NHÂN KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH GENÈVE (21/7/1954 - 21/7/2024): KHÔNG BAO GIỜ ĐƯỢC PHÉP ĐÁNH ĐỒNG NGƯỜI HY SINH VÌ CÁCH MẠNG VỚI NHỮNG NGƯỜI PHẢN BỘI TỔ QUỐC
Những năm gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện ý kiến của một số người tự xưng là “yêu nước”, là “dân chủ” kêu gọi cần phải “đối xử công bằng” với “những người lính Việt Nam Cộng hòa”. Họ cho rằng, "Việt Nam Cộng Hoà" cũng là một quốc gia được Mỹ và nhiều quốc gia thừa nhận, do đó cần phải hoà giải ở "cả hai phía" để xoá nhoà vết thương "nội chiến nồi da xáo thịt", rằng những người “lính Việt Nam Cộng hòa” cũng “có công bảo vệ lãnh thổ Tổ quốc”, vì thế cũng cần phải “tôn vinh”.
Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết rằng, thể chế “Việt Nam Cộng hòa” năm 1955 mới ra đời và ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía Nam của Việt Nam như một “sáng tạo” thuần túy của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phản ánh lợi ích riêng của họ (thị trường Đông Nam Á, gia tăng ảnh hưởng ở vị trí chiến lược, ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa…).
Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945 sau cuộc Cách mạng Tháng Tám của muôn triệu con dân đất Việt trước khi bất kỳ một lực lượng quân Đồng minh nào vào giải giáp quân Nhật. Ngay trong năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua - hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho Nhà nước dân chủ mới khai sinh.
Không những vậy, sau năm 1954, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu-Chấn động địa cầu) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên, cả phía Mỹ và cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” đều kiên quyết từ chối thiện chí đó. Theo Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo Hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm do Mỹ “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm “Thủ tướng” của chính phủ bù nhìn Bảo Đại đã tuyên bố “không có tổng tuyển cử gì hết”, trắng trợn vi phạm Hiệp định Giơnevơ và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.
Thời đó, người Mỹ và phe cánh của Ngô Đình Diệm lo sợ uy tín to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh và Đảng Lao động Việt Nam và tin rằng, nếu tiến hành bầu cử tự do, Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ giành được đa số số phiếu ủng hộ. Do vậy, Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ đã phải sử dụng nhiều “mưu hèn kế bẩn” để củng cố quyền lực của mình (với tư cách là Thủ tướng), rồi gian lận trong cuộc “trưng cầu dân ý” để hạ bệ luôn “Quốc trưởng Bảo Đại”, dựng lên cái gọi là “Việt Nam Cộng hòa” do Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng và sau đó là Tổng thống. Tiếp đó, Diệm áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến cũ và những người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần của nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Giơnevơ, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.
Thể chế “Việt Nam Cộng hòa” là phi pháp, nên các công cụ bạo lực của nó (quân đội, cảnh sát) cũng chỉ là lực lượng phản dân, hại nước, đang tâm làm tay sai cho các thế lực ngoại bang. “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” là tên gọi của quân đội thể chế “Việt Nam Cộng hòa” thường khoe là “chiến đấu cho tự do”, thế nhưng thực chất là họ đã sát cánh và tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ - những kẻ đã phạm nhiều tội ác phi nhân tính như h.ãm h.iếp phụ nữ Việt Nam, th.ảm s.át dân thường (tiêu biểu có trường hợp Mỹ Lai), sử dụng chất độc da cam, sử dụng bom napan và các loại b.om chùm có sức sát thương tàn bạo…
Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), “Quân lực Việt Nam cộng hòa” hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc. Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với thể chế “Việt Nam Cộng hòa”) đã suy sụp nhanh chóng, không còn biết “đánh đấm gì nữa”.
“Quân lực Việt Nam Cộng hòa” bao gồm chủ yếu là những người con đất Việt “máu đỏ da vàng”, mang trong mình các nét văn hóa Việt. Tuy nhiên, họ đã không phát huy được sức mạnh của văn hóa và truyền thống tổ tiên, vì họ đã sống trong môi trường tha hóa và thiếu chính danh của “Việt Nam Cộng hòa”, đã lầm đường lạc lối, đã bị lừa dối, bị ép buộc hoặc đơn giản là hành động chỉ vì miếng cơm, manh áo. Điều này khác biệt với Quân đội nhân dân Việt Nam, đội quân vì nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
Với chính sách uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đã có những chính sách tri ân đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với Cách mạng. Với quan điểm hoà giải, hàn gắn vết thương chiến tranh, chúng ta cũng đối xử nhân văn với gia đình binh sĩ ngụy bị tử nạn, đối xử nhân đạo với tù hàng binh, thương xót những người lính Pháp, lính Mỹ và những người nước ngoài đã tử vong trên đất Việt Nam. Thế nhưng không thể đánh đồng người hy sinh, cống hiến vì cách mạng với những người phản bội Tổ quốc, một thời lê gót theo giặc dày xéo quê hương, chà đạp lên khát vọng thống nhất của đồng bào mình, gây thêm đau thương tang tóc trên đất mẹ suốt 21 năm lửa khói./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét