Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: QUÀ CỦA TƯ LỆNH!

     Thiếu tướng Hoàng Đan là vị tướng chiến trận, từng kinh qua nhiều cương vị công tác và lập nhiều chiến công. Là vị tướng có tầm nhìn chiến lược, ông có tác phong chỉ huy dứt khoát, chỉ đạo cụ thể, nên được cấp dưới rất nể phục. Hai câu chuyện dưới đây là ví dụ.

Năm 1970, ông làm Tư lệnh Sư đoàn 304, chiến đấu ở Mặt trận Trị Thiên. Có lần, ông dẫn đoàn cán bộ đi kiểm tra địa hình để bố trí lực lượng, thế trận. Tư lệnh Hoàng Đan hiểu rõ, thời điểm này, trình độ đọc bản đồ và xác định trên thực địa của cán bộ chưa thạo, nếu giao nhiệm vụ trên tọa độ bản đồ có khi sai lệch, vì vậy, ông yêu cầu cơ quan tham mưu đi theo ghi chép cụ thể những chỉ lệnh của ông. Khi qua một cánh rừng, ông bảo dừng lại “để tôi đi tiểu”. Tiếp đến, vượt qua dãy núi, ông bảo dừng lại “tôi đi đại”, rồi tiếp tục đi. 

Khi đến một con suối, ông bảo “tôi tắm cái đã”. Mấy ngày sau về vị trí tập kết họp giao nhiệm vụ cho các đơn vị, ông tuyên bố: Tôi yêu cầu bố trí: Trung đoàn 24 xung quanh chỗ tôi đi tiểu; Trung đoàn 66 chỗ tôi đi đại; còn Trung đoàn 9 là chỗ tôi tắm. Mọi người nhận nhiệm vụ hiểu ngay và khi đưa bộ đội vào bố trí lực lượng chính xác theo ý đồ chiến thuật của sư đoàn.

Lần khác, khi các đơn vị chuẩn bị bước vào chiến dịch mới, Tư lệnh Sư đoàn 304 Hoàng Đan thông báo gửi quà cho Đại đội Cao xạ 16 một xe hàng và yêu cầu chỉ được mở trước lúc vào chiến dịch. Anh em bộ đội đinh ninh là quà, kiểu gì cũng là thuốc lá, bánh kẹo, lương khô… Nhưng khi mở ra thì lại là một xe đầy cuốc, xẻng. Lúc này, anh em mới hiểu ý của tư lệnh muốn nhắc nhở bộ đội rằng, muốn đánh thắng địch phải bảo toàn lực lượng, muốn bảo toàn lực lượng phải có công sự vững chắc. Đây là một bài học kinh nghiệm mà người cầm quân cần phải thực hiện. Đại đội trưởng Đại đội Cao xạ 16 ngày ấy là đồng chí Bùi Trung Thành luôn tâm niệm bài học đó và ông đã cho các chiến sĩ của mình làm công sự vững chắc, đào hầm đầy đủ. 

Chính nhờ đó mà trong 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, đại đội do ông chỉ huy đã hạn chế được thương vong, bảo đảm lực lượng để trụ vững và chiến đấu đến khi có lệnh rút khỏi Thành cổ. Đại đội trưởng Bùi Trung Thành sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân nhờ thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu./.
Theo Báo QĐND
QV-ST!

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CÚ ĐẶT LY RƯỢU Đ‌Ị‌N‌H M‌Ệ‌N‌H & BÍ MẬT H‌Ồ‌I S‌I‌N‌H. NẾU KHÔNG PHẢI P‌U‌T‌I‌N, NƯỚC NGA GIỜ NÀY ĐANG Ở ĐÂU…

     Có một sự thật về mối quan hệ giữa V‌l‌a‌d‌i‌m‌i‌r P‌u‌t‌i‌n và nước Nga mà thế giới không phải ai cũng thấu đáo. Tổng thống Nga đương nhiên là tư lệnh tối cao của lực lượng vũ trang.

Nhưng ngược lại, chính người dân Nga cũng lựa chọn phẩm chất của một tư lệnh tối cao làm yếu tố tiên quyết để chọn ra vị tổng thống cho mình.

Trong tâm thức của một dân tộc luôn phải đối mặt với những thách thức s‌i‌n‌h t‌ồ‌n từ đ‌ị‌a c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị, người Nga không cần một nhà quản trị đơn thuần. Họ cần một người cầm lái có tinh thần thép và ý chí không thể lay chuyển.

1. Cơn ác mộng thập niên 90: Khi s‌i‌ê‌u c‌ư‌ờ‌ng bị "xẻ thịt"

Khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, một đ‌ế c‌h‌ế từng làm thế giới nể sợ bỗng chốc hóa thành tàn dư của chính mình. Dưới thời B‌o‌r‌i‌s Y‌e‌l‌t‌s‌i‌n, nước Nga rơi vào khoảng thời gian u ám nhất:

• Sự bần cùng hóa: 

Chính sách "l‌i‌ệ‌u p‌h‌á‌p s‌ố‌c" khiến lạm phát tăng vọt hơn 2.000%. Những vị giáo sư, những người lính từng mang huân chương cao quý nay phải đứng bán từng kỷ vật trên vỉa hè lạnh giá để đổi lấy ổ bánh mì. Đất Nga những năm tháng hậu S‌o‌v‌i‌e‌t trở nên rệu rã và kiệt quệ.

• Nỗi nhục quốc gia: 

N‌A‌T‌O liên tục tiến sát biên giới, thu nạp các nước Đông Âu và B‌a‌l‌t‌i‌c. Năm 1999, c‌h‌i‌ế‌n d‌ị‌c‌h n‌é‌m b‌o‌m N‌a‌m T‌ư của phương Tây là giọt nước tràn ly. Nga bất lực nhìn đồng minh bị t‌ấ‌n c‌ô‌n‌g mà không thể p‌h‌ả‌n k‌h‌á‌n‌g. Đó là một nỗi đau thấu xương vào lòng tự tôn dân tộc.

• Sự thao túng của các t‌à‌i p‌h‌i‌ệ‌t (O‌l‌i‌g‌a‌r‌c‌h‌s): 

Q‌u‌y‌ề‌n l‌ự‌c n‌h‌à n‌ư‌ớ‌c bị xẻ thịt bởi những kẻ thâu tóm tài sản quốc gia. Đ‌i‌ệ‌n K‌r‌e‌m‌l‌i‌n khi ấy không phải trung tâm q‌u‌y‌ề‌n l‌ự‌c tối cao, mà là nơi diễn ra những cuộc mặc cả giữa c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị và lợi ích nhóm.

 2. "Tối hậu thư" K‌u‌n‌t‌s‌e‌v‌o và Cuộc c‌h‌i‌ế‌n giành lại c‌h‌ủ q‌u‌y‌ề‌n

Tháng 7/2000, tại biệt thự K‌u‌n‌t‌s‌e‌v‌o, P‌u‌t‌i‌n đã thực hiện một bước đi làm thay đổi vận mệnh nước Nga. Ông triệu tập các tỷ phú giàu nhất và đưa ra một "tối hậu thư" đanh thép: 

"Các ông giữ lại tài sản của mình, nhưng tuyệt đối không được c‌a‌n t‌h‌i‌ệ‌p vào c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị".

Đó là cuộc c‌h‌i‌ế‌n giành lại c‌h‌ủ q‌u‌y‌ề‌n quốc gia từ tay những "vòi bạch tuộc" tài chính. Những nguồn lực khổng lồ như dầu khí bắt đầu phục hồi sức mạnh và phục vụ ngân sách quốc gia thay vì chảy vào túi cá nhân ở nước ngoài. 

P‌u‌t‌i‌n hiểu rằng: Không dẹp được n‌ộ‌i l‌o‌ạ‌n t‌à‌i p‌h‌i‌ệ‌t, nước Nga không bao giờ có thể ngẩng đầu từ đống tro tàn.

3. Người bước ra từ bóng tối và Sứ mệnh cô độc

Tháng 10/1999, tại căn cứ M‌o‌z‌d‌o‌k, giữa lúc nước Nga còn quằn quại trong vết thương C‌h‌e‌c‌h‌n‌y‌a, vị Thủ tướng trẻ tuổi bước lên vũ đài c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị đã đặt mạnh ly rượu xuống:

"Chúng ta sẽ uống ly rượu này khi mọi việc kết thúc triệt để. Khi mà trên mảnh đất này không còn q‌u‌â‌n l‌y k‌h‌a‌i nữa."

Ông không nhận một ngai vàng rực rỡ, ông nhận một "di sản" nợ nần và một q‌u‌â‌n đ‌ộ‌i mất tinh thần. Ông chấp nhận sự cô độc để giữ cho con tàu Nga không bị chìm. 

Đỉnh điểm là Bài phát biểu tại M‌u‌n‌i‌c‌h năm 2007, nơi ông công khai thách thức trật tự đ‌ơ‌n c‌ự‌c, khẳng định Nga sẽ đi con đường riêng của một nền văn minh độc lập.

4. Những con số "phục sinh" kinh điển

Sự xuất sắc của P‌u‌t‌i‌n không chỉ nằm ở lời nói, mà ở những bằng chứng thép:

• G‌D‌P: Trong thập kỷ đầu tiên (1999-2008), G‌D‌P của Nga tăng vọt, đưa nước Nga từ hố thẳm lên hàng ngũ các nền kinh tế lớn nhất thế giới.

• Xóa đói giảm nghèo: Tỷ lệ người nghèo giảm từ 30% xuống còn dưới 13%.

• Dự trữ ngoại hối: Nga trả sạch nợ công và xây dựng được kho dự trữ ngoại hối khổng lồ, tạo ra tấm khiên vững chắc trước các áp lực bên ngoài.

5. Cái giá của trật tự và sức mạnh

Tất nhiên, lịch sử chưa từng có một lối đi nào trải toàn hoa hồng mà không phải trả giá. Để đổi lấy sự ổn định và vị thế s‌i‌ê‌u c‌ư‌ờ‌ng, nước Nga dưới thời đại của P‌u‌t‌i‌n cũng phải đánh đổi những khoảng không gian nhất định.

Mô hình q‌u‌y‌ề‌n l‌ự‌c tập trung cao độ và bàn tay sắt quản lý xã hội đôi khi đã làm thu hẹp không gian p‌h‌ả‌n b‌i‌ệ‌n dân sự, khiến hệ thống phụ thuộc lớn vào một cá nhân kiệt xuất. 

Việc chọn con đường đ‌ố‌i đ‌ầ‌u trực diện để bảo vệ không gian an ninh đ‌ị‌a c‌h‌í‌n‌h t‌r‌ị cũng khiến nước Nga phải chịu những tổn thương không nhỏ về kinh tế do sự c‌ô l‌ậ‌p từ một nửa thế giới. Đó là một thực tế khách quan, một "bản giao kèo" đầy khắc nghiệt mà người Nga hiểu rõ hơn ai hết.

6. Góc nhìn thời đại: Thế giới đ‌a c‌ự‌c năm 2026

Nhưng khi nhìn lại hành trình ấy từ cột mốc năm 2026 hiện tại, độc giả mới hiểu tại sao những nền móng mang tính "đánh đổi" ấy lại có ý nghĩa sinh tử đến thế. Trước những làn sóng c‌ấ‌m v‌ậ‌n toàn diện và sự b‌a‌o v‌â‌y ngạt thở những năm qua, nước Nga không hề sụp đổ như những gì đ‌ố‌i t‌h‌ủ của họ kỳ vọng.

Ngược lại, một nước Nga kiên cường của năm 2026 vẫn đứng vững, tự chủ về lương thực, năng lượng, công nghệ q‌u‌ố‌c p‌h‌ò‌n‌g và định hình nên một trật tự thế giới đ‌a c‌ự‌c mới. Tấm khiên được tôi luyện từ đầu những năm 2000 chính là chiếc phao cứu s‌i‌n‌h giúp nước Nga đứng vững trong cơn bão thời đại hôm nay.

Lịch sử không chọn người hiền lành nhất, lịch sử chọn người phù hợp nhất. P‌u‌t‌i‌n đã xuất hiện khi nước Nga đang rỉ máu để băng bó vết thương bằng đôi tay can trường. Ông biến nỗi nhục nhã thành lòng kiêu hãnh, biến hỗn loạn thành trật tự.

Sai lầm của phương Tây là cố gắng áp đặt một chiếc áo d‌â‌n c‌h‌ủ chật hẹp lên một cơ thể khổng lồ và gân guốc. P‌u‌t‌i‌n hiểu người dân mình: Với họ, sự ổn định quý hơn sự hỗn loạn gắn mác tự do. 

Ông đã chứng minh mình không chỉ là một Tổng thống, ông là hiện thân của ý chí Nga, là phản xạ tất yếu của lịch sử để đảm bảo rằng: Đất nước này s‌i‌n‌h r‌a để trở nên vĩ đại, chứ không phải để tan rã trong quên lãng

🤝Lịch sử vốn không dành cho số đông, nó dành cho những ai đủ bản lĩnh để nhìn thấu những định mệnh xoay chuyển cả một thời đại./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN CẢNH SÀI GÒN NGÀY 19/2/1965, TRONG CUỘC ĐẢO CHÍNH DO ĐẠI TÁ PHẠM NGỌC THẢO TRỰC TIẾP CHỈ HUY!

     Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi” - lời ông Nguyễn Cao Kỳ.

 Năm 1962, sau khi thôi làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa, sang Mỹ học một khóa quân sự cao cấp, Phạm Ngọc Thảo được bổ nhiệm làm Thanh tra Ấp chiến lược, trực thuộc Phủ Tổng thống. Thời gian này mối quan hệ giữa ông với ông Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang càng thân thiết. Với sức thuyết phục mạnh mẽ của một nhà quân sự vừa có trình độ, vừa chân thành vốn có, ông được nhiều sĩ quan có tinh thần dân tộc ngưỡng mộ.

Trong những năm 1962 - 1963, giữa lúc phong trào Đồng khởi lan rộng ở nông thôn, chính trường miền Nam Việt Nam trở nên rối ren. Gia đình họ Ngô vừa cai trị độc tài, vừa muốn thoát khỏi sự can thiệp của người Mỹ, tình hình này khiến cho phong trào đấu tranh của quần chúng ở đô thị dâng cao. 

Người Mỹ thì muốn gạt bỏ gia đình họ Ngô để thay vào đó giới lãnh đạo thân Mỹ nhằm biến miền Nam thực sự là một tiền đồn chống cộng. Biết trước sau gì gia đình họ Ngô cũng bị người Mỹ lật đổ để dựng lên một chính quyền nguy hiểm hơn, Phạm Ngọc Thảo cùng với Trần Kim Tuyến và Huỳnh Văn Lang lên một kế hoạch đảo chính với mục tiêu “cải sửa” chế độ nhằm vô hiệu hóa ý đồ của người Mỹ.

 Theo kế hoạch này, lực lượng đảo chính sẽ vẫn giữ Ngô Đình Diệm làm tổng thống, chỉ buộc Ngô Đình Nhu ra nước ngoài. Tuy nhiên, kế hoạch bị lộ, Trần Kim Tuyến bị đưa đi làm lãnh sự ở Ai Cập. Ngô Đình Nhu không tin Phạm Ngọc Thảo tham gia kế hoạch này, thứ nhất là ông Nhu không tin ông Thảo phản bội, thứ hai là ông Thảo “không có quân”. 

Thực ra lúc đó ông Thảo đã được nhiều sĩ quan chỉ huy ở Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, một số đơn vị biệt động quân, bảo an hậu thuẫn. Cuộc đảo chính không thành chủ yếu do thành phần đảo chính không phải là những người mà người Mỹ có thể nắm được.

Và như chúng ta đã biết, ngày 1.11.1963, một nhóm tướng lĩnh do Mỹ bật đèn xanh, đã tiến hành đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Anh em ông Diệm, ông Nhu bị chết thảm. “Hội đồng quân nhân cách mạng” (HĐQNCM) do tướng Dương Văn Minh đứng đầu lên cầm quyền. Phạm Ngọc Thảo dù không chủ động tham gia cuộc đảo chính này, vẫn được HĐQNCM cử làm tùy viên báo chí, sau đó được cử sang Mỹ tu nghiệp. HĐQNCM cầm quyền được 2 tháng, đã bị tướng Nguyễn Khánh và tướng Trần Thiện Khiêm 2 lần “chỉnh lý”, thâu tóm mọi quyền lực.

Lên cầm quyền, Nguyễn Khánh rút Phạm Ngọc Thảo về nước, cử làm giám đốc báo chí, phát ngôn viên chính phủ, lúc này ông đã được thăng đại tá. Mâu thuẫn giữa các tướng lĩnh trong giới cầm quyền ngày càng gay gắt, Nguyễn Khánh tiếp tục loại Trần Thiện Khiêm, đưa ông tướng này đi làm đại sứ tại Mỹ. 

Phạm Ngọc Thảo cũng được đưa sang Mỹ làm tùy viên văn hóa, quân sự vào đầu tháng 10.1964. Ông đưa luôn vợ con sang (họ định cư ở Mỹ cho đến ngày nay). 

Tuy nhiên, sau đó do nghi ngờ Phạm Ngọc Thảo, nên cuối năm 1964, Nguyễn Khánh ra lệnh triệu hồi Phạm Ngọc Thảo về nước, với ý đồ sẽ bắt ông tại sân bay Tân Sơn Nhất. Phạm Ngọc Thảo đã khôn khéo không về đúng giờ bay dự định nên thoát. Có mặt ở Sài Gòn,  ông bí mật móc nối tổ chức lực lượng, kéo tướng Lâm Văn Phát và hàng chục sĩ quan khác tiến hành cuộc đảo chính ngày 19.2.1965.

 Điều kỳ lạ là lúc đó Phạm Ngọc Thảo, tuy là đại tá nhưng không cầm quân và đang bị Nguyễn Khánh truy bắt, lại có thể tổ chức và chỉ huy một lực lượng không dưới một sư đoàn làm binh biến (gồm các đơn vị thiết giáp với 45 xe tăng và thiết giáp, các đơn vị địa phương quân, lực lượng của Trường bộ binh Thủ Đức và chủ lực là trung đoàn 46 thuộc Sư đoàn 25 bộ binh). Cuộc binh biến do tướng Lâm Văn Phát cầm đầu về danh nghĩa, còn thực tế do Phạm Ngọc Thảo tổ chức và chỉ huy, sau này người ta gọi ông là “Tư lệnh hành quân 19.2”.

Chỉ trong 1 ngày, lực lượng đảo chính đã đã chiếm Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh biệt khu thủ đô (trại Lê Văn Duyệt), Đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Đáng tiếc là do một số sơ sót trong hợp đồng tác chiến, Nguyễn Khánh đã được Tư lệnh Không quân lúc đó là Nguyễn Cao Kỳ cứu thoát.

Khi nói về sự kiện này, ông Nguyễn Cao Kỳ nói: “Cái ông Phạm Ngọc Thảo này rất lạ. Hồi đó nhiều người nghĩ ổng là cộng sản, nhưng lạ là không ai làm gì được ổng. Ổng nói nhỏ nhẹ và rất thuyết phục, ai cũng nghe. Năm 1965, tôi mà không ngăn cản thì ổng đã làm Thủ tướng rồi”. 

Ông Kỳ nhớ lại: “Cuộc đảo chính diễn ra bất ngờ đến mức tôi không kịp mặc áo, chỉ mặc may ô chui hàng rào thép gai ra lấy máy bay chạy về Biên Hòa. Sau đó ông Thảo lên Biên Hòa gặp tôi, cùng đi có một đại tá Mỹ. Ổng thuyết phục tôi ủng hộ quân đảo chính. Nói thật là tôi không ưa gì Nguyễn Khánh, nhưng quân đội đánh nhau tôi không đồng ý. Tôi bảo các anh phải cho quân về ngay doanh trại, đến 5 giờ chiều mà không rút quân tôi sẽ cho máy bay ném bom”. Đó là lý do khiến cuộc đảo chính thất bại.

Tuy nhiên, Nguyễn Khánh cũng bị loại. Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ và một số tướng lãnh được sự hậu thuẫn của người Mỹ đã lựa gió phất cờ, họp Hội đồng tướng lãnh buộc Nguyễn Khánh từ chức và trục xuất ông này ra nước ngoài với danh nghĩa là “đại sứ lưu động”, cử tướng Nguyễn Chánh Thi làm chỉ huy chống đảo chính, ra lệnh cho Phạm Ngọc Thảo, Lâm Văn Phát cùng 13 sĩ quan “đầu sỏ” tham gia đảo chính trong vòng 24 giờ phải ra trình diện. Phạm Ngọc Thảo, tướng Lâm Văn Phát, trung tá Lê Hoàng Thao (Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46) bỏ trốn.

Tháng 6.1965, Hội đồng tướng lĩnh giải tán chính phủ dân sự của Phan Huy Quát, đưa tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo quốc gia (tương đương quốc trưởng), tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương (tương đương thủ tướng). Chính quyền Thiệu – Kỳ lập tòa án quân sự để xử những người tham gia đảo chính. Phạm Ngọc Thảo bị kết án tử hình vắng mặt, chúng treo giải thưởng 3 triệu đồng cho ai bắt được ông.

Lúc này tuy ông phải lẩn tránh sự truy bắt của chính quyền, nhưng vẫn còn nắm được 1 tiểu đoàn. Ông liên lạc với ông Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt gặp ông và gợi ý ông ra chiến khu cho an toàn, có thể dẫn theo tiểu đoàn này với danh nghĩa binh biến ly khai. Tuy nhiên, ông cho biết ông vẫn còn có khả năng tổ chức đảo chính để ngăn chặn ngụy quyền quân phiệt rước quân viễn chinh Mỹ vào gây tội ác. Ông Võ Văn Kiệt đồng ý.

Phạm Ngọc Thảo tiếp tục hoạt động bí mật ở Sài Gòn, cho xuất bản tờ “Việt Tiến” để tập hợp lực lượng. Ông được các giám mục, linh mục, giáo dân Công giáo cùng nhiều bạn bè trong và ngoài quân đội giúp đỡ, bảo vệ.

Còn Nguyễn Văn Thiệu, sau khi lên cầm đầu ngụy quyền, thấy rõ Phạm Ngọc Thảo là mối đe dọa nguy hiểm đến vị trí quyền lực của mình, nên quyết tìm mọi cách tiêu diệt ông để trừ hậu họa./.




QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT CUỘC HÔN NHÂN CHỈ VỎN VẸN… MẤY THÁNG, NHƯNG ĐỦ ĐỂ ĐI CÙNG NHAU CẢ MỘT ĐỜI!

     Ít ai biết rằng, phía sau hình ảnh vị nữ tướng huyền thoại Nguyễn Thị Định là một cuộc hôn nhân ngắn ngủi nhưng đầy nước mắt…

Năm 1938, cô gái trẻ Nguyễn Thị Định nên duyên với người đồng chí của mình - ông Nguyễn Văn Bích, một Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre. Họ đến với nhau không phải bằng váy cưới xa hoa hay sính lễ đủ đầy, mà bằng lý tưởng chung, bằng những ngày cùng hoạt động cách mạng, cùng rải truyền đơn, làm giao liên trong hiểm nguy.

Một đám cưới giản dị diễn ra… như bao lời hẹn về một mái ấm nhỏ giữa thời loạn.

Nhưng hạnh phúc ấy ngắn ngủi đến đau lòng…

Năm 1939, khi đứa con trai đầu lòng của họ vừa cất tiếng khóc chào đời được 3 ngày, ông Nguyễn Văn Bích bị thực dân Pháp bắt giam và đày ra Côn Đảo.

Rồi tin dữ đến…
Ông đã hy sinh nơi lao tù Côn Đảo, mãi mãi không thể trở về với người vợ trẻ và đứa con thơ chưa kịp gọi một tiếng “cha”.

Sau bi kịch ấy, bà Nguyễn Thị Định không gục ngã. Người phụ nữ ấy tiếp tục bước đi, biến đau thương thành sức mạnh để cống hiến cho Tổ quốc, trở thành nữ Thiếu tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một tình yêu dang dở…
Một cuộc đời mất mát…
Và một người phụ nữ thép bước ra từ những đau thương lớn nhất của đời mình. 🇻🇳
Ảnh Đất Việt TV sưu tầm & phục dựng.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BẾN NHÀ RỒNG- NƠI KHỞI NGUỒN HÀNH TRÌNH HUYỀN THOẠI VÀ LUÔN VỮNG CHÃI TRONG LÒNG NHÂN DÂN!

     Trong chương trình Người đương thời ra đời cách đây hơn 20 năm, Thiếu tướng tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn trả lời nhà báo Tạ Bích Loan về sự kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiếu tướng nói rằng những người lao động, lái xích lô cũng đều kính trọng Bác Hồ. Rồi ngay cả đám chống Cộng thì cũng nói này nói kia nhưng nhiều khi nói là như vậy nhưng trong bụng cũng chưa chắc, mà vẫn quý, vẫn nể. Nhà tình báo nói về lúc viết bài về Bác, rất dễ vì không có ai chê cả, ngay cả người Mỹ cũng không chê.

Thiếu tướng từng chia sẻ rằng hồi còn làm cho chính quyền VNCH, ông nhiều lần đi qua khu vực Bến Nhà Rồng nhưng chỉ đứng nhìn từ xa, lấy động lực cho hoạt động tình báo cách mạng.

Khoảng 136 năm trước, một đứa bé đã sinh ra ở Làng Sen. Cách đây 115 năm, đứa bé ấy đã là một thanh niên và đau đáu nhìn về vận mệnh đất nước, bắt đầu một hành trình cứu nước từ Bến Nhà Rồng. Bác Hồ rất yêu quý đồng bào, vùng đất miền Nam. Có lẽ, cuộc đời của Bác có hai điều nuối tiếc nhất, một là Bác không thể chứng kiến giây phút nước nhà hoàn toàn độc lập, thống nhất. Hai là Bác không thể trở về miền Nam để nắm tay, ôm hôn, chúc mừng đồng bào.

Ngày 29/04 vừa qua, TP Hồ Chí Minh và Tập đoàn Sun Group khởi công xây dựng Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội. Đây sẽ là nơi nhân dân có thể tưởng nhớ và cảm nhận gần hơn hình bóng của Bác trong đời sống thường nhật.

Quyết định dừng quy hoạch khu nhà ở thương mại của TP. Hồ Chí Minh để dành trọn vẹn khu vực này cho công viên công cộng, không gian văn hóa, phụng sự nhân dân mang một ý nghĩa triết lý sâu sắc. Đó là sự lựa chọn đặt ký ức lịch sử và tình cảm của nhân dân lên trên mọi giá trị vật chất, hoàn toàn đồng điệu với tư tưởng "lấy dân làm gốc" của Bác Hồ.

Công trình được thiết kế như một dòng chảy ký ức gồm 9 chương không gian, nhằm tái hiện trọn vẹn hành trình cứu nước vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lịch sử nơi đây không hề xa vời mà hiện diện ngay trong nhịp sống thường ngày. Một học sinh sau giờ tan trường, một người công nhân sau ca làm, một cụ già đi bộ buổi sáng, một du khách nước ngoài đang ngắm cảnh… Tất cả đều có thể bước vào không gian ấy để nhớ về một con người vĩ đại của dân tộc bằng những cảm xúc rất riêng, chân thành, gần gũi…

Lịch sử không phải là những chương sách ngủ yên trong quá khứ, mà là những mạch ngầm vĩnh cửu ở đầu nguồn, góp thành một dòng sông rồi chảy qua tâm thức của muôn thế hệ để duy trì tinh thần yêu nước. Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội chính là một mạch ngầm như vậy, góp mình vào dòng chảy yêu thương dân tộc./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “ỦY VIÊN ĐẶC BIỆT PHỦ TỔNG THỐNG” NGUYỄN XUÂN HÒE VÀ CUỘC ĐẤU TRÍ CHẤN ĐỘNG GIỮA LÒNG SÀI GÒN 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

     Nguyễn Xuân Hòe sinh năm 1923 tại Quảng Bình. Từ một trí thức công chức yêu nước, ông trở thành chiến sĩ tình báo chiến lược hoạt động sâu trong lòng chính quyền Sài Gòn suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Với vỏ bọc là viên chức cao cấp, rồi chủ bút báo chí và sau này là “Ủy viên đặc biệt Phủ tổng thống”, ông từng hoạt động ngay giữa trung tâm quyền lực của chế độ Sài Gòn mà địch không hề hay biết.

Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Xuân Hòe đã trực tiếp lấy được Kế hoạch Atlande, chiến dịch quân sự quy mô lớn của Pháp nhằm đánh vào vùng tự do Liên khu 5. Nhờ nguồn tin chiến lược này, ta chủ động phá tan cuộc hành quân của địch. 🔥

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông tiếp tục hoạt động bí mật tại Sài Gòn, từng phát hiện sớm âm mưu Mỹ hất cẳng Pháp để dựng lên chính quyền tay sai mới ở miền Nam.

Năm 1958, ông bị mật vụ Ngô Đình Cẩn bắt giam tại Huế. Dù bị tra khảo khốc liệt, ông vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo làm ảnh hưởng đến tổ chức. Cuối cùng, địch chỉ kết luận ông là “công chức thân Pháp có hành động thiếu kiềm chế” rồi buộc phải trả tự do.

Sau khi trở lại chính trường Sài Gòn, ông trở thành nhân vật nòng cốt trong lưới tình báo H10-A22 cùng các điệp viên huyền thoại như Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Huỳnh Văn Trọng…

Một trong những chiến công quan trọng nhất của Nguyễn Xuân Hòe là lấy được bản đồ quân sự tối mật mới nhất của Mỹ về toàn bộ miền Nam Việt Nam. Tấm bản đồ này sau đó được chuyển ra căn cứ và được Bộ Tư lệnh Miền sử dụng cho tới tận ngày giải phóng năm 1975. 🇻🇳

Năm 1969, lưới tình báo H10-A22 bị lộ. Chính quyền Sài Gòn mở phiên tòa nổi tiếng tại số 3 Bạch Đằng nhằm kết tội các chiến sĩ tình báo. Nhưng phiên tòa ấy lại biến thành nơi những người cộng sản công khai tố cáo tội ác của Mỹ và chính quyền tay sai ngay trước báo chí quốc tế.

Trong những bức ảnh tại phiên tòa năm ấy, Nguyễn Xuân Hòe cùng đồng đội vẫn xuất hiện với phong thái bình thản, lịch lãm và ánh mắt của những người không bao giờ khuất phục.

Sau phiên xử, ông bị đày ra Côn Đảo. Dù Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, địch vẫn tiếp tục giam giữ ông cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Những năm tháng t.ù đày khiến sức khỏe ông suy kiệt nặng. Sau ngày đất nước thống nhất, ông chỉ sống thêm được 3 năm rồi qua đời năm 1978.

Tháng 5/2005, Nhà nước truy tặng Nguyễn Xuân Hòe danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân vì những cống hiến đặc biệt xuất sắc trong ngành tình báo cách mạng./.
QV-ST!

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ÁNH SÁNG HỒ CHÍ MINH SOI ĐƯỜNG CHO CHÚNG TA ĐI

     Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "ÁNH SÁNG HỒ CHÍ MINH SOI ĐƯỜNG CHO CHÚNG TA ĐI".

Ngày 19 tháng 5 năm 2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ Nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với Nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, Nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.

Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ XX, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI. Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.

Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; cung cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.

Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.

Trước hết, tư tưởng "dân là gốc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với Nhân dân.

Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.

Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng "sánh vai với các cường quốc năm châu" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.

Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với Nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.

Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống Nhân dân.

Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài-đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân.

Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.

Từ đó có thể thấy, các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời Nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ Nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo công việc của mình.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ Nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của Nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.

Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ Nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của Nhân dân.

Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.


QV-ST!

VIỆT NAM THẾ GIỚI: VIỆT NAM - TỪ CHIẾN TRANH GIAN KHÓ ĐẾN ĐIỂM TỰA LƯƠNG THỰC CỦA ASEAN!

     Lịch sử Đông Nam Á từng chứng kiến những chương đầy nghịch lý và đau thương. Trong những năm tháng khói lửa, trong khi nhân dân Việt Nam phải đổ máu để bảo vệ độc lập, thì không ít quốc gia láng giềng lại tìm thấy "cơ hội vàng" để kiến thiết nền kinh tế từ chính cuộc chiến này.

Đơn cử như đất nước xứ Chùa Vàng Thái Lan. Quốc gia này từng là "hạm đội tàu sân bay không bao giờ chìm" của Mỹ với 7 căn cứ quân sự khổng lồ. Giai đoạn 1965-1970, Mỹ đã đổ vào đây hơn 2,2 tỷ USD viện trợ và khoảng 200 triệu USD mỗi năm (thời giá khi đó) được bơm trực tiếp vào nền kinh tế thông qua chi tiêu quân sự. Thậm chí, tổng số tiền Thái Lan hưởng lợi từ cuộc chiến giai đoạn này tương đương với toàn bộ GDP của họ trong một năm.

Hay như Singapore dưới thời Thủ tướng Lý Quang Diệu, quốc gia này đã tận dụng tối đa vị thế trung chuyển để trở thành "hậu phương hậu cần" cho quân đội Mỹ. Chỉ riêng việc cung cấp xăng dầu và nhiên liệu phục vụ chiến tranh, Singapore đã thu về khoảng 600 triệu USD mỗi tháng. Đến năm 1967, có tới 15% thu nhập quốc dân của đảo quốc này đến từ các hợp đồng mua sắm quân sự của Mỹ cho chiến trường Việt Nam.

Và nhiều quốc gia khác cũng gửi quân tham chiến, gây ra biết bao tang tóc trên mảnh đất hình chữ S, rồi thậm chí sau đó bọn họ lại tiếp tay cho nạn diệt chủng Khmer Đỏ để kìm hãm sự hồi sinh của Việt Nam chúng ta. 

Thậm chí, các bạn có biết không, mục đích và tôn chỉ ban đầu của ASEAN khi thành lập chính là để "bao vây và cô lập" Việt Nam, quốc gia kiên cường mà bọn họ gọi là "tiểu bá Đông Nam Á".

Nhưng, dân tộc Việt Nam đã trả lời bằng lòng bao dung và sự kiên cường tột bậc. Chúng ta không chọn cách ghi hận, mà chọn cách bước qua những vết sẹo để gầy dựng một tương lai chung. Từ một đất nước từng bị bao vây cấm vận, toàn dân phải chia nhau từng hạt gạo hay vài tem phiếu sau chiến tranh, Việt Nam đã viết nên một kỳ tích chưa từng có: Vươn mình trở thành cường quốc xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

Giờ đây, khi thế giới chao đảo vì khủng hoảng lương thực và đứt gãy chuỗi cung ứng, Việt Nam không dùng vị thế của mình để oán trách quá khứ. Ngược lại, chúng ta dõng dạc khẳng định: Việt Nam sẵn sàng là "kho lương" vững chãi, bảo đảm an ninh lương thực cho các nước ASEAN trong mọi tình huống khẩn cấp.

Thông điệp ngày hôm nay của Thủ tướng Lê Minh Hưng không chỉ là sự khẳng định về năng lực kinh tế, mà là sự tỏa sáng của tính chính nghĩa và đạo lý nhân văn: Lấy sự chân thành để xóa bỏ hiềm khích, lấy trách nhiệm để khẳng định vị thế. Một Việt Nam từng bị gọi là "tiểu bá" nay đã trở thành trụ cột của sự đoàn kết, sẵn sàng chìa tay cứu trợ những người đã từng đứng ở phía bên kia chiến tuyến.

Khi khó khăn ập đến, một ASEAN đoàn kết quanh một Việt Nam nhân ái và mạnh mẽ sẽ là sức mạnh không gì lay chuyển nổi.
Việt Nam - Bản lĩnh trong gian khó, Nghĩa tình giữa thời bình! 🇻🇳🌾
QV-ST!

HỌ BẤT CHẤP TẤT CẢ ĐỂ XÓA BỎ LỊCH SỬ!

CÀNG BAO BIỆN CÀNG LỘ RÕ BẢN CHẤT PHẢN ĐỘNG TRƠ TRẼN!

Nghe hai từ "chuyên gia" thấy to tát quá, những tưởng những cây đa, cây đề trong làng sử học như giáo sư Lê Văn Lan.

Nào ngờ các chuyên gia ấy lại là những tên giặc sử, kiến thức sáo rỗng, những kẻ đầy tai tiếng. Bộ GD&ĐT dùng những tên giặc sử được gọi là "chuyên gia" ấy để bao biện.

Họ quyết tâm xóa bỏ lịch sử, họ chờ ý kiến chuyên gia cơ đấy, chuyên gia của họ không ngoài ai khác là tên giặc sử VMG và tên giặc VHK Hiển Vũ. Nó giống trò diễn hài của bộ giáo dục.

--------
ĐỂ XÓA BỎ LỊCH SỬ, CHÚNG BẤT CHẤP TẤT CẢ. 

Tôi thật không hiểu tại sao vẫn có những thằng được gọi là các chuyên gia và nhà sử học mà chúng lại có thể phát biểu ra những câu đi vào lòng đất nếu không muốn nói là đại ng/.u như thế này:

- "Không học sử đâu có nghĩa là không yêu nước!".

Và để lý sự cho nhận định này thì chúng đã dẫn chứng ra việc các cháu học sinh không được học THPT thì các cháu vẫn yêu nước như thường.

Bây giờ tôi sẽ tranh luận với đám chuyên gia rởm, tốn cơm dân, vô tích sự này về lời phát biểu đi vào lòng đất của chúng.

Đầu tiên, với những người kém tư duy thì khi mới nghe qua lời phát biểu này và chỉ suy nghĩ hời hợt họ sẽ thấy nó có vẻ có lý. Tuy nhiên, với những người biết suy nghĩ một cách thấu đáo và rõ ràng mạch lạc thì người ta có thể chia ra 2 ý như sau:

1. Không cần học sử vẫn yêu nước.
Vậy thì nước đó là nước nào? 
Các ông sẽ trả lời: là nước Việt Nam chứ còn nước nào nữa, đúng không?

Ok. Tôi hỏi các ông: 
Bè lũ tay sai bán nước ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn trước kia chúng cũng nói là chúng yêu nước nên tôn chỉ, lý tưởng của chúng là "Tổ quốc - Danh dự - Trách nhiệm". Thực tế đã chứng minh chúng có yêu nước không?

Vậy tại sao các ông lại vơ đũa cả nắm, đánh đồng như thế?
À thì ra phải chăng là mấy năm nay lũ sử tặc các ông đang muốn rửa mặt cho bè lũ tay sai bán nước ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn nên nhân cơ hội này các ông rửa mặt cho chúng thêm lần nữa?

Những tên sử tặc như Vũ Minh Giang và Vũ Quang Hiển, v.v.... nhân dân còn lạ gì cái bản mặt thật của các ông nữa!

2. Đối với các cháu học sinh không được học THPT, không được học sử thì chúng vẫn yêu nước.

Ok. Vậy số học sinh không được học sử yêu nước là bao nhiêu phần trăm? Còn số học sinh được học sử yêu nước là bao nhiêu phần trăm?

Làm sao biết được đúng không? Vậy tại sao các ông lại lấy một việc mang tính ước lệ ra để đối chiếu, so sánh, quy kết? Đây có phải là hành động phản khoa học không?

Ý nghĩa của việc giáo dục lịch sử đó là nhằm xây dựng nền tảng, đặt nền móng cho tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trang bị kiến thức, hiểu biết về những chặng đường lịch sử mà dân tộc đã kinh qua đối với các thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên và mang tính vĩ mô, chứ nó không quyết định được việc một con người có yêu nước hay không (mang tính vi mô). Điều này cũng giống như việc không phải tất cả những người làm kinh doanh thành công trên thương trường, trong xã hội đều được học kinh tế, hay ngược lại, tất cả những người đã được học kinh tế thậm chí là tiến sĩ, giáo sư kinh tế học thì đều có thể kinh doanh thành công.

Các ông có hiểu được sâu, rộng thế nào là "Nhân bất học bất tri lý. Ngọc bất trác bất thành khí không"?

Thôi, giờ tôi hỏi ngay cái lĩnh vực lịch sử của các ông mà không cần phải liên hệ sang các lĩnh vực khác nữa.

Các ông hãy cho tôi biết: 
Nhà sử học Trần Trọng Kim với nhiều tác phẩm lịch sử đã để lại cho hậu thế, ông ta có yêu nước không?

Một loạt đám sử gia ở miền Nam đã lưu vong sang Hoa Kỳ năm 1975, và 47 năm nay chúng luôn luôn chống phá quốc nội chúng có yêu nước không?

Ngay cả đám sử gia đầy bụng sử ở trong nước đang rửa mặt cho bè lũ tay sai bán nước ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn như các ông có yêu nước không?

Vậy thì tại sao các ông lại lấy những lời hồ đồ này để lý sự?

Bên cạnh đó, các ông còn lý sự hàm hồ rằng nếu bắt ép học sinh học sử mà các cháu không thích học thì sự bắt ép cũng bằng không. Vậy thì tôi lại hỏi lũ teo não các ông: Các ông có chắc rằng tất cả 100% học sinh đến trường đều thích việc học tập, đều ham mê học tập không?

Các ông càng bao biện thì các ông càng thể hiện cho thiên hạ thấy sự dốt nát tột cùng của các ông. Đúng ra các ông phải lấy làm xấu hổ, nhục nhã, dằn vặt lương tâm khi học sinh không thích học môn lịch sử. Các ông dạy dỗ cái kiểu quái gì mà khiến cho học sinh chán ghét môn lịch sử vậy? Các ông không thấy nhục hay sao mà còn mở mồm lên giọng dạy đời thiên hạ và bao biện, lý sự cùn?

3. Hôm trước tôi thấy Hội Khoa học Lịch sử đã gửi công văn kiến nghị Chính phủ, Quốc hội xem xét lại việc Bộ GD&ĐT đã để môn Lịch sử là một trong những môn tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông mới, khiến các ông bất bình, bức xúc, bằng chứng là ông Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử, Dương Trung Quốc đã lên trả lời phỏng vấn đài VTC với thái độ bất bình, chê bai việc làm này của Bộ GD&ĐT. Vậy tại sao hôm nay các ông lại quay ngoắt 180 độ khi trả lời phỏng vấn của báo chí để đỡ "đạn" cho Bộ GD&ĐT? Đây có phải là hành động vừa nhổ xong lại liếm không? 

- Phải chăng là "bố" các ông ở phía bên kia bán cầu bảo thế? 
- Hay là thằng anh của các ông bảo thế vì hắn cũng mới ra mặt một cách ng/^.u xu/^.ẩn?
- Hay là lại có thằng nào đã đấm tiền vào mõm các ông nên các ông quay xe như thế?

Bộ mặt tráo trở, lật lọng, bỉ ổi, vô liêm sỉ của các ông đã càng ngày càng lộ rõ rồi đấy, chỉ có điều cái não của các ông còn nhỏ lắm và đang teo đi cho nên các ông không thể đánh lừa được dư luận xã hội đâu! Trình của các ông còn non và xanh lắm. Hãy nhớ rằng: Chiếc áo không làm nên thầy tu!

Thưa bà con! Tôi đã nói rồi đừng có tin vào cái mồm của cái đám này. Chúng quẹt mỏ nhanh lắm và trở mặt như trở bàn tay. Bởi vậy nên cái công văn kiến nghị của chúng mấy hôm trước tôi có thèm để ý đâu. Chúng diễn trò thôi!










QV-ST!

TÌNH ĐOÀN KẾT CAO CẢ GIỮA NHỮNG NGƯỜI VÔ SẢN ANH EM LIÊN XÔ VÀ VIỆT NAM: "ĐIỀU DUY NHẤT CỨU ĐƯỢC CẢNG HẢI PHÒNG, LÀ CHÚNG TÔI TRỤ LẠI"!

     Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Liên Xô đã luôn sát cánh, chi viện rất lớn cho miền Bắc Việt Nam . Hơn 80% tổng số hàng hóa của Liên Xô được chuyển đến Việt Nam bằng các con tàu của Công ty Vận tải Viễn Đông.

Hơn 1000 chuyến tàu của Công ty này đã cập các cảng của Việt Nam, cùng với Công ty vận tải biển Đen, đã thiết lập một Cầu Hữu nghị trên biển trong những năm Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam.

Đã có những thủy thủ Liên Xô hy sinh tại Việt Nam trong những ngày gian khó, nguy nan đó.

Ngày 2/6/1967, tại cảng Cẩm Phả, máy bay Mỹ đã bắn phá tàu vận tải “Turkestan” đang neo tại cầu cảng. Điện trưởng(электромеханик) Nikolai Rybachuk đã anh dũng hy sinh, sáu thủy thủ khác bị thương.

Ngày 9/5/1972, trong một cuộc pháo kích nhằm vào tàu chở dầu “Pevek” ở khu vực gần Hải Phòng, 5 thành viên thủy thủ đoàn đã bị thương.

Một ngày sau đó, không quân Mỹ tiếp tục tấn công tàu vận tải “Grisha Akopyan” tại Cẩm Phả. Thủy thủ trưởng Yury Zotov bị mảnh bom găm vào đầu và vai, hy sinh, 6 thủy thủ khác bị thương…Năm 2024, bạn Đào Mạnh Dũng và những người Việt Nam sinh sống tại Primorye đã đến viếng ngôi mộ của Yury Zotov tại nghĩa trang Hàng hải ở Vladivostok.

Ngày 9/5/1972, đế quốc Mỹ cho hàng loạt máy bay A6A, A7A, F4... từ Hạm đội 7 ở Biển Đông ồ ạt bay vào thả hàng ngàn quả thủy lôi, bom từ trường xuống luồng Nam Triệu, Hải Phòng và vùng biển khu vực Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Hội, Sông Gianh cùng các cửa sông chính thuộc các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa... Chúng còn trơ tráo ra tối hậu thư, yêu cầu tất cả các tàu đang đậu trong các cảng VNDCCH, trước hết là cảng Hải Phòng trong vòng 3 tiếng đồng hồ phải rời vị trí, nếu không sẽ phải chịu hậu quả…

Tại Vladivostok( Liên Xô), thông tin về việc Mỹ bắt đầu phong tỏa cảng Hải Phòng được biết đến vào lúc 11 giờ sáng. Khi này, trách nhiệm nặng nề được đặt lên vai Giám đốc Công ty Vận tải Viễn Đông Valentin Petrovich Byankin và Phó giám đốc phụ trách an toàn hàng hải Alexander Alexandrovich Kashur. 

 Ở Moskva, Bộ trưởng hàng hải Liên Xô Timofey Borisovich Gushchenko cũng được báo cáo ngay, nhưng theo phân cấp, trách nhiệm xử lý đầu tiên vẫn thuộc về Công ty Vận tải Viễn Đông phụ trách khu vực Thái Bình Dương.

- Người ta tư vấn cho đồng chí ra sao? - Bí thư thứ nhất Khu uỷ Primorsky Viktor Pavlovich Lomakin hỏi Byakin.

- Cho các tàu rời cảng...

- Thế còn quyết định của đồng chí?

- Ở lại! - Byankin đáp ngay- Có thể rút tàu ngay trong ba giờ này. Nhưng hành động đó sẽ được gọi là gì? Đó là bỏ mặc bạn bè trong khó khăn. Tôi có trên 96 nghìn tấn hàng trên các tàu, đối với các bạn Việt Nam là rất quan trọng, rất cần thiết. Không, chúng tôi sẽ không đi đâu cả. 

Ông còn nói thêm:

-Nếu tôi cho tàu rời đi, người Mỹ sẽ đánh phá tan tành bến cảng. Điều duy nhất có thể cứu Hải Phòng lúc này là chúng ta trụ lại.

Sau đó, gám đốc Công ty Vận tải Viễn Đông Valentin Petrovich Byankin ra llệnh cho các thủy thủ sơn cờ Liên Xô lên boong và trụ tàu, tiếp tục công việc.

...Tháng 8/1968, tàu Aleksadr Grin thuộc Công ty Vận tải Biển Đen bị tấn công gây hỏa hoạn, khi tàu đang chở 2.000 tấn amoni nitrat đến Hải Phòng. Nếu bị nổ, không những tàu bị nhấn chìm mà còn có nguy cơ phá hủy cảng Hải Phòng, chưa kể đến việc khí độc sẽ bị loang rộng. Thủy thủ đoàn đã làm mọi cách nhưng không thể tự dập tắt ngọn lửa. Tàu kéo cứu hộ "Argus" cùng các tàu chở hàng "Berezovka", "Tavrichanka" và "Chapaev" đã tiếp cận con tàu đang cháy, phun nước và bọt chữa cháy hết công suất Sau khi dập tắt xong đám cháy, thợ lặn Yuri Terekhov của tàu "Argus" đã hy sinh cùng với 5 đồng đội khác (dữ liệu của tạp chí Tổ quốc (Rodina) ).

...Ở miền Bắc rực lửa bom đạn năm xưa, từ bến cảng Hải Phòng, đến cảng Cẩm Phả... không có nơi nào không ghi dấu ấn tình cảm thủy chung của những người bạn thủy thủ Xô viết. Họ đã có mặt bên chúng ta trong những giờ phút cam go nhất. Trong số họ, có những người đã nằm lại mảnh đất này khi tuổi xuân đang độ đẹp nhất đời người.

Nhà triết học Cicero từng nói: "Lòng biết ơn không chỉ là đức hạnh cao quý nhất, mà còn là khởi nguồn của mọi đức hạnh khác". 

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng chúng ta sẽ bao giờ quên những người bạn Xô viết với tình cảm quốc tế cao cả, đã vượt muôn trùng khơi đến đây, đã dũng cảm làm việc dưới muôn vạn hiểm nguy, và đã hy sinh vì Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Không có ai bị quên lãng, không có gì bị lãng quên.

ảnh 1: Tàu Turkestan được nhân dân Liên Xô đón chào sau khi trở về từ Việt Nam anh em.

ảnh 2: Mộ của liệt sĩ Yury Zotov tại nghĩa trang Hàng hải ở Vladivostok.

ảnh 3: Những người Việt Nam tại Primorye đến viếng mộ Yury Zotov, năm 2024.

ảnh 4: Điện trưởng Nikolai Rybachuk đã hy sinh trên tàu Turkestan khi làm nhiệm vụ tại cảng Cẩm Phả. 

ảnh 5: Nhân dân Vladivostok chào đón những thủy thủ quả cảm trở về từ VN. Trên tàu có treo khẩu hiệu "Không được đụng đến Việt Nam"./.




QV-ST!

BẠN CÓ BIẾT: “NGÀY VỀ” CỦA VỊ SƯ ĐOÀN TRƯỞNG TỪNG KHIẾN NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN VNCH VÀ MỸ TƯỞNG ĐÃ CHẾT!

     Ngày 18/3/1973, bên bờ sông Thạch Hãn, giữa đoàn tù binh vừa được trao trả sau Hiệp định Paris, có một “thượng sĩ quân y” lặng lẽ bước sang bờ Bắc.

Nhưng điều khiến phía ngụy VNCH chết lặng là:
Ngay khi vừa qua sông, người này lập tức được sĩ quan phía Bắc đón lên xe com-măng-ca chờ sẵn rồi chạy thẳng ra miền Bắc.

Một sĩ quan chiêu hồi phía VNCH lúc đó reportedly đã tức giận văng tục:
“Dm, lọt mất một tên cỡ bự rồi!”

Bởi “thượng sĩ quân y” ấy thực chất chính là:
Đại tá Trần Văn Trân - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 1 bộ binh chủ lực của QGPMN.

Câu chuyện bắt đầu từ một đêm cuối tháng 2/1970:
Sư trưởng Ba Trân mặc áo bà ba, quần xà lỏn, dép râu dẫn theo sở chỉ huy nhẹ vượt kênh Vĩnh Tế.

Nhưng khi vừa sang bờ:
Đơn vị bất ngờ rơi vào ổ phục kích lớn của QLVNCH.

💥 Phía VNCH khi đó có:
👉 Một tiểu đoàn bảo an
👉 4 tàu bo bo
👉 Trực thăng HU-1A bắn phá dữ dội

Trận chiến diễn ra cực kỳ ác liệt:
Lực lượng vệ binh và trinh sát của sở chỉ huy chiến đấu đến người cuối cùng.

Kết quả:
▪️ Chỉ 5 người thoát được
▪️ Trần Văn Trân cùng 7 người khác bị bắt

Nhưng điều đặc biệt là:
Trước khi bị bắt, ông đã nhanh trí vứt khẩu súng lục và khoác túi quân y của một chiến sĩ đã hy sinh.

Từ đó:
Ông khai tên giả là Nguyễn Văn Thương - một quân y sĩ.

Điều khiến phía ngụy VNCH và Mỹ không phát hiện ra thân phận thật:
Những chiến sĩ bị bắt cùng đều giữ kín bí mật dù bị tra khảo nhiều lần.

Bên ngoài:
Lãnh đạo QGPMN quyết định công bố ông đã hy sinh để đánh lạc hướng.

Gia đình ngoài Bắc nhận giấy báo tử.
Đơn vị còn tổ chức truy điệu trọng thể.

📻 Báo chí Sài Gòn khi ấy cũng đồng loạt đăng tin:
“Quân lực VNCH đã tiêu diệt một chỉ huy cao cấp của Quân Giải Phóng.”

Nhưng rồi tất cả phải sửng sốt:
3 năm sau, “người đã chết” ấy lại bước ra từ đoàn trao trả tù binh.

Sau khi trở về:
Trần Văn Trân tiếp tục được giao chỉ huy Sư đoàn 341 tiến vào chiến trường miền Nam.

Trong mùa Xuân 1975:
Chính đơn vị của ông tham gia đánh Xuân Lộc - trận chiến được xem là “cánh cửa thép” cuối cùng bảo vệ Sài Gòn.

Sau chiến tranh:
Ông được phong quân hàm Thiếu tướng và giữ chức Phó Tư lệnh Quân đoàn 4.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân Việt Nam:
Đại tá Trần Văn Trân được xem là sĩ quan cấp cao nhất của QGPMN từng bị ngụy  quân VNCH bắt giữ nhưng vẫn giữ kín hoàn toàn thân phận cho tới ngày được trao trả./.
QV-ST!

NHÌN RA THẾ GIỚI: METRO MOSKVA - “CUNG ĐIỆN DƯỚI LÒNG ĐẤT” CỦA NƯỚC NGA!

     Ngày 15/5/1935, tuyến metro đầu tiên của Moskva chính thức được đưa vào hoạt động. Khi ấy, toàn bộ hệ thống chỉ dài hơn 11km với 13 nhà ga, nhưng sự kiện này nhanh chóng trở thành biểu tượng cho khát vọng công nghiệp hóa và sức mạnh tổ chức của Liên Xô thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội!

Ít ai biết rằng, trước khi có được một trong những hệ thống tàu điện ngầm nổi tiếng nhất thế giới ngày nay, Liên Xô gần như không có kinh nghiệm nào về xây dựng metro. Moskva lại là thành phố có địa chất phức tạp, nhiều nước ngầm, thiếu kỹ sư chuyên môn và thiếu cả công nghệ thi công hiện đại. Ngay cả việc đưa hành khách xuống những ga sâu hàng chục mét cũng từng là bài toán nan giải.

Ban đầu, phương án được tính đến là xây metro kiểu Đức: đào nông và dùng thang máy để đưa hành khách lên xuống. Tuy nhiên, một kỹ sư trẻ tên Veniamin Makovsky đã đề xuất phương án táo bạo hơn: đào sâu theo công nghệ Anh và sử dụng hệ thống thang cuốn hiện đại. Đề xuất ấy từng vấp phải sự phản đối gay gắt vì chi phí quá lớn và độ phức tạp kỹ thuật rất cao.

Theo hồi ký của Nikita Khrushchev, khi đó phụ trách công trình metro Moskva, cuộc tranh luận cuối cùng đã được đưa lên tận Bộ Chính trị với sự tham gia trực tiếp của Stalin. Khi các kỹ sư lo ngại về chi phí, Stalin đã đặt câu hỏi dứt khoát: “Về mặt kỹ thuật, có làm được hay không?”. Khi nhận được câu trả lời là “có thể”, ông quyết định lựa chọn phương án đào sâu.

Thực tế sau này cho thấy quyết định ấy không chỉ mang ý nghĩa giao thông đơn thuần mà còn là một tính toán chiến lược. Trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, các ga metro sâu dưới lòng đất đã trở thành nơi trú bom cho hàng chục nghìn người dân Moskva. Năm 1941, giữa lúc quân phát xít Đức áp sát thủ đô, Stalin thậm chí còn đọc diễn văn kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười ngay tại ga Mayakovskaya. Chỉ một ngày sau, cuộc duyệt binh lịch sử ngày 7/11/1941 vẫn diễn ra trên Quảng trường Đỏ trong tuyết dày, trước khi các đơn vị hành quân thẳng ra mặt trận.

Điều đặc biệt là metro Moskva chưa bao giờ được xem đơn thuần như một công trình hạ tầng giao thông. Stalin yêu cầu các nhà ga phải trở thành “những cung điện dành cho nhân dân”, thể hiện sự văn minh, giàu mạnh và niềm tự hào của nhà nước Xô viết. Vì vậy, nhiều ga được xây dựng bằng đá cẩm thạch, đồng, pha lê, tranh khảm và các vật liệu cao cấp.

Những ga như Mayakovskaya, Komsomolskaya, Kievskaya, Quảng trường Cách mạng hay Novoslobodskaya đến nay vẫn thường xuyên xuất hiện trong danh sách những ga metro đẹp nhất thế giới. Trong đó, Novoslobodskaya nổi bật với 32 ô kính màu được chế tác theo kỹ thuật kính màu nhà thờ châu Âu, tái hiện hình ảnh người lao động, nghệ sĩ, kỹ sư và khát vọng hòa bình của con người Xô viết. Nhà ga giống một thánh đường nghệ thuật nằm sâu dưới lòng đất hơn là một công trình giao thông thông thường.

Sau hơn 90 năm phát triển, metro Moskva hiện là một trong những hệ thống tàu điện ngầm lớn nhất thế giới. Tính đến năm 2026, hệ thống có hơn 300 ga với tổng chiều dài trên 500km, chưa kể các tuyến đường sắt đô thị liên thông. Chỉ riêng năm 2023, Moskva đã khai trương khoảng 14 ga mới, chủ yếu thuộc tuyến vành đai lớn Bolshaya Koltsevaya. Theo kế hoạch phát triển đến năm 2030, thủ đô nước Nga sẽ tiếp tục xây thêm hàng chục ga mới nhằm mở rộng mạng lưới giao thông công cộng.

Nhìn vào câu chuyện metro Moskva mới thấy rằng, để giải quyết bài toán giao thông đô thị của một siêu đô thị, không thể chỉ trông chờ vào những giải pháp tình thế hay các biện pháp ngắn hạn. Điều cốt lõi vẫn là quy hoạch đồng bộ, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm thực hiện đến cùng.

Một hệ thống metro hiện đại không chỉ giúp giảm ùn tắc giao thông, giảm ô nhiễm khí thải mà còn thay đổi toàn bộ cấu trúc vận hành của thành phố. Khi phương tiện công cộng đủ thuận tiện, nhanh chóng và văn minh, người dân tự nhiên sẽ lựa chọn nó thay vì phải chen chúc trên đường phố đông đúc hay chịu cảnh ô tô nhích từng mét giữa dòng xe kéo dài bất tận.

Metro Moskva vì thế không chỉ là câu chuyện về những đoàn tàu dưới lòng đất. Đó còn là bài học về quy hoạch đô thị, về tư duy chiến lược và về khả năng biến những điều tưởng như không thể thành hiện thực bằng ý chí chính trị và tầm nhìn dài hạn.

Thông tin bài viết từ Phan Việt Hùng

Ảnh 1: Ông Pavel Rotert, người chỉ huy xây dựng metro Moskva
Ảnh 2: Stalin phát biểu dưới ga Mayakovskaya.
Ảnh 3: những hành khách đầu tiên của metro Moskva, 1935.
Các ảnh sau: Những cung điện trong lòng đất Moskva.







QV-ST!