Cán bộ, đảng viên là hạt nhân xây
dựng tổ chức cơ sở đảng, là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân; thực hiện và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường và củng cố niềm tin của nhân dân đối
với Đảng.
Chất lượng của cán
bộ, đảng viên cơ sở nói chung, năng lực quán triệt, vận
dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận vào thực tiễn ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh
của các tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động đến hiệu quả quán
triệt, triển khai và thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách của Nhà nước.
Tuy nhiên, hiện nay một
bộ phận cán bộ, đảng viên chưa vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận vào thực
tiễn, còn có những biểu hiện của bệnh giáo điều đặt ra những yêu cầu mới cần
ngăn ngừa kịp thời, có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng
và đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Nhận diện bệnh giáo điều
Bệnh giáo điều là khuynh
hướng cường điệu hóa vai trò của lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận
khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử, cụ thể. Những người bị bệnh giáo điều
thường tiếp thu lý luận một cách đơn giản, phiến diện mang tính chất cảm tính;
biến lý luận thành những công thức chết cứng, chìa khóa vạn năng cho mọi hành
động hoặc áp dụng rập khuôn, máy móc kinh nghiệm của người khác, địa phương
khác. Cho nên, khi xác định biện pháp lãnh đạo, không xuất phát từ điều kiện
lịch sử cụ thể, xa rời thực tiễn.
Bệnh giáo điều thường
biểu hiện dưới dạng hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn, quá lạm dụng sách vở;
nghiên cứu học tập lý luận nhưng không chuyển hóa được lý luận vào thực tiễn
công tác. Nắm lý luận chỉ dừng ở câu chữ, ở những nguyên lý chung chung, trừu
tượng, mượn những lời của Mác, Lênin để làm cho người ta lầm lẫn mà không thâu
tóm được bản chất cách mạng và khoa học, không xuất phát từ thực tiễn để vận
dụng lý luận.
Điều này dẫn đến
hình thành tư duy lối mòn, thiếu sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Chủ
tịch Hồ Chí Minh cảnh báo những người giáo điều thường làm trái với chỉ
thị của Lênin; họ không phân tích rành mạch việc gì hết; họ viết hoặc họ nói
đều là trống rỗng, họ gây nên một tác phong rất xấu trong Đảng và mỗi cán bộ,
đảng viên.
Những người giáo điều
thường đọc dăm ba quyển sách, thuộc dăm ba câu chữ để khoe khoang, “lòe thiên
hạ” chứ không phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các
vấn đề thực tế trong công tác. Hoặc lý luận chỉ là tổng số những công thức
máy móc, đơn điệu, phiến diện, làm cho lý luận không có sức sống, xa rời thực
tiễn, không chỉ đạo được thực tiễn. Từ đó lại xuất hiện tư tưởng coi thường lý
luận hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Nói chỉ là nói lý luận suông, làm thì theo
kinh nghiệm vụn vặt của cá nhân.
Xét về tính chất, bệnh
giáo điều biểu hiện trên cả hai phương diện lý luận và kinh nghiệm: Giáo
điều lý luận là thuộc lòng lý luận một cách máy móc nhưng không hiểu, không nắm
được bản chất khoa học, cách mạng của lý luận; nặng về diễn giải sách vở, thoát
ly thực tiễn; áp dụng lý luận nhưng không nghiên cứu điều kiện, hoàn cảnh lịch
sử, cụ thể.
Giáo điều kinh nghiệm là
việc áp dụng nguyên xi kinh nghiệm đã có sẵn một cách rập khuôn, máy móc mà không
có sự sáng tạo, kế thừa, chọn lọc. Xét về phương pháp, giáo điều
là xa rời, đối lập với biện chứng; bị kìm hãm, tự kìm hãm bởi tư duy, phương
pháp siêu hình nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái nhất thành bất
biến, không thay đổi, cô lập chúng khỏi những sự vật khác, trong những mối quan
hệ khác.
Xét về thái độ,
giáo điều thường rất dễ rơi vào định kiến, trì trệ và bảo thủ, dẫn đến chậm
thay đổi, ngại thay đổi, lệ thuộc vào những thói quen đã định hình nên khó đổi
mới, thậm chí chống lại đổi mới chỉ vì những hạn chế, bất cập trong tư duy,
nhận thức, không theo kịp sự vận động, phát triển của thực tiễn.
Tác hại của bệnh giáo
điều làm cản trở sự phát triển của tư duy lý luận khoa học, làm hạn chế tính
năng động, sáng tạo. V.I.Lênin cảnh báo, giáo điều là thói quen đáng sợ nhất,
vì nó làm cho cán bộ, đảng viên rơi vào định kiến, trì trệ và bảo thủ, ở
một mức độ nào đó, bệnh giáo điều là sức ỳ, sự trì trệ, bảo thủ sẽ cản trở
phát triển, là lực cản của đổi mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho
rằng vì kém lý luận cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc
cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý
mình nghĩ thế nào thì làm thế ấy; không biết áp dụng lý luận vào giải quyết
thực tiễn trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, cho nên thường thất bại
trong lãnh đạo, chỉ đạo và công tác.
