Thứ Hai, 7 tháng 3, 2022

Hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện, đầy đủ hơn

 


Thực hiện chính sách dân tộc là việc đưa pháp luật, chính sách vào cuộc sống, trên cơ sở cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, từ khâu hướng dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các điều kiện nguồn lực tài chính, nhân lực cần thiết đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu, tiến độ yêu cầu quy định trong chính sách

 Kể từ khi đổi mới đến nay, chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc khá dầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Chỉ tính từ năm 2010- 2015, ngoài những văn bản do quốc hội ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến dận tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành 154 chính sách dân tộc được thể hiện tại 177 văn bản, 37 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 140 quyết định của Thủ tướng chính phủ. (Ủy ban dân tộc: Báo cáo tại hội thảo “Đề xuất các chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2020” Tháng 9/2015). Mặc dù số lượng văn bản rất lớn, bao gồm những văn bản chỉ điều chỉnh và áp dụng riêng đối với các DTTS/ vùng DTTS và cả những văn bản áp dụng chung đối với mọi đối tượng, trong đó có quy định riêng về việc áp dụng đối với DTTS nhưng trong hệ thống văn bản đó, các nguyên tắc cơ bản xác định quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quan điểm của Đảng được thể hiện khá đầy đủ. Cùng với tính toàn diện, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dân tộc còn thể hiện tính kịp thời, tính liên kết, tính minh bạch. Ở mỗi lĩnh vực đều có văn bản pháp luật cụ thể khác nhau, một số văn bản (chủ yếu là văn bản dưới luật) có nội dung quy định cụ thể các chế độ, chính sách áp dụng đối với đồng bào DTTS/đồng bào DTTS được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển KT-XH của đất nước và tình hình thực hiện chính sách dân tộc đối với các vùng, miền hoặc các đối tượng cụ thể. Cơ chế chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch từ công tác xây dựng, lạp kế hoạch dến tổ chức thực hiện.

Đối với các địa phương, theo quy trình triển khai văn bản cũng như căn cứ trách nhiệm được quy định, sau khi văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành ở cấp trung ương có hiệu lực, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành hoặc chỉ đạo  cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ban hành văn bản để thực hiện các nội dung, quy định, nhiệm vụ về công tác dân tộc trên địa bàn quản lý của mình. Đối với văn bản luật, nghị định, thông tư, ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố thường thông qua hình thức tuyên truyền, phổ biến để triển khai đến nhân dân và áp dụng những quy định luật pháp để điều chỉnh, thống nhất hệ thống quy tắc xử sự chung của các cơ quan, tổ chức và nhân dân. Đối với các văn bản chỉ đạo, điều hành, căn cứ vào nội dung, các địa phương sẽ xây dựng văn bả triển khai các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm được giao hoặc tổ chức thực hiện.

Đổi mới công tác đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số

 


Trong những năm tới Học viện dân tộc và một số trường đại học nên có chuyên ngnahf quản lý nhà nước về công tác dân tộc nhằm tiến tới chuẩn hóa yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác này. Các cơ sở đào tạo đại học/ các học viện cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để mở mã ngành đào tạo sau đại học chuyên ngnahf QLNN về CTDT nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về công tác này.

Đặc biệt phải chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ quản ly nhà nước về CTDT là người DTTS cho từng vùng, từng dân tộc bằng các biện pháp cụ thể:

Một là: Ủy ban dân tộc và các địa phương tiến hành điều tra, phân loại cán bộ làm… là người DTTS một cách công khai, dân chủ, sát với thực tế. Từ đó có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ đương nhiệm. Đối với đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách, cùng với kiến thức chuyên ngành cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về dân tộc, mienf núi, công tác dân tộc và chính sách dân tộc. Đối với đội ngũ cán bộ các cấp ở địa phương, cần được cập nhật những chủ trương, chính sách mới, đào tạo về kỹ năng triển khai chính sách, chương trình, đề án cho hiệu quả nhất.

Đồng thời hằng năm có kế hoạch tawngchir tiêu đào tạo cán bộ… là người DTTS như: Học viện dân tộc cần phối hợp với các trường phổ thông dân tộc nội trú hướng nghiệp cho những học sinh người DTTS đang học tại trường PTDTNT theo nanghf QLNN vè CTDT; tăng chỉ tiêu xét tuyển học sinh đi học hệ cử tuyển tại các trường có chuyên ngành dân tộc học/quản lý nhà nước đúng đối tượng là người DTTS với sự trợ cấp học bổng và miễn học phí bằng ngân sách của tỉnh và của nhà nước.

Hai là, củng cố kiện toàn hệ thống các khoa, trường đào tạo cán bộ QLNN về CTDT. Tăng thêm điều kiện và các phương tiện kỹ thuật giảng dạy, học tập cho các cơ sở dào tạo này. Tại các cơ sở dào tạo cán bộ QLNN về CTDT, cần coi trọng đúng mức các học sinh về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, tập quán của DTTS.

Ba là, Sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách dãi ngộ cán bộ làm công tác này là người DTTS nói riêng. Với đọi ngũ cán bộ QLNN về CTDT là người DTTS phải có quy hoạch trước mắt, lau dài và ổn định bang việc lữa chọn những cán bộ có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt cử đi đào tạo/đàotạo lại/ đàotạo nâng cao và có các ché tài raphuwowngcj dể họ phải quoay về phục vụ địa phương nơi họ đã sinh sống. Việc quy hoạch và bố trí cán bộ làm công tác QLNN về CTDT phải có phương án chủ động, hợp lý trong toàn nành với từng địa phương, từng dân tộc cụ thể (nhát là đói với các vùng, các dân tộc hiện nay có tỷ lệ cán bộ DTTS còn thấp

          - Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc nhằm tăng cường sự tham gia vào bộ máy nhà nước ở Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đủ mạnh.

          - Trú trọng làm tốt công tác quy hoạch dự nguồn cán bộ DTTS để có chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý, hình thành đội ngũ cán bộ DTTS đông về số lượng, giỏi về chuyên môn, đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH của các địa phương

         

          - Xây dựng đội ngũ tri thức người dân tộc, chính sách đói với người có uy tín, tiêu biểu của các DTTS.

- Cụ thể hóa thêm chính sách cán bộ đối với một số vùng nhóm dân tộc để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn cách mạng mới.

          - Xây dựng chế độ trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cacns bộ, công chức, nhất là cán bộ cong tác ở vùng DTTS, bảo đảm mỗi người có thể phát huy hết năng lực các nhân; đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm của mình trong quá trình thực thi công vụ, giảm thiểu nguy cơ có thể xâm phạm các quyền của công dân, quyền con người đối với đồng bào dân tộc là các đối tượng có trình độ, năng lực pháp lý hạn chế, dễ bị tổn thương và ít có khả năng tự bảo vệ.

Quan điểm Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc

 


 Quan điểm CN MLN: Các dân tộc bình đẳng, giúp nhau

Trong cương lĩnh dân tộc của Lê nin xác định: Để thực hiện thành công mục tiêu cách mạng XHCN, các tộc người trong quốc gia dân tộc hay các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng, tự quyết, đoàn kết tương trợ giúp nhau, cùng nhau phát triển . Đó là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt đó là dân tộc thiểu số hay đa số, trình độ phát triển cao hay thấp. Quyền đó phải được pháp luật bảo vệ và thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, do quá trình hình thành và điều kiện tự nhiên, các dân tộc có quá trình hình thành, điều kiện tự nhiên khác nhau dẫn tới  trình độ khác nhau, để các dân tộc có trình độ phát triển như nhau đáp ứng được quyền bình đẳng, quyền tự quyết của mình, đòi hỏi phải phải trải qua một thời gian dài, với những chủ trương, chính sách phù hợp của cách mạng XHCN.

Theo Hồ Chí Minh: Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau

Vận dụng sáng tạo quan điểm CNMLN, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: Vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc chỉ có thể được thực hiện gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản”. Thực hiện nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các tộc người. Phát huy được khả năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù của từng dân tộc, từng vùng miền. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số.

 

Tuy Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, nhưng các dân tộc luôn đoàn kết trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước.

 


Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến 01/4/2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt - Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư  từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam…

Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện: Quả bầu mẹ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện: Đôi chim đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.

Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc trên đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


Yêu nước, đoàn kết là truyền thống của con người Việt Nam từ mấy ngàn năm trong quá trình dựng nước và giữ nước- là nét đẹp, là nền móng, cơ sở và cũng là động lực để các dân tộc Việt Nam tồn tại phát triển đến ngày nay.

          Thời gian vừa qua, trong các đợt chống dịch COVID-19, chúng ta đã phát huy tốt tinh thần yêu nước, đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong quá trình chống dịch. Chính sự tương thân, tương ái, là nguyên nhân căn bản, là cơ sở quan trọng để chúng ta thực hiện được chiến lược 5K, vắcxin thắng lợi. Tuy nhiên tinh thần yêu nước, tính đoàn kết chỉ được phát huy khi chúng ta phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, đặc biệt là hệ thống chính trị, chứ không chỉ dừng lại ý thức tự giác của người dân.

          Một ví dụ là, thời gian gần đây ở Hà Nội dịch COVID-19 đã lây lan nhanh trong công đồng, mỗi ngày bình quân trên dưới 8000 ca. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là sự vào cuộc của chính quyền và các cơ quan chức năng. Chính quyền và các cơ quan chức năng có vai trò rất quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục, đinh hướng, qunr lý tổ chức người dân thực hiện chống dịch. Nếu chính quyền và cơ quan chức năng làm tốt vấn đề này sẽ là cơ sở, nền tảng cho toàn dân chống dịch. Tuy nhiên qua theo dõi trong thời gian vừa qua, các cấp chính quyền và cơ quan chức năng về cơ bản đã phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng cũng có mặt, có lĩnh vực chưa phát huy tốt. chẳng hạn như: Còn để các quán ăn, khu vui chơi giải trí tập trung đông người, nhiều cơ sở không thực hiện nghiêm 5K. Một số quán ăn ở Hà Nội, tuy đã cấm uống rượu, bia nhưng vẫn còn để tình trạng này sảy ra.

Thiết nghĩ, thời gian này, song song với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, chính quyền và các cơ quan chức năng cần làm tôt hơn nữa trong chống dịch COVID-19, nhất là việc kiểm tra, sám giát thực hiện 5 k. Có như vậy chúng ta mới thực hiện tốt được công tác phòng, chống COVID-19.

Đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng

 

        Đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng                                                  

           Bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng là một nội dung quan trọng của công tác tư tưởng trong quân đội; cùng với các mặt khác của công tác tư tưởng góp phần bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, phẩm chất « bộ đội cụ Hồ », xây dựng phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sỹ trong quân đội, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, tạo nên sự thống nhất trong toàn quân về tư tưởng và hành động.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, trong thời gian qua, cấp uỷ, lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường đấu tranh chống lại các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; khẳng định và bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giữ gìn, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong quân đội và sự đồng thuận trong xã hội. Song, đứng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị đối với cách mạng Việt Nam nói chung và đối với quân đội nói riêng, lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta để bóp méo, thổi phồng, bịa đặt, kích động các phần tử xấu chống đối lại Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong các dịp tổ chức các sự kiện lớn của đất nước, của Quân đội, chuẩn bị đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII...các thế lực thù địch đưa ra các quan điểm đối nghịch nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng, quan điểm đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Thực chất, các quan điểm phản động này nhằm tuyên truyền cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng XHCN và lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị và bị vô hiệu hóa, mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN của nước ta.

Từ tình hình trên, để nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận của quân đội, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp chủ yếu:

Một là, tăng c­ường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, phát huy vai trò trách nhiệm của chính ủy (chính trị viên), ng­ười chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, đội ngũ cán bộ đảng viên các cấp.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, ph­ương pháp, ph­ương tiện tiến hành công tác t­ư tư­ởng trong đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

Ba là, nắm vững nguyên tắc, chủ động đấu tranh với những quan điểm tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

 Bốn là, thường xuyên củng cố, kiện, toàn nâng cao năng lực của cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác t­ư t­ưởng.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp để nâng cao chất l­ượng, hiệu quả công tác t­ư t­ưởng trong đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng.

 

 

 

Luận điệu xuyên tạc Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở

 Thời gian qua, các cơ quan chức năng tổ chức hội nghị, hội thảo lấy ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia và quần chúng nhân dân về Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) tại cơ sở.

Thực tế, khi Dự án Luật được soạn thảo với những vấn đề mới thì việc có những ý kiến khác nhau, tán thành hay chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều bình thường. Tuy nhiên, việc góp ý với động cơ xây dựng với việc lợi dụng để chống phá là hai vấn đề khác nhau. Một số đối tượng cơ hội chính trị và các cá nhân vì động cơ sai lệch đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá dự thảo Dự án Luật.

Trong thời gian này, Đài Á châu tự do (RFA) đăng tải, phát tán một số bài viết xuyên tạc, chống phá Dự án Luật và ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong đăng tải theo kiểu “tát nước theo mưa”. Đài Á châu tự do dẫn ý kiến đối tượng V.M.Đ, vốn là cựu sĩ quan quân đội biến chất bị tước quân tịch, xuyên tạc rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân, để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, rồi nắm được mọi hoạt động tiềm ẩn nên gây nguy hại cho dân.

Cho rằng, nếu bây giờ hình thành hẳn một lực lượng như thế thì hình thức gần như bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng...  gây bất an cho dân! Bên cạnh đó, đài này làm ra vẻ khách quan, muốn dẫn dắt dư luận chống phá Dự án Luật, để Nguyễn Ngọc Già (tên thật là Nguyễn Đình Ngọc, có nhiều hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước và nhân dân, từng bị phạt 3 năm tù giam, 3 năm quản chế) xuyên tạc: “Lực lượng này là những người 18 tuổi trở lên và tự nguyện tham gia...

Trước đây chưa chính thức, còn bây giờ họ đang soạn dự thảo luật này có nghĩa là chính thức thành lập lực lượng gọi là tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở. Có nghĩa là họ đã trao quyền, tôi muốn nhấn mạnh khi lực lượng này chính thức được thừa nhận bởi luật thì làm gợi lại quá khứ kinh hoàng với khái niệm gọi là “tai mắt nhân dân”, rình mò, hạch sách, nhũng nhiễu...”. Trên trang RFA đăng bài viết mang tính đả kích, bôi nhọ khi cho rằng lực lượng này sẽ sinh ra “những hệ lụy như trấn áp, lộng quyền làm nhớ đến thời kỳ quân quản sau 1975, cũng như thời kỳ cải cách ruộng đất ở miền Bắc hơn 60 năm trước”.

Bài viết xuyên tạc rồi đặt những câu hỏi ngô nghê như “trong xã hội, họ chính thức dùng “dân trị dân”, thế thì nhà nước để làm gì, lực lượng Công an để làm gì, rồi hợp nhất này kia, điều đó là trái khoáy”? Từ đó hướng lái vấn đề thành “hay lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”!

Đây rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với Dự án Luật và lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở.

Trái ngược lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, chống đối, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã khẳng định, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Những cơ sở khoa học đã được khẳng định:

Một là, xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở. Việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các cơ quan chức năng trước khi hoàn thiện để Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn cơ sở.

Hai là, thực tiễn hiện nay, cùng với lực lượng CAND, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở.

Đây là lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở địa bàn cấp xã. Mặc dù vậy, hiện nay mỗi nơi từ tên gọi cũng không thống nhất, đến tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng khác nhau, không rõ ràng. Từ đó có những vụ việc dẫn đến tình trạng lạm quyền, không làm hết trách nhiệm, rất khó trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, đòi hỏi phải được chuẩn hóa, đưa vào luật.

Ba là, do thiếu hành lang pháp lý, thực tiễn tổ chức và hoạt động của các lực lượng này thời gian qua đã bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Các quy định về thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị chồng lấn giữa các lực lượng. Quy định về chế độ, chính sách; điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang, thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa thống nhất... Điều này đã gây ra nhiều khó khăn trong lãnh đạo, quản lý, duy trì, củng cố, phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, làm giảm hiệu quả hoạt động.

Bốn là, “Lấy dân làm gốc” là nguyên tắc cơ bản, mục tiêu xuyên suốt của dự thảo luật và phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Việc xây dựng, tổ chức lại lực lượng tham gia bảo vệ ANTT không làm tăng biên chế, tăng ngân sách nhà nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng nòng cốt là Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT tại cơ sở, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Năm là, thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tích cực thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm ANTT địa bàn dân cư, sát dân, hiểu, nắm được tâm, tư nguyện vọng nhân dân, góp phần tham gia tổ chức, thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Do ở tại cơ sở nên họ là lực lượng tiếp cận đầu tiên. Hay như trong đại COVID – 19, các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã và đang thực hiện có hiệu quả, là lực lượng tuyến đầu cùng với lực lượng nòng cốt Y tế, Công an, Quân đội… trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT, hỗ trợ đắc lực người dân phòng, chống dịch bệnh.

Rõ ràng, với mục tiêu, ý nghĩa như trên, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cần thiết và đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn. Việc thảo luận, đóng góp ý kiến nhằm chỉnh lý, bổ sung những vấn đề mới; thảo luận, làm rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự luật là vấn đề bình thường khi xây dựng các dự án văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, đóng góp ý kiến khác với việc lợi dụng để đả phá, xuyên tạc với những ngôn từ như, ban hành luật sẽ “tạo ra một mạng lưới chân rết, trao quyền để lấy dân trị dân, sinh ra những hệ lụy như rình mò, hạch sách, trấn áp, lộng quyền, không giữ được ANTT mà khiến xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”. Những luận điệu này được tung ra nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.

Bác bỏ luận điệu sai trái, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

 

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Nhận diện chiêu trò chống phá nhân quyền trên một số lĩnh vực

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

Luận điệu suy diễn, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga – Ukraine

 Mặc dù Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga - Ukraine, đó là Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế, ấy thế nhưng, trên Internet, mạng xã hội, một số người lại đang cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngày 2/3, tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine. Sau khi nghị quyết trên được thông qua và thông tin các nước thành viên LHQ thể hiện quan điểm, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”, Việt Nam đã không đi theo số đông, cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine.

Từ việc nêu những câu hỏi mang tính suy diễn chủ quan, nhiều bài viết đưa ra luận điệu quy chụp, cho rằng các quốc gia chọn giữ thái độ trung lập là những quốc gia “phần lớn đổ lỗi cho phương Tây đã kích động các điều kiện dẫn đến cuộc xung đột này”.

Một số người cuốn theo lối suy diễn trên, cũng đưa ra các bình luận tiêu cực, thậm chí kích động tư tưởng chống phá. Có trang mạng dùng thủ đoạn đưa ra thăm dò rồi cho những thành phần trong nhóm click vào lựa chọn theo chủ ý của người đặt bình chọn, từ đó lấy cớ vu cáo “người dân ủng hộ đa số” còn quan điểm của Nhà nước “chỉ là thiểu số”! Cá biệt, có luận điệu xuyên tạc rằng, phải chăng Việt Nam đang ngấm ngầm ủng hộ cho cuộc chiến tranh, quay lưng với hoà bình?

Trong khi đó, trên một số trang báo nước ngoài xuất hiện các luận điệu mang tính chỉ trích, phê phán việc thông tin cuộc xung đột trên báo chí trong nước, từ đó tìm cách hướng lái nhằm cuốn người đọc theo chủ đích, ý đồ của họ. Thậm chí, một số bài viết còn đưa ra những luận điệu theo kiểu lập lờ đánh lận con đen, đưa ra những câu hỏi, nghi vấn mang tính quy chụp, bôi nhọ quan điểm, uy tín Việt Nam trong quan hệ đối ngoại. Nhiều bài viết bằng lối phân tích tỏ ra có trình độ, hiểu biết kiểu “chuyên gia” song thực chất nhận thức rất lệch lạc, lộ rõ ý đồ, động cơ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”.

Đại sứ nêu rõ, trong bối cảnh đó, Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này.

Trên cơ sở đó, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”.

Ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt.

Hiến pháp năm 2013 và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Việt Nam đã nêu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Về chính sách quốc phòng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ, Việt Nam giữ vững nguyên tắc 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để giành độc lập dân tộc và tự do, bảo vệ nền hòa bình của Tổ quốc, nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh biết bao xương máu. Bằng các cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất qua nhiều thế hệ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, quyền được tự quyết vận mệnh của mình. Bởi vậy, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam luôn mong muốn xây dựng một môi trường hòa bình, hiểu biết, đoàn kết và yêu thương nhau, cùng xây dựng thế giới ngày càng tốt đẹp.

Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế.

Như vậy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

"HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO MỚI" VÀ NHỮNG HỆ LỤY CẦN CHUNG TAY NGĂN CHẶN

 

          Vạch trần âm mưu xuyên tạc lịch sử, phá hoại thuần phong mỹ tục văn hoá dân tộc

          Những hoạt động của các "hiện tượng tôn giáo mới" đã có tác động không nhỏ đến lĩnh vực văn hoá, đạo đức. Một số “hiện tượng tôn giáo mới” xuyên tạc lịch sử, phá hoại đạo đức và thuần phong mỹ tục văn hoá của dân tộc, chống đối, nói xấu chế độ, tuyên truyền làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

          Một số “hiện tượng tôn giáo mới” có biểu hiện xâm phạm nhân phẩm, sức khỏe con người, gây ảnh hưởng tới các mối quan hệ xã hội, làm thay đổi và xáo trộn về nếp sống, tập quán truyền thống của nhân dân... Khi chuyển đổi tôn giáo, tín ngưỡng để theo các “hiện tượng tôn giáo mới”, do khác biệt về tín ngưỡng đã góp phần tạo nên sự phân hóa, mâu thuẫn giữa người theo và không theo “tôn giáo” trong cùng một cộng đồng, một tộc người và các dân tộc trên địa bàn.

          Đây là một trong những yếu tố góp phần làm thay đổi lối sống và các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, tộc người và các dân tộc; là nhân tố làm nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng giữa bộ phận dân cư theo và không theo tôn giáo của các dân tộc, trong nội bộ tộc người tại các buôn làng, thậm chí diễn ra trong từng dòng họ và gia đình.

          Một số “hiện tượng tôn giáo mới” tuyên truyền cách thức thực hành tín ngưỡng phản khoa học, phi đạo đức, văn hóa nhằm thu lợi bất chính, như: yêu cầu người đi theo phải đóng góp tiền của, công sức xây dựng mới hay tu sửa nơi thờ tự (thực chất là nhà riêng của những người cầm đầu, cốt cán), phục vụ những hoạt động nhằm duy trì và phát triển tổ chức của các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Các “hiện tượng tôn giáo mới” còn tuyên truyền người tin theo không cần làm cũng có ăn, siêng năng cầu nguyện và trung thành với tổ chức sẽ được ban cho cuộc sống tốt đẹp, mọi nợ nần kể cả vay tiền ngân hàng hay cá nhân đều được xóa bỏ, không bị ốm đau bệnh tật và bất hạnh trong cuộc sống.

          Để giữ niềm tin cho những người tham gia, đồng thời ép những người khác trong gia đình phải đi theo, những người cầm đầu, cốt cán của các “hiện tượng tôn giáo mới” thường yêu cầu và buộc số người tin theo không được tiếp xúc và quan hệ với người khác niềm tin, tự tổ chức làm riêng và đổi công cho nhau trong nhóm, ăn riêng và sinh hoạt riêng, kể cả trong gia đình nếu vợ chồng, con cái có người theo và không theo cũng phải tách ra để làm ăn và sinh hoạt riêng, thậm chí li dị và phân chia tài sản, con cái. Đồng thời, không tham gia các cuộc hội họp chung của cộng đồng, các chương trình, dự án, chính sách phát triển, hỗ trợ của chính quyền và tổ chức xã hội,... Do vậy, sự hiểu biết về xã hội cũng như đời sống kinh tế của những gia đình này đã thấp kém lại gặp nhiều khó khăn hơn.

          Phần lớn các “hiện tượng tôn giáo mới” đều tuyên truyền và thực hành những hoạt động có yếu tố mê tín dị đoan, như: xem tướng số, bói toán về số phận con người, không tham gia các lễ hội và sinh hoạt văn hóa chung của cộng đồng; không thực hiện phong tục tập quán và tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, đồng thời phủ nhận các tôn giáo chính thống, kể cả tôn giáo đó là nguồn gốc của mình,... Do đó, đời sống văn hóa của những người tin theo “hiện tượng tôn giáo mới” thường bị bó hẹp và góp phần làm mất đi các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong bộ phận dân cư này. . .

          Mặt khác, các “hiện tượng tôn giáo mới” còn tuyên truyền và thực hành chữa bệnh không cần dùng thuốc và thăm khám chữa trị ở các cơ sở y tế, mà chỉ cần tin vào đấng siêu linh được tôn thờ và thực tâm siêng năng cầu nguyện sẽ khỏi. Cùng với đó là việc thực hành những phương pháp chữa bệnh mang tính ma thuật, phản khoa học, như: viết lời cầu nguyện ra giấy để đọc sau đó đốt lấy tro hòa nước uống sẽ khỏi bệnh hay tập trung quanh người bệnh để cầu nguyện với niềm tin hết ốm đau.

          Do tồn tại bất hợp pháp nên các buổi sinh hoạt chung của nhóm hay riêng trong nội bộ gia đình thường tổ chức lén lút vào lúc nửa đêm về sáng; những nơi hoang vắng để tránh bị các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương quản lý, đã ảnh hưởng đến thời gian nghỉ ngơi, sản xuất, học tập và sức khỏe của những người tin theo, nhất là trẻ em và người già cũng như gây mất an ninh trật tự cộng đồng. Việc người theo hiện tượng tôn giáo mới cũng phải bỏ ra thời gian, tiền bạc hay của cải vật chất cho những thực hành tôn giáo của họ.

          Đa số các “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây ra tình trạng học sinh trong những gia đình tin theo bỏ học, trốn học, không tiếp tục học lên cao,...Đơn cử như trường hợp con trai của Y. N-  bác sĩ và cũng là một trong những đối tượng cầm đầu của tổ chức “Amo Sara” đậu hai trường đại học ở TP. Hồ Chí Minh, nhưng bố mẹ không cho đi để tránh tiếp xúc với người lạ, ở nhà cùng gia đình thực hành “tín ngưỡng” và kết hôn với con gái của người sáng lập ra tổ chức này.

          Một số “hiện tượng tôn giáo mới” đã chối bỏ văn minh, truyền thồn văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của người Việt, gây mất đoàn kết trong cộng đồng, có biểu hiện mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục. Một số người còn trở thành “thầy lang” chữa bách bệnh cho mọi người, phương pháp chữa bệnh mang nặng mầu sắc mê tín, phản khoa học.

          Một số hoạt động của “hiện tượng tôn giáo mới” còn gây ra sự hoang mang trong giáo dục học đường, thậm chí cả cho các bậc phụ huynh. Họ gửi thư tuyên truyền đến cho các em học sinh còn quá ít tuổi, khi mà họ vô tình hoặc cố ý biết tên, địa chỉ các em. Nhất là, trong nội dung thư có nội dung tuyên truyền về “ngày tận thế”, về “thời mạt pháp”, đe dọa nếu nhận được thư mà không viết thư hoặc tuyên truyền cho người khác thì sẽ bị rủi ro, tai nạn, có khi thiệt mạng,...

          Những hành động này gây lo lắng, hoang mang trong nhân dân, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa... Trong khi đất nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì những hoạt động đó cản trở không nhỏ, khiến quần chúng nhân dân bất bình, phản đối./.

 

                                                                                      Nguồn: CAND

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng trong tình hình hiện nay

 


 

Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn.

Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp mặt đại diện nữ lãnh đạo, quản lý, trí thức và văn nghệ sĩ tiêu biểu

 


S

Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


 

Ngay sau khi cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được ra mắt, trên không gian mạng, một số blogger có địa chỉ ở nước ngoài đã cố tình nhạo báng, cho rằng những luận điểm, nội dung trong cuốn sách đã lỗi thời, lạc hậu, thiếu cơ sở khoa học.

Con tin vào điều mình đã chọn!

 

 


Là học sinh giỏi tốp đầu của lớp, chỉ còn hơn một tháng nữa, Minh sẽ đặt bút vào hồ sơ đăng ký tuyển sinh đại học.

Vạch trần âm mưu xuyên tạc lịch sử, phá hoại thuần phong mỹ tục văn hoá dân tộc

 

Những hoạt động của các "hiện tượng tôn giáo mới" đã có tác động không nhỏ đến lĩnh vực văn hoá, đạo đức. Một số “hiện tượng tôn giáo mới” xuyên tạc lịch sử, phá hoại đạo đức và thuần phong mỹ tục văn hoá của dân tộc, chống đối, nói xấu chế độ, tuyên truyền làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. 

Việt Nam đề nghị Trung Quốc tôn trọng và không vi phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam

 


Ngày 7/3, trả lời câu hỏi của phóng viên về thông báo hàng hải của Cục Hải sự tỉnh Hải Nam, Trung Quốc liên quan đến hoạt động diễn tập quân sự của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định:

 “Việt Nam luôn theo sát các diễn biến tại khu vực Biển Đông và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Một phần khu vực thông báo hàng hải nêu trên thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam được xác định theo UNCLOS 1982.

Việt Nam đề nghị Trung Quốc tôn trọng và không vi phạm vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, không có hành động làm phức tạp tình hình, qua đó góp phần duy trì hoà bình, an ninh, ổn định ở khu vực Biển Đông./.

Một nhà tư tưởng, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân

 


 

 Friedrich Engels là nhà lý luận chính trị, một triết gia và nhà khoa học người Đức thế kỷ 19. Engels đã cùng với Karl Marx sáng lập Học thuyết Marx-học thuyết khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân (GCCN) và nhân dân lao động trên thế giới. Cùng với Marx, Engels không chỉ phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của GCCN mà còn góp phần vạch ra vai trò của đội tiền phong (chính đảng) của GCCN. Đây cũng chính là phát hiện vĩ đại thứ ba trong Học thuyết Marx.