Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời
kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam không chỉ là sự tiếp thu, kế thừa những giá trị
trong hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ, mà còn được
bổ sung, phát triển trong điều kiện lịch sử mới; qua đó, tiếp tục khẳng định và
làm sáng rõ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Có thể nói, thực tiễn hơn 30 năm đổi mới càng làm sáng tỏ lý
luận về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Đó là những tiêu chí đánh giá đúng
sự kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về thời kỳ quá độ của Đảng ta, đồng thời là những cơ sở, điều kiện đảm bảo
cho sự nghiệp xây dựng CNXH đi tới thành công.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhấn mạnh, chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ nhằm thực hiện
4 mục tiêu: Công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông
trong ngoài, “Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế nước ta”.
Cho đến nay đã có nhiều nghiên
cứu nêu ra các quan niệm về thời kỳ quá độ lên CNXH theo cách tiếp cận khác
nhau, song đều có chung một cách hiểu là thời kỳ độc lập tương đối, một xã hội
mà ở đó các lĩnh vực cơ bản chưa hoàn toàn là xã hội chủ nghĩa. Nói cách khác,
trong xã hội của thời kỳ quá độ lên CNXH, cái cũ và cái mới còn tồn tại đan
xen, vừa chi phối ảnh hưởng lẫn nhau, vừa đấu tranh với nhau để từng bước cho
ra đời một thực thể xã hội mới, đúng nghĩa là xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo
cách hiểu như vậy là đã có sự bổ sung, phát triển quan niệm về thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và
bổ sung trong tình hình hiện nay.
Thứ nhất, nhận thức sâu sắc hơn
những khó khăn còn tồn tại lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong
thời kỳ quá độ, chúng ta dễ có những nhận thức không toàn diện, lệch lạc: Một là, xem
nhẹ, không tính đến đầy đủ chiều hướng suy tàn, tiêu vong của hình thái kinh tế
- xã hội cũ, từ đó không thấy hết tính chất khó khăn, phức tạp của sự đan xen
và đấu tranh giữa cái cũ, lỗi thời, lạc hậu với những cái mới đang hình thành,
có xu hướng tiến bộ và phải trải qua một quá trình lâu dài, cái mới tiến bộ
khẳng định xu hướng phát triển hợp với điều kiện mới. Hai là, ngộ
nhận về thắng lợi, chỉ có phát triển đi lên của những nhân tố mới, nhất là khi
nó đang trong giai đoạn hình thành, đang phải trải qua những bước “quá độ”,
không thấy những khó khăn, thoái trào, thậm chí có thể thụt lùi tạm thời để
củng cố và phát triển các lĩnh vực đời sống xã hội.
Thứ hai, nhận thức đúng đắn, cụ
thể hơn về “con người mới xã hội chủ nghĩa” trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Việt
Nam đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, con người Việt Nam, dù ở địa
vị nào cũng còn mang dấu vết của thời kỳ quá độ. Vì thế, không thể đưa ra yêu
cầu quá cao đối với họ, nhưng những yếu tố vượt trước và với vai trò là chủ thể
của lịch sử, thì cần phải tạo lập những yêu cầu, tiêu chí phù hợp với sự nghiệp
đổi mới và thời đại. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng “muốn xây dựng chủ nghĩa
xã hội thì phải có con người mới xã hội chủ nghĩa”.
Trên thực tế, với nhiều nước trên thế giới và cả ở khu vực Đông
Nam Á, con người và lao động Việt Nam hiện tại còn thấp về nhiều chỉ số: thể
chất, sức khỏe, tay nghề, trình độ đào tạo, khả năng hội nhập, ý thức pháp
luật.... Nguồn nhân lực chất lượng cao nước ta hiện nay đang thiếu hụt về số lượng, hạn chế
về chất lượng và bất cập về cơ cấu. Cơ cấu “dân số vàng” nếu không
được sử dụng, phát huy tốt sẽ là gánh nặng cho kinh tế và xã hội. Vì thế, con
người mới trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam cần phải được nhìn nhận một
cách toàn diện, cụ thể hơn. Đó là những con người đang trong quá trình hoàn
thiện từng bước, từng mặt, đáp ứng yêu cầu từng lĩnh vực, địa vị xã hội từng
người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung,
phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định: “con người là trung tâm của chiến
lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển. Đảng và Nhà nước ta cũng
đã có nhiều chủ trương, chính sách về giáo dục đào tạo; chăm sóc sức khỏe; phát
triển văn hóa; phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao; phát
triển khoa học công nghệ; xây dựng đội ngũ cán bộ... nhằm hướng tới mục tiêu:
“con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện”.
Thứ ba, nhận thức bổ sung về
thực hiện công bằng, bình đẳng trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Công
bằng xã hội và bình đẳng xã hội là hai khái niệm có nội hàm quan hệ chặt chẽ
với nhau, nhưng không thể đồng nhất là một. Trong CNXH, nhất là thời kỳ quá độ,
bình đẳng xã hội hoàn toàn là chưa thể thực hiện được; cái mà xã hội có thể đạt
được là công bằng xã hội. Tuy nhiên, dù có diễn đạt cụm từ “công bằng” hay
“bình đẳng” một cách độc lập, hoặc nối tiếp nhau, cũng đều thể hiện hàm ý, đó
là sự ngang nhau giữa người và người trên các phương diện của xã hội XHCN, hoặc
ngang nhau trong phân phối sản phẩm, đảm bảo sự tương xứng giữa cống hiến và
hưởng thụ, lao động và trả công, trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi. Hồ Chí
Minh chỉ ra “CNXH là bình đẳng”, “CNXH là công bằng, ai làm nhiều hưởng nhiều,
làm ít hưởng ít, không làm, không hưởng”. Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ,
những người thuộc nhóm xã hội yếu thế, người không còn khả năng lao động, hay
bị bệnh tật bẩm sinh, tai nạn không thể lao động để nuôi sống bản thân, thì xã
hội phải có trách nhiệm đảm bảo lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là CNXH. Vì
thế, “bình đẳng” theo nghĩa “sự ngang nhau hoàn toàn” trên mọi phương diện
trong thời kỳ quá độ là chưa thể thực hiện được.
Thứ tư, nhận thức bổ sung, phát
triển luận điểm “dân chủ mới” trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Luận
điểm “dân chủ mới” được Hồ Chí Minh sử dụng 120 lần trong các tác phẩm của
mình. Trong đó, nhiều lần Người sử dụng các cụm từ: “thời kỳ dân chủ mới”,
“tinh thần dân chủ mới”, “chế độ dân chủ mới”, “nền nếp dân chủ mới”, “chúng ta
phải thực hiện dân chủ mới để chuẩn bị đi đến chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng
sản”(9)... Theo đó, cần nhận thức sâu sắc hơn về “Dân chủ mới” trong thời kỳ
quá độ với tính cách là một chế độ chính trị - xã hội đang được xây dựng
theo những nguyên tắc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa. “dân chủ mới” có sự ẩn chứa
những thuộc tính xã hội chủ nghĩa đang được hình thành, khẳng định, trên cơ sở
kế thừa những giá trị của “dân chủ cũ”, đồng thời từng bước bồi đắp những giá
trị dân chủ mới ưu việt, tạo tiền đề để đi đến CNXH.
Hơn nữa, “dân chủ mới” cần được hiểu là dân chủ xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện quá độ lên CNXH, để tránh nhầm lẫn hoặc đánh tráo sang những
giá trị dân chủ mới của phương Tây, của chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa, học
thuyết phi vô sản khác hiện nay.
Tóm lại, tư
tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam đã thể hiện những
nội dung đặc sắc, trên cơ sở kế thừa và phát triển sáng tạo những giá trị của
chủ nghĩa Mác - Lênin vào đặc điểm, tình hình xã hội Việt Nam. Thực tiễn
luôn vận động biến đổi và đang đặt ra nhiều vấn đề mới, những nội dung tư
tưởng về thời kỳ quá độ của Người vẫn giữ nguyên giá trị, cần tiếp tục bổ
sung, phát triển trong điều kiện mới./.
Mai Năm Mới
Bài viết rất hay
Trả lờiXóa