Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

Chủ động phòng ngừa suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống và tiêu cực của cán bộ, đảng viên tại chi bộ, cơ quan, đơn vị

Tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được Đảng ta chỉ ra và trở thành một trong những nguy cơ lớn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Và, nguy hiểm hơn, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh là: “Sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, ... nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ hoạ theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc ... có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Nguyên nhân chủ quan chủ yếu của tình hình trên được Tổng Bí thư Đảng ta chỉ rõ: Trước hết, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm. Việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước không nghiêm. Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi không nghiêm túc; chưa phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Để khắc phục tình hình trên cũng như chủ động phòng ngừa, xử lý kịp thời những biểu hiện tiêu cực của cán bộ, đảng viên thì không nơi nào tốt hơn chính là chi bộ và cơ quan, đơn vị. Muốn vậy, các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị cần quyết liệt thực hiện đồng bộ các giái pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, Đại hội khóa XIII của Đảng và kết luận số 21-KL/TW, ngày 25 tháng 10 năm 2021 của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đề ra, trong đó tập trung tạo chuyển biến mạnh mẽ trên thực tế các nội dung, giải pháp chủ yếu sau: - Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, thông qua tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị và thực hiện Chuyên đề toàn khóa “về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, trong đó coi trọng làm theo, nói đi đôi với hành động. - Thứ hai, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình gắn với xử lý kịp thời cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức, lối sống, phong cách làm việc. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải có ý thức tự giác “tự soi”, “tự sửa” để uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức và hành động; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các biểu hiện không chuẩn mực của cán bộ, đảng viên trong quan hệ với công việc, với những người xung quanh và với chính mình. - Thứ ba, cấp ủy, chi bộ, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải quản lý chặt chẽ tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý. Đây là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được thực hiện trước hết ở các tổ chức cơ sở đảng. Quản lý đảng viên có nội dung toàn diện, bao gồm nội dung chủ yếu sau: Về tư tưởng chính trị của đảng viên, thể hiện ở lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị, ý thức, thái độ học tập lý luận chính trị, nghị quyết của Đảng; nói và làm theo nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước; có ý thức cảnh giác, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Về phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên, thể hiện ở ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh; về thực hiện quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm; về nêu gương thực hiện phương châm “nói đi đôi với làm”, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, vụ lợi. Về tổ chức, kỷ luật, thể hiện ở việc chấp hành quy định về sinh hoạt đảng; về ý thức tự giác, thẳng thắn, trung thực, khách quan, công tâm trong tự phê bình và phê bình cũng như trong thực thi công vụ. Về mối quan hệ với nhân dân, thể hiện ở khả năng tập hợp nhân dân thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương, cơ quan, đơn vị; giữ mối liên hệ thường xuyên với cấp ủy địa phương nơi cư trú. Về kết quả, chất lượng thực hiện chức trách, nhiệm vụ do tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phân công. - Thứ Bốn, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, kiểm soát việc thực thi nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền. Quyền lực được xem là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của mình thông qua các phương tiện, phương thức nào đó như: uy tín, quyền hành, cơ chế, chính sách, quy định, thậm chí bắt buộc thực hiện. Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, mọi quyền lực đều thuộc nhân dân và được Việc sử dụng quyền lực, dù là quyền lực của tổ chức hay là của cá nhân, đều phải được kiểm soát. Ở đâu có quyền lực thì ở đó có yêu cầu kiểm soát quyền lực (tức thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc vượt quá quyền lực được trao trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình). Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực là đòi hỏi khách quan, được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ theo một cơ chế nhất định. Kiểm soát quyền lực không có “vùng cấm”, không loại trừ bất cứ đối tượng nào, ở cấp nào, cương vị nào. Nếu lạm quyền, lộng quyền hay lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm” đều phải được kiểm tra, thanh tra, điều tra, xem xét, kết luận và xử lý nghiêm minh theo kỷ luật của Đảng và xử lý hoặc truy tố theo pháp luật của Nhà nước, thực thi thông qua hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, dưới sự kiểm soát của nhân dân nhằm bảo đảm quyền lực đó hoàn toàn phục vụ lợi ích của nhân dân.

GIỮ GÌN THANH DANH VÀ LUẬT NHÂN QUẢ.!

 

Gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhiều đến việc giữ gìn thanh danh, danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất. Điều này rất gần với luật “nhân - quả”. 

Luật “nhân - quả trở thành lý thuyết căn bản, là chính kiến quan trọng trong văn hóa phương Đông. Nghĩ rộng ra, đó là chân lý hiển nhiên, luôn đúng trong cả quá khứ, hiện tại tương lai. 

Trong dân gian cũng thường có câu “gieo nhân nào gặt quả nấy” hoặc “ác giả ác báo”, “ở hiền thì gặp lành” và “gieo gió ắt sẽ gặt bão” hay “nếu muốn biết quá khứ hãy nhìn hiện tại. Nếu muốn biết tương lai ra sao thì hiện tại sẽ trả lời” là nói tới luật “nhân - quả”.

Trước kia người ta thường nghĩ “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, hay “đời trước gieo nhân nào đời sau gặt quả nấy”, nhưng nhiều khi cũng không phải đợi lâu đến thế mà nó có tác động ngay trong cuộc sống hiện tại, không cần đợi đến đời sau. 

Đã nói “nhân - quả” là quy luật phổ biến của vũ trụ thì có lúc nhanh, lúc chậm, lúc nổ ra tức thì.

Các vụ án mà gần đây mà Tổng Bí thư là người “nhóm lò” càng thấy rõ điều đó.

Nhìn vào những vụ án mà cựu Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung và một loạt các vụ án khác đã, đang xảy ra càng rõ luật “của vũ trụ đất trời” này luôn đúng.

Quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực phải được sử dụng đúng nơi đúng chỗ và đúng người. Trao quyền lực cho những kẻ chỉ biết mình mà không biết người thì trở thành kẻ phá hoại. Quyền lực trong tay không thể tùy tiện ban phát cho phe cánh, cho người thân.

“Lò” của Tổng Bí thư bắt đầu bằng đường dây sử dụng người thân của ông Vũ Huy Hoàng. Đây là vấn đề bổ nhiệm cán bộ, bổ nhiệm “tay chân”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Trường hợp Trịnh Xuân Thanh cũng chỉ là mở đầu cho hàng loạt những sai phạm mà thời gian qua các cơ quan tố tụng đã đem ra xét xử. Ông Vũ Huy Hoàng lợi dụng quyền lực đến mức như Viện kiểm sát nhân dân nêu: “trong 10 ngày cuối cùng làm bộ trưởng đã duyệt giá cổ phần Sabeco thấp hơn thực tế, ép thoái vốn cho tư nhân”…Họ lợi dụng tối đa quyền lực trong tay để phục vụ cái tôi, phục vụ “cánh hẩu”, phục vụ người thân.

Trong nhiều vụ án liên quan đến ông Đinh La Thăng cũng cho thấy rõ luật nhân quả lập tức được thực thi. Những sai phạm của ông Đinh La Thăng tòa án tuyên đã rõ, ai cũng thấy. Nhưng có một việc mà tòa không tuyên, không ai nói chính là trù dập những người đã vạch ra cái sai của mình. Nếu như ông Đinh La Thăng biết nhận ra những người tố cáo mình, những người “có tiếng nói khác mình” thì không có những việc làm sai tiếp theo dẫn đến tù tội.

Chỉ đơn cử những vụ việc trên để thấy cái quy luật nó vô tư và khắc nghiệt đến nhường nào, không từ một ai. Cái sai có thể phát hiện sớm, cũng có cái sai chưa phát hiện ra hay dẫu không phát hiện ra thì quy luật nhân – quả vẫn có tác dụng. Nó làm cho bản thân người gây ra “nhân” không bao giờ bình yên, không bao giờ được sống thanh thản, nó bào mòn tình cảm lý trí, tác động đến tinh thần… và thực tế nhiều người sinh ra bệnh tật hiểm nghèo hoặc ít nhất cũng tổn hao đến sức khỏe. 

Đừng nghĩ mọi việc mình làm sai đều sẽ trôi qua. Ông bà ta thường nói “trời có mắt” chính là ở đó. Lưới trời lồng lồng không ai có thể trốn thoát những điều làm ác, làm sai, hại dân, hại nước..!

CHIẾN TRANH TÂM LÝ TRÊN MẠNG - VŨ KHÍ HỦY DIỆT THỜI ĐẠI INTERNET

 

Chiến tranh tâm lý từ xa xưa đã được sử dụng như một phương thức tác chiến hiệu quả. Lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, hiện nay, nhiều quốc gia coi chiến tranh tâm lý là mũi nhọn chiến lược có thể chọc thủng bất cứ “bức tường thép” phòng thủ nào của đối phương mà không phải sử dụng đến quân đội, vũ khí. Do đó, Quân đội ta cần tăng cường những giải pháp chủ động ngăn chặn những tác động của chiến tranh tâm lý.

Nguy hại từ “viên đạn” vô hình

Theo nghĩa rộng, chiến tranh tâm lý là sự kế tục của chính trị và là phương tiện của chính trị; là cách thức, phương pháp đấu tranh tư tưởng của các bên có mâu thuẫn về tư tưởng. Theo nghĩa hẹp, chiến tranh tâm lý là các thủ đoạn của đấu tranh tư tưởng, hay còn được gọi là tâm lý chiến thông qua sử dụng các biện pháp, cách thức tác động vào tâm lý con người, xã hội của đối phương; nhằm tạo ra những xung đột tư tưởng, từ đó gây mất đoàn kết, khủng hoảng và xung đột nội bộ, suy giảm tinh thần chiến đấu, dẫn đến phe cánh, bè phái, nội chiến, rồi tự tan rã. 

Với gần 5 tỷ thiết bị thông tin liên lạc có kết nối internet trên toàn thế giới hiện nay, cuộc chiến trên không gian mạng đã được định nghĩa là “chiến trường thứ năm”. Lý do để các nước sử dụng triệt để chiến tranh tâm lý là vì sau khi nghiên cứu các biểu hiện tâm lý con người và xã hội, các chuyên gia quân sự cho rằng, nơi dễ bị tổn thương nhất là tâm lý con người và xã hội nên đánh vào đây chẳng khác nào đánh vào “tiền duyên phòng ngự” trong trận địa tư tưởng. Một lý do khiến nhiều nước trên thế giới luôn coi chiến tranh tâm lý là mũi nhọn khi thực hiện mục đích hạ bệ, lật đổ chế độ chính trị, chính phủ của một nước khác là bởi phương thức này khiến đối phương khó “điểm mặt, chỉ tên” kẻ thù một cách chính xác; tốn kém không nhiều về kinh tế, không đổ máu binh sĩ trên chiến trường và không có sự tàn phá của bom đạn như chiến tranh xâm lược truyền thống. 

