Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình hiện nay

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề nguyên tắc, là một trong những quan điểm cơ bản, trọng yếu, xuyên suốt và bao trùm trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng, liên quan trực tiếp đến hệ tư tưởng của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Vai trò, tầm quan trọng của tư tưởng, lý luận đã được Hồ Chí Minh và Đảng ta khẳng định từ đầu trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ngay từ khi Đảng còn chưa ra đời, năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh, “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, “Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt” và chủ nghĩa chân chính, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin”. Không giữ vững chủ nghĩa thì không thể có phương hướng chính trị đúng, không thể vạch rõ đường lối và phương pháp cách mạng, chiến lược và sách lược cách mạng để tập hợp lực lượng, gây dựng phong trào, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đấu tranh thực hiện lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề hệ trọng đầu tiên để giữ vững bản chất của một Đảng cách mạng chân chính, liên quan trực tiếp, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Cách đây hơn 35 năm, khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới tại Đại hội VI (1986), Đảng ta đã xác định: Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là đổi mới có nguyên tắc, là kiên định con đường đã lựa chọn - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng ta nêu rõ, nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải ra sức bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh kiên quyết, phản bác sự xuyên tạc, truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực chống đối và phản động ở trong và ngoài nước nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta. Phải kiên trì lý tưởng và mục tiêu, kiên định con đường đã lựa chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo và địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản, bất luận trong hoàn cảnh và tình huống nào.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là hai mặt không tách rời của cùng một vấn đề mục tiêu: giữ vững niềm tin khoa học, tiếp tục đổi mới sáng tạo, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân. Muốn thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc, cường thịnh, trường tồn thì phải ra sức tăng cường tiềm lực tư tưởng, trí tuệ của Đảng, sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và trong dân, nêu cao quyết tâm, tín tâm và đồng tâm từ trong Đảng đến ngoài xã hội, “cách mạng phải có sức mạnh tự bảo vệ” (V.I.Lênin), “cách mạng lấy sức mạnh từ trong nhân dân” (Hồ Chí Minh). Bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng thì tự nó đã có đủ sức mạnh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để giữ vững niềm tin, củng cố đức tin, thúc đẩy hành động sáng tạo vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đấu tranh có hiệu quả để vạch trần và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là thái độ và hành động tích cực, chủ động để khẳng định giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo phương châm của Hồ Chí Minh, xây đi liền với chống. Tác phẩm lý luận quan trọng của Bác vào lúc cuối đời “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” có ý nghĩa sâu xa là vì vậy. Muốn bảo vệ thì phải trung thành, muốn trung thành thì phải vận dụng đúng và phát triển sáng tạo học thuyết, chủ nghĩa mà chúng ta theo đuổi. Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực tư tưởng đòi hỏi Đảng, mọi cán bộ đảng viên, chiến sĩ và nhân dân không chỉ nâng cao nhận thức khoa học, trau dồi lập trường quan điểm chính trị và bản lĩnh chính trị vững vàng “không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” như Đảng ta đã nhấn mạnh mà còn rất cần đến phẩm chất đạo đức trong sáng của mỗi người.

Từ nhận thức phải dẫn đến hành động, từ giác ngộ lý luận phải dẫn đến thực hành lý luận, lý luận gắn liền với thực tiễn. Cùng với sức mạnh của khoa học, chính kết quả của hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, biến khát vọng thành hiện thực, làm cho nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, một nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ này, làm cho Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cả nước đồng lòng, nhân dân tin tưởng, gắn bó mật thiết với Đảng, với chế độ và Quân đội ta “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” như Bác Hồ chỉ dẫn… thì đó là sức mạnh tổng hợp để mọi quan điểm sai trái, thù địch không còn có thể nhiễm độc trong đời sống tinh thần của con người và xã hội. Cho nên, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Sự nghiệp của Đảng, của dân càng thu được những thành tựu to lớn, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phồn vinh, nhân dân hạnh phúc, uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng cao thì đó sẽ là minh chứng thực tiễn có sức thuyết phục lớn nhất, bền vững nhất về bản chất khoa học - cách mạng - nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

2. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như thế nào?

- Trước hết, cần có sự hiểu biết khoa học, thấu đáo về lý luận và lịch sử chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Muốn vậy phải nghiên cứu công phu, có hệ thống, trên quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển, kết hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành để nắm được bản chất, đặc điểm và các giá trị bền vững trong di sản kinh điển mácxít.

Riêng với tư tưởng và di sản Hồ Chí Minh cũng phải nghiên cứu các văn phẩm lý luận và hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú của Người trong hơn sáu thập kỷ hoạt động với tư cách một nhà tư tưởng mácxít sáng tạo ở tầm vóc một nhà kinh điển của cách mạng Việt Nam

Cống hiến vô giá của Hồ Chí Minh đối với lịch sử là ở chỗ, Người không chỉ vận dụng sáng tạo mà còn phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam. Những phát hiện mang tầm vóc thời đại của Hồ Chí Minh chẳng những làm sáng tỏ quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là quy luật ra đời và phát triển của Đảng ta, lý luận và phương pháp xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam; lý luận về chiến tranh nhân dân, đặt nền móng cho khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh; lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Việt Nam; lý luận (ở tầm học thuyết) về giải phóng và phát triển Việt Nam mà hạt nhân là lý luận về sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh còn đề ra lý luận về đạo đức cách mạng và thực hành đạo đức cách mạng trong Đảng, trong dân như một mẫu mực.

Người còn dày công xây dựng đường lối chính trị, tìm ra bí quyết của mọi thành công của cách mạng. Người có tầm nhìn chiến lược về con người và văn hóa, về đổi mới và hội nhập để hiện đại hóa đất nước, để thực hiện hoài bão và khát vọng phát triển. Bằng những đóng góp đó, Hồ Chí Minh với thiên tài tư tưởng và tổ chức, chẳng những đã tìm đường, chọn đường, nhận đường, trở thành người dẫn đường của cách mạng Việt Nam mà còn làm phong phú, sâu sắc, mới mẻ và hiện đại chủ nghĩa Mác - Lênin từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới. Người xứng đáng được thừa nhận là một tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhiều luận điểm của Người mang tầm kinh điển với phong cách và bản lĩnh đặc sắc riêng có của Người. Không hàn lâm bác học, giản dị mà sâu sắc, “chạm” vào chân lý, trở thành chân lý, quy luật của muôn đời. Không giáo điều, không biệt phái, tư duy khoáng đạt, cởi mở, kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại thông qua tiếp biến để phát triển, trung thành một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để làm giàu sức sống chủ nghĩa đó trong thời đại mới, trong thế giới hiện đại ngày nay. Đó là đặc điểm tạo nên chân giá trị và tầm ảnh hưởng của tư tưởng, của di sản Hồ Chí Minh ở trong nước và trên thế giới. Làm rõ những vấn đề cốt lõi lý luận đó, chứng minh được giá trị, sức sống và ý nghĩa từ những cống hiến đó của Người trong thực tiễn cách mạng thế kỷ XX, hiện nay cũng như sau này. Đó là hướng đích của chúng ta trong việc bảo vệ sự sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, triển vọng và sức sống của chủ nghĩa xã hội, là cách bảo vệ tốt nhất nền tảng tư tưởng của Đảng, là thái độ và phương pháp đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình hiện nay.

