Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH: PHẢI CHĂNG TRÀO LƯU XÉT LẠI LỊCH SỬ LÀ XU HƯỚNG HIỆN NAY?

       Những năm gần đây, nước Việt đang xuất hiện một trào lưu mới, trào lưu xét lại lịch sử; họ cố tình bóp méo sự thật lịch sử theo hướng hạ bệ hoặc tôn vinh những nhân vật lịch sử vốn đã ăn sâu trong tiềm thức trong mỗi người dân Việt Nam. Khi nói đến Nguyễn Ánh (tức vua Gia Long của triều Nguyễn) thì người ta nghĩ ngay đến một tên cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ. Ấy vậy mà không hiểu tại sao lại có những kẻ nhân danh là nhà sử học, học hàm, học vị cũng đến mức “tột đỉnh của vinh quang” lại cố tình phá hoại lịch sử, cố tình “rửa mặt” cho Nguyễn Ánh và cả vương triều Nguyễn - Một vương triều đồi bại nhất lịch sử nước Việt ta. Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm (1802 - 1945), có 13 vua thì có đến 8 tên bán nước, hoặc là thần phục ngoại bang (vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân là ba người yêu nước nhưng họ cũng chỉ là công cụ của người Pháp. Chỉ Minh Mạng, Thiệu Trị là 2 vua có thực quyền).

Tai hại hơn, họ ca ngợi Nguyễn Ánh là người có công thống nhất đất nước, mở mang bờ cõi, khai phá miền Nam; thậm chí đặt ngang hàng với người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Hiện nay trong Nam Phương Linh Từ ở Đồng Tháp, người ta còn đặt cả tượng Quang Trung và Gia Long chung một mái đền, gọi là "thờ những người có công mở cõi phương Nam". Xin có đôi lời như sau:


I. PHÂN BIỆT CHÚA NGUYỄN VÀ VUA NGUYỄN

Những người được coi là nhà sử học, nhà nghiên cứu lịch sử há lại không phân biệt được giữa các Chúa Nguyễn và nhà Nguyễn? Có chăng là họ đã cố tình đánh tráo khái niệm, đánh bùn sang ao hòng che đậy cho những mục đích không trong sáng của họ! Đời các Chúa Nguyễn khởi đầu là Nguyễn Hoàng (chúa Tiên) vào cai quản đất Thuận Hóa từ năm 1558. Nguyễn Hoàng vì sợ Trịnh Kiểm (anh rể) sát hại nên sau khi nghe lời khuyên của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời. Các Chúa Nguyễn trị vì được 9 đời kể từ lúc Nguyễn Hoàng vào Thuận Quảng cho đến năm 1777, khi Nguyễn Phúc Thuần thua quân Trịnh, phải chạy vào Gia Định và bị quân Tây Sơn tiêu diệt. Lịch sử là trung thực, là khách quan; vậy nên không ai phủ nhận công lao mở mang bờ cõi vào phía Nam của các Chúa Nguyễn. Đó là sự thật lịch sử! Nhà Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, khi Nguyễn Ánh thắng nhà Tây Sơn và lập nên nhà Nguyễn, khi đó thì cương vực, lãnh thổ của nước ta đã có như ngày hôm nay. Vậy nên, nói nhà Nguyễn đã có công khai phá và mở rộng lãnh thổ đất phương Nam, là lý luận của kẻ bất trí!


II. VÌ SAO NGUYỄN ÁNH ĐƯỢC XEM LÀ BÁN NƯỚC, “CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ”

Nguyễn Ánh sinh năm 1762, là con trai của Vương tử Nguyễn Phúc Luân, cháu nội Nguyễn Phúc Khoát - vị chúa Nguyễn đời thứ 8 của Đàng trong . Trong suốt cuộc đời, ông ta đã bất chấp tất cả, cậy nhờ ngoại bang để cũng cố quyền lực của mình, ông ta đã phạm rất nhiều đại tội. Trong đó, tội xứng bị xử lăng trì, tru di cửu tộc chính là tội phản quốc, rước giặc vào nhà để tàn phá non sông đất nước. Có thể gọi Gia Long là tên “gia nô 3 họ” vì ông ta từng quỳ gối cầu (Xiêm, Thanh, Pháp). Trong bài thơ “Lịch sử nước ta” Bác Hồ viết:

“Nay ta mất nước thế này,

Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,

Khác gì cõng rắn cắn gà,

Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.”. Những tội trạng ngàn nằm không bao giờ gột rửa sạch:

1. Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm, vua Xiêm lợi dụng cơ hội để âm mưu chiếm đất Gia Định và thôn tính Chân Lạp, đã cử Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 5 vạn quân theo hai đường thủy bộ cùng với tàn quân của Nguyễn Ánh tiến đánh Gia Định. Đêm 19 rạng ngày 20/1/1785, người anh hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ đã lãnh đạo quân và dân ta đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Nguyễn Ánh thua to, chạy trốn nhưng vẫn không hề từ bỏ ý định thần phục ngoại bang để mưu sự nghiệp riêng! Ngày 25 tháng 1 năm 1785, Nguyễn Ánh sai Mạc Tử Sanh và Chánh cơ Trung sang Xiêm báo tin thất trận. Thấy không thể trông cậy được người Xiêm, Nguyễn Ánh nhờ giáo sĩ Bá Đa Lộc đem Hoàng tử Cảnh đi sang Pháp cầu viện. Đến khi, các tùy tướng dẫn tàn quân tìm đến, cả đoàn mới kéo nhau ra sống ở đảo Thổ Chu. Trong bức thư gửi cho giáo sĩ Li-ô sáu ngày sau trận Rạch Gầm - Xoài Mút, Nguyễn Ánh kể "Chúng tôi vừa bị thua trận, tất cả quân lính đều bị tan vỡ".

2. Cuối năm 1788, khi quân Thanh đã chiếm đóng thành Thăng Long. Anh hùng Nguyễn Huệ lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị tấn công quân Mãn Thanh thì Nguyễn Ánh sai sứ thần Phan Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và chở 50 vạn cân lương ra giúp quân xâm lược Mãn Thanh. Trời bất dung gian, cả đoàn thuyền bị một cơn bão nhấn chìm xuống biển Đông, nhưng hành động này nói lên bản chất cực kỳ phản động của Nguyễn Ánh. Qua sự việc này có thể thấy Nguyễn Ánh là tên giặc đê hèn, để cũng cố quyền lực nhằm đối chọi với quân Tây sơn mà hắn đã không từ thủ đoạn bẩn thỉu nhất. Đây là tội nghiêm trọng nhất. Bởi giúp Thanh đánh Tây Sơn tức là mong Thanh thắng, là chấp nhận Bắc thuộc, là hành động phản quốc! Tại sao Nguyễn Ánh phản quốc? Vì chống Tây Sơn đã đành. Nhưng còn vì cái truyền thống sùng bái Trung Quốc của dòng họ mình nữa. Từ tự đồng hóa với người, đến chấp nhận nước mình hóa thành một phần của nước người, đâu có xa! Hiển nhiên đối với Nguyễn Ánh, làm chúa Đàng Trong hay làm quan cai trị nửa phía Nam của lãnh thổ mới mở của Tàu, cũng vậy thôi! Sau khi thành công, Nguyễn Ánh và cả vương triều nhà Nguyễn một dạ hai vâng và thần phục tuyệt đối vào nhà Thanh, là minh chứng rõ nét nhất!

3. Cả quân Xiêm và quân Thanh đều bị quân và dân ta do Nguyễn Huệ lãnh đạo đánh cho tan tác còn một số ít phải trốn chạy về nước. Rõ ràng, thời Quang Trung đất nước ta đã thống nhất. Nguyễn Ánh được kế thừa sự nghiệp đó, song Nguyễn Ánh lại cầu cứu rước tư bản phương Tây đặc biệt là tư bản Pháp vào xâm lược nước ta, tròng vào cổ nhân dân ta xích xiềng nô lệ kéo dài gần 100 năm. Kể từ năm 1787, với sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám mục Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc), Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định. Trước đó, ngày 25 tháng 1 năm 1787, Bá Đa Lộc (giáo sĩ người Pháp làm cố vấn cho Nguyễn Ánh) đã thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles (1787) với Pháp. Theo đó, vua Pháp đồng ý cử sang 4 chiếc tàu chiến và một đạo binh: 1.200 lục quân, 200 pháo binh, 250 lính da đen ở Phi Châu (Cafres) và đủ các thứ súng ống thuốc đạn để đánh Tây Sơn. Ngược lại, sau khi chiến thắng, Nguyễn Ánh phải nhường đứt cho nước Pháp cửa Hội An (Faifo) và đảo Côn Lôn (Poulo-Condore), chủ quyền các vùng đất đó sẽ vĩnh viễn thuộc về nước Pháp ngay lúc quân đội Pháp chiếm đóng hòn đảo nói trên. Đúng lúc đó thì nước Pháp xảy ra Cách mạng, vua Pháp không thực hiện Hiệp ước nhưng Bá đa lộc đã kêu gọi các thương nhân người Pháp trợ giúp cho Nguyễn Ánh. Như vậy, đây là lần thứ ba Nguyễn Ánh phò ngoại bang, bán nước cho giặc. Đây là bằng chứng không ai có thể chối cãi được! 

4. Cắt đất Trấn Ninh cho Lào: Trấn Ninh hay xứ Bồn Man vốn là đất nội thuộc Đại Việt từ đời Lê Thái Tổ, Thái Tông, đời Thánh Tông, xứ này tạo phản, Thánh Tông thân chinh dẫn quân Tây chinh đánh cả Ai Lao, Lang Xang, Lão qua lấy lại được vùng này, đây là khu vực theo nhận xét của Minh Mạng là “có vị trí chiến lược”, là lá chắn vùng đệm của nước ta với các nước phía Tây như Xiêm, Miến, Ai Lao, cũng như có tác dụng nối lại vùng đất miền Trung vốn dài và hẹp dễ bị chia cắt của nước ta, Lê Duy Mật từng dựa thế khu này mà chống lại nhà Trịnh hơn 30 năm.

Gia Long nhờ Lào góp công lớn trong việc đánh Tây Sơn nên nhẹ như lông hồng, cắt trả công cho Lào. Đất trấn Ninh khoảng 40.000 km2, gấp 2,6 lần so với diện tích tỉnh Nghệ An ngày nay. Khâm định Việt sử Thông giám cương mục viết:

“ Trấn Ninh: Đất Bồn Man xưa, hồi đầu triều Lê, họ Cầm nối nhau làm phụ đạo; đến Lê Thánh Tông chia đất này lập ra làm phủ Trấn Ninh, quản lãnh 7 huyện: Kim Sơn, Thanh Vị, Cảnh Thuần, Quang Minh, Minh Quảng, Quang Lang và Tư Thuận, cho họ Cầm nối đời làm tù trưởng. Cuối năm Vĩnh Hựu (niên hiệu Lê Ý Tông 1735-1739), Lê Duy Mật chiếm cứ, đến năm Cảnh Hưng thứ 31 (1770) mới dẹp yên được, lại cho họ Cầm được nối đời quản trị. Bản Triều, năm Gia Long thứ nhất (1802) đem đất ấy phong cho nước Vạn tượng". 

Mở mang bờ cõi ư? Gia Long không hề có công lao gì để gọi là mở cõi. Công lao đó là của nhà Lê và các Chúa Nguyễn chứ không phải Gia Long.

5. Lịch sử là phải công tâm, trung thực, khách quan, không thể ngụy biện. Bản thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khi nói về vai trò, vị trí, về công và tội của các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn cũng rất công tâm. Quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán các vua: Gia Long đã nhường cho Pháp cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn, cầu viện quân Xiêm đánh nước ta, tiếp tế cho quân Thanh; đến các vua: Minh Mạng tiếp tục sự nghiệp do Gia Long để lại; Thiệu Trị chưa làm gì nhiều ở ngôi được 7 năm thì mất; đến các vua: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại đã hoàn toàn bán nước ta cho Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. 

 Vì những lý do nêu trên; không thể mang tên phản quốc, "gia nô 3 họ", là tội nhân thiên cổ như Nguyễn Ánh để so sánh với Anh hùng dân tộc, người đã có công đặt nền móng cho việc thống nhất đất nước; người đã dẫn dắt cả dân tộc đánh bại quân Xiêm, quân Mãn Thanh xâm lược, bảo vệ đất nước như Vua Quang Trung được! Đó là chân lý xưa nay! Mặc dù Nguyễn Ánh đã thống nhất đất nước nhưng trên cơ sở kế thừa Vua Quang Trung và triều đại Tây Sơn đang làm dở dang (Vua Quang Trung không may mất sơm) chứ chẳng phải là công lao của Nguyễn Ánh. Việc này nên được ghi nhận như một sự kiện, thay vì công của ông ta. Việc ca ngợi Nguyễn Ánh, thậm chí đặt hắn ta ngang hàng với Vua Quang Trung là việc làm của kẻ bất nhân, bất nghĩa, bất lễ, bất trí! Không bao giờ có thế chấp nhận được./.


Ảnh: Đại Hoàng đế Quang Trung - Anh hùng dân tộc. Và Gia Long - Tên gia nô 3 họ (Thanh, Pháp, Xiêm).

Môi Trường ST.

Xuyên tạc hoạt động của Quốc hội – Âm mưu của các thế lực thù địch

 

Mỗi quốc gia đều có một chế độ chính trị phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện kinh tế-xã hội của mình. Chế độ chính trị mà toàn thể dân tộc Việt Nam đang đồng lòng, nỗ lực xây dựng là chế độ chính trị pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là vấn đề cốt lõi, hết sức rõ ràng của chế độ chính trị nước ta. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong Hiến pháp của Việt Nam, mà mới nhất là Hiến pháp năm 2013 (Điều 4 của Hiến pháp năm 2013), phù hợp với ý chí của toàn dân tộc, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trước khi được thông qua, dự thảo Hiến pháp năm 2013 đã được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi toàn dân, bằng nhiều hình thức phong phú, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Kết quả lấy ý kiến cho thấy, đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, người dân đều đồng tình như dự thảo Hiến pháp và cho rằng mục tiêu, lý tưởng của Đảng không có gì khác hơn là lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân.

Vai trò quan trọng của Quốc hội thể hiện qua việc các chương trình, kế hoạch quan trọng là “xương sống” hoạt động của Nhà nước như kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước hằng năm, các kế hoạch đầu tư công... phải được Quốc hội thông qua mới có thể triển khai thực hiện.

Qua các cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp Quốc hội, đại đa số cử tri và nhân dân đều vui mừng vì hiệu quả hoạt động, uy tín của Quốc hội ngày càng được nâng cao, Quốc hội ngày càng thể hiện tốt vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Điều đó đã tăng cường niềm tin của cử tri và Nhân dân đối với Quốc hội. Mỗi kỳ họp Quốc hội luôn là sự kiện chính trị-xã hội được cử tri và Nhân dân đặc biệt quan tâm, theo dõi. Bởi cử tri tin tưởng rằng, những nguyện vọng, ý kiến tâm huyết của mình luôn được Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trân trọng, lắng nghe, bàn thảo nghiêm túc và từ đó cho ra những quyết sách đúng đắn, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước, nâng cao đời sống Nhân dân.

Thực tế đó là minh chứng bác bỏ đanh thép đối với những luận điệu của những đối tượng có âm mưu đen tối, cố tình xuyên tạc rằng “Quốc hội không có vai trò thực chất, chỉ quyết nghị theo chỉ đạo của Đảng, chỉ mang tính hình thức, người dân thì quay lưng, ngoảnh mặt với hoạt động của Quốc hội”./. 

Phòng chống dịch - Tránh tình trạng áp dụng rập khuôn máy móc

 Trong thời gian vừa qua, mặc dù Đảng, Quốc hội, Chính phủ rất tích cực và chủ động tập trung quyết liệt chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế-xã hội, nhất là trong công tác phòng, chống dịch covid 19, song các cấp, các ngành cần thường xuyên đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác phòng, chống dịch để xử lý tốt hơn các vấn đề kinh tế-xã hội trong bối cảnh thích ứng an toàn, không gây ảnh hưởng, thiệt hại lớn đến nền kinh tế; tránh tình trạng áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch rập khuôn, kém linh hoạt và thiếu nhất quán giữa Trung ương và địa phương cũng như cách làm thiếu thống nhất giữa các địa phương khi thực hiện Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ.

Tình hình dịch COVID-19 còn diễn biến phức tạp, khó lường, các ca nhiễm trong cộng đồng liên tục tăng cao, tác động tiêu cực của dịch bệnh đến mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội, gây gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô, ảnh hưởng mạnh đến tâm lý và đời sống Nhân dân./. 

xử lý nghiêm hành vi lợi dụng công tác phòng, chống dịch để trục lợi

 Trong thời gian vừa qua, Nhân dân rất bức xúc trước vụ việc Công ty Việt Á đã nâng khống giá kit xét nghiệm COVID-19, chi phí nguyên vật liệu đầu vào đưa vào thuyết minh cơ cấu giá xác định giá bán là 470.000 đồng/kit; thỏa thuận và chi tiền phần trăm hợp đồng cho lãnh đạo bệnh viện và CDC một số tỉnh, thành phố trong quá trình cung cấp sản phẩm, thu lợi nhuận bất chính.

Đây là hành vi vi phạm pháp luật có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh lan rộng trên cả nước, cả hệ thống chính trị và Nhân dân đang phải dốc toàn lực để thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch. Do đó, cử tri và nhân dân đề nghị Chính phủ chỉ đạo quyết liệt việc điều tra, truy tố, kết luận sớm, xử lý nghiêm vụ việc và thông báo cho người dân. Thời gian qua trong lĩnh vực y tế có nhiều vấn đề đáng quan tâm, như: Việc lợi dụng công tác phòng, chống dịch COVID-19 để thực hiện các hành vi tham nhũng, tiêu cực, nâng khống giá vật tư, thuốc, thiết bị y tế để trục lợi. Việc đội giá bất thường của các loại thuốc, nâng giá các dụng cụ y tế trong các bệnh viện, đại lý thuốc... làm ảnh hưởng đến đời sống của Nhân dân, nhất là đối với các gia đình có người ốm đau, bệnh tật, gây dư luận bức xúc trong xã hội.

KHƠ ME ĐỎ DIỆT CHỦNG, CHỈ CÓ VIỆT NAM LAO VÀO VÒNG BINH LỬA ĐỂ GIÚP CAMPUCHIA TÁI SINH VÀ CÓ ĐƯỢC CƠ ĐỒ NHƯ HÔM NAY!


Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dân tộc ta đối diện với muôn vàn khó khăn gian khổ. Hậu quả của chiến tranh kéo dài đã làm cho đất nước ta kiệt quệ. Trong nước, một số thành phần có nợ máu với dân tộc vẫn không ngừng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Fulro được tài trợ để chống phá, đối đầu với chúng ta. Bên ngoài thì Hoa Kỳ và đồng minh ngay lập tức cấm vận về kinh tế. Họ lợi dụng sự bất hoà giữa Liên Xô - Trung Quốc để bắt tay với người tàu hòng cô lập các nước thân Liên Xô, trong đó Việt Nam được xem là "cái gai trong mắt" của họ, Trung Quốc và Hoa Kỳ muốn Campuchia dân chủ tiến quân đánh nước ta để họ toạ sơn quan hổ đấu và trở thành  ngư ông đắc lợi.


Có thể nói, giai đoạn này, ngoài Liên Xô và một số nước XHCN ra thì hầu như đều bị Hoa Kỳ và Trung Quốc lôi kéo, chống lại Việt Nam. Trong Asean, hầu hết các quốc gia đều theo Mỹ, quay lưng với chúng ta. Tổ quốc vạn bề thọ địch! Lúc này Pôn Pốt được sự nuôi dưỡng của Trung Quốc nên ra sức chuẩn bị cho cái gọi là : "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Theo chúng, Việt Nam mới thống nhất, sau 1975 gặp nhiều thách thức trong nước, "khó khăn hơn Campuchia Dân chủ gấp 10". 


Chúng cho rằng "Lính cách mạng Khmer được tin tưởng là hơn hẳn lính Việt Nam về sự dũng cảm, tinh thần cách mạng và không thể mua chuộc". Chúng đã xâm phạm các tỉnh dọc theo biên giới, sát hại dã man đồng bào ta. Đã có hàng ngàn người dân vô tội bị chúng hành quyết một cách man rợ. 


Việt Nam cố gắng giải quyết cuộc xung đột một cách hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao, nhưng Khmer Đỏ từ chối đàm phán, Trung Quốc không chịu làm trung gian hòa giải, còn Liên Hiệp Quốc không có biện pháp gì phản hồi lại các phản đối của chính quyền Việt Nam về các hành động gây hấn của Khmer Đỏ. Cũng phải thôi, đó là kế hoạch mà Mỹ - Trung đã sắp đặt từ lâu, dễ gì từ bỏ. Cả Mỹ, Trung và Khơ Me Đỏ đã đánh giá thấp khả năng của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng nghĩ rằng, sau giải phóng miền Nam thì đất nước ta không thể gượng dậy để tiếp tục chiến tranh! Và họ đã lầm! 


Các cuôc tấn công của Khmer Đỏ vào Việt Nam, giết chóc dân thường Việt Nam dọc biên giới khiến Bộ Quốc phòng Việt Nam đã đảo ngược xu hướng dần dịch chuyển quân đội sang các khu vực kinh tế. Năm 1977, quân đội dự tính chuyển 20.000 lính, nhưng chỉ có 4.300 người quay về công việc dân sự vào giữa năm 1977. Trong nửa cuối năm 1977, Quân khu 7, Quân khu 9, Quân đoàn 3 và 4 được điều động phản công chống Khmer Đỏ.


Chỉ sau 2 tuần giao chiến, Khơ Me Đỏ đã bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam giải phóng Phnom Penh ngày 7 tháng Giêng 1979, lật đổ chính thể Khmer Đỏ tàn ác. Hơn 120.000 quân của Pôn Pốt bị chúng ta khai tử, buộc phải chạy sang Thái Lan.


Vào giữa tháng 2/1979, Bắc Kinh hiệp lực với các lãnh đạo Asean và Mỹ để "trừng phạt" và cô lập Việt Nam, chúng rêu rao là ta xâm lược Campuchia. Mặc dù bác bỏ mọi can dự, Washington bật đèn xanh cho Bắc Kinh tấn công Việt Nam. Ngày 17.2, Trung Quốc bắt đầu mang 600.000 quân xâm lược nước ta để "dạy cho Việt Nam một bài học" và kết quả là họ bị quân và dân miền Bắc, chủ yếu là bộ đội địa phương, dân quân du kích đánh cho không còn manh giáp. Khi quân chủ lực của ta từ Campuchia trở về thì Trung Quốc đã kịp tháo chạy. 


Vì sao chúng ta mang Quân đội sang giúp Campuchia? Lý do: từ 1975 đến 1979, Khơ Me Đỏ đã gây bao nhiêu tội ác với đồng bào ta và nhân dân Campuchia. Chúng ta đã nhẫn nhịn và cố níu kéo bằng giải pháp hòa bình trong vòng 4 năm từ 1975 tới 1979 khi người Việt Nam vẫn liên tục bị tấn công, chúng mang những sư đoàn chủ lực tấn công và giết hại đồng bào ta hết sức man rợ, thảm sát Ba Chúc là một ví dụ điểm hình về tội ác tày trời của chúng. Trong suốt 12 ngày chiếm đóng từ 18 đến 30 tháng 4 năm 1978, quân Khmer Đỏ đã giết chết 3.157 dân thường. Chỉ có ba người sống sót sau vụ tàn sát...


Chính vì những nguyên nhân trên và chính lời kêu gọi khẩn thiết của người dân Campuchia mà đại diện chính Hunsen và các cộng sự đã sang Việt Nam để kêu gọi chúng ta giúp nhân dân họ thoát họa diệt chủng. Nếu chúng ta không mang đại binh sang Campuchia để đánh dập đầu và xóa sổ toàn diện bọn ác nhân Khơ Me Đỏ mà để chúng phục hồi nguyên khí thì liệu rằng với sự hậu thuẫn của Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan …để chúng phản công trở lại thì khi đó tổn thất mà chúng sẽ gây ra là như thế nào, chắc chắn không ai có thể dự đoán được.


Binh pháp tinh diệu ở chỗ là phải biết nắm thời cơ, tạo thế và lực để quyết thắng giặc, đánh địch để chúng không kịp hồi phục nguyên khí, đánh để cho giặc “chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn”. Việc chúng ta mang quân đội sang Cam hoàn toàn là việc làm chính nghĩa, trên tình thần quốc tế cao cả, chính nghĩa là vì được nhân dân Campuchia đồng lòng khẩn cầu ta giúp họ; chính nghĩa  giúp người và cũng chính là giúp mình! Lòng người campuchia đứng về chúng ta và Hunsen, xem chúng ta là đội “quân nhà Phật” đã cứu sống, hồi sinh dân tộc họ; họ mang ơn của chúng ta đến muôn đời; đó chính là nhân hòa!


Nhiều người cho rằng, sau khi đánh bại Khơ Me Đỏ, tại sao chúng ta không rút quân ngay? Giao cho Liên Hiệp Quốc tiếp quản...? Hãy nhìn xem trước khi người Việt Nam bị Khơ Me Đỏ tàn sát và Campuchia bị diệt chủng thì LHQ ở đâu? Chúng hùa theo Trung Quốc, Hoa Kỳ ủng hộ bọn diệt chủng Pôn Pốt.  Mỹ, Anh, Tàu và một số nước khác vẫn ủng hộ tiền bạc cho tàn quân khơ me đỏ mượn đất Thái Lan lập căn cứ. Vậy nếu Việt Nam giao lại cho LHQ thì hậu quả sẽ thế nào? Khơ me đỏ sẽ vực dậy và Việt Nam sẽ liên tục bị tấn công. Cụ thể vào những năm 1984 - 1985 tàn quân khơ me đỏ được viện trợ từ nước ngoài đã gây nhiều tổn thất cho Quân đội Việt Nam. 


Nếu chúng ta không ở lại Campuchia (theo để nghị của chính quyền cách mạng Campuchia) thì liệu một chính quyền non trẻ vừa mới ra đời sau bao nằm bị tàn phá nặng nề, xác người còn phơi đầy đồng ruộng; Vậy họ có đủ sức để đánh trả Khơ Me Đỏ đang chực chờ để phản công ở phía bắc Campuchia và Thái Lan, khi mà sau lưng Pôn Pốt luôn có sự hậu thuẫn đến từ các nước được cho là “Liên hiệp quốc”? Nếu chúng ta rút hết quân về nước, đó mới là phạm vào đại kỵ của binh gia. Ngày xưa Hạng Vũ vì quá trượng nghĩa mà tha cho Lưu Bang nhiều lần, dù trên chiến trường Lưu Bang luôn thất bại trước Hạng Vũ, nhưng chính vì không nhổ cỏ tận gốc, không đánh dập đầu rắn để rồi sau này chỉ một trận ở Cái Hạ đã làm cho nước Sở và Hạng Vũ mang mối hận ngàn thu (tất nhiên sự việc và bản chất của hai sự kiện này không giống nhau).


Bởi thế, QĐND Việt Nam vào tận sào huyệt của để đào tận gốc, tróc tận rễ, tiêu diệt hết giống loài lang sói là việc làm chính nhân để chiến thắng bất nhân, giúp chính quyền Campuchia xây dựng lực lượng đủ sức chiến đấu và chiến thắng quân Pôn Pốt đó là chính nghĩa và được nhân dân Campuchia ủng hộ nhiệt thành! Chính quyền Campuchia lúc đó là sự lựa chọn của lịch sử, của những người dân Campuchia, chúng ta chỉ hỗ trợ, giúp đỡ chứ không hề “dựng lên” theo ý của chúng ta.


Ngày 07/1/1979 là ngày mà cả nhân loại không thể nào quên khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiến vào Phnôm Pênh. Sự trợ giúp hào hiệp, chí tình của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cứu rỗi đất nước Chùa tháp, thoát hoạ diệt chủng, giúp họ tái sinh và có cơ đồ như hôm nay.  Cựu Quốc vương Xi-ha-núc từng khẳng định: “Nếu họ (Việt Nam) không đánh đuổi bọn Pôn Pốt thì tất cả mọi người (Cam-pu-chia) có thể đã bị chết. Không chỉ riêng tôi mà là mọi người, chúng (Khơ-me Đỏ) đã có thể giết chết tất cả chúng ta, ít nhất thì chúng ta cũng đã được sống sót và chính vì điều này mà chúng ta có thể nói rằng, Đảng Nhân dân Cam-pu-chia đã không mắc sai lầm khi đề nghị Việt Nam giúp đỡ chống Khơ-me Đỏ,  bởi vì nếu chúng ta không được giải phóng khỏi bọn Pôn Pốt thì toàn dân tộc có thể đã bị tiêu diệt”. Vậy nên đừng ai vô ơn, xúc phạm sự hy sinh cao cả của Quân đội nhân dân Việt Nam để cứu rỗi nhân dân Campuchia./

BẠO LOẠN TẠI KAZAKHSTAN, KỊCH BẢN MÙA XUÂN Ả RẬP LẶP LẠI


Tháng 12/2010, một người bán hàng rong tên là Mohamed Bouazizi đã tự thiêu trước Tòa thị chính sau khi Chính quyền nơi đây không xem xét giải quyết khiếu nại của anh ta để phản đối việc bị một nữ Thanh tra Cảnh sát tát vào mặt khi Bouazizi phản đối việc thu giữ gánh hàng rong của anh ta do buôn bán lấn chiếm lòng đường và Bouazizi sau khi mặc cả với viên Thanh tra Cảnh sát về “7 USD làm luật” đổi lại gian hàng của anh không bị tịch thu nhưng Cảnh sát không đồng ý và tịch thu xe hàng của anh! (nghe có vẻ quen ở xứ nào đó khi nghèo được lấy làm lý do đứng trên Luật đã khiến nhiều Công an phải bị kỷ luật chỉ vì làm đúng quy định pháp luật).


Theo các luồng thông tin thì Mohamed Bouazizi là một người thất nghiệp nhiều năm và anh tự thiêu đúng thời điểm Thủ tướng Ali Larayedh tham dự bỏ phiếu tín nhiệm từ Quốc hội lập hiến quốc gia đối với Chính phủ Hồi giáo của ông. Việc bỏ phiếu tín này nếu thông qua sẽ quốc gia Tunisia có được Chính phủ mới với hệ thống chính trị đảm bảo kết thúc những căng thẳng trong nội bộ đảng Ennahda và nhiều người Tunisia hy vọng điều này sẽ dẫn đến chấm dứt cuộc khủng hoảng chính trị ở quốc gia Bắc Phi, đồng thời những cải cách hành chính mà trước đó ông Ali Larayedh khi còn là Bộ trưởng Nội vụ đã cho thực hiện đều đang mang lại hiệu quả, tỉ lệ thất nghiệp ở nước này giảm từ 21% xuống 17%. Và rõ ràng nếu cuộc bỏ phiếu này thuận lợi thì chẳng còn “cơ hội” nào can thiệp được vào quốc gia này khi nó đang bắt đầu đi đúng hướng! Thời điểm chuyển giao quyền lực luôn là “Thời Cơ” tốt nhất để thực hiện âm mưu “lật đổ, bạo loạn”!


Hình ảnh của Bouazizi đã khơi dậy sự bi phẫn của người dân Tunisia lâu nay bị bị o ép bởi sự phân biệt chủng tộc và tôn giáo, dẫn tới một loạt cuộc biểu tình ở Tunisia. Được hà hơi và giúp sức bởi tầng lớp trí thức chống đối Chính quyền do Mỹ nuôi dưỡng… Bởi những thành phần trí thức luôn có tư tưởng cấp tiến theo hệ thức DÂN CHỦ KIỂU MỸ trước một chế độ chỉ cần nắm quyền lâu dài thì được gán là “độc tài”, các tổ chức, cá nhân có tư tưởng chống đối đã được Hoa Kỳ xây dựng từ năm 2007 và đã gây được tiếng vang khi buộc Chính quyền đương nhiệm phải tổ chức tổng tuyển cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu, tuy nhiên ngày 25 tháng 10 năm 2009, cuộc tuyển cử quốc gia đã được tổ chức tại Tunisia. Cuộc tuyển cử gồm một cuộc bầu cử tổng thống và một cuộc bầu cử nghị viện. Tổng thống đương nhiệm Zinedine Ben Ali giành một thắng lợi lớn, với 89.62% số phiếu. Đối thủ chính của ông, Mohamed Bouchiha, nhận được 5.01% số phiếu, sau được bổ nhiệm vào vị trí Thủ tướng. Nhưng vì năng lực điều hành Mohamed Bouchiha kém nên ông ta đã bị thay thế bởi Ali Larayedh…


Và...cuộc biểu tình rộng lớn đã khiến cho Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali – người cầm quyền Tunisia suốt 22 năm phải bỏ chạy chỉ sau … 2 tuần. Cơn địa chấn cũng nhanh chóng lan ra các nước bên cạnh, tạo nên làn sóng được mang tên “Mùa xuân Ả-rập”. Sự “thành công” mà Hoa Kỳ và phương Tây lên tiếng khen ngợi như “bước tiến mới của quá trình Dân Chủ ở Trung Á” của Tunisia đã lan sang các quốc gia láng giềng bên cạnh, đó là Algeria, Jordan, Ai Cập và Yemen. Tổng thống Mubarak, người đã cai trị Ai Cập trong 3 thập kỷ nhanh chóng bị lật đổ. Tổng thống Yemen, Ali Abdullah Saleh, sau 32 năm cầm quyền cũng xin từ chức để được miễn tội.


Trước đó, Hoa Kỳ chỉ đứng ngoài đổ tiền cho các Tổ chức, cá nhân trong từng dân tộc và Đất nước đang có “Mùa xuân Ả-Rập” cháy đến cùng sự hỗ trợ của lực lượng CIA để khiến đám cháy càng lúc càng to! Tuy nhiên, khi ngọn lửa này lan đến Lybia và bị Gadhafi dùng quân sự chặn đứng thì 15 quốc gia phương Tây do Hoa Kỳ làm thủ lĩnh đã thành lập Liên minh, đem không quân và hải quân tới thực thi khu vực cấm bay và phong tỏa hải quân nước này. NATO, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ, Pháp, Ý, đã tiến hành không kích vào lực lượng của ông Gadhafi để hỗ trợ quân nổi dậy. Kết quả: Gadhafi nhanh chóng bị “quật đổ”, bị kéo lên từ ống cống, và nhận đủ sự lăng trì của những kẻ mà trước đó còn gọi ông là người cha tinh thần. Lybia bị đánh sụp!


“Mùa xuân Ả-Rập” đã cháy liên tục suốt 8 năm, cháy qua gần chục Quốc gia. Nhưng “Mùa xuân” là thời điểm đem đến những may mắn, cơ hội và hy vọng để mở đầu cho cái mới tốt đẹp thì Mùa xuân Ả-rập lại...


1. Trước khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: Tunisia là đất nước hợp pháp hóa nạo thai, giáo dục đứng thứ 17, và quyền phụ nữ sánh ngang với các nước Châu Âu. Về kinh tế, Tunisia được xếp hạng là nền kinh tế có tính cạnh tranh cao nhất châu Phi và đứng hàng 40 thế giới theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới.


Sau khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: Phụ nữ quay trở lại thế kỷ XV về quyền của bản thân, kinh tế èo uột. Và chính trị lâm vào bế tắc. Thất nghiệp tăng lên hơn 40%, các chính phủ Dân Chủ lần lượt lên rồi xuống, hiếp dâm, mai thuý hoành hành. Hơn 3.000 người Tunisia vốn trước đó là nông dân thì nay đang chiến đấu cho các nhóm khủng/bố Hồi giáo tại Iraq và Syria.


2. Trước khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: Ai Cập tĩnh lặng như Kim Tự Tháp, du lịch phát triển và người dân sống bên sông Nile.


Sau khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: Ai Cập cứ 1 năm 6 tháng thay 1 tổng thống, biểu tình xảy ra khắp nơi. Và nữ phóng viên Châu Âu bị hiếp dâm đều đều nếu cứ lang thang vào đó đưa tin.


3. Trước khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: tổng thống Gaddafi hồi còn tại vị đã đưa ra sắc lệnh “có nhà ở được coi là một quyền tự nhiên của con người và được chính phủ cấp miễn phí.” Nhắc lại, cấp miễn phí. Người dân Libya được dùng điện miễn phí. Xăng thì chỉ có giá 0,14 USD/lít. Thủ tướng Ý hôn tay Gaddafi và “Xin lỗi vì đã đô hộ, tôi đền bù 2 tỷ đô cho Lybia” (Pháp sao không làm vậy với Donglao đi).


