Thứ Hai, 18 tháng 3, 2024

TÁC PHẨM “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM” CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG LÀM SÁNG TỎ HƠN CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 


Chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần phải được tiếp tục làm rõ để một số cán bộ, đảng viên, nhất là quần chúng nhân dân sáng tỏ hơn, vững tin và quyết tâm hơn trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tránh hoang mang, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là việc cán bộ, đảng viên trước những khó khăn, bất cập do thực tiễn đặt ra lại quay lưng với chế độ, tôn sùng và ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, để vạch trần những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Chúng ta đều biết, cuộc đấu tranh một mất một còn giữa hai chế độ chính trị, giữa hai mô hình nhà nước: Tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, cuối cùng ai sẽ thắng? Đi lên chủ nghĩa xã hội có phải là sự lựa chọn đúng đắn của chúng ta? Và liệu chúng ta có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội?

Đó là những câu hỏi lớn, không phải trả lời trong ngày một, ngày hai mà cần phải có cơ sở lý luận khoa học và phải được thực tiễn chứng minh cụ thể. Tác phẩm của Tổng Bí thư ra đời đã kịp thời làm sáng tỏ thêm những vấn đề đó.

Hiện nay, trước những biến đổi sâu sắc của thực tiễn cuộc sống và tình hình chính trị, xã hội trên phạm vi toàn cầu, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đã ít nhiều làm thay đổi tư duy của một số cán bộ, đảng viên, quần chúng về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tìm cách chống phá phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, mục đích cuối cùng là lật đổ chế độ XHCN ở những nước còn lại, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt, từ thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta còn có những hạn chế, khuyết điểm chưa được giải quyết, như: công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của một số cấp ủy, chính quyền còn nhiều sơ hở, yếu kém; vấn nạn tham ô, tham nhũng và tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang diễn biến phức tạp... làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm phai mờ bản chất nhà nước, chế độ mà chúng ta đang xây dựng. Đồng thời, đây là cơ hội cho các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng CNXH của chúng ta.

Điều đó đặt ra nhiều câu hỏi làm cho một số cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhất là những người thiếu nhận thức hoặc nhẹ dạ cả tin trở nên hoang mang, dao động, rằng: Đi lên chủ nghĩa xã hội có phải là sự lựa chọn đúng đắn?

Hãy nhìn lại, trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Mác nói: “sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”, khẳng định chế độ tư bản sẽ bị thay thế bởi một chế độ tốt đẹp hơn, ưu việt hơn – chế độ xã hội chủ nghĩa. Cũng theo chủ nghĩa Mác - Lê nin, xã hội loài người trải qua 5 hình thái: Công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội). Và trên thực tế, chúng ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua mô hình nhà nước tư bản chủ nghĩa. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với lịch sử và điều kiện thực tiễn của đất nước ta. Điều này được khẳng định ngay trong Chính cương thành lập Đảng năm 1930: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (nghĩa là cách mạng nước ta phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để đánh đổ thực dân, phong kiến rồi tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa).

Chúng ta biết, trước khi Đảng ra đời, phong trào cách mạng Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ, các phong trào yêu nước từ lập trường phong kiến, đến lập trường dân chủ tư sản, tiểu tư sản đều thất bại. Nguyên do sâu xa không phải các phong trào ấy thiếu tinh thần yêu nước và thiếu quyết liệt... mà cốt lõi là những phong trào ấy đi theo đường mòn lối cũ vốn đã lỗi thời; thiếu một đường lối đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Các phong trào ấy dù rất quyết liệt nhưng không được quần chúng hưởng hứng, vì họ nhận thức được: Cách mạng dù có thành công thì thành quả cũng không thuộc về tay họ mà lại rơi vào tay thiểu số, vào tầng lớp địa chủ phong kiến, vào tay giai cấp tư sản”. Nói đơn giản, những phong trào ấy là phong trào đấu tranh tự phát, chưa xác định rõ đường lối, nhiệm vụ, mục tiêu và phương pháp cách mạng rõ ràng nên chưa lôi cuốn được quần chúng nhân dân. Chỉ có con đường của Mác - Lê nin mà Bác Hồ đã chọn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, khi đó chúng ta mới thành công.

Hiện nay, trong bối cảnh còn nhiều vấn đề chưa được cán bộ, đảng viên, quần chúng nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, phát triển thì tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư ra đời đã làm rõ hơn cho chúng thấy: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường XHCN? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng CNXH ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên CNXH ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì? Đặc biệt, Tổng Bí thư khẳng định: "Chủ nghĩa tư bản (CNTB) vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó".

Đó là những sự khẳng định khoa học cả về lý luận và thực tiễn, có ý nghĩa rất quan trọng, khẳng định xu thế vận động, phát triển của xã hội loài người, khẳng định đi lên CNXH ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn; đồng thời phê phán những quan điểm, tư tưởng “tán dương, ca ngợi” CNTB, hoài nghi về con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Lịch sử đã cho thấy, thay thế chế độ phong kiến, CNTB ra đời, phát triển là bước tiến lớn của nhân loại. Điều đó là không thể phủ nhận. Mác và Ăng ghen đã đánh giá cao công lao của CNTB đối với sự phát triển lực lượng sản xuất. CNTB với nền kinh tế thị trường, cơ chế cạnh tranh, mục tiêu lợi nhuận đã tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và nền kinh tế, thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, thu hút tất cả các nước trên thế giới vào một thị trường chung, tham gia vào sự phân công lao động và hợp tác, liên kết kinh tế trên quy mô toàn cầu. Thực tế này làm cho nhiều người lầm tưởng và cho rằng CNTB là chế độ tốt đẹp nhất, “là thiên đường, vĩnh hằng và vô hạn”. Nhất là sau khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, không ít người đòi xét lại Chủ nghĩa Mác-Lênin và cho rằng chế độ XHCN là “quái thai” của lịch sử, cần phải đào sâu, chôn chặt để cho loài người thừa hưởng và sống trong một trật tự xã hội vĩnh hằng, công bằng, bình đẳng mà con người hướng tới.

Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở góc độ nào, nhìn nhận ở bình diện nào thì CNTB chưa bao giờ và không bao giờ là xã hội công bằng, bình đẳng mà con người hướng tới. Mặc dù CNTB ngày nay đã có điều chỉnh nhất định trong quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối, phần nào làm giảm bớt tính gay gắt của những mâu thuẫn cơ bản trong xã bội tư bản chủ nghĩa. Dù vậy, những điều chỉnh ấy vẫn chưa vượt ra khỏi khuôn khổ của quan hệ sản xuất TBCN. Đảng ta khi bàn về CNTB ngày nay đã khẳng định: “Hiện tại, CNTB còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của CNTB, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra”.

Và mặc dù có sự điều chỉnh, thích nghi nhưng “CNTB vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó”. Đúng như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội TBCN: Đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc”. Và sự thật, dù có biến đổi thế nào thì bản chất của CNTB không hề thay đổi. Dù có điều chỉnh, thích nghi đến đâu thì TBCN vẫn là xã hội mà trong đó sự phát triển không thực sự vì con người. Xã hội đó luôn vì lợi nhuận kinh tế mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người". Dù có che đậy tinh vi ở mức độ nào thì trong xã hội TBCN, quyền lực của hệ thống chính trị thực sự không thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át... 

Như vậy, chúng ta cần nhận thức rằng: CNTB hiện vẫn tiếp tục điều chỉnh để thích ứng trước những biến động, mâu thuẫn bên trong và ngoài nước. Hiện tại, CNTB vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, như Mác và Lênin đã nhận định: Phương thức sản xuất TBCN không tự diệt vong và phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa cũng không tự phát hình thành mà phải được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội, trong đó, giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội này chính là giai cấp công nhân.

Điều đó có nghĩa rằng, xu thế phát triển của nhân loại tất yếu sẽ thay thế CNTB bằng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn nó. Dù còn nhiều quanh co, phức tạp nhưng nhất định loài người sẽ tiến lên CNXH. Điều này một lần nữa khẳng định: Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. CNXH là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam; đi lên CNXH là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. 

Chúng ta cần nhìn lại lịch sử để thấy rõ hơn, ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng đã bị các thế lực thù địch chống phá quyết liệt và không ít người đòi Đảng ta phải từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vì họ cho rằng đó là “con đường sai lầm”, đòi chúng ta phải đi theo con đường khác. Chúng ra sức lợi dụng sự kiện chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, cho rằng chủ nghĩa xã hội đã “cáo chung”, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, do đó Việt Nam tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, là đi vào vết xe đổ của Liên Xô và Đông Âu. Do vậy, ở đây chúng ta cần tỉnh táo và nhận thức rõ: Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa mà là sự sụp đổ của một mô hình nhà nước cụ thể, do những sai lầm mà chính nó tự tạo ra trong quá trình cải tổ, xây dựng, sai lầm trong cách vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin vào điều kiện, tình hình cụ thể. Bởi thực tiễn sau đó đã khẳng định: Chủ nghĩa xã hội không những không sụp đổ mà ngày càng lớn mạnh với những Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, Lào và Việt Nam chúng ta, chứng minh sự lựa chọn đúng đắn của chúng ta.