Điều đó có nghĩa là, thấm nhuần, tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, nắm vững thế giới quan cách mạng và khoa học, phép biện chứng duy vật, tuân theo chỉ dẫn của V.I.Lênin “phân tích cụ thể, một tình hình cụ thể, đó là bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác”. Muốn bảo vệ giá trị, sức sống của chủ nghĩa Mác thì những người mácxit phải không ngừng bổ sung, phát triển lý luận đó nếu không muốn trở thành lạc hậu so với sự phát triển, biến đổi không ngừng của thực tiễn. Sức sống của chủ nghĩa Mác phải được chứng minh bằng thực tiễn cách mạng, sáng tạo trong nhận thức và cải tạo thế giới đúng quy luật, phải vượt lên chủ nghĩa kinh nghiệm thực dụng, phải khắc phục triệt để bệnh giáo điều, sao chép máy móc hoặc chủ quan duy ý chí, làm cho chủ nghĩa Mác bị sơ cứng, không phát triển, trở nên lạc hậu, ngưng đọng, xa lạ với bản chất của nó. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là bản chất, là nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta cho rằng, “chân lý là cụ thể nên cách mạng phải sáng tạo”. Độc lập sáng tạo trong tiếp thu, vận dụng lý luận, phương pháp Mác - Lênin thì cách mạng sẽ phát triển thuận lợi và thành công, ngược lại giáo điều, máy móc thì cách mạng sẽ thất bại.

- Cho nên, để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thì phải nghiên cứu, nắm vững, làm chủ lý luận tiên phong, chống bệnh chủ quan, máy móc, chống giáo điều, chống hẹp hòi, biệt phái, chống chủ nghĩa kinh nghiệm, đổi mới tư duy lý luận, nắm vững thực chất, tinh thần và phương pháp Mác - Lênin như Hồ Chí Minh nói để độc lập tìm ra những vấn đề của chính mình và giải quyết nó trong thực tiễn bằng quan điểm và giải pháp khoa học.

- Có nắm vững những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin mới có cơ sở khoa học để bảo vệ và phát triển nó, để nhận diện đúng những sự xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch từ động cơ, mục đích đến các thủ đoạn tinh vi, thâm độc, cả những thủ thuật tầm thường, lừa bịp, mỵ dân, kích động mà kẻ thù của cách mạng thường tạo dựng, khai thác để hạ thấp chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm lung lay, suy giảm niềm tin của chúng ta đối với ý thức hệ của Đảng ta và của mỗi chúng ta.

- Phải bảo vệ cái đúng, cái chân lý, cái bản chất của chủ nghĩa, học thuyết mà chúng ta tin theo. Phải phê phán, bác bỏ cái sai, cái xấu độc hại mà kẻ thù gieo rắc, tấn công vào niềm tin của chúng ta, lung lạc tư tưởng, làm suy yếu tinh thần và làm lệch lạc phương hướng của cách mạng. Kẻ thù cũng thường nhân danh cái khách quan - khoa học, nhân danh cách mạng và đổi mới để làm lẫn lộn thật - giả, chính - tà, bản chất - hiện tượng, đối lập giả tạo và khiên cưỡng giữa C.Mác -Ph.Ăngghen với V.I.Lênin, đối lập V.I.Lênin với Hồ Chí Minh, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, đồng nhất sự sụp đổ mô hình, thể chế lạc hậu đã bị thực tiễn vượt qua ở Liên Xô, Đông Âu với chủ nghĩa xã hội, coi chủ nghĩa Mác - Lênin đã hết vai trò lịch sử và chủ nghĩa xã hội đã cáo chung, tuyên truyền về địa vị và sức mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại, rằng chỉ có chủ nghĩa tư bản mới là sự lựa chọn đúng và có triển vọng. Chúng bác bỏ vô cớ sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đạo đức, lối sống, đời tư của Hồ Chí Minh, gây hoang mang, chia rẽ trong các tầng lớp nhân dân, mưu toan đầu độc tinh thần của lớp trẻ để cuối cùng lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, thay đổi chế độ ở Việt Nam. Những sự xuyên tạc, sai trái, thù địch đó trên thực tế đã lừa bịp, lôi kéo được một số người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết hoặc có động cơ không trong sáng, hoặc thiếu bản lĩnh mà ngả nghiêng dao động, từ bỏ lý tưởng, niềm tin, trở nên chống đối gây phương hại tới sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Sinh thời, C.Mác từng làm rõ những “giả tượng” (biểu tượng giả) xuyên tạc, đánh lừa bản chất. V.I.Lênin với thái độ cách mạng và khoa học, kiên quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác đã từng vạch rõ, trên thực tế, những kẻ phê phán, phỉ báng và chống đối Mác quyết liệt nhất, lại là những kẻ hiểu biết về Mác tồi nhất.

- Những người cách mạng, Đảng cách mạng trong những thời điểm thử thách, bước ngoặt mà rơi vào tình trạng dao động, mất phương hướng thì sẽ đưa cả sự nghiệp và phong trào tới thất bại, tổn thất khôn lường, coi như một hành vi tự sát.

Điều đó thức tỉnh mọi người rằng, không một kẻ thù nào, thế lực nào có thể phá hoại được sự nghiệp của chúng ta, trừ khi chúng ta tự phá hủy sự nghiệp của chúng ta. Lời cảnh báo đó vẫn không mất đi tính thời sự của nó. Hồ Chí Minh thường gắn liền khoa học với chính trị và đạo đức. Người thường xuyên nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất, nó phá từ trong phá ra. Xét đến cùng, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, muốn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thì phải kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân tinh vi, thâm độc trong mỗi con người, nhất là trong cán bộ, đảng viên, trong đội ngũ những người làm lý luận, làm công tác tư tưởng của Đảng.

- Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung nỗ lực, sinh lực của chúng ta vào việc nâng cao nhận thức khoa học và bác bỏ những gì phản khoa học, giả danh khoa học trên các vấn đề cốt yếu sau đây:

Một là, luận chứng và khẳng định bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Từ đó bác bỏ luận điệu của kẻ thù rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, là phá sản, là đã cáo chung cùng với sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh là “bản sao” của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự lựa chọn con đường của Hồ Chí Minh là sai lầm, là sự nhầm đường của Việt Nam, phải theo một lý luận khác, con đường khác mà thực chất là đưa Việt Nam vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Đây là điều tệ hại, nguy hiểm nhất mà chúng ta phải vạch trần và phê phán, để giữ vững niềm tin vào lý tưởng.

Hai là, luận chứng và khẳng định sứ mệnh và trách nhiệm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và nhân dân chống lại sự xuyên tạc thâm độc của kẻ thù muốn hạ thấp và phủ nhận vai trò của Đảng, tấn công vào địa vị duy nhất cầm quyền của Đảng, coi Đảng là có tham vọng quyền lực, độc đoán, chuyên chế, độc tài, kìm hãm tự do, dân chủ, cản trở phát triển Việt Nam tới văn minh, hiện đại theo trào lưu thế giới tiên tiến mà Mỹ và hệ giá trị Mỹ là tiêu biểu. Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật lịch sử, kích động và mị dân, nhất là tiêm nhiễm nọc độc vào lớp trẻ, trong thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ trẻ. Chúng cố tình che giấu sự thật về Đảng lãnh đạo, cầm quyền là chính danh, chính đáng và xứng đáng theo sự ủy thác của dân tộc và nhân dân, là hợp hiến, hợp pháp. Chúng thổi phồng những khuyết điểm, xuyên tạc nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là mắt xích xung yếu trong nhận thức và hành động của chúng ta hiện nay.

Ba là, phải luận chứng khoa học để làm sáng tỏ lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam, lý luận đổi mới, hội nhập, phát triển, hiện đại hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI. Từ đó củng cố niềm tin khoa học trong Đảng, trong dân về tính tất yếu lịch sử, bản chất ưu việt, triển vọng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ động tiến công, bác bỏ mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù muốn Đảng ta, nhân dân ta từ bỏ lý tưởng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, đi theo chủ nghĩa tư bản phương Tây theo các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây. Chúng ta cần đặc biệt khai thác giá trị, sức sống, ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về chủ đề quan trọng này. Các tác phẩm lý luận của Tổng Bí thư gần đây cung cấp cho chúng ta những luận cứ quan trọng đó cần chú trọng nhận thức và truyền bá sâu rộng.

Bốn là, vạch trần và bác bỏ những sự ngụy tạo, giả dối mà kẻ thù rêu rao hiện nay, muốn phủ nhận các giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống đạo đức, cho rằng, trong thời đại chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ, thông tin là tất cả, tối ưu, không cần hệ tư tưởng, giải thể ý thức hệ để hòa nhập, hội nhập, không có rào cản. Đây lại là một thủ đoạn thâm độc khác và vô cùng nguy hiểm, rất dễ thâm nhập vào lớp trẻ và trong nhiều giai tầng xã hội. Đề cao lợi ích vật chất, tuyên truyền lối sống hưởng thụ, khuynh hướng kỹ trị, cuối cùng vẫn là phủ nhận chủ nghĩa xã hội. Phải khẳng định các giá trị tinh thần, phải coi trọng đạo đức và văn hóa, phải giữ vững niềm tin để xã hội, con người không chệch hướng, ngăn chặn sự phát triển xấu, hoang dã, bản năng, phản phát triển.

Năm là, vạch trần thủ đoạn ly gián giữa Đảng với nhân dân và Quân đội, sự xuyên tạc tình hình phát triển của xã hội trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vừa qua. Chính là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân nghĩa của dân tộc ta, phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam đã là sức mạnh và động lực giúp cho Việt Nam vượt qua thảm họa, tất cả vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân, tạo nên sức sống, đà tăng trưởng khởi sắc của Việt Nam. Đó là năm vấn đề cốt yếu phải quan tâm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

3. Những việc cơ bản, lâu dài và cấp bách phải làm ngay

- Thứ nhất, ra sức xây dựng Đảng về tư tưởng lý luận, chính trị, đạo đức, tổ chức, cán bộ và tập trung xây dựng Đảng về văn hóa. Cần phải làm cho tiềm lực về mọi mặt của Đảng trở thành niềm tin cậy của toàn dân, kích hoạt mạnh mẽ để nuôi dưỡng và phát triển nguồn trữ năng tinh thần của cả xã hội. Đó là nền móng vững chắc chống lại mọi kẻ thù phá hoại.

- Thứ hai, đổi mới đồng bộ, xây dựng toàn diện đất nước phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thành công các đột phá chiến lược. Đó là sức khỏe vật chất, tinh thần của chế độ trên nền tảng đại đoàn kết, đồng thuận xã hội, dân chủ và thực hành dân chủ để phát triển.

- Thứ ba, làm lành mạnh môi trường xã hội, giải quyết tình trạng suy thoái đạo đức trong xã hội, nhất là trong Đảng, đặc biệt là đấu tranh chống tham nhũng, đổi mới mạnh mẽ thể chế phát triển. Đó là sức đề kháng mạnh mẽ của Đảng, của xã hội chống lại các vi rút gây bệnh bởi sự phá hoại của kẻ thù.

- Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, xây dựng đội ngũ chuyên gia tài năng làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận.

- Thứ năm, phát triển mạnh mẽ dư luận xã hội tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Quản lý tốt về thông tin, công nghệ thông tin, xử lý nghiêm minh theo pháp luật mọi sự vi phạm, lợi dụng các phương tiện truyền thông để gieo rắc luồng thông tin xấu độc, phản cảm, gây hậu quả tiêu cực trong xã hội./.

HRW lại “tung hoả mù” về quyền của người lao động tại Việt Nam

 

Nhắc đến tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), chúng ta "nhẵn mặt" với những thủ đoạn đưa ra thông tin sai trái, xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mức độ xuyên tạc và vu cáo của HRW ngày càng gia tăng với nhiều hình thức, điều đó không chỉ thể hiện qua phát ngôn của đại diện tổ chức này mà còn qua các báo cáo, thông cáo, thư kiến nghị... Ngày 8/5/2024, HRW tiếp tục đưa thông cáo cho rằng Việt Nam "phát ngôn sai lạc về quyền của người lao động"!

Thông cáo của HRW đưa ra khi Bộ Thương mại Hoa Kỳ vừa có phiên điều trần công khai về hiện trạng thương mại với Việt Nam vào ngày 8/5. Thông cáo này lộ rõ ý đồ "tung hoả mù", tác động xấu tới dư luận khi Bộ Thương mại Hoa Kỳ thực hiện phiên điều trần nói trên. Vì thế, trong thông cáo của HRW đã đưa ra những nhận định sai trái, thể hiện cách nhìn tiêu cực, xa rời thực tế. Ông John Sifton, Giám đốc vận động Ban Á Châu của HRW đã có những phát biểu rất lố bịch như: "Nói rằng người lao động Việt Nam có thể thành lập công đoàn hay mức lương của họ là kết quả của sự thỏa thuận tự nguyện giữa người lao động và người sử dụng lao động là lời tuyên bố sai lạc trắng trợn"; "Ở Việt Nam không hề tồn tại bất kỳ một công đoàn độc lập nào hay các khung pháp lý khả thi cho việc thành lập công đoàn hoặc cho người lao động có thể đòi thi hành các quyền của mình". 

