Thứ Tư, 8 tháng 2, 2023

Uy tín, hình ảnh người cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Vận dụng vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

 TCCS - Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng; trong đó, Người chú trọng, yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu về mọi mặt, thực hiện trách nhiệm nêu gương và có ý thức giữ gìn uy tín, hình ảnh của mình. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện phát triển mới đặt ra yêu cầu phải tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng đó của Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm, chúc tết một số gia đình tại thôn Khe Cát, xã Minh Thành, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày mùng 1 tết Ất Tỵ 1965_Ảnh:  TTXVN

Uy tín, hình ảnh người cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết, tiến tới thành lập đảng cách mạng chân chính, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tiến hành lựa chọn những thanh niên ưu tú để tổ chức đào tạo, huấn luyện chính trị (vào những năm 1925 - 1927, tại Quảng Châu, Trung Quốc). Theo Người, chỉ những người có đủ phẩm chất, trí tuệ thì mới có thể tiếp nhận được giá trị lý luận, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, quan điểm, đường lối chính trị và phương pháp cách mạng đúng đắn, trung thành, tận tụy truyền bá lý luận trong phong trào quần chúng, xây dựng, phát triển tổ chức đảng và thực hiện được vai trò lãnh đạo của Đảng. Tập hợp những cá nhân được giáo dục, huấn luyện bài bản thì mới có thể hình thành tổ chức đảng cách mạng và sau khi có tổ chức, lại phải không ngừng nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất cần có của tổ chức cũng như của mỗi người cán bộ, đảng viên để dẫn dắt phong trào cách mạng.

Với nhận thức khoa học về Đảng, trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt lên hàng đầu yêu cầu về Tư cách một người cách mệnh, gồm 23 điểm. Theo Người, mỗi người khi phấn đấu theo những điểm căn cốt đó sẽ góp phần làm nên bản chất cách mạng của Đảng; đồng thời, giúp cho Đảng có được đội ngũ cán bộ trung kiên, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì cách mạng, dân tộc và nhân dân. Trong 23 điểm nêu trên, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc định hình rõ tiêu chuẩn cụ thể của người cán bộ, đảng viên. Theo đó, người cách mạng, cán bộ, đảng viên tự mình phải cần kiệm, hòa mà không tư, cả quyết sửa lỗi mình, cẩn thận mà không nhút nhát, hay hỏi, nhẫn nại (chịu khó), hay nghiên cứu, xem xét, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất, bí mật; với từng người thì khoan thứ; với đoàn thể thì nghiêm, có lòng bày vẽ cho người, trực mà không táo bạo, hay xem xét người; khi làm việc phải xem xét hoàn cảnh kỹ càng, quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể (1).

Những phẩm chất, tư cách và yêu cầu đó có ảnh hưởng tích cực đối với sự lãnh đạo của Đảng, tỏ rõ uy tín, tấm gương của người cách mạng, có sức cảm hóa, tập hợp, đoàn kết nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền; vì thế, dù hoàn cảnh khó khăn đến đâu, người cán bộ cũng được quần chúng tin cậy, che chở và bảo vệ. Nhờ tấm gương, uy tín, đức hy sinh quên mình ấy mà hình ảnh cao đẹp của những người cộng sản có sức lan tỏa mạnh mẽ, tạo thành sức mạnh to lớn, góp phần đưa cách mạng đi đến thành công.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Nhà nước mới thể hiện sự kết tinh tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc, nhân văn, nhân đạo cao cả; nhiều nhân sĩ, trí thức không phải đảng viên cộng sản được mời tham gia Chính phủ. Những người trong chính quyền của chế độ cũ được đối xử tốt, nhiều người đã tham gia chính quyền cách mạng; đặc biệt, cựu Hoàng đế Bảo Đại được mời làm Cố vấn tối cao của Chính phủ. Nhà nước cũng thực hiện ngay chính sách “tín ngưỡng tự do”, tạo điều kiện để các tôn giáo hành đạo; thực hiện các quyền dân chủ, chống nạn đói, “giặc dốt”, bảo đảm ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, Chính phủ là công bộc của dân, phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh; tập trung thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc, vừa chống xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc, vừa xây dựng chế độ xã hội mới.

Với sự nghiệp vẻ vang, mới mẻ và bộ máy chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa chăm lo xây dựng bộ máy nhà nước và chính quyền các cấp, vừa đặc biệt chú trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, là những người trực tiếp điều hành và quản lý bộ máy nhà nước cách mạng kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong những năm tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng, phần lớn cán bộ nắm bộ máy chính quyền và nhân viên nhà nước đều tận tụy, nỗ lực khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng trong thực tiễn thực thi quyền lực đã có một số cán bộ “ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền”, ức hiếp dân. Chính vì vậy, trên báo Cứu quốc số 65, ngày 12-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh có đề cập, phân tích vấn đề này trong bài viết “Sao cho được lòng dân?”. Người thẳng thắn nêu rõ thực trạng là ở một số ủy ban nhân dân “tiếng phàn nàn oán thán nhiều hơn tiếng người khen”(2); “Những Ủy ban đó không những không được dân yêu, còn bị dân khinh, dân ghét”(3). Người chỉ dẫn: “muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư”(4).

Những hành vi không đúng mực của một số cán bộ chính quyền đã ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín, làm xấu đi hình ảnh của bộ máy chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên nắm các chức vụ, quyền hạn. Hiện tượng lạm quyền, lộng quyền và các thói xấu khác ở một số cán bộ đã khiến cho niềm tin của nhân dân bị suy giảm. Để kịp thời khắc phục tình trạng này, ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh có “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”; trong đó, chỉ ra những lầm lỗi rất nặng nề của một số người trong bộ máy chính quyền, như trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, cử chỉ lúc nào cũng lên mặt “quan cách mạng”. Những hành vi tiêu cực đó “làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ”(5); do vậy, Chính phủ phải kiên quyết khắc phục, loại bỏ những sai phạm, hình ảnh xấu đó của một số cán bộ, đảng viên. Người nêu rõ: “Chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”(6).

Uy tín và hình ảnh tốt đẹp của người cán bộ phải xuất phát từ sự tận tụy, hết lòng, hết sức vì việc công, “dĩ công vi thượng”, không tơ hào, vun vén cho lợi ích bản thân và gia đình mình, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không quan liêu, xa cách và hống hách với dân, luôn khiêm nhường, giản dị trong cuộc sống. Muốn vậy, Đảng, chính quyền phải ra sức giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, phép nước; đồng thời, mỗi người phải có ý thức tự rèn luyện, tự tu dưỡng thường xuyên, liên tục. Ở đây, việc tu thân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nhắc nhở chính bản thân mình: “Gian nan rèn luyện mới thành công”.

Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10-1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày toàn diện, sâu sắc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền. Người nêu ra 12 điều về tư cách của Đảng chân chính cách mạng và khẳng định:

Muốn cho Đảng được vững bền
Mười hai điều đó chớ quên điều nào(7).

Đó là sự tổng kết sâu sắc của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm sáng rõ nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn về công cuộc xây dựng đảng cộng sản phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam; trong đó, Người đặc biệt nhấn mạnh bản chất cách mạng, mục tiêu, nhiệm vụ, tính tiên phong, các nguyên tắc hoạt động, đường lối, kỷ luật của Đảng và những yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những nội dung đó đều trực tiếp đặt ra nhiệm vụ, bổn phận của đảng viên và cán bộ trước Đảng và dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ bản chất, lý tưởng của Đảng mà mỗi người đều phải ghi nhớ, thấm nhuần để phấn đấu: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(8).

Về bổn phận, trách nhiệm và tư cách của đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, phải trọng lợi ích của Đảng hơn hết và chú trọng rèn luyện đạo đức cách mạng theo các yêu cầu: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”(9). Cán bộ, đảng viên phải giữ nghiêm kỷ luật; có ý thức sửa chữa các khuyết điểm, sai lầm có nguồn gốc từ chủ nghĩa cá nhân, như tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi, địa phương và các căn bệnh khác, như chủ quan, cẩu thả, hình thức, ích kỷ, xa quần chúng.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một khi cán bộ, đảng viên nào mắc vào các căn bệnh đó thì đều trực tiếp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, sức mạnh và sự lãnh đạo của Đảng. “Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng”(10).

Đội ngũ cán bộ, đảng viên có vị trí, vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đó là lý do vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục, đào tạo, huấn luyện cán bộ; coi cán bộ là cái gốc của mọi công việc, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. “Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”(11).

Hình ảnh, uy tín của mỗi cán bộ, đảng viên góp phần làm nên uy tín, thanh danh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, uy tín, hình ảnh của đảng viên, cán bộ trở nên sâu đậm trong lòng dân chúng chính là bởi những hành động, việc làm cao đẹp của họ. Người đã khái quát trách nhiệm, bổn phận của cán bộ, đảng viên trên những phương diện chủ yếu: Suốt đời tranh đấu cho dân tộc, cho Tổ quốc; đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, trước hết; hết sức giữ kỷ luật và giữ bí mật của Đảng; cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc; cố gắng học tập chính trị, quân sự, văn hóa; phải gần gũi quần chúng, học hỏi quần chúng, cũng như phải lãnh đạo quần chúng. Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc(12).

Trong bản Di chúc lịch sử (năm 1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình; phải thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình; phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(13).

Nhân dịp tết Nguyên đán Quý Mão 2023 và kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2023), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nhà 67 trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Phủ Chủ tịch_Ảnh: TTXVN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về uy tín, hình ảnh người cán bộ, đảng viên vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và xây dựng hình ảnh, uy tín người cán bộ, đảng viên nói riêng trong điều kiện hiện nay, Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) chủ trương tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; giải quyết đúng đắn các mối quan hệ: Giữa xây dựng Đảng với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị; xây dựng với chỉnh đốn Đảng, kết hợp “xây” và “chống”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, chống tham nhũng, tiêu cực; giữa xây dựng với bảo vệ Đảng, chú trọng bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ tổ chức đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu, coi công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”; thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Tổng kết quá trình xây dựng Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn mới, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh những nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Ba nhiệm vụ trọng tâm là: (1) Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh và thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương. (2) Đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. (3) Tiếp tục đổi mới, kiện toàn và từng bước hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”(14). Đại hội cũng chỉ ra “Ba giải pháp đột phá là: (1) Tiếp tục hoàn thiện thể chế về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là công tác tổ chức, cán bộ. (2) Phát huy dân chủ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường đổi mới sáng tạo trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. (3) Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực”(15).

Những nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá mà Đại hội XIII của Đảng nêu ra đều hướng tới vấn đề then chốt trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công tác cán bộ, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ uy tín, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ được đề cập ở đây bao gồm cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị các cấp, trong đó Đảng ta đặc biệt chú trọng tới vai trò của người đứng đầu; bên cạnh đó là cán bộ quản lý các doanh nghiệp nhà nước; cán bộ khoa học; cán bộ lực lượng vũ trang (lãnh đạo, chỉ huy); đội ngũ công chức, viên chức. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ hiện nay đều được đào tạo cơ bản từ hệ thống giáo dục quốc dân ở rất nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, đều trưởng thành từ thực tiễn công tác, được tuyển chọn, bổ nhiệm theo chiến lược cán bộ của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, cán bộ trong hệ thống chính trị là những người được Đảng giáo dục, phân công đảm trách những chức vụ từ Trung ương tới cơ sở và có trách nhiệm vận hành hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì sự phát triển, phồn vinh của đất nước, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân.

Thực tế cho thấy, cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý tốt, giỏi có vai trò quyết định đến sự phát triển của từng địa phương, từng lĩnh vực hoạt động và phạm vi phụ trách. Nếu cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, mà yếu kém thì kết quả lãnh đạo, quản lý cũng sẽ kém, trì trệ, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, đến uy tín của Đảng và niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và chế độ. Lựa chọn được cán bộ tốt sẽ góp phần đưa đất nước, địa phương, ngành, lĩnh vực đó phát triển; còn cán bộ kém sẽ dẫn đến không thành công, suy thoái, tham nhũng, tiêu cực. Uy tín, hình ảnh tốt đẹp của cán bộ lãnh đạo, quản lý bao giờ cũng là kết quả phản ánh sự phát triển và đổi mới sáng tạo. Ở đây, cần nắm vững quan điểm của Đảng, công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu là nhiệm vụ then chốt trong xây dựng Đảng và có vai trò, ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển đất nước.

Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm sự phát triển thực chất cũng có nghĩa là thực hiện tốt nhất mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đặt ra. Điều đó đương nhiên phải gắn liền với hoàn thiện tổ chức bộ máy, xác định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng và có cơ chế vận hành thông suốt. Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng (tháng 10-2021) nêu rõ: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”(16); trong đó, “Bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, quán triệt sâu sắc vai trò của công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, có ý nghĩa quyết định mọi thành công của cách mạng nước ta cả trước mắt và lâu dài”(17).

Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh, công tác cán bộ phải gắn liền với thực hiện chủ trương của Đảng về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, giữ vững vị thế cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, sự hoạt động đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Theo đó, việc củng cố, giữ gìn uy tín, hình ảnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn trong toàn Đảng, trong cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn xã hội.

Uy tín, hình ảnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được xây dựng dựa trên trình độ trí tuệ, năng lực thực hiện sự lãnh đạo, quản lý, phẩm hạnh, đạo đức của người cộng sản và phong cách khoa học, dân chủ, tình thương yêu đồng chí, đồng bào. Do vậy, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhấn mạnh đến nhiệm vụ tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Dù ở bất kỳ vị trí nào, người cán bộ cũng phải luôn ý thức đầy đủ về trách nhiệm và nghĩa vụ, thật sự chuyên nghiệp, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, ủng hộ.

Khi người cán bộ, đảng viên có được uy tín trong Đảng và trong nhân dân, được đồng chí, đồng bào quý trọng thì đó là niềm hạnh phúc, tự hào rất to lớn. Uy tín đó đến từ sự hết lòng, hết sức vì công việc, luôn luôn đặt lợi ích của tập thể, lợi ích chung lên trên hết, trước hết; không vụ lợi, thu vén lợi ích cho cá nhân, gia đình, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu lợi riêng; gương mẫu trong mọi việc; luôn luôn đề cao trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân; thật sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, dám vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn luôn thực hiện phương châm “nói đi đôi với làm”, đã “nói thì phải làm”, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh, như Bác Hồ từng nhiều lần căn dặn. Người cán bộ, đảng viên xây dựng cho mình phong cách làm việc dân chủ, đoàn kết, thân thiện; tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân, bàn bạc với dân trước khi đưa ra quyết định; có khuyết điểm hay việc gì chưa làm tốt thì sẵn sàng, chân thành nhận lỗi và quyết tâm sửa chữa.

Uy tín, hình ảnh đẹp của người cán bộ, đảng viên còn bắt nguồn từ lối sống trong sáng, khiêm tốn, giản dị, hòa đồng, luôn luôn vì mọi người, tình yêu thương, quý trọng đồng chí và nhân dân; không quan liêu, xa dân; nói không với tham nhũng, lãng phí, xa hoa, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Hạnh dục phương”, nghĩa là đạo đức, phẩm hạnh phải vuông vắn, ngay thẳng, không làm điều gì khuất tất, biết giữ danh giá của mình, cũng là bảo vệ thanh danh của Đảng. Cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chủ chốt, phải là tấm gương sáng để quần chúng noi theo. Đảng ta chú trọng đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái để làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh và cũng là để làm cho cán bộ, đảng viên biết chủ động tránh xa cái xấu, tích cực rèn luyện nhân cách, danh dự của người cộng sản. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh, danh dự mới là điều cao quý, thiêng liêng nhất đối với người cán bộ, đảng viên. Để có được điều thiêng liêng, cao quý đó, mỗi người phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện trách nhiệm nêu gương; cần đề cao “tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa””(18). Nếu có khuyết điểm thì dũng cảm, nghiêm túc “tự soi”, “tự sửa” và đó cũng là biện pháp quan trọng để giữ gìn danh dự, uy tín của người cộng sản. Ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”. Nghị quyết nhấn mạnh việc giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên.

Cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng thăm hỏi đồng bào_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Cán bộ, đảng viên của Đảng dù ở vị trí nào, chức vụ nào cũng đều cần có ý thức giữ gìn uy tín, danh dự, hình ảnh của mình để xứng đáng là cán bộ lãnh đạo, quản lý và nhận được sự tin yêu của nhân dân. Có được điều đó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu lâu dài của bản thân mỗi người cán bộ, đảng viên, đồng thời có sự quan tâm giúp đỡ của tổ chức trong công tác cán bộ và sự tín nhiệm của đồng chí, của nhân dân. Đến lượt mình, hình ảnh và uy tín lại là điều kiện cần thiết bảo đảm cho mỗi người thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ và cống hiến, góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc. Nếu không chú trọng giữ gìn những giá trị cao quý đó, không kiểm soát được bản thân, sa vào chủ nghĩa cá nhân, để cho tham vọng quyền lực, ham muốn lợi ích vật chất chi phối sẽ dẫn tới tham nhũng, quan liêu, lãng phí, xa hoa và những tiêu cực khác, tự biến mình thành “quan cách mạng” như cách gọi của Bác Hồ; “những ông vua con” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở, phê bình. Và như thế, người cán bộ sẽ tự làm xấu đi hình ảnh, mất hết uy tín, không thể làm tròn nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân tin tưởng, giao phó.

Cán bộ cấp chiến lược có vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp cách mạng của Đảng, xã hội và đất nước. Đội ngũ này góp phần hoạch định và trực tiếp lãnh đạo thực hiện những vấn đề chiến lược của cách mạng. Uy tín cao và hình ảnh đẹp của cán bộ cấp chiến lược là niềm tự hào của Đảng. Tuy nhiên, nếu cán bộ nào mắc sai phạm thì đều gây tác động xấu trong Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân; vì vậy, cán bộ cấp chiến lược lại càng phải đặc biệt chú trọng giữ gìn uy tín và danh dự của mình. Đối với cán bộ, đảng viên các cấp, uy tín và danh dự luôn luôn được nhân dân quan tâm, theo dõi. Trong công việc và cuộc sống, nhất là khi tiếp xúc trực tiếp với dân, người cán bộ cần phải giữ gìn hình ảnh và uy tín của mình để được nhân dân tin yêu, quý trọng, góp phần bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc đi đến thắng lợi./.

-----------------------------

(1) Xem: Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 280 - 281
(2), (3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 4, tr. 51, 51, 52
(5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 4, tr. 66
(7), (8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 5, tr. 290, 289, 292
(10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 5, tr. 298, 313
(12) Xem:  Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 5, tr. 306 - 307
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 15, tr. 622
(14), (15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 256 - 257, 257
(16), (17) Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 96
(18) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 336

Một số nhận thức lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa qua các tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 TCCS - Các bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong nhiều năm qua, đặc biệt từ Đại hội XI của Đảng đến nay đã thể hiện hệ thống quan điểm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng sâu sắc và toàn diện. Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong quan điểm của đồng chí Tổng Bí thư là những vấn đề lớn có ý nghĩa chỉ đạo tổng thể, mang tính nền tảng về lý luận và thực tiễn, nội hàm sâu rộng với những nội dung quan trọng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu dự Kỳ họp bất thường lần thứ hai, Quốc hội khóa XV_Ảnh: TTXVN

Giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền theo quy định của Hiến pháp

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đồng thời tạo nên sự khác biệt lớn nhất giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nhà nước pháp quyền ở các nước tư bản phương Tây. Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền không có nghĩa là làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, mà góp phần quan trọng nâng cao vị thế, năng lực lãnh đạo của Đảng, củng cố địa vị cầm quyền của Đảng, hoàn thành sứ mệnh tiên phong của Đảng. Trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Tư pháp (ngày 24-8-2015), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định và nhấn mạnh nội dung mang tính nguyên tắc này: “… trong bất luận hoàn cảnh nào, phải kiên định lập trường tư tưởng, luôn giữ vững mục tiêu, quan điểm, đường lối của Đảng ta trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống luật pháp của nước ta… Chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - một nhà nước thực sự kiến tạo khuôn khổ thể chế, pháp luật cho sự phát triển của đất nước, của dân tộc… Nhưng phải luôn nhớ là Nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho Nhà nước vận hành trôi chảy, vừa tiếp nhận, phát triển những giá trị đã được khẳng định của văn minh nhân loại, vừa phải phù hợp với những giá trị tốt đẹp của truyền thống Việt Nam, phù hợp với yêu cầu của chế độ ta, đất nước ta trong giai đoạn phát triển mới. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, rất hệ trọng”(1)Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ, phát huy quyền con người, quyền công dân, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước trở thành phương thức quan trọng hàng đầu trong các phương thức lãnh đạo của Đảng, khẳng định địa vị cầm quyền của Đảng khi quyền lực chính trị được chính danh hóa trong quyền lực công; và nhờ đó, đường lối của Đảng được thể chế hóa, nguồn lực và sức mạnh của Nhà nước được sử dụng để phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Ở nước ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội là tất yếu khách quan, thể hiện tính chính danh về sự cầm quyền được hiến định, được lịch sử lựa chọn, nhân dân tin tưởng trao trọng trách và tuyệt đối tin theo, nhất là được kiểm chứng trên thực tiễn bằng bản lĩnh, uy tín, năng lực, đạo đức của một đảng cách mạng chân chính, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo và trách nhiệm cầm quyền vì lợi ích của quốc gia - dân tộc, vì ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Nhân dân là cơ sở xã hội, là nguồn sức mạnh hùng hậu của Đảng, bởi vậy, phục vụ nhân dân là lý do tồn tại của Đảng. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải hợp lòng dân, xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân, "ý Đảng" phải gắn với "lòng dân". Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nhằm bảo đảm Nhà nước luôn là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, hoạt động đúng Hiến pháp, pháp luật, làm tốt hơn việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mọi tổ chức và cá nhân, vì tự do, hạnh phúc của con người và sự phát triển bền vững của đất nước. Thước đo tính đúng đắn, uy tín lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước cuối cùng phải được thể hiện ở hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Năng lực, hiệu quả hoạt động, uy tín xã hội của Nhà nước không chỉ do các tổ chức đảng đánh giá, mà còn dựa vào sự đánh giá công khai, dân chủ của người dân, cộng đồng và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ ở cấp trung ương, mà ở cả cấp địa phương, thể hiện trong mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức đảng và các cơ quan, tổ chức nhà nước các cấp. Trên cơ sở Cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà nước và các thiết chế khác trong hệ thống chính trị. Đó là những phương hướng lớn cho sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, là những quan điểm cơ bản của chính sách đối nội và đối ngoại. Cương lĩnh, chiến lược, đường lối đúng đắn, khoa học và phù hợp xu thế thời đại là điều kiện cơ bản để Đảng phát huy được vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Đây cũng chính là vị thế, trách nhiệm, quyền lực chính trị, tính chính danh của Đảng(2).

“Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, Hiến pháp và pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp”(3). Trách nhiệm của Nhà nước là phải kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành các chính sách, pháp luật và tổ chức thi hành các chính sách, pháp luật đó một cách kịp thời, triệt để. Lãnh đạo việc thể chế hóa đó là một nội dung quan trọng trong sự cầm quyền của Đảng, thể hiện sự cầm quyền của Đảng bằng pháp luật, hay nói cách khác, ý chí của Đảng được thực hiện bằng tất cả sức mạnh của luật pháp. Sự lãnh đạo này bảo đảm cho luật pháp được thực hiện công bằng, không thiên vị, phản ánh đúng nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; loại trừ các biểu hiện “lợi ích nhóm” có thể bị “cài cắm” trong hoạch định chính sách, pháp luật, nhất là trong điều kiện “nhóm lợi ích” có sự vận động phức tạp, tìm cách hướng lái chính sách, pháp luật để trục lợi, gây tổn hại đến lợi ích chung.

Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Tuy nhiên, sự lãnh đạo này luôn luôn mang tính chất chính trị. Điều đó có nghĩa là, Đảng xác định mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, sao cho Nhà nước thật sự là tổ chức quyền lực của nhân dân, thể hiện tập trung và đầy đủ nhất ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; vạch ra đường lối chiến lược về đối nội, đối ngoại để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật ấy; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Nhà nước, giới thiệu đảng viên ưu tú và người ngoài Đảng đủ năng lực, phẩm chất để cử tri bầu vào các cơ quan dân cử hoặc để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, bố trí vào những vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước; giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên và quần chúng; kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Để thực hiện thành công vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước, Đảng sử dụng các phương pháp chủ yếu như tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục và tự nêu gương của đảng viên làm việc trong bộ máy nhà nước. Mọi tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật(4).

Muốn thực hiện tốt nguyên tắc đó, đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm của tất cả các chủ thể, bao gồm Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời phải thực hiện tốt cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Đảng phải thường xuyên phân tích, đánh giá, tổng kết thực tiễn để kịp thời đưa ra những quyết sách đúng đắn, nhằm tiếp tục lãnh đạo Nhà nước và vận động, hướng dẫn nhân dân thực hiện. Mặt khác, phải hoàn thiện hệ thống và cơ chế hoạt động để Đảng lãnh đạo toàn diện các mặt của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp. Đồng thời, cần đẩy mạnh thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng thông qua xây dựng và phát huy vai trò của Nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống chính trị đất nước. Chính vì vậy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần yêu cầu tập trung nghiên cứu, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; trong đó xác định trọng tâm là xây dựng hệ thống chính trị đồng bộ, thống nhất, phù hợp, phân quyền, phân cấp khoa học, rõ ràng. Đồng chí nêu rõ: “Cần nêu cao hơn nữa quyết tâm chính trị trong việc hoàn thiện bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị phù hợp hơn với điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Nghiêm túc thể chế hóa và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở và hệ thống các đơn vị sự nghiệp trong cả nước”(5). Thực tiễn đã chứng minh rằng, chế độ chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nước ta phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của đất nước với tính ưu việt rất rõ ràng.

Kế thừa quan điểm mang tính nguyên tắc đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đã khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; luôn phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(6).

