CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: MÌNH ĐÃ NGHĨ OAN CHO DUYỆT RỒI, DUYỆT ƠI!
Tối 26.4.1975, sau khi nhận nhiệm vụ trở về, trưởng xe Nguyễn Đình Luông gọi cả bốn chúng tôi lại. Ánh đèn dầu leo lét trong buồng xe hắt lên gương mặt anh một vẻ nghiêm nghị khác thường. Anh ghé sát, nói gần như thì thầm, nhưng từng lời lại nặng như mệnh lệnh: “Chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã chính thức mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. Vài ngày tới sẽ nổ súng. Đại đội ta nằm trong đội hình thọc sâu, đánh chiếm Dinh Độc Lập”!
Ngay sau đó, mọi công việc chuẩn bị được triển khai gấp gáp. Ai cũng hiểu trận đánh này sẽ vô cùng ác liệt. Kẻ địch sẽ chống trả đến cùng. Ngoài cơ số đạn sẵn có, chúng tôi được cấp thêm mười viên đạn xuyên. Buồng chiến đấu vốn đã chật, giờ càng ngột ngạt hơn. Để nhường chỗ cho số đạn ấy, chúng tôi buộc phải bỏ lại tất cả những gì không thật sự cần thiết.
Những chiếc ba lô lần lượt được buộc ra sau tháp pháo. Cả những vật gắn bó như kỷ niệm cũng phải rời đi, trong đó có cây đàn ghi-ta của Duyệt.
Ba lô của Luông, Thọ và tôi đã gọn gàng ngoài tháp pháo, chỉ còn Duyệt vẫn loay hoay trong buồng chiến đấu. Anh cứ cúi xuống, nhét lên, xoay trở cái ba lô như cố giấu một điều gì đó.
Luông sốt ruột:
- Mày làm gì mà lâu thế? Nhanh lên!
Thọ thì quát thẳng:
- Đời lính có gì mà giấu như vàng thế? Buộc ra ngoài như bọn tao!
Duyệt không đáp. Chỉ lặng lẽ, kiên trì với cái ba lô của mình.
Chúng tôi khi ấy, không ai hiểu.
Trên đường hành quân đến ngày 28.4.1975, xe tăng 380 bị trúng đạn quân địch, xe vẫn chạy được nhưng anh Luông và Duyệt bị thương.
Sau khi đưa anh Luông và Duyệt xuống giao cho trạm quân y, pháo thủ Thọ và tôi mới ra xem lại xe. Thì ra xe tôi bị trúng một quả đạn pháo cỡ lớn làm thủng chóp quạt gió trên tháp pháo. Có lẽ đó là một quả đạn nổ chứ ko phải đạn xuyên. Khẩu 12 ly 7 đã bị bay đi mất, khẩu đại liên K53 bẹp dúm, pháo cũng bị kẹt cứng không quay được, mấy cái ba lô buộc ngoài tháp pháo cũng bay mất.
Tại nơi cấp cứu, trưởng xe Luông nằm thiêm thiếp mê man, có điều lạ quả đạn nổ chỉ cách anh chưa đầy một mét, cái đài vô tuyến điện phía trong anh thủng lỗ chỗ mà chỉ có vài mảnh đạn trúng người anh. Anh bị nặng thế kia chắc chỉ do sức ép và chấn thương do va đập vào vành tháp pháo. Còn anh Duyệt máu me đã được lau đi, cả một nửa người tơi tả vì mảnh đạn nhưng lại rất tỉnh, Duyệt nắm tay tôi thều thào: “Tao đau lắm. Chắc tao không sống được” .
Kinh nghiệm chiến trường làm tôi thấy lo vì những ai bị thương nặng mà tỉnh táo thường khó qua khỏi, song lúc này tôi không dám nghĩ đến điều đó mà chỉ biết động viên anh yên tâm điều trị. Tôi bảo Thọ đi xin cho Duyệt cốc sữa. Vừa bón cho Duyệt từng thìa sữa nhỏ tôi vừa thủ thỉ chuyện trò, nhắc lại những câu chuyện mà chúng tôi đã từng nói với nhau những lúc dừng chân trên đường hành quân.
Uống gần hết cốc sữa thì Duyệt thiu thiu như ngủ. Lúc này đồng chí trợ lý chính sách của Lữ đoàn cũng đã có mặt, anh truyền đạt lệnh của trên là bàn giao thương binh ở lại đây, còn chúng tôi phải trở về vị trí tập kết ngay để khôi phục xe chuẩn bị chiến đấu tiếp.
Tôi và anh Thọ lên xe lấy tư trang để lại cho Duyệt. Moi cái ba lô nặng trịch từ vành tháp pháo ra anh Thọ lẩm bẩm: “Chẳng hiểu nó có cái gì mà nặng thế. Mà lại còn ấn vào tận vành tháp pháo nữa chứ”. Vừa nói hắn vừa lật cái nắp ba-lô lên. Nhưng rồi cả hai chúng tôi cùng lặng người đi, trong cái ba lô cũ kỹ, mà có lúc chúng tôi đã từng nghĩ là những của quý Duyệt nhặt nhạnh từ Huế và Đà Nẵng chỉ có bộ quần áo cũ, cái võng và một bó sách! Lật qua vài quyển sách tôi thấy toàn sách học tiếng Anh, tiếng Pháp và từ điển Anh- Việt, Việt- Anh, Pháp- Việt.... Nhớ lại những lời tâm sự của Duyệt mắt tôi rơm rớm nước, còn Thọ trầm ngâm: “Thế mà có lúc mình đã nghĩ oan cho nó. Bây giờ phải xin lỗi nó mới được”.
Mang cái ba- lô vào chỗ Duyệt chúng tôi thấy anh vẫn nằm thiêm thiếp như đang ngủ. Sau đó, chúng tôi nghe tin Duyệt đã hy sinh. Tôi lặng người đi vì buồn và thương bạn quá. Thế là anh Duyệt đã không thể trở về để thực hiện ước mơ của mình./.
(Theo lời kể của Đại tá, Nhà văn Nguyễn Khắc Nguyệt).
QV-ST!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét