Chủ Nhật, 9 tháng 5, 2021

Để yên bình cần sống trách nhiệm hơn

Dù chủ trương "uống nước nhớ nguồn" luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, công tác Người có công có những bước chuyển biến mạnh mẽ. Song, có những nỗi đau không thể khỏa lấp…Thế hệ của tôi sinh ra khi đất nước chưa được thống nhất, phải chứng kiến nỗi đau chiến tranh - nỗi đau dai dẳng không dễ gì khỏa lấp diễn ra hàng ngày.

Rất nhiều người, trong đó có cả cá nhân tôi đã lặng người với cuộc đoàn tụ của người vợ hàng chục năm một mình nuôi con khi đón người chồng thân yêu trở về. Gần nửa thế kỷ đi xa, người lính ấy cuối cùng cũng về với vợ con, dù chỉ còn là một hài cốt bọc trong lá cờ Tổ quốc. Đây không phải là câu chuyện của riêng một gia đình nào cả, mà đó là nỗi đau của rất nhiều gia đình trong suốt một chặng đường vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cả nước có hơn 1,1 triệu liệt sĩ và gần 9 triệu người có công. Trong đó, riêng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có gần 850.000 người con đất Việt đã ngã xuống, hơn 105.000 liệt sĩ hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền biên giới. Dù ngành Lao động - Thương binh & Xã hội cùng các cơ quan liên quan rất nỗ lực, song, vẫn còn hơn 200.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy và hơn 300.000 hài cốt liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính.

Cái giá của hòa bình, của nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ - xây nền móng để có một Việt Nam hòa bình và phát triển hôm nay là máu xương của lớp lớp người lính, là nỗi đau của những người vợ, là những buồn vô tận của đứa con, là những trông ngóng, chờ đợi mỏi mòn của người mẹ. Cái giá ấy không có gì đong đếm được. Mà có lẽ, cũng không ai mang nỗi đau ra đong đếm bao giờ! Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc cuộc trường chinh vệ quốc của cả dân tộc vào khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên dinh Độc lập trưa 30/4/1975 - thời khắc đánh dấu khát vọng hòa bình, non sông nối liền một dải thành hiện thực. Cùng với phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống "uống nước nhớ nguồn" luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Dù công tác Người có công thời gian vừa qua có những bước chuyển biến mạnh mẽ, các đối tượng chính sách đã nhận được sự đùm bọc, sẻ chia của toàn thể xã hội… Song, vẫn còn đó những nỗi đau không thể khỏa lấp, nơi mà chiến tranh chưa bao giờ kết thúc. Hiểu về cái giá của hòa bình để nhắc chúng ta phải sống tốt hơn, sống trách nhiệm hơn với bản thân, với xã hội và hơn cả, là với Đất Nước - một dải vẹn tròn được đánh đổi bằng máu xương, bằng sự hi sinh của những người cầm súng và người thân của họ. Công cuộc giữ vững nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ nhiều phía. Những người lính vẫn giữ chắc tay súng bảo vệ biên cương, hải đảo. Những người mẹ, người vợ vẫn kiên trung chờ đợi và tin tưởng.

Có những sự hi sinh dẫu biết trước nhưng không ai chọn con đường né tránh, đi ngược với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Bởi, đó là sự lựa chọn của những người thấu hiểu cái giá của hòa bình và tin tưởng vào sự trường tồn của dân tộc mai sau.


Hãy nêu cao trách nhiệm của mỗi công dân trước dân tộc

 

An toàn và sức khỏe là trên hết. Gặp gỡ, tụ họp đơn thuần mang tính cho vui, giải trí… thôi thì hãy để sau này. Năm dài tháng rộng, không thiếu cơ hội, có phải không ạ! Tất cả chúng ta đều thấy, cho dù là ngày nghỉ lễ 30/4-1/5, thế mà sáng 30/4, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã phải triệu tập một cuộc họp khẩn về các biện pháp phòng chống Covid-19, khi xảy ra chùm ca bệnh mới từ Hà Nam, kết quả truy vết phức tạp, các ca tiếp xúc đã đi nhiều tỉnh thành… Trước đó, vào chiều ngày 29/4, ngay sau khi nhận được thông tin về ca nhiễm, Bộ Y tế đã chỉ đạo ngành y tế Hà Nam khẩn trương điều tra, tiến hành truy vết thần tốc. Và càng nghiêm trọng hơn khi có chùm lây nhiễm tại bệnh viện nhiệt đới cơ sở Đông Anh. 30.000 người mắc bệnh là tình huống mà Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch Covid-19 đã tính đến để từ đó đưa ra biện pháp chuẩn bị, ứng phó kịp thời. Cần lưu ý rằng, chúng ta trải qua 3 đợt dịch và tổng số ca nhiễm đến nay là hơn 2.900 ca. Như vậy, tình huống xấu nhất, số lượng người nhiễm Covid-19 có thể tăng gấp 10 lần, đòi hỏi nhu cầu vô cùng lớn cả về nhân lực lẫn vật lực từ khâu cách ly đến chữa trị. Điều đáng lo nhất hiện nay là đã có lây lan ra cộng đồng ngay trước thềm của kỳ nghỉ lễ kéo dài 4 ngày, nhu cầu di chuyển, đi lại, gặp gỡ của người dân lên cao. Việc truy vết, khoanh vùng F1, F2… càng trở nên khó khăn, phức tạp với các cơ quan chức năng.

Mục tiêu hiện tại là phải dập bằng được, dập triệt để "ổ dịch" xuất phát từ bệnh nhân ở Vĩnh Phúc, Yên Bái, Hà Nam và bệnh viện nhiệt đới trung ương.

Đến nay, nhiều địa phương đã có phản ứng rất nhanh để kịp thời ứng phó với dịch. Từ 06h sáng 6/5, nhiều tỉnh thành đã dừng toàn bộ các lễ hội, tạm đóng cửa các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, các dịch vụ vui chơi, giải trí, các hội nghị không cần thiết…, đồng thời yêu cầu về việc rà soát toàn bộ lao động về nghỉ lễ trở lại làm việc, những người đi du lịch về sau kỳ nghỉ lễ phải có khai báo y tế kịp thời… Có thể tới đây, một số địa phương sẽ phải thực hiện phong tỏa, giãn cách xã hội… phần nào sẽ gây ra bất tiện cho sinh hoạt và công việc nhưng để có một Việt Nam an toàn, cùng nhau thực hiện mục tiêu kép của Chính phủ thì bất cứ ai trong chúng ta cũng cần sự tự giác và hợp tác.

Còn nếu như vẫn còn tình trạng lơ là, mất cảnh giác, thậm chí là "khôn lỏi" để kiếm chác, thu lợi bất chấp vi phạm các biện pháp phòng dịch thì nguy cơ "bùng" dịch diện rộng là hiện hữu. Sức khỏe là trên hết. Có sức khỏe, giữ được bình an cho bản thân và gia đình, ấy mới là điều quý giá nhất hiện nay. Gặp gỡ, tụ họp đơn thuần mang tính cho vui, giải trí… thôi thì hãy để sau này. Năm dài tháng rộng, không thiếu cơ hội!

