Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

ĐÀI LOAN - KẺ TÁCH RA TỪ TRUNG QUỐC!

     Mới đây nhất, các kênh báo chí truyền thông của Đài Loan đang được dịp lên đồng, hớt hải và phẫn nộ đưa tin như thể vừa phát hiện ra một chúa mới - chúa Trump đang đấu tố chúa ba ngôi.

Họ cho rằng Việt Nam vì muốn "nịnh" Trung Quốc sau chuyến thăm của Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Tô Lâm, thế nên mới công nhận Đài Loan thuộc Trung Quốc.

Ô kìa, các bạn Đài Trang à quên Đài Loan! hình như các bạn đã sống quá lâu trong cái bong bóng tự huyễn mang tên "vị thế quốc tế" nên mới ngỡ ngàng đến thế. 

Hãy tỉnh cơn mê đi, hãy chấp nhận một sự thật đó chính là: 
- Việt Nam tôn trọng chính sách "Một Trung Quốc" vốn dĩ là chân lý sắt đá từ khi các bạn còn đang bận cho tay vào trong quần. 
Chẵng qua bấy lâu nay Việt Nam chúng tôi trước giờ vẫn luôn lịch sự, giữ cho các bạn chút "mặt mũi" cuối cùng nên không muốn nói thẳng vào mặt rằng các bạn chỉ là một tỉnh đảo của Trung Quốc . 
Mà các bạn Đài không biết Tưởng Giới Thạch là ai? Các bạn Đài không biết lịch sử vì sao lại có hòn đảo Củ khoai mà các bạn gọi là Đất nước Đài Loan.

Đây, tôi nói bạn nghe nhé. Trong các văn kiện ngoại giao chính thức Việt Nam chúng tôi vẫn luôn dùng cụm từ Đài Loan - Trung Quốc. ( Đài Loan gạch ngang Trung Quốc) Chắc các bạn lại không hiểu tiếng Việt?

Tiếng Anh thì gọi là Taiwan, China. Như ngay cái gọi là cơ quan đại diện của Việt Nam tại Đài Loan chỉ có tên gọi khiêm tốn là "Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc". 
Hai chữ "Đại sứ quán" là một thứ xa xỉ phẩm mà các bạn chỉ có thể thấy trong giấc mơ hoặc trên phim của SETN mà thôi.

Nhưng, cái các bạn Đài Loan phải tự cảm thấy nhục nhã nhất đó là cú "vắt chanh bỏ vỏ" đi vào lịch sử của "Bố Mỹ" của các bạn.

Đáng cười nhất là cái cách truyền thông Đài Loan luôn tung hô Mỹ như đồng minh, như "vị cứu tinh" mạnh mẽ. 
Nhưng các bạn có trí nhớ ngắn hạn hay đang cố tình quên đi cái tát nảy lửa vào năm 1971?
- Chính "Bố Mẽo" vĩ đại của các bạn, vì muốn bắt tay với Bắc Kinh để tìm lối thoát trong Chiến tranh Lạnh, đã chẳng ngần ngại mà "đá đít" Đài Loan ra khỏi Liên Hợp Quốc không thương tiếc. 
Mỹ đã gật đầu đồng ý với Nghị quyết 2758, tước đoạt cái ghế của các bạn để dâng tận tay cho Trung Quốc lục địa nhằm đổi lấy một cái bắt tay ngoại giao đầy toan tính.

Đấy, nhìn mà học tập. Khi cần "lấy lòng" kẻ mạnh thực sự, Mỹ sẵn sàng vứt bỏ Đài Loan như một đôi giày cũ.

Vậy mà bây giờ các bạn lại đi trách Việt Nam "nịnh" Trung Quốc?
Việt Nam ít nhất còn nhất quán và trung thực, chứ không "diễn kịch" rồi đâm sau lưng đồng minh một cách nghệ thuật như cái cách Mỹ đã làm với các bạn.

Thế giới này rộng lớn lắm, nhưng chẳng có chỗ cho "Hộ khẩu" Đài Loan trong cái Châu Á này!
Đài Loan cứ ngỡ mình là cái rốn của vũ trụ, nhưng thực tế phũ phàng là Mỹ chỉ xem các bạn là một "thực thể chính trị" - một thuật ngữ ngoại giao bóng bẩy để chỉ một đứa con rơi không bao giờ được ghi tên vào sổ hộ khẩu chính thức. 
Hiện tại, Mỹ không ủng hộ Đài Loan độc lập vì họ bận giữ quan hệ với Bắc Kinh.

Tương lai khi nào Mỹ muốn oánh nhau với Trung Quốc, lúc đó có thể họ sẽ ủng hộ các bạn độc lập đấy. Nhưng than ôi, khi ấy người Đài Loan sẽ bị đẩy ra chiến tuyến để Mỹ đánh nhau với Trung Quốc, như cái cách Mỹ đang đánh nhau với Nga đến người Ukraine cuối cùng vậy.
Tức là, thương đau mất mát sẽ chỉ xảy ra ở Đài Loan, mảnh đất của các bạn sẽ bị bom dày đạn xéo, cơ sở hạ tầng bị phá hủy, người Đài Loan sẽ đổ máu, còn Mỹ chỉ đứng từ xa điều khiển, bơm ít tiền và vũ khí cộng với mấy lời cổ vũ sáo rỗng thôi.

Sự thật nghiệt ngã như thế đấy các bạn Đài Loan ạ. 
Không chỉ Việt Nam hay Mỹ, hầu hết quốc gia trên bản đồ thế giới đều "bơ đẹp" sự tồn tại của các bạn. 
Số ít "người bạn" còn sót lại công nhận Đài Loan thì phần lớn là những quốc gia nhỏ bé đến mức nếu không có sự hỗ trợ tài chính từ các bạn, có lẽ họ cũng quên luôn hòn đảo Đài Loan nằm ở đâu trên bản đồ.

Đài Loan ạ, chỗ cùng địa phương, khuyên thật một câu :
- Thay vì tốn thời gian thêu dệt nên những kịch bản "nịnh nọt" ly kỳ, hãy dành thời gian đó để xem lại lịch sử bị "Bố Mỹ" bỏ rơi. Sự thật thường đau lòng, nhưng cứ sống mãi trong tinh thần AQ tự huyễn thì khi thực tế ập đến, cái tát đó sẽ không chỉ đau mà còn cực kỳ nhục nhã!
Ảnh: Lãnh đạo Việt Nam,Trung Quốc và Mỹ bắt tay nhau.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: KHI THỢ SĂN CỨ NGỠ MÌNH LÀ GÀ, HÓA RA LẠI LÀ... THÓC!

     (Cứ tưởng 22/4 khai hỏa oánh tiếp). Cách đây vài năm, tại các phòng trà sang trọng ở Washington và Brussels, người ta kháo nhau về một bữa tiệc thịnh soạn. Thực đơn hôm đó mang tên: "Nga sa lầy". Các đầu bếp NATO tự tin rằng họ đã rải đủ một lượng "thóc" mang tên Ukraine để dụ "con gà" Nga vào chuồng. Kế hoạch rất hoàn hảo: Nga mổ thóc, Mỹ rút lưới, và thế giới sẽ chỉ còn một siêu cường duy nhất ung dung tự tại.

Nhưng đến tháng 4 năm 2026, khi bóng tối phủ xuống eo biển Hormuz và các căn cứ Mỹ tại Trung Đông, các vị khách quý mới bàng hoàng nhận ra: Hình như mình mới là đứa đang nằm trên thớt!

Cú lừa "Con gà Moscow"

Suốt thời gian dài, báo chí phương Tây say sưa viết về việc Nga bị cô lập, Nga thiếu chip đến mức phải tháo máy giặt, và Nga chắc chắn đang "giãy chết" trong cái bẫy tiêu hao. Phương Tây hí hửng vì chỉ cần tốn vài đồng lẻ và đống vũ khí tồn kho là có thể biến gấu Nga thành gấu bông.

Thế nhưng, sau lệnh ngừng bắn 22/4, mọi người mới ngã ngửa: Trong khi "con gà" Nga vẫn béo tốt, lại còn học được đủ mọi chiêu thức né lưới, thì các "thợ săn" NATO lại đang thở dốc vì hết đạn. Nga không chỉ ăn sạch chỗ thóc Ukraine mà còn dùng chính cái bẫy đó để rèn luyện thành một cỗ máy chiến tranh đáng sợ hơn bao giờ hết.

Nghịch lý Trung Đông: "Gà" Washington lạc giữa rừng "thóc"

Nếu ở Ukraine, Mỹ còn được đóng vai "nhà tài trợ" hào phóng, thì ở Trung Đông, Mỹ và Israel đã chính thức nhận vai... thóc hạng nhất.

Định vị bởi Trung Quốc, cơ bắp bởi Nga: Iran nay không còn là kẻ cầm gậy gỗ. Với "mắt thần" Bắc Đẩu và công nghệ tên lửa Nga, họ đánh đâu trúng đó, chính xác đến mức Washington phải tự hỏi: "Ủa, mình là siêu cường công nghệ hay họ mới là siêu cường?"

Cơn ác mộng Rial: Trước đây, Mỹ thích cấm vận ai thì cấm. Giờ đây, Iran bảo: "Muốn qua eo biển? Vui lòng trả bằng Rial". Đây không chỉ là thu phí, đây là cái tát đau đớn vào mặt đồng USD. Kẻ đi trừng phạt người khác nay lại phải lúng túng đi đổi tiền lẻ của đối thủ để được... đi qua đường.

"Ngừng bắn" hay là "Ngừng thở"?

Việc Mỹ tự gia hạn ngừng bắn ngày 22/4 thực chất là một màn diễn kịch vụng về. Nó giống như một võ sĩ hạng nặng bị đánh cho sưng mặt, nhưng vẫn cố thều thào: "Ta cho ngươi thêm cơ hội để dừng lại đấy!".

Sự thực thì Washington đang run rẩy vì nhận ra rằng: Nếu còn đứng lại ở Trung Đông để làm "thóc" cho Iran mổ, thì ở phía Đông Á, "vườn nhà" Đài Loan cũng sẽ bị Trung Quốc hốt trọn. Mỹ đang rơi vào tình cảnh trớ trêu:

Tiếp tục chiến: Mất Israel (vì bị hủy diệt), mất luôn đế chế (vì lạm phát).

Rút lui: Mất mặt, nhưng ít ra còn cái mạng để kéo dài sự đi xuống.

Cho những "vị thợ săn" lỗi lạc

Hóa ra, trong cuộc chơi này, Nga không phải là thóc, mà là kẻ đã rải sẵn một con đường đầy sỏi cho Mỹ và NATO vấp ngã. Mỹ và Israel, với sự ngạo mạn của những kẻ quen làm bề trên, đã tự tin bước vào và giờ đây đang loay hoay tìm lối thoát.

Hóa ra, định nghĩa về "Gà" và "Thóc" ở năm 2026 rất đơn giản: Kẻ nào phải tự xin ngừng bắn khi đối phương vẫn đang lăm lăm tên lửa trên bệ phóng, kẻ đó chính là "thóc"!

Lời nhắn nhủ từ lịch sử: "Trước khi định dụ gà vào chuồng, hãy kiểm tra xem mình có đang đứng trong nồi áp suất hay không"./.
QV-ST!

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN:🇨🇳✈️ TẠI SAO MÁY BAY KJ-3000 CỦA TRUNG QUỐC LÀ MỘT SỰ THAY ĐỔI LỚN TRONG VIỆC CHỐNG LẠI CHIẾN TRANH TÀNG HÌNH CỦA MỸ!

     Theo báo cáo, Không quân Trung Quốc đã bắt đầu thử nghiệm bay chuyên sâu cho nguyên mẫu thứ hai của máy bay cảnh báo sớm và điều khiển trên không thế hệ tiếp theo của họ, KJ-3000.

Khả năng chống tàng hình

♦️ KJ-3000 được trang bị một hệ thống Radar Đa năng Thế hệ Ba (DAR) khổng lồ, được bọc trong một mái vòm dorsal, vốn được suy đoán là vượt trội hơn so với hệ thống được sử dụng trên hạm đội E-3G Sentry của Mỹ.

♦️ Theo các nguồn tin Trung Quốc, các mô-đun truyền/nhận vi sóng của máy ra đa sử dụng công nghệ mảng kỹ thuật số GaN (Gallium Nitride).

♦️ Khác với các máy ra đa AESA truyền thống vẫn còn phụ thuộc vào các thành phần tương tự, DAR là "phần mềm định nghĩa", sử dụng các thuật toán tiên tiến để kiểm soát chùm tia của máy ra đa trực tiếp.

♦️ Máy ra đa được báo cáo có khả năng phát hiện và theo dõi các mục tiêu thông thường, tàng hình và có thể siêu âm và tên lửa đạn đạo từ khoảng cách xa.

♦️ Dự kiến nó sẽ có thể cung cấp dữ liệu nhắm mục tiêu cho các tên lửa không đối không tiên tiến như PL-15 hoặc PL-17, cũng như các hệ thống phòng không mặt đất hiện đại của Trung Quốc.

♦️ Một lợi thế chính là hoạt động trên nhiều băng tần (có thể là UHF và S, hoặc L và S), kết hợp với công nghệ AESA tiên tiến, tăng khả năng chống nhiễu và cải thiện việc phát hiện các nền tảng tàng hình như B-2A của Mỹ và B-21 sắp tới.

Trung tâm chỉ huy trên không 'Kill web'

🌏 KJ-3000 được thiết kế như một nút trung tâm cho chiến tranh theo mạng lưới.

🌏 Nền tảng Y-20B khổng lồ của nó cho phép nó chứa một phi hành đoàn lớn và các máy tính mạnh mẽ, cho phép nó xử lý và phân phối dữ liệu theo thời gian thực, phối hợp các máy bay chiến đấu tàng hình, máy bay không người lái, tài sản hải quân và tên lửa tầm xa trong một 'mạng lưới Kill web'.

Đột phá về động cơ bản địa

Phiên bản nền tảng Y-20B được trang bị động cơ WS-20 high-bypass turbofan do nội địa phát triển, mang lại hiệu quả nhiên liệu vượt trội và đặc biệt là khả năng tạo ra nhiều điện hơn để cung cấp năng lượng cho bộ radar và hệ thống điện tử mới mạnh mẽ của nó.

👉 Các nhà phân tích đánh giá KJ-3000 có thể đạt được khả năng hoạt động ban đầu vào năm 2026 hoặc khoảng năm 2027.

Khi Mỹ tiếp tục quân sự hóa khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, trung tâm tình báo và cường quốc EW của Trung Quốc - KJ-3000 - là một thách thức không thể bỏ qua./.

QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: ĐÃ CẠN KIỆT... CÒN BỊ DIỆT!!!

- Lính đánh thuê (Nato trá hình) tháo chạy khỏi Pishchane, gọng kìm Slavyansk đang khép chặt, và ranh giới cuối cùng tại Krasnyi Lyman sắp bị xóa sổ.
- Các bạn thân mến, đây không còn là những diễn biến đơn lẻ, mà là dấu hiệu của một hệ thống phòng thủ đang tan rã từ bên trong. Hai kho đạn khổng lồ của Nato ở Ukraine vừa được hỏa lực Gấu giải phóng mặt bằng, thổi bay khỏi bản đồ. chiến sự... Nhưng điều đáng nói hơn lính Nato đánh thuê (những kẻ được trả tiền để giữ phòng tuyến), đã tháo chạy ngay sau nghe tiếng rít xé gió của hoả lực Gấu! 
- Haha.... Một dây chuyền "Domino" sụp đổ có hệ thống. Gấu chiếm giữ nhiều công sự và bắt sống một số bại binh Ukraine và Nato. Cùng lúc đó, tại Velyka Shapkivka, hai kho đạn lớn của Nato được san lấp hoàn toàn, những vụ nổ được vệ tinh ghi nhận rõ rệt, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tiếp tế cho toàn bộ tuyến phòng thủ.
- Một cuộc thẩm vấn tù binh, đã lộ ra sự đau đớn cho binh sĩ Ukraine: Lời khai rằng: lính Nato đánh thuê, cố gắng tổ chức một cuộc phản công để tái chiếm Pishchane, nhưng đã thất bại ngay khi rụt rịt, họ liền tháo chạy trước, bỏ lại đồng đội Ukraine phía sau. Ôi, thật là tủi nhục. 
- Thế đấy các bạn, khi họ chiến đấu chỉ vì tiền, tất nhiên phải lo giữ cái bản thân trước nhất (đồng tiền là trên hết, chứ chả có đồng đội gì)./.
QV-ST!

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: 1 TRIỆU VIỆC LÀM VÀ CÂU TRẢ LỜI TỪ HÀN QUỐC GIỮA LÚC FDI BIẾN ĐỘNG!

     Giữa lúc nhiều doanh nghiệp nước ngoài đang rục rịch rút khỏi Việt Nam vì áp lực thuế quan từ chính sách mới của Mỹ, Hàn Quốc lại chọn làm điều ngược lại đưa sang Hà Nội một phái đoàn 200 doanh nghiệp, dẫn đầu bởi toàn bộ lãnh đạo tứ đại Chaebol.

Câu hỏi thực tế hơn là: điều đó có nghĩa gì với người dân bình thường?

Hiện có hơn 10.400 doanh nghiệp Hàn Quốc đang hoạt động tại Việt Nam, sử dụng hơn 1 triệu lao động trực tiếp. Tại các khu công nghiệp Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng cứ 4 công nhân thì có ít nhất 1 người đang làm việc cho Samsung, LG hay Hyundai. Với vốn FDI lũy kế hơn 95 tỷ USD và đóng góp khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu, sự hiện diện của khối doanh nghiệp này không phải con số thống kê mà là thu nhập hàng tháng của hàng triệu gia đình.

Trong bối cảnh đó, việc Hàn Quốc tái khẳng định cam kết và tiếp tục rót vốn không chỉ là cử chỉ ngoại giao. Đó là tín hiệu rằng những công việc này sẽ không biến mất.

Nhưng không chỉ thế…

Người dân miền Bắc chắc chắn chưa quên những đợt thiếu điện cao điểm. Chuyến thăm lần này gắn với kỳ vọng thúc đẩy dự án LNG Quỳnh Lập tại Nghệ An nhà máy 1.500 MW trị giá 2,3 tỷ USD do tập đoàn SK phát triển, dự kiến khởi công năm 2027.

Khi đi vào vận hành, đây sẽ là một nguồn cung bổ sung đáng kể cho lưới điện quốc gia.

Xa hơn, câu chuyện điện hạt nhân Ninh Thuận 2 với sự tham gia kỳ vọng của KEPCO và Doosan trong dự án quy mô khoảng 20 tỷ USD nếu thành hiện thực, sẽ là bước ngoặt thực sự về tự chủ năng lượng. Đặc biệt khi Việt Nam hiện nhập tới 85% dầu thô từ Kuwait qua eo biển Hormuz một tuyến đường đang ngày càng bất ổn.

Mục tiêu kim ngạch thương mại 150 tỷ USD vào năm 2030 nghe có vẻ vĩ mô, nhưng phần cụ thể nhất lại rất gần với bàn ăn của mỗi gia đình: vải thiều, nhãn, thanh long, hàng dệt may những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hàn Quốc đều có cơ hội mở rộng đầu ra nếu các thỏa thuận thuế quan được nới lỏng sau chuyến thăm này.

Không phải mọi cam kết đều sẽ thành hiện thực đúng hạn. Nhưng quy mô và cấu trúc của phái đoàn lần này từ quan chức an ninh, bộ trưởng công nghiệp đến lãnh đạo các tập đoàn nghìn tỷ USD cho thấy đây không phải chuyến đi xã giao. 

Và với người dân, điều quan trọng hơn những tuyên bố chung chung chính là: các dự án cụ thể đang được đặt lên bàn đàm phán, với những con số có thể kiểm chứng./.



QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: IRAN PHỤC HỒI SỨC MẠNH TÊN LỬA NGẦM GÂY LO NGẠI CHO MĨ VÀ ISRAEL

     Iran đã tận dụng lệnh ngừng bắn để sửa chữa nhanh chóng các công trình tên lửa ngầm, khiến Mỹ và Israel lo ngại về khả năng tấn công trở lại.

Israel tỏ ra sốt ruột và chỉ trích mạnh mẽ, với Thủ tướng Netanyahu đưa ra những phát biểu cứng rắn và so sánh gây tranh cãi về các cơ sở hạt nhân.

Mỹ và Israel đã triển khai nhiều loại máy bay ném bom chiến lược như B-2, B-1B, B-52 và UAV trinh sát để tấn công các công trình ngầm và bệ phóng tên lửa của Iran.

Dù Israel tuyên bố phá hủy phần lớn thiết bị phóng và hệ thống phòng không của Iran, nhưng cường độ phóng tên lửa của Iran không giảm rõ rệt và UAV trinh sát của Mỹ-Israel tổn thất nặng.

Các căn cứ ngầm của Iran, được xây dựng kiên cố với lớp đá dày và hệ thống độc lập, đã giúp nước này khắc phục các điểm yếu về cửa sổ bắn hẹp và khả năng tái trang bị nhanh chóng.

Mỹ không có đủ số lượng bom GBU-57 để phá hủy hoàn toàn hệ thống hầm ngầm của Iran, trong khi Iran dễ dàng bổ sung máy móc công trình để khắc phục các lối ra vào đường hầm bị đánh sập./.


QV-ST!

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: 🇺🇸🇮🇱🇮🇷🇵🇰 LỢI THẾ CHÍNH: TIẾT LỘ NỖI SỢ HÃI LỚN CỦA MỸ VÀ ISRAEL TRONG CUỘC CHIẾN VỚI IRAN!

     Việc Pakistan sở hữu vũ khí hạt nhân khiến nước này trở thành một cầu thủ quan trọng trên trường quốc tế và cho phép đảm nhận vai trò hòa giải giữa Mỹ và Iran, theo lời của nhà nghiên cứu chính trị, phó giám đốc Viện Lịch sử và Chính trị thuộc Đại học Quốc gia Moscow Vladimir Shapovalov.

Trước đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng các cuộc đàm phán với Iran có thể diễn ra tại Pakistan trong hai ngày tới. Sau đó, trong một cuộc phỏng vấn với ABC News, ông cho biết mình không nghĩ tới việc gia hạn thỏa thuận ngừng bắn, nhưng coi một thỏa thuận với Iran về việc chấm dứt xung đột là một lựa chọn tốt hơn.

Trump cũng ca ngợi Tổng chỉ huy quân đội Pakistan Asim Munir vì những nỗ lực của ông trong các cuộc đàm phán.

“Cần phải tán dương Pakistan với tư cách là một nước trung gian và cá nhân ông Munir. Họ đã làm rất nhiều cho hòa bình ở Trung Đông. Hiện tại, Pakistan đang tham gia vào chính trị thế giới như một cường quốc khu vực quan trọng. Pakistan là một quốc gia lớn với dân số đông, nền kinh tế phát triển và nguồn lực hạt nhân. Nhưng cho đến gần đây, Pakistan không đóng một vai trò quan trọng trong chính trị thế giới”, - Shapovalov nói.

Nhà nghiên cứu chính trị gọi những hành động của Pakistan là một “bước đầu” trong chính trị thế giới.

“Bước đầu này đã thành công hơn cả mong đợi. Cũng cần phải lưu ý tầm quan trọng của vũ khí hạt nhân không chỉ như một yếu tố quân sự, mà còn là một yếu tố chính trị-nhập quốc. Sự sở hữu vũ khí hạt nhân biến một quốc gia thành một chủ thể trong chính trị thế giới. Pakistan trong trường hợp này cũng không phải là ngoại lệ. Sự sở hữu vũ khí hạt nhân khiến nước này trở thành một cầu thủ quan trọng và cho phép đảm nhận vai trò hòa giải trong các cuộc đàm phán”, - Shapovalov giải thích./.
QV-ST!

HỘI CHỨNG VIỆT NAM Ở NƯỚC MỸ - TT TRUMP NHẮC LẠI KHI LIÊN MINH MỸ ISRAEL ĐANG SA LẦY Ở TRUNG ĐÔNG VỚI IRAN!

     Vâng! Đã hơn 50 năm, chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam đã chấm dứt ! Quan hệ Việt - Mỹ đã trở thành Đối tác chiến lược toàn diện! Quan hệ ngoại giao, quan hệ thương mại giữa 2 cựu thù đã chuyển thành Đối tác chiến lược toàn diện.

Các đời của Tổng thống Mỹ từ khi Ông Bill Clinton đều liên tục thăm Việt Nam và ngược lại Lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, chính phủ Việt Nam cũng đều đến thăm nước Mỹ. Đỉnh cao là chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng và gần đây là TBT ĐCS Việt Nam Tô Lâm cùng đoàn cán bộ cấp cao thăm Mỹ! Nâng tầm quan hệ đối tác toàn diện giữa 2 quốc gia lên một tầm cao mới.

Tuy nhiên tối 21/4 vừa qua, vị Tổng thống Hoa Kỳ thứ 47 đã "hồi tưởng" bóng ma chiến tranh Việt Nam cách đây hơn 50 năm. Ông ngạo mạn và khá chủ quan cho rằng: nếu Ông làm Tổng thống nước Mỹ cách đây hơn 50 năm thì không để cuộc chiến kéo dài 19 năm, mà dưới sự " chỉ huy tài tình" của Ông, Mỹ sẽ chiến thắng Việt Nam chỉ trong 5 tháng!

Lời phát biểu của TT D.Trump trong lúc này khi Mỹ đang mắc kẹt tại Iran, đang gây nhức nhối trong lòng xã hội nước Mỹ càng chứng tỏ: hội chứng Việt Nam luôn trong lòng xã hội nước Mỹ, trong giới tinh hoa của chính phủ Hoa Kỳ!

Việt Nam luôn tôn trọng nước Mỹ, bỏ qua quá khứ, hướng tới tương lai. Hàng triệu người dân Việt Nam đã hy sinh vì khát vọng hòa bình - thống nhất , vì độc lập tự do.

Lời phát biểu của ngài TT D.Trump đang khơi dậy nỗi đau của nước Mỹ! Hoa Kỳ là siêu cường số 1 thế giới về kinh tế và quân sự! Trải qua 5 đời Tổng thống Mỹ, với vũ khí hiện đại, không thiếu tướng tài, trăm phương ngàn kế! Nhưng cuối cùng Mỹ vẫn thua ở Việt Nam!
 
Mà tôi tin rằng: sự hiếu chiến của các Tổng thống Mỹ trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam - Mỹ cũng không thua kém ngài D.Trump thời hiện tại! Có khi mức độ tài năng của họ và bộ tham mưu chiến tranh của họ lúc đó có phần còn hơn thời hiện tại! Nhưng Mỹ vẫn thua trên chiến trường Việt Nam và cuối cùng phải ký hiệp định Pari 1972! Lập lại hòa bình ở Việt Nam và quân đội Mỹ phải cuốn cờ về nước.

Với phát biểu có tính chủ quan và ngạo mạn, Ngài tự tin quá mức nhằm đánh lừa dư luận nước Mỹ! Mỹ đang sa lầy ở Trung Đông, sa lầy ở Iran! Mắc kẹt ở Hormuz! Buộc ngài phải tuyên bố đình chiến vô thời hạn ở Iran!
 
Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sắp đến! Rồi đây cử tri Mỹ sẽ có câu trả lời bởi tính hiếu chiến, ngang ngược, tiền hậu bất nhất!

Hãy khép lại quá khứ, hướng tới tương lai! Giữ gìn quan hệ là đối tác chiến lược toàn diện! Vì hạnh phúc của nhân dân hai nước ngài D.Trump nhé! Hãy bớt ảo tưởng về sức mạnh cơ bắp!

Vâng! Hội chứng Việt Nam bao giờ cũng là điều nhức nhối trong lòng nước Mỹ! Lịch sử không có chữ "nếu" ngài D.Trump nhé./.


QV-ST!

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

KỶ NIỆM 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM THỐNG NHẤT TỔ QUỐC: TRÍ TUỆ QUÂN SỰ SẮC BÉN VÀ TÍNH NHÂN VĂN SÂU SẮC!

     Sau đòn “điểm huyệt” Buôn Ma Thuột của ta, Quân đội Sài Gòn bắt đầu sụp đổ theo hiệu ứng “Domino”. Phân tích thế và lực giữa ta và địch, nắm vững thời cơ, ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng miền nam ngay trong năm 1975.

Các quân đoàn chủ lực gồm nhiều binh chủng hiện đại tiến về Sài Gòn theo tinh thần Mệnh lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền nam. Quyết chiến và toàn thắng!”.

Phát huy tinh thần chủ động tiến công, mưu trí sáng tạo, bộ đội ta đã có nhiều biện pháp để tăng cường sức chiến đấu. Một trong những biện pháp đó là tuyển dụng nhân viên của địch để giúp ta làm chủ vũ khí của địch.

Lấy xe tăng địch đánh địch

Ngày 1/4/1975, trận tiến công thị xã Tuy Hòa nổ ra. Binh lính Quân đội Sài Gòn không thể ngờ rằng quân giải phóng có một đội hình 8 xe tăng M-41 “made in USA” do chiến sĩ quân giải phóng điều khiển, với lợi thế trọng lượng nhẹ, tốc độ cao, hỏa lực mạnh đã nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự. Suốt quá trình chiến đấu, số xe tăng M-41 này không hề có sự cố kỹ thuật nào, tham gia từ đầu đến cuối, đạt hiệu suất chiến đấu rất cao.

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, nguyên chiến sĩ lái xe tăng số 380, Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203 đánh chiếm Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 thuật lại:

Sau gần một tháng chiến đấu liên tục từ Đức Lập-Buôn Ma Thuột đến Nông Trại-Phước An, Cheo Reo-Phú Bổn, nhiều xe tăng của ta bị tổn thất, hư hỏng. Trong khi đó, sau cuộc “rút lui chiến lược” - thực chất là cuộc tháo chạy, Quân đoàn 2 Sài Gòn đã bỏ lại hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp các loại.

Phòng Tăng-Thiết giáp B3 xin phép Bộ Tư lệnh Mặt trận cho tận dụng số xe tăng này đưa vào biên chế, tăng sức mạnh chiến đấu cho đơn vị. Được trên đồng ý, ngày 21/3/1975 Trung đoàn Xe tăng 273 lệnh cho Đại đội 9 thuộc Tiểu đoàn 3 bàn giao số xe T-54 còn lại cho các đơn vị khác để tổ chức thu gom xe chiến lợi phẩm, huấn luyện chuyển loại, sau 10 ngày phải tham gia chiến đấu được!

Sau 2 ngày, đơn vị đã gom được hơn 40 xe tăng M-48 và M-41. Nhưng số xe này có nhiều chi tiết quan trọng, như khóa nòng pháo, kính ngắm... bị lính Sài Gòn tháo đi hoặc phá hỏng. Theo đề nghị của Đại đội trưởng Đoàn Sinh Hưởng, trung đoàn đã cử cán bộ tới địa điểm tập trung tù, hàng binh tại thị xã Cheo Reo, chọn lựa được 12 hàng binh, đủ cả trưởng xe, lái xe, xạ thủ và thợ sửa chữa của hai loại xe M-48, M-41.

Chiến sĩ Vũ Công Hoan, nhân viên văn thư - quân lực Tiểu đoàn 1 được giao quản lý số hàng binh. Anh đã tổ chức cho họ có nơi ăn nghỉ chu đáo. Qua thực tế, họ đã rất tin vào bộ đội ta và thật sự muốn lập công chuộc tội, bắt tay vào sửa chữa, khôi phục xe. Sau mấy ngày làm việc, Trung đội Kỹ thuật này đã khôi phục được 10 xe M-41 và 6 xe M-48 đủ điều kiện tham gia chiến đấu. Và chỉ sau 3 ngày được “chuyển giao công nghệ”, cán bộ, chiến sĩ Đại đội Xe tăng 9 đã sử dụng tương đối thành thạo cả hai loại xe M-48 và M-41.

Mấy hôm sau, Tiểu đoàn Xe tăng 1 cùng Đại đội Xe tăng 9 trang bị 8 xe M-41, với sự hỗ trợ của Trung đội kỹ thuật gồm hàng binh, đã tăng cường cho Sư đoàn Bộ binh 320 tiến công thị xã Tuy Hòa thắng lợi.

Kết thúc trận đánh, Trung đoàn 273 tổ chức phóng thích cho hàng binh sau khi cấp cho mỗi người một “Giấy chứng nhận đã có công giúp đỡ quân giải phóng”, một “Giấy đi đường” và một số gạo, thực phẩm. Mặc dù chỉ mới cùng ăn ở, cùng làm việc với nhau chục ngày song phút chia tay giữa những người anh em vốn ở hai bờ chiến tuyến vẫn bịn rịn. Có 4 hàng binh quê ở miền Tây tình nguyện tiếp tục đi cùng Đại đội Xe tăng 9 vào phía nam để giải phóng quê nhà.

Bây giờ ở quê nhà Trà Giang, Kiến Xương, Thái Bình cũ (nay là xã Trà Giang, tỉnh Hưng Yên), cựu chiến binh Vũ Công Hoan vẫn nhớ những ngày tháng 3 năm 1975 ấy và mong có ngày biết được thông tin về những người bạn cùng Trung đội Kỹ thuật hơn 50 năm trước.

Người hàng binh đặc biệt

Ngày 29/3/1975, quân giải phóng tiến vào Đà Nẵng, thu được rất nhiều máy bay do địch bỏ chạy để lại, trong đó có 17 chiếc A-37. Binh lính Sài Gòn bỏ chạy lên tàu thủy ra biển, một số phi công Không lực Việt Nam Cộng hòa lái máy bay vào nam, chạy sang Thái Lan...

Tuy nhiên cũng có nhiều người ở lại, không di tản, trong đó có Trần Văn On, Trung úy Phi tuần phó Phi đoàn 550 Không lực Việt Nam Cộng hòa. Sau khi ra trình diện, Trần Văn On được trưng dụng để giúp phi công ta tìm hiểu cách sử dụng máy bay A-37, một loại máy bay cường kích phản lực trong biên chế không quân Sài Gòn mà ta thu được.

Ban đầu Trần Văn On rất sợ, nhưng khi tiếp xúc với phi công giải phóng, thấy anh em hòa nhã, lịch sự cho nên bình tĩnh lại. Được tin tưởng giao việc, Trần Văn On và một hàng binh không quân là Nguyễn Văn Sanh, sau có thêm Nguyễn Thành Trung, người lái máy bay F-5 ném bom dinh Tổng thống chính quyền Sài Gòn ngày 8/4, đã tận tình giúp bộ đội giải phóng làm quen với máy bay Mỹ. Anh đã dịch các ký hiệu trên bảng điều khiển máy bay A-37 ra tiếng Việt, viết lên giấy rồi dán lên các nút bấm, công tắc điều khiển. Trần Văn On cũng bay kèm để phi công ta làm quen với máy bay mới lạ. Chỉ sau hơn 3 ngày, phi công quân giải phóng đã điều khiển được máy bay ném bom A-37.

Ngày 28/4/1975, viên trung úy hàng binh được tin cậy có mặt trong đội hình Phi đội Quyết thắng, ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 24 máy bay, tiêu diệt hàng trăm sinh lực địch, khiến sân bay Tân Sơn Nhất hoàn toàn tê liệt.

Sau ngày 30/4/1975, Trần Văn On tham gia chiến dịch biên giới Tây Nam đánh quân Polpot, năm 1977 anh về quê làm ruộng, cuộc sống khó khăn vất vả. Đến năm 2008, Trần Văn On mới gặp lại những người bạn cùng Phi đội Quyết thắng và được nhận tấm Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, việc thu dung, sử dụng hiệu quả đội ngũ sĩ quan, nhân viên kỹ thuật của địch là một điểm nhấn đặc sắc về nghệ thuật quân sự và chính sách nhân văn của quân giải phóng.

Chủ trương ấy bắt nguồn từ truyền thống đại nghĩa của dân tộc, phản ánh chính sách hòa hợp dân tộc của cách mạng. Chính sự kết hợp giữa trí tuệ quân sự sắc bén và tính nhân văn sâu sắc đã góp phần làm nên thắng lợi trọn vẹn, không chỉ trên chiến trường mà cả trong lòng người./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 800 NĂM LƯU LẠC VÀ QUYẾT ĐỊNH BỎ LẠI TẤT CẢ "NẾU CÓ C.H.Ế.T, TÔI CŨNG MUỐN C.H.Ế.T TRÊN QUÊ CHA ĐẤT TỔ!"

     Bạn sẽ làm gì nếu biết mình là hậu duệ của một vương triều vĩ đại cách đây 8 thế kỷ?

Câu chuyện về ông Lý Xương Căn (Lee Chang-geun) - Hậu duệ đời thứ 31 của Vua Lý Thái Tổ - Và thứ 26 của hoàng thúc Lý Long Tường, chắc chắn sẽ khiến bạn xúc động!

🌊 Cuộc hội ngộ sau 8 thế kỷ đứt đoạn, Trong bài viết về Lý Long Tường hôm qua kênh đã đề cập:
Vào thế kỷ 13, để bảo toàn huyết mạch, Hoàng thúc Lý Long Tường đã vượt biển sang Cao Ly (Hàn Quốc ngày nay). Trải qua 800 năm lịch sử thăng trầm, dòng máu hoàng tộc họ Lý tưởng chừng đã chìm vào dĩ vãng. Thế nhưng, năm 1993, định mệnh đã gõ cửa! Mang theo cuốn tộc phả quý giá, ông Lý Xương Căn đã gõ cửa Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, chính thức nối lại mối lương duyên đứt gãy suốt 8 thế kỷ.

✈️ Chuyến bay lịch sử và quyết định "ngược dòng" gây sốc
Năm 1994, khi lần đầu đặt chân về Đền Đô (Bắc Ninh), sự chào đón nồng nhiệt của người dân quê hương đã khiến ông rơi nước mắt. Đặc biệt, sau cuộc gặp gỡ lịch sử và nghe lời dặn dò từ Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Cháu là người Việt Nam, mang dòng máu Việt Nam...", ông đã đưa ra một quyết định chấn động!

Năm 2000, ông BÁN SẠCH TÀI SẢN, từ bỏ sự nghiệp kỹ sư đang thăng hoa tại Hàn Quốc để đưa vợ và 3 con nhỏ về Việt Nam lập nghiệp. Bạn bè chê cười bảo ông "liều lĩnh", người quen can ngăn vì Việt Nam lúc đó còn nhiều khó khăn, nhưng ông kiên quyết: "Sinh ra ở Hàn Quốc nhưng hồn tại Việt Nam".

🇻🇳 Hành trình bám rễ và cống hiến không mệt mỏi
Không cho con học trường quốc tế, ông cho các con học trường công để "sống như người Việt Nam thực thụ". Vượt qua rào cản ngôn ngữ và bao khó khăn lúc khởi nghiệp, ông không chỉ xây dựng doanh nghiệp vững mạnh mà còn chính thức nhập quốc tịch Việt Nam vào năm 2009.

Hơn thế nữa, ông tự bỏ tiền túi để xúc tiến du lịch, đảm nhận vai trò Đại sứ Du lịch Việt Nam tại Hàn Quốc suốt 3 nhiệm kỳ liên tiếp!

🗣️ "Trong dòng máu tôi, sau 31 đời, chỉ có 0,01% là gốc Việt, 99,99% là gốc Hàn nhưng tình yêu Việt Nam trong tôi luôn mạnh mẽ. Nửa phần đời trước tôi đã ở Hàn Quốc, nửa phần đời còn lại tôi muốn dành trọn cho Việt Nam. Có c.h.ế.t cũng phải c.h.ế.t trên quê cha đất tổ!" - Lời tâm sự chạm đến trái tim của hàng triệu người.

Cội nguồn không chỉ nằm ở những dòng gia phả, mà nằm ở nhịp đập của trái tim. Một quốc gia biết tôn trọng và trân quý quá khứ chắc chắn sẽ rực rỡ trong tương lai!

👇 Bạn nghĩ sao về quyết định từ bỏ vinh hoa để về quê hương của hậu duệ nhà Lý? Hãy để lại bình luận và CHIA SẺ câu chuyện đầy tự hào này để lan tỏa tinh thần dân tộc nhé! ❤️


QV-ST!

TRAO ĐỔI: “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” VỚI FB LÊ THỊ HUYỀN!

     Chiều tối nay tôi có đọc bài viết và xem Livestream trên facebook của Lê Thị Huyền, cũng như lần lại bài viết của chị ngày 17/1/2026 thể hiện quan điểm cá nhân về tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh. Bởi chị tự coi mình là người yêu nước, trân trọng máu xương của cha ông mình đã đổ xuống cho Tổ quốc để chị có ngày hôm nay và trong chương trình livestream chiều nay chị khẳng định đến giờ chị vẫn thích tác phẩm NBCT của Bảo Ninh. “Thích” là quyền của cá nhân chị nhưng khi chị đã tự nhận mình là người yêu nước thì quan điểm và lập trường chính trị không thể có cách nhìn trung lập.

Tôi xin trao đổi với chị Lê Thị Huyền về tác phẩm NBCT của Bảo Ninh. 

1. NỖI BUỒN CHIỀN TRANH của Bảo Ninh - Gáo nước lạnh dội lên đầu Người lính.

“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh toát lên nỗi đau qua những ký ức ám ảnh của Kiên - một người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông nhập ngũ năm 1969 từng trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Nam trước năm 1975; Chiến đấu tại mặt trận B3, Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10.

“Nỗi buồn chiến tranh” ra đời năm 1987, xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1990, là một trong ba tiểu thuyết được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải trong năm 1991, tuy nhiên sau đó giải thưởng đã bị thu hồi do sự phản đối của công chúng. Cuốn tiểu thuyết này gặp nhiều chỉ trích do tác giả hư cấu nhiều tình tiết xúc phạm, bịa đặt về người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam và những nhận xét mang tính bôi nhọ cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. Năm 1993, “Nỗi buồn chiến tranh” đã được dịch ra tiếng Anh với tên "The Sorrow of War" sau đó được chuyển ngữ tại nhiều quốc gia trên thế giới.

"Nỗi buồn chiến tranh" kể về cuộc đời của Kiên, một người lính trở về từ chiến tranh mang theo những ký ức đau thương ám ảnh, mất mát về thể xác, nỗi đau tinh thần sau chiến tranh. Tiểu thuyết mở đầu bằng một không gian mờ mịt, lạnh giá. Kiên nhìn ra màn mưa xối xả, xám xịt nhớ đến anh em đồng đội qua những kí ức hãi hùng bom nổ, đạn rơi xoáy vào tâm trí. Kí ức đau buồn cứ dặt vặt trong tâm tưởng thôi thúc Kiên cầm bút chép lại một đoạn đời đặc biệt. Tâm lý thường trực của Kiên không can trường như bao người lính khác mà luôn trong trạng thái mơ màng, đăm chiêu, âu sầu với những cảm xúc tiêu cực hồn xiêu phách lạc, ý thức mờ mịt, lú lẫn, cô quạnh. Trong đầu Kiên không phải là những trận chiến khốc liệt, đầy hy sinh quả cảm của người lính mà luôn hiện lên những tang thương, tàn khốc. Rời xa cuộc chiến tranh không như bao đồng đội khác trở về cuộc sống đời thường đoàn tụ bên người thân, xóm làng mà Kiên chọn lối sống khác người. Kiên tiếc nuối cuộc đời tuổi trẻ trong chiến tranh, để giờ đây anh sống như một kiếp tạm. Con tim của Kiên trở nên thờ ơ, vô cảm trước cuộc sống của đồng loại và những giá trị hy sinh mất mát của đồng đội, đồng chí của mình. Kiên thể hiện qua từng trang tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” bằng những kí ức đứt gãy, bi ai, xiêu vẹo, nhạt nhòa. 

“Nỗi buồn chiến tranh” là vấn đề muôn thuở. Đó không chỉ là vết thương về thể xác mà còn là nỗi đau tinh thần của hàng triệu gia đình Việt Nam khi con em mình nằm lại chiến trường; khi hàng triệu người lính vẫn còn quằn quại nỗi đau vết thương trên thể xác, khi hàng triệu người lính dâng hiến tuổi thanh xuân mình cho Tổ quốc sau hơn nửa thế kỷ vẫn là “Liệt sĩ chưa biết tên” hoặc chưa tìm thấy mộ. Sự nhân văn ở chỗ cả dân tộc Việt Nam đã biết cách vượt qua “Nỗi đau của chiến tranh” để sát cánh bên nhau tạo nên bức trường thành vững chắc, sức mạnh của cả một dân tộc để kết thúc chiến tranh thắng lợi, đánh đuổi Đế quốc Mỹ xâm lược ra khỏi bờ cõi, thống nhất đất nước, đem lại hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân. Cái đáng trân trọng ở chỗ không như Kiên, khi kết thúc chiến tranh, những người lính vẫn phát huy được tố chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, hàng triệu cựu chiến binh tàn mà không phế, họ luôn tự hào đã đóng góp một phần thân thể của mình để đem lại độc lập tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

“Mưa Đỏ” của Nhà Văn Quân đội Chu Lai như một thiên anh hùng ca về một cuộc chiến tranh chống Mỹ, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, đã khơi dậy lòng yêu nước, tình đoàn kết dân tộc, hàn gắn nỗi đau sau chiến tranh thì “Nỗi đau chiến tranh” của Bảo Ninh như một gáo nước lạnh dội lên đầu các tướng lĩnh và các Cựu chiến binh về cách nhìn tiêu cực, khắc họa lại một cuộc chiến tranh tàn khốc, đau buồn; một trường ca bi ai, một gam màu tối trong nền văn học nghệ thuật dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng của Kiên, cách nhìn của Kiên, cách sống của Kiên là tiêu cực, là nhu nhược không thể hiện đúng bản chất của người lính Cụ Hồ, Vì vậy, khi “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh được Hội Nhà Văn Việt Nam trao giải, không chỉ bây giờ gặp phải sự chỉ trích dữ dội của dư luận đặc biệt là các tướng lĩnh, Cựu chiến binh những nhân chứng sống trong cuộc chiến tranh chống Mỹ vẫn còn đó. Tạp chí Cộng sản có bài phê phán:
“Bằng sự bôi nhọ sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta, Bảo Ninh không chỉ xúc phạm đến những người đang sống… Tác giả Nỗi buồn chiến tranh còn muốn giết chết hẳn những người đã vĩnh viễn nằm xuống để cho “dân tộc quyết sinh”… Đó là sự khai tử của một ngòi bút quá nhẫn tâm đã coi họ là vật hy sinh mù quáng cho những cuồng vọng của con người”. Nên nhớ, trước sự phản đối dữ dội của dư luận, Ban Lãnh đạo Hội Nhà Văn Việt Nam khi đó đã phải tự phê bình bằng văn bản, đọc trước toàn Đại hội lần thứ V. Riêng Nhà văn Vũ Tú Nam, lãnh đạo cao nhất của Hội, khi trả lời phỏng vấn đã nhận trách nhiệm: “Trách nhiệm thuộc về toàn thể Ban Chấp hành, nhưng tôi là người chịu trách nhiệm trước nhất. Sự phê phán của công luận sau đó là chính đáng”.

2. “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH ĐÁNH VÀO NỖI ĐAU CỦA NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI

Các cuộc chiến tranh đã trôi qua, nỗi buồn về di chứng chiến tranh vẫn còn đó, nỗi đau lại giằng xé con tim những người còn lại. Trên thế giới này không có đất nước nào phải gánh chịu hàng trăm cuộc chiến tranh tàn khốc do kẻ thù xâm lược gây ra suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước như dân tộc Việt Nam?

Trên thế giới này có dân tộc nào chịu nhiều đau thương mất mát trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa tàn bạo do kẻ thù xâm lược gây ra như dân tộc Việt Nam? Một dân tộc đã đứng lên, lấy xương máu của mình để bảo vệ phẩm giá: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì chúng ta phải quyết tâm đánh thắng, quét sạch chúng đi”. Và dân tộc đó đã viết nên những trang sử vẻ vang đánh bại tất cả kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới bằng máu và hoa của mình. Máu của sự hy sinh quả cảm và hoa khát vọng của một dân tộc để dân được tự do. Và để có được độc lập, tự do đó hàng triệu người đã ngã xuống cho dân tộc trường tồn. Họ nằm xuống suốt chiều dài đất nước trong nghĩa trang liệt sĩ, trong những nấm mồ không tên tuổi. Hàng triệu bà mẹ mất con, hàng triệu phụ nữ mất chồng; hàng triệu người vẫn đau đớn quằn quại do di chứng chiến tranh để lại. Đó là nỗi buồn chiến tranh mà cả dân tộc phải chấp nhận để có được sự yên bình cho thế hệ mai sau.

Nhưng nỗi đau bây giờ không phải từ di chứng, hậu quả chiến tranh để lại cho những người lính còn sống may mắn trở về sau cuộc chiến và những người còn sót lại sau chiến tranh mà chính là ký ức một thời hoa đỏ của họ đã bị nhuộm đen bằng sự vô ơn của những kẻ phản bội đồng loại; bằng sự đánh tráo đổi trắng thay đen trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc; bằng sự hoen ố trong những trang sách giáo khoa định hướng giáo dục cho học sinh; bằng sự phục dựng, tôn vinh, đặt tên đường cho những kẻ tội đồ của dân tộc. Không có nỗi đau nào bằng nỗi đau của một dân tộc khi lương tri, phẩm giá của cuộc kháng chiến chính nghĩa bị đánh đồng với cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa và những kẻ tay sai bán nước được vinh danh, ngang hàng với anh hùng dân tộc.

Nhân dân Việt Nam không cho phép ai viết lại lịch sử dân tộc; phủ nhận máu xương của thế hệ cha anh mình đã ngã xuống. Bất cứ kẻ nào có hành động đi ngược lại lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân sẽ bị trả giá, ngàn đời nguyền rủa.

3. “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH KHÔNG THỂ THAY THẾ NỖI ĐAU CUẢ CẢ MỘT DÂN TỘC

Cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược bảo vệ Tổ quốc đã trôi qua nửa thế kỷ nhưng vẫn hằn sâu trong ký ức của mỗi người dân Việt Nam. Có lẽ trên thế giới này không có nước nào như Việt Nam, chiến tranh là đề tài tốn biết bao nhiêu giấy mực của bao thế hệ, trong những trang nhật ký của người lính nằm lại chiến trường và những cuốn sách của những người lính trở về sau cuộc chiến.

Mỗi người một góc nhìn. Người day dứt về nỗi buồn chiến tranh, người mang nặng nỗi đau từ cuộc chiến đem lại. Những ký ức ấy cứ dằn vặt, dày vò qua từng trang sách về chiến trường khói lửa chống quân xâm lược vô cùng khốc liệt, đau thương, mất mát. Những trang nhật ký dang dở trên đường hành quân hay từng dòng nhật ký viết vội sau một trận đánh, những cuốn nhật ký của những người lính nằm lại chiến trường đã phủ màu thời gian nhưng vẫn còn nguyên máu, nước mắt, nụ cười toát lên nghị lực phi thường, bản lĩnh sống, sự hy sinh, ước mơ lý tưởng, ý chí chiến đấu và niềm tin tất thắng về sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của dân tộc.

Có lẽ trên thế giới này không có dân tộc nào chịu đau thương mất mát như dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược dù đã trôi qua mấy chục năm nhưng NỖI ĐAU CHIẾN TRANH vẫn còn đó. Hình ảnh đạn bom, khói lửa, hy sinh, mất mát trong chiến tranh vẫn day dứt trong tim những người ở lại. Nước mắt của sự mừng vui, đoàn tụ ngày độc lập có là bao so với giọt nước mắt của hàng triệu người mẹ khóc con chết trận, người vợ mất chồng và nước mắt của hàng chục ngàn cha mẹ trước sự quằn quại của những đứa con do di chứng chiến tranh. Vượt qua NỖI BUỒN chính là NỖI ĐAU của dân tộc, nỗi đau chiến tranh từ những giọt nước mắt giữa thời bình. Chiến tranh đã qua đi nhưng tàn dư mà nó để lại còn ĐAU hơn nỗi BUỒN do cuộc chiến bởi sự đau thương đó không chỉ ngấm xương vào tuỷ mà ngấm vào tâm trí của con người. Nhưng chính cốt cách, phẩm giá của một dân tộc đã giúp cho con người biết gác lại NỖI BUỒN riêng để chia sẻ NỖI ĐAU chung, gắng sức để tồn tại, để vươn lên chờ đón ngày chiến thắng.

Và bây giờ, những người lính đã vượt qua lằn ranh sinh tử, may mắn còn sống trở về. Họ viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc về đồng đội mình, về những kỷ niệm chiến trường, về một thời hoa đỏ đầy tính nhân văn, “Cái tôi” của họ biết hạ xuống để gắn chặt số phận mình với số phận nhân dân, số phận Tổ quốc, số phận đồng loại. Không bi ai, uỷ mị cái “Chất lính” vẫn toát lên qua từng dòng, từng trang sách khí phách hào hùng của dân tộc Việt Nam và cả trách nhiệm với những người đã hi sinh cho tổ quốc mình.

Một tác phẩm văn học cách mạng phải phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Văn chương không thể tách rời chính trị. Một tác phẩm đã bị dư luận xã hội phản đối; cựu chiến binh Việt Nam lên án; nhà nước cấm xuất bản, thu hồi vinh danh không cho phép đại diện các tác phẩm văn học tiêu biểu xuất sắc sau ngày thống nhất đất nước thì không thể “thích” đối với những người tự cho mình là yêu nước, yêu Tổ quốc và càng không thể biện minh “cách nhìn trung lập” về một rác phẩm bị xã hội nguyền rủa, lên án./.


QV-ST!

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC ' RUỘNG MƯỜI NGƯỜI - CÂU CHUYỆN BI TRÁNG VỀ CHIẾN SĨ TIỂU ĐOÀN ĐẶC CÔNG 409!

     Ngày 23-4-1969 (âm lịch), rồi tiếp đó là tháng 8 cùng năm, Tiểu đoàn đặc công 409 đã có hai trận tập kích vào căn cứ Tuần Dưỡng (huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cũ).

Trận đánh đầu tiên vào căn cứ Mỹ và lính nguỵ không thành công vì bị lộ. Tại đó, mười chiến sĩ đặc công của đơn vị tôi đã anh dũng ngã xuống. Hài cốt của các anh nay đã được quy tập về nghĩa trang xã Bình An như một sự trở về bình yên sau những năm tháng chiến trường khốc liệt.

Tôi may mắn sống sót. Đêm ấy, tôi nằm tiền nhập trong khu thông tin của tiểu đoàn thiết giáp Mỹ, sát mé bờ ruộng, vuông góc với hướng tiến công của mũi số 1. Một khoảng cách rất nhỏ đã giữ tôi ở lại với cuộc đời này. Chỉ cần lệch hướng đôi chút, có lẽ tôi cũng đã yên nghỉ cạnh các đồng đội, dưới mảnh ruộng khiêm nhường kia.

Điều khiến tôi day dứt suốt nhiều năm không chỉ là sự mất mát mà là khí phách của các anh. Những người từng sát cánh bên tôi đều rất trẻ, có người chưa tròn đôi mươi. Thế nhưng, khi đối diện với kẻ thù mạnh hơn nhiều lần, không ai lùi bước. Các anh bước vào trận địa với tâm thế của người chiến sĩ hiểu rõ con đường mình chọn, bảo vệ Tổ quốc bằng tất cả những gì mình có, kể cả sự sống cuối cùng.

Người dân địa phương ngày ấy đã chứng kiến 10 chiến sĩ đặc công của ta bị giặc Mỹ sát hại và 2 thương binh bị bắt giữ. Chính những người nông dân chân lấm tay bùn ấy đã đặt tên cho thửa ruộng nơi mười chiến sĩ hy sinh bằng một cái tên mộc mạc mà thắt lòng “Ruộng Mười Người”.

Cái tên ấy không chỉ để gọi một địa điểm. Nó là nén hương tưởng nhớ, là cách người dân giữ lại ký ức cho thế hệ sau. Ở nơi ấy, mỗi nhánh lúa mọc lên như nhắc nhớ về mười con người đã gửi lại tuổi trẻ trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc. 

Không dừng lại sau thất bại, đơn vị chúng tôi tiếp tục mở trận tập kích thứ hai vào căn cứ Tuần Dưỡng từ hướng tây. Trận đánh ấy đã tiêu diệt hơn 250 lính Mỹ, nguỵ, thể hiện bản lĩnh, sự quyết đoán và tinh thần không lùi trước mất mát của Tiểu đoàn đặc công 409. Chiến thắng ấy khẳng định rằng sự hy sinh của mười chiến sĩ đã không vô nghĩa.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Ruộng vẫn là ruộng, những mùa lúa vẫn tuần hoàn, nhưng cái tên “Ruộng Mười Người” thì vẫn nguyên vẹn như lời khắc ghi rằng nơi đây từng có mười người con kiên trung đã nằm xuống để đất nước được bình yên./.
Ảnh: Nghĩa trang Liệt sĩ xã Bình An (nay là xã Thăng Điền) nơi 10 chiến sĩ đặc công yên nghỉ. Cách đó không xa là "Ruộng Mười Người".

Ảnh sưu tầm;
Theo lời kể của Nhà văn, cựu chiến binh Vũ Bình Lục.
Theo ĐSTT
QV-ST!

CẢ ĐỜI NGƯỜI LÀ CỦA NƯỚC NON: 🇻🇳 HỒ CHÍ MINH - MỘT CUỘC ĐỜI, MỘT LÝ TƯỞNG, MỘT DÂN TỘC 🇻🇳

     Có những con người mà khi nhắc đến, không chỉ là một cái tên… mà là cả một niềm tin. Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ đã dành trọn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam - chính là biểu tượng thiêng liêng như thế.

Sinh ra trong bối cảnh đất nước chìm trong cảnh mất nước, Người sớm mang trong tim nỗi đau của một dân tộc bị áp bức. Nhưng thay vì chấp nhận số phận, Người đã lựa chọn một con đường khác: ra đi tìm đường cứu nước. Đó không chỉ là một quyết định táo bạo… mà là bước ngoặt làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc 🌍

Những năm tháng bôn ba nơi đất khách không hề dễ dàng. Đó là hành trình của thử thách, của gian nan, của những đêm dài không quê hương bên cạnh. Nhưng chính trong gian khó ấy, ý chí và niềm tin của Người càng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bởi trong tim Người luôn có một điều duy nhất: làm sao để nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc ❤️

Và rồi, ánh sáng đã xuất hiện. Người đã tìm ra con đường đúng đắn cho dân tộc - con đường dẫn đến độc lập, tự do. Dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã đứng lên, vượt qua muôn vàn thử thách để giành lại quyền làm chủ đất nước mình. Những trang sử hào hùng đã được viết nên từ chính niềm tin và ý chí ấy ✨

Nhưng điều khiến Hồ Chí Minh trở nên vĩ đại không chỉ là những chiến công… mà còn là cách Người sống. Một vị lãnh tụ nhưng luôn giản dị, gần gũi, đặt lợi ích của nhân dân lên trên tất cả. Từng hành động, từng lời nói đều xuất phát từ tấm lòng vì dân, vì nước - một tấm gương sáng cho mọi thế hệ noi theo 🌱

Thời gian có thể trôi qua, nhưng những giá trị mà Người để lại sẽ không bao giờ phai nhạt. Hồ Chí Minh không chỉ là một phần của lịch sử… mà còn là nguồn cảm hứng, là động lực để mỗi người Việt Nam hôm nay tiếp tục bước về phía trước 🇻🇳

💬 Có những cuộc đời khép lại… nhưng lý tưởng thì còn mãi. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh - chính là một lý tưởng sống mãi cùng dân tộc Việt Nam./.
QV-ST!

KỶ NIỆM 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM, THỐNG NHẤT TỔ QUỐC: ĐẶC CÔNG NƯỚC NHẬN MẬT LỆNH GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA!

     Rạng sáng ngày 11-4-1975, trong làn gió biển còn mằn mặn hơi đêm, biên đội ba tàu Không số mang số hiệu 673, 674 và 675 của Đoàn 125 lặng lẽ rẽ sóng ra khơi. Không còi, không đèn, chỉ có mệnh lệnh ngắn gọn: hành quân bí mật giải phóng Trường Sa. Trên Tàu 675, Sở chỉ huy được thiết lập, và trực tiếp chỉ huy chiến dịch là Trung đoàn trưởng Mai Năng dày dạn trận mạc.

Ba ngày lênh đênh, đến 17 giờ ngày 13-4, biên đội tiếp cận mục tiêu đầu tiên: đảo Song Tử Tây. Hòn đảo nhỏ nằm chơ vơ giữa biển Đông, Tàu 673 được lệnh vòng vào trinh sát. Sau đó, cả biên đội lùi ra xa, âm thầm chuẩn bị cho đòn đánh quyết định.

Trong khoang tàu chật hẹp, đồng chí Đào Mạnh Hồng lệnh chỉ huy Phân đội 1, mũi tiến công đầu tiên. Đây đã là trận đánh thứ 16 trong đời lính của Đào Mạnh Hồng nhưng cảm giác khác hẳn. Đó là lần đầu tiên họ đánh chiếm một hòn đảo xa lạ, chưa từng đặt chân tới, chưa có tiền lệ trong chiến thuật đặc công hải quân. Những người lính vốn quen đánh cầu, đánh tàu, đánh kho ven sông giờ phải đối mặt với một chiến trường hoàn toàn mới. Suốt hành trình, bộ đội phải nằm dưới hầm tàu ngột ngạt, say sóng đến kiệt sức. Nhưng khi nhận lệnh chiến đấu, tất cả như bừng tỉnh. Ý chí lấn át mọi cơn mệt mỏi.

19 giờ ngày 13-4, Tàu 673 áp sát đảo lần đầu nhưng bị địch bắn pháo sáng xua đuổi. Con tàu lùi ra, thả trôi giữa sóng tối. Hai tàu còn lại cơ động giữ vị trí sẵn sàng chi viện. Phải chờ đến 1 giờ sáng ngày 14-4, khi đêm xuống dày đặc nhất, Tàu 673 mới tắt hết đèn, lặng lẽ tiến vào lần nữa. Người thuyền trưởng giàu kinh nghiệm điều khiển con tàu len lỏi tìm điểm đổ bộ thuận lợi nhất.

Xuồng cao su hạ xuống biển. Khi còn cách đảo khoảng 5 km, các chiến sĩ nhảy xuống nước, bắt đầu hành trình bơi trong đêm tối. Sóng liên tục đánh dạt, nước mặn xộc vào miệng, vào mắt. Họ phải mất tới ba giờ mới vào được vị trí đã định.

4 giờ 30 phút sáng, trong khoảnh khắc tĩnh lặng trước bình minh, mệnh lệnh tấn công được phát ra. Ba phát B41 xé toạc màn đêm, nhắm thẳng vào ăng-ten sở chỉ huy địch. Đó là tín hiệu khai hỏa. Ngay lập tức, ba tổ chiến đấu đồng loạt xung phong, lựu đạn, thủ pháo dội vào các lô cốt.

15 phút đầu tiên, trận đánh diễn ra ác liệt đến nghẹt thở. Địch từ các công sự bắn trả dữ dội. Ngoài khơi, Tàu 673 cũng nổ súng chi viện. Không còn ranh giới giữa tiến hay lùi, cả hai phía đều bị dồn vào thế sống còn. Nhưng khí thế của những người lính giải phóng đang dâng cao theo nhịp thắng lợi từ đất liền, còn phía bên kia, tinh thần đã lung lay trước những tin tức thất bại liên tiếp.

Sau 30 phút giằng co, thế trận nghiêng hẳn. Địch co cụm về phía Tây Nam đảo. Đúng 5 giờ 15 phút, Song Tử Tây hoàn toàn được giải phóng. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh cột cờ, giữa gió biển lồng lộng. 

Chiến thắng ấy không trọn vẹn niềm vui. Hạ sĩ Tống Văn Quang, 22 tuổi, đã ngã xuống ngay trên đảo. Đồng đội chôn cất anh trong cát, dùng tăng võng làm áo quan, nổ súng tiễn biệt giữa trùng khơi. Một người khác là Ngô Văn Quyền - người đã lao lên che đạn cho chỉ huy của mình, bị thương nặng và hy sinh hai ngày sau đó, khi chưa kịp trở lại đất liền.

Sau trận đánh, một nhóm nhỏ đặc công được lệnh ở lại giữ đảo. Những ngày tiếp theo là chuỗi thử thách khắc nghiệt: thiếu lương thực, thiếu nước ngọt, thời tiết dữ dội, đêm mưa như bão. Họ sống bằng trứng chim, rau dại và khẩu phần ít ỏi mang theo. Nhưng điều đáng sợ nhất không phải là đói hay bệnh mà là nguy cơ bị lực lượng nước ngoài chiếm lại đảo.

Để đánh lừa những con tàu lạ lảng vảng quanh đảo, họ đắp ụ cát, dựng thân dừa giả làm pháo, phủ bạt ngụy trang như trận địa thật. Những “khẩu pháo” im lặng ấy đã khiến đối phương chùn bước, sau nhiều ngày thăm dò rồi rút đi./.
QV-ST!

LẠI MỘT LẦN NỮA - CHIÊU TRÒ CŨ KÍCH ĐỘNG CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC!

     Lại một lần nữa, trên mạng xã hội xuất hiện những hình ảnh, khẩu hiệu tưởng như “đòi quyền lợi” nhưng thực chất lại ẩn chứa thông điệp sai lệch, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Tấm banner lan truyền với nội dung kêu gọi “người Kinh chấm dứt gọi chúng tôi là dân tộc” thoạt nhìn có vẻ là một ý kiến phản ánh, nhưng thực chất đã bị chỉnh sửa có chủ đích, cắt ghép phiến diện, đánh tráo khái niệm nhằm bóp méo thông tin và dẫn dắt nhận thức theo hướng tiêu cực.

Trước hết cần khẳng định rõ: Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh là một bộ phận cấu thành. Khái niệm “dân tộc” trong hệ thống pháp lý và khoa học không mang ý nghĩa phân biệt hay đối lập, mà nhằm xác định đặc trưng văn hóa, lịch sử của từng cộng đồng trong tổng thể thống nhất. Việc cố tình phủ nhận hoặc bóp méo khái niệm này không phải là cách tiếp cận khoa học, mà là biểu hiện của việc tạo ra mâu thuẫn từ những điều vốn dĩ không tồn tại mâu thuẫn.

Không khó để nhận ra, đây là những luận điệu cũ rích đã nhiều lần xuất hiện trên không gian mạng, chỉ thay đổi hình thức thể hiện để tạo cảm giác “mới”. Từ các khẩu hiệu ngắn gọn, hình ảnh dễ lan truyền cho đến cách đặt vấn đề mang tính cảm xúc, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là khơi gợi tâm lý so sánh, từng bước tạo ra sự nghi ngờ, chia rẽ giữa các cộng đồng dân tộc.

Thực tế cho thấy, chính sách dân tộc của Việt Nam luôn nhất quán trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và hỗ trợ cùng phát triển. Nhiều chương trình, chính sách lớn đã được triển khai nhằm cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, từ đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế đến bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Những kết quả đạt được là minh chứng rõ ràng rằng không tồn tại sự phân biệt như các luận điệu xuyên tạc cố tình dựng lên.

Việc sử dụng những khẩu hiệu mang tính cực đoan như trong hình ảnh không chỉ là sự hiểu sai vấn đề, mà còn là chiêu trò nguy hiểm nhằm khoét sâu khác biệt, làm suy giảm niềm tin và phá vỡ nền tảng đoàn kết. Khi một thông tin bị bóp méo và lặp đi lặp lại nhiều lần, nó có thể tạo ra hiệu ứng tâm lý sai lệch nếu người tiếp nhận không đủ tỉnh táo để kiểm chứng.

Cần thấy rằng, sự đa dạng về dân tộc là một giá trị, không phải là rào cản. Việc nhận diện đúng bản chất vấn đề và hiểu đầy đủ bối cảnh chính sách là điều cần thiết để không bị dẫn dắt bởi những thông tin phiến diện. Không có cái gọi là “đòi lại danh xưng” ở đây, mà chỉ có sự cố tình bóp méo khái niệm để phục vụ mục đích chia rẽ.

Những luận điệu như vậy không mới, chỉ là bản sao cũ được khoác lên hình thức mới. Điều quan trọng là mỗi người cần tỉnh táo trước các nội dung mang tính kích động, không tiếp nhận một chiều và không để những thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc - nền tảng quan trọng của sự ổn định và phát triển đất nước./.
QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: 🇻🇳 HANG PÁC BÓ - NƠI KHỞI NGUỒN CỦA DÒNG THÁC CÁCH MẠNG!

     Bức ảnh ghi lại một khoảnh khắc lặng lẽ mà thiêng liêng: Người ngồi đó, đôi chân gầy guộc ngâm dưới làn nước suối Lê-nin lạnh giá tại hang Pác Bó. Giữa đại ngàn Cao Bằng, nơi "bàn đá chông chênh dịch sử Đảng", bóng dáng tiều tụy vì sương gió của Bác hiện lên thật gần gũi nhưng cũng đầy nỗi niềm trăn trở.

Trong hang đá ẩm thấp, bên dòng suối vắng, mỗi bước chân của Người đều mang theo vận mệnh cả một quốc gia. 

Những năm tháng ấy, "Ông Ké" không cô đơn. Người sống trong hơi ấm của đồng bào Việt Bắc, trong từng bắp ngô, củ sắn nhường cơm sẻ áo. Sự chở che của nhân dân chính là bức tường thành vững chãi nhất, là niềm tin sắt son để Bác vượt qua gian khổ, chèo lái con thuyền dân tộc qua cơn bão táp để tìm lại ánh sáng độc lập. 

Ánh mắt Người nhìn xuống dòng nước, như đang soi thấu nỗi đau mất nước và quyết tâm giành lại tự do cho muôn đời con cháu.🇻🇳

Bức ảnh trên là một tác phẩm hình ảnh minh họa được phục dựng dựa trên những tư liệu lịch sử quý giá về quãng thời gian Bác Hồ hoạt động cách mạng tại hang Pác Bó (Cao Bằng) năm 1941

❤️Chúng con xin nghiêng mình tri ân Người - vị lãnh tụ đã hy sinh trọn đời mình cho mùa xuân của đất nước. Đời đời nhớ ơn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: CÂU CHUYỆN BÁC HỒ ỐM NẶNG "THẬP TỬ NHẤT SINH" TRƯỚC TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945!

     Khi ở lán Nà Lừa, điều kiện làm việc của Bác Hồ hết sức gian khổ và khó khăn, với những bữa ăn đạm bạc, chỉ có măng rừng chấm muối, cơm chan nước chè xanh. Cuộc sống nơi hang sâu lạnh lẽo giữa rừng già vô cùng gian khổ, vất vả, cộng thêm rừng thiêng nước độc, nên sức khỏe của Bác giảm sút. Cuối tháng 07-1945, trong khi tình hình trong nước và quốc tế diễn biến có lợi cho cách mạng, Bác Hồ của chúng ta đã lâm bệnh nặng, có thể nói đây là một trận ốm "thập tử nhất sinh". Y tế của chúng ta đã cố gắng hết sức để chữa trị cho Người nhưng không hiệu quả.

Bác biết bản thân bị bệnh nặng, ngoại trừ thời gian sốt cao và mê man, Người luôn trăn trở đến sự nghiệp cách mạng. Bác đã gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến và căn dặn: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập". Có thể coi đó là một lời di chúc nếu Người không qua khỏi. 

Nhưng may sao sau đó đã xuất hiện một cụ thầy lang người dân tộc Tày đến chữa bệnh cho Bác. Cụ lang thăm bệnh của Bác rất lâu, sau khi bắt mạch, cụ đi vào rừng và đem về một thứ củ gì đó rất lạ, đốt cháy, hòa vào cháo loãng mời Bác uống. Kỳ lạ thay, ăn thứ thuốc hòa cháo đó vào, Bác Hồ của chúng ta nhanh chóng hồi phục và tiếp tục làm việc. Và từ đó Người tiếp tục lãnh đạo con đường cách mạng cho đến lúc "trở về với Thế giới Người Hiền" vào năm 1969. 

Cụ lang người Tày đó sau này chúng ta cố gắng tìm lại nhưng không thể nào tìm được, cho dù đã dùng rất nhiều cách. Cũng có thể đó là "người Trời phái xuống" để cứu nguy cho vị anh hùng dân tộc lỗi lạc của chúng ta. 

Dân tộc ta mãi ghi nhớ công ơn to lớn đó của cụ!
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGUYỄN CAO KỲ NÓI GÌ VỀ PHẠM NGỌC THẢO?

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGUYỄN CAO KỲ NÓI GÌ VỀ PHẠM NGỌC THẢO?

     “Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi” - lời ông Nguyễn Cao Kỳ nói.

Năm 1962, sau khi thôi làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa, sang Mỹ học một khóa quân sự cao cấp, Phạm Ngọc Thảo được bổ nhiệm làm Thanh tra Ấp chiến lược, trực thuộc Phủ Tổng thống. Thời gian này mối quan hệ giữa ông với ông Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang càng thân thiết. Với sức thuyết phục mạnh mẽ của một nhà quân sự vừa có trình độ, vừa chân thành vốn có, ông được nhiều sĩ quan có tinh thần dân tộc ngưỡng mộ.

Trong những năm 1962 - 1963, giữa lúc phong trào Đồng khởi lan rộng ở nông thôn, chính trường miền Nam Việt Nam trở nên rối ren. Gia đình họ Ngô vừa cai trị độc tài, vừa muốn thoát khỏi sự can thiệp của người Mỹ, tình hình này khiến cho phong trào đấu tranh của quần chúng ở đô thị dâng cao. Người Mỹ thì muốn gạt bỏ gia đình họ Ngô để thay vào đó giới lãnh đạo thân Mỹ nhằm biến miền Nam thực sự là một tiền đồn chống cộng. Biết trước sau gì gia đình họ Ngô cũng bị người Mỹ lật đổ để dựng lên một chính quyền nguy hiểm hơn, Phạm Ngọc Thảo cùng với Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang lên một kế hoạch đảo chính với mục tiêu “cải sửa” chế độ nhằm vô hiệu hóa ý đồ của người Mỹ. Theo kế hoạch này, lực lượng đảo chính sẽ vẫn giữ Ngô Đình Diệm làm tổng thống, chỉ buộc Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch bị lộ, Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm lãnh sự ở Ai Cập. Ngô Đình Nhu không tin Phạm Ngọc Thảo tham gia kế hoạch này, thứ nhất là ông Nhu không tin ông Thảo phản bội, thứ hai là ông Thảo “không có quân”. Thực ra lúc đó ông Thảo đã được nhiều sĩ quan chỉ huy ở Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, một số đơn vị biệt động quân, bảo an hậu thuẫn. Cuộc đảo chính không thành chủ yếu do thành phần đảo chính không phải là những người mà người Mỹ có thể nắm được.

Và như chúng ta đã biết, ngày 1.11.1963, một nhóm tướng lĩnh do Mỹ bật đèn xanh, đã tiến hành đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Anh em ông Diệm, ông Nhu bị ch,ết thảm. “Hội đồng quân nhân cách mạng” (HĐQNCM) do tướng Dương Văn Minh đứng đầu lên cầm quyền. Phạm Ngọc Thảo dù không chủ động tham gia cuộc đảo chính này, vẫn được HĐQNCM cử làm tùy viên báo chí, sau đó được cử sang Mỹ tu nghiệp. HĐQNCM cầm quyền được 2 tháng, đã bị tướng Nguyễn Khánh và tướng Trần Thiện Khiêm 2 lần “chỉnh lý”, thâu tóm mọi quyền lực.

Lên cầm quyền, Nguyễn Khánh rút Phạm Ngọc Thảo về nước, cử làm giám đốc báo chí, phát ngôn viên chính phủ, lúc này ông đã được thăng đại tá. Mâu thuẫn giữa các tướng lĩnh trong giới cầm quyền ngày càng gay gắt, Nguyễn Khánh tiếp tục loại Trần Thiện Khiêm, đưa ông tướng này đi làm đại sứ tại Mỹ. Phạm Ngọc Thảo cũng được đưa sang Mỹ làm tùy viên văn hóa, quân sự vào đầu tháng 10.1964. Ông đưa luôn vợ con sang (họ định cư ở Mỹ cho đến ngày nay). Tuy nhiên, sau đó do nghi ngờ Phạm Ngọc Thảo, nên cuối năm 1964, Nguyễn Khánh ra lệnh triệu hồi Phạm Ngọc Thảo về nước, với ý đồ sẽ bắt ông tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phạm Ngọc Thảo đã khôn khéo không về đúng giờ bay dự định nên thoát. Có mặt ở Sài Gòn, ông bí mật móc nối tổ chức lực lượng, kéo tướng Lâm Văn Phát và hàng chục sĩ quan khác tiến hành cuộc đảo chính ngày 19.2.1965.

Điều kỳ lạ là lúc đó Phạm Ngọc Thảo, tuy là đại tá nhưng không cầm quân và đang bị Nguyễn Khánh truy bắt, lại có thể tổ chức và chỉ huy một lực lượng không dưới một sư đoàn làm binh biến (gồm các đơn vị thiết giáp với 45 xe tăng và thiết giáp, các đơn vị địa phương quân, lực lượng của Trường bộ binh Thủ Đức và chủ lực là trung đoàn 46 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh). Cuộc binh biến do tướng Lâm Văn Phát cầm đầu về danh nghĩa, còn thực tế do Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy, sau này người ta gọi ông là “Tư lệnh hành quân 19.2”.

Chỉ trong 1 ngày, lực lượng đảo chính đã chiếm Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô (trại Lê Văn Duyệt), Đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Đáng tiếc là do một số sơ sót trong hợp đồng tác chiến, Nguyễn Khánh đã được Tư lệnh Không quân lúc đó là Nguyễn Cao Kỳ cứu thoát.

Chúng tôi có dịp gặp ông Nguyễn Cao Kỳ năm 2008. Hỏi về sự kiện này, ông Nguyễn Cao Kỳ nói: “Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi”. Ngẫm nghĩ một hồi, ông Kỳ nhớ lại: “Cuộc đảo chính diễn ra bất ngờ đến mức tôi không kịp mặc áo, chỉ mặc may ô chui hàng rào thép gai ra lấy máy bay chạy về Biên Hòa. Sau đó ông Thảo lên Biên Hòa gặp tôi, cùng đi có một đại tá Mỹ. Ổng thuyết phục tôi ủng hộ quân đảo chính. Nói thật là tôi không ưa gì Nguyễn Khánh, nhưng quân đội đánh nhau tôi không đồng ý. Tôi bảo các anh phải cho quân về ngay doanh trại, đến 5 giờ chiều mà không rút quân tôi sẽ cho máy bay ném b,om”. Đó là lý do khiến cuộc đảo chính thất bại.

Tuy nhiên, Nguyễn Khánh cũng bị loại. Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và một số tướng lãnh được sự hậu thuẫn của người Mỹ đã lựa gió phất cờ, họp Hội đồng tướng lãnh buộc Nguyễn Khánh từ chức và trục xuất ông này ra nước ngoài với danh nghĩa là “đại sứ lưu động”, cử tướng Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống đảo chính, ra lệnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát cùng 13 sĩ quan “đầu sỏ” tham gia đảo chính trong vòng 24 giờ phải ra trình diện. Phạm Ngọc Thảo, tướng Lâm Văn Phát, trung tá Lê Hoàng Thao (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46) bỏ trốn.

Tháng 6.1965, Hội đồng tướng lĩnh giải tán chính phủ dân sự của Phan Huy Quát, đưa tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia (tương đương quốc trưởng), tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương (tương đương thủ tướng). Chính quyền Thiệu - Kỳ lập tòa án quân sự để xử những người tham gia đảo chính. Phạm Ngọc Thảo bị kết án t,ử hình vắng mặt, ông bị treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được ông.

Lúc này tuy ông phải lẩn tránh sự truy bắt của chính quyền, nhưng vẫn còn nắm được 1 tiểu đoàn. Ông liên lạc với ông Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt gặp ông và gợi ý ông ra chiến khu cho an toàn, có thể dẫn theo tiểu đoàn này với danh nghĩa binh biến ly khai. Tuy nhiên, ông cho biết ông vẫn còn có khả năng tổ chức đảo chính để ngăn chặn chính quyền quân phiệt rước quân viễn chinh Mỹ vào gây tội ác. Ông Võ Văn Kiệt đồng ý.

Phạm Ngọc Thảo tiếp tục hoạt động bí mật ở Sài Gòn, cho xuất bản tờ “Việt Tiến” để tập hợp lực lượng. Ông được các giám mục, linh mục, giáo dân Công giáo cùng nhiều bạn bè trong và ngoài quân đội giúp đỡ, bảo vệ.

Còn Nguyễn Văn Thiệu, sau khi lên nắm chính quyền, thấy rõ Phạm Ngọc Thảo là mối đe dọa nguy hiểm đến vị trí quyền lực của mình, nên quyết tìm mọi cách tiêu d,iệt ông để trừ hậu họa. 

Cuối cùng Thiệu cũng bắt được Đại tá Phạm Ngọc Thảo, ông đã hy sinh anh dũng và bi tráng. Vì nhiều lý do, nhất là phải đảm bảo an toàn cho vợ con ông đang ở nước ngoài, phải đến rất lâu sau ngày thống nhất đất nước, thân phận của ông mới được hé lộ. Và người ta ngưỡng mộ, sững sờ trước ván bài lật ngửa mà ông từng chơi, từng đùa cợt với hiểm nguy như chốn không người. Cái chết đối với ông nhẹ tựa lông hồng. Nhưng khúc tráng ca sẽ còn ngân vang mãi…
QV-ST!