Chiến tranh tâm lý diễn ra ở nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quân sự, ngoại giao, khoa học-công nghệ, truyền thông, giáo dục, thể thao... Trong thời bình, chiến tranh tâm lý trở thành phương tiện quan trọng để tiêu diệt chính phủ của quốc gia có chủ quyền hoặc chế độ chính trị có xu hướng đi ngược lại mục tiêu “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”.

 “Đạn” của chiến tranh tâm lý là thông tin, với nhiều loại “đạn” được sử dụng ở từng thời điểm khác nhau. Nếu là tuyên truyền công khai thì sẽ có “thông tin trắng”. Còn tuyên truyền bí mật lại có “thông tin đen”, “thông tin xám”, “thông tin hồng”... Nhằm thực hiện triệt để 3 chức năng chính: Một là, đánh lạc phương hướng chính trị của đối phương thông qua việc cung cấp nhiều thông tin sai lệch cho cá nhân và cộng đồng, làm biến dạng chân lý, mang lại cho con người “bán chân lý” (thực thực hư hư), tạo nên những ảo tưởng xa lạ. Hai là, phá hoại đạo đức, lối sống của quân đội và nhân dân phía đối lập, khêu gợi sự thất vọng. Ba là, gieo cấy vào nhận thức của quần chúng các quan điểm và giá trị tinh thần theo mục đích của bên tham chiến. Vì là cuộc chiến vô hình, không giới tuyến, không bộc lộ trực diện ý đồ, khó xác định đối tượng và thông qua việc sử dụng thông tin ở các thời điểm khác nhau nên chiến tranh tâm lý trở thành cuộc chiến khó nhận diện và phòng, chống.         

Cần có lực lượng chuẩn bị tâm lý cho quân nhân

Trên thực tế, nhiều quốc gia đã xây dựng lực lượng tâm lý chiến trên internet và sử dụng hiệu quả đội quân này phục vụ mục tiêu chiến lược của mỗi nước. NATO đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu hợp tác quốc phòng trên mạng (CCDCE), đặt trụ sở tại Tallinn (thủ đô của Estonia) và thiết lập các kết nối giữa hệ thống mạng quân đội với hệ thống mạng dân dụng. Thành viên gồm những kỹ sư và hacker giỏi về thông tin mạng.

Quân đội nhân dân Việt Nam ngay từ trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã nhận thấy tầm quan trọng và dành sự quan tâm đặc biệt cho tâm lý học quân sự. Cuối năm 1969, Ban Nghiên cứu tâm lý học quân sự được thành lập. Để chuẩn bị tốt hơn nữa nhân tố con người trong hoạt động quân sự, ngày 23-12-1976, theo Quyết định số 310/QĐTM của Bộ Tổng Tham mưu, Khoa Tâm lý-Giáo dục học quân sự, Học viện Chính trị được thành lập. Đến tháng 2-1979, đồng chí Trung tá Hoàng Linh, Trưởng phòng Nghiên cứu tâm lý của Tổng cục Chính trị được điều động về giữ chức Chủ nhiệm khoa và toàn bộ bộ phận nghiên cứu của Tổng cục Chính trị được tăng cường về cho khoa. Trải qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển, Khoa Tâm lý học quân sự đã có sự phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Tâm lý học quân sự cung cấp cơ sở khoa học cho xây dựng, phát huy nhân tố con người, trực tiếp góp phần xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần cho quân đội, nhất là chuẩn bị tâm lý vững vàng cho quân nhân, hạn chế những tác hại từ các thông tin xấu độc.

Chiến tranh tâm lý thời nào cũng có, nhưng trong thời đại internet phát triển, chiến trường chiến tranh tâm lý mang một diện mạo mới, được mở rộng về quy mô và phát huy tối đa uy lực của nó. Để bộ đội có sức đề kháng tốt, tạo ra sự miễn dịch tâm lý, đòi hỏi rất cần có lực lượng chuẩn bị tâm lý cho quân nhân trước tác động của chiến tranh tâm lý hiện nay.

HỌP BẤT THƯỜNG – SỰ ĐỔI MỚI ĐẶC BIỆT CỦA QUỐC HỘI KHÓA XV


Chiều 11/1, kỳ họp bất thường đầu tiên của Quốc hội đã bế mạc sau hơn 4 ngày làm việc. Đây là lần đầu tiên Quốc hội tổ chức kỳ họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Nhiều đại biểu Quốc hội thể hiện sự đồng tình với đánh giá của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, đó là những kỳ họp “bất thường” trở thành hoạt động “bình thường” của Quốc hội nhằm đáp ứng kịp thời đòi hỏi cấp bách của thực tiễn.

Đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) cho biết, đây là một sự đổi mới đặc biệt nhất của Quốc hội khóa XV. Quốc hội họp bản chất là giải quyết những vấn đề của thực tiễn đề ra, càng gần với dân, càng sát với nguyện vọng của cử tri và càng cụ thể thì càng hiệu quả, ích lợi.

“Tại kỳ họp này, đại biểu Quốc hội được tham gia một cách hữu hiệu, kịp thời với những vấn đề của xã hội, hơi thở của cuộc sống. Nội dung chương trình thực sự cấp thiết nên cần phải có kỳ họp khẩn cấp này. Đây là một nhìn nhận rất đúng, rất trúng, rất kịp thời và khẳng định sự quyết liệt, quyết tâm và đồng hành cùng với nhân dân, cùng với cử tri để giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước” - đại biểu  Nguyễn Anh Trí chia sẻ.

Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) đánh giá những nội dung được đưa ra bàn tại kỳ họp bất thường lần này là cần thiết, quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn được đông đảo người dân và cử tri cả nước đồng tình ủng hộ.

Đại biểu Hòa nhận thấy, mặc dù thời gian diễn ra chỉ có 4,5 ngày làm việc chính thức nhưng Quốc hội đã làm việc rất nghiêm túc, khẩn trương. Trong thời gian diễn ra kỳ họp bất thường này, đặc biệt là thời gian thảo luận trực tuyến, các đại biểu Quốc hội rất tích cực tham gia, thể hiện thái độ và tinh thần trách nhiệm rất cao của người đại biểu đại diện cho tiếng nói của đông đảo cử tri.  

Đại biểu Bùi Hoài Sơn, Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội cho rằng, mặc dù là kỳ họp bất thường, diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng để đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết của cuộc sống, nhất là trong bối cảnh đất nước đang trong giai đoạn hết sức đặc biệt.

Vì vậy, cách thức tổ chức phiên họp đặc biệt nhưng chúng ta cũng đã xử lý các vấn đề đặc biệt và điều quan trọng là bắt kịp, giải quyết được những vấn đề thực tiễn cuộc sống; Đồng thời đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của cử tri cả nước, giúp chúng ta xử lý được những vấn đề để thúc đẩy sự phát triển của đất nước nhanh chóng trong thời gian sắp tới.

“Chúng ta kỳ vọng rằng là những quyết sách đưa ra tại kỳ họp này đáp ứng kịp thời trong thực tiễn cuộc sống, để thích ứng linh hoạt và an toàn trong cuộc sống sau một giai đoạn dịch bệnh hết sức nguy hiểm, chúng ta có được những giải pháp phù hợp; Từ đó giúp chúng ta có được niềm tin vững chắc vào những chính sách của Đảng và Nhà nước nước và có những kế hoạch hết sức cụ thể và phù hợp, giúp nhanh chóng vượt qua đại dịch này và phát triển đất nước”- đại biểu Bùi Hoài Sơn cho biết.

Theo đại biểu Bùi Hoài Sơn, đây là cuộc họp bất thường đầu tiên trong năm, là kỳ họp bất thường đầu tiên trong lịch sử. Chính tinh thần đổi mới của Quốc hội, sự quyết tâm và quyết liệt của các cơ quan Quốc hội đó cho thấy rằng Quốc hội của chúng ta thực sự đã đáp ứng sự đổi mới, thực sự đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của nhân dân và theo sát những diễn biến của xã hội, Quốc hội thực sự là Quốc hội của dân do dân vì dân.

Nhấn mạnh việc Quốc hội xem xét để thảo luận thông qua một dự án luật sửa nhiều luật lần này có ý nghĩa rất lớn, đại biểu Phan Đức Hiếu (Thái Bình) cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, do tác động của dịch Covid-19, công tác quản trị quốc gia buộc phải thay đổi và phải theo một đòi hỏi mới. Đó là chúng ta phải quyết định nhanh hơn, quyết định các vấn đề khó hơn và quyết định các vấn đề tổng thể hơn, đòi hỏi kịp thời hơn nên việc Quốc hội lần này xem xét để thông qua tại một kỳ họp một luật sửa nhiều luật là một phản ứng phù hợp và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi trong bối cảnh mới về cải cách thể chế.

Đại biểu Phan Đức Hiếu cũng đánh giá cao ý nghĩa của Dự án luật sửa nhiều luật lần này ở chỗ đã thể hiện hành động quyết liệt để tháo gỡ những khó khăn, những vướng mắc, những rào cản cho sản xuất kinh doanh để thúc đẩy phát triển kinh tế và nó là điều bắt buộc, cần thiết để đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là cải cách thể chế và điều hành kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Đại biểu tin tưởng chúng ta sẽ thành công với tiền lệ lần này.

“Trong bối cảnh chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện thể chế, tiền lệ này theo tôi là rất tốt và có thể sẽ phải phát huy. Với cách làm này của Quốc hội, đã thể hiện sự năng động quyết liệt, thậm chí một sự chủ động của Quốc hội”, đại biểu Phan Đức Hiếu bày tỏ./.

XUÂN SỚM TRÊN TUYẾN ĐẢO ĐÔNG BẮC


 Từ ngày 6 đến 9/1 đoàn công tác Quân chủng Hải quân và Vùng 1 đã đi thăm, chúc tết cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các đảo phía Đông Bắc của Tổ quốc. Chuẩn Đô đốc Phan Tuấn Hùng, Phó Tư lệnh Hải quân làm trưởng đoàn.


Đoàn xuất phát từ cảng Lữ đoàn 170, Vùng 1, mang theo quà của Quân chủng Hải quân, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Vùng 1 và các cơ quan dân chính đảng tặng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các đảo nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 và kiểm tra công tác huấn luyện, SSCĐ của các trạm ra đa thuộc Tiểu đoàn 151, Vùng 1 Hải quân.