Ngoài ra, bệnh giáo điều
còn biểu hiện ở khuynh hướng tả khuynh, chủ quan và cực đoan, quy kết vội vàng,
áp đặt vô nguyên tắc; cản trở sự tìm tòi, sáng tạo, không kích thích phản biện
khoa học từ đó dẫn đến mất dân chủ, tự do, tùy tiện, dẫn đến việc quán triệt,
triển khai, tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước
không sát thực tiễn, không hiệu quả, thậm chí dẫn đến sai lầm, làm ảnh hưởng
đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Ngăn ngừa bệnh giáo điều bằng
cách nào?
Trong thời gian qua,
công tác giáo dục lý luận chính trị đã đạt được những kết quả quan trọng, đội
ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển toàn diện, vững chắc; năng lực vận
dụng lý luận vào thực tiễn ngày càng được nâng lên. Song nhìn chung, chất
lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng lý luận vào thực tiễn chưa sát,
hiệu quả chưa cao.
Đại hội XIII của Đảng đã
chỉ rõ: Ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương,
nghị quyết của Đảng chưa kịp thời, chưa sát thực tế; ban hành nghị quyết của
một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu khả thi.
Trong đó, bệnh giáo
điều vẫn tồn tại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến quá trình
đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; làm cho quan điểm, chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách của Nhà nước và các chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên không
được vận dụng có hiệu quả trong thực tiễn. Do đó, để ngăn ngừa bệnh giáo điều
của cán bộ, đảng viên, cần thực hiện một số biện pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi
mới, nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng
viên. Cấp ủy các cấp cần xác định công tác giáo dục lý luận chính trị là một
nhiệm vụ quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng tổ chức đảng vững mạnh
về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Đổi mới căn bản nội
dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học,
sáng tạo, hiện đại, gắn lý luận với thực tiễn; đưa việc giáo dục, bồi dưỡng,
cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt các cấp đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả và phù hợp với
từng đối tượng gắn với bảo đảm tính thống nhất, tính kế thừa và tính liên
thông, khắc phục sự trùng lặp ở các cấp học, bậc học và đối tượng.
Đổi mới phương pháp
giảng dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
người học, lấy người học làm trung tâm; rèn luyện về phương pháp tư duy. Gắn
đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục với phương pháp kiểm tra, đánh giá kết
quả.
Thứ hai, nâng cao năng
lực nắm bắt, đánh giá thực tiễn của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên
(nhất là ở cơ sở) cần tăng cường bám nắm thực tiễn, tích cực nghiên cứu thực
tiễn, gần dân, sát dân; chống các biểu hiện làm việc bàn giấy, xa rời thực
tiễn. Quá trình nắm bắt, đánh giá thực tiễn sẽ giúp cán bộ, đảng viên tự đánh
giá, điều chỉnh hoạt động của mình cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, làm cho
hoạt động đúng mục đích, đúng hướng, có cơ sở khoa học, tránh được sự mò mẫm,
tự phát.
Thứ ba, nâng cao năng
lực vận dụng lý luận vào nhận thức và hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng
viên. Nâng cao trình độ lý luận và vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo vào thực
tiễn; tích lũy kinh nghiệm, vốn sống, năng lực tổng kết thực tiễn một cách
có lý luận; biết sử dụng lý luận như một phương pháp để tổng kết thực
tiễn, làm cho thực tiễn được lý luận hóa, bên cạnh đó, khắc phục bệnh giáo
điều nhưng phải đề phòng chủ nghĩa xét lại; không ngừng học tập, nâng cao trình
độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tri thức phải được kiểm
nghiệm thông qua hoạt động thực tiễn chứ không dừng lại ở việc nói, viết theo
kiểu chủ nghĩa kinh viện, tầm chương trích cú.
Thứ tư, thực hiện
nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở tổ chức cơ sở
đảng. Cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy phải thực sự gương mẫu trong
chấp hành các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, trong
thực hiện nhiệm vụ đảng viên, trong sinh hoạt, lối sống.
Các tổ chức cơ sở đảng
cần xây dựng cơ chế thông tin đa chiều, thực hiện minh bạch, công khai thông
tin, tăng cường đối thoại, trao đổi, tiếp xúc giữa cán bộ, đảng viên và nhân
dân gắn với thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” theo quan điểm Đại hội XIII của Đảng.
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét