị, đạo đức, nhân cách và tinh thần trách nhiệm đối với Tổ quốc./.
Ảnh: Đại tá, PGS, TS. triết học Hà Nguyên Cát/Học viện Quốc phòng (đã nghỉ hưu), hội viên Hội Nhà văn Hà Nội).
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÀI HỌC ĐẮT GIÁ TỪ BÊ BỐI SGK BÊN TRUNG QUỐC VÀ HIỂM HỌA “XÂM LĂNG VĂN HÓA” Ở VIỆT NAM!

     Nói các bạn nghe, Mỹ và các nước phương Tây luôn không bao giờ từ bỏ mưu đồ phá hoại nền văn hóa - giáo dục của các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là khối các nước XHCN. Hàng năm, Mỹ vẫn dành hàng tỷ USD, thông qua các quỹ NGOs để truyền bá văn hóa độc hại cũng như mua chuộc những người làm công tác Văn hóa - Giáo dục ở các nước XHCN để cài cắm những mầm độc.

Tháng 5/2022, dư luận Trung Quốc và toàn châu Á chấn động trước vụ bê bối của Nhà xuất bản Giáo dục Nhân dân (PEP). Hàng loạt hình ảnh minh họa trong sách giáo khoa Toán tiểu học bị phát hiện cài cắm các yếu tố độc hại, đồi trụy và sùng bái nước ngoài - cụ thể là Mỹ. 

Đây không đơn thuần là sự yếu kém về mặt thẩm mỹ, mà là một tiếng chuông cảnh tỉnh đanh thép về sự nguy hiểm của thứ nọc độc vô hình đang ngày đêm gặm nhấm tâm hồn của thế hệ tương lai.

Hãy nhìn thẳng vào những gì họ đã phơi bày trước mắt trẻ thơ. Những đứa trẻ Trung Quốc nhưng lại mặc trang phục in họa tiết lá cờ Mỹ. Những hành vi mang tính chất quấy rối tình dục, túm váy, hớ hênh lộ bộ phận nhạy cảm được vẽ lại một cách thản nhiên dưới danh nghĩa "tranh minh họa giáo dục" theo kiểu tự do. Sách giáo khoa, thứ được coi là chiếc nôi định hình nhân cách, là bộ lọc văn hóa thiêng liêng nhất của một quốc gia lại trở thành nơi dung dưỡng cho những tư tưởng lệch lạc. 

Dù kết luận chính thức từ Bộ Giáo dục Trung Quốc quy trách nhiệm cho sự quản lý lỏng lẻo và sự suy thoái đạo đức của nhóm họa sĩ Ngô Dũng, nhưng phản ứng phẫn nộ của dư luận cho thấy một nỗi sợ hãi có thật: Sự xâm lăng văn hóa đã len lỏi vào tận thành trì kiên cố nhất của giáo dục quốc gia. Và dĩ nhiên, đứng sau Ngô Dũng kia là thế lực nào thì các bạn hẳn cũng đoán ra được ngay.

Sự nguy hiểm của xâm lăng văn hóa nằm ở chỗ nó tấn công một cách âm thầm và tự nguyện. Theo lý thuyết về "Quyền lực mềm" (Soft Power) của giáo sư Joseph Nye, Đại học Harvard thì một quốc gia có thể đạt được mục đích chính trị thông qua sức hút văn hóa thay vì ép buộc bằng quân sự. 

Mỹ là quốc gia vận dụng chiến lược này triệt để nhất thế giới. Theo số liệu từ Box Office Mojo, phim điện ảnh Hollywood thường chiếm từ 70% đến 80% thị phần toàn cầu. Từ những bộ phim bom tấn, lối sống phương Tây, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và các biểu tượng văn hóa Mỹ được thẩm thấu vào đầu óc giới trẻ một cách tự nhiên. Khi một đứa trẻ thuộc lòng tên của các siêu anh hùng phương Tây nhưng mơ hồ về các anh hùng dân tộc, khi giới trẻ hào hứng với các ngày lễ ngoại quốc hơn là các giá trị truyền thống, đó là lúc biên giới văn hóa đã bị chọc thủng.

Đáng báo động hơn, làn sóng "xâm lăng văn hóa" này không dừng lại ở những trang sách ngoại quốc mà đang trực tiếp tràn vào đời sống của thế hệ trẻ Việt Nam. Sự tiếp thu thiếu chọn lọc, sùng bái lối sống "tự do dân chủ kiểu Mỹ" một cách mù quáng đang đẩy một bộ phận thanh thiếu niên vào những giá trị sống lệch lạc. 

Nhân danh sự "tự do cá nhân" và "Tây hóa", các trào lưu độc hại như tình một đêm (ONS), bạn tình (FWB), hay những hành vi quan hệ tình dục tự do, bầy đàn thác loạn đang len lỏi và lan truyền mạnh mẽ trên các nền tảng mạng xã hội.

Sự nguy hiểm cận kề này đang trực tiếp phá vỡ những chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc, cụ thể như.

- Xói mòn giá trị gia đình: Coi rẻ lòng thủy chung, biến các mối quan hệ tình cảm thiêng liêng thành sự đổi chác thể xác thuần túy.

- Hủy hoại lối sống lành mạnh: Tạo ra một lối sống ích kỷ, buông thả, chạy theo khoái lạc nhất thời và vô trách nhiệm với tương lai của chính mình lẫn xã hội.

- Hệ lụy về sức khỏe và xã hội: Sự gia tăng của các căn bệnh lây truyền qua đường tình dục, mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên và sự suy đồi về nhận thức của một bộ phận người trẻ.

- Dành sự quan tâm của bản thân vào những thứ hết sức tào lao (chó mèo quyền, LGBT quyền, Woke, Nữ quyền thượng đẳng ...) nhưng lại thiếu đi sự thương yêu thấu cảm với cha mẹ, bạn bè và nhân loại. 

Hậu quả của cuộc xâm lăng này là sự đồng nhất hóa văn hóa và làm rỗng bản sắc dân tộc. Một quốc gia có thể mất đi chủ quyền lãnh thổ nhưng vẫn có thể giành lại nếu lòng dân còn hướng về nguồn cội. Nhưng một dân tộc đã mất đi bản sắc, tự nguyện quỳ gối trước các giá trị ngoại lai và tự tay đập vỡ nền tảng đạo đức của cha ông, thì dân tộc đó đã "chết lâm sàng" về mặt tinh thần. 

Vụ bê bối tại Trung Quốc đã khiến 27 quan chức ngành giáo dục bị xử lý kỷ luật và sa thải, có người thậm chí còn bị phạt tù nặng ... thế nhưng vết thương lòng và sự lệch lạc nhận thức của hàng triệu đứa trẻ đã tiếp xúc với bộ sách đó suốt mấy năm là điều không thể cứu vãn trong một sớm một chiều.

Từ bài học xương máu của nước bạn và những diễn biến phức tạp trong đời sống giới trẻ hiện nay, Việt Nam cần phải có một cái nhìn nghiêm túc và nghiêm khắc về An ninh văn hóa. Bảo vệ biên giới đất nước không chỉ là bảo vệ cột mốc chủ quyền ở biên thùy, mà là bảo vệ từng trang sách, từng bộ phim, bảo vệ lối sống lành mạnh, chuẩn mực đạo đức của thế hệ trẻ trước những trào lưu ngoại lai độc hại. Chúng ta hòa nhập nhưng quyết không hòa tan. Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại phải đi đôi với việc gạn đục khơi trong, bài trừ những tư tưởng lệch lạc, biến tướng.

Cuộc chiến văn hóa là cuộc chiến trường kỳ và không có chỗ cho sự lơ là, thỏa hiệp. Sách giáo khoa hay bất kỳ sản phẩm văn hóa nào dành cho thế hệ trẻ phải là một dòng sữa mát lành, nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc và nhân cách cao đẹp. Xin hãy nhớ rằng: Để mất bờ cõi là một tai họa, nhưng để mất văn hóa là mất tất cả.

Ps: Nên thu hồi và hủy bỏ tất cả các Bộ SGK do nhóm phản động Trí Thức 72 biên soạn. Cần làm rõ xem ai là người chịu trách nhiệm và đỡ đầu do đám "ma cô tri thức" này làm mưa làm gió ở Việt Nam./.
Ảnh giáo dục Trung Quốc bị cài cắm (cờ Mĩ và lộ bộ phận nhạy cảm).
QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ANH CỤC TRƯỞNG CỤC BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN LÊN V.Ề ĐI! VÌ ANH LÊN MẠNG XÚC PHẠM NHÂN DÂN, GỌI NHÂN DÂN LÀ ĐẤU TỐ!

     Sướng nhất anh được Bọn Việt Tân ca ngợi khi anh đấu tranh vì tự do ngôn luận? Có phải anh có kết nối với họ không anh?

Nói thật nhé, người như anh, làm đến cục trưởng mà còn không hiểu tự do ngôn luận là gì và các hình thức chiến tranh tâm lý, tư tưởng như thế nào, tôi nghĩ anh không xứng đáng là cục trưởng cục báo trí tuyên truyền

Đáng lẽ ra anh phải là người đứng lên đấu tranh mạnh mẽ để bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ truyền thống văn hóa , lịch sử đất nước , xây dựng lòng tự hào dân tộc, tư duy, nhân cách con người thời đại mới với niềm tự hào truyền thống ngàn năm văn hiến, lịch sử đánh giặc , giải phóng đất nước giải phóng con người vvv 

Anh không thấy cái sai khi anh để các tờ báo , nhà báo trong phạm vi anh quản lý làm sai tiếp tay với giặc, bên cạnh đó cá nhân anh lại là lý do để bọn giặc nó lợi dụng tuyên truyền … anh không hiểu thế nào là “đấu tố “ hay sao ? Đấu tố là đấu tranh và tố giác tội phạm phản quốc đó anh ạ ? Lẽ ra anh phải thanh tra kiểm tra, chấn chỉnh loại bỏ những mầm mống sấu độc không để bị lợi dụng và tha hóa biến chất, đằng này anh bao biện cái gì trong cái sai của lĩnh vực mình đảm nhiệm, trong cái sai của những con người trong hệ thống mình quản lý!

Thôi về đi anh!
QV-ST!