Đến thăm các đơn vị đóng quân trên các đảo, đoàn công tác đã thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ tiếp tục khắc phục khó khăn, SSCĐ cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đoàn công tác đề nghị các đơn vị tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ đón Tết cổ truyền vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương làm tốt công tác dân vận, giúp nhân dân phát triển kinh tế, xây dựng địa bàn đóng quân an toàn và bảo đảm công tác phòng chống dịch Covid-19.

Hoạt động báo chí cần chủ động, linh hoạt, kịp thời trong đấu tranh, phản bác luận điệu sai trái trên mạng xã hội

Hiện nay trong kỷ nguyên thông tin, các thế lực thù địch không từ bất cứ thủ đoạn nào, triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để tuyên truyền chống phá Việt Nam trên nhiều mặt trận, nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội. Dự báo trong thời gian tới hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng ngày càng tinh vi, phức tạp, khó lường, vì thế, hoạt động báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng cần: - Thường xuyên cập nhật và nắm vững quan điểm thông tin tuyên truyền của Đảng và Nhà nước mà trước hết và quan trọng nhất là hiểu rõ các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bám sát sự chỉ đạo và định hướng thông tin của cấp trên. Cần linh hoạt, chủ động định hướng thông tin trong nội bộ để phản bác, hoặc đề xuất xin ý kiến với cấp có thẩm quyền để kịp thời đưa thông tin phản hồi, chỉnh hướng hoặc bác bỏ thông tin sai lệch. Nhất là Chỉ thị số 12/CT-TTg, ngày 12/5/2021, của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền trên các nền tảng mạng xã hội, hệ thống thông tin cơ sở và các phương tiện truyền thông mới; có biện pháp đấu tranh hiệu quả trên mạng xã hội xuyên biên giới vào Việt Nam. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam cùng các bộ, ngành liên quan chủ động cung cấp thông tin nhằm định hướng dư luận, đẩy lùi thông tin, văn hóa xấu độc, nâng cao ý thức cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. - Cần phải chủ động, kịp thời; tổ chức thông tin tốt: Trong cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng, các tòa soạn phải chủ động khắc phục được tình trạng “điểm trắng”, “vùng trắng” về thông tin; triệt tiêu khả năng, cơ hội chiếm lĩnh cạnh tranh của các thông tin độc hại ngoài luồng đối với các thông tin chính thống của báo chí trong nước. Đây là phương thức hữu hiệu nhất ngăn chặn, đẩy lùi một cách chủ động các thông tin sai trái của kẻ thù. Đặc biệt, các tòa soạn báo điện tử phải tổ chức thông tin tốt, thực hiện vai trò “nhạc trưởng” chỉ đạo, gợi ý, hướng dẫn, lên kế hoạch, tổ chức tuyến thông tin sao cho hiệu quả, phù hợp nhất trong điều kiện cụ thể về nhân lực, vật lực và yêu cầu đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của việc thực hiện nhiệm vụ ở mỗi tòa soạn. Việc tổ chức thông tin cũng giúp cho dòng chảy thông tin của các cơ quan báo chí được liên tục, không đi chệch “đường ray”, không bỏ sót, bỏ lọt sự kiện và cũng hạn chế được tình trạng “đánh với, đuổi theo” sự kiện, làm ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng thông tin. - Phải linh hoạt, đảm bảo cho hệ thống báo chí điện tử khắc phục tính máy móc, kém hiệu quả trong việc sử dụng sức mạnh của công luận đấu tranh chống các luận điệu sai trái; đồng thời, ứng phó thành công với các thủ đoạn của các thế lực thù địch. Sự linh hoạt thể hiện cụ thể ở việc sử dụng, phát huy có hiệu quả nhất ưu thế nhanh nhạy và tính đa phương tiện của báo điện tử; xác định rõ, khi nào cần huy động cả hệ thống, khi nào chỉ huy động một bộ phận; khi nào cần sự tham gia của báo chí Trung ương, khi nào chỉ cần sự tham gia của báo chí địa phương; khi nào cần báo chí trong nước, khi nào cần và bằng cách nào để có thể khai thác, tranh thủ báo chí hải ngoại, báo nước ngoài để đưa thông tin có lợi cho ta, tăng cường khả năng thuyết phục với công chúng ngoài nước và các quốc gia trên thế giới. - Quan tâm đến liều lượng, tính toán thời điểm một cách hợp lý: Kinh nghiệm cho thấy, nhiều trường hợp, hiệu quả đấu tranh của báo chí phụ thuộc vào việc phân tích, đánh giá từng tình huống cụ thể cũng như khả năng chuyển hoá của đối tượng trong các thời điểm cụ thể, trên cơ sở đó điều chỉnh liều lượng thông tin một cách hợp lý. Mọi sự máy móc, cực đoan, thiếu nhạy cảm, thiếu sự nhìn nhận biện chứng trong đấu tranh sẽ không mang lại hiệu quả, thiếu tính thuyết phục, mà còn bỏ lỡ cơ hội thuyết phục, tranh thủ, lôi kéo, thức tỉnh đối tượng, nhất là những người vốn chỉ bị kích động, lừa gạt, lợi dụng, nhận thức được lẽ phải, từ đó từ bỏ những hoạt động sai trái của mình. - Chủ động trong việc phân tích và dự báo tình hình: Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả, nâng cao tính chiến đấu và sức thuyết phục của thông tin, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông và cơ quan chức năng cần chủ động hơn trong việc phân tích, dự báo tình hình, chỉ đạo nhạy bén, kịp thời để cơ quan báo chí phản ứng nhanh nhạy, làm chủ thông tin trên mặt trận đấu tranh với thông tin, quan điểm sai trái, mang tính vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch. - Thường xuyên rèn luyện nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị cho phóng viên, biên tập viên: Để nâng cao chất lượng và số lượng của tuyến tin phản hồi, chỉnh hướng, bác bỏ thông tin sai lệch, điều trước tiên là phải rèn luyện, nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, sự nhạy bén nghề nghiệp cho mỗi phóng viên, biên tập viên. - Xây dựng hệ thống cộng tác viên tin cậy: Để có thể nâng cao số lượng và chất lượng của tuyến tin phản hồi, chỉnh hướng, bác bỏ thông tin sai lệch, mỗi tòa soạn cần xây dựng được hệ thống cộng tác viên tin cậy, gắn bó, am hiểu tình hình, tạo được mối quan hệ mật thiết với cơ sở, với các đầu mối cung cấp thông tin ngay tại chỗ. Để tăng tính chuyên sâu, mỗi cơ quan báo chí cũng cần thường xuyên tăng cường phối hợp với các nhà quản lý, lãnh đạo, các chuyên gia, nhà khoa học ở các viện nghiên cứu để tổ chức tuyến bài đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái. - Hiểu rõ phương thức hoạt động của các phương tiện truyền thông, các đối tượng, các nguồn thường tung ra các thông tin thù địch, thông tin phiến diện, sai sự thật, hoặc không chính xác, hoặc sai định hướng để xây dựng phương thức đấu tranh thông tin phù hợp. Khi hiểu rõ phương thức hoạt động của các đối tượng này, sẽ giành được thế chủ động trong đấu tranh thông tin. - Tăng cường trao đổi, xây dựng cơ chế phối hợp thông tin với các cơ quan báo chí của Đảng và Nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, báo Quân đội Nhân dân, báo Công an Nhân dân, báo Điện tử Chính phủ, báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam… Cơ chế hợp tác cần được thể chế hóa thông qua các thỏa thuận được ký kết giữa các bên có liên quan. Việc triển khai thực hiện các thỏa thuận đã ký cũng cần được đôn đốc, kiểm tra, bàn bạc, trao đổi để bảo đảm hợp tác có hiệu quả thực sự, tránh hình thức. Như trong cuộc chiến chống tin giả về COVID-19, cũng không thể không nói tới vai trò hợp tác của các tập đoàn công nghệ như Microsoft Corp, Facebook, Google và Twitter, từ gỡ bỏ những thông tin giả mạo tới chia sẻ những thông tin chính thống. - Tổ chức rút kinh nghiệm từng đợt thông tin hoặc từng giai đoạn. Việc rút kinh nghiệm phải thực hiện sâu sát đến từng sản phẩm, có so sánh, đối chiếu với những tác phẩm hoặc vấn đề đã rút kinh nghiệm lần trước để tránh lặp lại các sai sót. Việc tổ chức rút kinh nghiệm cần được thực hiện nghiêm túc, tránh làm hình thức và phải tổ chức lưu trữ hồ sơ về các đợt rút kinh nghiệm này. Khâu tổ chức rút kinh nghiệm, nếu được làm tốt, không chỉ có tác dụng nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyến thông tin phản hồi, chỉnh hướng và bác bỏ thông tin sai lệch mà quan trọng hơn, giúp nâng cao tay nghề của các nhà báo được giao thực hiện tuyến tin này./.

NGUYỄN THỊ BÌNH-NGƯỜI PHỤ NỮ LÀM RẠNG DANH DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ XX!

KỶ NIỆM 49 NĂM NGÀY KÝ HIỆP ĐỊNH PA RI (27/01/1973-27/01/2022)

🌺🌺🌺🇻🇳🇻🇳🇻🇳❤️❤️❤️

Bà Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh năm 1927 ở tỉnh Sa Đéc, Nam Bộ, là cháu ngoại chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Năm 1948, hoạt động chống Pháp ở Sài Gòn, lấy bí danh là Yến Sa. Năm 1961, làm công tác đối ngoại của Ủy ban thống nhất tại Hà Nội, đổi tên là Nguyễn Thị Bình để bảo đảm bí mật.

Thân sinh làm trắc địa ở Campuchia, đưa cả gia đình sang sống ở Phnompenh. Vì vậy, Nguyễn Châu Sa học trường Lycée Sisowath, trường trung học lớn nhất của Campuchia nên rất thông thạo tiếng Pháp, lại có khuôn mặt xinh tươi, vóc dáng thon thả, hợp với nghề ngoại giao. Suốt 14 năm làm công tác ngoại giao, Bà đã tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng ở các nước châu Âu, trong đó có 5 năm là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.

49 năm trước, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết sau 4 năm đàm phán. Trong khoảng thời gian đó, một nhân vật được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ là bà Nguyễn Thị Bình, được gọi thân mật là "Madam Bình".