Ông Sifton viện dẫn rằng: "Xét về văn bản pháp luật và thực tế thực thi, Việt Nam hiện không cho phép các công đoàn độc lập được đại diện cho người lao động. Chương 13 của Bộ luật Lao động Việt Nam có hiệu lực vào năm 2021 đưa ra quy định về "tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở" và Luật Công đoàn Việt Nam quy định về "công đoàn" cũng như "tổ chức đại diện người lao động", một thuật ngữ hiện diện trong cả hai bộ luật. Tuy nhiên, Luật Công đoàn Việt Nam chỉ cho phép có các "công đoàn" do chính phủ kiểm soát. Luật Lao động vẫn đòi hỏi phải có các văn bản hướng dẫn được ban hành mới có hiệu lực thực thi. Và ở Việt Nam không hề có các tổ chức đại diện cho người lao động ở cấp cơ sở"… Từ việc viện dẫn sai lệch trên, ông Sifton quy kết: "Lời tuyên bố tôn trọng quyền của người lao động của Việt Nam chỉ dựa trên các ngôn từ và lời hứa sáo rỗng, các văn bản luật pháp và quy định xa rời thực tế về hiện trạng quyền của người lao động ở quốc gia này"! 

Rõ ràng, việc lấy lý do "Ở Việt Nam không cho phép các công đoàn độc lập được đại diện cho người lao động" rồi quy kết hiện trạng quyền lợi người lao động không bảo đảm, chính quyền chỉ "hứa sáo rỗng", "văn bản xa rời thực tế" là sự đánh giá quy chụp nhằm lấy cớ vu cáo, gây sức ép tới Bộ Thương mại Hoa Kỳ trong vấn đề đánh giá hiện trạng thương mại, quyền lợi người lao động ở Việt Nam.

HRW và những chiêu trò vu cáo, đánh lận bản chất

Tổ chức HRW được thành lập vào năm 1978 trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Human Rights Watch ban đầu được đặt tên là Helsinki Watch với mục đích giám sát Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức An ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm "bảo vệ" nhân quyền tại nước này. Năm 1988, Helsinki Watch hợp nhất với một số tổ chức quốc tế khác và đổi tên thành Tổ chức Theo dõi nhân quyền - Human Rights Watch (HRW). Hiện tại, HRW có trụ sở đặt tại New York, Hoa Kỳ.

Nhìn vào lịch sử của tổ chức HRW kể từ khi được thành lập cho đến nay có thể thấy, cho dù đã được đổi tên và mang danh nghĩa là tổ chức hoạt động về nhân quyền nhưng hoạt động của HRW vẫn đi theo mục đích cũ và ý đồ chính trị là đưa những thông tin sai sự thật về tình hình dân chủ, nhân quyền cũng như can thiệp vào nội bộ của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Dù là tổ chức mang tên gọi về nhân quyền nhưng các hoạt động của tổ chức trên thực chất lại là cái cớ để tổ chức này xuyên tạc, chống phá.

Mỗi khi Mỹ và phương Tây đưa ra những cáo buộc một quốc gia nào đó vi phạm dân chủ, nhân quyền thì HRW cũng tham gia dưới nhiều hình thức như: báo cáo, thông cáo, thư ngỏ… với thủ đoạn đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc sự thật.

HRW cũng như một số tổ chức khác mang danh nhân quyền có trụ sở ở Mỹ, Đức, Bỉ, Thụy Điển, Hà Lan… thường sử dụng chiêu bài bảo vệ "dân chủ", "nhân quyền" nhằm khoét sâu mâu thuẫn về sắc tộc, xã hội, tôn giáo của quốc gia cũng như lợi dụng những vấn đề còn tồn tại, hạn chế, yếu kém trong xã hội khác để lấy cớ chống phá, can thiệp. Từ đó, họ câu kết với những đối tượng đối lập, phần tử cơ hội chính trị ở trong nước tiến tới dụ dỗ, mua chuộc dưới chiêu bài hứa hẹn tạo ra chính phủ mới với những quyền lực được trao tay, ảo tưởng về một xã hội văn minh hơn.

Từ đó, hướng đến sự hỗn loạn và mất kiểm soát trong xã hội, gia tăng xung đột giữa người dân và chính phủ, kích động biểu tình đường phố, bạo loạn và thậm chí xung đột vũ trang gây thương vong cho dân thường. Đây không đơn thuần là lôi kéo, dụ dỗ người thiếu hiểu biết, thành phần bất mãn chính trị mà còn có sự tham gia của một số trí thức ảo tưởng về sức mạnh, được đưa ra nước ngoài huấn luyện đào tạo và được đầu tư về vật chất, tài chính để có điều kiện hoạt động gây dựng ngọn cờ chống đối ở trong nước.

Đây không phải chiêu trò mới nhưng hiện nay hoạt động của các tổ chức như HRW ngày càng quyết liệt, tinh vi và nguy hiểm. HRW chụp mũ các giá trị dân chủ, nhân quyền để gây bất ổn xã hội, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo lệ thuộc, dần dần lật đổ chế độ chính trị hiện tại, đưa xã hội chuyển hướng sang con đường đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Việt Nam luôn coi trọng và nỗ lực vì quyền của người lao động

Lao động và việc làm là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ. Căn cứ Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về quyền lao động và việc làm. Có thể kể đến một số văn bản sau đây: Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2014, Bộ luật Lao động năm 2019...

Ngoài ra, Quốc hội còn ban hành hệ thống các văn bản luật tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất, đồng bộ và minh bạch cho tổ chức và hoạt động của các tổ chức, đơn vị kinh tế, thông qua đó tạo công ăn, việc làm cho người lao động; các văn bản luật quy định về các biện pháp giải quyết tranh chấp về lao động, các biện pháp chế tài về hành chính, hình sự đối với những hành vi vi phạm quyền lao động và việc làm của công dân. Những văn bản pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm quyền lao động và việc làm của công dân trên thực tiễn. Liên quan đến vấn đề an sinh xã hội, Đảng ta xác định: bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế.

Sau gần 40 năm đổi mới, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu rộng với thế giới, Việt Nam ngày càng nhận thức rõ tính tất yếu của việc cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế, cụ thể là tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và kèm theo đó là việc cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn chung, trong đó có vấn đề quyền của người lao động. Đến nay, Việt Nam đã tham gia 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), bao gồm 7 trong số 8 công ước cơ bản, trong đó có các công ước liên quan đến các lĩnh vực: thương lượng tập thể; phòng, chống phân biệt đối xử; lao động trẻ em và lao động cưỡng bức…

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đề ra hàng loạt các chương trình kinh tế - xã hội như: Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm với những hoạt động: thực hiện quỹ quốc gia tạo việc làm; thành lập các ngân hàng người nghèo; giao quyền sử dụng ruộng đất để khuyến khích trồng rừng, chương trình hỗ trợ đánh bắt xa bờ... Đồng thời, để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động, Nhà nước cũng ban hành một hệ thống chủ trương, chính sách thông thoáng thu hút sự đầu tư của nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài nhằm tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động, tạo điều kiện cho những người trong độ tuổi lao động đều có thể thực hiện quyền lao động của mình.

Theo thống kê trong giai đoạn từ năm 2018-2020, tổ chức công đoàn đã triển khai rộng khắp chương trình "Phúc lợi đoàn viên công đoàn" ở nhiều tỉnh, thành phố. Đến năm 2023, 100% đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng; 100% người dân bị thiệt hại do thiên tai, lũ lụt, thiếu đói được trợ giúp đột xuất kịp thời, không người dân nào bị đói, trên 90% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, được chăm sóc và phục hồi chức năng kịp thời; trên 90% người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, phụng dưỡng, chăm sóc kịp thời. Phấn đấu mở rộng diện bao phủ tham gia bảo hiểm xã hội đến năm 2025 khoảng 45% người lao động tham gia, năm 2030 đạt 60%; bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; đến năm 2030, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia tiên phong về an sinh xã hội và việc làm thỏa đáng.

Một bước tiến nữa trong bảo đảm quyền con người lĩnh vực lao động là việc Việt Nam phê chuẩn Công ước 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức vào tháng 6/2020. Trong bối cảnh vấn đề lao động cưỡng bức trên thế giới được ILO cảnh báo là "khẩn cấp", nỗ lực này của Việt Nam đã được thế giới ghi nhận và đánh giá tích cực. Bà Corrine Vargha, Trưởng ban Tiêu chuẩn Lao động quốc tế của ILO cho rằng, với việc phê chuẩn này, Việt Nam chứng tỏ cam kết mạnh mẽ trong công cuộc đấu tranh chống lại lao động cưỡng bức dưới mọi hình thức.

Còn ông Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam thì khẳng định: "Đây là minh chứng cho thấy Chính phủ và các đối tác xã hội của Việt Nam đã và đang nỗ lực hết sức mình để có một khung khổ pháp lý tốt hơn nhằm mở đường cho Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao một cách bền vững". Những nỗ lực chủ động và tích cực của Việt Nam vì người lao động đã củng cố uy tín của đất nước trên trường quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và hướng đến một xã hội công bằng, nơi các lợi ích của quá trình hội nhập và phát triển được chia sẻ một cách công bằng cho người lao động, những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Việc tổ chức HRW ngày 8/5/2024 cáo buộc Việt Nam phát ngôn sai lạc về quyền của người lao động là sự vu cáo trắng trợn. Đáng nói, HRW chỉ trích điều này ngay sau khi đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu tham gia phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 7/5/2024. Thực tiễn cho thấy, dù HRW hay một số tổ chức khác có hành động vu cáo Việt Nam dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, lao động việc làm… thì chính những thành tựu sinh động nêu trên là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc.      

Bình Nguyên

Phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa song Người để lại cho hậu thế những di sản vô cùng quý giá. Di sản Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di sản ấy là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do chính Người sáng tạo, để lại cho Đảng, dân tộc Việt Nam.

Di sản Hồ Chí Minh mang tính phổ quát, bền vững, vượt thời đại và vẹn nguyên tính thời sự. Chính vì thế, các thế lực thù địch luôn xem di dản của Người là một mục tiêu, trọng tâm chống phá. Việc nhận diện bản chất, bóc trần các âm mưu, thủ đoạn, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội có vai trò quan trọng.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá

Số tổ chức, cá nhân chống phá thường khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội”, thậm chí họ mượn danh nghĩa “nhà nghiên cứu lý luận” hay núp bóng “nhà dân chủ”, “nhà nhân quyền” để ngụy biện tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong di sản Hồ Chí Minh. Họ chống phá di sản Hồ Chí Minh cả về tư tưởng, đạo đức, phong cách, thân thế, sự nghiệp cách mạng của Người. Về tư tưởng, họ coi những luận điểm về chính trị, cách mạng của Người chỉ là bản sao của chủ nghĩa Mác - Lênin, vay mượn, cộng gộp các tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Về đạo đức, số đối tượng xấu coi đạo đức của Người chỉ là “chủ nghĩa khổ hạnh” không thể học tập, làm theo. Về phong cách, họ phớt lờ tác phong, lề lối, phương pháp cách mạng, khoa học của Hồ Chí Minh.                       

Về thân thế, các đối tượng xấu bịa đặt, tung tin sai lệch, thất thiệt, bôi nhọ đời tư của Người.

Họ ra sức phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng để hạ thấp di sản của Người. Một số đối tượng chống phá lại giả vờ “tôn vinh”, “tuyệt đối hóa” di sản văn hóa Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Từ đó, đòi tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực chất đây chính là thủ đoạn vờ “đề cao” bên này để “hạ bệ” bên kia nhằm đả kích, chống phá bởi chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ đạo làm nên bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn cố tình cắt xén những câu nói, phát biểu, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi bối cảnh lịch sử để làm sai lệch tư tưởng của Người. Họ đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phần tử chống phá cũng phủ nhận sự cần thiết, tính hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngoài ra, họ còn đưa ra yêu sách vô lý, trắng trợn đòi từ bỏ việc bảo tồn di tích, bảo tàng có liên quan đến Người.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng các tính năng ưu việt của Internet, mạng xã hội với tốc độ chia sẻ nhanh, độ tương tác rộng hay sử dụng hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài biến thành công cụ đắc lực phục vụ cho mưu đồ chống phá. Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn chống phá ở chỗ: các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng chiêu bài “thao túng tâm lý”; tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi về lãnh tụ của cách mạng Việt Nam hòng gây hoang mang, dao động, làm lung lay niềm tin, giảm sút tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; tìm cách triệt tiêu động lực, khí thế, quyết tâm của hệ thống chính trị, toàn xã hội trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Từ khi Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cũng là lúc các thế lực thù địch tập trung chống phá di sản văn hóa Hồ Chí Minh quyết liệt. Thấy rõ di sản văn hóa Hồ Chí Minh là linh hồn, là tài sản vô giá của Đảng, của dân tộc và nhân dân Việt Nam nên các các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị muốn phá hủy tận gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ biểu tượng Hồ Chí Minh trong trái tim, khối óc của nhân dân Việt Nam. Nhưng dù có dùng mọi chiêu trò chống phá vẫn không thể phủ nhận giá trị to lớn, sức sống trường tồn của di sản Hồ Chí Minh.

Thế giới đổi thay nhưng di sản Hồ Chí Minh sống mãi

Thực tế thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, sự nghiệp đổi mới hiện nay là minh chứng sống động, rõ nét cho thấy những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về mặt thực tiễn và tư tưởng lý luận. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã cống hiến hết mình cho dân tộc, như Người từng chia sẻ: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho đời sau, Người đã tâm sự: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Trong suốt cuộc đời tận hiến cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và cũng chính Người đã nâng tầm văn hóa dân tộc, đóng góp quan trọng vào dòng chảy lịch sử văn hóa thế giới. Điều này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của nhân loại, ngăn chặn mặt tiêu cực thâm nhập, đồng thời phát huy được những giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp mang bản sắc dân tộc mình, đó là bản lĩnh, ý thức tự chủ, cốt cách và tinh thần độc lập của dân tộc Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển một cách sâu sắc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, là nhà văn hóa kiệt xuất bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát triển của lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử, văn hóa nhân loại. Người đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập. Đồng thời, Hồ Chí Minh còn truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân các dân tộc thuộc địa xóa đi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Người đã dẫn dắt dân tộc ta thực hiện mục tiêu hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh cho đất nước của mình, đồng thời cũng góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do vậy, di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đối với dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

Không phải đến bây giờ mà cách cách đây hơn 100 năm, nhà báo người Nga Osip Emilyevich Mandelstam đã viết bài mang tên “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc” đã đăng trên báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ) của Liên Xô xuất bản ngày 23/12/1923. Bài báo có đoạn: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Tuy hơn một thế kỷ đã trôi qua nhưng nhận định sâu sắc này của O. Mandelstam vẫn vẹn nguyên giá trị, dự báo “Hồ Chí Minh là nền văn hóa tương lai” xuất phát từ việc nhà báo người Nga đã cảm nhận được trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn cả tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, cả giá trị truyền thống và giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại thời hiện đại.

Trong quá trình tiếp xúc cũng như nghiên cứu về Hồ Chí Minh, rất nhiều chính khách, học giả quốc tế bày tỏ sự khâm phục, ngưỡng mộ trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Trong đó, Chủ tịch Phiđen Caxtơrô - lãnh tụ đất nước Cuba viết: “Vinh quang đời đời thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương lớn nhất của người cách mạng vĩ đại ngày càng được khâm phục, ngưỡng mộ và luôn luôn được mến yêu không chỉ bởi nhân dân Việt Nam mà còn bởi tất cả các dân tộc khác trên thế giới”.

Ông Miyamôtô Kêngi, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nhật Bản đã nhận định: “Đồng chí Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ lỗi lạc của nhân dân Việt Nam mà còn là một chiến sĩ lỗi lạc, một nhà hoạt động tài năng của phong trào cộng sản quốc tế”.

Tiến sĩ M. Atmét, nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó”. Những nhận xét trên hết sức khách quan, công tâm, dựa trên những đóng góp thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách và cuộc đời cách mạng vĩ đại, vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cống hiến to lớn, xuất sắc vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Do đó, tháng 11/1987, trong khuôn khổ Khóa họp lần thứ 24, Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.65 về việc kỷ niệm 100 năm (vào năm 1990) ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc”, là “Nhà văn hoá kiệt xuất”; đồng thời, vinh danh Người là một trong những nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn trong tiến trình phát triển của nhân loại. Việc UNESCO ra nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất là sự kiện rất có ý nghĩa, thể hiện sự trân trọng, đánh giá khách quan của nhân loại tiến bộ đối với di sản Hồ Chí Minh; qua đó càng thấy rõ hơn tầm vóc, giá trị di sản của Người, mọi quan điểm sai trái, thù địch vì thế mà lạc lõng, vô nghĩa.

Di sản Hồ Chí Minh đã vượt qua thử thách của thời gian, trở thành biểu tượng, mạch sống của dân tộc Việt Nam. Di sản ấy là một tài nguyên văn hóa mà càng nghiên cứu, càng khai thác, càng mang lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân những giá trị bổ ích, mới mẻ. Sứ mệnh đặt ra cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng là kiên định, bảo vệ, vận dụng, phát triển di sản Hồ Chí Minh; đồng thời, lan tỏa, phát huy giá trị để di sản đặc biệt này trở thành một trong những động lực tư tưởng - tinh thần vô giá, giúp nâng tầm vị thế văn hóa, con người Việt Nam trong dòng chảy văn hóa nhân loại.

Chu Xuân Đại Thắng

USCIRF (Hoa Kỳ) nhận định không chính xác về tình hình tôn giáo Việt Nam

Mới đây, tại buổi họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng trả lời về Báo cáo tình hình tự do tôn giáo quốc tế 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Báo cáo tình hình tự do tôn giáo quốc tế 2023 của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF).

Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng.

Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng.

Trước câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về Báo cáo tình hình tự do tôn giáo quốc tế 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Báo cáo tình hình tự do tôn giáo quốc tế 2023 của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF), Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ:

"Là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đằng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và được bảo đảm, tôn trọng trên thực tế.

Báo cáo tình hình tự do tôn giáo quốc tế 2023 của Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) và Báo cáo tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tuy đã ghi nhận một số tiến bộ của Việt Nam trong thúc đẩy tự do tôn giáo và trích dẫn một số thông tin chính thống của các cơ quan Chính phủ Việt Nam, song vẫn đưa ra những nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam.

Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Hoa Kỳ về các vấn đề hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau về những vấn đề còn khác biệt, qua đó đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện giữa hai nước".


Tăng cường các giải pháp bảo vệ trẻ em trên không gian mạng

 Trong tháng hành động vì trẻ em năm 2023 với chủ đề “Chung tay giảm thiểu tổn hại trẻ em”, nhiều biện pháp tăng cường bảo vệ trẻ em trên không gian mạng sẽ được triển khai.

Phát biểu tại Hội nghị tập huấn Tháng hành động vì trẻ em năm 2023 do Cục Trẻ em phối hợp ChildFund tổ chức, Cục trưởng Cục Trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) Đặng Hoa Nam cho biết, theo thống kê tình trạng bạo lực đối với trẻ em năm 2022 gia tăng so với năm 2021, đặc biệt là bạo lực trong trường học và trong gia đình. Trong 4 tháng đầu năm 2023, chỉ tính riêng các cuộc gọi đến Tổng đài Quốc gia bảo vệ trẻ em 111 liên quan đến bạo lực học đường đã tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Thống kê thông qua các vụ việc cơ quan công an thụ lý, xác minh và giải quyết cũng cho thấy, xu hướng xâm hại trẻ em năm 2023 gia tăng so với năm 2022. Cùng với đó là tình trạng trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng vẫn diễn biến phức tạp.

Hiện nay, tỷ lệ sử dụng in-tơ-nét ở trẻ từ 12 đến 17 tuổi là rất cao, chiếm 93% ở thành thị và 88% ở nông thôn. Trong đó, trẻ em gái sử dụng in-tơ-nét chiếm tới 89%. Đặc biệt, trẻ tiếp cận qua phương tiện là điện thoại thông minh chiếm tới 98%.

Theo các chuyên gia, một trong số những mối nguy hại tác động tới trẻ em là tình trạng phát tán, rò rỉ thông tin riêng tư, thông tin cá nhân của trẻ trên môi trường mạng. Trong đó, chính bố mẹ lại là người chia sẻ thông tin, hình ảnh một cách vô tư không kiểm soát trên mạng xã hội cũng có thể dẫn đến nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho trẻ em.

Theo đồng chí Lê Thùy Dương, Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết, năm 2022, Bộ đã rà soát, ngăn chặn 18 nhóm trên mạng xã hội có nội dung xâm hại trẻ em. Các nhóm này có hơn 9,7 triệu thành viên, trong đó có 30% số thành viên là trẻ em, hơn 40% là thanh thiếu niên…

Trong thời gian tới, ngành Thông tin - Truyền thông sẽ tiếp tục rà soát, kiên quyết xử lý, gỡ bỏ các thông tin xấu độc trên mạng xã hội như Facebook, Youtube. Bộ cũng yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội xuyên biên giới như Facebook, Youtube tuân thủ pháp luật Việt Nam, có giải pháp quản lý các nội dung dành cho trẻ em.

Mạng xã hội Youtube đã công bố sẽ có một số thay đổi chính sách nhằm bảo vệ trẻ em, trong đó có yêu cầu tất cả nhà sáng tạo nội dung phải đánh dấu nội dung video dành cho trẻ em hay không; không phát tán quảng cáo được cá nhân hóa đối với nội dung dành cho trẻ em.

Bộ Thông tin và Truyền thông đã lập đoàn kiểm tra mạng xã hội Tiktok về nội dung liên quan tới bảo vệ trẻ em, đoàn có sự tham gia của đại diện các bộ, ngành có trách nhiệm về công tác bảo vệ trẻ em. Đoàn dự kiến thực hiện kiểm tra Tiktok tại Việt Nam từ ngày 22 đến 29-5.

Những "lạc điệu" khi đánh giá tình hình nhân quyền của Việt Nam

 Vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới với 198 nước, trong đó tiếp tục đưa những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về Việt Nam.

Báo cáo nhân quyền được Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra tiếp tục có những nhận định thiếu khách quan về tình hình của Việt Nam

Đại biểu các dân tộc Việt Nam tham gia diễu hành nhân Ngày Quốc khánh 2-9.

Nhìn vào chính nước Mỹ

Mặc dù, Mỹ là một "ông lớn" và là một quốc gia tự cho là dân chủ, nhân quyền nhất thế giới nhưng trên thực tế lại không hẳn như vậy. Có lẽ vì thế, Báo cáo nhân quyền hằng năm của Bộ Ngoại giao Mỹ lại bỏ qua chính nước Mỹ.

Tình trạng phân biệt chủng tộc là thực tế không thể biện minh mà diễn ra vô cùng sâu sắc tại Mỹ. Đây là sự kì thị của người Mỹ gốc châu Âu, da trắng đối với các chủng tộc, dân tộc thiểu số khác; giữa người da trắng với người da màu; đặc biệt, là giữa những người theo đạo Tin Lành với những người theo đạo khác, nhất là với người Do Thái và đạo Hồi.

Theo báo cáo do Stop Asian American Pacific Islander (AAPI) - một tổ chức chống sự kì thị đối với người Mỹ gốc Á và người dân đảo Thái Bình Dương, từ 19-3-2020 tới 28-2-2021, đã có 3.795 vụ kì thị đối với người châu Á trên toàn nước Mỹ; người Mỹ gốc Trung Quốc bị kì thị nhiều nhất (42,2%), tiếp theo là người Hàn Quốc (14,8%) và Việt Nam (8,5%); chủ yếu diễn ra ở các doanh nghiệp (35,4%), trên đường phố (25,3%) và công viên (9,8%). Sự kì thị đối với người gốc Phi có thể nói là nặng nề nhất.

Trong khi Mỹ thành lập hẳn một tổ chức tiêu tốn cả tỷ đô-la Mỹ để vận hành mỗi năm cho việc giám sát “tự do tôn giáo thế giới” thì sự kì thị tôn giáo lại diễn ra đặc biệt sâu sắc ngay chính đất nước này.

Theo một cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew được thực hiện vào tháng 3-2019, hầu hết người Mỹ trưởng thành (82%) nói rằng người Hồi giáo phải chịu ít nhất một số phân biệt đối xử ở Hoa Kỳ ngày nay.

Bất bình đẳng giới cũng là vấn đề đáng lo ngại ở Mỹ, nhất là đối với nhóm phụ nữ da màu; họ ít có sơ hội tìm kiếm việc làm hơn so với nam giới và phụ nữ da trắng. Phụ nữ gốc Á là nạn nhân của các vụ kì thị nhiều hơn gấp 2,3 lần so với nam giới. Phụ nữ Mỹ thường phải làm việc bán thời gian hơn nam giới để có thể chăm sóc gia đình; với những người làm việc "full time", mức lương trung bình của họ chỉ bằng 81% so với nam giới.

Bên cạnh đó, bạo lực súng đạn là một trong những vấn đề nghiêm trọng, kéo dài và khó giải quyết nhất ở Mỹ. Theo trang Gun Violence Archive, trong năm 2021, nước Mỹ xảy ra 691 vụ xả súng hàng loạt; trung bình có ít nhất 4 nạn nhân/vụ; tổng số nạn nhân là 44.750 người. Tính riêng tháng 1-2023, tại Mỹ có hơn 50 vụ xả súng, mỗi vụ ít nhất 4 người thương vong.

Tổng thống Mỹ Joe Biden từng dùng từ “đại dịch” để mô tả về nạn bạo lực súng đạn dai dẳng, nhức nhối, gieo rắc nỗi ám ảnh cho người dân suốt nhiều năm qua. Đặc biệt, việc lực lượng cảnh sát Mỹ dung vũ lực với người dân, người da màu là điều không hiếm gặp.

Mỹ là một quốc gia phát triển và là cường quốc kinh tế thế giới nhưng không đồng nghĩa với việc mọi người dân tại quốc gia này đều có thu nhập kinh tế cao.

Khoảng cách giàu nghèo tại Mỹ là rất lớn, người vô gia cư ở Mỹ luôn là một vấn đề xã hội nhức nhối. Đặc biệt, đại dịch COVID-19 đã đẩy nhiều người Mỹ vào tình cảnh khốn cùng nhưng ngược lại cũng có nhiều người lại có khối tài sản tăng lên.