Sau khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: Gaddafi hiện lên là tên dam dang và khát m.á.u, đất nước vô chính phủ trong một thời gian dài. Mọi công lao của ông bị phủ nhận sạch trơn. Trong khi đó, Sakozy, cái tay tổng thống Pháp đi đầu trong việc không kích Lybia, chính là người đã được Gaddafi cho tiền để tranh cử cách đó 5 năm (Mới bị khui và bị bắt gần đây).


4. Trước khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: Syria bình an và Damacus luôn là điểm đến đẹp đẽ của một chứng nhân về vương quốc hồi giáo từng thống trị thế giới.


Sau khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: Hàng ngàn người c.h.ế.t, hơn triệu người tàn phế, thương tật vĩnh viễn và hàng triệu dân thường chạy nạn sang châu Âu-Mỹ.


5. Trước khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: người dân Trung Đông tuy được cho là nghèo khổ nhưng họ sáng đi làm, tối về ngủ trong mái nhà, hàng ngày vẫn vui chơi với con cái và người thân!


Sau khi “Mùa xuân Ả Rập” xảy ra: hàng triệu người Trung Đông phải bán nhà, bán đất đem tiền cho bọn tổ chức vượt biên qua Biển để trốn khỏi vùng đất chiến tranh, hàng trăm ngàn người đã nằm lại dưới đáy biển, hàng triệu người sống vất vưởng trong các trại tị nạn ở khắp Nam Âu và Tây Âu, hàng ngàn bé gái bị bắt cóc, hãm h.i.ế.p, bị biến thành nô lệ tình dục. Hàng trăm phụ nữ châu Âu bị đàn ông Trung Đông hãm h.i.ế.p… (viết nữa cũng không hết).


KẾT: “Mùa xuân Ả Rập” lại trở thành “Mùa xuân chết chóc”. Cần lưu ý: Biểu tình lật đổ chế độ bị Hoa Kỳ-phương Tây gọi là “độc tài”, lật đổ rồi thì những nước lớn lại nhảy vào nhúng tay với câu cửa miệng “Nhân quyền cao hơn Chủ quyền” để từ đó “đào” tài nguyên ở những nước đó và mang lại “nền Dân Chủ …. chết chóc” ! Tất cả lợi ích cuối cùng chỉ dành cho 1 nhóm nhỏ. Còn người dân ư ? Giờ họ vẫn đang tiếp tục các cuộc Maidan mà chả biết tương lai ở đâu. Mùa xuân ả rập là bài học cho lãnh đạo nhiều Quốc gia trong việc đối phó với những cuộc cách mạng màu do Mỹ-Phương Tây đạo diễn và giật dây./.

VÌ CHÚNG CÙNG MỘT PHƯỜNG HỦ HÓA!


Hiện nay, thầy ông nội Lê Tùng Vân cùng các tu sĩ trong Tịnh thất bồng con đang cùng bị điều tra vì liên quan đến 3 tội danh  "Loạn luân", "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân". Trong đó, hiện nay trước mắt, cơ quan điều tra tỉnh Long An đã tiến hành khởi tố bị can đối với ông Lê Tùng Vân và 3 tu sĩ về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân" theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015, bổ sung sửa đổi năm 2017.


Phải thừa nhận thực tế rằng, đây không phải là tội danh mà dư luận muốn cơ quan điều tra làm rõ trước tiên mà họ muốn giải bài tập sinh học về quan hệ huyết thống trong cái thiền am, tịnh thất này. Tuy nhiên, đối với số rân chủ, số BBC, VOA, RFA, mỗi khi cứ động đến khởi tố mà có mấy từ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” là tất cả chúng đều nhảy dựng ngược hết cả lên, đều trở thành người bạn thân thiết của chúng. Chúng biến sự sai trái của những con người trong tịnh thất này trở nên hư không, trở thành cái cớ để cơ quan điều tra vi phạm “tự do, dân chủ” của công dân như cái thói quen gào mồm hàng ngày ta vẫn thấy. 


Nói như cách mà nhạc sĩ biến chất Tuấn Khanh nhắn tin bí mật và được công khai trên Á Châu tự do (RFA) thì đây là cách thức mà công an Việt Nam tìm cách hạn chế, thậm chí diệt trừ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam.


Việc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của những đối tượng trong Tịnh thất bồng lai là khá rõ ràng, sự lợi dụng này đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân là không thể chối cãi. Chẳng hiểu có sự tự do tín ngưỡng, tôn giáo nào ở phương Tây cho phép con người ta sống quần thể như thời mông muội nguyên thủy, và chẳng có tín ngưỡng, tôn giáo nào cho phép người khác lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo mình để bêu xấu, kiếm lời cho những kẻ đó. Cho nên việc khởi tố, điều tra về tội danh trên là hoàn toàn hợp lý. 


Và câu trả lời cho câu hỏi vì sao đám rân chủ, phản động, đám báo đài nước ngoài như BBC, RFA, VOA…lại tỏ ra thương xót cho thầy ông nội là bởi vì chúng là cùng một phường hủ hóa như nhau. Cùng là những kẻ vì đồng bạc lẻ mà bán rẻ bản thân, sống trái luân thường đạo lý, bắt kẻ khác phải ăn ngủ với chủ chúng nó mà thôi. 

10 “bệnh” Bác Hồ dạy cán bộ, đảng viên phải sửa

 Ngày 3/2/1969, Bác viết bài cuối cùng về đạo đức, Trong tác phẩm "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", Bác đã chỉ ra các loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân là: bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh vô thực” (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều); bệnh cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tỵ nạnh; bệnh xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh.

Bác căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải “Nâng cao đạo đức cách mạng. Quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Vì như Bác nói: “Chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ địch ở bên trong. Địch ở bên trong đáng sợ hơn, nó phá hoại từ trong phá ra”. Và Bác đã coi chủ nghĩa cá nhân như là một thứ rác rưởi, cho nên Bác dặn phải “quét sạch”. Bác đã chỉ bảo cho chúng ta nhận biết những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân để quét sạch nó đi.
1. Bệnh quan liêu: Quan liêu là bệnh của những người và những cơ quan lãnh đạo xa rời thực tế, xa nhân dân, mất dân chủ. Các ông quan liêu khi được phân công phụ trách ở vùng nào, việc gì thì như ông vua con, tha hồ hạch sách, hoạnh họe ở vùng ấy, lĩnh vực ấy. Đối với cấp trên thì xem thường, với cấp dưới cậy quyền lấn át, với quần chúng thì quan cách. Bệnh quan liêu để lại những hậu quả nặng nề đối với Đảng, Nhà nước và xã hội trước hết là tham ô, lãng phí. Do đó muốn diệt trừ sạch tham ô, lãng phí thì cần phải diệt giặc quan liêu”.
2. Bệnh tham lam: Những người mắc bệnh này đều đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc. Chữ tôi to hơn chúng ta, không lo mình vì mọi người, mà chỉ muốn mọi người vì mình. Do đó họ tự tư tự lợi, dùng của công làm việc tư, dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình, tham ô, hủ hóa, sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi”.
3. Bệnh lười biếng: Tự cho mình cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết, làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Ngại khó khăn gian khổ. Việc dễ thì tranh lấy của mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm tìm cách trốn tránh”.
4. Bệnh kiêu ngạo: Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng. Không muốn người khác phê bình mình. Việc gì cũng muốn làm thày người khác”.
5. Bệnh hiếu danh, tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại: Vì tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chứ không ham làm công tác thiết thực”.
6. Bệnh hữu danh vô thực: Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít, xuýt ra nhiều, để làm một báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ thì rỗng tuếch”.
7. Bệnh cận thị: Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chút những việc vụn vặt. Những người như thế chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy lợi hại to lớn”.
8. Bệnh tỵ nạnh: Cái gì cũng muốn bình đẳng, sinh ra hiểu lầm hai chữ bình đẳng, không hiểu rằng người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ, người làm việc nặng thì phải ăn nhiều, người làm việc ít, việc dễ thì ăn ít thế mới bình đẳng”.
9. Bệnh xu nịnh a dua: Những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”.
10. Bệnh kéo bè kéo cánh: Ai hợp với mình thì dù xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người ta xuống. Từ đó đi đến bè phái chia rẽ, mất đoàn kết, thiếu tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước”.
Sự phân tích hệ thống, sâu sắc, chính xác của Hồ Chí Minh về những biểu hiện chính của chủ nghĩa cá nhân dưới các dạng bệnh cho thấy hệ thống này đối lập với đạo đức cách mạng, có hại cho cách mạng. Trong Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Người viết: “Tóm lại, do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm”. Hiện nay, những tật bệnh bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân vẫn đang tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm giảm sút niềm tin của nhân dân. Ôn lại những lời dạy của Hồ Chí Minh là cơ sở để cán bộ, đảng viên tự phê bình, phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 ( khóa XII)"Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" và thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất cấp bách, quan trọng và thường xuyên. Đẩy mạnh học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân góp phần hạn chế và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong gương mẫu trong học tập và làm theo Bác, góp phần chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, làm cho nội bộ Đảng và tổ chức cơ sở đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.

NHỮNG CĂN BỆNH TỪ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN MÀ RA.

 Như chúng ta đã biết, lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn, cách mạng và những người cách mạng phải chiến thắng ba kẻ thù: Chủ nghĩa tư sản và bọn đế quốc; Thói quen và truyền thống lạc hậu; Chủ nghĩa cá nhân.

Hồ Chí Minh gọi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ địch bên trong. Người so sánh: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Vì vậy, tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh là kiên quyết chống mọi kẻ thù. đồng thời với đấu tranh đến cùng chống ngoại xâm theo tinh thần “ hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi ”, phải kiên quyết “ quét sạch chủ nghĩa cá nhân ”. Người nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, là bệnh chính, bệnh mẹ sinh trăm thứ bệnh nguy hiểm khác.

Những loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân mà Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong tác phẩm nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân và nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết trước đó, thể hiện như:

          1). Bệnh quan liêu: Quan liêu là bệnh của những người và những cơ quan lãnh đạo xa rời thực tế, xa bộ đội, xa nhân dân, mất dân chủ. Các ông quan liêu khi được phân công phụ trách ở vùng nào, việc gì thì như một ông vua con, tha hồ hạch sách, hoạch họe ở vùng ấy, lĩnh vực ấy. Đối với cấp trên thì xem thường, với cấp dưới cậy quyền lấn át, với quần chúng thì quan cách. Bệnh quan liêu để lại những hậu quả nặng nề đối với Đảng, Nhà nước và xã hội, trước hết là tham ô, lãng phí. Do đó, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí cần phải tiêu diệt bệnh quan liêu.

          2). Bệnh tham lam: Những người mắc phải bệnh này, đều đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, chà đạp lên lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Do đó, họ “tự tư, tự lợi”, dùng của công làm việc tư, dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình, tham ô, hủ hóa, sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi.

          3). Bệnh lười biếng: Tự cho mình cài gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ, ngại khó khăn, gian khổ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùng cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách trốn tránh.

          4). Bệnh kiêu ngạo: Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang, vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn người khác phê bình mình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác.

5). Bệnh hiếu danh: Tham danh, trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Vì tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực.

6). Bệnh hữu danh vô thực: Làm việc không thiết thực, không từ chổ gốc, chổ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ thì lại rỗng tuếch.

          7) Bệnh cận thị: Không trông xa, thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc vụn vặt. Những người như vậy chỉ trông thấy sự lợi, hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi, hại to lớn.

8) Bệnh tị nạnh: Cái gì cũng muốn “bình đẳng”,  sinh ra hiểu lầm hai chữ “bình đẳng”. Không hiểu rằng người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. thế mới là bình đẳng.

9). Bệnh xu ninh a dua: Những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái.

10). Bệnh kéo bè, kéo cánh: Ai hợp với minh thì người xấu cũng cho là tốt, việc dỡ cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt vẫn cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Từ đó đi đến bè phái, chia rẽ, mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, kỷ luật, kém tinh thần cách mạng, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Sự phân tích hệ thống, sâu sắc, chính xác của Hồ Chí Minh về những biểu hiện chính của chủ nghĩa cá nhân dưới các dạng bệnh cho thấy hệ thống này đối lập với đạo đức cách mạng, có hại cho cách mạng…Xuất phát từ những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở để cán bộ đảng viên, công chức, viên chức phải không ngừng học tập và rèn luyện, tự phê bình và phê bình dưới sự giám sát, góp ý của nhân dân,  nâng cao đạo đức cách mạng, quyết tâm chống chủ nghĩa cá nhân./.

Nhận diện và chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên phê phán, nhắc nhở: chủ nghĩa cá nhân là đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của dân tộc; là kẻ thù của cách mạng, là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm tha hóa Đảng. Người chỉ ra các loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân là: bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh vô thực”; bệnh tị nạnh; bệnh nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh…

Tác hại của chủ nghĩa cá nhân vô cùng to lớn, hiện nay trong Đảng vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên chưa thấy hết được tác hại của chủ nghĩa cá nhân, của lối sống cá nhân chủ nghĩa và như vậy chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên thì khi đó sẽ còn là một trở ngại lớn đối với tổ chức đảng và ngay chính bản thân của người cán bộ, đảng viên trong quá trình phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu chống mà còn phải trừ bỏ, quét sạch chủ nghĩa cá nhân; đồng thời Người cũng nêu rõ sự cần thiết phải phân biệt chủ nghĩa cá nhân với lợi ích cá nhân chính đáng. Người chỉ rõ “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Nhưng lại phải thấy rằng, chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình”. “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”.

Những gì về chủ nghĩa cá nhân mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra luôn được Đảng ta, các thế hệ cán bộ, đảng viên quán triệt và phòng tránh. Nhiều cán bộ lãnh đạo, đảng viên đã nêu cao đạo đức cách mạng, phát huy tinh thần làm chủ tập thể; cống hiến trí, lực, mô hôi và xương máu, thậm chí hy sinh cả tính mạng. Những thành quả của cách mạng Việt Nam giành được từ trước đến nay là thực tế sinh động để chứng minh cho điều này.

Tuy nhiên hiện nay, chủ nghĩa cá nhân vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, thậm chí phức tạp và tinh vi hơn. Chủ nghĩa cá nhân vừa là nguyên nhân, vừa là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) ngày 30-10-2016 nêu rõ: “Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”.

Trung ương cũng chỉ rõ sự suy thoái về đạo đức, lối sống mà biểu hiện hàng đầu là: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”. Một biểu hiện của sự suy thoái là tình trạng “Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”.

Vì vậy, nhận diện và đấu tranh chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân là trách nhiệm không của riêng ai; là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Trước hết mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải nêu cao ý thức tự rèn luyện, tự bảo vệ mình trong sạch về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; chủ động và tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái. Mỗi người trong thực hiện nhiệm vụ, thực thi công vụ phải thống nhất giữa nói và làm, giữa dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, nhất là trong phòng, chống và đấu tranh với các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, góp phần xây dựng hình ảnh, uy tín người cán bộ, đảng viên trong thời kỳ mới.

Các cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần phân tích, làm rõ tác hại của chủ nghĩa cá nhân. Phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách đảng viên; khắc phục mọi biểu hiện cơ hội, thực dụng, mơ hồ mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu và những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Các cấp ủy đảng cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh; đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa thiết thực, khả thi; kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”, nói đi đôi với làm, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất hiện nay. Quá trình tiến hành kiểm điểm phải bảo đảm thật sự dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần xây dựng, đúng yêu cầu, nội dung, cách làm. Cấp trên phải làm gương tự phê bình trước, cấp dưới làm sau; tập thể làm trước, cá nhân làm sau; các đồng chí trong thường vụ, cấp ủy viên cấp trên gương mẫu, nghiêm túc tự phê bình và phê bình, làm gương cho cấp dưới.

Đồng thời phát huy tốt vai trò của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát, tích cực đấu tranh, phê phán những hành động sai trái của cán bộ, đảng viên, góp phần phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, phòng chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức, làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, sơ tổng kết, rút kinh nghiệm gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị; các cấp ủy đảng cần có nghị quyết lãnh đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, góp phần quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa cơ quan, đơn vị; đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai những cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng.

Nhận diện bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi, đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung. Quan liêu xa rời quần chúng, không đi sâu đi sát, không hiểu rõ lai lịch, tư tưởng và công tác của cán bộ mình. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Sợ phê bình và tự phê bình”(1). Người chỉ rõ sở thích của những cán bộ mắc bệnh quan liêu là thích dùng mệnh lệnh, “thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”(2); “ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hành hơn hết thảy, định đoạt mọi công việc, ở địa phương nào thì coi đó là một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích của toàn cục”(3). Người nhấn mạnh: “Số người đó coi Đảng như cái cầu thang để thăng quan phát tài. Họ không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình. Họ quên rằng mỗi đồng tiền, hạt gạo đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân, do đó mà sinh ra phô trương, lãng phí. Họ tự cho mình có quyền sống xa hoa, hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”(4).

Như vậy, có thể hiểu: quan liêu là cách lãnh đạo thoát ly thực tế, đại khái, chung chung, chuộng hình thức, nặng về giấy tờ, ít kiểm tra, thiếu dân chủ, thích dùng mệnh lệnh hành chính, xa nhân dân, coi thường nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, bảo thủ, hách dịch, chuyên quyền, độc đoán, thậm chí ức hiếp cán bộ cấp dưới và nhân dân.

“Chủ nghĩa cá nhân” là thế giới quan dựa trên cơ sở đối lập quyền lợi cá nhân riêng lẻ với quyền lợi của xã hội, đặt quyền lợi của cá nhân trên quyền lợi tập thể(5). Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, những người mắc vào chủ nghĩa cá nhân “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”... ngại khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”(6). Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đường lối chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(7).

“Lối sống” là toàn bộ lề thói, cách thức cư xử, ăn, ở của một người, một tập thể người trong xã hội, thể hiện trong các lĩnh vực hoạt động từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người.

Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng nhất định, họ phải tuân thủ những quy tắc nhất định của cộng đồng, dần dần thành thói quen và trở thành lối sống cá nhân. Lối sống cộng đồng là những quy tắc được thừa nhận rộng rãi trong một cộng đồng người nào đó, được mọi thành viên tuân thủ gần như vô điều kiện và trở thành đương nhiên. Như vậy, lối sống là một thói quen có định hướng, thể hiện những đặc trưng văn hóa của mỗi người hay một cộng đồng.

Lối sống có sự thay đổi theo các điều kiện sống, sự thay đổi đó không phải lúc nào cũng mang tính tích cực, có không ít lối sống thay đổi theo hướng tiêu cực.

Lối sống quan hệ mật thiết với lẽ sống. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “lẽ” là điều thường thấy ở đời, được coi là hợp với quy luật, với đạo lí(8). “Lẽ sống” chính là lối sống của cá nhân hay một cộng đồng người hợp đạo lý, hợp quy luật, là lối sống tiến bộ, được duy trì, phát triển cùng với sự phát triển, tiến bộ của con người và xã hội.

Như vậy, lẽ sống là nhân lõi của lối sống, quy định ý thức, tình cảm và mục tiêu của lối sống. Bởi vậy, để xây dựng lối sống tốt đẹp trong xã hội phải đặc biệt quan tâm xây dựng lẽ sống đúng đắn, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc và thời đại, giữ gìn lối sống tốt, loại bỏ lối sống xấu.

Lối sống tốt đẹp của con người là lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, tiết kiệm, vì tập thể, vì mọi người, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích tập thể và đất nước... Người có lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm là người có lập trường tư tưởng không vững vàng, bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc, say mê quyền lực, địa vị, khéo luồn lách, nịnh bợ, kéo bè, kết cánh, “móc ngoặc” trên dưới, trong ngoài để đạt mục đích cá nhân. V.I.Lênin chỉ rõ, những người cơ hội là những người lừng chừng về chính trị, họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”(9).

Lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái là biểu hiện của suy thoái đạo đức, lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra. Đây là biểu hiện thứ nhất trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

“Lợi ích nhóm” là biểu hiện của suy thoái về đạo đức, lối sống.

Quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là các tệ nạn nguy hiểm đối với Đảng và chế độ. Những tệ nạn này có mối quan hệ với nhau và liên quan đến suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm cho các tệ nạn này không còn khả năng phát triển, giảm dần, hạn chế và bị loại trừ.

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy lùi suy thoái về đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên

 Chủ nghĩa cá nhân là lối sống tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, tự do cá nhân, hướng tới thỏa mãn những nhu cầu bản năng; đề cao những mục đích vụ lợi, hưởng lạc, hạ thấp hoặc hy sinh lợi ích tập thể, cộng đồng và xã hội để bảo vệ lợi ích cá nhân của họ.

Chủ nghĩa cá nhân có nhiều biểu hiện khác nhau từ việc chỉ biết mình, lợi ích của mình mà không quan tâm, vô cảm, bàng quan trước những mất mát, khó khăn của đồng loại, trước lợi ích của người, của tập thể; ngại làm việc khó, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, “dĩ hòa vi qu‎ý”… đến kéo bè kéo cánh, cục bộ, tùy tiện, vô nguyên tắc…

Tác hại của chủ nghĩa cá nhân vô cùng lớn, là nguyên nhân sinh ra đủ thứ bệnh nguy hiểm. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh đã chỉ ra 10 loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân cần nhận diện và phòng chống, đó là các chứng bệnh: Quan liêu; tham lam; lười biếng; kiêu ngạo; hiếu danh; “hữu danh vô thực” (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều); bệnh cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng); bệnh tỵ nạnh; xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh. Hồ Chí Minh khẳng định, chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội, là giặc nội xâm, kẻ địch ở bên trong, là thứ vi trùng rất độc, là bệnh chính, bệnh mẹ sinh ra trăm thứ bệnh khác. Và như vậy, suy cho cùng khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân đồng nghĩa với sự suy thoái về tư tưởng chính trị và cả về đạo đức, lối sống, sẽ làm mất lòng tin của nhân dân với Đảng.

Tác hại của chủ nghĩa cá nhân vô cùng to lớn, hiện nay trong Đảng vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên chưa thấy hết được tác hại của chủ nghĩa cá nhân, của lối sống cá nhân chủ nghĩa và như vậy chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên thì khi đó sẽ còn là một trở ngại lớn đối với tổ chức đảng và ngay chính bản thân của người cán bộ, đảng viên trong quá trình phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc.

Vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình hiện nay vừa được xem là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của toàn Đảng. Để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả cần chú trọng những giải pháp cơ bản sau:

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải coi việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; thực hiện nghiêm quy định những điều đảng viên không được làm. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tuyên truyền sâu rộng trong nội bộ Đảng, trong nhân dân về tác hại và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, để từ đó nhận diện rõ và có biện pháp ngăn chặn kịp thời; qua đó tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên.

Thứ hai, thường xuyên thực hành dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, qua đó phát huy vai trò của mỗi cán bộ, đảng viên trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Kinh nghiệm cho thấy, ở đâu mở rộng dân chủi, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng được nâng cao, hạn chế được chủ nghĩa cá nhân. Hơn nữa, thực hành dân chủ trong Đảng là cơ sở để thực hành dân chủ rộng rãi trong toàn xã hội, phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Thứ ba, thường xuyên tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, trở thành nền nếp trong sinh hoạt của các cấp uỷ, tổ chức đảng, xem đây là một công cụ sắc bén trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Phải lôi cuốn, hoan nghênh, khuyến khích nhân dân phê bình cán bộ, đảng viên. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải lắng nghe, thật thà tiếp thu các ý kiến góp ý của nhân dân, tích cực, nghiêm túc tự khắc phục, sửa chữa những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm. Định kỳ lấy ‎ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Xử l‎ý nghiêm mọi cán bộ, đảng viên vi phạm về trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên.

Thứ tư, coi trọng xây dựng quy chế làm việc và thực hiện đúng quy chế, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cá nhân trong tổ chức, nhất là thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu, của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc; kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, về hành vi đạo đức, lối sống, giữa nói và làm.

Thứ năm, có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức đảng với mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy vai trò của các cơ quan thông tin, truyền thông đại chúng để kiên quyết trong đấu tranh với mọi biệu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc đấu tranh thường xuyên và lâu dài, phức tạp, thậm chí có cả mất mát, hy sinh, đòi hỏi phải thực hiện một cách quyết liệt, triệt để với nhiều giải pháp đồng bộ, kiên trì và liên tục. Thực hiện tốt những giải pháp này kết hợp tốt với đề cao kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và thực thi luật pháp sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa chủ nghĩa cá nhân nảy sinh trong cán bộ, đảng viên.

3 LẦN BÁC THĂM VĂN MIẾU


Trên cương vị Chủ tịch nước, mặc dù rất bận rộn nhưng Người đã dành thời gian đến thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám ba lần (1945, 1960 và 1962), trong đó, lần đầu tiên vào ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công.

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

CAMPUCHIA MÃI BIẾT ƠN NHỮNG HY SINH XƯƠNG MÁU CỦA QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM

      Thủ tướng Campuchia Hun Sen khẳng định điều này nhân kỷ niệm 43 năm Ngày Chiến thắng mùng 7 tháng Giêng năm 1979.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen khẳng định: "Sự thật của lịch sử: Nếu không có chiến thắng ngày 7 tháng Giêng thì chúng ta không còn tính mạng đến hôm nay và cũng không có được những thành quả như bây giờ. Việc nhắc lại sự kiện lịch sử này nhằm gợi nhớ lại những tội ác man rợ do chế độ diệt chủng Pol Pot tiến hành đối với Tổ quốc và nhân dân Campuchia và cũng nhớ về những công ơn vô cùng to lớn của các cán bộ, thanh niên, chiến sỹ thuộc mặt trận đoàn kết cứu quốc Campuchia và quân tình nguyện Việt Nam đã hi sinh xương máu của mình nhằm lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn chặn chế độ tàn độc này quay trở lại.”

Trong thông điệp gửi tới người dân, nhân kỷ niệm 43 năm Ngày Chiến thắng mùng 7 tháng Giêng, Thủ tướng Campuchia kiêm Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) Samdech Techo Hun Sen hôm nay (7/1) nêu rõ, sự kiện ngày 7 tháng Giêng nhắc nhở nhân dân Campuchia về những thảm kịch khủng khiếp mà đất nước đã phải trải qua, và giá trị tinh thần của ngày 7 tháng Giêng là bất diệt đối với dân tộc và nhân dân Campuchia trong việc tiến lên trên con đường độc lập, hòa bình, tự do, trung lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Trong thông điệp, Thủ tướng Hun Sen cũng nêu rõ, sự kiện lịch sử này sẽ gợi nhớ về những tội ác man rợ do chế độ diệt chủng Pol Pot thực hiện đối với người dân Campuchia và nhắc tới những công ơn vô cùng to lớn của các cán bộ, thanh niên, chiến sỹ thuộc mặt trận đoàn kết cứu quốc Campuchia và quân tình nguyện Việt Nam đã hi sinh xương máu của mình nhằm lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn chặn chế độ tàn độc này quay trở lại. Cùng với đó, Thủ tướng Hun Sen cũng xin cúi đầu cầu nguyện cho linh hồn của hàng triệu người dân bị giết oan uổng và bi thảm dưới chế độ Khmer Đỏ.

Nhân dịp này, Thủ tướng Hun Sen kêu gọi đồng bào khắp nơi tiếp tục đoàn kết xây dựng và bảo vệ đất nước, hướng tới một tương lai vẻ vang và tươi đẹp, không còn chiến tranh và diệt chủng như trước đây./.

Yêu nước ST.

QUY ĐỊNH MỚI VỀ ĐỘ TUỔI CÁN BỘ ĐƯỢC QUY HOẠCH!

      Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng vừa ký ban hành Quy định 50 về công tác quy hoạch cán bộ, trong đó nêu rõ tiêu chuẩn, điều kiện, độ tuổi, cơ cấu, số lượng…

Quy định đưa ra 5 nguyên tắc, trong đó nêu rõ phải bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, liên thông, công khai, minh bạch trong công tác quy hoạch cán bộ.

Quy định cũng nêu rõ, thực hiện phương châm quy hoạch "động" và "mở". Hàng năm đánh giá, rà soát để kịp thời đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bổ sung vào quy hoạch những nhân tố mới từ nguồn nhân sự tại chỗ hoặc nguồn nhân sự từ nơi khác đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có triển vọng phát triển.

Theo Quy định 50, tiêu chuẩn đối với cán bộ quy hoạch, cơ bản thực hiện như tiêu chuẩn bổ nhiệm đối với chức danh theo quy định hiện hành. Tại thời điểm quy hoạch, cấp có thẩm quyền có thể xem xét, phê duyệt quy hoạch đối với những cán bộ cơ bản đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh bổ nhiệm theo quy định.

Về độ tuổi, cán bộ được quy hoạch nhiệm kỳ kế tiếp phải đủ tuổi công tác 2 nhiệm kỳ trở lên, ít nhất phải trọn một nhiệm kỳ kế tiếp đó (60 tháng). Khi rà soát, bổ sung quy hoạch hằng năm cho nhiệm kỳ hiện tại, cán bộ đưa vào quy hoạch phải còn đủ tuổi công tác ít nhất từ 72 tháng trở lên.

Thời điểm tính tuổi quy hoạch đối với quy hoạch nhiệm kỳ kế tiếp đối với chức danh cấp ủy, lãnh đạo cấp ủy, các ban, cơ quan của Đảng, ủy ban kiểm tra là thời điểm tiến hành đại hội đảng bộ các cấp; chức danh lãnh đạo, quản lý các cơ quan Nhà nước là thời điểm bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp; chức danh lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là thời điểm đại hội các cấp của mỗi tổ chức.

Hệ số quy hoạch cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp từ 1 - 1,5 lần so với số lượng theo quy định. Mỗi chức danh quy hoạch không quá 3 cán bộ và một cán bộ quy hoạch không quá 3 chức danh.

Quy định cũng nêu rõ, phấn đấu quy hoạch theo cơ cấu 3 độ tuổi, tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn, lĩnh vực công tác.

Theo đó, phấn đấu cơ cấu, tỉ lệ quy hoạch cấp ủy và các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp theo hướng: Cán bộ trẻ dưới (45 tuổi đối với Trung ương; dưới 40 tuổi đối với cấp tỉnh, cấp huyện) từ 15% trở lên; cán bộ nữ từ 25% trở lên; tỉ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số phù hợp với từng địa bàn, lĩnh vực; cấp huyện và tương đương trở lên phải có cán bộ nữ trong quy hoạch các chức danh cấp ủy, lãnh đạo, quản lý.

Quy định của Bộ Chính trị cũng quy định rõ các trường hợp đương nhiên ra khỏi quy hoạch. Cụ thể, là cán bộ quá tuổi quy hoạch hoặc bị cấp có thẩm quyền thi hành kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên (đối với cá nhân) hoặc kết luận không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị của chức danh quy hoạch./.

Môi Trường ST.

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHỦ ĐỊNH NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

 

          Xóa bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu hàng đầu của Mỹ và các thế lực thù địch, nhằm làm mất phương hướng, giảm sút ý chí chiến đấu, xa rời mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Kẻ thù nhận thức rất rõ rằng, sở dĩ cách mạng Việt Nam vẫn đứng vững và tiếp tục phát triển đi lên bất chấp mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt do chính chúng gây ra là do chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng sâu sắc trong nhiều thế hệ người Việt Nam. Một trong những nguyên nhân làm cho CNXH ở Liên Xô và Đông Âu tan rã nhanh chóng là do kẻ thù của CNXH đã thành công trong việc gạt bỏ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các thế hệ sau này. Chính ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô (trước đây) đã từ bỏ những nguyên lý có tính nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin.

          Các thế lực thù địch tập trung mọi cố gắng để chứng minh cho “Tính lỗi thời của học thuyết Mác - Lênin”.  Chúng cho rằng: “hầu hết các nước ngày nay đều bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ còn một vài nước “ngoan cố” như Trung Quốc, Việt Nam là tôn thờ”. Gần đây, chúng tung ra luận điệu: “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay cả Bộ Chính trị”. Bằng thực tế sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, chúng khẳng định: “mô hình đổ, nghĩa là học thuyết đổ. Thực chất chủ nghĩa Mác là một học thuyết hư vô, là sự biện hộ cho một khoa học tàn phá xã hội”. Chúng còn lớn tiếng tuyên bố: “Cách mạng Tháng Mười Nga là sự đẻ non; là sai lầm của lịch sử; CNXH hiện thực là quái thai, là sự phát triển ngoài nền văn minh nhân loại”, v.v. và v.v.. Chúng tuyên truyền vu cáo Đảng ta “đem tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm”. Chúng phủ định con đường cách mạng của Đảng và nhân dân ta từ năm 1930 đến nay. Chúng cho rằng, công cuộc đổi mới của Việt Nam là trở lại con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN). Chúng phủ nhận khả năng quá độ lên CNXH ở nước ta, vì theo chúng, “Việt Nam mất một điều kiện tiên quyết là sự giúp đỡ quốc tế XHCN”. Những luận điệu đó đã tác động tiêu cực đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm và lòng tin của một bộ phận không nhỏ trong các tầng lớp nhân dân, gieo rắc sự hoang mang, dao động, giảm lòng tin và sự hoài nghi về CNXH và cuộc cách mạng mà chúng ta đang thực hiện. Những luận điệu này đã mở đường cho những ý tưởng nghi ngờ, bi quan về CNXH của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

          Phủ định những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.

          Chúng tập trung phủ định nguyên lý về hình thái kinh tế - xã hội, về học thuyết giá trị thặng dư, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; nguyên lý về vấn đề đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, tập trung dân chủ và phủ định toàn bộ học thuyết này. Chúng tìm các lý lẽ để đổ lỗi cho mọi sai lầm của CNXH là do thực hiện chuyên chính vô sản. Mọi sai lầm của CNXH và cách mạng Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra. Xã hội Việt Nam chỉ có thể phát triển nếu như Việt Nam cùng thực hiện việc lật đổ chế độ XHCN như ở Đông Âu và Liên Xô. Để làm việc này, trước hết Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ các nguyên tắc chuyên chính vô sản và nguyên tắc tập trung dân chủ./.

TBQL 17

MỘT SỐ NỘI DUNG GIẢI PHÁP LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


          Để góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động hiện nay cần thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp sau đây:

          Một là, tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

          Thông qua các hình thức, biện pháp, kết hợp giữa giáo dục với tự giáo dục để nâng cao nhận thức cho các lực lượng tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động về: tính cấp thiết, vị trí, vai trò, tính chất, đặc điểm, nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

          Cần xác định rõ hơn vị trí, vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ đạo, của các lực lượng chuyên trách và của các lực lượng khác trong tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Vị trí, vai trò, trách nhiệm tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” phải gắn chặt với vị trí, vai trò của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý trên các cương vị được giao.

          Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

          Tăng cường công tác lãnh đạo của cấp uỷ đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan, đơn vị đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của các ban, ngành, đoàn thể trong xác định chủ trương, biện pháp, xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

          Ba là, xác định rõ nội dung, hình thức, biện pháp, tổ chức lực lượng và xác định rõ cơ chế phối hợp, kết hợp giữa các lực lượng đấu tranh phù hợp và có hiệu quả thiết thực.

          Xác định rõ nội dung đấu tranh, trong đó tập trung vào những nội dung mà các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđang ráo riết tập trung hướng tới hiện nay và những năm tới trong chống phá cách mạng Việt Nam. Thường xuyên nghiên cứu, đổi mới những hình thức, biện pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động nhằm đem lại hiệu quả cao. Nghiên cứu tổ chức lực lượng đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động hợp lý, quan tâm xây dựng lực lượng chuyên trách, nòng cốt. Thường xuyên quan tâm phối hợp, kết hợp tốt giữa các lực lượng để tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

          Bốn là, thường xuyên quan tâm nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

          Thông qua thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđể thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công để tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh có hiệu quả hơn. Trên cơ sở sơ kết, tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản độngđể tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về những vấn đề liên quan đến đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

          Năm là, quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ngày càng hợp lý, có hiệu quả hơn.

          Quan tâm đầu tư bồi dưỡng lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” về bản lĩnh chính trị, phẩm chất chính trị, đạo đức, về tinh thần đoàn kết, về ý thức tổ chức kỷ luật, về năng lực, kinh nghiệm và phương pháp đấu tranh...Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo về mặt thông tin, tư liệu cho các lực lượng tham gia đấu tranh kịp thời, cập nhật, chính xác. Có cơ chế, chính sách, chế độ cụ thể đảm bảo sự quan tâm đối với các lực lượng tham gia đấu tranh trên mặt trận khó khăn, phức tạp và quyết liệt này.

          Sáu là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên là chính để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động.

          Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân có nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động. Tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng.

          Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Xây dựng các tổ chức chính trị xã hội vững mạnh toàn diện, hoạt động có hiệu quả, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị, địa phương với những phong trào cách mạng rộng khắp tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng con người mới, chống sự xâm nhập và nảy sinh các quan điểm, tư tưởng phản động, phản văn hóa trong đời sống tinh thần của xã hội./.

TBQL 17