Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2022

VÌ SAO NGA PHẢN ỨNG RẤT NHANH VÀ QUYẾT ĐOÁN KHI KAZAKHSTAN BẤT ỔN?

        Chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Kassym-Jomart Tokayev đề nghị hỗ trợ, những đơn vị tiền trạm đầu tiên của Nga đã có mặt tại sân bay Almaty để lập vành đai bảo vệ, sẵn sàng đón lực lượng của Nga và các nước Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO).

Bộ Quốc phòng Nga đã huy động 75 máy bay vận tải An-124 và Il-76 hoạt động suốt ngày đêm để vận chuyển hàng nghìn binh sĩ, xe thiết giáp và hệ thống tác chiến điện tử hiện đại đến Kazakhstan. 

Lực lượng làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình được huy động từ các đơn vị tinh nhuệ, dày dạn kinh nghiệm thực chiến của Lực lượng Đổ bộ đường không Nga (VDV) gồm Lữ đoàn Đặc nhiệm Độc lập số 45, Sư đoàn số 98 và Lữ đoàn Tấn công đường không Độc lập số 31. 

Các đơn vị gìn giữ hòa bình nằm dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tư lệnh VDV Andrei Serdyukov. Nga khẳng định lực lượng này chỉ bảo vệ các cơ sở quan trọng của Kazakhstan, không tham gia trấn áp bạo loạn, nhưng sự xuất hiện của họ đã nhanh chóng khiến tình hình được bình ổn.

Nga phản ứng rất nhanh và quyết đoán bởi Kazakhstan có vị trí đặc biệt quan trọng. Biên giới Nga - Kazakhstan dài gần 7.000 km, là đường biên giới trên bộ dài nhất thế giới và yếu tố quan trọng trong chiến lược an ninh của Moskva. Nước này có thể đối mặt đủ loại mối đe dọa nếu Kazakhstan trở nên bất ổn.

Kazakhstan cũng là nơi đặt cánh cổng lên vũ trụ của Nga, cũng là nơi nước này thử nghiệm vũ khí phòng thủ chiến lược.

Nga đang thuê sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan để phóng tàu vũ trụ có người lái, trong khi sân bay Vostochny được Nga xây dựng gần đây chỉ thực hiện các vụ phóng vệ tinh và tàu không người lái.

Thao trường Sary Shagan tại Kazakhstan cũng là cơ sở thử nghiệm vũ khí quan trọng, là địa điểm đầu tiên và duy nhất ở châu Âu lẫn châu Á thử nghiệm lá chắn chống tên lửa đạn đạo do Nga phát triển.

Đợt điều quân của CSTO nhằm thể hiện Nga có khả năng thực hiện các sứ mệnh quân sự không kém NATO, cũng là thông điệp nhắc nhở phương Tây rằng Nga quyết tâm bảo vệ những gì nước này coi là sân sau của mình.

Môi Trường ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968 CÓ Ý NGHĨA TẠO BƯỚC NGOẶC CỦA CHIẾN TRANH!

     Sau tổng tiến công Mậu Thân, vùng kiểm soát của MTDTGPMN. QGP bị đánh bật khỏi vùng đô thị và suy yếu trầm trọng: các đơn vị quân sự suy yếu, nhiều lực lượng chính trị bị lộ, thương vong cao hơn hẳn các năm trước, phải đến năm 1970 lực lượng của họ mới hồi phục lại được.

Do các tổ chức chính trị ngầm chuyên vận động nhân dân đã bị lộ nên trong năm 1969, tại nhiều nơi trên chiến trường, QGP bị mất nguồn tiếp tế từ nhân dân. Họ phải rút về miền nông thôn, rừng núi hoặc phải sang ẩn tránh tại các vùng bên kia biên giới Lào và Campuchia.

Do khó khăn về tiếp tế, đã có ý kiến trong giới lãnh đạo của MTDTGPMN và ở Hà Nội đề nghị giải tán các đơn vị cỡ sư đoàn, quay về lối đánh cấp trung đoàn trở xuống.

Chiến trường miền Nam trở nên yên tĩnh. Trong 2 năm sau Mậu Thân, từ 1969 đến đầu 1970, là thời gian quân Mỹ và QLVNCH chủ động tiến công tìm d.iệt QGP, đồng thời thực hiện chiến dịch Phượng Hoàng, nhằm bình định và triệt phá phong trào chính trị của MTDTGP ở nông thôn và thành thị.

Vai trò đấu tranh chính trị của MTDTGPMN từ nay suy giảm đi nhiều vì các hệ thống cơ sở chính trị của họ bị phá và với sự ác liệt của chiến tranh ở giai đoạn này không cho phép họ tụ tập dân chúng để đưa ra yêu sách chính trị.

Dù phải hy sinh to lớn, nhưng họ đã đạt được mục tiêu của cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968. Một chiến thắng như vậy không còn trong phạm trù chiến thuật, mà mang tầm vóc thắng lợi chiến lược, nó tác động toàn diện đến tình hình quân sự, chính trị, tâm lý xã hội nước Mỹ.

Đây là thắng lợi mang tính chiến lược của họ: Hoa Kỳ buộc phải xuống thang và tìm cách rút khỏi Việt Nam. Các lực lượng của MTDTGPMN suy yếu thì sẽ hồi phục lại, còn Hoa Kỳ một khi đã rút đi thì khó mà trở lại được.


Về sự kiện Tết Mậu Thân, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, tháng 10-1973, đã kết luận:

"Mặc dù có những khuyết điểm, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) vẫn giữ một vị trí to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đánh với đối tượng là một siêu cường có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh nhất trên thế giới thì không dễ gì chiến thắng mà ít tổn thất.

Đó là sự hy sinh, tổn thất cần thiết để dẫn đến hoà bình. Ta có khuyết điểm, sai lầm, nhưng cái chính và điều quan trọng là ta đã chiến thắng".


Bộ Chính trị kết luận:

“Tết Mậu Thân thắng rất lớn, không phải chỉ ở chiến thuật mà nhất là đã đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh..”

Theo cách nói của Dean Rusk và Mc Namara, Mỹ đã "ý thức được rằng họ chẳng những không thắng được Việt Nam mà còn có thể thua to. Do đó Mỹ không còn cách thoát thân nào tốt hơn xuống thang chiến tranh và đề nghị đàm phán".


Trong hồi ký, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ nhận định:

“Số thương vong đã lên rất cao: khoảng 4.000 quân Mỹ bị c.hết cùng 5.000 quân Nam Việt Nam. Mặc dù sự việc trên th.ê th.ảm thế nào đi nữa, những tổn thất lớn lao nhất vẫn là niềm tự hào và uy tín nước Mỹ bị sa sút.

Đối với người Mỹ, vụ tấn công Tết đã gây nên tất cả những nỗi kinh hoàng của một vụ Trân Châu cảng khác và lần đầu tiên người Mỹ đã nhận ra rằng họ sẽ không thể nào thắng nổi cuộc chiến tranh này. Đã có một sự tan vỡ đến mất hết niềm tin.”


Nhà sử học Merle L. Pribbenow nhận định:

"Quả thực, những người cộng sản đã làm đúng được nhiều điều quan trọng: Họ đã kết luận một cách đúng đắn rằng mức độ sẵn sàng can dự của Mỹ vào Chiến tranh Việt Nam là một điểm yếu chính có thể khai thác; nhận định rằng mùa chiến dịch bầu cử tổng thống Mỹ năm 1968 sẽ là giai đoạn trọng yếu trong việc xác định tương lai của chiến tranh Việt Nam từ phía Mỹ là vô cùng chính xác; và kết luận rằng chỉ thông qua việc sử dụng các biện pháp đặc biệt mới có thể khai thác "thời điểm bùng phát" này nhằm biến chuyển tình thế có lợi cho họ, xét cho cùng, cũng là đúng.

Chiến lược "các trận đánh lớn" đã từng có khả năng gây tổn thất cho các lực lượng Mỹ và đồng minh của họ, nhưng Văn Tiến Dũng đã tuyệt đối đúng khi ông kết luận rằng các lực lượng của ông không đủ khả năng dùng các trận đánh lớn để gây tổn thất hàng loạt lên kẻ thù, điều mà một "chiến thắng nhanh chóng" đòi hỏi.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân có lẽ là sự kiện có sức nảy nở lớn nhất trong lịch sử cuộc chiến dài dặc của Mỹ tại Việt Nam. Đây là một thời điểm bước ngoặt trong cuộc chiến, một thời điểm kể từ đó không có đường lùi nữa.

Ý tưởng của Lê Duẩn - Văn Tiến Dũng đã hoàn thành một trong những mục tiêu cơ bản được đề ra: "Đè bẹp ý chí xâm lược [của kẻ thù]… nó phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta."

Chiến lược gia quân sự Trung Quốc cổ đại Tôn Tử viết: Nước lũ cuốn trôi cả đá gạch, đó là nhờ thế nước lũ; Chim ưng vồ mồi xé nát con mồi, đó là nhờ thế tiết nhanh chớp nhoáng.


Trong quyết định tung cuộc Tổng tiến công Tết, quân Giải phóng đã làm theo lời chỉ dạy của Tôn Tử. Họ đã sử dụng sự "biến hóa", và "thế tiết" của họ là hoàn hảo."

Ảnh: Ba người theo Mặt trận Giải phóng miền Nam bị đối phương bắt giữ, Chợ Lớn, Sài Gòn, ngày 12/9/1968.

Môi Trường ST.

Kỷ niệm 50 năm đặc công tập kích sân bay B-52 của Hoa Kỳ trên đất Thái Lan (9/1/1972 - 9/1/2022).

 Những năm 1965 - 1966, Không quân Mỹ đã tập trung giội bom đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Tháng 2/1967, Tổng thống Giôn-xơn chuẩn y, cho phép mở rộng phạm vi đánh phá trong khu vực Hà Nội, Hải Phòng, tiến hành rải mìn trên các luồng sông, cửa biển; dùng không quân khống chế gắt gao khu vực ven biển từ Vĩ tuyến 17 đến Vĩ tuyến 20… Mỹ đã củng cố và tiến hành xây dựng những căn cứ không quân tại Thái Lan như sân bay Utapao, Ubon, Udon; máy bay  B-52 cất cánh đi đánh phá miền Bắc Việt Nam sẽ không cần tiếp nhiên liệu trên không, cường độ xuất kích cao hơn, khả năng tiếp vận cũng sẽ nhanh và nhiều hơn…

   Với chủ trương: địch xuất phát từ đâu, ta sẽ đánh trả ngay tại nơi sào huyệt của chúng, Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công đã nghiên cứu và chuẩn bị phương án và tổ chức nhiều trận đánh thẳng vào những căn cứ máy bay B-52 của Mỹ tại Thái Lan, Campuchia, Lào.

   Tháng 5/1971, Tổ công tác Tiểu đoàn Đặc công biệt động 1A vượt biên giới sang Campuchia, lên sát biên giới Thái Lan, trực tiếp bắt liên lạc và thành lập tổ đặc công gồm các đồng chí đang hoạt động trên đất Thái Lan, giao nhiệm vụ đánh sân bay Utapao.

Sau một thời gian trinh sát, xây dựng kế hoạch, tối ngày 9 rạng sáng ngày 10/1/1972, đồng chí Vũ Công Đài và Bùi Văn Phương trực tiếp thực hiện đánh mục tiêu bằng pháo thủ nổ chậm (chất nổ mạnh C4, khi cần sẽ chuyển sang đánh nổ ngay) và lựu đạn. Quá trình tiếp cận bị địch tuần tra phát hiện, nên đã nổ súng diệt 2 lính Mỹ cùng chó béc giê và vòng tránh hướng khác; lại bị phát hiện, 2 chiến sỹ tung lựu đạn vào tốp tuần tra, lợi dụng lúc địch hoảng loạn ẩn tránh, hai anh lao nhanh vào các mục tiêu B-52. Khi 10 thủ pháo vừa sử dụng hết, cả hai rút lui; đồng chí Đài bị trúng đạn hy sinh ở hướng cửa mở, đồng chí Phương thoát được ra ngoài. Và sau đó vang lên những tiếng nổ lớn, 8 chiếc máy bay B-52 bị phá hủy.

Đấu tranh, ngăn chặn thông tin xấu, độc trên không gian mạng

Theo thủ tướng Phạm Minh Chính, năm 2021 là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, đồng thời tình hình dịch bệnh cũng diễn biến rất phức tạp, do vậy không gian mạng là môi trường chủ yếu diễn ra các hoạt động tội phạm và vi phạm pháp luật, trong đó nổi trội hơn cả là thực trạng tin giả diễn ra tràn lan, thông tin xấu, độc không được kiểm duyệt. Qua báo cáo của Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao, tình hình tội phạm đã trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn rất nhiều lần.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tuyệt đối của Đảng ủy Công an Trương ương, tập thể Đảng ủy, lãnh đạo Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao và toàn thể các cán bộ chiến sỹ đã đoàn kết, chủ động, kiên quyết đấu tranh hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ngăn chặn đến 80% các yếu tố bất ngờ trên không gian mạng.
Lực lượng An ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao đã chủ động tham mưu cho lãnh đạo Bộ, nhà nước những nội dung quan trọng, những chiến lược phòng chống tội phạm trên mạng Internet, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực An ninh mạng. Chủ động xây dựng, triển khai các kế hoạch, phương án đảm bảo ANTT trên không gian mạng, phối hợp với công an các địa phương xử lý nhanh gọn, kịp thời các điểm nóng về An ninh trật tự, đặc biệt trong thời gian dịch bệnh diễn biến phức tạp.
Triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh với các đường dây, ổ nhóm, tội phạm sử dụng công nghệ cao, quy mô lớn, phương thức thủ đoạn tinh vi, triệt phá nhiều đường dây lừa đảo, đường dây đánh bạc online, đường dây mua bán trái phép vũ khí, vật liệu nổ, mại dâm, chiếm đoạt tài sản, kinh doanh đa cấp… trên mạng Internet. Phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp người dân, nghệ sỹ sử dụng mạng xã hội để lan truyền những thông tin giả, sai sự thật, đặc biệt là những thông tin về dịch bệnh Covid-19.
Hơn 50 vụ án cùng hàng trăm bị can đã bị cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao khởi tố chỉ trong năm 2021, góp phần xây dựng môi trường không gian mạng trong sách, đảm bảo an ninh trật tự cho xã hội.

 

Việt Nam hoàn thành xuất sắc vai trò Ủy viên Không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021

        Ngày 31/12/2021, Việt Nam đã chính thức hoàn thành cương vị Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (HĐBA LHQ) nhiệm kỳ 2020-2021. Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò Uỷ viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, đạt được toàn bộ các mục tiêu, phương châm đề ra từ đầu nhiệm kỳ trong bối cảnh tình hình chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội quốc tế trong hai năm qua diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường với những thách thức "chưa từng có tiền lệ", nhất là ảnh hưởng sâu rộng của đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020; cạnh tranh chiến lược nước lớn ngày càng gay gắt; căng thẳng kéo dài và gia tăng ở nhiều điểm nóng tại khu vực Trung Đông – Bắc Phi, Đông Phi, Châu Á, Châu Âu, Mỹ Latinh… cùng với đó là hệ lụy đa chiều của các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia...
        Trong thời gian này, HĐBA đã xử lý khối lượng công việc lớn, đa dạng với khoảng 840 cuộc họp cấp Đại sứ, thông qua hơn 240 văn kiện trên 60 đề mục khác nhau của chương trình nghị sự. Việt Nam đã tham gia thực chất, thiết thực vào công việc chung của HĐBA, được LHQ, các nước và dư luận quốc tế, trong nước đánh giá cao; đóng góp trách nhiệm vào quá trình bàn thảo, tìm kiếm giải pháp nhằm ngăn ngừa và khắc phục hậu quả xung đột, duy trì hòa bình, an ninh quốc tế trên cơ sở đề cao Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, cách tiếp cận toàn diện, nhân văn về con người, để lại nhiều dấu ấn về bản sắc và nghệ thuật ngoại giao đa phương Việt Nam.
        Việt Nam đã thể hiện rõ nét năng lực điều hành chuyên nghiệp, khéo léo, cân bằng trong hai lần làm Chủ tịch HĐBA (tháng 1/2020 và tháng 4/2021); với khả năng thúc đẩy tham vấn trên cơ sở hài hòa lợi ích các bên để tìm điểm đồng, hướng tới đoàn kết, đồng thuận trong HĐBA, từng bước đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, trung gian hòa giải trong một số vấn đề phức tạp tại diễn đàn quan trọng hàng đầu về hòa bình, an ninh quốc tế này.
        Trong 2 năm nhiệm kỳ HĐBA, Việt Nam đã đề xuất và được HĐBA thông qua 02 Nghị quyết về Gia hạn các cơ chế tòa án còn tồn đọng và Bảo vệ cơ sở hạ tầng thiết yếu; 03 Tuyên bố Chủ tịch về Tôn trọng Hiến chương LHQ, Tăng cường quan hệ giữa LHQ với các tổ chức khu vực trong thúc đẩy xây dựng lòng tin và Giải quyết hậu quả bom mìn; 01 Tuyên bố báo chí về vụ tấn công khủng bố ở Indonesia; Tuyên bố Hà Nội về Phụ nữ, hòa bình và an ninh.
        Các sự kiện và văn kiện do ta chủ trì đều nhận được sự hưởng ứng, tham gia tích cực của các nước, trong đó Nghị quyết về bảo vệ cơ sở hạ tầng thiết yếu được 65 nước và tất cả 15 nước thành viên HĐBA đồng bảo trợ (chỉ có 1% số Nghị quyết của HĐBA có được sự ủng hộ của tất cả các nước thành viên HĐBA ở mức tuyệt đối như vậy); lần đầu tiên HĐBA đưa ra Tuyên bố Chủ tịch về Hiến chương LHQ; Tuyên bố Hà Nội được hơn 60 nước đại diện cho 5 châu lục tuyên bố đồng bảo trợ.
        Những yếu tố quan trọng tạo nên thành công nhiệm kỳ HĐBA của Việt Nam lần này là sự tham gia của cả hệ thống chính trị dưới sự chỉ đạo sát sao và tham gia trực tiếp của Lãnh đạo Cấp cao của Đảng và Nhà nước; sự kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược; sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các Bộ, ngành hữu quan; sự ủng hộ, đồng lòng của người dân trong nước và sự tín nhiệm, hỗ trợ của bạn bè quốc tế.        

CHIẾN THẮNG CỦA CHÍNH NGHĨA

        Cách đây 43 năm, Quân tình nguyện (QTN) Việt Nam cùng Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia đã tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ thần tốc, dẫn đến thắng lợi lịch sử ngày 7-1-1979 giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng ghê rợn nhất trong lịch sử loài người.
        Đây chính là chiến thắng của sự nghiệp chính nghĩa, là biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, trong sáng giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia.
        Giúp bạn là tự giúp mình.
        Là hai quốc gia láng giềng gần gũi cùng uống chung dòng nước sông Mê Công, Việt Nam và Campuchia có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời. Mối quan hệ này là tài sản vô giá của hai dân tộc.
        Sau những năm tháng kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ bên nhau tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân, đế quốc, nhân dân hai nước thiết tha được sống trong hòa bình để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
        Thế nhưng, tập đoàn Pol Pot đã tiến hành chính sách diệt chủng tàn khốc ở Campuchia, đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh đẫm máu, xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ phía Tây Nam của Việt Nam.
        Đáp lại lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dân Campuchia anh em, đồng thời cũng để thực hiện quyền tự vệ chính đáng bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng, với tinh thần “Giúp bạn là tự giúp mình”, lãnh đạo và nhân dân Việt Nam đã quyết tâm sát cánh cùng nhân dân Campuchia chiến đấu. Sau khi đập tan chiến tranh xâm chiếm biên giới Tây Nam Việt Nam của Pol Pot, theo yêu cầu của cách mạng Campuchia, Việt Nam đã đưa Quân tình nguyện sang giúp Campuchia giải phóng dân tộc khỏi nạn diệt chủng.
        Đến ngày 7-1-1979, thủ đô Phnom Penh của Campuchia đã được giải phóng. Chiến thắng lịch sử này là chiến thắng chung, niềm vui chung của nhân dân hai nước.
        Đối với Việt Nam, chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot không chỉ là sự khẳng định ý chí sẵn sàng đập tan những hành động gây hấn, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, bảo vệ sinh mạng đồng bào mình, mà còn là sự thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế cao cả với tinh thần trong sáng.

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

Sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 

Sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Theo Ông KEO BAPHNOM - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Trưởng Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia, trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Bài viết quan trọng của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" thật sự là bài học rất có giá trị của cách mạng Việt Nam với những phân tích, đánh giá và tổng kết hết sức đầy đủ, rõ ràng về lý luận và thực tiễn trong hoạt động hơn 90 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua đều bắt nguồn từ sự kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam, sức mạnh, khát vọng và niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với chủ nghĩa xã hội - con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đây là một trong những bài học lớn và cũng là di sản vô giá của cách mạng Việt Nam.

Ngay từ khi thành lập năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.

Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam trải qua những chặng đường lớn. Đó là cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thực dân Pháp, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ kéo dài 21 năm, thống nhất đất nước năm 1975, sau đó là cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, cùng nhân dân Campuchia lật đổ bè lũ diệt chủng Pôn Pốt và xây dựng đất nước trong bối cảnh bị bao vây cấm vận. Trong suốt quá trình đấu tranh gian khổ này, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn kiên định với mục tiêu và con đường chủ nghĩa xã hội.

Năm 1986 có thể coi là mốc thời gian nổi bật khi Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới. Sau Đại hội VI - Đại hội “đổi mới” (tháng 12/1986), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6/1991) được tiến hành trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, trật tự thế giới bị thay đổi.

Ở trong nước, tình hình hết sức khó khăn bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, tìm mọi cách thực hiện “diễn biến hòa bình”, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế cũ sang cơ chế mới, hậu quả do sự “bao vây cấm vận”... nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn xác định: lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng, phù hợp với điều kiện thực tế của cách mạng Việt Nam để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng là: Lãnh đạo nhân dân xây dựng nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Đây thật sự là sự sáng tạo hết sức mới mẻ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 01/2011) một lần nữa khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử (Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.24). Đại hội cũng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Để đưa đất nước phát triển đi lên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, có quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các nước trên thế giới.

Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam và giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, đó là “một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người... sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội... hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”. Nội dung trên không chỉ là mục tiêu mang tính nhân văn của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chỉ là khát vọng của nhân dân Việt Nam, không chỉ là tôn chỉ để cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phấn đấu, trưởng thành, mà còn là vũ khí để đập tan sự xuyên tạc của các thế lực thù địch hòng cản trở sự phát triển của Việt Nam theo con đường đã chọn.

Báo cáo chính trị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 01/2021) nhấn mạnh: “35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử...”. (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t.I, tr.25)

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 343,6 tỷ đô-la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tỷ lệ nghèo mỗi năm giảm 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ. Hơn 97 triệu người dân Việt Nam, gồm 54 dân tộc, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn được hưởng phúc lợi xã hội từ công cuộc đổi mới. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 1980 và cải thiện đáng kể đời sống nhân dân.

Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân... Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”.

Là một nước láng giềng có quan hệ truyền thống hữu nghị, đoàn kết và hợp tác với Việt Nam, Campuchia rất vui mừng chứng kiến những thành tựu to lớn mà nhân dân Việt Nam đã và đang đạt được. Tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, nhân dân Việt Nam sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phong bì trong đám cưới

Ngày đó cuối cùng cũng đã đến, đem lại cho tôi nhiều niềm vui lẫn cảm nhận trái chiều. Vợ chồng tôi tranh thủ lúc dịch lắng xuống để tổ chức hai tiệc cưới. Đám cưới đầu tiên diễn ra ở quê của vợ, vùng núi của tỉnh Nghệ An. Ngôi làng nằm tại vùng sâu, vùng xa nên việc tổ chức tiệc cưới rất vất vả. Cả dân làng chung tay nấu đồ ăn cho 500 thực khách và sắp đặt bàn ghế, mắc rạp. Nhiều người đã phải thức cả đêm. Bản thân tôi rất may mắn vì không phải lo mọi việc. Đám cưới kéo dài hai ngày với đầy đủ các khâu, lễ theo truyền thống của dân tộc Thái. Cả làng đối xử rất thân thiện và hiếu khách với tôi và các bạn tôi đến từ Hà Nội. Bữa tiệc chính khởi đầu lúc 10 giờ sáng. Trời nóng bức, tôi mặc bộ vest, vừa vã mồ hôi vừa đi chào lần lượt 90 mâm cỗ, mất một tiếng rưỡi để chúc rượu tất cả thực khách. Một số người mặc trang phục dân tộc đẹp bắt đầu nhảy múa và bữa tiệc vui nhộn kéo dài đến ba giờ chiều. Khi tất cả kết thúc, mọi người đều cảm thấy rất hài lòng vì đám cưới đầy cảm xúc, ấm cúng. Bên cạnh đó, gia đình của vợ cũng thở phào nhẹ nhõm vì vừa trút khỏi một gánh nặng sau nhiều ngày mệt mỏi. Chúng ta đều biết rằng đám cưới tốn rất nhiều công sức và gây nhiều áp lực. Chính vì gánh nặng này mà một số người chẳng mặn mà với đám cưới. Trong nhiều dịp dự đám cưới, tôi thấy khuôn mặt của cô dâu chú rể không còn rạng rỡ, họ cười ngượng và đói bụng vì chưa kịp ăn gì, thậm chí có người sụt cân vì nhiều ngày lo cho đám cưới. Là ngày trọng đại ''cả đời chỉ có một lần thôi" nên người ta có thể kỳ vọng cực kỳ cao. Vì những lý do khác nhau, có khi sợ bị coi là keo kiệt hay vì muốn phô trương nên nhiều gia đình cố gắng hết mình để tổ chức một đám cưới thật hoàn hảo, thật hoành tráng. Họ mời mấy trăm khách, cả cơ quan, họ hàng, hàng xóm và những người không hề thân thiết. Nhưng chưa chắc người nào cũng thấy hứng thú trong lòng khi nhận được thiệp mời. Bởi công bằng mà nói, đối với một số người, cái thiệp mời chẳng khác gì một gánh nặng về tài chính khi mỗi tháng họ bị mời dự tới mấy đám. Đám cưới phải thân tình vui vẻ, phải tràn đầy tình cảm và xúc động, tuy nhiên theo những gì tôi từng trải nghiệm, phần lớn đám cưới đều kết thúc rất nhanh và không thực sự đáng nhớ cho lắm. Thực khách đến, nhét phong bì vào hộp quà cưới, chụp một vài ảnh check-in trước phông cưới rồi ngồi xuống và ăn. Một tiếng sau mọi người đi về. Không chỉ vậy, như luật bất thành văn, người được mời thường gửi quà là phong bì cho cô dâu chú rể ngay cả khi không dự bữa tiệc. Bản thân tôi thấy băn khoăn với thông lệ này. Người ta có thể gửi quà để thể hiện tình cảm hay tiếc nuối vì không thể dự đám cưới, nhưng nó sẽ đáng nhớ hơn nếu là một món quà ý nghĩa với cô dâu chú rể. Tôi nghĩ rằng, nếu chúng ta quá chú tâm đến tiền bạc vật chất có thể làm hao mòn ý nghĩa tốt đẹp, thiêng liêng của lễ cưới. Ta đi đám cưới để chúc mừng sự kết hợp của cô dâu chú rể chứ không phải để mang tâm lý "trả nợ". Chúng tôi đã tổ chức bữa tiệc thân mật dành cho tầm 70 bạn bè ở Hà Nội tại khu vườn của một nhà hàng. Chúng tôi dẹp hầu hết bàn ghế để bạn bè có thể giao lưu dễ dàng. Tôi cũng chuẩn bị một ice breaker - hoạt động làm quen. Mọi thực khách nhận được một dây đeo thẻ có màu và khi tham gia trò chơi, họ phải tìm và làm quen với một vài người lạ cùng màu. Tôi đã chia mọi người thành các màu sắc khác nhau dựa trên ngôn ngữ, tuổi tác và sở thích của họ. Tôi rất vui mừng khi thấy bạn bè trò chuyện và làm quen với nhau, nhảy tưng bừng và trông hớn hở. Một số người tặng quà nhỏ, một số người tặng quà to, có người không đưa phong bì mà mang món quà như chai rượu vang, bức tranh, có người không tặng gì. Nhưng tất cả đều rất vui. Điều chính yếu là họ đã đến, đã có mặt tại đó bất chấp trời mưa bão. Tôi đã quyết định tổ chức tiệc cưới ở Hà Nội sau tiệc cưới ở Nghệ An để gặp lại những người tôi yêu quý. Và tôi thật vui khi được họ sum họp, cười và san sẻ niềm vui với vợ chồng tôi. Lễ cưới là một nét đẹp văn hóa truyền thống, thế nhưng tôi không chắc rằng ông bà tổ tiên của ta đã tổ chức đám cưới tại những nhà hàng sang trọng, ăn nhiều món buffet, thuê nghệ sĩ trang điểm hay đi Bà Nà Hills để chụp ảnh cưới. Xã hội ta liên tục thay đổi và phát triển, và lễ cưới cũng thế, hoàn toàn có thể văn minh hơn. Hà Nội cuối năm và hết giãn cách, mọi người đang tranh thủ tổ chức thêm đám cưới. Nhưng liệu cơm gắp mắm, không có công thức nào cả. Nếu kinh tế không dư giả thì bỏ qua tôm hùm trong thực đơn hay trang trí hoa đắt tiền cũng chẳng sao. Đám cưới biểu tượng cho hôn nhân hạnh phúc nên nó phải tràn đầy cảm xúc chân thật. Dù lớn hay bé, hoành tráng hay khiêm tốn, bữa tiệc cưới chưa đảm bảo cho một sự gắn bó suốt đời của hai vợ chồng, nó chỉ là điểm khởi đầu của cuộc hôn nhân. Tôi chỉ có một điều ước là, khi tổ chức đám cưới, các phụ huynh sẽ lưu ý đến nguyện vọng và sở thích cá nhân của cô dâu chú rể vì chính họ là trọng tâm của sự kiện. Còn phong bì, không có cũng chẳng nên buồn.