Và cũng chỉ khi dịch bệnh được khống chế thì môi trường sống mới ổn định, kinh tế mới phát triển - như chúng ta đã chứng kiến trong hơn 1 năm qua.

Sức đề kháng cao trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng


Trong quá trình xây dựng và phát triển, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng luôn chú trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong mọi hoàn cảnh và tình huống, điều đó cho thấy rất rõ quyết tâm và bản lĩnh của Đảng. Những thành quả quan trọng và kinh nghiệm của Đảng trong công tác này đã góp phần quan trọng củng cố niềm tin, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên con đường Đảng đã chọn, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, kiên định đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bằng mọi âm mưu, thủ đoạn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tăng cường xuất bản, tán phát nhiều loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của một số tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt;... Đặc biệt, các đối tượng này đã lập hàng nghìn trang web, blog, các ứng dụng mạng xã hội (facebook, zalo,…); hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các đài  phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt, tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng.

Nội dung chính trong các hoạt động tuyên truyền này nhằm phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc chiến tranh đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ vừa mang tính thường xuyên, vừa mang tính cấp bách cần quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc, chung tay của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

Một trong những trọng tâm đấu tranh là trên không gian mạng, tuy diễn ra thầm lặng nhưng ngày càng khốc liệt hơn. Đối phó, đấu tranh, ngăn chặn các quan điểm sai trái, xuyên tác trên mạng xã hội là quá trình lâu dài, phức tạp. Bởi vậy, mỗi công dân cần có thái độ khách quan, nhìn nhận trách nhiệm này theo hướng chủ động, tăng cường đối phó, đấu tranh, ngăn chặn để giảm thiểu tác hại, ảnh hưởng tiêu cực chứ không thể tiêu diệt nó một cách triệt để. Chỉ khi nhận thức được như vậy, sẽ có được thái độ và hành vi ứng xử phù hợp trong môi trường thông tin số, thích ứng với nó và có giải pháp căn cơ, bền vững, lâu dài. Để nâng cao “sức đề kháng” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, đặc biệt là trên trọng tâm đấu tranh không gian mạng, một trong những liều “vắc-xin” là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin chính thống để nâng cao nhận thức, tri thức cho thanh niên. Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp mỗi cá nhân đủ sức nhận thức, phân biệt đúng - sai, tích cực - tiêu cực, tốt - xấu, từ đó, tạo nên “sức đề kháng”, dần dần hình thành cơ chế “tự miễn dịch” trước những thông tin xấu độc, những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Đây là chìa khóa căn cơ lâu dài để tăng “sức đề kháng” trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Làm thế nào để nâng cao “sức đề kháng”, “tự miễn dịch” nhằm đẩy lùi, giảm thiểu tác hại từ các quan điểm sai trái, thông tin xấu?

Các cơ quan chức năng cần ban hành hệ thống văn bản có tính pháp quy, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan báo chí, các trang mạng xã hội tham gia đấu tranh, phòng chống quan điểm sai trái, thù địch.

Hiện nay, hiệu quả cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch còn không ít hạn chế, yếu kém. Chủ yếu mới là lực lượng chuyên trách tham gia đấu tranh. Tình trạng “nói chưa đi đôi với làm”, thờ ơ trước tác động của các quan điểm sai trái, thù địch phát tán trên mạng còn diễn ra khá phổ biến. Vì vậy, nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh này là “thuốc” đặc hiệu, là cơ sở quan trọng để lấy lại niềm tin của cộng đồng mạng. Từ niềm tin đó sẽ tạo “sức đề kháng” cho mỗi công dân mạng, đặc biệt là thế hệ trẻ trước tác động của các quan điểm sai trái, thù địch.

Mặt khác, để đẩy lùi, giảm thiểu tối đa tác động từ các thông tin sai trái, thù địch, rất cần đổi mới, mở rộng các hình thức, phương tiện đấu tranh. Các cơ quan báo chí có lượng người đọc lớn, có tác động, chi phối thông tin trên mạng cần mạnh dạn tạo các diễn đàn mở để trao đổi trực tuyến các ý kiến, quan điểm khác biệt. Từ đó, triển khai tranh luận, giải thích với những người có ý kiến, quan điểm khác biệt, hoặc phản bác những quan điểm thù địch, chống đối chế độ. Đây cũng là diễn đàn để một mặt tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhưng mặt khác, nhân dân có thể tham gia trao đổi - tranh luận hoặc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tăng cường lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với hệ thống báo điện tử. Sớm khắc phục tình trạng sai tôn chỉ mục đích, đưa quá nhiều mảng tối của đời sống chính trị, tạo “mảnh đất” để các thế lực thù  địch, cơ hội chính trị dễ dàng lợi dụng, khai thác thông tin, nói xấu chế độ. Các báo điện tử, trang tin điện tử chú trọng đổi mới, xây dựng giao diện app mobile cho điện thoại di động, tạo điều kiện cho số đông cư dân mạng, nhất là giới trẻ thường xuyên truy cập Internet qua mạng di động có thể sử dụng dễ dàng trong việc khai thác, tìm kiếm thông tin chính thống.

Tăng cường công tác tuyên truyền nhằm giúp mỗi công dân nhận diện rõ bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ quan trọng của báo chí chính thống, đòi hỏi phải nhanh chóng, kịp thời cung cấp những thông tin chính xác, làm cho mỗi công dân mạng có thể nhận thức, nhận diện đúng đâu là thông tin xấu, thông tin độc, hiểu rõ thế nào là quan điểm sai trái, thế nào là quan điểm thù địch. Từ đó, sẽ định hình cho mình những suy nghĩ, hành động đấu tranh thích hợp.

Để làm tốt nhiệm vụ cung cấp chính xác, kịp thời thông tin, các cơ quan báo chí phải chủ động phân tích, làm  rõ nội hàm, bản chất quan điểm sai trái, quan điểm thù địch ở từng cấp độ thông tin khác nhau. Có những hệ thống thông tin ở mức độ tổng quan, phân tích bài bản âm mưu, thủ đoạn khái quát từ hệ thống các quan điểm sai trái, thù địch. Có những thông tin phân tích trực diện, cụ thể, kịp thời đối với từng loại thông tin sai trái, thù địch.

Báo chí chính thống cần trang bị tri thức cho cộng đồng mạng nhận diện rõ mục tiêu của các thế lực phản động là nhằm làm tan rã niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng ta, kích động nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng chuyển hóa chế độ. Làm rõ phương thức, thủ đoạn mới nhất hiện nay của chúng. Đó là triệt để lợi dụng những “khuyết tật”, yếu kém, tham nhũng, tiêu cực, nhất là các vụ đại án lớn hiện nay để xuyên tạc, nói xấu Đảng, chế độ ta. Thủ đoạn của chúng là viện cớ những yếu kém, tiêu cực đó để “bình luận”, tham chiếu, coi đó là nguyên nhân, hệ lụy của việc níu kéo, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin lỗi thời, lạc hậu vào con đường phát triển của Việt Nam. Cũng từ đó, các tổ chức phản động ở nước ngoài tung hứng, ra yêu sách đòi Đảng từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi đa nguyên, đa đảng.

Cần tăng cường ứng dụng các công nghệ hiện đại, đổi mới, sáng tạo cách thức tuyên truyền, học tập, triển khai các nghị quyết của Đảng, của Đoàn. Đổi mới, hoàn thiện chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ đoàn các cấp. Hằng năm, triển khai hiệu quả học tập các chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức diễn đàn đối thoại “Đảng với thanh niên, thanh niên với Đảng”; các hoạt động giáo dục truyền thống cách mạng cho đoàn viên, thanh niên tham gia, như: thi tìm hiểu về truyền thống vẻ vang của Đảng, liên hoan tuyên truyền ca khúc cách mạng, xem phim lịch sử cách mạng, thăm các địa chỉ đỏ…

Phát huy vai trò định hướng thông tin của hệ thống báo chí cách mạng và mạng xã hội của Việt Nam để cộng đồng mạng nâng cao nhận thức, đủ “sức đề kháng” trước các quan điểm sai trái, thù địch.

Hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam cần tăng cường tuyên truyền, cổ vũ các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và hệ thống chính trị vào cuộc để thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết 35 NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã chỉ ra. Đó là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao “sức đề kháng”, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.

Báo chí cần đẩy mạnh tuyên truyền về những tiến bộ, thành tựu toàn diện của đất nước; tăng cường tuyên truyền những thành tựu của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức và niềm tin cho mỗi công dân mạng về sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh; việc xử lý các tội phạm trong các vụ đại án tham nhũng thể hiện rõ chủ trương chống tham nhũng không có vùng cấm, bất kỳ người đó là ai.

Hệ thống mạng xã hội của Việt Nam tuy mới ra đời nhưng đã có sự ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng mạng. Vì vậy, cần có định hướng rõ ràng để các mạng xã hội có thế mạnh vào cuộc, tham gia một cách chủ động trong gợi mở, định hướng, dẫn dắt và chi phối thông tin  tích cực trên mạng xã hội. Ngoài mạng xã hội VCNet, Mocha, các cơ quan chức  năng cần có cơ chế, quy định rõ các chủ thể của các mạng xã hội như Zing.me, Lotus, Nhaccuatui… có trách nhiệm trong thông tin mặt tích cực của đời sống xã hội. Đây là cách tốt nhất để thực hiện phương châm “xây” và “chống”, trong đó lấy “xây” là chính, nhằm nhân cái đẹp, dẹp cái xấu, lấy thông tin tích cực để đẩy lùi thông tin tiêu cực, xấu độc, sai trái, thù địch.

Cần sớm có chủ trương, giao các cấp ủy đảng, đoàn thể chính trị - xã hội ban hành quy tắc tham gia mạng xã hội. Trong đó, quy định rõ trách nhiệm và cơ chế khen thưởng, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên… khi tham gia mạng xã hội. Quy định rõ nhiệm vụ của đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, thù địch. Ban hành nghị định với các chế tài cụ thể đối với các hành vi đồng phạm, chủ động phát tán, a dua nói xấu Đảng, bôi nhọ lãnh đạo, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Mặt khác, toàn bộ hệ thống chính trị cần vào cuộc để thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nêu cao ý thức, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cơ quan, đơn vị, toàn thể cán bộ, đảng viên, công dân tham gia đấu tranh chống quan điểm sai trái trên mạng Internet. Đồng thời tăng cường tuyên truyền, cổ vũ các tầng lớp nhân dân chủ động tiến công, tự giác đấu tranh, phản bác đối với các thông tin xấu độc, sai trái, thù địch phát tán trên mạng. Tăng cường tuyên truyền, cổ vũ, nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể; giữa Trung ương và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng trên mặt trận tư tưởng, văn hóa trong cuộc đấu tranh chống các hoạt động “diễn biến hòa bình”, chống quan điểm sai trái.

Chú trọng việc tổ chức để các đoàn thể quần chúng như Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp… tham gia đấu tranh trên mạng Internet đối với những quan điểm và hành động sai trái của các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch. Phối hợp có hiệu quả giữa các lực lượng, binh chủng trong lĩnh vực bảo vệ an ninh tư tưởng chính trị, đặc biệt là về tư tưởng chính trị trên mạng Internet.

Khuyến khích tinh thần yêu nước, dũng cảm tham gia đấu tranh trên không gian mạng,các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu, tạo cơ chế, khuyến khích việc thành lập các tổ chức dưới dạng tự nguyện xung kích. Nếu các tổ chức tình nguyện tham gia đấu tranh trên mạng xã hội xuất hiện càng nhiều, chúng ta càng có lực lượng lớn đủ sức đẩy lùi các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc. Chính vì vậy, cần nghiên cứu, có cơ chế khen thưởng để cổ vũ, động viên, tập hợp đoàn kết các công dân mạng tích cực tham gia đấu tranh chống quan điểm sai trái trên  mạng xã  hội.

Phát huy tính tích cực, năng động, có trách nhiệm của mỗi đoàn viên thanh niên – những công dân trẻ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Với giải pháp này, đòi hỏi mỗi tổ chức Đoàn, căn cứ vào đặc thù nhiệm vụ công tác và đối tượng đoàn viên trong đơn vị mình để lựa chọn những hình thức, giải pháp phù hợp. Có thể thông qua các hoạt động hội thảo, tọa đàm, tuyên truyền phát động đoàn viên tham gia viết bài trên báo, các trang điện tử, đăng các bình luận trên các trang mạng xã hội facebook, zalo của tổ chức đoàn,…

Trong các hoạt động này, đặc biệt nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm và tinh thần nêu gương của người đứng đầu - những thủ lĩnh đoàn. Nâng cao trách nhiệm cán bộ Đoàn trong nắm bắt, định hướng dư luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TWĐ của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn về “Tăng cường rèn luyện tác phong, thực hiện lề lối công tác của cán bộ đoàn” nhằm xây dựng hình ảnh người cán bộ đoàn, không suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, xứng đáng là đội hậu bị thực sự tin cậy của Đảng. Đối với mỗi đoàn viên thanh niên cần xác định trách nhiệm, ý thức với Tổ quốc, với Đảng trong mỗi phát ngôn, mỗi hành động trên mạng xã hội của mình nhằm tham gia có hiệu quả, thiết thức vào hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đồng thời, căn cứ vào thế mạnh của mình, mỗi đoàn viên lựa chọn những hành động phù hợp, có thể tham gia viết bài, tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến hoặc đơn giản là những hành động chia sẻ những bài viết nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các trang mạng chính thống…


Bầu cử đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân

 


Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sẽ được tiến hành vào ngày 23/5/2021. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cổ và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, trước thềm bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, đã tung ra nhiều luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc gây nhũng nhiễu thông tin, hoang mang dư luận nhằm chia rẽ, phá vỡ khối đoàn kết toàn dân tộc. Một trong những luận điệu xuyên tạc, kích động, phá hoại bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp được chúng tuyên truyền lần này đó là: “Việc bầu cử Quốc hội và HĐND chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự”, “phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do… còn nếu với cách tổ chức bầu cử và cơ chế bầu cử theo quy định này thì đối với nhiều đại biểu có thể tự mình công bố mình trúng cử và có đủ tư cách đại biểu mà không cần phải tổ chức bầu cử tốn tiền thuế của dân”...

Những luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản động là kiểu lập luận quy chụp, bóp méo sự thật lịch sử và tiến trình bầu cử ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đánh lừa và hướng dư luận ủng hộ cho những mưu toan chính trị thâm độc của chúng.

Nước Việt Nam là nước dân chủ, mọi quyền hành, lực lượng đều ở nơi dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Điều này đã được chứng minh cả về mặt lý luận và thực tiễn. V.I.Lênin khẳng định: “Với việc phát triển chế độ dân chủ một cách đầy đủ, nghĩa là với việc làm cho toàn thể quần chúng nhân dân tham gia thực sự bình đẳng và thực sự rộng rãi vào mọi công việc của nhà nước”. Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong phần mở đầu khi viết tác phẩm “Dân vận” (1949): “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Thấm nhuần những tư tưởng trên, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi lãnh đạo, nền dân chủ ở Việt Nam ngày càng được củng cố, hoàn thiện và phát triển, nhất là giai đoạn hiện nay: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”.

Khoản 1, điều 4, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì đương nhiên đối với cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, sự kiện chính trị quan trọng hàng đầu để xây dựng chính quyền nhân dân thì sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu. Chính sự lãnh đạo đó sẽ giúp cho quá trình bầu cử tốt hơn, đúng Hiến pháp và pháp luật, phát huy được vai trò của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.

Trải qua hơn 75 năm kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng phát triển, tự hoàn thiện, đồng hành cùng dân tộc, thực sự là nơi xây nên nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ lầm than lên địa vị chủ nhân của đất nước đang vững bước trên con đường xây dựng theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thông qua thực hiện chức năng của Quốc hội, quyền làm chủ của người dân luôn được bảo đảm và phát huy theo tinh thần quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, địa vị chủ thể của dân với tư cách là chủ thể gốc của mọi quyền lực; những biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của người dân đều được phát hiện và xử lý nghiêm. Hiến pháp 2013 đã tiếp tục khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,… Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.

Trong lịch sử đất nước ta, kể từ ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để có một cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 6/1/1946 được tổ chức thành công - một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt lên muôn vàn khó khăn của “thù trong, giặc ngoài” với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, cũng như giặc đói, giặc dốt...là di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại... Trong thời điểm đấy, đại đa số cử tri lần đầu tiên mới được thực hiện quyền bầu cử của mình, đại đa số là những nông dân chưa đọc thông viết thạo, tuyệt đại đa số phụ nữ lần đầu được cầm trên tay lá phiếu… tất cả đều xúc động, tự hào đến rơi nước mắt vì đi bầu cử đối với họ chính là khẳng định quyền công dân của một đất nước tự do, quyền được bình đẳng trong xã hội.

Năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, hai miền Nam Bắc nước ta tạm thời chia cắt. Những người con miền Nam ra Bắc tập kết mang trong mình niềm hy vọng lớn lao sẽ được trở về quê hương, đoàn tụ gia đình sau ngày Tổng tuyển cử tự do dự kiến vào ngày 20/7/1956. Nhưng Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã không những đã cự tuyệt thi hành những điều khoản của hiệp định Giơ-ne-vơ mà còn trắng trợn đàn áp, trả thù những người kháng chiến, yêu nước ở miền Nam, đẩy mạnh tiến hành các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” gây chia rẽ, hận thù, chống lại lợi ích và khát vọng độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam. Ngày tổng tuyển cử đã bị chế độ Ngô Đình Diệm cố tình vi phạm, kéo dài cuộc đấu tranh gian khổ hy sinh để 20 năm sau, đến năm 1976 mới lại có cuộc bầu cử thống nhất đất nước. Đồng bào cử tri ngày ấy cũng hân hoan biết bao khi cầm trên tay lá phiếu bầu tự do khi đất nước đã hoàn toàn hòa bình, thống nhất. Công dân đủ điều kiện trở thành cử tri, thông qua bầu cử để trực tiếp lựa chọn những người xứng đáng có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội) và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (HĐND các cấp) hoặc tự mình ứng cử để được lựa chọn (thông qua bầu cử) là người đại diện cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Theo tiến trình phát triển của xã hội, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng. Dẫu còn mặt này mặt khác, có một vài đại biểu chưa đạt được như kỳ vọng của cử tri, nhưng thực tế chúng ta có thể thấy rằng chất lượng đại biểu Quốc hội, HĐND ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng khi trên diễn đàn của Quốc hội, của HĐND các cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, HĐND, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. 

Đông đảo cử tri cũng có thể nhận thấy, dẫu còn không ít khó khăn nhưng đất nước ta đã phát triển về nhiều mặt, đời sống xã hội nhìn chung đã cải thiện đáng kể, ước mơ đủ “cơm ăn, áo mặc, được học hành” từ những ngày đầu lập nước giờ đây đã vươn cao hơn đến tầm thời đại với sự hội nhập sâu rộng, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. Như vậy đi bầu cử không chỉ là sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn là thể hiện niềm tin vào Đảng, nhà nước, đặt kỳ vọng vào tương lai tươi đẹp hơn của đất nước mình, địa phương mình. Mỗi lá phiếu của cử tri mang trong mình sứ mệnh cao cả là một viên gạch hồng góp phần dựng xây Tổ quốc. 

Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp, các công dân cử tri đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào nhân dân cả nước. Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế.  

Bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của mỗi công dân Việt Nam. Đại biểu Quốc hội là đại biểu của nhân dân. Do vậy, nhân dân luôn có vai trò to lớn trong mọi khâu, mọi quy trình bầu cử. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội ở nước ta đã diễn ra được 14 khóa, từ khóa đầu tiên (6/1/1946) đến nay đều được tiến hành một cách dân chủ, công khai bảo đảm đúng quy trình, thủ tục, nguyên tắc và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kết quả và thành công của các cuộc bầu cử, một lần nữa góp phần khẳng định bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và những giá trị truyền thống cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đó là việc người dân luôn chủ động, trách nhiệm, thực hiện trọn vẹn trách nhiệm, bổn phận công dân đối với Tổ quốc. Mỗi cuộc bầu cử tuy diễn ra ở thời điểm cách mạng khác nhau, với những khó khăn, chông gai khác nhau, song toàn dân, toàn quân ta luôn một lòng hướng về Đảng và Quốc hội, đoàn kết thực hiện đầy đủ trách nhiệm, bổn phận, để mỗi kỳ bầu cử, số cử tri đi bầu luôn đạt tỷ lệ cao, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc bầu cử.

Ở Việt Nam, quyền bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp - đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Bầu cử là một thể chế dân chủ đã có từ lâu. Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, Nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.

Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta đã ghi nhận quyền này tại Điều 18 như sau: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”, và tiếp tục được khẳng định xuyên suốt trong các bản Hiến pháp năm 1959 (tại Điều 23), Hiến pháp năm 1980 (tại Điều 57), Hiến pháp năm 1992 (tại Điều 54). Điều 27 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND”. Điều 2 Luật Bầu cử số 85/2015/QH13 ở Việt Nam quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐNDcác cấp theo quy định của Luật này”. Khoản 5, Điều 4 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp năm 2015 quy định “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp”. 