2 giờ chiều ngày 2-11-1968, bầu trời Paris u ám và giá lạnh, bà Nguyễn Thị Bình trong bộ áo dài màu hồng sậm, khoác măng tô xám với chiếc khăn quàng đen điểm hoa, cùng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam bước xuống sân bay Bourget giữa đám đông người chào đón, trong đó có nhiều nhà báo. Máy ảnh chớp lia lịa.


 Bước vào phòng khách danh dự, bà cố gắng nói to, dõng dạc 5 điểm giải pháp của Mặt trận, bà Bình Thanh (Thanh Vân, chị gái bà Bình), dịch rõ ràng mạch lạc.

Đám nhà báo ngạc nhiên, im lặng, rồi xung quanh vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ loảng xoảng và cãi cọ om xòm vì ai cũng muốn đứng gần bà Bình để ghi hình, ghi tiếng tốt hơn.


Ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) cùng bà Bình đi trên đoàn xe bóng loáng, phấp phới lá cờ nửa đỏ nửa xanh, có ô tô, mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống, bà con Việt kiều và người dân Paris đứng chật hai bên đường sững sờ, xúc động. Hôm sau tất cả các báo Pháp và báo của các nước phát hành ở Paris đều chạy tít lớn: “Đại diện của Việt cộng đã đến Paris” và những lời bình rất kêu: “Việt cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp Madam Bình ở Paris”; “Madam Bình như một bà hoàng được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính quy, lại được hoan nghênh nhiệt liệt”; “Madam Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có!”.

Nhiều nhà báo đeo bám đến nơi ở, có nhà báo leo qua tường, có người đặt máy ảnh giữa kẽ hở cánh cửa để bất chợt chụp được những tấm ảnh đặc biệt của “đoàn Việt cộng”, nhất là ảnh Madam Bình ở biệt thự Thévent.

Trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4-1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ. Chuyến thăm tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, Madam Bình từ trên đài cao bước xuống, đi diễu hành giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar lớn, rừng người hô vang khẩu hiệu “Đoàn kết với Việt Nam!”, “Chấm dứt chiến tranh!”.

Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng Madam Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: “Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…”.

Trong buổi trả lời phỏng vấn. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”.

Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” . Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”.

Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người, phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen: “Cô rất dũng cảm”.

Khi Mỹ huy động máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30-12, về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26-12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo. Thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên.

Ngày 21-1-1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!”. Hãng AFP mô tả: “Madam Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc Madam Bình nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin”.

Ngày 27-1-1973, họp phiên chính thức ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Phóng viên hãng AP của Mỹ mô tả Trung tâm hội nghị Kléber tràn ngập biển người và cờ Việt Nam, cờ Mặt trận. Họ tung hô Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình: “Hoan hô Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ! Hoan hô Chính phủ Cách mạng lâm thời!”. Mỗi vị ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Phóng viên UPI của Mỹ viết: “Buổi lễ ký kết hòa bình ở Việt Nam diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra. Bốn Ngoại trưởng, 2.000 cảnh sát và an ninh bảo vệ nghiêm cẩn”.

Bà Bình nhớ rõ, với 174 phiên họp chính thức, hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tổ chức hơn 500 cuộc họp báo và 1000 lần trả lời phỏng vấn báo chí. Ngày 29-1-1973, hai đoàn Việt Nam tổ chức chiêu đãi các nhà báo. Ông Lê Đức Thọ hoan nghênh và cảm ơn các nhà báo. Cả phòng họp với hơn 400 nhà báo quốc tế đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Đó là một ngoại lệ chưa từng có trong các cuộc họp báo trước đó./.

Yêu nước ST.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị trọng yếu hiện nay

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và đó cũng là nền tảng tư tưởng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị trọng yếu hiện nay, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, “phi chính trị hóa” Quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; xác định tốt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không bị tác động bởi sự chống phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhiệm vụ này càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả từ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là học thuyết khoa học và cách mạng, vũ khí sắc bén của giai cấp vô sản và nhân loại để đấu tranh chống giai cấp bóc lột, giải phóng mình, thực hiện sứ mệnh lịch sử đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân lao động. Vì vậy, từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn bị chủ nghĩa đế quốc, các phần tử phản động ra sức chống phá, phủ nhận, hòng xóa bỏ lý tưởng cao đẹp và nhân văn của Học thuyết này. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự chống phá của các thế lực thù địch cũng không nằm ngoài mưu đồ của chúng đối với cách mạng Việt Nam, nhằm thực thiện “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho cán bộ, chiến sĩ phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phân rã về tư tưởng, rệu rạo về tổ chức, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn tới hủy hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Nhận thức rõ mưu đồ đó, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động, triển khai đồng bộ các giải pháp, cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện trong đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự, quốc phòng của Đảng; những kiến thức cơ bản về văn hóa - xã hội, nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Các cơ quan, viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, có nhiều chương trình, đề tài, chuyên đề bài giảng, phát hành ấn phẩm có giá trị khoa học, lý luận và thực tiễn. Trong quá trình đấu tranh đã có nhiều bài viết vạch trần quan điểm sai trái, thù địch, còn có bài viết nói lên những thành tựu của đất nước, Quân đội ta trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng; coi đó là câu trả lời thiết thực nhất để khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chủ trương của Đảng, dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước yêu cầu cao của hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trước hết là đổi mới tư duy quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; về kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế. Trọng tâm vào tuyên truyền các chủ trương, định hướng công tác lớn của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các tổng cục; trao đổi, tổng kết kinh nghiệm về các mặt hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân, của cấp ủy, chính quyền các địa phương và các ban, ngành, đoàn thể Trung ương,… trong xây dựng nền Quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng, thế trận Quốc phòng toàn dân, kết hợp với lực lượng, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố; kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế; kết hợp kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh và đối ngoại; nghiên cứu một số vấn đề về nghệ thuật quân sự, phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Đáng chú ý là luôn tích cực đấu tranh và đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận chính trị - tư tưởng, chống quan điểm sai trái, chống chiến lược “Diễn biến hoà bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch; chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, đấu tranh trực diện phê phán các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, thông qua những bài viết đăng trên các ấn phẩm của Tạp chí. Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các cấp, các ngành. Nhận thức rõ điều đó, thời gian tới, chúng ta tiếp tục chú trọng tuyên truyền trên lĩnh vực này, bảo đảm tính chiến đấu cao, kịp thời, hiệu quả, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch./.

HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CHỦ YẾU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

             Với âm mưu loại bỏ dần hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch tập trung phủ định lý luận chủ nghĩa Mác, nhất là các vấn đề cơ bản, như: giai cấp, đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản. Viện dẫn sự đổ vỡ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời, tội lỗi, đã và đang đi vào diệt vong; chủ nghĩa đó chỉ phù hợp nhất thời đối với nước Nga vào thế kỷ XX, không phù hợp với Việt Nam. Học thuyết của C.Mác chỉ là giả thuyết không tưởng. Sứ mệnh của giai cấp công nhân “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn vạn lần xã hội cũ” là viển vông. Theo họ, giai cấp công nhân, trong đó có cả lãnh tụ của giai cấp đó là những người có học vấn thấp, giỏi lắm chỉ có thể lật đổ được chế độ xã hội cũ, chứ không thể lãnh đạo cải tạo và xây dựng thành công một xã hội tốt đẹp hơn, nhất là trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển. Họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã sụp đổ hoàn toàn; đó làthứ lý luận lỗi thời, đang cản trở con đường đi lên của dân tộc Việt Nam. Với kiểu 1ý lẽ đó, họ đòi Đảng ta phải từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là nền tảng tư tưởng, có như vậy con đường phát triển của cách mạng Việt Nam mới đi theo đúng quỹ đạo của thế giới. Hùa theo luận điệu trên, các đối tượng cơ hội chính trị trong nướccũng cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm, ảo tưởng, kêu gọi chia tay ý thức hệ.

Về hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, họ cho rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng của phương đông, tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng đắn. Song các thế hệ lãnh đạo sau Hồ Chí Minh đã phản bội và làm sai tư tưởng này” và Bác vạch ra con đường dân chủ nhân dân, chứ không nói đến cách mạng xã hội chủ nghĩa”, hòng chống phá sự lãnh đạo đất nước của bộ máy hiện tại. Mặt khác, chúng lại xuyên tạc rằng: Hồ ChíMinh là người theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện để thực hiện tư tưởng của mình nên đã tạo ra những sai lầm lịch sử. Đồng thời, họ cũng phủ định nhiều quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát động chiến dịch “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” trong thời gian dài bằng việc xuyên tạc, vu khống thấp hèn..., bất chấp việc Người là hiện thân của nhân văn, biểu tượng về nhân cách, luôn ở trong con tim, khối óc của nhân dân Việt Nam và thế giới vì những đóng góp xứng đáng của Người vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người là danh nhân văn hóa thế giới.

Chúng còn ngang nhiên phủ nhận vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện ráo riết, điên cuồng với những đòi hỏi phi lý về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thực hiện “tam quyền phân lập”, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây; thiết lập nền kinh tế tư nhân hóa tuyệt đối; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Sự chống phá đó ngày càng phát triển, biến đổi về thủ đoạn; đặc biệt là lợi dụng sự bùng nổ về công nghệ thông tin, truyền thông xã hội, mạng xã hội để chống phá thường xuyên, liên tục bằng các chiêu trò thâm độc, đả kích trực diện vào những vấn đề cơ bản, cốt lõi về nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, như: vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; nguyên tắc tập trung dân chủ... Họ tuyên truyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là đội tiên phong, không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động... nên không còn đủ tư cách lãnh đạo đất nước.

Các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, chúng đều hiểu: giai cấp côngnhân và nhân dân lao động nước ta đã thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện vai trò lãnh đạo đối với đất nước. Do vậy mưu đồ “diễn biến hòa bình” của chúng là làm cho Đảng ta mất quyền lãnh đạo hoặc trong Đảng có sự thoái hóa, biến chất. Bởi vậy, bấy lâu nay các thế lực thù địch trong, ngoài nước dùng trăm phương, nghìn kế thông qua truyền thông, đặc biệt là truyên thông trên nền tảng Internet để đả kích hòng hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng, hoặc làm hỏng đội ngũ đảng viên của Đảng.

Song song với chống phá các vấn đề cơ bản, cốt lõi về nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, họ còn kích động phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kêu gọi quân đội từ bỏ hệ tư tưởng vô sản, đứng về phía “nhân dân”, phục vụ Tổ quốc; lợi dụng những vấn đề phức tạp trên biển Đông, những tranh chấp chủ quyền biển, đảo để nói xấu Đảng, Nhà nước và hạ thấp vai trò của quân đội trong giải quyết các vấn đề trên biển Đông; chia rẽ đoàn kết nội bộ quân đội, đoàn kêt quân dân; cổ vũ lối sống thực dụng, từ đó làm phai nhạt lý tưởng, tha hóa về phẩm chất chính trị, đạo đức, lôi sống của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. 

Vì vậy, Đảng ta luôn kiên trì lãnh đạo đấu tranh, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ, phát triển và làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, xã hội Việt Nam; đồng thời vô hiệu hóa các luận điệu và hoạt động phá hoại tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bảo vệ thành công các quan điểm, tư tưởng đổi mới của Đảng.

ĐÚNG NHƯ NHỮNG GÌ TƯỚNG VỊNH NÓI!

        Nhìn những gì đã và đang diễn ra ở Afghanistan hiện nay lại nhớ câu trả lời của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh khi hỏi ông về di sản mà Việt Nam để lại ở Campuchia sau 10 năm ở lại nước bạn:

“Cũng cần nhắc thêm rằng, thời kỳ đó, tất cả các cuộc chiến tranh mà một nước đưa quân vào một nước khác đều thất bại. Tất cả đều không giữ được chế độ, tất cả đều gây mất ổn định và chìm sâu vào nội chiến.

Duy nhất chỉ có Campuchia là giữ được chính quyền, giữ được sự ổn định, có được hòa bình, giải giáp được Khmer Đỏ và bước ra môi trường quốc tế sau khi được kết nạp vào ASEAN năm 1998 tại Hà Nội. Không có cuộc chiến nào để lại được di sản vĩ đại như những gì Việt Nam mang lại cho Campuchia”.


Tướng Vịnh tâm sự:

"Tôi sang Campuchia khá muộn, năm 1984 - 5 năm sau ngày 7-1-1979.

Khi đó, thủ đô Phnom Penh vẫn là một thành phố vắng người, hoang tàn và nghèo khó, chưa có một công trình nào được xây dựng lại. Thỉnh thoảng tôi ra làm việc ở khu vực sân bay Pochentong.

Cứ khoảng 10h sáng mỗi ngày có chuyến bay chuyển thương về Việt Nam. Nhiều xe Gaz-66 chở anh em ra sân bay, trên thùng xe xếp những băng ghế để thương binh ngồi.

Tôi thấy 30 anh em, đa số mất một chân vì vướng mìn. Họ bá vai nhau hát hò, cười nói thật vô tư.

Họ sắp được về nhà..."

“Cuộc chiến đó không chỉ vì Việt Nam mà còn vì nhân dân Campuchia, vì hòa bình của khu vực và thế giới.”


Cách đây vài hôm, trong bài phát biểu, ông Hun Sen, Thủ tướng Campuchia nói: "Ngày 7-1-2022 là ngày kỷ niệm 43 năm chiến thắng lịch sử của nhân dân Campuchia lật đổ chế độ d.iệt c.hủng Pol Pot, kịp thời cứu dân tộc hồi sinh, kết thúc thời kỳ đen tối, mở ra kỷ nguyên mới độc lập, tự do, dân chủ và phát triển xã hội của Campuchia"./.

Ảnh: Phnom Penh 2021 và Phnom Penh 2005.

Yêu nước ST.

BIẾN ĐỘNG CHÍNH TRỊ VÀ MẠNG TRUYỀN THÔNG

                 Điểm lại lịch sử, một số cuộc cách mạng sắc màu có sự tác động của mạng truyền thông xã hội. Sau khi Liên bang Xô viết tan rã, các cuộc chiến tranh như ở I rắc (1989-1991), chiến trang Nam Tư, chiến tranh Apsganixtan, nước Mỹ và đồng minh sử dụng sử dụng sức mạnh của vũ khí có thể nhanh chóng giành chiến thắng. Tuy nhiên kết quả đạt được tốn kém về tài chính, tiêu hao về vũ khí và sinh mạng con người. Chính vì vậy, các thủ đoạn chiến thắng không cần chiến tranh lại được các nước phương Tây áp dụng với những chiêu bài rất mới. Trong đó triệt để sự dụng công cụ truyền thông trên mạng internet để tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động hận thù giai cấp, dân tộc tôn giáo, gây chia rẽ nội bộ đối phương, kích động dân chúng chống chính quyền, làm rối loạn xã hội.

            Điển hình như cuộc “cách mạng nhung ở Nam Tư” năm 2000. Chưa đầy một năm, sau cuộc tiến công hỏa lực đường không của Mỹ và NaTo, Nam Tư tiến hành cuộc bầu cử tổng thống. Theo kết quả vòng một, hai ứng cử viên là đương kim tổng thống Slobodan Milosevic và thủ lĩnh đảng đối lập – Đảng dân chủ Xecsbia Côxtunica đều không giành được đa số phiếu theo luật định để giành thắng lợi trực tiếp, mà phải tiến hành bầu cử vòng 2. Ngay lập tức Đảng dân chủ Xecsbia đã tuyên bố có gian lận trong kết quả bầu cử, bác bỏ yêu cầu bầu cử vòng 2; tiếp theo là sự vào cuộc của truyền thông kêu gọi dân chúng hưởng ứng chiến dịch “bất tuân lệnh” trên toàn quốc, đòi ông Milosevic từ chức để trao quyền điều hành đất nước cho ông Côxtunica. Ngày 5-10-2000, phe đối lập đã tràn vào tòa nhà Quốc hội, Đài phát thanh truyền hình và ông Côxtunica tuyên bố mình là tổng thống Liên bang. Ngày 6-10, Tòa án Hiến pháp Nam Tư tuyên bố thủ lĩnh đảng đối lập Côxtunica thắng cử và trở thành tổng thống mà không cần bầu cử vòng 2.

            Cuộc “cách mạng hoa hồng” ở Grudia năm 2003 cũng là một kịch bản tương tự như ở Nam Tư xảy ra. Tháng 11-203, Grudia tiến hành bầu cử Quốc hội. Kết quả kiểm phiếu ban đầu cho thấy, Đảng của ông Eduard Shevardnadze và những người ủng hộ ông đã giành chiến thắng. Tuy nhiên, Đảng đối lập ở Grudia và chính phủ các nước phương Tây tuyên bố có gian lận trong kết quả bầu cử. Trên các phương tiện truyền thông, các luận điệu tuyên truyền, kích động đòi ông Shevardnadze từ chức và tiến hành cuộc bỏ phiếu lại nở rộ của các thế lực đối địch. Một ngày sau khi quốc hội họp khóa mới đầu tiên, tổng thống Shevardnadze buộc phải đọc đơn từ chức.

            Qua cuộc “cách mạng nhung ở Nam Tư” và “cách mạng hoa hồng” ở Grudia cho ta thấy, không gian mạng có ảnh hưởng lớn trong việc truyền tải thông tin, định hướng dư luận; tác động mạnh tới tư tưởng nhận thức, quan điểm của người dùng mạng xã hội trong mọi vấn đề đời sống xã hội. Các nguy cơ mất an toàn thông tin, sự chống phá của các thế lực thù địch nhằm mục đích “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, chiến trang mạng… ngày càng hiện hữu và là thách thức lớn mà các cơ quan an ninh lớn đang phải đối mặt.

            Đối với Việt Nam, việc lợi dụng các phương tiện truyền thông đặc biệt là mạng xã hội để chống phá Đảng và Nhà nước ta đã được các đối tượng triệt để thực hiện. Thông qua, mạng xã hội youtobe, facebook, chúng tung ra nhiều video, bài viết xuyên tạc về thành quả cách mạng, về sự phát triển kinh tế, chính trị xã hội của đất nước. Chúng lợi dụng các vụ việc có ảnh hướng lớn tác động đến đời sống xã hội để kích động người dân thiếu hiểu biết tổ chức biểu tình, chống phá. Sự việc Trung Quốc hạ đạt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển Việt Nam năm 2014 là một minh chứng. Lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, thông qua các phương tiện truyền thông, các tổ chức chống đối, thù địch đã thành lập những nhóm kín kêu gọi người dân đứng lên biểu tình phản đối. Từ lời kêu gọi mỹ miều trên không gian mạng đã tạo nên một hiệu ứng yêu nước mù quáng, nhiều người dân nghe theo kẻ xấu tụ tập biểu tình, rồi kích động đập phá các nhà máy, xí nghiệp của Trung Quốc và một số nước tạo nên sự bất ổn chính trị, xã hội ở một số nơi. Bên cạnh đó, thông qua mạng xã hội, chúng còn tuyên truyền cho nhau cách thức đối phó chống lại các lực lượng chức năng… 

        Nguy hiểm hơn, nhân các sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc, nhất là khi chúng ta tiến hành đại hội Đảng các cấp, các thế lực thù địch càng ráo riết lợi dụng phương tiện truyền thông, báo chí ở nước ngoài, nhất là các trang mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc làm giảm uy tín cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội thông qua những cái gọi là “tài liệu nhạy cảm”. Chúng khai thác, cắt xén, nhào nặn những thông tin sai sự thật, khó kiểm chứng, thật giả lẫn lộn, dễ gây hoài nghi, tò mò trong dư luận. Không những thế, chúng còn tuyên truyền, lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn dưới danh nghĩa các “nhà dân chủ” để tập hợp lực lượng, hòng dựng “ngọn cờ”, lập các tổ chức chống đối thông qua các trang mạng, blog cá nhân; lợi dụng phản biện xã hội để chống Đảng, chế độ, phủ nhận thành quả của sự nghiệp đổi mới đất nước. Đặc biệt, chúng lợi dụng một số đối tượng, trong đó có cả những người đã từng hoạt động trong cơ quan báo chí viết bài viết tung lên mạng để xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

ĐỂ ĐẢNG MÃI TRONG LÒNG DÂN!

        Trong lịch sử 92 năm xây dựng và phát triển của mình, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng luôn gắn bó với Nhân Dân. Tôn chỉ, mục tiêu tối thượng của Đảng là vì độc lập dân tộc, vì tự do và hạnh phúc của Nhân Dân.

Sự vĩ đại của Đảng không phải ở số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở đảng, mà ở chỗ Đảng hóa thân trong khát vọng tự chủ, tự cường, trường tồn dân tộc. Dưới ánh dương rực rỡ của Đảng, mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân không có đất sinh tồn. Nhưng chủ nghĩa cá nhân không tự nó tiêu vong mà Đảng phải có phương thức đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi, kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm minh.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua của Đảng đã minh chứng cho tinh thần cách mạng “làm trong sạch Đảng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh lúc sinh thời là phải “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên của mọi biểu hiện tha hóa quyền lực “làm quan cộng sản”, “kiêu ngạo cộng sản”.

Mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang xuất lộ nhiều thứ “dịch bệnh”, nguy hại nhất là bệnh “coi khinh lý luận”, hoặc chỉ miễn cưỡng học lý luận chính trị nhằm có đủ tiêu chuẩn vào quy hoạch, được bổ nhiệm. Những phần tử cơ hội chính trị, những cán bộ, đảng viên hám chức vụ, mau chóng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, và khi dân không tin, thì làm sao dân yêu quý, giúp đỡ và bảo vệ Đảng?

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã đưa “tiêu cực” vào đối tượng “giặc nội xâm” là hết sức xác đáng; mở rộng phạm vi không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị. Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì dân không đồng tình, thậm chí căm ghét, phản đối thì chúng ta phải cương quyết ngăn ngừa, uốn nắn và xử lý nghiêm các sai phạm”. Vậy nên trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng phải dựa vào dân để làm cho Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch vững mạnh, xứng tầm với yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đây chính là sự nhận thức sâu sắc hơn, trở về với giá trị cốt lõi của lý luận cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam “Dân là gốc”, đồng thời thể hiện sự tuyệt đối trung thành của Đảng “vì nước, vì dân”.

Những điểm mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được lòng dân đồng thuận. Cơ đồ của đất nước đàng hoàng, bề thế, tươi sáng như ngày hôm nay là thành quả của bao thế hệ đảng viên ưu tú từ Nhân Dân mà ra, gắn bó máu thịt với Nhân Dân mà trưởng thành. Chìa khóa thành công của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng 92 năm qua, cũng như mãi mãi về sau này là phải không ngừng làm cho Đảng “là đạo đức, là văn minh” mãi trong lòng Dân./.

Yêu nước ST.

HÃY BẢO VỆ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG VÀ CỦA DÂN TỘC TA!

         Chúng ta đều biết chưa lúc nào CNĐQ chấp nhận các quốc gia khác được sống trong hoà bình, độc lập, tự do thật sự, với họ một là phải phụ thuộc và tuân theo gậy chỉ huy của họ, hai là trở thành nước đối địch với họ và phải bị tiêu diệt (thực tiễn I Rắc, Xi Ry, Li Bi, Venezuyela, Cu Ba, Triều Tiên... đã chứng minh điều đó). Điều này đã được họ khẳng định trong thời kỳ chiến tranh lạnh, dù các nước XHCN mong muốn cùng các nước TBCN  gìn giữ hoà bình song bằng nhiều cách khác nhau CNĐQ tìm cách gây ra hết cuộc chiến tranh này đến chiến tranh khác nhằm xoá bỏ CNXH,  mà Việt Nam chúng ta là nạn nhân tàn khốc của âm mưu đó, hàng triệu đồng bào ta đã ngã xuống để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước... và khi bằng biện pháp quân sự không thành công thì họ lại bằng trăm phương ngàn cách khác để xoá bỏ các nước XHCN và thực tế bằng DBHB và thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hoá CNĐQ đã thành công khi đã làm tan rã hệ thống XHCN và xoá sổ Liên bang xô viết cách đây vừa hơn ba mươi năm.

     Ngày nay đất nước chúng ta đã hội nhập với toàn cầu, Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy với các nước và các tổ chức quốc tế  và thực sự chúng ta đã và đang là bạn với tất cả các nước và các tổ chức quốc tế, song các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách xoá bỏ nền độc lập, tự do, dân chủ của nước ta. Chúng đẩy mạnh CL “DBHB“ nhằm thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hoá“ trong nội bộ, hòng thực hiện ý đồ  mà như Kissinger đã nói “Đời chúng tôi thua các ngài nhưng đến đời con, đời cháu chúng tôi sẽ quay lại Việt Nam với tư cách kẻ chiến thắng, hôm nay chúng tôi đã thua nhưng ngày mai bằng những xấp đô la chúng tôi sẽ trở lại Việt Nam và lúc đó lá cờ của Hoa Kỳ sẽ tung bay không chỉ ở Sài Gòn  mà còn hiên ngan giữa lòng Hà Nội“ và như những nhà diều hâu ở Mỹ đã nói “Những gì mà mấy chục năm nay (25 năm can dự và xâm lược trực tiếp VN) nước Mỹ không làm được trên đất nước này, thì rồi đây con cháu của các ngài, thế hệ trẻ Việt Nam trong tương lai, nó sẽ giúp nước Mỹ thực hiện được giấc mơ người Mỹ đã chưa thực hiện được...” và họ đã kiên trì, kiên định thực hiện mục tiêu đó. Khi Ôbama lên làm tổng thống, ông ta đã cho lập kế hoạch “Xoá bỏ hội chứng Việt Nam “ từ 2015-2025 với chỉ phí hàng trăm triệu đô la  công khai, với kế hoạch này Mỹ đã xúc tiến mạnh mẽ , thúc đẩy tự diễn biến , tự chuyển hoá bên trong ở nước ta và khách quan đánh giá họ đã gặt hái những thành công bước đầu của kế hoạch. Vậy họ đã đạt đến đâu, ta hãy thử phấn tích và đánh giá:

        Điều đầu tiên Mỹ đã thành công trên lĩnh vực tâm lý , tư tưởng ghét Mỹ đã giảm xuống , thân Mỹ xem Mỹ là bạn tốt đã tăng lên. Bằng nhiều cách quan hệ từ chính trị, kinh tế, văn hoá đến quốc phòng , an ninh Mỹ đã tạo nên mối quan hệ ngày càng gắn bó giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ngày nay một bộ phận người dân Việt Nam, nhất là lớp trẻ không còn cảm nhận đầy đủ nỗi đau mà thế hệ cha ông của họ đã gánh chịu trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ gây ra, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc là một nước nhỏ đã đánh thắng nhiều đế quốc to đã bị phải nhạt, thay vào đó là tâm lý nhược tiểu đớn hèn của không ít người Việt Nam đã xảy ra. Chúng ta không mang hận thù với Mỹ trong khi hai nước đã là đối tác toàn diện của nhau, nhưng không nhận rõ âm mưu của Mỹ đã và đang tiến hành DBHB  xoá bỏ thành quả Cách mạng của dân tộc ta là điều đáng báo động, nó không chỉ còn là sự mất cảnh giác của quần chúng mà đã lan vào trong nội bộ đảng viên, kể cả ở cấp cao.

          Thứ hai, một bộ phận không nhỏ (có xu thế lớn lên dần) trong nội bộ ta đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá. Đó là một bộ phận tham nhũng, thoái hoá biến chất ở tất cả các cấp, mặc dù chúng ta đã và đang xử lý quyết liệt song vẫn chưa có dấu hiệu đẩy lùi, gần đây hàng loạt cán bộ cấp cao, hàng loạt tướng lĩnh trong quân đội và công an vào tù, bước đầu đã củng cố niềm tin của Dân với Đảng trên lĩnh vực này,  theo tôi tham nhũng cũng đáng lo song tác động của nó không thể lôi kéo quần chúng cùng tham nhũng, nó chỉ là chất xúc tác gây khủng hoảng niềm tin để các thế lực thù địch tấn công ta trên các mặt trận khác, để làm suy yếu nền tảng chính trị, tinh thần của Dân tộc ta, gần đây ngày càng công khai các quan điểm của Chủ nghĩa xét lại trên các lĩnh vực lịch sử, văn học nghệ thuật, văn hoá, giáo dục... đây mới là điều đáng lo bởi vì những người truyền bá quan điểm xét lại họ có học hàm, học vị là những Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, những Nhà giáo nhân dân... tiếng nói của họ dễ được quần chúng ủng hộ và hậu quả cuối cùng của nó sẽ đến là xét lại đường lối chính trị của dân tộc ta. Khi đó bài học của sự sụp đỗ ở Liên Xô, Đông Âu sẽ xảy ra trên đất nước ta.

      Để những dự báo đó không cho phép xảy ra thì ngay từ bây giờ chúng ta hãy góp phần nhỏ của minh tham gia xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh, làm nòng cốt vững chắc trong xây dựng Hệ thống chính trị để ngăn chặn hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phải chống thành công biểu hiện của tự diễn biến tự chuyển hoá, phải nhận rõ âm mưu DBHB của CNĐQ và các thế lực thù địch, trước mắt góp phần cùng toàn Đảng, cùng Nhà nước ta chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả, kiên định và kiên quyết vạch trần bản chất phản động của CN xét lại, mà trực tiếp là những quan điểm xét lại lịch sử đánh đồng công tội, nâng công rửa tội, biến tội thành công, để mục tiêu cuối cùng của chúng là BIẾN CÔNG THÀNH TỘI nhằm xoá bỏ thành quả CM của dân tộc ta.

      Chúng ta muốn hoà bình và phát triển, chúng ta muốn làm bạn với tất cả các Dân tộc khác song chúng ta cần và luôn luôn cảnh giác với âm mưu của CNĐQ và các thế lực thù địch đã và đang muốn quay lại nước ta với “tư cách kẻ chiến thắng“ để nô dịch Dân tộc ta một lần nữa. Không, lời dạy của Bác Hồ vẫn còn nguyên giá trị “Thà hy sinh tất cả, chớ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ“ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do“ . Vàng, bạc, kim cương là rất quý song Độc lập tự do còn quý giá gấp triệu lần. Các thế hệ cha ông đã đem xương máu giành lại non song gấm vóc , thì các thế hệ hiện nay và mai sau cũng phải ra sức gìn giữ, để muôn đời đất nước ta sống trong hoà bình, độc lập và tự do./.

Ảnh: Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng CTH, TCCT QĐND.

Yêu nước ST.

Cần khẳng định việc ban hành định Quy định số 37 là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị hiện nay

Ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số 37 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định 47, ngày 1/11/2011 trước đây. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đã xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37; đồng thời suy diễn, quy kết, chỉ trích chế độ, vị trí, vai trò của Đảng. Một số trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới là để “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo tình trạng tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị” và đưa ra luận điệu xuyên tạc “Đảng đứng trên pháp luật; chồng lấn pháp luật”. Trên đài RFA, VOA, BBC… đăng tải xuyên tạc, viện dẫn nhiều ý kiến vô căn cứ của những đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam. Những quy định cấm đảng viên chỉ là chiêu bài chứ không có hiệu quả trong thực tế. Xuyên tạc những nội dung mới, số này tập trung khoét sâu vào một số quy định như cấm đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, cấm chuyển tài sản hay cấm thực hiện các giao dịch tài sản ở nước ngoài nhằm quy kết, rêu rao là vi phạm Hiến pháp… Thực chất, đây là những luận điệu xuyên tạc của các phần tử phản động, chống phá hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, các tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, phòng ngừa “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn. Quy định đảng viên không được “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3). Việc bổ sung, phát triển quy định như trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị. Hay quy định đảng viên không được “nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều 1). Nếu thừa nhận một công dân có 2 quốc tịch là lẽ thường tình, song đối với đảng viên, lý tưởng suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp, nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân sẽ phải giải thích thế nào khi một đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài. Vậy trung thành với nhân dân, Tổ quốc thế nào nếu đảng viên có thêm quốc tịch khác? Đảng viên vào Đảng trên tinh thần tự nguyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cộng sản, hạnh phúc của nhân dân. Việc bổ sung nội dung này là rất cần thiết và phù hợp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay. Thực tế ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình. Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Bởi vậy, việc Đảng ta bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện quyết tâm cao của Đảng, mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

NHỮNG KẺ ĐỒNG LOÃ Ở ĐÂU? TẠI SAO KHÔNG THẤY?

        Ngày 16/11/2018, Tòa án quốc tế xét xử tội ác Khmer Đỏ tại Campuchia (ECCC) phán quyết rằng chính quyền Khmer Đỏ đã phạm tội "diệt chủng" tại Campuchia trong giai đoạn từ năm 1975-1979.

Đây là lần đầu tiên tòa án đặc biệt ECCC đưa ra phán quyết như vậy sau gần 4 thập kỷ. Chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Nil Nonn nói: "Tòa án tuyên bố chính quyền Khmer Đỏ đã phạm các tội ác diệt chủng nhằm vào người Việt Nam và người Hồi giáo Chăm tại Campuchia". 

Trong gần 4 năm, chính quyền Khmer Đỏ đã phạm vào tội ác chống lại loài người, hủy diệt hàng loạt, nô dịch, tra tấn và khủng bố gây ra cái chết cho gần 2 triệu người dân Campuchia. Trong số đó có 20 ngàn người Việt (100%) kẹt lại đều bị Khmer Đỏ sát hại.

Chế độ diệt chủng khủng khiếp nhất thế kỉ 20 có lẽ đã bị tiêu diệt, bị vùi dập xuống địa ngục vào năm 1979 sau khi bị quân đội Việt Nam cùng Quân cách mạng Campuchia đẩy lui về tận biên giới Thái Lan. Khmer Đỏ đã không thể tồn tại suốt hơn 10 năm sau nếu không có sự hỗ trợ cả về quân sự, kinh tế lẫn chính trị từ Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan, Anh, Singapore và Asean.


Cuối cùng sau hơn 40 năm thì công lý đã thực thi, nỗi hàm oan mang tiếng "xâm lược Cam" của Việt Nam đã được sáng tỏ. Thế giới giờ đây đã công nhận rằng Khmer Đỏ là 1 chế độ diệt chủng khủng khiếp nhất thế kỉ 20 sau khi Tòa án Quốc tế xét xử tội ác Khmer Đỏ tuyên phán. 

Vậy còn những kẻ đồng lõa, tiếp tay cho bọn diệt chủng Khme Đỏ trong suốt 10 năm tại sao không thấy đâu? Những kẻ đã trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ Khmer Đỏ gây ra cái chết cho gần 2 triệu người dân Campuchia và hàng chục ngàn thường dân Việt Nam vô tội.

Nếu công lý quốc tế không phải là tấm hài kịch, thì phải gọi những người đã đồng hành, tiếp tay cho kẻ gây tội ác ra trước Tòa án Quốc tế, hay chí ít cũng nên ghi tên họ vào "danh sách nhục nhã"./.

Môi Trường ST.

CÓ RẤT NHIỀU NGƯỜI HỎI: TẠI SAO PHẢI TEST MÁU NHƯ VẬY? TẠI SAO PHẢI ĐIỀU ĐỘNG NHƯ VẬY? NAY XIN TRẢ LỜI RÕ!

PHẢI TỈNH TÁO TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA 3 QUE

      Bà con biết tại sao xộ khám "Tịnh Thất Bồng Lai" phải cẩn trọng như thế nào chưa?

Quân triều đình điều động tới rất đông mặc dù "Tịnh Thất" chỉ cần 20-30 chiến sĩ cảnh sát là có thể khống chế được, thế nhưng vẫn phải huy động tới cả trăm cảnh sát, phòng ngừa từ xa không để những kẻ không liên quan tiếp cận...

Như tướng Tô Ân Xô từng phát biểu để bắt giữ những đối tượng nổi tiếng không hề dễ dàng, phải xem xét và tính toán rất kỹ lưỡng.

Khi họ có đông đảo những kẻ mù quáng hoặc những kẻ cố tình mù quáng để sẵn sàng xuyên tạc chống phá đất nước, ảnh hưởng đến an ninh Quốc gia thì mọi chuyện không thể hấp tấp vội vàng.

Giả sử không tính toán kỹ lưỡng, để những kẻ có ý đồ xấu tiếp cận, quay phim chụp hình, đưa những hình ảnh sai lệch lên trên mạng, chúng sẽ tha hồ cắt ghép bôi xấu chế độ, bôi xấu đất nước, việc xảy ra bạo loạn hoàn toàn có thể đến từ những sự việc tưởng như bình thường, nếu như ta không cẩn trọng.

Sự việc tại "Tịnh Thất Bồng Lai" nhìn bằng mắt thường, đa phần công chúng đều nhận diện được dấu hiệu trục lợi, mặt mũi những thành viên trong “chùa” giống nhau tới mức việc xét nghiệm ADN chỉ mang tính hình thức…

Rõ ràng là vậy, nhưng vẫn có một nhóm (rất nhiều người) cả trong và ngoài nước “Khóc thuê” cổ súy cho "Thiền Am", với những mục đích rất rõ ràng “Thể hiện sự bất mãn tới vô lý với chế độ, với nền hòa bình dân tộc đang được ngày ngày vun đắp xây dựng.

Mặc dù được dư luận đặc biệt là CEO Đại Nam tiên phong mở đường vạch mặt để bà con nhận diện rồi mới xộ khám, nhưng cũng không thể thức tỉnh nổi nhóm người điên cuồng chống phá này…

Xen lẫn sự nghiêm minh còn có sự khoan hồng của luật pháp khi cho Lê Tùng Vân được tại ngoại, các bạn thử tưởng tượng nếu Y chết già trong trại tạm giam thì sự việc sẽ được đẩy lên cao trào như thế nào? Bọn chúng, những kẻ không có thiện cảm với đất nước này sẽ bấu víu vào đó, và làm gì thì ai cũng biết…

Nên việc tạm thả Lê Tùng Vân để tiếp tục điều tra cũng nằm trong sự tính toán rất kỹ lưỡng của Bộ Công an, và Công an tỉnh Long An. Mọi người phải nắm rõ, Y không phải được tha tội, tội của Y là nặng nhất, nhưng buộc phải tại ngoại tạm thời trong sự kiểm soát thể hiện sự nhân đạo (tuổi quá cao để phải chịu sự kìm kẹp trong Đại Lao, Nếu oẳng, rất khó điều tra tiếp) và cũng là cách để phòng chống những diễn biến sâu xa.

Mong mọi người hoàn toàn tỉnh táo, ngoài việc tố giác Tịnh Thất, giải cứu Diễm My thì việc ngăn chặn tin xấu - độc, bảo vệ An Ninh Quốc Gia cũng là nhiệm vụ Tối Thượng…

Là người dân yêu nước, xin hãy tỉnh táo và cùng đoàn kết, chống lại luận điệu xuyên tạc của bọn chống phá.

Mong sao, mỗi đồng bào mình trên mạng xã hội là 1 chiến sĩ, bởi đã đến lúc cuộc chiến 4.0 này cần sự chung tay đoàn kết của toàn dân tộc!

Yêu nước ST.

Bảo vệ, xây dựng và phát triển Chủ nghĩa Mác trong tình hình hiện nay

Âm mưu xuyên tạc, hạ bệ Chủ nghĩa Mác Chính những kẻ từng khoác áo mác-xít sống được và thành danh nhờ Chủ nghĩa Mác-Lênin, sau năm 1991 và giờ đây lại quay sang coi C.Mác (Karl Marx), V.I.Lênin (Vladimir I.Lenin) như những “nhà tiên tri không thành đạt” (!), như những “ông thầy bói của lịch sử” Nhưng chính những học giả của giai cấp tư sản, thông minh và bản lĩnh hơn những kẻ giả danh mác-xít nói trên, khi chính họ nhận ra sự “báo ứng” nan giải, sẽ trở nên vô phương cứu chữa đối với sự “cùng quẫn” của thể chế tư sản, lúc họ thiếu C.Mác. Bởi vì ở thời khắc cam go và hết sức phức tạp của lịch sử, ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, hiện nay đang khủng hoảng bởi thiếu một xung lực đúng đắn từ lĩnh vực tưởng ngỡ như nó nằm ngoài phạm vi hoạt động thực tiễn. Đó là lĩnh vực lý luận về kinh tế và xã hội, khi những cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu những năm 1997, 1998 và 2008; khi vấn nạn môi trường sinh thái toàn cầu lan rộng mà các quốc gia tư sản vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân không thể chối cưỡng. Điều đó giải thích vì sao chủ nghĩa tư bản (CNTB) và các phong trào chống lại “CNTB toàn cầu” đang bộc lộ sự lúng túng, yếu kém, thậm chí bất lực của chúng, vì họ thiếu một nền tảng lý luận xã hội căn bản, khoa học và phù hợp. Bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác trong tình hình hiện nay. Nhận thức về nhu cầu bất khả kháng đó, không phải ai khác và cũng không phải ở đâu khác, chính Jacques Derrida-một triết gia danh tiếng phương Tây đã phải thốt lên: Chúng ta phải trở về với Mác. Nhân loại không có tương lai mà lại không có Mác. Điều đó đã lan tỏa sang cả nước Mỹ, khi ông Bao-lô-xu-ây-xi, một giáo sư đại học tại bang Florida, lên tiếng cảnh tỉnh: Nếu chủ nghĩa xã hội (CNXH) dùng trí lực của nhân loại-giống như Mác đã nói-thế thì, rất rõ ràng, ngoài CNXH không có sự cứu thế nào khác; và ngài M.Kha-rin-tơn, một nhà văn hóa học người Mỹ, dõng dạc tuyên bố: CNXH sẽ là người kế thừa các cuộc cách mạng tư sản vĩ đại, là phong trào hiện thực “tự do, bình đẳng, bác ái”, những điều không thể thực hiện được trong khuôn khổ của CNTB. Hiện nay, điều đáng nói hơn, ngay cả một bộ phận người cộng sản, trong hành trình hiện thực hóa lý tưởng cộng sản do chính Chủ nghĩa Mác-Lênin khởi xướng, vào những thời khắc khó khăn nhất, lại cũng tỏ ra do dự, hoài nghi, lúng túng; thậm chí, cả bằng sự thẩm xét hời hợt, nông cạn một cách hình thức qua các thái độ hoặc là ngoảnh mặt thờ ơ hoặc là kỳ thị, chối bỏ, rồi quay ra công kích Chủ nghĩa Mác. Sẽ trở thành ảo tưởng đáng thương hại, khi ai đó có thể tưởng tượng ra và kỳ vọng về một cuộc “cuộc duyệt binh” trong sự phát triển của những người làm lý luận mác-xít, với thứ mong muốn “đồng phục” về chính trị, về tư tưởng và trí lực. Trong sự phát triển và tiến hóa của tự nhiên cũng như vậy. Những kỳ vọng về sự thuần chủng tuyệt đối của một loài sinh vật nào đó là sự ảo tưởng, trái quy luật tự nhiên. Nói như vậy để khẳng định rằng, cần phải có một cách nhìn thực sự bình tĩnh, khách quan, cần một phương pháp khoa học, một tinh thần cách mạng, với thái độ thành tâm, nghiêm túc và cầu thị, chúng ta mới có thể khắc phục những khó khăn, thách thức mà cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin đang phải đương đầu, trước hết về mặt tư tưởng lý luận. Những biến tướng làm méo mó Chủ nghĩa Mác Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó. Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời. Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin. Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc. Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan. Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội. Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin. Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại... Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo. Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Nhân loại đang trở về với Mác Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai. Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu. Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật. Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử. Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán. Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép. Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng! Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử.

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng con người

Đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường, “xã hội thị trường” sẽ hình thành một cách tự nhiên. Đó chính là mặt trái của kinh tế thị trường mà bất cứ quốc gia nào cũng phải đối mặt. Sự lên ngôi của đồng tiền kích thích lòng tham, cái ác, cái xấu trong mỗi con người. Do đó, phòng, chống tham nhũng xã hội chủ nghĩa, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là việc không dễ dàng. Nhưng đây là nhiệm vụ, là cuộc đấu tranh quyết liệt, để từ đó ngăn chặn cái xấu, lan tỏa cái tốt trong hành trình xây dựng con người mới, xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Với những kết quả đạt được trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua đã làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ sự nghiêm khắc, quyết liệt của Đảng, Nhà nước. Thế nhưng, tham nhũng, tiêu cực còn hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có những giải pháp phòng, chống căn cơ, quyết liệt hơn. Những nỗ lực trong cuộc chiến chống tham nhũng. Kết quả nổi bật của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua cho thấy mấy điều: Thứ nhất, đấu tranh phòng, chống tham nhũng “không có vùng cấm” hoàn toàn là sự thật. Thứ hai, tài sản bị tham nhũng được thu hồi rất tích cực. Thứ ba, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng được thắt chặt để ngăn chặn hành vi tham nhũng. Thứ tư, nhân dân ta và dư luận quốc tế ngày càng tin tưởng vào hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam. Từ đó khẳng định: Đảng hoàn toàn có thể lãnh đạo công tác phòng, chống tham nhũng hiệu quả, tạo đồng thuận xã hội, chứ không phải bất khả thi như một vài luồng ý kiến từng lo ngại. Ngày 16-9-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số 32-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (sau đây gọi tắt là Ban chỉ đạo) thay thế Quy định số 211-QĐ/TW ngày 25-12-2019 của Bộ Chính trị khóa XII về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Đây là một bước chuyển lớn trong hoạt động của Ban chỉ đạo khi mở rộng phạm vi chỉ đạo, không chỉ tập trung vào nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, mà còn là cả phòng, chống tiêu cực, coi đây là hai loại án. Trong đó nội hàm của phòng, chống tiêu cực được xác định cụ thể vào việc phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Để cụ thể hóa hơn nữa làm cơ sở cho việc xử lý vi phạm, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm. Quy định này thay thế Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Trong 19 điều đảng viên không được làm theo Quy định số 37 điều chỉnh gần như đầy đủ những thói hư, tật xấu mà không ít cán bộ, đảng viên mắc phải trong suốt thời gian qua. Sự mở rộng phạm vi là cơ sở để Ban chỉ đạo chỉ đạo xử lý các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, bảo đảm sự trong sạch, tăng cường sức chiến đấu cho Đảng. Những năm gần đây, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) ghi nhận Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam có xu hướng cải thiện tích cực. Theo công bố đầu năm 2021, xếp hạng CPI của Việt Nam năm 2020 đứng thứ 104/180 nước. Điều này phản ánh kết quả các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là việc truy tố, xét xử hàng loạt vụ án tham nhũng lớn. Năm 2019 có 54,1% doanh nghiệp phản ánh về việc tồn tại hiện tượng nhũng nhiễu khi cán bộ nhà nước, địa phương giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, giảm so với con số 58,2% của năm 2018. Nếu so với con số 70% doanh nghiệp phản ánh phải trả chi phí không chính thức vào năm 2006, thì con số 53,6% của năm 2019 cho thấy đã có bước tiến lớn trong nỗ lực của chính quyền các địa phương. Dù vậy, tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn triệt để. Tham nhũng trên nhiều lĩnh vực còn nghiêm trọng, phức tạp, với biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội, vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta. Chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng con người Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì bên cạnh những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống, con người xã hội chủ nghĩa phải hình thành các phẩm chất như: Tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức xã hội chủ nghĩa, tác phong xã hội chủ nghĩa... Điều đáng lưu ý là có rất nhiều cán bộ cấp cao, cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị kỷ luật Đảng, bị pháp luật xử lý. Trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp cao còn thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng. Giai đoạn vừa qua, việc không ít cán bộ, đảng viên nhúng chàm bị xử lý vì tham nhũng là cần thiết, là đích đáng, thế nhưng cũng rất chua xót. Qua các vụ án tham nhũng, mất mát tiền bạc, vật chất đã đau xót, nhưng mất mát con người, mất mát niềm tin còn đau xót hơn nhiều. Những cán bộ, đảng viên có hành vi xấu xa kia có thể không phải là con người tồi tệ, xấu xa ngay từ khi bước vào đội ngũ. Họ có thể cũng đã có những nỗ lực phấn đấu, những đóng góp tích cực được ghi nhận, như vậy mới được quy hoạch, bổ nhiệm lên các chức vụ cao hơn. Nhưng chính vì không giữ được sự rèn luyện, tu dưỡng, và cũng bởi luật pháp và những quy định ràng buộc cán bộ, đảng viên còn sơ hở nên họ đã gục ngã bởi những “viên đạn bọc đường”. Cũng có thể, có những người ngay từ khi bước vào đội ngũ cán bộ, công chức thì phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống đã có vấn đề, nhưng vì không kịp thời được phát hiện, chấn chỉnh, ngăn chặn, lại được nâng đỡ “không trong sáng”, nhờ chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích mà có được cơ hội thăng tiến, để rồi khi đã ngồi vào vị trí có “quyền sinh, quyền sát” thì bắt đầu tác oai tác quái, tham nhũng, thao túng, lạm quyền làm rối loạn, suy yếu cơ quan, đơn vị, gây mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, để lại hậu quả kéo dài. Phải chặt đứt cái gốc của tham nhũng Việc Ban chỉ đạo mở rộng phạm vi sang cả phòng, chống tiêu cực đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo, luận giải rõ: “Không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Hai cái này nó có liên quan đến nhau. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì mới dẫn đến tham nhũng. Đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống. Lợi ích kinh tế thường gắn liền với quyền lợi chính trị, chức quyền, với sự hư hỏng về đạo đức, lối sống...”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì bên cạnh những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống, con người xã hội chủ nghĩa phải hình thành các phẩm chất như: Tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức xã hội chủ nghĩa, tác phong xã hội chủ nghĩa... Như thế, có thể thấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh rất nhiều phẩm chất thì con người xã hội chủ nghĩa dứt khoát phải có hai phẩm chất là phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống. Hai phẩm chất này cần được thể hiện trước hết ở đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo ngày 18-11-2021 đã phân tích rằng: “Nếu bản lĩnh chính trị anh tốt, không bị lôi kéo thì làm gì mà tham nhũng. Nếu đạo đức trong sáng, giữ gìn liêm sỉ thì làm gì mà tham nhũng. Cái đó là cái gốc”. Người chức vụ càng cao, địa vị càng cao mà dính vào tham nhũng, có những biểu hiện tiêu cực trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì rõ ràng “người ta trông vào” sẽ cảm thấy bị sứt mẻ niềm tin. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và “... Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Quay trở lại vấn đề về mối quan hệ giữa tham nhũng và tiêu cực, ta thấy rằng, chứng cứ của việc tham nhũng thì không dễ phát hiện, nhưng những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì dễ nhìn thấy hơn. Người ta có thể che giấu chứng cứ tham nhũng, nhưng những biểu hiện tiêu xài lãng phí, xa hoa, sa đọa, hủ hóa, những biểu hiện nhũng nhiễu, lạm quyền, dọa nạt, vòi vĩnh để hòng trục lợi thì không khó để nhìn ra, để nhận biết. Vừa qua có một số hành động của cán bộ không phải hành vi tham nhũng nhưng trở thành “cái gai” trong mắt nhân dân, rất tai hại cho hình ảnh cán bộ, đảng viên. Rồi những cán bộ có quốc tịch, tài sản ở nước ngoài, biệt phủ, siêu xe, những biểu hiện ma chay, hiếu hỉ, tiệc tùng tốn kém, phô trương... Những biểu hiện ấy, dù không thể định lượng bằng số tiền mà Nhà nước, nhân dân bị thiệt hại, tuy nhiên, nó làm cho hình ảnh cán bộ, đảng viên, thậm chí tính chính danh của Đảng sẽ bị ảnh hưởng. Nhân dân ta một lòng theo Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đồng lòng xây dựng đất nước, chiến sĩ ta chiến đấu, hy sinh để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân. Đó là vì “Đảng là đạo đức, là văn minh”. Do đó, giữ đạo đức, giữ văn minh chính là giữ tính chính danh, giữ vị thế lãnh đạo của Đảng. Đấy là cuộc đấu tranh không khoan nhượng!