Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

TẠI SAO LIÊN XÔ ĐỔ: HAI NGÀY NHỤC NHÃ CỦA GORBACHEV LÀ BÀI HỌC KHÔNG CHỈ DÀNH CHO MỖI ÔNG TA!

     Một bức ảnh hiếm hoi, chắc rất ít người được biết. Ảnh được chụp vào ngày 21/6/1994. Trong ảnh, M.Gorbachev, cựu Tổng thống Liên Xô bị triệu tập đến Tòa án Tối cao, với tư cách là nhân chứng. Tại đây, ông ta đã trải qua 2 ngày trả lời các câu hỏi của Tòa án và của nhân chứng. Đấy có lẽ lần duy nhất trong đời mình, Gorbachev phải đứng trước Tòa, bị các tướng lĩnh cao cấp Liên Xô chỉ tay vạch mặt là kẻ phản bội Tổ quốc. Đó là tại phiên thẩm vấn trong quá trình xét xử Đại tướng Valentin Ivanovich Varennikov Anh hùng Liên Xô, nguyên Thứ trưởng Bộ quốc phòng Liên Xô!

Đại tướng Valentin Varenikov bị bắt tháng 8/1991 sau vụ chính biến, dù không chính thức là thành viên của Ủỷ ban nhà nước về tình trạng khẩn cấp, nhưng vào ngày 18/8, ông đã cùng với Baklanov, Shenin và Boldin, đến gặp Gorbachev ở Foros để thuyết phục ông ta ban bố tình trạng khẩn cấp toàn quốc. Ông bị buộc tội phản quốc và bị giam giữ tại Moskva.

Tháng 2/1994, Varenikov là bị cáo duy nhất trong vụ án Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước từ chối ân xá, yêu cầu phải mở một Phiên tòa để xét xử ông. Ông cũng yêu cầu Tòa phải gọi Gorbachev đến với tư cách là nhân chứng.

Valentin Varenikov(15/12/1923 - 05/06/2009) là Anh hùng Liên Xô, cựu chiến binh cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và Afghanistan, tham gia vào các cuộc chiến ở Angola, Syria, Ethiopia, trưởng ban khắc phục hậu quả của vụ Chernobyl. Năm1991, Tổng tư lệnh Lực lượng Mặt đất, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Quân công, hai Huân chương Lenin, bốn Huân chương Cờ Đỏ và nhiều huân huy chương khác.

….Trở lại phiên thẩm vấn. Theo hồi ký của đại tướng Varenikov, Gorbachev đến Tòa phải đi qua một đám đông giận dữ, giương biểu ngữ “Gorbachev- tên Giuda”, “Gorbachev-tên phản bội”, “Gorbachev phải bị xét xử”. Dù cảnh sát đông nghịt, có hành lang bảo vệ, người ta vẫn kịp ném cà chua, trứng thối, đồ hộp…vào Gorbachev và các tùy tùng.

Gorbachev có 2 ngày ở Tòa với tư cách nhân chứng. Ngày đầu tiên, ông ta bị công tố viên A. Danilov và thẩm phán nhân dân, tướng V. Podustov thẩm vấn. Mới bắt đầu, Gorbachev đã nói: Thưa Quý Tòa! Tôi đã suy nghĩ rất lâu không biết có nên đến phiên tòa này hay không?

Thế cuối cùng là đến hay không đến? Chủ tọa ngắt lời và nhìn Gorbachev.

Gorbachev bối rối chuyển chân liên tục, thực sự là ông ta không thể giải thích bất cứ điều gì. Sau đó, Chủ tọa Thiếu tướng Tư pháp V.A. Yaskin nói: Nếu ông không xuất hiện trước tòa, người ta sẽ buộc ông phải đến. Ông là một nhân chứng.

Tiếp theo, với những câu hỏi của công tố viên A. Danilov và thẩm phán nhân dân, tướng V. Podustov ,đặc biệt là về sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết, họ đã dồn Gorbachev vào chân tường theo đúng nghĩa đen. Bị “nóng gáy”, Gorbachev phải hét lên: “Tôi hiểu mình đang ở đâu!”, “Tôi hiểu đây là loại tòa án nào!” v.v … Nhưng Chủ tọa đã nhắc nhở ông ta, cảnh báo rằng cuộc điều tra tư pháp được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật và không có vi phạm nào cả.

Ngày thứ hai, là ngày mà bị cáo, đại tướng Varenikov được phép hỏi, Gorbachev chỉ trả lời. Varenikov chọn cách xưng hô duy nhất, chỉ gọi Gorbachev là “nhân chứng”.

Sau khi truy vấn Gorbachev, với tư cách tổng thống Liên Xô, ông ta có nghĩa vụ phải tuân thủ các các sắc lệnh và các quyết định khác của Xô Viết Tối cao của Liên Xô hay không và nhận được câu trả lời miễn cưỡng là có, Varenikov tiếp tục: Vậy thì hãy nói cho tôi biết, nhân chứng, tại sao ông lại không tuân thủ Nghị quyết của Xô Viết tối cao Liên Xô ngày 23 tháng 11 năm 1990? Nó có tên gọi là “Về tình hình trong nước.” Phần nội dung của nghị quyết này nói rằng một tình huống khẩn cấp đã nảy sinh ở nước ta. Và trong đó một khuyến nghị đã được đưa ra: Tổng thống Liên Xô thực hiện đầy đủ, tức là, các biện pháp khẩn cấp để lập lại trật tự. Tại sao ông không làm điều đó?

Gorbachev lúng túng trả lời vòng vo không đúng câu hỏi. “Bị cáo” lại hỏi tiếp: Chúng tôi đến chỗ ông ở Crimea vào tháng 8/1991 (thời gian chính biến-ND). Đó là thời điểm 9 tháng sau Nghị quyết đó. Và chúng tôi đã đưa ra các đề xuất tương tự, như trong nghị quyết, đó là đưa ra tình trạng khẩn cấp khi tình hình yêu cầu. Và nếu các biện pháp được thực hiện vào cuối năm 1990, như đã được ghi trong Nghị quyết của Xô viết Tối cao, thì có lẽ, sẽ không có sự kiện nào xảy ra vào tháng 8 năm 1991. Tại sao ông lại không tuân thủ Nghị quyết?

Gorbachev lại tiếp tục vòng vo, tướng Varenikov nói với Tòa là nhân chứng Gorbachev tiếp tục cố tình kéo dài thời gian….Sau khi tiếp tục truy vấn Gorbachev thêm một số câu nữa, “bị cáo” Varenikov nói: Nhân chứng, bây giờ tôi sẽ đặt cho ông một câu hỏi, mà có thể không được thoải mái cho lắm. Nhưng tôi cần phải đặt ra câu hỏi đó.

Gorbachev khi đó đã ngồi trên ghế. Varenikov nhìn thẳng vào mắt Gorbachev hỏi: Hãy nói, nhân chứng, tại sao ông trong hoạt động của mình lại trở thành một kẻ phản bội Đảng và phản bội nhân dân của mình?

Tất nhiên, chưa ai từng nói điều đó với Gorbachev. Ông ta ngay lập tức bật dậy và bắt đầu hét lên: “Đây là sự tùy tiện, điều này là không thể chấp nhận được! Chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy? Tại sao các ông không chấn chỉnh ông ấy? ” Trong cùng một mạch, Gorbachev tiếp tục “nói” trong vài phút nữa. Chủ tọa cũng đứng dậy, nói rằng mọi thứ đang diễn ra trong khuôn khổ của thủ tục tư pháp … Đại tướng Varenikov nhìn thấy cảnh đó và nghĩ : “Điều này lẽ ra phải được nói với Gorbachev sớm hơn, ít nhất là vào năm 1987-1988. Có lẽ khi đó sẽ không xảy ra thảm kịch như vậy”.

Cuộc đọ sức đã kết thúc. Gorabachev tuyên bố: Tôi sẽ kiện ông ta!

Đây là quyền của ông… Ông có thể khởi kiện tại nơi cư trú, Chủ tọa V. Yaskin trả lời.

Varenikov nghĩ: “Sẽ tốt nếu ông ấy kiện. Tôi có hàng triệu nhân chứng”.

Những chi tiết về cuộc “đọ sức” này tại Phiên thẩm vấn xét xử đại tướng Varenikov mình dịch từ hồi ký của chính ông “Về Uỷ ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp”.

Varenikov viết tiếp: “Có lẽ, trong cả cuộc đời của mình, Gorbachev chưa bao giờ trải qua sự sỉ nhục công khai như tại phiên tòa này. Đã từng có một sự sỉ nhục tại một cuộc họp của Xô Viết Tối cao CHXHCN Xô viết Liên bang Nga, khi Gorbachev đứng trên bục, và Yeltsin tiến lại gần và chỉ tay vào mặt Gorbachev, đưa ra tờ giấy và yêu cầu”Hãy đọc đi”. Và ông ta đã phải đọc. Nhưng đó chỉ là một thời điểm. Nhưng đây là hai ngày thẩm vấn ông ta với tư cách là nhân chứng. Hai ngày nhục nhã”.


Cũng tại Phiên tòa này, Nguyên soái Pháo binh Vladimir Mikhailovich Mikhalkin khi được gọi lên với tư cách nhân chứng, ông đã tuyên bố: “Tội ác của Gorbachev là ông ta đã phá hủy hệ thống tên lửa Oka, hệ thống không có tương tự trên thế giới. Một người đàn ông ăn cắp một túi khoai tây, anh ta sẽ bị bỏ tù. Và khi làm thiệt hại hàng tỷ đô la cho đất nước và thiệt hại cho quốc phòng thì ông ta lại không phải chịu trách nhiệm gì”

Sau nhiều ngày xét xử, một sự kiện hy hữu nhất trong thực tiễn tư pháp Liên Xô và Nga đã xảy ra - công tố viên yêu cầu tòa án tuyên bố bị cáo trắng án. Ngày 11/8/1994, Hội đồng quân sự của Tòa án tối cao, dưới sự chủ trì của Thiếu tướng Tư pháp V.A. Yaskin đã tuyên bố Valentin Varenikov trắng án.

….Sau khi chiến thắng tại Phiên tòa, đại tướng Varenikov tiếp tục con đường chính trị, Năm 1995, ông được bầu vào Duma Quốc gia của Liên bang Nga . Từ tháng 1/1996 đến năm 1999, ông làm chủ tịch Ủy ban Đuma Quốc gia về các vấn đề cựu chiến binh. Ông mất ngày 6/5/2009.

Sau này, dù rằng không phải ra hầu tòa với tư cách bị cáo (tháng 4/2014 một số đại biểu Duma Quốc gia Nga (Yevgeny Fedorov, Anton Romanov (Đảng nước Nga Thống nhất), Ivan Nikitchuk, Oleg Denisenko (Đảng Cộng sản Liên bang Nga), Mikhail Degtyarev (Đảng dân chủ tự do )đã yêu cầu đem Gorbachev ra xét xử về tội đã lam tan rã Liên Xô), nhưng ít ra trong đời có một lần Gorbachev đã phải ra đứng trước Tòa, cúi đầu trước những lời cáo buộc hào sảng của một vị đại tướng Liên Xô về tội phản bội Đảng, phản bội nhân dân.

Từ chối ân xá, yêu cầu mở phiên toà xét xử chính mình, vạch tội kẻ phản bội tại đó và chiến thắng. Valentin Varenikov, ông đúng là một người Anh hùng!
Ảnh 1: Đại tướng Valentin Ivanovich Varennikov Anh hùng Liên Xô, nguyên Thứ trưởng Bộ quốc phòng Liên Xô.

Ảnh 2: Ảnh chụp vào ngày 21/6/1994. Trong ảnh, M.Gorbachev, cựu Tổng thống Liên Xô bị triệu tập đến Tòa án Tối cao.
QV-ST!

TẠI SAO LIÊN XÔ ĐỔ: TRÙM TUYÊN GIÁO YAKOLEV VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA NHÀ NƯỚC LIÊN XÔ!

     Ngoài Gorbachev thì còn một kẻ khác không kém phần quan trọng thúc đẩy quá trình Liên Xô sụp đổ, đó chính là Trưởng Ban Tuyên truyền Đảng Cộng sản Liên Xô Alexander Yakovlev. Alexander Yakovlev, “kiến trúc sư cải tổ” Liên Xô đã bị vạch mặt là “điệp viên có ảnh hưởng” của Mỹ.

Yakovlev sinh ngày 2/12/1923 trong một gia đình nông dân ở một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Volga gần thành phố Yaroslavl của tỉnh Yaroslavl của Liên Xô. Nhờ thành tích chiến đấu trong Chiến tranh Vệ quốc, Yakovlev được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô vào năm 1944.

Học bổng Fulbright và mầm mống của sự sụp đổ Đảng Cộng sản Liên Xô.
Năm 1958, dưới thời Nikita Sergeyevich Khrushchev làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, 17 người thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô được cử đi sang Mỹ du học một năm bằng học bổng Fulbright. Trong số đó có 14 người là sĩ quan KGB, còn lại là làm công tác đảng trong đó có Alexander Yakovlev.

Theo học bổng Fulbright, A. Yakovlev theo học chương trình thực tập sinh tại Đại học Columbia (Hoa Kỳ) dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Chính trị học Hoa Kỳ David Truman, một trong những người sáng lập học thuyết đa nguyên chính trị và là một chuyên gia chống cộng khét tiếng. Theo hồi ký của cựu Chủ tịch KGB V. Kryuchkov, A. Yakovlev được cơ quan tình báo Hoa Kỳ tuyển mộ trong thời gian đang là học viên của Viện hàn lâm khoa học xã hội sang Hoa Kỳ thực tập tại Đại học Columbia. Việc A. Yakovlev bị cơ quan tình báo nước ngoài tuyển mộ cũng được trung tướng Y. Pitovranov và cựu Chủ tịch KGB Viktor Chebrikov xác nhận.

Alexander Yakovlev, “kiến trúc sư cải tổ” Liên Xô đã bị vạch mặt là “điệp viên có ảnh hưởng” của Mỹ.
Trở về Liên Xô vào năm 1960, A. Yakovlev theo học chương trình nghiên cứu sinh tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội và bảo vệ Luận án Phó Tiến sĩ với đề tài “Phê bình văn học tư sản Mỹ về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1953-1957”. Năm 1967, A. Yakovlev bảo vệ Luận án Tiến sĩ với đề tài “Khoa học chính trị Hoa Kỳ và các chính sách đối ngoại của đế quốc Mỹ giai đoạn 1945-1966”.

Vào năm 1972, vì viết bài báo “Chống chủ nghĩa phản lịch sử” trên báo Văn học nên Yakovlev bị thuyên chuyển đi Canada làm đại sứ trong 10 năm (1973 – 1983). Trong thời gian làm Đại sứ tại Canada, A. Yakovlev có dịp tiếp xúc gần gũi và kết thân với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachev trong thời gian ông thăm chính thức Canada.

Theo hồi ký của Trung tướng KGB Y. Pitovranov, Phòng Thương mại và công nghiệp Liên Xô, một tổ chức được thành lập vào năm 1969, với nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo thông qua các doanh nhân phương Tây quan tâm hoạt động kinh tế ở Liên Xô, đã từng gửi báo cáo về Moscow rằng trong thời gian làm Đại sứ Liên Xô ở Canada, A. Yakovlev đã nhận những món quà tặng có giá trị vượt quá xa tiền lương và cả kinh phí được Chính phủ phân bổ cho Đại sứ quán.

Đáng chú ý là, do tiết lộ của A. Yakovlev trong thời gian ông làm Đại sứ tại Canada, có tới 17 nhân viên đại sứ quán Liên Xô bị Chính phủ Canada trục xuất với cáo cuộc “hoạt động gián điệp dưới vỏ bọc ngoại giao”. Nhận được báo cáo này, Chủ tịch KGB Yu. Andropov chuẩn y bản báo cáo về A. Yakovlev và gửi tới Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô L. Brezhnev. Tuy nhiên, sau khi đọc xong báo cáo, L. Brezhnev nói: “Là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, A. Yakovlev không thể là kẻ phản bội”. Mặc dù vậy, Yu. Andropov vẫn đề nghị bãi miễn chức Đại sứ của A. Yakovlev. Tuy nhiên, M. Suslov – Trưởng Ban Tổ chức Trung ương – đã bác bỏ đề nghị này với lý do “bổ nhiệm hay bãi miễn chức Đại sứ không phải là chức năng của KGB mà là của Ban Bí thư và Bộ chính trị.

Trong phiên toà “Vụ án Đảng Cộng sản Liên Xô” tại Toà án Hiến pháp năm 1992, Yakovlev đã đề nghị F.M.Rudinski (luật sư bảo vệ Đảng Cộng sản Liên Xô) rằng: “Tôi đề nghị ông đừng hỏi tôi về những năm 1973 – 1983. Tôi đã vắng mặt ở đây trong mười năm đó. Còn vào những thời điểm khác, mới ông cứ tự nhiên”. Cho đến khi Rudinski đưa ra câu hỏi: “Ngài có phải là điệp viên CIA không?” thì Yakovlev đã tỏ ra vô cùng lúng túng, cằm xệ xuống.

Sau khi trở về Liên Xô, A. Yakovlev được M.S. Gorbachev tiến cử vào chức Viện trưởng Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế. Đề xuất của M. Gorbachev được Yu. Andropov chấp nhận. Dưới sự lãnh đạo của A. Yakovlev, Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đưa ra nhiều kiến nghị gửi Ban Chấp hành Trung ương về cải cách nền kinh tế Liên Xô theo hướng thành lập xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Kể từ khi M. Gorbachev thực hiện chính sách cải tổ Liên Xô vào năm 1985, A. Yakovlev được bổ nhiệm làm Trưởng ban Tuyên truyền của Ban Chấp hành Trung ương chuyên trách về công tác tư tưởng, thông tin và văn hóa, đồng thời được bầu vào Bộ Chính trị.

Từ 1986 đến 1988, với sự tác động của Yakovlev, một loạt cán bộ chủ chốt lý luận nòng cốt của các tờ báo ảnh hưởng lớn tại Liên Xô được thay bởi những người ủng hộ chủ trương “cải tổ” của Gorbachev, từ đó các tờ báo này đã “quạt gió châm lửa” khuynh đảo dư luận. Một số tờ báo và tạp chí đặc biệt cấp tiến như Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow, dần dần đi theo xu hướng bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng của nhân dân bị đảo lộn, ngày càng trở nên tiếng nói của các thế lực thù địch bên ngoài chống lại Liên Xô.

Các hội đoàn tư nhân tự phát ra đời ngày càng lớn mạnh, đối đầu trực tiếp với các cơ quan tổ chức nhà nước thời bấy giờ. Các tờ báo Liên Xô được cởi trói không ngừng đánh mạnh vào hệ thống chính quyền Xô Viết, phủ nhận thành quả cách mạng của Lê Nin. Công kích chính quyền và hệ tư tưởng, tôn sùng chủ nghĩa Phương tây. Và kết quả cuối cùng ai cũng biết, đó là sự sụp đổ của Liên Xô.

A.Yakovlev còn được giao đảm nhiệm Trưởng ban chuẩn bị nghị quyết “Về công khai hóa” và phụ trách chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 10/1988, A. Yakovlev được Bộ chính trị bổ nhiệm làm Trưởng ban chuyên trách nghiên cứu các tài liệu liên quan tới “chiến dịch thanh trừng” trong những năm 1930-1940 và đầu những năm 1950 dưới thời J. Stalin. Dưới sự lãnh đạo của A. Yakovlev, bộ máy truyền thông Liên Xô tiến hành chiến dịch xuyên tạc vai trò của J. Stalin và vai trò của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Năm 1989, A.Yakovlev được giao nhiệm vụ Trưởng ban soạn thảo Cương lĩnh mới của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong thời gian này, A. Yakovlev đã cấp phép lưu hành và phổ biến 30 bộ phim từng bị cấm trình chiếu trước đây và cho xuất bản trên báo Sự Thật – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Liên Xô, những công trình của các nhà triết học Nga từng bị cấm lưu hành.

Cũng trong năm 1989, tại Đại hội đại biểu nhân dân toàn Liên Xô, A. Yakovlev trình bày bản báo cáo về những hậu quả của Hiệp ước Xô – Đức về không tấn công lẫn nhau năm 1939 (còn gọi là Hiệp ước Molotov – Ribbentrov). Trên cơ sở nghị quyết này, một chiến dịch rộng lớn được triển khai nhằm xuyên tạc lịch sử Chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến đánh bại chủ nghĩa phát xít. Dựa vào chiến dịch này, báo chí phương Tây ra sức tuyên truyền nhằm cáo buộc J. Stalin và Hitler đều có tội gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong những năm cải tổ ở Liên Xô, A. Yakovlev hiện nguyên hình là kẻ chống chủ nghĩa xã hội. Báo Nước Nga Xô Viết (số ra ngày 7/5/1991) đã đăng bức thư ngỏ của G.Zyuganov (về sau là Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga) gửi A. Yakovlev với tiêu đề “Kiến trúc sư trưởng bên đống đổ nát”. Sau khi bức thư này được công bố, báo chí Nga gọi A. Yakovlev là “kiến trúc trưởng công cuộc cải tổ” dẫn tới sự sụp đổ Liên Xô.

Cựu Chủ tịch KGB V. Kryuchkov từng viết trong cuốn Hồ sơ cá nhân (xuất bản năm 1994) như sau: “Tôi chưa bao giờ nghe thấy A. Yakovlev nói một lời ấm áp nào hay thể hiện niềm tự hào về Tổ quốc, chí ít là về chiến thắng của Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Điều này khiến tôi đặc biệt ngạc nhiên vì chính A. Yakovlev là người đã từng tham gia cuộc chiến tranh này. Tôi cũng chưa bao giờ nghe A. Yakovlev nói một lời tử tế nào về nhân dân Nga. Đối với A. Yakovlev, khái niệm nhân dân hoàn toàn không hề tồn tại”.

Về sau, trong hồi ký của mình, A. Yakovlev tiết lộ: “Chúng tôi sẽ phải xóa bỏ hệ thống chính trị Xôviết bằng các phương thức khác nhau như ủng hộ và tôn vinh những người bất đồng chính kiến. Nhưng biện pháp này không triệt để và không có hiệu quả. Cần phải phá hoại Liên Xô từ bên trong và cách duy nhất đúng để đạt mục tiêu đó là sử dụng chính cơ chế quản lý toàn trị của hệ thống đó để phá bỏ nó và chúng tôi đã thành công”.

Năm 2001, A.Yakovlev là người viết lời giới thiệu cho cuốn “Sách đen về chủ nghĩa cộng sản” được xuất bản ở nhiều nước châu Âu, A.Yakovlev đã xuyên tạc thậm tệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và cho rằng chủ nghĩa cộng sản là “căn bệnh xã hội của thế kỷ XX”. Với lập luận xuyên tạc đó, A.Yakovlev chủ trương xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản. Chiến thuật hành động của A.Yakovlev được ông mô ta như sau: “Vào thời kỳ đầu của cải tổ, chúng tôi buộc phải núp dưới những khẩu hiệu nhằm “đẩy mạnh hoàn thiện chủ nghĩa xã hội” và “xây dựng chủ nghĩa xã hội nhân đạo. Không còn cách nào khác”. Theo A.Yakovlev, mục tiêu của cải tổ là từng bước tái cấu trúc hệ thống toàn trị, tiến tới phá bỏ hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô.

A.Yakovlev cho rằng, chế độ toàn trị ở Liên Xô chỉ có thể bị phá hủy từ bên trong, bằng cách kết hợp công khai hóa với việc áp dụng cơ chế kỷ luật toàn trị của Đảng. Dùng chính cơ chế kỷ luật của Đảng để loại bỏ những kẻ chống lại cải tổ. Chiến thuật này của A.Yakovlev đã giúp ông và các cộng sự thành công trong cải tổ j là xóa bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Năm 1994, nhà văn Boldarev khi nhìn lại tình cảnh của thời kỳ này đã nói: “Trong sáu năm, báo chí đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm 1940. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ, đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi trùng”.

Năm 2005, trong thông điệp trước Quốc hội Liên bang Nga, Tổng thống Nga Putin đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô như thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ trước.

“Tôi thường nghe những lời chỉ trích về sự thật rằng tôi rất tiếc về sự sụp đổ của Liên Xô. Điều đầu tiên và quan trọng nhất là trong một đêm sau sự sụp đổ của Liên Xô, 25 triệu người Nga đột nhiên thấy mình đã ở nước ngoài. Đó là một trong những thảm họa địa chính trị lớn nhất của thế kỷ 20”.

“Sau đó cuộc nội chiến toàn diện bắt đầu. Tất nhiên, tất cả điều này, tôi chứng kiến toàn bộ, đặc biệt là khi tôi trở thành giám đốc Cơ quan An ninh liên bang. Hệ thống an sinh xã hội hoàn toàn bị phá hủy, toàn bộ lĩnh vực của nền kinh tế dừng lại, cũng như hệ thống chăm sóc sức khỏe và quân đội. Hàng triệu người sống trong tình trạng nghèo đói. Chúng tôi không quên những sự kiện này” - Tổng thống Nga nói thêm./.
Ảnh 1: Alexander Yakovlev, “kiến trúc sư cải tổ” Liên Xô đã bị vạch mặt là “điệp viên có ảnh hưởng” của Mỹ.

Ảnh 2: A.Yakovlev (trái) và M.Gorbachev (phải)-“cặp bài trùng” trong cải tổ ở Liên Xô trong những năm 1985-1991.
QV-ST!

PHÂN TÍCH XÃ HỘI: VĂN HÓA TRANH LUẬN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG - TỪ ĐỐI THOẠI ĐẾN ĐỐI ĐẦU VÀ YÊU CẦU TÁI CHUẨN HÓA!

     Sự phát triển của không gian mạng đã mở rộng mạnh mẽ sự tham gia của công chúng vào đời sống thông tin, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết xây dựng chuẩn mực văn hóa tranh luận mới. Trong bối cảnh đất nước hướng tới kỷ nguyên phát triển, việc tạo dựng môi trường tranh luận văn minh là nhiệm vụ chiến lược để bảo vệ nền tảng tư tưởng và ổn định xã hội. Tuy nhiên, thực trạng lệch chuẩn trong trao đổi hiện nay đang gây nhiều hệ lụy, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị!

Biến đổi của văn hóa tranh luận trong môi trường số
Văn hóa tranh luận là hệ thống các chuẩn mực chi phối cách con người trình bày quan điểm, sử dụng lý lẽ và ứng xử trong quá trình trao đổi nhằm làm sáng tỏ vấn đề, hướng đến sự hiểu biết chung và đồng thuận xã hội. Ở môi trường truyền thống, những chuẩn mực này được duy trì tương đối ổn định nhờ sự điều tiết của các thiết chế như gia đình, nhà trường, cơ quan, cũng như các quy tắc giao tiếp mang tính trực diện, có kiểm soát và chịu trách nhiệm rõ ràng. Chính sự hiện diện trực tiếp giữa các chủ thể đã góp phần hình thành ý thức tự điều chỉnh hành vi, giữ gìn sự tôn trọng và chuẩn mực trong đối thoại.

Tuy nhiên, khi chuyển dịch sang môi trường số, nền tảng của văn hóa tranh luận đã có những thay đổi sâu sắc. Sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội đã xóa nhòa khoảng cách không gian, làm suy yếu các ràng buộc về vị thế xã hội, từ đó tạo điều kiện cho mọi cá nhân có thể tham gia phát ngôn một cách dễ dàng và nhanh chóng. Tại Việt Nam, với số lượng người dùng Internet và mạng xã hội thuộc nhóm cao trong khu vực, các hoạt động trao đổi, bình luận và phản biện diễn ra với mật độ lớn, trải rộng trên hầu hết các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, đời sống.

Không gian mạng, vì vậy, trở thành một diễn đàn rộng mở, góp phần thúc đẩy quyền tham gia của công chúng vào các vấn đề chung. Đây là biểu hiện quan trọng của tiến trình dân chủ hóa đời sống xã hội, khi người dân có thể trực tiếp bày tỏ ý kiến, đóng góp sáng kiến cho các chủ trương, chính sách. Thực tiễn cho thấy việc góp ý văn kiện, phản biện dự thảo luật hay thảo luận các vấn đề xã hội trên nền tảng trực tuyến đã tạo ra nguồn thông tin đa chiều, hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách trở nên toàn diện hơn. Nhiều nghiên cứu về truyền thông số cũng chỉ ra rằng sự tham gia rộng rãi của công chúng giúp gia tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản trị xã hội.

Dẫu vậy, chính sự cởi mở và thiếu kiểm soát chặt chẽ trong môi trường mạng cũng làm nảy sinh những biến đổi tiêu cực trong cách thức tranh luận. Khi các chuẩn mực đạo đức truyền thống không còn được đảm bảo bởi các cơ chế giám sát trực tiếp, một bộ phận người dùng có xu hướng xem nhẹ trách nhiệm phát ngôn. Tính ẩn danh hoặc bán ẩn danh khiến cá nhân dễ dàng bộc lộ những phản ứng cảm tính, thiếu kiềm chế, dẫn đến việc sử dụng ngôn từ cực đoan, công kích cá nhân hoặc lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng.

Hệ quả là quá trình tranh luận dần bị lệch khỏi bản chất ban đầu. Thay vì dựa trên lập luận logic và bằng chứng xác thực, nhiều cuộc trao đổi chuyển sang thiên về cảm xúc và định kiến cá nhân. Không ít trường hợp, các cuộc thảo luận nhanh chóng biến thành tranh cãi gay gắt, nơi mục tiêu không còn là tìm kiếm chân lý mà là khẳng định cái tôi hoặc áp đặt quan điểm lên người khác. Hiện tượng những cá nhân sẵn sàng công kích, gây hấn trong môi trường trực tuyến phản ánh sự suy giảm của chuẩn mực ứng xử và ý thức trách nhiệm xã hội trong không gian số.

Đáng chú ý, cơ chế lan truyền thông tin theo thuật toán và hiệu ứng đám đông càng làm trầm trọng thêm tình trạng này. Những nội dung gây tranh cãi, kích thích cảm xúc tiêu cực thường có xu hướng được lan tỏa mạnh hơn, vô hình trung khuyến khích các hành vi lệch chuẩn. Khi các ý kiến cực đoan nhận được sự hưởng ứng rộng rãi, tiếng nói lý trí và ôn hòa dễ bị lấn át. Sự khác biệt quan điểm, thay vì được nhìn nhận như cơ hội để mở rộng nhận thức, lại trở thành nguyên nhân dẫn đến chia rẽ và đối đầu.

Những biến đổi đó cho thấy văn hóa tranh luận trong môi trường số đang đứng trước thách thức lớn về việc duy trì các giá trị cốt lõi như tôn trọng, khách quan và xây dựng. Nếu không có những định hướng kịp thời về giáo dục truyền thông, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao ý thức người dùng, không gian mạng rất dễ bị biến thành nơi khuếch đại định kiến và xung đột xã hội. Vì vậy, việc củng cố các chuẩn mực ứng xử phù hợp với bối cảnh số không chỉ là yêu cầu về mặt văn hóa mà còn là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của đời sống xã hội trong thời đại công nghệ./.
Ảnh: Văn hóa tranh luận trên không gian mạng - từ đối thoại đến đối đầu và yêu cầu tái chuẩn hóa.
QV-ST!

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: LÝ DO ĐIỀU CHỈNH GIÁ XĂNG DẦU LÚC NỬA ĐÊM!

     Đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước - Bộ Công Thương cho biết, việc điều hành giá xăng dầu vào thời điểm nửa đêm trong một số kỳ điều chỉnh giá “bất thường”, nhằm bảo đảm cập nhật sát diễn biến giá thế giới, hạn chế độ trễ chính sách và triển khai đồng bộ trên toàn hệ thống.

Tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 9/4, báo chí đặt câu hỏi: Vì sao trong giai đoạn giá xăng dầu biến động mạnh vừa qua, liên Bộ Công Thương - Tài chính lại điều hành giá xăng dầu vào thời điểm nửa đêm?

Trả lời về vấn đề này, ông Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng phòng Dầu khí, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương - cho biết, việc này xuất phát từ yêu cầu bám sát diễn biến thị trường thế giới và bảo đảm hiệu lực áp dụng đồng bộ trên toàn quốc.

Theo ông Tuấn, cơ chế điều hành giá hiện được thực hiện theo Nghị quyết số 36 và Nghị quyết số 55 của Chính phủ, cho phép điều chỉnh linh hoạt khi giá xăng dầu thế giới biến động mạnh. Khi giá thế giới tăng từ 7% hoặc 15%, hoặc giảm từ 10%, cơ quan điều hành có thể thực hiện điều chỉnh giá ngoài chu kỳ để bảo đảm bám sát thị trường.

Khi giá xăng dầu thế giới biến động liên tục và được chốt theo chu kỳ giao dịch quốc tế. Việc điều hành vào cuối ngày giúp cơ quan quản lý cập nhật đầy đủ dữ liệu giá mới nhất, từ đó xác định giá cơ sở sát thực tế, hạn chế độ trễ chính sách.

“Thời điểm nửa đêm được lựa chọn nhằm triển khai đồng loạt trên toàn quốc, tránh xáo trộn hoạt động kinh doanh trong giờ cao điểm, đồng thời hạn chế tình trạng đầu cơ, găm hàng hoặc mua bán tranh thủ chênh lệch giá trước và sau điều chỉnh.

Trong các kỳ điều hành bất thường, khi thị trường biến động nhanh, việc lựa chọn thời điểm này cũng nhằm bảo đảm phản ứng chính sách kịp thời, góp phần ổn định tâm lý thị trường”, ông Tuấn cho hay.

Liên quan đến câu hỏi của PV Tiền Phong về kịch bản điều hành nhằm đảm bảo an ninh năng lượng vừa đảm bảo kiểm soát lạm phát trong trường hợp giá dầu thế giới duy trì ở mức cao, trên 100 USD/thùng, ông Tuấn cho biết Bộ Công Thương đã chủ động xây dựng các kịch bản theo hướng linh hoạt, đa tầng và có tính dự phòng cao.

Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng các phương án điều hành giá theo từng ngưỡng biến động của giá dầu thế giới. Các công cụ như Quỹ Bình ổn giá xăng dầu tiếp tục được sử dụng linh hoạt, kết hợp với điều chỉnh thuế, phí như thuế bảo vệ môi trường, thuế nhập khẩu, VAT… để hạn chế mức độ tăng giá trong nước và giảm tác động lan tỏa đến chỉ số giá tiêu dùng.

Nguồn cung được điều tiết chủ động thông qua việc yêu cầu các doanh nghiệp đầu mối duy trì tồn kho tối thiểu, tăng nhập khẩu khi cần thiết và khai thác tối đa công suất các nhà máy lọc hóa dầu trong nước như Dung Quất và Nghi Sơn. Việc phân bổ nguồn cung theo vùng cũng được tính toán nhằm tránh gián đoạn cục bộ, đặc biệt là trong các thời điểm nhu cầu tăng cao.

Về lộ trình nâng dự trữ xăng dầu lên mức 90 ngày nhập ròng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước cho biết, đang triển khai đồng bộ các giải pháp để tăng dự trữ quốc gia và thương mại, trong đó, tập trung rà soát, hoàn thiện quy hoạch hệ thống kho dự trữ gắn với hạ tầng logistics và hệ thống phân phối; xây dựng cơ chế thu hút nguồn lực xã hội hóa, đề xuất bố trí ngân sách nhà nước...
Ảnh: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng phòng Dầu khí, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: THƯỢNG VIỆN MỸ BỎ PHIẾU HẠN CHẾ QUYỀN LỰC CỦA TỔNG THỐNG TRUMP ĐỐI VỚI CHIẾN TRANH IRAN!

     Thông tin về việc bỏ phiếu hạn chế quyền lực của Tổng thống Trump đối với chiến tranh Iran do lãnh đạo phe Dân chủ tại Thượng viện Mỹ Chuck Schumer đưa ra.

Lãnh đạo phe Dân chủ tại Thượng viện Mỹ Chuck Schumer cho biết về việc bỏ phiếu hạn chế quyền lực của Tổng thống hôm 8/4, vài giờ sau khi Trump tuyên bố lệnh ngừng bắn 2 tuần. Theo đó, các nhà lập pháp Mỹ sẽ nỗ lực một lần nữa vào tuần tới để thông qua nghị quyết chấm dứt chiến tranh Iran và buộc Tổng thống Donald Trump phải có sự chấp thuận của Quốc hội Mỹ cho bất kỳ cuộc tấn công nào tiếp theo.
"Quốc hội phải khẳng định lại quyền lực của mình, đặc biệt là vào thời điểm nguy hiểm này" - ông Schumer nói trong một cuộc họp báo tại văn phòng của ông ở New York.

Tổng thống Trump đã đồng ý với lệnh ngừng bắn hôm 7/4, chưa đầy 2 giờ trước thời hạn mà ông đặt ra cho Iran để mở lại eo biển Hormuz bị phong tỏa. Nếu không, Iran sẽ phải đối mặt với các cuộc tấn công tàn khốc vào cơ sở hạ tầng dân sự của nước này.
Lời đe dọa của ông Trump rằng "cả một nền văn minh sẽ chết trong đêm nay" đã gây ra mối lo ngại toàn cầu và sự chỉ trích từ các thành viên đảng Dân chủ Mỹ. Công ước Geneve năm 1949 về hành vi nhân đạo trong chiến tranh cấm các cuộc tấn công vào những địa điểm được coi là thiết yếu đối với dân thường.

Ông Schumer gọi những tuyên bố của Tổng thống Trump là "mất kiểm soát" và chỉ trích cuộc chiến vì đã không làm suy yếu chính phủ Iran hoặc kiềm chế chương trình hạt nhân của nước này, ngược lại khiến giá nhiên liệu toàn cầu tăng vọt.
Trong những tháng gần đây, các thành viên đảng Dân chủ tại Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã nhiều lần thất bại trong trong việc thông qua những nghị quyết về hạn chế quyền lực chiến tranh của Tổng thống Trump. Mục đích của động thái này là buộc Tổng thống Trump phải có sự cho phép của các nhà lập pháp trước khi phát động các hoạt động quân sự.
Hầu hết thành viên đảng Cộng hòa cùng phe với ông Trump tại Quốc hội Mỹ nhất trí ủng hộ những chính sách của ông. Hiến pháp Mỹ quy định rằng Quốc hội chứ không phải Tổng thống Mỹ có thể tuyên chiến, nhưng hạn chế đó không áp dụng cho các hoạt động ngắn hạn hoặc nếu đất nước phải đối mặt với mối đe dọa tức thời.
Trong khi đó, lãnh đạo đảng Dân chủ tại Hạ viện Mỹ - Hạ nghị sĩ Hakeem Jeffries của bang New York cho rằng Hạ viện cũng nên bỏ phiếu về một nghị quyết nhằm hạn chế cuộc chiến chống Iran. "Chúng ta cần chấm dứt vĩnh viễn cuộc chiến tranh tùy tiện mà ông Trump đã lựa chọn" - ông Jeffries nói./.
Ảnh: Lãnh đạo phe Dân chủ tại Thượng viện Mỹ Chuck Schumer.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: THỰC TẾ CUỘC CHIẾN ĐẶC BIỆT CỦA NGA TẠI UKRAINE!

     Trên mạng đang xuất hiện một số trang, nhóm viết, đăng bài bài trừ về Nga. Nào thì Nga thua, Nga hết tiền phải bán kho dự trữ vàng...

Không lẽ so sánh một người giàu có quyền lực số 1 thế giới với một kẻ ngửa tay vay mượn ăn xin suốt ngày? Mấy hôm nay, anh hề Zelelsky không lên mạng xin hỗ trợ, nhóm tây lông âm thầm sang hỗ trợ đánh Nga là vì chúng vừa lấy được 90 tỷ USD tài sản đóng băng của Nga, nếu không tây lông đã bỏ rơi Ukraine không một chút quay lại.

Hãy so sánh vài chi tiết: 
1. Nga là nước có trên 6000 đầu đạn hạt nhân, đứng số 1 thế giới ( trong đó 1500 đầu đạn đã được kích hoạt). Đứng thứ 2 là Mỹ gần 1600 đầu đạn.

2. Nga không có nợ công, không bao giờ đi vay mượn nước nào, Nga không phải phụ thuộc nhiên liệu nước nào. Trong khi đó, nước Mỹ nợ công sấp sỉ 40 ngàn tỷ USD cao nhất thế giới và không có hoàn trả.

3. Giữa lúc kinh tế cả thế giới khó khăn , Mỹ xua lính đi bắt cóc, giết người để cướp dầu mỏ, ép ăn chia kinh tế. Còn Nga cả thế giới xin mua dầu, mỗi hợp đồng đủ dân Nga sống cả năm, giữa lúc giá vàng cao, Putin cho mở kho 5300 tấn bán ra thu lợi nhuận. Nga còn bán được nhiều HĐ vũ khí với số tiền hàng triệu đô. Các nước khác đều nợ công cao ngất, bắt tay nhau đi xâm chiến cướp tàu dầu, thu nhập thì vàng 2 con mắt. Trong khi Nga vẫn đi giúp các nước khác về mọi mặt.

4. Nga đã kiểm soát được những vùng chiếm đóng của Ukraine và có tên trên bản đồ Nga, lính Nga hăng say ra trận vừa hát hò nhảy múa, ở nhà di động như khách sạn, ăn răm bông, thịt hộp, uống cà phê. Còn Ukraine đi cướp lính như bắt trộm , Zelelsky lên mạng bốc phét về thành tích nhưng hàng ngày vẫn kêu cứu Mỹ xin đàm phán với Nga hoặc xin dừng bắn... quân Nga hy sinh rất ít trong mỗi lần trao đổi thi thể binh sĩ. Bằng chứng gần nhất là hôm qua 9/4 Nga và Ukraine trao đổi tử thi binh sĩ, trong đó Nga 41- Ukraine 1110 thi thể.
5. Chiến tranh Nga - Ukraine. Thanh niên Nga tự nguyện đăng kí nhập ngũ bảo vệ đất nước, mỗi binh sĩ hy sinh đều được Nga hỗ trợ riêng một khoản tiền, ngoài ra còn tiền chính sách hàng tháng. Tổng thống Putin được cả nước Nga tôn kính đặt cho cái tên: Đại đế

Còn Ukraine, giữa lúc đất nước chiến tranh nhưng thanh niên chạy đi tị nạn các nước, người ở lại bị cướp giữa đường đưa ra trận, hàng ngàn người dân xuống đường biểu tình đòi con em họ vì đi lính nhưng được báo về là bị mất tích

6. Đối với cuộc chiến Mỹ, ISRAEL - IRAN: Mỹ tấn công nhưng phải nhiều lần đề xuất với IRAN về đàm phán. Tuy giết được hàng loạt lãnh đạo của IRAN nhưng Mỹ vẫn thua thảm hại, bằng chứng người dân cả nước Mỹ 50/50 bang xuống đường biểu tình đòi phế truất tổng thống Trump, các nghị sĩ Mỹ thông qua Nghị quyết phế truất Trump và đòi luận tội. Cả thế giới căm phẫn nước Mỹ ngang nhiên đi bắt cóc, giết lãnh đạo những nước có chủ quyền và được Luật pháp quốc tế bảo vệ. Nước Mỹ bị mất uy tín khi kêu gọi đồng minh NaTo hỗ trợ nhưng đều bị các nước từ chối.

Đó tất cả là thực tế. Vậy, bọn 3/, bưng bô hãy mở mắt đọc cho kỹ để ém bớt mồm lại, chúng mày bài trừ Nga là một sự ngu xuẩn, chúng mày vẫn bưng bô cho Mỹ và Trump lại càng ngu xuẩn./.

QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TỔNG BÍ THƯ TẬP CẬN BÌNH TIẾP CHỦ TỊCH QUỐC DÂN ĐẢNG TRỊNH LỆ VĂN!

     Ngày 10/4, tại Bắc Kinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp bà Trịnh Lệ Văn (Cheng Li-wun), Chủ tịch Quốc Dân Đảng Trung Quốc (KMT).

Nhận lời mời của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng Bí thư Tập Cận Bình, bà Trịnh Lệ Văn là Chủ tịch Quốc Dân Đảng đầu tiên dẫn đầu phái đoàn đến thăm Trung Quốc đại lục sau một thập niên.

Đoàn đã đến thăm tỉnh Giang Tô, Thượng Hải trước khi đến Bắc Kinh.

Tại buổi tiếp, Tổng Bí thư Tập Cận Bình cho biết, cuộc gặp giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng sau 10 năm này có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển quan hệ hai Đảng và hai bờ eo biển.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhấn mạnh, cho dù tình hình quốc tế hay tình hình hai bờ eo biển có thay đổi thế nào đi nữa, xu thế lớn về sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa sẽ không thay đổi, và trào lưu lớn xích lại gần nhau hơn, xích lại cùng nhau của đồng bào hai bờ eo biển cũng không thay đổi.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình nói, đồng bào hai bờ eo biển đều mong muốn hòa bình và ổn định, mong muốn quan hệ hai bờ eo biển được cải thiện và phát triển, mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn, đồng thời thêm rằng đây là trách nhiệm mà Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng không thể trốn tránh, cũng là động lực để chung tay hợp tác./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM DỰ LỄ ĐÓN NHẬN DANH HIỆU ANH HÙNG LLVT NHÂN DÂN CỦA QUÂN KHU 3!

     Sáng 10-4, tại thành phố Hải Phòng, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 3 long trọng tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo.

Các đồng chí: Nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gửi lẵng hoa chúc mừng.

Tham dự buổi lễ có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng Chính phủ, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Nguyễn Duy Ngọc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Trần Sỹ Thanh, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương; Lê Minh Trí, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Đại tướng Lương Tam Quang, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an; Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. 

Cùng dự có các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Đại tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Văn Trà, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) nguyên Tư lệnh Quân khu 3; Đại tướng Ngô Xuân Lịch, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Chính ủy Quân khu 3.

Dự buổi lễ có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng; đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương. Cùng dự có Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; đại biểu lãnh đạo, nguyên lãnh đạo: Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.

Báo cáo tóm tắt thành tích được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của LLVT Quân khu 3 tại buổi lễ, Trung tướng Lương Văn Kiểm, Phó bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 3 nhấn mạnh: Quân khu 3 được thành lập ngày 31-10-1945, là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế và quốc phòng - an ninh của miền Bắc và cả nước; là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, cái nôi của nền văn minh sông Hồng. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, địa bàn Quân khu diễn ra nhiều trận đánh nổi tiếng với những chiến công hiển hách.

Trải qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực LLVT Quân khu 3 luôn anh dũng chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc, cùng với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân giành những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân khu 3 là vùng “địch hậu”. LLVT Liên khu 3 đã tích cực “chia lửa” với các chiến dịch lớn ở các hướng, đồng thời trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch quan trọng. Phong trào toàn dân “Đắp lũy, đào hào, xây dựng làng chiến đấu, biến mỗi thôn xóm thành một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ anh dũng, chiến đấu ngay trong lòng địch” đã trở thành điển hình trong cả nước.

Bằng sự mưu trí, dũng cảm, cách đánh sáng tạo, LLVT Quân khu 3 đã cùng với các tầng lớp nhân dân, các đơn vị chủ lực chiến đấu ngoan cường giành thắng lợi trong nhiều chiến dịch như: Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hòa Bình; lập nên những chiến công vang dội như "Sấm đường 5"; “Đường 10 quật khởi”; "Cát Bi rực lửa"... tạo cục diện thuận lợi cho ta trên chiến trường Bắc Bộ; góp phần cùng với quân dân cả nước làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đưa cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới.  

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tinh thần “Toàn Quân khu hướng ra tiền tuyến”, “Toàn Quân khu ra trận”, Quân khu 3 vừa là hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Đồng thời phối hợp với các lực lượng kiên cường bám trụ, anh dũng chiến đấu, bắn rơi hàng nghìn máy bay, bắn cháy, bắn chìm hàng trăm tàu chiến Mỹ, đập tan các chiến dịch phá hoại của đế quốc Mỹ, đặc biệt là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.   

Bước vào thời kỳ đổi mới, cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 3 tiếp tục giữ vững và phát huy những chiến công, thành tích; là một trong những lực lượng nòng cốt giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ở biên giới phía Bắc; phối hợp với các lực lượng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để các địa phương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, luôn là lực lượng xung kích đi đầu và lập nhiều thành tích xuất sắc trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn. Không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo, diễn tập, hội thi, hội thao. Công tác xây dựng chính quy, quản lý, rèn luyện kỷ luật có nhiều chuyển biến tiến bộ. Thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội, dự án kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược trên địa bàn. Đồng thời, tiến hành công tác dân vận, công tác chính sách và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

Trải qua hơn 80 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp, cùng nhân dân vùng châu thổ sông Hồng lập nên những chiến công hiển hách, xây đắp nên truyền thống “Đoàn kết, chủ động, sáng tạo, hy sinh, chiến thắng”, không ngừng tô thắm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, giữ vững phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Với những thành tích xuất sắc đạt được trong hơn 80 năm qua, LLVT Quân khu và hàng vạn lượt tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước ghi nhận, trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, được Bác Hồ nhiều lần đến thăm.

Đặc biệt, ghi nhận thành tích đặc biệt xuất sắc của Quân khu trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; ngày 13-2-2026, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Quân khu 3. Đây là phần thưởng cao quý, là niềm vinh dự, tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong LLVT Quân khu, khẳng định tầm vóc và sự đóng góp to lớn của LLVT Quân khu trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc./.



Theo QĐND
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NỮ ANH HÙNG TRẦN THỊ LÝ!

     Hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Việt - Xô (Hà Nội) ghi: “Cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh nhân: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục". Đó là bệnh nhân đặc biệt - Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam.

Nữ anh hùng Trần Thị Lý sinh năm 1933 tại Quảng Nam, tham gia Cách Mạng từ năm 12 tuổi. Trong giai đoạn từ 1951 - 1956, Trần Thị Lý tham gia đường dây cán bộ nằm vùng, 2 lần bị bắt. Năm 1956, bà bị chính quyền VNCH bắt lần thứ 3, bị tra tấn với những hình thức dã man nhất như: điện giật, dùi đâm, đổ nước xà phòng, dùng dao cắt vú, dùng lửa nung bộ phận sinh dục đến nỗi bị mất khả năng sinh sản... nhưng người phụ nữ trung kiên ấy vẫn không hé răng dù chỉ một lời.

Tháng 10 năm 1958, Trần Thị Lý bị tra tấn tới kiệt sức, cai ngục của ngụy quyền nghĩ rằng bà không thể sống được nữa nên đem vứt bà ra bãi rác nhà lao Vĩnh Diện, bà thoát chết một cách hi hữu, được đồng đội bí mật đón về, chăm sóc tại Điện Bàn rồi bí mật chuyển vào Sài Gòn. Thấy "mất xác" bà, bọn mật vụ Quảng Nam và cả Sài Gòn truy lùng gắt gao. Các cơ sở của ta phải liên tục đổi chỗ ở cho chị, sức khỏe chị ngày một suy sụp, các vết thương bị nhiễm trùng nặng. Bằng nhiều phương tiện và nhiều chặng, các cơ sở cách mạng của ta đã đưa chị sang được Campuchia. Tại đây một gia đình Việt kiều yêu nước quê gốc Nghệ An đã làm hộ chiếu giả, đưa chị lên máy bay ra Hà Nội để chữa trị và tố cáo tội ác tày trời của Mỹ - Diệm.

Sự kiện Trần Thị Lý bị bắt, bị kẻ thù tra tấn dã man ngoài sức tưởng tượng đã làm rúng động dư luận thế giới và lương tri loài người lúc bấy giờ.
17 giờ ngày 25-10-1958, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam từ Hà Nội phát bản tin về Trần Thị Lý với nội dung: “Chị Lý bị bọn tay chân của Diệm bắt đánh đập, bắt “sám hối” với những nhục hình dã man như: lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt, dùng điện tra vào đầu vú và bộ phận sinh dục!”.

Tiếp đó, lúc 7 giờ 15 ngày 19-11-1958, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam lại phát đi lời kêu gọi của Trần Thị Lý gửi Ủy ban Quốc tế, chị kể: “Lần thứ 3, tháng 3-1956, chúng bắt tôi về nhà lao Hội An và tra tấn vô cùng dã man, tên Phan Văn Lợi, người do Diệm cử từ Sài Gòn ra, cùng nhiều tên khác trực tiếp tra tấn. Chúng đổ nước xà phòng và nước bẩn vào họng tôi rồi mang giày đinh thi nhau đạp lên bụng, lên ngực làm nước trào ra miệng và mũi. Chúng lấy móc sắt xuyên bàn chân tôi rồi treo ngược lên xà nhà, dùng điện tra vào cửa mình và vú; lấy dao xẻo từng miếng thịt trên đùi, cánh tay và ngực. Chúng dùng kìm sắt nung đỏ rồi kẹp vào bắp thịt tôi rứt ra từng mảng, dùng thước sắt thọc vào âm đạo... Chúng bắt tôi phải nhận tội “Thân cộng” và “Chống chính phủ quốc gia” của chúng!”.

Ngày 21-11-1958, 5 bộ đội Liên khu 5 viết kiến nghị và được 2.000 đại biểu ký gửi đến Ủy ban Quốc tế phản đối sự dã man của chính quyền Sài Gòn đối với Trần Thị Lý. Từ ngày 11 đến 21-11-1958, 39 đoàn khách quốc tế đến thăm chị Lý và 62 đoàn khác tiếp tục đăng ký vào thăm. Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam cũng phát đi lời của ông Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh -Việt rằng:
“Với chính sách đàn áp dã man, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tỏ ra rất thối nát. Ủy ban Quốc tế tại Việt Nam cần lưu ý ngay đến vấn đề này, đó là nhiệm vụ của họ!”.

Khi nhà thơ Tố Hữu đến thăm Trần Thị Lý, ông đã khóc rất nhiều vì quá xúc động. Tháng 12-1958, bài thơ “Người con gái Việt Nam” của ông ra đời (sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng), gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế.

NGƯỜI CON GÁI VIỆT NAM
“Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi
Mái tóc em đây, là mây hay là suối
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông
Thịt da em hay là sắt là đồng?”

... “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng
Em đã sống lại rồi em đã sống!
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung
Không giết được em, người con gái anh hùng!”

... “Từ cõi chết, em trở về, chói lọi
Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi
Em trở về, người con gái quang vinh
Cả nước ôm em, khúc ruột của mình”./.
Thơ Tố Hữu.
QV-ST!

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

BẠN CÓ BIẾT: NGƯỜI LÍNH HÓA HỌC - DẤU LẶNG GIỮA NHỮNG BÌNH YÊN!

     Ai đó nói rằng, lịch sử được viết nên bằng tiếng súng. Rằng vinh quang của người lính là bước chân xông pha nơi tuyến đầu, là ánh chớp của kim loại, là âm vang của những trận đánh làm rung chuyển đất trời.

Nhưng khi bạn khoác lên mình màu áo của người lính Hoá học, bạn sẽ hiểu: có những chiến công không cần âm thanh, vẫn đủ sức làm nên lịch sử.

Bộ đội Hoá học bước vào trận địa khi mọi thứ dường như đã lắng xuống. Không còn tiếng nổ, không còn khói lửa, chỉ còn lại những âm thầm mà nguy hiểm. Kẻ thù đối diện không mang hình hài cụ thể, không lộ diện rõ ràng chỉ là những yếu tố vô hình: một làn khí độc, một vùng nhiễm xạ, một nguồn nước tưởng như yên bình nhưng ẩn chứa hiểm họa.

Trận chiến của người lính Hoá học vì thế cũng khác. Không có ranh giới rõ rệt giữa chiến tuyến. Không có tiếng hò xung phong. Chỉ có sự tĩnh lặng đến căng thẳng, nơi mỗi bước chân đều phải đo đếm, mỗi thao tác đều phải chính xác đến tuyệt đối.

Chúng tôi không chiến đấu để khiến kẻ thù khiếp sợ, mà để giữ cho bộ đội, cho Nhân dân không còn phải sợ hãi, được sống bình an. Chúng tôi không tạo ra sức ép, mà xoá bỏ những mối đe doạ. Sức mạnh không nằm ở sự huỷ diệt, mà ở khả năng bảo vệ bảo vệ sự sống trong hình hài mong manh nhất.

Nếu cần gọi tên “hoả lực” của người lính Hoá học, thì đó không phải là tiếng nổ, mà là năng lực kiểm soát nguy cơ VLHDHL. Là những thiết bị trinh sát PXHH tinh vi lần theo dấu vết của hiểm họa, là quy trình tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng khép kín, là sự phối hợp nhịp nhàng giữa người lính và công nghệ để biến cái vô hình thành hữu hình, thành những chỉ số an toàn; biến nguy cơ thành điều có thể chế ngự. “Hoả lực” ấy không phát ra âm thanh, nhưng lan toả bằng độ tin cậy Bộ đội Hoá học có mặt, hiểm nguy buộc phải lùi bước.

Chúng ta nói về phần thưởng, thì trong những thời khắc khốc liệt nhất. Phần thưởng của chúng tôi là khi những vùng nhiễm độc được khống chế, khi từng mét đất, từng khoảng không được trả lại sự an toàn; là khi đồng đội có thể tiếp tục chiến đấu mà không còn nỗi lo phía sau lưng, là khi nhân dân được bảo vệ trước những hiểm hoạ tưởng chừng không thể chống đỡ. Và hơn hết, đó là khi chiến trường trở lại trạng thái có thể sống được khi cái chết hoá học bị đẩy lùi trong im lặng. Có những chiến công không được gọi tên, bởi vùng nhiễm đã bị xoá đi trước khi kịp được nhắc đến. Và chính sự lặng im ấy, lại là minh chứng sâu sắc nhất cho giá trị của chúng tôi.

Ẩn sau lớp mặt nạ và bộ khí tài kín mít là những con người rất đỗi bình thường- chúng tôi cũng biết mệt, biết lo, biết nhớ. Mồ hôi thấm lặng, những hi sinh không gọi thành tên, những khó khăn không nói thành lời. Tất cả đều được giữ lại phía sau mặt nạ. Bởi phía trước chúng tôi, điều cần hiện hữu là sự chắc chắn và niềm tin.
         
Ngày 19 tháng 4 năm 1958 một mốc son mở đầu cho hành trình của Bộ đội Hoá học. Năm 2026 tròn 68 năm một chặng đường đủ dài, đủ sâu để tự hào. 68 năm ấy không chỉ là con số của thời gian, mà là chiều dài của những cống hiến thầm lặng của biết bao lớp lớp những người Chiến sĩ Phòng hóa, của những bước chân đi qua những nơi không ai muốn đến, để đổi lại những nơi ai cũng muốn ở lại.
            
Hôm nay, khi thế giới vẫn tiềm ẩn những xung đột khó lường, khi nguy cơ sự cố hoá chất độc, sinh học, phóng xạ và hạt nhân (CBRN) ngày càng phức tạp, vai trò của người lính Hoá học càng trở nên quan trọng hơn. Họ không chỉ đối diện với hiểm họa truyền thống, mà còn phải thích ứng với những thách thức mới tinh vi hơn, khó nhận diện hơn và nhanh hơn.
            
Chiến trường hôm nay có thể không hiện hữu bằng hình ảnh quen thuộc, nhưng lại mở rộng trong không gian số, trong môi trường công nghiệp, trong đời sống dân sinh. Và ở đó, người lính Phòng hóa vẫn lặng lẽ giữ vai trò “người gác cửa” cho sự an toàn bằng tri thức, bằng công nghệ và bằng trách nhiệm.
          
Giữa dòng chảy ấy, mỗi chúng tôi chỉ là một phần rất nhỏ. Nhưng chính những phần nhỏ bé ấy đã góp lại thành một sức mạnh bền bỉ âm thầm mà kiên định, lặng lẽ mà vững vàng. Mỗi chúng tôi, cũng như bao người lính Phòng hoá khác, không cần đứng giữa ánh hào quang để thấy tự hào. Bởi đôi khi, được là một “dấu lặng” trong bản nhạc lớn của bình yên-lại chính là vinh quang sâu sắc nhất./.




QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRUY KÍCH NHÓM BIỆT KÍCH THÁI LAN TẤN CÔNG TRẠI GIAM LÀO!

     Tôi vẫn luôn nghĩ mình là người may mắn khi được sống và chiến đấu qua những năm tháng đầy thử thách. Từ tuyến 559 vào B3, rồi lặng lẽ băng qua Nam Tây Nguyên đến những cánh rừng hạ Lào mênh mông trên cao nguyên Boloven, men theo đường 16, 23, 24. Hành trình ấy đưa tôi về Binh Trạm 37, rồi Binh Trạm 44, qua Quảng Nam, trước khi lại tiếp tục sang tận vùng Tây Bắc Campuchia... Là lính Quân báo, tôi quen với việc cứ mỗi khi cấp trên giao nhiệm vụ là lập tức lên đường. Nhìn lại, đó là quãng đời thanh xuân được thử thách, được rèn luyện và cũng là những ký ức mà tôi luôn trân trọng, như một phần sâu đậm nhất trong hành trình đời mình. Trong muôn vàn chuyện đã trải qua, ấn tượng nhất vẫn là lần truy kích toán biệt kích Thái Lan tấn công trại giam của bạn Lào!

Những năm đầu 1972, quân báo chúng tôi ngày ấy chẳng khác gì “ma xó”, len lỏi khắp rừng sâu núi thẳm. Khi đóng quân ở Paksong (Champasak, Lào) gần đó có một bản nhỏ của đồng bào người Việt sinh sống. Tuy vậy, để giữ bí mật, chúng tôi vẫn chọn ngủ cách bản chừng một cây số.

Tinh mơ hôm sau, chừng 5 giờ sáng, dân bản tìm đến báo tin rằng đêm qua có khoảng ba chục người mặc quần áo giống bộ đội Việt Nam tới xin gạo. Nhưng điều làm họ cảnh giác chính là giọng nói của họ nghe lơ lớ tiếng Thái. Chúng tôi lập tức báo về đoàn bộ: “Có toán lạ đi ngay qua khu vực chúng tôi đóng đêm qua. Dấu chân còn mới, rất nhiều. Xin chỉ thị!”. 

Chừng ít phút sau, có điện trả lời biệt kích Thái vừa tấn công trại giam của quân đội Lào, cướp tù và đang tìm đường rút. Mệnh lệnh được đưa ra, phải truy kích ngay.

Chúng tôi tăng cường thêm một tiểu đội công binh, tỏa đi lùng sục khắp các cánh rừng quanh bản. Suốt buổi sáng không thấy gì, đến gần 9 giờ anh em tôi nghỉ giải lao. Tôi và một vài anh em vác súng đi kiếm vài trái dừa uống nước cho mát. Ai dè chỉ vì bước chân rẽ qua bụi cây cứt lợn mà phát hiện ra một lối mòn như của heo đi. Linh cảm trỗi dậy, tôi men theo lối nhỏ ấy, hướng xuống bờ sông.
Bất ngờ một tiếng la phía trước. Phản xạ của lính trận khiến chúng tôi xoay súng, lia nhanh một loạt xuống khu vực phát tiếng động rồi hô lớn: “Đứng im! Đầu hàng ngay không chết!”.

Lúc ấy tôi mới nhận ra, chúng tôi chỉ cách họ chừng mười mét, đủ gần để chúng nhìn thấy từ đầu gối tôi trở xuống. Vì toán biệt kích bị lạc nhau, chúng tưởng tôi là người của chúng nên vừa ló mặt ra thì gặp ngay loạt đạn phản ứng của tôi. Một loạt thôi, nhưng cũng đủ làm mấy tên bị thương, còn lại hơn chục tên sợ tái mét, giơ tay xin hàng.

Nghe tiếng súng, anh em còn lại ùa đến. Chúng tôi ném dây dù bắt bọn chúng tự trói nhau, rồi dẫn giải về. Dân bản kéo ra xem, lập tức nhận ra chính là những kẻ đêm qua đến xin gạo. Có một tên từng hai lần trốn trại, nghe đâu rất giỏi võ karate vậy mà lúc bị bắt lại run như lá, sợ chết hơn ai hết.

Khi đem cho chúng thau cơm độ 4 - 5 lon gạo, cả bọn xúm lại bốc ăn ngấu nghiến.Tôi dọa bắt thằng toán trưởng đứng ra khai báo, hắn sợ đến phát khóc như trẻ con.

Sau vụ đó không lâu, tôi được điều ra Bắc, về Bắc Ninh học tập. Mãi đến sau mới trở lại mặt trận, mang theo ký ức khó quên về buổi sáng bất ngờ nơi rừng Paksong năm ấy./.
Theo lời kể của Cựu chiến binh Bùi Văn Dũng; Ảnh minh hoạ: Bộ đội Việt Nam tại chiến trường Lào năm 1972.
QV-ST!

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: NGÀY 9-4-1975, MỞ MÀN CHIẾN DỊCH XUÂN LỘC!

     Thị xã Xuân Lộc là tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), nằm cách thành phố Sài Gòn 80 km về phía Đông, án ngữ trên trục đường số 1; từ đây nối với Đà Lạt qua đường 20, nối với Bà Rịa - Vũng Tàu qua đường 2 và đường 15. Nằm trong hệ thống phòng vệ Sài Gòn từ xa với các tuyến mắt xích trọng yếu Phan Rang - Xuân Lộc, Tây Ninh - Bắc Củ Chi, Long An - Bến Lức, Xuân Lộc được mệnh danh là “cánh cửa thép” trên cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. Tại đây, địch bố trí lực lượng cực mạnh với hệ thống công sự phòng thủ kiên cố, nhiều tầng, gồm: Sư đoàn bộ binh 18, Trung đoàn 8/Sư đoàn bộ binh 5, Lữ đoàn kỵ binh 3 (các thiết đoàn M41, M113, M48), 2 tiểu đoàn Biệt động quân, 2 tiểu đoàn Pháo binh (các pháo đội 105mm và 155mm), cùng lực lượng cảnh sát, địa phương quân. Lực lượng sẵn sàng tăng viện gồm Lữ đoàn dù số 1, Liên đoàn 81 biệt cách dù, toàn bộ hỏa lực của không quân từ hai sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất.

Xe tăng và bộ binh Quân đoàn 4 tiến công thị xã Xuân Lộc

Để mở thông đường tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch đập tan tuyến phòng ngự Xuân Lộc. Ngày 3-4-1975, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 thông qua phương án tác chiến: dùng lực lượng lớn bộ binh, xe tăng, pháo binh đánh thẳng vào Sở chỉ huy Tiểu khu và Sư đoàn 18, nhanh chóng chiếm Xuân Lộc, tạo thế và lực cho Quân giải phóng tiến công áp sát Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu.

5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, chiến dịch tiến công giải phóng Xuân Lộc bắt đầu. Sự an nguy của Sài Gòn và Dinh Độc Lập lệ thuộc trực tiếp vào diễn biến tại “cánh cửa thép” này, vì vậy quân địch tại đây kháng cự rất quyết liệt./.



QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: KHI KẺ CẦM ĐẦU NGU XUẨN!

     Thảm họa kinh hoàng khi mà kẻ cầm đầu ngu xuẩn & độc đoán, chuyên quyền.

Nhân tháng 4, xin kể về những quyết định sai lầm của những kẻ nắm sinh mạng hàng triệu con người, đã ra những quyết định sai lầm nghiêm trọng, làm tình hình đổ bể theo hiệu ứng domino, không thể cứu vãn nổi.

Đó là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu & Thiếu tướng Phạm văn Phú.

Trước hết nói về tướng Phú.
Hắn sinh tại Hà Đông, trong một gia đình khá giả, có học vấn, đi lính cho pháp vào đơn vị nhảy dù, tham chiến tại Điện Biên phủ 1953, 1954 thì bị bắt làm tù binh, được trao trả theo hiệp định Giơnevơ, lại vào Nam theo Mỹ...sau đó Phú được Nguyễn Văn Thiệu phong Thiếu tướng đưa lên làm Tư lệnh QĐ2 chấn ải cao nguyên - vùng đất có vị trí chiến lược cực kì quan trọng.

Cái sai lầm của tướng Phú là coi thường trí thông minh & trình độ nghi binh chiến dịch của tướng Hoàng Minh Thảo (Quân giải phóng), trong 6 tháng cho mở đường, điều quân, cắm đài canh 15w hướng PleiKu. Bỏ lơi Buôn Ma Thuột. Phú mắc bẫy, điều lực lượng chính về Pleiku, chỉ để sư 23 + quân địa phương chốt giữ Buôn Ma Thuột. 

Kho tàng, Xe tăng Quân giải phóng ém hướng Buôn Ma Thuột, công binh cưa 1/2 cây lớn mở sẵn đường.

Rạng sáng 10. 3.1975, quân giải phóng đồng loạt tiến công, xe tăng ủi đổ cây thành đường , đánh thẳng vào sân bay Hòa Bình, kho Mai Hắc Đế, sở chỉ huy địch. Xe tăng và bộ binh thọc sâu vào trung tâm thị xã. Hệ thống phòng thủ của đối phương bị tê liệt nhanh chóng. Ngày 11/3/1975 Các vị trí còn lại bị tiêu diệt hoặc đầu hàng.

Buôn Ma Thuột hoàn toàn thất thủ, trở thành chiến thắng lớn mang tính quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lệnh Tướng Phú giữ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá.

Tướng Phú bốc quân từ Pleiku lệnh trực thăng đổ xuống tái chiếm Buôn Ma Thuột, nhưng lại rơi vào trúng trận địa mai phục của quân giải phóng, toàn bộ quân chi viện bị tiêu diệt & bắt tại trận.

- Ngày 14.3, Thiệu gọi Phú và 5 tướng về Cam Ranh họp khẩn. Sau 117 phút nắm, phân tích tình hình, Thiệu đã ra một quyết định trái ngược với lệnh trước là tử thủ; đây là quyết định ngu xuẩn & dốt nát nhất:
- Bỏ Tây Nguyên, rút quân chủ lực về đồng bằng ven biển. Không cho các tỉnh trưởng, và hơn 20 tiểu đoàn địa phương quân biết !, bất chấp sự phản đối của tướng Phú. 
- Các đường 14, 25,19 rút lui về đồng bằng đều bị quân giải phóng cắt đứt và khống chế. Phú cho rút theo đường 7B đã bỏ hoang từ lâu.
- Thông tin quân chủ lực Ngụy rút chạy, rò rỉ từ gia đình sĩ quan binh lính QĐ2 rút theo chồng, tiết lộ... dân, quân địa phương ồ ạt rút chạy theo... đã làm chẹn cứng đường 7B. Sau 2 ngày lại bị sư đoàn 320A truy kích kịp, tấn công mãnh liệt, pháo 130 li bắn cấp tập, con đường 7B trở thành con đường máu!

Trận đánh Buôn Ma Thuột là trận mở màn nhưng mang tính quyết định của Chiến dịch Tây Nguyên 1975 trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam.

Trận Buôn Ma Thuột đã điểm trúng huyệt, tạo hiệu ứng Domino, đặc biệt tinh thần hoang mang cực độ trong hàng ngũ quân đội VNCH, sau đó gần như mất sức chiến đấu, tháo chạy ngay khi bị quân giải phóng tấn công: như Huế, Đà Nẵng... sau đến Phú Yên, Phan Rang...

Tại sao Nguyễn Văn Thiệu trong 10 ngày ra 2 quyết định trái ngược nhau như vậy. Và quyết định của một kẻ cầm đầu bỏ địa bàn chiến lược Tây Nguyên là một sai lầm rất nghiêm trọng là do đâu?!

Sau này tìm hiểu sâu thì biết có sự mê tín mù quáng của Thiệu, đồng thời có sự chọc ngoáy của Ông Nhạ: 
Thiệu sinh giờ TÝ, ngày TÝ (chuột), năm 1923, Quý Hợi. 
Năm 1975 là năm Ất Mão, là năm MÈO bắt chuột, ông Nhạ khuyên khi mèo đuổi, chuột nên chui vào lỗ là an toàn. Cho nên Thiệu cho bỏ Tây Nguyên lui về đồng bằng ven biển. Có ngờ đâu đó là sai lầm chiến lược vô cùng quan trọng.

Trước khi từ chức, Thiệu lên đài phát thanh, Truyền hình đổ lỗi hết cho Phạm văn Phú, Ngô Quang Trưởng... (không hề nói tới cái lệnh rút bỏ Tây Nguyên của hắn).

Chiều 29.4, Phú nói vợ dẫn 8 con đến điểm di tản, ông ta ở lại nhà một mình nói là đi sau. Rồi ổng uống 1 liều thuốc độc cực mạnh tự sát. Linh tính mách bảo, và đúng lúc nghe tin kịp nên vợ Phú dẫn con trở về đưa Phú vào bệnh viện cấp cứu, tuy nhiên thuốc độc làm Phú hôn mê sâu, trưa 30.4 chỉ mở mắt hỏi:
 - Tình hình sao rồi?
 - Hết rồi!
Thế là Phú nhắm mắt lại & vĩnh viễn ra đi.
Khi đó Thiệu đã qua Đài Loan, rồi sang Pháp lưu vong, giận Mỹ bỏ rơi kiếp chó săn hết thời nên hổng thèm sang Washington bắt đền lịch sử như lũ đu càng.

Qua đó thấm cái câu: Kẻ cầm đầu mà ngu xuẩn, độc đoán, chuyên quyền... sẽ làm khổ rất rất nhiều người!
Kính cám ơn!




QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHẠM TRÁN THÁM BÁO ĐỊCH Ở ĐÈO BÙ LẠCH!

     Năm 1969, Trung đoàn 4 công binh được lệnh tiếp quản cụm trọng điểm liên hoàn từ Cô Tiên, dốc Con Mèo, sân bay A Sầu, A Lưới, ngầm A Vương đến đèo Bù Lạch. Đại đội 3, Tiểu đoàn 47 do tôi phụ trách đảm bảo giao thông tại đèo Bù Lạch, một con đèo hiểm trở dài 2km với 6 khúc cua gấp, dưới chân là suối A Vương nước chảy cuồn cuộn. Nhiệm vụ của tôi là phá bom, dò mìn, mở đường cho xe vận tải vượt tuyến.

Trong đội phá bom có khoảng 20 người, ăn lương khô, uống nước suối, ngủ hầm công sự dựng tạm. Những đêm thao thức bên lằn bom chưa nổ, những phút nằm sát vách núi lắng nghe từng tiếng động khả nghi, đó là “bài học nằm lòng” của lính công binh Trường Sơn.

Một buổi chiều có sương mù bảng lảng, lúc 15 giờ, tôi cùng Thỏa, một trinh sát người Tày ở Hạ Lang, Cao Bằng, nhanh nhẹn, gan lỳ, nổi tiếng trong đội vì có nhiều cách phá bom sáng tạo tranh thủ nhập tuyến sớm. Chúng tôi lần theo vệt đường từ đỉnh đèo qua khúc cua số 6 thì phát hiện hai bóng người đang ngược lên từ phía cua số 5. Không cần ra hiệu, chúng tôi lập tức mở chốt an toàn khẩu AK.

Khi hai bên chỉ còn cách nhau chừng 10 mét, trong làn sương xám đục, chúng tôi nhận ra đối phương cũng mang ba lô nhẹ, khoác áo Tô Châu, súng AK nòng chúc xuống đất giống như bao chiến sĩ Trường Sơn khác. Tuy nhiên, bản năng của người lính đã từng trải khiến tôi cảnh giác. Tôi lên tiếng hỏi trước:
- Các đồng chí ở đơn vị nào? Phía dưới có tình huống gì không?

Người đi trước trả lời ngập ngừng, còn người đi sau thì lặng lẽ nâng khẩu súng lên. Một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng tôi. Trong đầu tôi chợt hiện lại vụ việc vài hôm trước: một toán thám báo địch giả dạng bộ đội bất ngờ xả súng khiến đơn vị tổn thất nặng.

Không chần chừ, tôi lập tức nghiêng người, thu hẹp khoảng cách, đồng thời đưa nòng súng AK về phía đối phương và siết cò. Gần chục viên đạn găm thẳng vào tên phía trước, hắn đổ gục tại chỗ. Tên thứ hai lãnh trọn hai viên đạn vào cánh tay, khẩu súng chưa kịp đưa lên đã văng xuống vệ đường. Ngay tức thì, Thỏa lao đến khống chế, khóa tay hắn lại, kéo vào hầm phòng không gần đó. Tôi cũng lập tức xóa dấu vết, chạy về hầm công sự.

Vừa chui vào hầm thì tiếng máy bay phản lực gầm rú vang vọng. Địch thả bom dồn dập, đất đá trút như mưa, bầu trời Bù Lạch tối sầm vì khói lửa. Một cơn bão bom vừa được hóa giải phần nào nhờ hành động kịp thời của hai người lính công binh./.
Theo lời kể của cựu chiến binh, thương binh Bùi Hòa Bình - nguyên chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 4 công binh, Sư đoàn 470 Trường Sơn.
QV-ST!