Rõ ràng, Việt Nam không hề có hạn chế quyền ứng cử tự do của công dân nếu họ xét thấy mình đủ đức, đủ tài ra gánh vác công việc chung của đất nước và được quần chúng nhân dân tín nhiệm. Đồng thời, việc tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm nặng nề của mỗi công dân nhằm mục đích lựa chọn cho mình những người đại diện và trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, dân tộc. 

Điển hình như trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 diễn ra vào ngày 22/5/2016, hơn 69 triệu cử tri tại 91.476 tổ bầu cử trong cả nước đã đồng loạt đi bỏ phiếu. Cuộc bầu cử đã diễn ra trong không khí phấn khởi, tin tưởng, thành công tốt đẹp. Từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo, từ thành thị đến nông thôn, đồng bào cử tri cả nước nô nức đi bỏ phiếu với tỷ lệ đi bầu cao, khẳng định trách nhiệm và quyền lợi công dân, ngay cả đối với những cử tri do điều kiện sức khỏe bị ốm đau, bệnh tật vẫn thực hiện trọn vẹn quyền và nghĩa vụ của mình khi thùng phiếu được đưa tới tận giường bệnh, các cơ sở y tế. Sau cuộc bầu cử, nhiều báo chí nước ngoài đều đã ghi nhận tính dân chủ, khoa học, cách mạng trong công tác bầu cử ở Việt Nam. Một số tờ báo nước ngoài phản ánh, phân tích, đánh giá rằng cuộc bầu cử ở Việt Nam, không phân biệt chức vụ, địa vị, cương vị công tác, từ người nông dân, công nhân, cán bộ, đảng viên, cho đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội đều thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ trong việc ứng cử và bầu cử theo đúng nguyên tắc, quy định của pháp luật.Thực tế, quyền và nghĩa vụ đó không chỉ thể hiện trong ngày bầu cử, mà hơn thế, còn được minh chứng trong suốt quá trình tham gia đề cử, giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu, khẳng định bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa; khẳng định chân lý: Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước (ở Trung ương là Quốc hội; ở địa phương là HĐNDcác cấp). Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp là bảo đảm ý chí của nhân dân và phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội. Bầu cử là việc công dân của một quốc gia lựa chọn những người đại diện để trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Mỗi quốc gia có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau, không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác được bởi vì hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới hiện rất đa dạng, cho nên tùy thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử, kinh tế, văn hóa của quốc gia - dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào. Về mô hình bầu cử ccas nước cũng khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí) khác với các quốc gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp khác với mô hình bầu cử gián tiếp - thông qua đại cử tri… Song về tổng quan luật bầu cử một số nước trên thế giới hiện nay là theo nguyên tắc: “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”.

Ở Việt Nam, Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp theo bốn nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những quy định của pháp luật bầu cử ở Việt Nam thể hiện một cách nhất quán nhận thức về các nguyên tắc bầu cử để đảm bảo ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, phù hợp với Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.

Về nguyên tắc phổ thông: pháp luật bầu cử của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử. Đối với Việt Nam, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri; Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử; Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn.

Về nguyên tắc bình đẳng: Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của công dân. Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu phù hợp.

Về nguyên tắc trực tiếp: Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào.Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu.

Về nguyên tắc bỏ phiếu kín: thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri.Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.

Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể, thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung của chúng thành các quy phạm pháp luật. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ của các cuộc bầu cử. Việc thực hiện bốn nguyên tắc bầu cử nói trên là một nét ưu việt của chế độ dân chủ trong bầu cử và là thước đo trình độ dân chủ của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân, phát huy cao nhất quyền làm chủ của mỗi công dân; đồng thời, trao đổi để đi đến một cơ cấu đại biểu hợp lý đảm bảo cho các thành phần xã hội đều có đại diện trong Quốc hội mới.

Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp, quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy Nhà nước. Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực đoàn kết hướng đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 sắp tới như ngày hội của toàn dân với tinh thần phấn khởi, tự hào để thông qua lá phiếu có trách nhiệm của mình lựa chọn những đại biểu thực sự có đức, có tài đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của nhân dân xứng đáng là nơi gửi gắm niềm tin của cử tri cả nước vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Do vậy, những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Việc bầu cử Quốc hội và HĐND chỉ là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự”... là hoàn toàn xuyên tạc sai sự thật, nhằm tuyên truyền chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIII, bầu cử Quốc hội và HĐNDcác cấp nhiệm kỳ 2021-2026, nhằm gây nhũng loạn thông tin, mâu thuẫn nội bộ mà thôi.

 

Tại sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

 


Ngày 4-10-2016, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an đã đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, chống Nhà nước Việt Nam. Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, tổ chức này đã có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhiều đối tượng đã bị bắt giữ, xét xử nhưng chúng vẫn không từ bỏ dã tâm lật đổ chính quyền XHCN ở Việt Nam.

Tổ chức phản cách mạng lưu vong “Việt Tân” là tên viết tắt của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại 2530 đường Berryessa 234 San Jose, California, Mỹ và "Văn phòng 2" tại Bangkok, Thái Lan. Tổ chức này có cơ quan tuyên truyền là báo "Kháng chiến"; đài "Việt Nam kháng chiến" và "Chân trời mới". Đối tượng cầm đầu là Đỗ Hoàng Điềm, sinh 1963, quốc tịch Mỹ, "Chủ tịch Việt Tân" và Lý Thái Hùng, sinh 1953, quốc tịch Mỹ, "Tổng bí thư Việt Tân".

Năm 1981, Hoàng Cơ Minh (nguyên chuẩn tướng, Phó đề đốc hải quân chính quyền Việt Nam Cộng hòa) và một số đối tượng phản động lưu vong đứng ra thành lập tổ chức phản động "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam". Cái gọi là mặt trận ấy có cương lĩnh, có con dấu, hiến chương và vẫn một sắc màu ba que được Mỹ nuôi dưỡng, chỉ đạo, nhằm chống phá Việt Nam bằng các hoạt động vũ trang, khủng bố.

Với tham vọng ngông cuồng, đồng thời để lừa mị một bộ phận kiều bào ở hải ngoại, ngày 10-9-1982 tại căn cứ ở Thái Lan, Hoàng Cơ Minh lập ra tổ chức "Việt Nam canh tân cách mạng đảng" - gọi tắt là "Việt Tân", là cơ quan đầu não cực kỳ phản động, chỉ huy mọi hoạt động của “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” và một số tổ chức phản động khác tiến hành các hoạt động chống phá, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam. Các thành viên của “Mặt trận” này đồng thời là thành viên của “Việt Tân”.   

Cái gọi là “Mặt trận” và các thành viên “Mặt trận” nhận nhiệm vụ xâm nhập về nước hoạt động khủng bố phá hoại, Hoàng Cơ Minh từng huênh hoang tuyên bố mục tiêu “kháng chiến giải phóng Việt Nam” gồm các giai đoạn từ 30-4-1975 đến năm 1980, tập hợp lực lượng, đối tượng chủ yếu nhằm vào những người trong chính quyền cũ là sĩ quan cao cấp ở trong nước và những kẻ có nợ máu với nhân dân đang lẩn trốn ở nước ngoài. Năm 1980-1983, tuyển mộ lính đánh thuê ở các trại tị nạn người Việt để đào tạo huấn luyện. Năm 1984-1987, xây dựng cơ sở hạ tầng hạt nhân. Từ năm 1986-1990, là giai đoạn xây dựng vùng giải phóng tạm, lấy chỗ đứng chân đón các “kháng chiến quân” trở về. Đến năm 1992 là giai đoạn lật đổ và giành chính quyền.

Để thực hiện dã tâm đó, Hoàng Cơ Minh phái tay chân sục sạo các trại tị nạn người Việt tuyển mộ lính đưa về căn cứ huấn luyện gián điệp, biệt kích, tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, bắt cóc, thủ tiêu con tin. Tuy nhiên, trong suốt 5 năm liền, y chỉ tuyển được 200 quân. Để lòe bịp dư luận và moi đô la từ bà con Việt kiều ở nước ngoài, Hoàng Cơ Minh thuê bọn phỉ Lào đóng giả các “kháng chiến quân”, quay phim gửi về Mỹ và tuyên bố đã dựng được cờ và tập hợp được các tổ chức kháng chiến, với đội quân 10.000 người.

Sự bịp bợm của Hoàng Cơ Minh không chỉ khiến bà con kiều bào mà ngay cả phe đối lập của hắn cũng phải lên tiếng. Chính Trần Văn Liễu, Tổng trưởng Tổng cục Hải ngoại của Minh từng công khai chỉ trích Minh là bọn tống tiền, là bọn buôn kháng chiến, bọn lừa đảo bà con người Việt sống xa xứ sở để móc túi moi đô la và vàng.

Hoàng Cơ Minh và đồng bọn xác định: Hướng xâm nhập, xây dựng "mật cứ" trong nội địa là các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Chúng hy vọng sẽ móc nối với các tổ chức phản động ở trong nước, đưa người vào rừng huấn luyện rồi tung trở lại thực hiện phương châm "Trong nổi dậy, ngoài đánh vào". Từ năm 1982 - 1989, "Việt Tân" đã tổ chức nhiều đợt đưa người và vũ khí xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam; tiến hành các chiến dịch "Đông tiến 1", "Đông tiến 2", "Đông tiến 3"… qua đất Lào, Campuchia. Mặc dù Hoàng Cơ Minh cùng những kẻ cầm đầu "Việt Tân" xây dựng kế hoạch công phu, tổ chức xâm nhập với điều kiện, trang bị hoàn hảo, nhưng toán "Kháng quản" là toán xâm nhập mở đường, chưa kịp lập "mật cứ", thì đã bị cơ quan an ninh Việt Nam tóm gọn. Tiếp đó, chiến dịch "Đông tiến 1" do Dương Văn Tư cầm đầu gồm 51 tên xâm nhập ngày 15-5-1986. Mục đích của chuyến đi mở đường là lập một “mật khu” khô tại Gia Lai-Kon Tum, móc nối với những tên làm việc cho chế độ Mỹ-ngụy chưa chịu cải tạo, tổ chức ám sát cán bộ, đánh phá các đồn biên phòng, các nông, lâm trường, chặn đánh xe vận tải trên các tuyến đường cao nguyên. Tuy nhiên, mọi chuyển động và những hành tung của toán biệt kích này không thoát khỏi tai mắt nhân dân trên đường xâm nhập Việt Nam. Trong suốt hơn 4 tháng hành quân, bọn chúng đi được không quá 300 cây số đường rừng và liên tục bị các lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào và Campuchia truy đuổi, bao vây. Một số tên bị tiêu diệt, số còn lại đã giết lẫn nhau để đoạt tiền, vàng rồi bỏ trốn khỏi đội hình.

Đám tàn quân được phái đi nhiều tên bị diệt, một số bị bắt, những tên ngoan cố bỏ chạy cũng bị truy kích và phải đầu hàng, nhưng Hoàng Cơ Minh vẫn hò hét “Đông Tiến” giải phóng Việt Nam để tiếp tục lòe bịp dư luận và bà con kiều bào sống xa quê hương. Ngày 7-7-1987, Hoàng Cơ Minh đích thân chỉ huy toàn bộ lực lược gần 150 tên thực hiện chiến dịch "Đông tiến 2", xâm nhập vào Tây Nguyên để xây dựng "mật cứ". Nhưng khi mới vào đất Lào, chúng bị lực lượng vũ trang Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam chặn đánh. Trong trận đánh cuối cùng ngày 28-8-1987, Hoàng Cơ Minh đã phải phơi xác cùng đám tàn quân. Kết cục, "Đông tiến 2" hoàn toàn thất bại với 60 tên bị tiêu diệt, 67 tên bị bắt sống…

Ngày 1-12-1987, Tòa án nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở phiên tòa sơ thẩm đồng thời là chung thẩm xét xử công khai vụ án Hoàng Cơ Minh, với tội danh phản bội tổ quốc và hoạt động phỉ. Hàng ngàn người, trong đó có đoàn đại biểu Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hai nước bạn Lào, Campuchia cũng có mặt theo dõi phiên tòa.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã bị tiêu diệt, nhưng ảo vọng “lật đổ và giành chính quyền” vẫn được nhóm tàn quân của Việt Tân nhen nhóm thực hiện bằng chiến dịch "Đông tiến 3", do Trần Quang Đô chỉ huy. Ngày 22-8-1989 Trần Quang Đô cùng 68 tên khác âm mưu xâm nhập Quảng Trị - Quảng Nam - Đà Nẵng - Gia Lai - Kon Tum xây dựng căn cứ, sau đó phát triển lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, khi chúng vừa vào đất Lào thì bị quân và dân Lào truy quét quyết liệt phải chịu kết cục bi thảm với 30 tên ngoan cố bị tiêu diệt, 38 tên còn lại bị bắt sống.

Giai đoạn sau năm 1989, Việt Tân tiếp tục tuyển mộ, huấn luyện, chỉ đạo thành viên xâm nhập về Việt Nam kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, thủ tiêu, bắt cóc con tin; đưa người ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện, tổ chức các khóa đào tạo trực tuyến về phương thức, hoạt động khủng bố, phá hoại; tán phát lên mạng Internet hướng dẫn cách chế tạo bom xăng để phục vụ hoạt động khủng bố, phá hoại, ám sát…  Mặc dù năm 1987, Hoàng Cơ Minh bị thương và đã tự sát. Năm 1991, chiến dịch "Đông tiến 3"  cũng bị thất bại nhưng Việt Tân vẫn lừa dối nhiều người Việt Nam ở nước ngoài không công bố thông tin này để vận động quyên góp tiền cho “kháng chiến”, có thông tin cho biết số tiền lên đến hàng trăm triệu USD nhưng chủ yếu rơi vào tay các cá nhân cầm đầu tổ chức này.