Mang tiền về

Bà tôi sinh ra trong gia đình trí thức khá giả ở Hà Nội, nhưng hoàn cảnh chiến tranh rồi bao cấp khiến ai cũng khó khăn. Kháng chiến chống Mỹ, bà làm kế toán cho Cục Điện ảnh, ông tôi làm quân nhân, có bao nhiêu thu nhập bà dành hết lo cơm ăn, áo mặc cho mẹ và cậu tôi. Nhìn người phụ nữ nhỏ bé còng lưng đạp xe 40 cây số mỗi tuần, chở đồ tiếp tế từ tập thể Nam Đồng về nơi sơ tán ở Thạch Thất cho hai con, người ta bảo "nhìn chị khổ như này đã thấy căm thù quân giặc rồi". Lấy chồng là quân nhân, bà tôi có điều kiện hơn nhiều người cùng thời. Nhưng hàng xóm láng giềng kinh ngạc khi thấy, mỗi khi chồng con không có nhà, bà chỉ ăn cơm không với rau luộc. Một người bảo rằng, có chồng con, cơm nhà bộ trưởng cũng chưa được như nhà chị, nhưng khi mọi người đi vắng, tới bần cố nông cũng không ăn uống kham khổ vậy. Thời bao cấp, khi đi làm, bà có thói quen chỉ mua một nửa suất cơm. "Bữa thường báo nửa suất cơm ăn, tiền thừa dành để đưa cho mẹ, nuôi dạy con thơ bớt nhọc nhằn", bà kể với tôi. Theo bà, tiết kiệm là để dành giúp những người xung quanh còn khó khăn hơn mình. Bà hy sinh cho chồng con, tiết kiệm tiền giúp anh chị em, họ hàng và cả người không quen. Ăn uống kham khổ, bà tôi nhiều lần ngất khi đang đi xe đạp trên đường. Tới tận lúc mất vào năm 89 tuổi, bà vẫn gọi mẹ tôi vào đưa những đồng tiền cuối cùng cho con như nhiều lần trước đó. Tôi lớn lên, học đại học, đi làm theo đam mê và nhiều lần chọn công việc không phải vì tiền. Bà biết thế. Nỗi lo lớn của bà là tôi bị thiếu tiền. Trong suốt nhiều năm tôi đi học, đi làm, tháng nào bà cũng giúi vài triệu vào tay tôi. Nghĩ cũng xấu hổ, nhưng tôi sống được với nghề viết hàng chục năm một phần nhờ trợ cấp của bà ngoại - người chẳng bao giờ dám ăn một bữa tươm tất cho riêng mình. Bà mất giữa đợt giãn cách xã hội do Covid năm 2020, mẹ tôi lục tủ mới thấy những bộ quần áo mới do con cháu tặng bà chưa bao giờ mặc. Bộ đẹp nhất chỉ được mặc lên người bà lúc liệm. Lớn lên trong gia đình có bà, tôi luôn tin, đức hy sinh của người phụ nữ khó có thể kể hết. Nên khi chúng ta đã lớn, có đem được tiền về cho ông, bà, cha mẹ, thì cũng không bao giờ trả đủ những gì họ đã dành để nuôi dưỡng ta. Số tiền mang về nhà, nếu có, dù nhiều đến mấy cũng có chức năng chính là đem lại niềm vui cho người lớn, vì họ tin rằng đứa con đã trưởng thành. Người lao động Việt Nam đang trải qua năm khó khăn nhất do Covid. Thống kê mới nhất do Tổng cục Thống kê công bố, mọi chỉ số về lao động và thu nhập đều giảm. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2021 đạt 50,5 triệu người, giảm gần 792 nghìn người so với năm trước. Số lao động có việc làm phi chính thức và chính thức giảm gần 1,1 triệu người. Hơn 1,4 triệu người thiếu việc làm trong năm 2021, tăng 371 nghìn người so với năm trước. Với bức tranh việc làm khó khăn, trừ một số ngành hưởng lợi do đại dịch, năm nay, mỗi người về quê ăn Tết có mang được nhiều tiền về cho cha mẹ hay không? Cũng theo Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân tháng của người lao động năm 2021 là 5,7 triệu đồng. Trong đó, thu nhập bình quân tháng của lao động nam là 6,6 triệu đồng, và của lao động nữ 4,7 triệu đồng. Thu nhập giảm đồng loạt 20% - 30% do Covid. Số tiền có thể mang về biếu mẹ sẽ hụt đi. Chưa kể, hơn 1,4 triệu người thất nghiệp thì sao? Họ có tiền biếu cha mẹ hay không? Tất nhiên, dù chúng ta ít dư dả hơn, tấm lòng dành cho cha mẹ quan trọng hơn là số lượng. Và những gì ta dành cho đấng sinh thành để họ vui tất nhiên không chỉ là tiền. Tôi đã hối hận nhiều vì không dành đủ thời gian quan tâm tới bà ngoại mình, người suốt đời chỉ lo tôi vất vả, thiếu thốn. Bà tôi "cực đoan" tới mức tôi đã không thể biếu bà dù chỉ một đồng. Càng lớn, tôi càng nhận ra, những gì người thân đã dành cho mình vô cùng quý giá. Và một thứ mình có thể biếu ông bà, tặng cha mẹ quý hơn tiền là thời gian và sự an lòng. Nhưng vẫn có nhiều người không có thời gian cho cha mẹ. Nửa triệu lao động sẽ ở lại Bình Dương ăn Tết, con số trên cả nước sẽ cao hơn nhiều khi có những địa phương đang vận động người ở ngoại tỉnh không về quê dịp Tết vì dịch Covid. Thời gian là một thứ "tiền bạc" mà tôi đã ít cho đi, để chỉ còn lại tiếc nuối khi nghĩ về bà. Năm nay, tôi cũng tự thấy mình nên "biếu" bố mẹ tiền và sự quan tâm thường xuyên hơn, đơn giản để người lớn cảm thấy ấm lòng. Tết này, bạn có biếu ông bà, cha mẹ năm trăm ngàn hay một triệu cũng là rất quý, đủ để họ thấy con cháu mình đã phương trưởng, và đang đứng vững trong đại dịch. Có những món quà, dù nhỏ nhưng vẫn đủ. Bởi cái gì có thể giải quyết bằng tiền chưa phải quý nhất.

Lần lượt F0

Tại công ty tôi đang diễn ra lây nhiễm Covid từ từ, có thể tạo ra “miễn dịch cộng đồng” trong môi trường làm việc sau Tết Nguyên đán. Chúng tôi làm quen với "lây nhiễm đột phá" - lây nhiễm Covid-19 sau khi tiêm vaccine - bắt đầu từ 15/11/2021. Chúng tôi có 390 nhân viên làm việc và ở lại công ty theo "ba tại chỗ", hơn 295 người làm việc tại nhà. Quản lý đã sắp xếp 1/3 số người "ba tại chỗ" (130 người) được về nhà mỗi hai đến bốn tuần. Đồng thời, số tương đương nhân viên làm việc tại nhà được gọi vào công ty. Tất cả nhân viên ra, vô công ty đều được xét nghiệm RT-PCR. Họ chỉ được về nhà hoặc vào nhà máy khi có kết quả âm tính với virus Sars-CoV-2. Cả tháng 11/2021, không ngạc nhiên khi tất cả nhân viên "ba tại chỗ" đều có kết quả âm tính. Trong khi đó, 15 nhân viên ở nhà bị dương tính do lây từ cộng đồng. Đã được tiêm hai mũi vaccine, hầu hết họ không có triệu chứng đáng kể, được điều trị tại nhà. Sau hơn một tuần điều trị, tất cả "F0 nhiễm đột phá" này đều âm tính. Theo khoa học, họ trở thành "siêu miễn dịch Sars-CoV-2". Khi tất cả nhân viên "siêu miễn dịch", công ty tôi có thể sản xuất bình thường như trước đại dịch. Cứ luân phiên nhân viên một tháng hai lần, mỗi lần 1/3 người làm việc tại nhà vào nhà máy, chúng tôi hàng ngày vẫn thực hiện xét nghiệm Covid-19 theo phương pháp CNOK như đã chia sẻ. Cho tới 21/12/2021, một nhân viên nữ test nhanh dương tính. Cô 24 tuổi, sức khỏe tốt và đã làm việc "ba tại chỗ" gần năm tháng. Đây là trường hợp dương tính đầu tiên trong công ty, dù đến nay, tôi vẫn chưa biết cô lây nhiễm từ đâu. Để đánh giá mức độ nhiễm đột phá trong công ty, chúng tôi đặt hàng Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh xét nghiệm RT-PCR cho toàn thể nhân viên đang làm việc ngày 22/12/2021. Kết quả, chỉ có thêm ba nhân viên nam dương tính. Sau năm tháng sản xuất "ba tại chỗ", doanh nghiệp chúng tôi có bốn "F0 lây nhiễm đột phá" phát hiện tại nhà máy, hai người không có triệu chứng. Liên hệ với sở Y tế Trà Vinh để điều trị cho F0, họ bảo "cứ chờ" do y tế địa phương hồi tháng 12/2021 quá tải, chúng tôi thực hiện điều trị cho F0 trong tòa nhà cách ly của công ty với bộ phận y tế và bác sĩ tư vấn của mình. Tất cả F0 đều khỏe, test nhanh âm tính sau năm ngày. Cạnh công ty tôi có hai doanh nghiệp sản xuất theo mô hình "ba xanh" từ cuối tháng 10/2021. Số lao động ở mỗi công ty 4.000 đến 5.000 người. Tất cả họ đều đã được tiêm ngừa hai mũi, sáng đến công ty làm việc, chiều về nhà. Hai doanh nghiệp này thực hiện xét nghiệm RT-PCR mỗi tuần một lần theo khuyến cáo của Ban quản lý các khu kinh tế. Họ phát hiện hàng trăm người dương tính do "nhiễm đột phá" mỗi lần xét nghiệm. Những F0 này được về nhà điều trị. Sau gần hai tháng hoạt động, hai doanh nghiệp phải tạm dừng nhiều khâu sản xuất vì có tới vài ngàn lao động trở thành F0. Tin tốt là chưa có ca tử vong nào do tất cả còn trẻ, được tiêm hai mũi vaccine. Từ hành trình gần một năm chiến đấu thực sự với Covid-19 của tập thể mình, tôi nhận ra, lây nhiễm Covid-19 không còn là ám ảnh của mọi doanh nghiệp nếu nhân viên đều đã được chích ngừa, công ty có kế hoạch đối phó linh hoạt và khoa học. Thậm chí, giờ đây, tôi và ban lãnh đạo khá tự tin vì "lây nhiễm đột phá" với tốc độ trong tầm kiểm soát của công ty. Tức là, số nhân viên bị nhiễm lần lượt ở tỷ lệ dưới 20%, được chăm sóc đầy đủ. Hơn 90% doanh thu của doanh nghiệp tôi từ xuất khẩu. Hơn năm tháng qua, sản xuất theo "ba tại chỗ", chúng tôi vẫn duy trì được đơn hàng, giao đúng tiến độ cho khách hàng ở 63 quốc gia và vùng lãnh thổ. Doanh thu tăng gần 20% so với năm 2020, nhưng tỷ suất lợi nhuận giảm gần 40% do chi phí hoạt động, vận chuyển và giá cả vật tư đầu vào tăng mạnh. Nhiều doanh nghiệp trên khắp Việt Nam đã và đang đối đầu với bài toán làm sao để sản xuất thích ứng trong năm 2022. Lời giải là: Phải duy trì được môi trường làm việc miễn dịch cộng đồng nhưng vẫn an toàn cho tất cả. Trên cả nước, tỷ lệ phủ một mũi vaccine đã lên tới 98% và hai liều là gần 84% cho người từ 18 tuổi trở lên. Đã đến lúc chúng ta không còn phải quá lo sợ vì bị lây nhiễm Covid-19 nữa, ngoại trừ phải có ý thức bảo vệ người lớn tuổi và có bệnh nền. Chúng ta không lo sợ vì càng nhiều người "siêu miễn dịch", xã hội càng tiến tới thích nghi an toàn. Với doanh nghiệp, lo sợ có hiểu biết mới là chìa khóa mở cửa cho nền kinh tế quay lại quỹ đạo tăng trưởng trong năm mới.

Triển vọng đại dịch kết thúc năm 2022

2022 là năm "cận kề vạch đích" để nhân loại tận dụng tất cả vũ khí sẵn có nhằm chấm dứt đại dịch, biến Covid-19 thành bệnh đặc hữu, theo chuyên gia. "Tất cả đại dịch đều có thời điểm chấm dứt và Covid-19 không phải là ngoại lệ", tiến sĩ Vinod RMT Balasubramaniam, nhà virus học phân tử kiêm giảng viên cấp cao tại Trường Khoa học Y tế và Sức khỏe Jeffrey Cheah thuộc Đại học Monash, Malaysia, chia sẻ với VnExpress về tương lai của đại dịch đã hoành hành toàn cầu suốt hai năm qua. Kể từ khi bùng phát trên thế giới từ đầu năm 2020, Covid-19 đã khiến hơn 300 triệu người nhiễm và cướp đi sinh mạng của gần 5,5 triệu người, trở thành một trong những đại dịch tàn khốc nhất trong lịch sử. Với sự xuất hiện của vaccine, nhiều người lạc quan rằng đại dịch sẽ sớm kết thúc. Tuy nhiên, câu hỏi mà nhiều người quan tâm là khi nào thời điểm đó đến. "Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, gián đoạn kết nối với gia đình và người thân yêu suốt hai năm qua. Nếu chúng ta không hành động, 2022 vẫn sẽ lại như hai năm trước, nhưng nó không nhất thiết phải như vậy", Balasubramaniam nhấn mạnh. "Mục tiêu chính là loại bỏ mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh để chúng ta sống chung với nó và tôi nghĩ chúng ta đang dần đạt được điều đó". Nhiều quan chức và chuyên gia y tế quốc tế chia sẻ quan điểm này. Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus nói rằng "2022 phải là năm chấm dứt đại dịch Covid-19", bởi sau hai năm ứng phó, nhân loại đã "hiểu rất rõ virus và có đủ công cụ để chống lại nó". Trong một bài viết gần đây, các bình luận viên của The Economist cũng cho rằng Covid-19 chưa kết thúc, nhưng nó sẽ không còn là căn bệnh chết người vào năm 2023. "Nó vẫn đe dọa hàng tỷ người ở các nước nghèo, nhưng sẽ dần trở thành một dịch bệnh thông thường như bao dịch bệnh khác", bài viết có đoạn. Theo tiến sĩ Balasubramaniam, nhân loại sẽ không thể kết thúc được Covid-19 bằng cách xóa sổ nCoV. "Virus sẽ không bị tiêu diệt, thế giới tới nay mới chỉ xóa sổ được duy nhất bệnh đậu mùa", ông nói. "Tuy nhiên, khả năng miễn dịch toàn cầu sẽ tăng lên khi nhiều người được tiêm chủng hoặc từng nhiễm. Điều này cuối cùng sẽ khiến Covid-19 trở thành bệnh đặc hữu, với mức độ lây truyền ổn định theo mùa và ít đột biến hơn". Kịch bản lý tưởng này chỉ có thể đạt được khi tình trạng bất bình đẳng vaccine toàn cầu được giải quyết, theo Balasubramaniam. Hơn 9,37 tỷ liều vaccine đã được tiêm trên toàn cầu, với 59% dân số đã tiêm ít nhất một mũi. Tại nhiều quốc gia, tỷ lệ này đã dao động ở mức 70-90%, nhưng ở các nước nghèo, chưa tới 9% người dân đã được tiêm ít nhất một liều vaccine, theo Our World in Data. "Không cung cấp đủ vaccine cho các nước nghèo là lựa chọn không khôn ngoan cả về mặt đạo đức, kinh tế và dịch tễ học, bởi nó sẽ khiến đại dịch kéo dài", ông nói. Đại dịch càng kéo dài, virus càng có nhiều cơ hội phát triển, đặc biệt là những người chưa tiêm chủng. "Đột biến là quá trình tiến hóa của virus để thích nghi với vật chủ. Nói cách khác, sự đa dạng di truyền của virus sẽ tăng theo thời gian. Virus luôn biến đổi để tạo ra các bản sao với số lượng lớn và mỗi lần truyền từ người này sang người khác, khả năng virus đột biến là rất cao", tiến sĩ Balasubramaniam cho hay. Omicron là một minh chứng, khi biến chủng này lần đầu được báo cáo tại phía nam châu Phi, khu vực có tỷ lệ tiêm chủng thấp. Kể từ khi được phát hiện vào giữa tháng 11/2021, biến chủng mới đã lan tới hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, góp phần tạo nên làn sóng ca nhiễm tăng vọt ở nhiều nơi. "Mỗi khi virus nhân lên trong một người, nó có cơ hội biến đổi và xuất hiện đột biến mới. Nó giống như trò đổ xúc xắc, một quá trình đầy ngẫu nhiên, may rủi. Bạn càng tung nhiều, cơ hội xuất hiện biến chủng mới càng lớn. Nó cơ bản là quả bom hẹn giờ", chuyên gia dịch tễ này nói. Omicron nhanh chóng được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) liệt vào danh sách biến chủng đáng lo ngại khi chứa tới 50 đột biến, phần lớn trong số đó nằm trên protein gai, phần giúp virus xâm nhập tế bào vật chủ. Dữ liệu sơ bộ cho thấy các đột biến này có thể cho phép Omicron dễ dàng lây nhiễm cho những người chưa tiêm chủng và có thể tránh né một phần phản ứng kháng thể, có được nhờ vaccine hoặc hậu nhiễm. Tuy mối đe dọa về biến thể mới vẫn hiện hữu, giới chuyên gia cho rằng vẫn có những tín hiệu lạc quan về tương lai đại dịch. Dù Omicron có thể có khả năng tránh né kháng thể tốt hơn, một số nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng nó khó có khả năng tránh né thành công lớp phòng thủ thứ hai của vaccine và miễn dịch tự nhiên, gồm tế bào T và tế bào B. Dữ liệu từ phòng thí nghiệm của Alessandro Sette, nhà nghiên cứu tại Viện Miễn dịch học La Jolla ở Mỹ, và Andrew Redd của Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) cho thấy dù Omicron mang nhiều đột biến, hầu hết mảnh protein của chúng đều bị tế bào T nhận diện và có phản ứng mạnh mẽ giống như các biến chủng khác. "Bên cạnh đó, tất cả các loại vaccine đều tạo ra tế bào bộ nhớ B, loại có thể sản sinh lượng kháng thể trung hòa cao nếu phát hiện virus hoặc biến chủng của chúng. Tế bào B một khi được tạo ra sẽ tồn tại lâu dài và điều này được thấy ở tất cả những người đã tiêm chủng", tiến sĩ Balasubramaniam cho biết. Cho đến nay, vaccine vẫn được xem là chìa khóa mở cánh cửa thoát đại dịch, dù khả năng miễn dịch này không giống như "công tác đèn với hai chế độ tắt và bật", mà theo các mức độ bảo vệ khác nhau. Do đó, Balasubramaniam cho rằng các quốc gia trong giai đoạn này vẫn cần đẩy mạnh chiến dịch tiêm chủng để tăng độ phủ vaccine cho dân số. Tuy nhiên, giới chuyên gia cũng thừa nhận rằng vaccine không phải là "cây đũa thần" có thể giúp xóa sổ hoàn toàn Covid-19, nên các biện pháp phòng ngừa bổ sung như đeo khẩu trang hay giãn cách xã hội vẫn cần được tiếp tục duy trì trong năm 2022. "Mặc dù vaccine trong năm qua giúp chúng ta đạt bước tiến rất lớn trong nỗ lực chống lại nguy cơ bệnh nặng và tử vong cho phần lớn dân số, đại dịch vẫn chưa kết thúc và biến chủng mới vẫn còn nhiều điều cần tìm hiểu. Nhưng thực tế là các biện pháp y tế công cộng được sử dụng trong suốt đại dịch vẫn quan trọng và hiệu quả. Chúng ta đừng quên rằng mình đã có vũ khí như khẩu trang và duy trì giãn cách", Balasubramaniam cho hay. Tiêm tăng cường và tăng giải trình tự gene cũng là hai yếu tố quan trọng trong chiến lược đối phó với Covid-19 của mỗi quốc gia trong năm 2022, theo chuyên gia Đại học Monash. Trong khi tiêm tăng cường giúp củng cố hàng rào bảo vệ của cơ thể, tăng cường giải trình tự gene giúp các nhà khoa học có thể nhanh chóng phát hiện và giám sát các biến chủng mới. Ngoài ra, chuyên gia cho rằng mỗi quốc gia cũng cần cải thiện cơ sở hạ tầng y tế và các kế hoạch chuẩn bị khác để ứng phó tốt hơn với Covid-19 và các đại dịch có thể xuất hiện trong tương lai. "Chuẩn bị cho dịch bệnh tiếp theo không phải chỉ bắt đầu khi tình trạng khẩn cấp hiện tại kết thúc, mà là ngay từ bây giờ", ông Balasubramaniam nói. Quá trình này bắt đầu bằng hệ thống giám sát bệnh hô hấp, lực lượng lao động được bảo vệ tốt, chăm sóc lâm sàng sớm, tiếp cận dịch vụ y tế dễ dàng, trang bị tốt thiết bị bảo hộ cá nhân, cũng như tăng khả năng chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu vaccine. Một nghiên cứu ở Nam Phi cho thấy những người nhập viện trong làn sóng thứ tư, trong đó Omicron là chủng trội, có nguy cơ bị bệnh nặng thấp hơn 73% so với làn sóng thứ ba do Delta gây ra. "Dữ liệu hiện nay khá đáng tin cậy, khi số ca nhiễm và nhập viện đi theo hai xu hướng khác nhau", Wendy Burgers, nhà miễn dịch học tại Đại học Cape Town, Nam Phi, cho hay. Các chuyên gia cho rằng đây là tín hiệu đầy lạc quan, dù lưu ý sẽ cần thêm nhiều dữ liệu nghiên cứu trước khi đưa ra kết luận cuối cùng. Tiến sĩ Balasubramaniam cảnh báo mọi người không nên lơ là cảnh giác và bỏ qua bất kỳ biện pháp phòng ngừa hiệu quả nào đang được sử dụng, để có thể tránh rủi ro nghiêm trọng không mong muốn. "Nếu hỏi tôi sẽ mô tả Covid-19 trong năm 2022 như thế nào, tôi sẽ nói nó đang 'trên đường trở thành bệnh đặc hữu'. 2022 là năm mà chúng ta rốt cuộc đã có tất cả các biện pháp, phương tiện, công cụ để kiểm soát đại dịch, biến nó thành dịch bệnh không gây chết người", ông nói. "Vì đang ở rất gần vạch đích, chúng ta càng cần phải cảnh giác".

Những đặc trưng của nhà nuớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

         Trên cơ sớ nghiên cứu lý luận và thực tiễn XDNN pháp quyền trong thời gian vừa qua, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:

Một là, đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bổn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dán; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sàn Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Trải qua hơn 20 năm tập trung đổi mới Nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đến Đại hội lẩn thứ XIII, trong phương hướng, nhiệm vụ “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đẩy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”

Độc lập dân tộc là cơ sở vứng chắc xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc

          Đảng, Nhà nước ta xác định: Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đây chính là mẫu số chung để kết dính “mọi con dân nước Việt”. Mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là ước vọng ngàn đời của mọi người Việt Nam yêu nước, thương nòi. Yêu nước, đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành lẽ sống của cả dân tộc, của mọi người mang trong mình dòng máu con Lạc, cháu Hồng. Đây cũng là hoài bão, là ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[1]. Đây cũng là điều mong muốn cuối cùng của Hồ Chủ tịch được ghi trong Di chúc trước lúc Người đi xa: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[2].

 Xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung..., để tập hợp mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội.

Nước ta là nước có nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và có một bộ phận không nhỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhân dân ta đã từng trải qua hơn một phần ba thế kỷ buộc phải cầm súng chống thực dân, đế quốc. Đất nước cũng đã từng tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Tuy đất  nước đã thống nhất được hơn ba mươi năm, nhưng những mặc cảm, những khoảng cách còn lại ở nơi này, nơi khác thậm chí trong một số gia đình, nhất là ở các tỉnh phía Nam, trong một bộ phận đồng bào có đạo và đồng bào ta định cư ở nước ngoài vẫn còn tồn tại với những mức độ khác nhau. Mặt khác, chấp nhận phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng có nghĩa là chấp nhận thu nhập khác nhau, mức sống, lối sống không như nhau và chấp nhận sự tồn tại những lợi ích khác nhau giữa các giai tầng xã hội. Vì vậy, đại đoàn kết toàn dân tộc phải dưạ trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG 2002, tập 4, tr 161

[2] Sđd: Tập 12, tr 512

Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Nhà nước và hệ thống chính trị.

 

Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Nhà nước, vì Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng. Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc: tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; cán bộ, công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân. Đảng, Nhà nước phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân.

 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc. Là tổ chức liên minh chính trị, Mặt trận có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, góp phần tạo nên sự đồng thuận cao trong xã hội, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân.

 Giữ gìn và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là trách nhiệm của mọi người dân, của cả dân tộc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức phù hợp, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

Tùy từng lực lượng khác nhau trong xã hội mà có biện pháp, hình thức tập hợp lực lượng khác nhau. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối, chính sách và liên hệ mật thiết với nhân dân. Nhà nước không ngừng đổi mới tổ chức, bộ máy, đẩy mạnh cải cách hành chính; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; xây dựng đội ngũ công chức liêm chính, tôn trọng dân, gắn bó với nhân dân, phục vụ nhân dân..., đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là nơi tập hợp, quy tụ, giáo dục  nhân dân; đại diện cho lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, cho trí tuệ, nguyện vọng của nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể phải không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động, lề lối, tác phong công tác để xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những đặc trưng của nhà nuớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

         Trên cơ sớ nghiên cứu lý luận và thực tiễn XDNN pháp quyền trong thời gian vừa qua, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau:

Một là, đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bổn là, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dán; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

Năm là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sàn Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Trải qua hơn 20 năm tập trung đổi mới Nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đến Đại hội lẩn thứ XIII, trong phương hướng, nhiệm vụ “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đẩy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

  Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, cơ sở vững chắc để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi vì, Đảng là hạt nhân của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Đường lối đúng đắn của Đảng là yếu tố quan trọng hàng đầu để khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng để Đảng đoàn kết, nhất trí cao, thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đào tạo, xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực, gắn bó mật thiết với nhân dân là việc làm có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.”2.

Đoàn kết trong Đảng, chính quyền từ Trung ương đến các địa phương phải xứng đáng là tấm gương sáng, làm hạt nhân lãnh đạo, làm nòng cốt cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi đảng viên, cán bộ công chức phải thực sự là công bộc của dân, gương mẫu về phẩm chất, đạo đức, năng lực; đi đầu trong mọi việc là tấm gương cho nhân dân, lôi cuốn, tập hợp, giáo dục nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, Đảng Cộng sản phải thực sự trí tuệ, trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực tổ chức, lãnh đạo; đoàn kết vững chắc làm gương cho nhân dân. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và yêu cầu của cách mạng. Đảng cần đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; cần có cơ chế, quy chế phối hợp công tác giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị. Cán bộ, đảng viên phải thực sự là tấm gương của quần chúng về phẩm chất, năng lực, trách nhiệm; thực sự là công bộc của nhân dân.