Theo Báo cáo của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ giữa năm 2021, số người dân nước này có khối tải sản tăng lên đã tăng kỷ lục trong 3 thập kỷ qua nhờ sự bùng nổ của thị trường cổ phiếu. Trong khi đó, Báo cáo của Bộ Lao động Mỹ cho thấy, số người nghỉ việc, hoặc bị sa thải, trong năm 2022 tại nước này lên tới hơn 14 triệu lao động.

Thực tế trên cho thấy các quốc gia dù mức độ phát triển đến thế nào thì vẫn sẽ còn những thách thức về nhân quyền cần phải giải quyết. Chính nước Mỹ trong khi dành thời gian để đánh giá, phán xét về nước khác thì cũng không có nghĩa Mỹ không có những “tì vết” trong lĩnh vực bảo đảm nhân quyền.

Vẫn là những định kiến

Đây là lần thứ 47 Bộ Ngoại giao Mỹ “dành sự quan tâm” để nghiên cứu, tổng hợp dữ liệu và công bố báo cáo đánh giá việc thực thi quyền con người của các 198 quốc gia.

Đối với Việt Nam, Báo cáo không có gì mới mẻ so với các năm trước, vẫn đưa ra những thông tin sai lệch, thiếu khách quan. Bất chấp những trao đổi thông tin thường xuyên thông qua Đối thoại nhân quyền song phương cũng như các cuộc làm việc, tiếp xúc giữa hai bên, phía Mỹ vẫn sử dụng thông tin từ những nguồn tin thiếu xác thực, chưa được kiểm chứng do những tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí với Việt Nam.  

Việt Nam chưa bao giờ tự cho mình là hoàn hảo về nhân quyền bởi thực tế vẫn có những thách thức phải giải quyết. Song, không thể phủ nhận những nỗ lực và thành tựu mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đã đạt được, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới. Minh chứng thể hiện qua những thành tựu quyền con người trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá.

Nền kinh tế Việt Nam đã có phát triển vượt bậc, riêng năm 2022, dù chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, GDP đạt 409 tỷ đô-la Mỹ, là quốc gia đứng thứ 37 về quy mô kinh tế GDP, bình quân đầu người 4.110 đô-la Mỹ.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được quan tâm, bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với trên 26,7 triệu tín đồ, trên 55 nghìn chức sắc, khoảng 135 nghìn chức việc; trên 29 nghìn cơ sở thờ tự…

Ngoài ra, hàng năm có trên 8.000 nghìn lễ hội về tín ngưỡng, tôn gáo, với hàng vạn tín đồ tham gia; cơ quan nhà nước đã cấp hàng trăm hec-ta đất để xây dựng cơ sở thờ tự như: Viện thánh kinh thần học rộng 7.500m2 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hơn 11.000m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; hơn 9.000m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; giao thêm 15 hec-ta cho Giáo xứ La Vang, tỉnh Quảng Trị …

Trong lĩnh vực bình đẳng giới, phụ nữ là một trong đối tượng được ưu tiên trong chiến lược phát triển của Việt Nam.

Theo Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2022, Việt Nam đứng thứ 60 trên thế giới, đứng thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ tham gia cơ quan dân cử; đứng thứ 3 trong khu vực ASEAN và thứ 47/187 quốc gia trên thế giới tham gia xếp hạng về bình đẳng giới trong tham chính và trong công tác quản lý; trong lĩnh vực kinh tế, cơ hội lao động, việc làm của phụ nữ như Nam giới, thậm chí phụ được ưu tiên trong một số lĩnh vực như: giáo dục, y tế... Tỷ lệ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đạt 26,5%, xếp thứ 9/58 quốc gia, nền kinh tế được nghiên cứu. Nhiều nữ sĩ quan Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ tại Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi.

Mới đây, trong báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2023 được công bố trên ấn phẩm của Mạng lưới Giải pháp Phát triển bền vững của LHQ dựa trên số liệu được thu thập từ người dân tại hơn 150 quốc gia, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65.

Ngày 11-10-2022, Việt Nam đã được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện sự tín nhiệm, tin tưởng và ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những nỗ lực trong bảo đảm quyền con người cho người dân cũng như tham gia tích cực thúc đẩy quyền con người trên bình diện quốc tế.

Như lời Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định: “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Việt Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước và luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Tôn trọng sự khác biệt, hướng đến mục tiêu chung

Điều không thể phủ nhận là các quốc gia thành viên LHQ, trong đó có Mỹ và Việt Nam khi ký kết, phê chuẩn các công ước quốc tế về quyền con người thì đều hướng đến mục tiêu chung là bảo đảm cho người dân của mình được thụ hưởng ngày càng tốt hơn các quyền con người. Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán chủ trương coi con người là động lực, mục tiêu và đặt ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển.

Đi lên CNXH là sự lựa chọn, là khát vọng của nhân dân Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Xã hội XHCN mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Sự khác biệt về thể chế chính trị, về cách tiếp cận vấn đề nhân quyền không có nghĩa là nước làm làm tốt hơn trong vấn đề nhân quyền hay có quyền đứng bên trên để phán xét tình hình nhân quyền của nước khác.

Trong tiến trình phát triển các hình thái kinh tế - xã hội, không thể khẳng định chủ nghĩa tư bản là tốt nhất, là tuyệt đối; một đảng không dân chủ bằng đa đảng. Điều quan trọng nhất là các quốc gia cần tôn trọng thể chế của nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác để cùng hướng đến mục tiêu chung là thúc đẩy quyền con người không chỉ ở mỗi nước mà còn đóng góp vào thúc đẩy quyền con người trên thế giới.

Thế giới vốn là sự tồn tại nhiều quốc gia khác nhau với thể chế chính trị khác nhau, những đặc thù khác nhau, không thể khẳng định có một mô hình nào là tuyệt đối về vấn đề nhân quyền mà được coi là hình mẫu để áp đặt lên quốc gia khác. Điều quan trọng là khắc phục những tồn tại để phát triển, hướng đến mục tiêu tốt đẹp vì con người và cho con người.

Con đường của Việt Nam và Mỹ có thể khác biệt nhưng đích đến chắc chắn đều vì cuộc sống tốt đẹp  hơn cho người dân Việt Nam và người dân Mỹ. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước cùng cả hệ thống chính trị đã và đang nỗ lực để khắc phục những yếu kém, trở ngại, khó khăn nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người cho người dân.

Hiện nay, hòa bình, hợp tác và phát triển đang trở thành xu thế chung của nhân loại tiến bộ. Việt Nam và Mỹ cũng đã trở thành đối tác toàn diện và đã hợp tác sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi với phía Mỹ về những vấn đề còn khác biệt về nhân quyền trên tinh thần xây dựng, thẳng thắn, chân thành, cởi mở, tôn trọng, bình đẳng, tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau; luôn chủ động cung cấp thông tin, giải đáp những vấn đề phía Mỹ quan tâm. Chính vì thế, không nên để những định kiến về nhân quyền thành vật cản trong quan hệ song phương Việt - Mỹ đang phát triển tốt đẹp.