Năm 2001, “tổ chức Mặt Trận” chính thức công bố sự thật về cái chết của Hoàng Cơ Minh. Năm 2004, tại Đức, tổ chức Mặt Trận tuyên bố giải tán và công khai hóa Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (gọi tắt là Việt Tân). Tháng 8-2006, Việt Tân đã tổ chức nhóm “sang sông”, thực chất là chiến dịch “Đông tiến 7”, và nhóm “liên minh dân tộc” với ý đồ đưa người về nước tiến hành các hoạt động khủng bố. Để thực hiện âm mưu này, Việt Tân đã từng bước công khai hóa tổ chức. Từ tháng 3 đến tháng 11-2007, Nguyễn Kim - chủ tịch “Việt Tân” đã chỉ đạo Nguyễn Hải tên gọi khác là Khunmi Somsak, Nguyễn Quang Phục, Nguyễn Quốc Hải ở Thái Lan 4 lần về Việt Nam khảo sát, thiết lập tuyến đường bí mật xâm nhập vào Việt Nam, móc nối cơ sở, tán phát truyền đơn, thuê nhà tìm địa điểm ẩn náu cho đồng bọn.

Đồng thời, cử Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Quốc Quân về nước bằng con đường bất hợp pháp; Nguyễn Thị Thanh Vân và Trương Leon về Việt Nam bằng con đường công khai, có nhiệm vụ chỉ đạo số đối tượng trong nước biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn nhằm gây hoang mang, uy hiếp tinh thần của một bộ phận người dân..., nhưng đã bị cơ quan an ninh điều tra của ta phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nhóm đối tượng này đã được đồng bọn trong nước cung cấp tên 40 công ty và 7.000 địa chỉ người thân nhận thư, 1.000 USD để mua thiết bị máy in, usb, tem, bì thư... để tin 7.000 tờ truyền đơn. 

Một vụ việc khác tinh vi hơn là tổ chức cho Phạm Minh Hoàng, thành viên của “Việt Tân” tại Pháp về Việt Nam làm giảng viên hợp đồng của một trường Đại học tại TP Hồ Chí Minh. Dưới bút danh Phan Kiến Quốc, tên Hoàng đã viết nhiều bài. Trong đó, 33 bài viết có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam rồi gửi cho tổ chức khủng bố Việt Tân đăng tin, tán phát trên mạng internet nhằm mục đích kích động, lôi kéo người dân biểu tình. Tháng 8-2011, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã đưa ra xét xử, tuyên bố Hoàng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Sau khi ra tù, Hoàng tiếp tục hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia nên đã bị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tước quốc tịch, trục xuất về Pháp vào giữa năm 2017. 

Tiếp đó, từ tháng 8-2009 đến tháng 11-2011, “Việt Tân” tổ chức đưa 17 đối tượng là cơ sở trong nước nhiều lần sang Thái Lan, Campuchia, Lào, Philippines và Mỹ để các thành viên của “Việt Tân” huấn luyện phương thức hoạt động. Ngày 2-8-2011, khi các đối tượng nhập cảnh về Việt Nam thì bị cơ quan an ninh Bộ Công an phát hiện, bắt giữ và khởi tố 17 bị can; đề nghị truy tố 14 bị can, truy nã 3 bị can.

Mới đây nhất là ngày 11-11-2019, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm 6 bị cáo về các tội: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân," "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức." Trong vụ án này, 3 bị cáo: Châu Văn Khảm (sinh năm 1949, quốc tịch Việt Nam, Australia), Nguyễn Văn Viễn (sinh năm 1971, trú tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), Trần Văn Quyền (sinh năm 1999, trú tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) bị truy tố về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" theo quy định tại Điều 113, khoản 2, điểm a, Bộ luật Hình sự năm 2015. Ba bị cáo còn lại là Bùi Văn Kiên, Trần Thị Nhài và Nguyễn Thị Ánh bị truy tố về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" do đã có hành vi làm giả nhiều chứng minh nhân dân, hồ sơ xin việc làm cho các đối tượng trong vụ án. Với những bằng chứng xác đáng, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Châu Văn Khảm 12 năm tù; Nguyễn Văn Viễn 11 năm tù và Trần Văn Quyền 10 năm tù (cả hai bị quản thúc 5 năm sau khi mãn hạn tù). Các bị cáo còn lại Bùi Văn Kiên bị kết án 4 năm tù, Nguyễn Thị Ánh 3 năm tù, Trần Thị Nhài 3 năm tù.

Không dừng lại ở đó, trong năm 2019, số cầm đầu “Việt Tân” tại Mỹ còn chỉ đạo số đối tượng tại TP Hồ Chí Minh tính toán khả năng thực hiện một số hoạt động phá hoại ở Việt Nam vào các dịp lễ lớn. Ban đầu, Việt Tân chủ trương tiến hành đặt bom phá hoại một số tượng đài ở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau đó, các đối tượng đã thay đổi kế hoạch nhằm vào TP Hà Nội theo 3 hướng. Hướng thứ nhất là đặt bom trong thùng rác công cộng ở một số địa điểm quan trọng, tập trung là khu vực trung tâm của Hà Nội. Phương án hai là kích động một số đối tượng cực đoan, quá khích tập trung gây “náo loạn” trước khu vực trung tâm chính trị nhằm tạo điểm nóng, thu hút sự chú ý của lực lượng an ninh để các đối tượng khác tiến hành đánh bom theo kế hoạch. Sau đó, bố trí ghi hình, tung lên mạng xã hội tất cả các hoạt động nhằm gây tiếng vang, vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp khủng bố” các nhà “hoạt động dân chủ”, “bất đồng chính kiến”.

Đầu tháng 8-2019, trên cơ sở khuyến nghị của lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố và đề nghị của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Bộ Công an đã công bố danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố. Ngoài danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố do Việt Nam chỉ định đã công bố là “Tổ chức khủng bố Việt Tân” và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, Bộ Công an bổ sung thêm Danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố và tài trợ khủng bố do Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc chỉ định.

Từ những bằng chứng trên, chúng ta xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng và người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của Việt Tân; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do Việt Tân tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của Việt Tân… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Nghiêm trị để răn đe

 


Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày, đã nhấn mạnh:“Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”. Đây là sự cụ thể hóa, nhấn mạnh tính thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, tinh thần thượng tôn pháp luật của mọi công dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Mọi cán bộ, đảng viên, mọi công dân đều phải có bổn phận chấp hành, không ai được ngả nghiêng, dao động... 

Đại hội XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp mở ra thời kỳ mới đầy triển vọng của đất nước ta. Trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua, mở hướng đột phá vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19 toàn cầu, từng bước khôi phục và phát triển kinh tế, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, thì các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động lại cay cú, tiếp tục tìm kẽ hở để lợi dụng chống phá. Một trong những chiêu trò của chúng là săm soi từng câu chữ trong các văn kiện và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để xuyên tạc, kích động. Bám vào từ “nghiêm trị”, chúng lu loa lên rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương sử dụng “công cụ bạo lực” để “gia tăng đàn áp” những người “bất đồng chính kiến”, thực hiện “đàn áp nhân quyền”... Đặc biệt, khi lực lượng công an một số địa phương tống đạt quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam một số đối tượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 109, Bộ luật Hình sự, ngay lập tức nhiều kênh truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt dẫn lời những phần tử cực đoan được dịp ra sức tung luận điệu ám chỉ, suy diễn. Chúng cho rằng, trong bối cảnh đất nước đang gặp khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam “lo sợ” sẽ có một làn sóng chỉ trích, nên mới thực hiện chủ trương “đàn áp” những người bất đồng chính kiến như vậy...

Ngay khi tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng, cùng với việc đẩy mạnh học tập, quán triệt, đưa nghị quyết vào cuộc sống, chúng ta tiếp tục tập trung chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Các thế lực thù địch, phản động nhân cơ hội này tìm mọi chiêu trò gây nhiễu thông tin, đánh tráo khái niệm, kích động, xuyên tạc, kêu gọi biểu tình, gây rối. Từ sự khơi mào của một số đối tượng trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, không ít kênh phát tiếng Việt trên mạng xã hội đã hùa theo, lôi kéo sự tham gia của nhiều đối tượng a dua, a tòng, nhân cơ hội ăn theo nói leo, chụp mũ, quy kết, nói xấu Đảng, xuyên tạc, bôi đen tình hình đất nước, phá hoại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp.

Trước những luận điệu xuyên tạc, thể hiện rõ ý đồ chống phá của các thế lực thù địch, chúng ta cần nói rõ bản chất vấn đề, nhằm thống nhất nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; phủ nhận, đập tan những luận điệu ngụy tạo, nguy hiểm, xấu độc của chúng. Những hành động đi ngược lại lợi ích quốc gia-dân tộc, tiếp tay cho các thế lực bên ngoài phá hoại, cản trở sự phát triển của đất nước đều là những hành vi cấu thành tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" theo Điều 109, Bộ luật Hình sự. Nhấn mạnh hành động nghiêm trị chính là sự khẳng định tính nghiêm minh của pháp luật, thể hiện tính biện chứng của quy luật phát triển, đáp ứng đòi hỏi từ chính thực tiễn. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ truyền thuyết cho đến lịch sử, thời kỳ nào tổ tiên, ông cha ta cũng kiên quyết nghiêm trị tội phản quốc. Lưỡi gươm đẫm máu và nước mắt của An Dương Vương trong truyền thuyết “Nỏ thần” là thông điệp luôn nóng hổi tính thời sự, tổ tiên ta truyền lại cho con cháu để có kế sách giữ nước ngay từ bên trong. Trong thời đại Hồ Chí Minh, năm 1953, trước tình hình phức tạp của thù trong, giặc ngoài, để bảo vệ chính quyền cách mạng, ngày 20-1-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 133-SL của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Điều 1 của sắc lệnh ghi rõ: Để củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất cho dân tộc, nay ban hành sắc lệnh này nhằm mục đích trừng trị các loại Việt gian, phản động và xét xử những âm mưu hành động phản quốc. Điều 11 của sắc lệnh ghi: Kẻ nào vì mục đích phản quốc, có những hành động tuyên truyền cổ động cho địch như: Phao tin đồn nhảm làm cho nhân dân hoang mang; Bất cứ dùng cách gì để tuyên truyền cho chính sách áp bức, bóc lột, lừa phỉnh của địch; Đầu độc, trụy lạc nhân dân bằng văn hóa nô dịch; Tuyển mộ ngụy binh hay mộ phu cho địch; Dụ dỗ bộ đội, cán bộ, nhân dân bỏ hàng ngũ kháng chiến đi theo địch, sẽ bị xử phạt như sau: Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ huy, sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung thân, hoặc sẽ bị xử tử hình. Bọn tay chân mà tội trạng tương đối nhẹ, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống...

Dẫn một số ví dụ như vậy để thấy rõ hơn, việc nghiêm trị các hành vi, đối tượng có âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước là chủ trương xuyên suốt của Đảng ta. Nhìn rộng ra, bất cứ một thể chế chính trị nào, bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ nào trên thế giới cũng đều có những chế tài nghiêm khắc đặc thù để trừng trị những thế lực đi ngược lại hiến pháp, pháp luật, lợi ích của chính quốc gia đó.

Trong giai đoạn đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, hội nhập, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, trước âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng gay gắt, tinh vi của các thế lực thù địch, việc khẳng định tính nghiêm trị đối với mọi âm mưu, hành động phá hoại như đã nêu trên chính là thể hiện tinh thần kiên trì, kiên quyết trong đấu tranh, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tính nghiêm minh của pháp luật. Hoàn toàn không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương gia tăng “đàn áp”, “trấn áp” lực lượng “bất đồng chính kiến” như miệng lưỡi của những kẻ phản động rêu rao...

Một câu hỏi được nhiều người đặt ra là, tại sao mỗi lần có đối tượng bị bắt vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là lập tức một bộ phận truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và nhiều trang mạng xã hội của các đối tượng khác lại dậy sóng phản đối, xuyên tạc, kích động, đòi phải trả tự do cho cái gọi là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh nhân quyền”...? Rất dễ dàng tìm câu trả lời khi tất cả bằng chứng phạm tội của các đối tượng bị đưa ra ánh sáng. Đơn cử mới đây, đối tượng Ngô Công Trứ (sinh năm 1988, trú thôn Phú Nông, xã Hòa Bình 1, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên), được tổ chức phản động của cái gọi là “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lôi kéo, mua chuộc thực hiện âm mưu “Trưng cầu dân ý” để thực hiện các hoạt động chống phá, mưu toan lật đổ chính quyền nhân dân. Trước Ngô Công Trứ, một số đối tượng trẻ tuổi cũng bị các tổ chức phản động ở hải ngoại móc nối, cấu kết, mua chuộc để làm tay sai, con rối cho chúng giật dây. Bằng sự cám dỗ của đồng tiền, vật chất và những thứ danh “ảo”, các thế lực thù địch, phản động có xu hướng nhắm đến những người trẻ có chút ít kiến thức nhưng non kém bản lĩnh, có tư tưởng cực đoan, cấp tiến để lôi kéo, mua chuộc. Chúng bỏ tiền ra để thực hiện cái gọi là “tài trợ” chống phá chính quyền nhân dân. Khi bị lật tẩy thì lu loa lên để thu hút sự chú ý của công luận. Với những đối tượng phạm tội kiểu này, nếu không có biện pháp răn đe thì rất khó để giúp họ tỉnh ngộ. Chính vì vậy, cần phải nghiêm trị những kẻ phạm tội để làm bài học cảnh tỉnh những ai đã và đang có ý định “nhúng chàm” bằng thứ “bánh vẽ” ảo tưởng.

Việc đấu tranh phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh những đối tượng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” trong thời gian vừa qua đã có tác dụng tăng sức giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh, được nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ. Đây cũng chính là một loại vũ khí để tăng sức chiến đấu trong Đảng, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Nghiêm trị một người để cảnh tỉnh muôn người, cắt bỏ khối u để cơ thể khỏe mạnh... là phương châm đấu tranh thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Đảng ta. Chúng ta hành động quyết liệt, nghiêm trị những hành vi phá hoại, cản trở sự phát triển của đất nước, nhưng luôn rộng lượng khoan dung với những ai biết ăn năn, hối cải, quay đầu là bờ. Với quan điểm lấy xây để chống, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, nhất quán tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc bất di bất dịch, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động...