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ thăm, chúc tết ngư dân tại khu neo đậu tàu thuyền Cửa Phú, xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình_Ảnh: TTXVN

Đặc trưng cốt lõi của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền và lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân theo quy định của pháp luật

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhằm quản trị toàn diện đất nước theo pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, bảo vệ, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người dân; người dân được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là “Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm để mỗi người dân chủ động, tích cực sử dụng, thực hiện đúng đắn và an toàn các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân trong làm ăn, sinh sống, đóng góp mọi sức người, sức của, năng lực và trí tuệ xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”(7). Điều này cũng có nghĩa là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là Nhà nước mà nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước; nhân dân có toàn quyền quyết định tính chất, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, mục tiêu, phương hướng hoạt động, xu hướng phát triển của bộ máy nhà nước, sử dụng bộ máy nhà nước để thực hiện quyền lực của mình và kiểm tra, giám sát sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập; mọi vấn đề quan trọng liên quan đến lợi ích chung của cả nước và của địa phương đều do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp thảo luận, bàn bạc, quyết định, thực hiện. Đồng thời, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải có tổ chức bộ máy tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thuận tiện cho nhân dân sử dụng quyền lực của mình và kiểm tra, giám sát hoạt động của chính bộ máy đó; có mục đích hoạt động vì lợi ích của nhân dân; mọi chủ trương, chính sách, pháp luật đều được xây dựng và thực hiện xuất phát từ lợi ích của nhân dân và vì lợi ích của nhân dân; các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; công cuộc cải cách bộ máy nhà nước hiện nay cũng nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân.

Với sự phát triển của kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, yêu cầu của người dân về dân chủ, pháp quyền, công bằng, công lý, an ninh và bảo vệ môi trường ngày càng lớn. Vì thế, quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện sự hoàn thiện không ngừng trong lý luận và thực tiễn về xây dựng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. 

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mục đích của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là nhằm giữ vững và phát huy mạnh mẽ hơn nữa tính nhân dân, tính dân chủ và nhân văn của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng chí nêu rõ mục đích tối thượng này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng hệ thống chính trị đất nước: “Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế từng bước được xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”(8). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, tính nhân dân là đặc trưng thể hiện sự khác biệt về mặt bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với nhà nước pháp quyền tư sản: “Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”(9). Chính tính nhân dân đã làm cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có được tính dân chủ thực sự và tính nhân văn sâu sắc.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, giữ vững tính nhân dân của Nhà nước là giữ cho Nhà nước luôn luôn là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giữ vững tính dân chủ của Nhà nước là giữ cho Nhà nước luôn luôn là nhà nước mà trong tổ chức và hoạt động của nó đều có sự tham gia tích cực và đông đảo của nhân dân; công dân được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp mà Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm, đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm mở rộng các quyền, lợi ích hợp pháp đó phù hợp với sự phát triển của xã hội. Giữ vững tính nhân văn của Nhà nước là giữ cho nhà nước luôn luôn là Nhà nước mà mọi chủ trương, chính sách, pháp luật đều xuất phát từ nhu cầu, lợi ích cơ bản và chính đáng của con người và nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích đó; bên cạnh những chủ trương, chính sách, pháp luật có giá trị như nhau đối với mọi người, còn có các chủ trương, chính sách, pháp luật dành riêng cho các đối tượng đặc biệt, người yếu thế, như: người và gia đình có công với cách mạng, trẻ em, người già, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa...

Việc giải quyết những vấn đề mang tính nguyên tắc đó cũng đã được Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII khẳng định là một nhiệm vụ lớn cần phải nghiêm túc thực hiện trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”(10), với quan điểm bao trùm là “lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”(11). Theo đó, Đảng xác định cần thể chế hóa đầy đủ và thực hiện đúng đắn, hiệu quả cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở; có cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; đổi mới cơ chế bầu cử để lựa chọn được những người xứng đáng đại diện cho nhân dân; phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế, đề cao đạo đức xã hội và trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương; đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân(12),…

Hệ thống pháp luật là xương sống của hệ thống quản trị quốc gia. Do vậy, để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi để tiếp tục thể chế hóa Cương lĩnh chính trị, các quan điểm, đường lối của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh. Muốn thế, cần bám sát, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và phân tích, nắm chắc yêu cầu thực tiễn cuộc sống; đồng thời tiếp tục tăng cường năng lực và nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động lập pháp, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, bảo đảm tốt hơn tính dân chủ, pháp chế, công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật… Tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền con người, quyền công dân”(13).

Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam gắn liền với việc giữ vững ổn định chính trị, đổi mới toàn diện hệ thống chính trị, phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước

Thứ nhất, giữ vững ổn định chính trị

Sự ổn định chính trị là một trong những điều kiện quan trọng nhất để xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Vì vậy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhất định phải được thực hiện trên nền tảng của sự ổn định chính trị: “Giữ vững ổn định chính trị, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân(14). Sự ổn định chính trị phụ thuộc vào sự ổn định của Nhà nước, vì Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là tấm gương hội tụ và phản chiếu tập trung nhất toàn bộ đời sống chính trị của đất nước, là công cụ chủ yếu nhất và có hiệu lực nhất để xây dựng, củng cố, bảo vệ và phát huy nền chính trị xã hội chủ nghĩa. Có thể nói, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực chất là một cuộc “cách mạng” trong Nhà nước, do đó, nếu không được tiến hành một cách khoa học thì sẽ làm mất sự ổn định trong Nhà nước, từ đó sẽ làm mất sự ổn định chính trị của cả đất nước.

Thứ hai, đổi mới toàn diện hệ thống chính trị

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bộ phận trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với Đảng cầm quyền và các tổ chức chính trị - xã hội khác. Sức mạnh của Nhà nước có được là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự tham gia tích cực và sự giúp đỡ to lớn của các tổ chức chính trị - xã hội khác; ngược lại, chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước cũng như mức độ phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xã hội phụ thuộc rất lớn vào hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Nhận thức rõ mối quan hệ khăng khít này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn đặt nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đồng chí Tổng Bí thư khẳng định mục tiêu chung là“Xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trọng tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa liêm chính, phát triển; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, trí tuệ; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”(15)Có thể nói, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là kết quả tổng hợp của toàn bộ công cuộc đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Theo Tổng Bí thư, hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm yêu cầu: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, hiệu lực, hiệu quả hơn. Xây dựng Nhà nước về cả lập pháp, hành pháp và tư pháp, gắn với đổi mới, hoàn thiện chính quyền các địa phương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện nghiêm pháp luật theo các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp năm 2013”(16).

Thứ ba, phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chỉ có thể xây dựng được trên cơ sở nền kinh tế phát triển, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xã hội dân chủ, công bằng, bình đẳng; ngược lại, nền kinh tế phát triển, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xã hội dân chủ, công bằng, bình đẳng cũng chỉ có thể được xây dựng khi có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Do đó, cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền đồng bộ, toàn diện, đồng thời với các mặt hoạt động khác trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Tiếp tục có những chủ trương, giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, xây dựng con người; đổi mới quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, phát huy dân chủ, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng Ðảng ngày càng trong sạch, vững mạnh”(17). Với ý nghĩa như vậy, bất cứ hoạt động nào của Nhà nước và xã hội liên quan tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đều phải theo phương châm: Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là nhằm phục vụ xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là để phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII xác định, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần “đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kiên trì, hiệu quả; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(18).

Như vậy có thể thấy, quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay với tính chất “là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”(19). Theo đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kết quả tổng hợp của việc thực hiện toàn bộ những phương hướng và giải pháp về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học, pháp luật… dưới sự lãnh đạo của Đảng. Các luận điểm quan trọng trong hệ thống quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về vấn đề này cung cấp vũ khí tư tưởng - pháp lý, định hướng khoa học, hướng dẫn hành động cho sự phát triển của Đảng và đất nước trong tình hình mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một bộ phận quan trọng của mục tiêu tổng thể quản trị đất nước bằng pháp luật, là tiền đề, nền tảng để xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

-------------------------

Nêu gương - một phương thức lãnh đạo của Đảng có sức lan tỏa và truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân

 TCCS - Thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng ta trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Hành động gương mẫu, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chính là “mệnh lệnh không lời”, trực tiếp truyền cảm hứng mạnh mẽ cho nhân dân học tập, noi theo; qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi các xã viên tại vườn chè của Hợp tác xã chè Hảo Đạt, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên_Ảnh: thainguyen.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Nêu gương vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa là phương pháp giáo dục có sức thuyết phục tốt nhất, hiệu quả nhất. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(1); “nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(2). Vì vậy, Người đặc biệt coi trọng trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt là ở những thời điểm vô cùng khó khăn, đầy thử thách của sự nghiệp cách mạng. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có ý thức thực hành trách nhiệm nêu gương và đã trở thành tấm gương sáng ngời, có sức lan tỏa và truyền cảm hứng vô cùng mạnh mẽ để cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, noi theo.

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đặc biệt chú trọng, chăm lo giáo dục, rèn luyện, đề cao tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên đã trở thành những tấm gương sáng, sẵn sàng hy sinh quên mình vì thắng lợi của cách mạng và hạnh phúc của nhân dân; cho dù phải chịu cực hình tàn khốc, tra tấn, tù đày, lên máy chém của kẻ thù..., họ vẫn một lòng, một dạ kiên trung với Đảng và Tổ quốc, giữ vững khí tiết của người cộng sản, khiến cho kẻ thù phải run sợ.

Trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, phương thức lãnh đạo của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn cách mạng. Đặc biệt, phương thức lãnh đạo bằng sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng phát huy hiệu lực và có sức lan tỏa, truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân; đồng thời, được Đảng ta và các cấp, các ngành, mọi cán bộ, đảng viên thấm nhuần, thực hiện có hiệu quả. Nhiều cán bộ, đảng viên đã không quản ngại khó khăn, vất vả, lao tâm, khổ trí, chịu đựng hy sinh, gian khổ, một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, quyết tâm tìm tòi con đường đổi mới sáng tạo, đóng góp vào sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(3).

Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chủ trương, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên(4); đồng thời, khẳng định nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người cán bộ, đảng viên trước nhân dân. Sau khi các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên được ban hành, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã quán triệt sâu sắc và nghiêm túc thực hiện. Ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, đã được nâng lên rõ rệt, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ; góp phần hữu hiệu ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, quan liêu và mọi biểu hiện tiêu cực trong cơ quan, đơn vị và địa phương; góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận nêu trên, việc quán triệt, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn có những hạn chế nhất định. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ chốt, quán triệt không nghiêm túc, nhận thức chưa thật đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp nêu gương, dẫn đến tình trạng chưa rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nêu gương, chưa thật sự mẫu mực trong lời nói, việc làm, trong rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, sinh hoạt; còn có những biểu hiện “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt là, một số cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước rất nghiêm trọng, đến mức phải xử lý kỷ luật đảng, truy cứu trách nhiệm hình sự, gây dư luận bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Đáng chú ý là, nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị ráo riết chống phá Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng mua chuộc, lôi kéo, làm hư hỏng, biến chất một số cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh, thậm chí có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng”, coi đây là lực lượng nòng cốt để “tạo dựng ngọn cờ” chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong bối cảnh, tình hình mới, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền bá các sản phẩm văn hóa xấu, độc, đề cao lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, quên tình nghĩa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của Đảng; làm cho không ít cán bộ, đảng viên rơi vào suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khiến họ không còn xứng đáng là tấm gương để quần chúng nhân dân học tập, noi theo.

Hiện nay, thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu mới về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”; theo đó, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi Đảng ta phải tăng cường tổng kết và tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần phát huy hiệu quả phương thức lãnh đạo bằng nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhằm góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới. Muốn vậy, tổ chức đảng các cấp phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với việc thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII, khóa XIII) về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, chủ động đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thực hiện tốt phương châm nêu gương “trên trước, dưới sau”, “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, “trong Đảng trước, ngoài Đảng sau”, đảng viên nêu gương trước quần chúng nhân dân.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Thàng Tín, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang giúp đồng bào thu hoạch lúa_Ảnh: TTXVN

Cán bộ chủ trì các cấp phải nêu gương trong lời nói và việc làm; ở bất cứ đâu, ở mọi thời điểm, phải luôn nhất quán giữa lời nói và hành động, phải phát ngôn đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mỗi lời nói, bài viết phải thể hiện rõ sự mẫu mực về tính đảng, vì lợi ích chung của tập thể và nhân dân; đồng thời, thể hiện rõ niềm tin yêu, lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải luôn quan tâm, chăm lo đến lợi ích, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đột phá sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách; thực hiện nói đi đôi với làm; luôn tận tụy, tâm huyết với công việc; hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; luôn là người đi đầu trong mọi hoạt động của cơ quan, địa phương, đơn vị. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, khắc phục mọi biểu hiện thiếu gương mẫu, “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, “nói một đằng, làm một nẻo”; phải có dũng khí vượt qua mọi cám dỗ, khó khăn, thử thách, để chiến thắng chính mình và giúp đỡ cấp dưới khi họ mắc sai lầm, khuyết điểm để ngày càng tiến bộ, trưởng thành; kiên quyết chống mọi biểu hiện tham nhũng, tiêu cực.

Để phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần tập trung thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau:

Một là, vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng, của cấp ủy, tổ chức đảng về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp cần tự giác nêu gương, tích cực tự giác học tập, nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên; đặc biệt, cần tiếp tục “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”(5).

Phát huy vai trò của các cơ quan chức năng, nhất là các cơ quan thông tấn, báo chí trong tuyên truyền, giáo dục, nhằm làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức được một cách đầy đủ, sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của trách nhiệm nêu gương. Tích cực nhân rộng những điển hình tiên tiến thành các phong trào hành động cách mạng sâu rộng, phong phú, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành các tiêu chí, quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên cho phù hợp với tình hình thực tiễn và chức trách, nhiệm vụ được giao.

Đây là cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa”, phát huy vai trò nêu gương trong từng hoạt động cụ thể; đồng thời, là căn cứ để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, đảng viên theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện trách nhiệm nêu gương. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quyền hạn được giao, bám sát các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về nêu gương và phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; căn cứ vào tình hình thực tiễn đơn vị, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ từng cấp để xây dựng các tiêu chí cụ thể về nêu gương trong lời nói, việc làm, trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ, để cán bộ, đảng viên xứng đáng là tấm gương sáng cho nhân dân học tập, noi theo.

Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, cần coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết để kịp thời bổ sung, điều chỉnh các tiêu chí, quy định, bảo đảm thực hiện có hiệu quả trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tránh cách làm phô trương, hình thức, chiếu lệ. Bản thân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải thường xuyên bám sát các tiêu chí, quy định về nêu gương để “tự soi”, “tự sửa” từ lời nói, việc làm đến tự tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt; lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân làm cơ sở để tiếp tục thực hiện tốt hơn trách nhiệm nêu gương.

Ba là, tiếp tục quán triệt, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là sự thể hiện sinh động việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; thực hiện sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần tiếp tục giáo dục, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của việc thực hiện trách nhiệm nêu gương ở đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tích cực phát động các phong trào thi đua, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào từng hoạt động thông qua lời nói và việc làm cụ thể từng tuần, từng tháng, từng quý; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, để đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành hoạt động thường xuyên, liên tục, có hiệu quả.

Bốn là, thường xuyên tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Một mặt, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải đặc biệt coi trọng và có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thật chặt chẽ, sát sao, bảo đảm thực hiện có hiệu quả tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Hằng tháng, hằng quý và hằng năm, các cấp ủy cần phải có nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo, xác định rõ mục tiêu, nội dung, biện pháp kiểm điểm việc tự phê bình và phê bình của đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương. Ở đây, cần gắn kết chặt chẽ việc kiểm điểm, phân loại đảng viên, tổ chức đảng và nhận xét, đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ hằng năm với kiểm điểm tự phê bình, phê bình và trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Mặt khác, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền, nhân rộng những tấm gương “người tốt, việc tốt”, những cách làm hay, những điển hình tiên tiến về thực hiện trách nhiệm nêu gương; đồng thời, phê phán mọi biểu hiện, hành vi thiếu gương mẫu trong lời nói, việc làm của cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./.

------------------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 1, tr. 284
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 223
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 88
(4) Như: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”.
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,  Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 183 - 184