Đặc biệt, mới đây, xung quanh thời điểm diễn ra Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội tiếp tục đưa ra các quan điểm tấn công, xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các đối tượng cho rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sai lầm. Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản động, phản khoa học. Mục đích của chúng là lái nước ta chệch khỏi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, dao động, suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Thực tiễn sau hơn 35 năm đổi mới đất nước và gần 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta đã chứng minh: Chúng ta đã lựa chọn đúng đắn, phù hợp với xu thế của lịch sử thời đại, đất nước ta đang ngày càng vững bước trên con đường đi lên CNXH. Nói như lời Tổng Bí thư tại Đại hội XIII: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Không phải tự nhiên mà Tổng Bí thư khẳng định vậy, bởi như trong đại dịch vừa rồi: Không một quốc gia nào trên thế giới có nền kinh tế đang phát triển, chưa sản xuất được vacxin nhưng lại có tỷ lệ tiêm vacxin cho Nhân dân cao hàng đầu thế giới; không một quốc gia nào trình độ khoa học kỹ thuật còn kém phát triển nhưng có kết quả phòng chống dịch thuộc nhóm đầu của thế giới và được nhiều quốc gia đến học tập kinh nghiệm phòng chống dịch; không một quốc gia nào đang ở trình độ phát triển trung bình lại có tỷ lệ tử vong vì Covid thấp như Việt Nam và cũng không có quốc gia nào là điểm đến an toàn trong lúc dịch bệnh hoành hành như ở Việt Nam.... Điều đó khẳng định tính ưu việt của Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng – một mô hình Nhà nước hoàn toàn hợp với ý Đảng, lòng dân. Nhà nước tốt đẹp đang dần hoàn thiện như Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Như vậy, có thể khẳng định sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là hoàn toàn đúng đắn như Đảng ta đã khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Thế nhưng, hiện nay vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên, quần chúng băn khoăn, dao động, nghi ngờ: Liệu chúng ta có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội?

Họ nghĩ rằng, những năm 50 của thế kỷ XX, thời kỳ Liên Xô và Đông Âu hưng thịnh nhất, chính lúc này nhiều người cho rằng Liên Xô đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nhưng rồi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ thì không ít cán bộ, đảng viên hoang mang, dao động, thậm chí chống lại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta. Họ nghi ngờ về khả năng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Và cũng từ thực tiễn Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng còn nhiều hạn chế, bất cập mà chúng ta chưa thể giải quyết được gây bức xúc dư luận, trong đó nổi cộm là vấn nạ tham nhũng, sự thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đây chính là điều làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ và cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Do đó, chúng ta cần nhìn nhận khách quan, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chế độ xã hội mà là sự sụp đổ của một nhà nước cụ thể, các nước còn lại mà tiêu biểu là Việt Nam chúng ta đã và ngày càng phát triển. Điều đó minh chứng rõ ràng hơn cho sự lựa chọn đúng đắn và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta ngày càng rõ ràng, có cơ sở thực tiễn hơn.

Cần tiếp tục khẳng định, đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Đây là chân lý đã được thử thách và kiểm nghiệm trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta hơn 90 năm qua, nhất là qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng). Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó đã khẳng định con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn là đúng đắn, củng cố niềm tin và sự kiên định của dân tộc ta vào con đường đi lên CNXH.

Việc xác định con đường đi lên chủ nghĩa của chúng ta đã được khẳng định từ khi mới thành lập Đảng. Từ đó đến nay, mặc dù trải qua vô vàn sóng gió, chông gai, nhất là sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhưng chúng ta luôn đứng vững và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội – con đường mà chúng ta đã lựa chọn.

Tóm lại, tác phẩm thể hiện tầm cao lý luận, bàn về những vấn đề lý luận rất rộng, nhưng cách trình bày lại rất dung dị, chắt lọc, tổng kết thực tiễn, lấy đời sống thực tiễn để chứng minh, thuyết phục. Do vậy, tác phẩm có sức cảm hóa, lan tỏa đặc biệt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Tổng Bí thư đã đặt ra nhiều câu hỏi lớn và từng bước tập trung lý giải từng câu hỏi đó bằng những lập luận sắc bén, bằng trí tuệ và sự kiên định của người cộng sản. Tổng Bí thư cũng nêu vấn đề: “Chúng ta phải định hình chủ nghĩa xã hội thế nào và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam?”... Trên cơ sở phân tích bản chất của chủ nghĩa tư bản, với lập trường duy vật biện chứng, đánh giá sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ khách quan, vận động và phát triển không ngừng, từ nhiều khía cạnh, Tổng Bí thư đã khẳng định, xã hội xã hội chủ nghĩa với giá trị cốt lõi, bền vững và tốt đẹp mà nhân loại hướng tới là: một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người; sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn; sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai; một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân. Đây cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn và phấn đấu thực hiện.

Do vậy, tác phẩm được toàn Đảng, toàn dân, đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đón nhận, hưởng ứng, cụ thể hóa thành chương trình hành động và quyết tâm thực hiện nhằm tạo bước chuyển biến mới, mạnh mẽ và đạt hiệu quả cao hơn. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chính là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước, thể hiện những vấn đề cốt lõi, cơ bản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tác phẩm đã thể hiện tư tưởng xuyên suốt, nhất quán, kiên định và sự phát triển sáng tạo, hoàn thiện tư duy lý luận, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn; về mục tiêu, định hướng và giải pháp xây dựng đất nước trong bối cảnh mới; giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ, nắm vững, quán triệt, tổ chức thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của cả dân tộc. Đồng thời, tác phẩm chính là vũ khí sắc bén đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; tiếp tục củng cố nhận thức, niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội xã chủ nghĩa./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét