Thứ Ba, 8 tháng 3, 2022

Chính sách của Đảng đối với tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ đổi mới

 


Việt Nam là quốc gia có nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng tồn tại đan xen nhau, đáp ứng nhu cầu về đời sống tâm linh và đời sống tinh thần của đông đảo người dân. Là người lãnh đạo và quản lý xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam, từ phương diện quan điểm, chính sách, đã luôn quan tâm đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và củng cố khối đại đoàn kết tôn giáo - dân tộc. Quan điểm chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo được xây dựng trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và trên thế giới.

Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới đến nay, được thể hiện trên nhiều văn kiện quan trọng như: Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết chuyên đề và nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng, các chỉ thị, luật, các pháp lệnh…,

- Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, nhất là Đại hội XII, XIII.

- Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.

- Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban chấp hành trung uơng Khoa IX về công tác tôn giáo.

- Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21/2004/PL - UBTVQH11, tháng 6/2004

- Hiến pháp nước CHXHCNVN (2013)

- Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14

Trên các văn kiện, nhiều quan điểm, chính sách về tôn giáo và chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước đã được đổi mới về căn bản và mang tính “đột phá”, lần đầu tiên được Đảng ta đưa ra. Đó là các quan điểm: tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và là vấn đề còn tồn tại lâu dài; đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới; nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; công tác tôn giáo là trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Như vậy, có thể thấy, quan điểm của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo đã chuyển chủ yếu từ nhận thức tôn giáo là chính trị, là nhạy cảm, tiêu cực, là địch lợi dụng tôn giáo, sang tôn giáo là nhu cầu của nhân dân, là lực lượng quần chúng của Đảng và tôn giáo có những giá trị tích cực. Nhận thức của Đảng về tôn giáo như vậy là khách quan và toàn diện hơn so với trước đây, được thể

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn trên, Đảng, Nhà nước ta luôn đề ra đường lối quan điểm, chính sách, luật pháp phù hợp, nhằm từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011) Đảng ta chỉ rõ: “Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý nghiêm đối với những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo làm tổn hại tới lợi ích của nhân dân” [1] và “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr 81

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr 245

 

Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công tác tôn giáo

 


- Nhà nước tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt quan tâm tới các vùng, địa bàn tôn giáo; các vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về tôn giáo, gắn tôn giáo với quốc phòng, an ninh nhằm tạo cơ sở chính trị - pháp lý cho quản lý và thực hiện hiệu quả gắn tôn giáo với quốc phòng và an ninh trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Tổ chức thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hướng dẫn các tín đồ đấu tranh, chống lại âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo để kịch động gây rối xâm phạm an ninh quốc gia.

- Chủ động nắm chắc tình hình diễn biến của tôn giáo, kịp thời phát hiện và giải quyết hậu quả những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ tín đồ, trong quan hệ giữa tín đồ với các chức sắc và quan hệ giữa các tôn giáo.

- Khuyến khích tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, giáo dục… phù hợp với nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật.

- Nhà nước thống nhất chủ trương xử lý vấn đề tranh chấp nhà, đất sử dụng vào mục đích tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo trên cơ sở pháp luật để tạo sự đồng thuận xã hội; hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Như vậy quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với tôn giáo, tín ngưỡng hiện nay nhằm thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc. Quan điểm, chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng đã không chỉ là cơ sở cho các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam luôn ổn định, tuân thủ pháp luật, mà còn tạo ra động lực to lớn từ việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp cho sự thành công của công cuộc dổi mới dất nước. Quan diểm, chính sách của Dảng, Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, do dó là một chủ trương xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ đường lói phát triển đất nước, và luôn đáp ứng dược yêu cầu phải phù hợp với tình hình quốc gia và quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa. Để đạt được mục tiêu và đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực của quan diểm, chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng, hệ thống chính trị các cấp cần hết sức chủ động phát huy quyền làm chủ, cũng như tính tích cực chính trị của đồng bào có tôn giáo, tín ngưỡng trong quá trình xây dựng và thực hiện quan đieẻm, chính sách.

 

Đấu tranh địch lợi dụng tôn giáo trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh

 


Đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo trên lĩnh vực quốc phòng an ninh được biểu hiện trực tiếp ở việc làm thất bại mọi mưu đồ chính trị, khuấy lên những khác biệt, mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo trong cộng đồng người Việt; mưu đồ hỗ trợ chủ nghĩa cực đoan, cuồng tín, làm bùng lên những vụ gây rối, bạo loạn ly khai, mưu đồ tạo dựng, hình thành những nhân tố chống đối từ bên trong, xây dựng phát triển lực lượng đối lập để lật đổ chính quyền của các thế lực thù địch, phản động. Thực tế cho thấy, có lúc vấn đề tôn giáo đã tạo nên những “điểm nóng” như: vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Tây Nguyên tháng 2 năm 2001 và tháng 4 năm 2004 với cái gọi là “Nhà nước Đề ga” “Hội thánh Tin lành Đề ga”, việc truyền đạo trái phép và “xưng vua” ở Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tháng 5 năm 2001 và tình hình truyền đạo trái phép ở Nghệ An, Thái Bình, Hải Phòng… Những vụ việc đó đã ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đến xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Từ thực tiễn xử lý các vụ việc này cho thấy, trong đấu tranh chống dịch lợi dụng vấn đề tôn giáo phải kiên quyết và khôn khéo, dứt điểm, không để lây lan kéo dài; phải phát huy được sức mạnh tổng hợp đấu tranh trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh phải kết hợp chặt chẽ với các lĩnh vực khác, trong đó đặc biệt là công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ đồng bào tín đồ tích cực phát triển kinh tế - xã hội…nhằm tạo sức đề kháng từ bên trong của mỗi tín đồ tôn giáo, của mỗi địa phương và cả nước.

Những thành tựu và nguyên nhân thực hiện tốt chính sách tôn giáo ở nước ta

 


 Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ, chức sắc…hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ

Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

 Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

 “Các ngành, các cấp đã chủ động tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước”[1]

Nguyên nhân của các thành tựu trên:

1)Do Đảng ta đã đề xướng đường lối đổi mới đúng đắn; đã lãnh đạo quá trình thực hiện đường lối đổi mới đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

2)Đảng và Nhà nước ta hết sức nhạy bén đưa ra các chủ trương, chính sách tôn giáo theo tinh thần đổi mới và kịp thời, đã chủ động, sáng tạo trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách

3)Công tác tôn giáo đã tích cực xây dựng, củng cố, kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, tín ngưỡng theo yêu cầu của tình hình mới



[1] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị ban chấp hành Trung ương 7, Khóa IX. Nxb CTQG,H.2003, tr46

Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc

 


Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của dân tộc, bởi lẽ:

Một là, đồng bào các  tôn giáo trước hết là người Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Mặt khác, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Hai là, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Thực hiện đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[1].

+ Kiên quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc

Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong quan điểm về công tác tôn giáo và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.



[1]  Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 239- 240.

Nhận thức của Đảng về tôn giáo ngày càng sâu sắc hơn

 


Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” .Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”

Các tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành, găn bó cùng dân tộc

 


 Tình hình tôn giáo ổn định; đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền vi phạm nhân quyền, tư do tôn giáo

Công tác tôn giáo đã động viên được đồng bào có đạo, các tín đồ chức sắc… hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều tiến bộ.

Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ đổi mới đất nước.

Các tổ chức tôn giáo ở nước ta đã xây dựng được đường hướng, phương châm hành đạo tiến bộ, hoạt động gắn bó với dân tộc theo Hiến pháp, pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đã tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước.

Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an  ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch.

 

 

Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mang đậm nét cảm tính, tâm lý.

 


Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý, nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo nhưng các tôn giáo ở Việt Nam rất đoàn kết

 


 Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia.

Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa, các tôn giáo trên thế giới.

Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình. Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh, nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.

Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghị và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.

Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao gồm: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hiện có 6 tôn giáo lớn, trong đó có 2 tôn giáo nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.

Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.

Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình.

Nắm vững bản chất tôn giáo để thực hiện công tác tôn giáo dạt hiệu quả

 


Mặc dù hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều nhưng các nhà khoa học và nhà quản lý thống nhất một nhận định chung:

-Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, lực lượng, một điều gì đó và thông thường để chỉ niềm tin tôn giáo.

Tín ngưỡng là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ công xã thị tộc; bộ lạc; những hành vi cúng tế trong dân gian, sùng bái đa thần, không tuân theo một nghi thức nhất định (tùy theo từng vùng, từng phong tục địa phương có những nghi lễ khác nhau); không có giáo chủ/ người khai đạo, không có giáo lý, giáo luật và không có tín đồ, hoạc tín đồ không ổn định

- Tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức của tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm các yếu tố sau: Hệ thống giáo lý; giáo luật, lễ nghi; các chức sắc, tổ chức giáo hội; vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và các tín đồ.

Tôn giáo là khái niệm dùng để chỉ các loại hình tôn giáo nhất thần/độc thần đã được thể chế hóa bằng các tổ chức gọi là giáo hội (giáo hội phật giáo, Công giáo…) được hình thành khi xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp; có giáo chủ/người khai đạo; có hệ thống giáo lý, giáo luật và nghi lễ chặt chẽ; có tín đồ trên sổ sách quản lý của giáo hội.

Đối lập với tín ngưỡng, tôn giáo, có một loại hình chúng ta cũng cần nhận biết:

- Mê tín dị đoan là hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và còn tồn tại ở xã hội hiện đại. Trên thực tế mê tín dị đoan thường xen vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Xác định hiện tượng này chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó.

Phân bổ các định mức chính sách phù hợp với công tác dân tộc hiện nay

 


Đại hội XIII của Đảng xác định: Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc tren tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc thù giả quyết những khó khăn của đồng bào DTTS. Tạo sinh kế, việc làm, định anh, định cư vững chắc cho đồng bào DTTS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Tập trung triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030. Bảo vệ vf phát triển dân số các dan tộc thiểu số có dưới 10 nghìn người, đặc biệt là những dân tộc thiểu số có nguy cơ suy giảm giống nòi

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi người

 


Quyềntự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã được chuyền từ “quyền công dân” theo điều 70 của Hiến pháp năm 1992, thành “quyền con người”, Tại Điều 24 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định:

1)Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

          2) Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

3) Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo đề vi phạm pháp luật.

          Như vậy quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền của tất cả mọi người, là quyền con người, và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Hiến định như vậy veè quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chính sách của Nhà nước ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo đã tiệm cận với nhận thức và chính sách chung về tôn giáo của các quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ chiến lược

 


Đảng ta từ khi thành lập và trong xuốt quá trình lãnh đạo luôn xác định: Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Điều đó  được thể hiện trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng năm 1930, với  mục tiêu của cách mạng Việt nam là thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân quyền và tiến lên XHCN. Kế thừa, phát huy, phát triển văn kiện đầu tiên của Đảng ở văn kiện nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng tiếp theo đều thể hiện rõ là thực hiện vấn đề dân tộc là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài. Như vậy để cách mạng XHCN của chúng ta thành công phải thực hiện tốt  vấn đề dân tộc, phải giải phóng dân tộc,  muốn giải phóng dân tộc phải giải phóng con người. Vì vậy phải là một quá trình lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.

 

Kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện, kinh tế- xã hội ngày càng phát triển đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi

 


         98,6% số xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã

         99,8% số xã và 95,5% số  thôn có điện lưới quốc gia

         99,5% số xã có trường tiểu học, 93,2% số xã có trường trung học cơ sở, 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo, mầm non

         99,39 % số xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc  gia về y tế

Phát triển kinh tế

         Hình thành các vùng cây công nghiệp: Cà phê, chè, cao su, hạt tiêu, điều,…

         Các vùng cây ăn quả: Cam (Hòa Bình, Hà Giang), vải thiều (Bắc Giang), nhãn (Sông Mã, Sơn La),…

         Công nghiệp khai khoáng: Than (Quảng Ninh), Apatit (Lào Cai), Đồng (Lào Cai), Thiếc (Cao Bằng), Bô xit (Tây Nguyên),…

         Thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu,…

 Giảm nghèo

         Thu nhập bình quân các vùng dân tộc tăng nhanh: Tây Nguyên tăng 1,5 lần; Đông Bắc bộ 1,4; Tây Bắc 1,3 lần

         Tỷ lệ giảm nghèo các tỉnh Đông Bắc 3,62%, Tây Bắc 4,4%, Tây Nguyên 3,04%; trong DTTS 3,55%/năm (BQ cả nước 1,83%)

         Khoảng cách nghèo trong dân tộc thiểu số giảm từ 24,3 xuống còn 19,2.

         Mức độ trầm trọng của hộ nghèo giảm từ 11,3% xuống còn 8,2%.

         98,6% ý kiến của cán bộ cơ sở và người dân đánh giá đời sống đồng bào DTTS khá hơn

Được dư luận trong nước, quốc tế đánh giá cao

Giáo dục và đào tạo

- 300 trường PTDTNT, 88 ngàn HS theo học

- 876 trường PTDT bán trú, 140 ngàn HS theo học

- 782 trường, 124 ngàn HS học tiếng DTTS

- 5 năm qua, vùng dân tộc cử tuyển 18 ngàn SV DTTS vào học các trường CĐ, ĐH

- Hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS

 Y tế

Nhờ thực hiện các CTMTQG về y tế  và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn, một số dịch bệnh trước đây phổ biến ở vùng dân tộc như sốt rét, bướu cổ, phong, lao được ngăn chặn và đẩy lùi.

Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống dưới 25%.

 Về văn hóa - thông tin

         Văn hóa các DTTS được tôn trọng và giữ gìn

         NN thường xuyên tổ chức các lễ hội văn hóa, thể thao DTTS khu vực

         81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh, 92% người dân được nghe đài phát thanh, 85% được xem truyền hình,

         Hệ thống phát thanh, truyền hình phát bằng 26 ngôn ngữ dân tộc.

Mỗi tuần có 362 chương trình phát bằng tiếng DTTS

Kiên quyết đấu tranh và sử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo

 


Lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng là âm mưu cố hữu không thay đổi của các thế lực thù địch. Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để nhằm mục tiêu cơ bản là xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân, xóa bỏ CNXH. Hiện nay âm mưu của các thế lực lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tập trung vào các vấn đề cơ bản là: phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động đồng bào tôn giáo chống lại đường lối quan điểm tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đối lập quần chúng tôn giáo với Đảng; làm mất hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động quản lý của Nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; làm chệch hướng XHCN của sự phát triển đất nước. Thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt, đó là: ra sức tuyên truyền cho cái khẩu hiệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền” nhân danh các công ước quốc tế để pháp lý hóa nhằm can thiệp vào nội bộ các tôn giáo, như: dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế” ký hiệu HR2431. Chúng kích động tín đồ các tôn giáo, tìm mọi cách cho ra đời các “Giáo hội độc lập, ly khai” theo kiểu “Tin lành Đề ga” với sự tiếp tay hậu thuẫn từ bên ngoài. Đồng thời chúng tìm cách khai thác mọi sơ hở của ta để lôi kéo quần chúng lạc hậu gây rối loạn trật tự xã hội để tạo cớ can thiệp vào nước ta. Chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động dùng vật chất để lừa mị, xúi dục các tín đồ đòi “tự do tôn giáo”, lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân hoặc xúi dục tín đồ đòi đất, khiếu kiện,,,, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc như một thủ đoạn chiến lược lâu dài để chống phá cách mạng. Các thế lực thù địch đã rất kiên trì tuyên truyền, vu cáo chính quyền Việt Nam đàn áp “dân tộc thiểu số” “đàn áp tôn giáo” để mê hoặc dư luận thế giới, mê hoặc tín đồ, kéo đồng bào vào các hoạt động chia rẽ, ly khai tạo cớ để can thiệp vào nội bộ nước ta.

Quyền bình đẳng giữa các dân tộc Việt Nam ngày càng được thực hiện tốt

 


Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao. Trong những năm qua, số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. Ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước.

         86 đại biểu QH là người DTTS chiếm tỷ lệ 17,4% (Khóa XIV)

         49/53 DTTS có đại biểu trong Quốc hội

         Đại biểu trong HĐND các cấp khoảng 20%

         Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước là người DTTS (Tổng bí thư, Ủy viên BCT, BBT, UVTƯ, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch QH, Bộ trưởng, Bí thư, Chủ tịch tỉnh,...)

Đánh giá chỉ số bình đẳng trong thời gian qua cho thấy,Các dân tộc đã bình đẳng với nhau hơn, đoàn kết hơn, tôn trọng hơn; Niềm tin của đại bộ phận các DTTS vào Đảng, Nhà nước ngày càng tăng; Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh giữ vững, trật tự xã hội được bảo đảm

LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI LÀ TRÒ ĐÙA.

         Cuộc hủng hoảng tại UKRAINE ngày càng ác liệt đồng nghĩa với mỗi ngày qua đi , có hàng trăm người thiệt mạng cho cả 2 bên. Đau đớn nhất đó vẫn có thể nói là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Cuộc chiến mà dù ai là ngừoi chiến thắng đi nữa thì họ vẫn là ngừoi một nhà. Những ngừoi Việt Nam đúng nghĩa rất đau lòng khi họ cũng là anh em đã sát cánh với Việt Nam trong quá khứ. Giúp chúng ta vô điều kiện trong bất kỳ thời điểm và hoàn cảnh nào .

Ai là ngừoi phải chịu trách nhiệm trước nỗi đau này. Chắc chắn đó là chính quyền của UKR và các lực lượng thân phát xít phải là ngừoi chịu trách nhiệm trước nhân dân UKR khi để sảy ra bi kịch như này,khi tách ra khỏi liên bang xô viết , chính quyền UKR thậm trí là cả các nguyên thủ thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc trắng trợn về lịch sử. Những tuyên ngôn bôi nhọ về lịch sử xô viết. Ngày 8-1-2015 trong khuôn khổ chuyến thăm CHLB Đức,TT yatsinyuk phát biểu trước quốc hội Đức là liên xô đã xâm lược Đức và UKR , thậm trí thủ tướng UKR còn lớn tiếng xuyên tạc lịch sử coi rẻ xương máu của các chiến sĩ hồng quân Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ Đại trong đó có nhiều ngừoi con UKR đã ngã xuống để bảo vệ Liên Xô,đánh bại phát xít , bảo vệ nhân loại khỏi hoạ phát xít.

Tệ hại hơn BGD ukraina còn soạn thảo bổ xung vào sgk lịch sử lớp 11 dạy cho con trẻ rằng ( Nga là nước xâm lược ….) 

Trong nước các thế lực theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan thân phát xít nổi lên, chỉ trong rất ít ngày 500 di tích lịch sử trong đó có nhiều tượng đài Lê Nin , tượng đài bà mẹ Xô Viết tượng đài chiến thắng bị tàn phá. Kinh tởm hơn các tượng đài này sau khi bị đập phá giật đổ còn bị những đám đông hò reo nhảy múa chặt đầu…..

Có lẽ chiến dịch đặc biệt của Nga là giọt nước tràn ly. Khi Nga và TT PUTIN đã không thể nhẫn nhịn hơn nữa. Chiến dịch này là tín hiệu của Nga gửi tới các đối trọng rằng Nước Nga không phải là nước dễ bắt nạt. Và Nga đã quyết thì đừng hỏi. Và lệnh tấn công UKR không sảy ra lúc này thì sẽ sảy ra lúc khác mà càng để lâu thì thiệt hại càng nhiều khi mà UKR được bơm rất nhiều vũ khí và tiền bạc,

Tóm lại cuộc xung đột này rồi sẽ có hồi kết. Trên chiến trường thì chắc chắn Nga sẽ dành thắng lợi vì lợi thế trên tất cả các mặt của mình, nhưng không ai là ngừoi chiến thắng cả dù đó là Nga , UKR hay EU , mà ngừoi chiến thắng trong cuộc xung đột này lại ở rất xa châu Âu. Họ là những kẻ như ông đắc lợi nhất./.



Yêu nước ST.

Hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam được phân theo 3 nhóm cơ bản


Đến nay, nước ta có 181 chính sách dân tộc, thể hiện trên 264 văn bản (UBDT, 2016), chia làm 3 nhóm:

         Nhóm chính sách cho một số dân tộc: Chăm, Hoa, Khmer, Mông, 5 dân tộc dưới 1000 người (PuPéo, Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm) và 4 dân tộc có nhiều khó khăn (Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao).

         Nhóm CS phát triển theo địa bàn : Phát triển cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng.

         Nhóm CS phát triển KTXH theo lĩnh vực, bao gồm các chính sách hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo, nước sạch, môi trường, giáo dục, đào tạo, văn hóa, y tế, cán bộ dân tộc thiểu số, trợ giúp pháp lý,...

* Ngân sách

         NSNNđầu tư (2011-2015): 135.000 tỷ đồng (tăng gấp 3 lần so với 5 năm trước)

         Trong đó, 9 chính sách do UBDT quản lý được cấp 27.000 tỷ đồng

         Kinh phí tài trợ quốc tế: 38 triệu Euro, tương đương 1000 tỷ đồng (xu thế tài trợ của quốc tế giảm dần, do nước ta đã là nước có thu nhập trung bình)

         Kinh phí đầu tư của các doanh nghiệp và người dân

  

Tăng cường lãnh đạo của Đảng với công tác tôn giáo

 


- Đảng phải luôn đổi mới tư duy, nâng cao năng lực trí tuệ đề ra đường lối, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh đúng đắn, phù hợp với diễn biến phức tạp của tình hình tôn giáo và âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.

- Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở, cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có đủ phẩm chất, năng lực theo yêu cầu phát triển của công tác tôn giáo ở thời kỳ mới.

- Quan tâm lãnh đạo việc điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với tôn giáo trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

- Củng cố, kiện toàn tổ chức làm công tác tôn giáo của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp; xác định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chế phối hợp hoạt động một cách cụ thể và hiệu quả giữa các tổ chức, cá nhân làm công tác tôn giáo ở các cấp.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời trấn chỉnh, bổ sung phát triển về chủ trương, chính sách nhất là giải pháp bảo đảm việc thực hiện tốt đường lối, chính sách tôn giáo gắn với quốc phòng, an ninh.

Các dân tộc có dân số và trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đều nhau

 


Hiện nay, dân tộc kinh chiếm khoảng 85,3`% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước. Các dân tộc thiểu số có 6 dân tộc có số dân 1 triệu người trở lên như: Tày, Thái, Mường, Nùng, Mông, Khơ me; 33 dân tộc có dân số từ 10 nghìn người đến 1 triệu người; 14 dân tộc có dưới 10 ngìn người, trong đó có một số dân tộc chỉ có mấy trăm người như dân tộc:  Ơ đo, Pu péo, Si la, Brâu, Rơ măm...

Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế xã hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Hiện nay có một số dân tộc đạt trình độ phát triển tương đối cao như Tày, Thái, Mường, Nùng, Ngái, Sán Dìu... Các dân tộc này biết canh tác ruộng nước, biết sản xuất hàng hoá, cư trú ở vùng thấp, đô thị.  Một số dân tộc có trình độ phát triển thấp như La hủ, Cống, Mảng, Chứt..., do sống bằng canh tác nương rẫy, tự cung, tự túc, cư trú ở vùng cao khó khăn, vùng sâu, vùng xa, quen với cuộc sống du canh, du cư...

Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh xâm lược trong nhiều năm. Đây là nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ chung.

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau là động lực quan trọng để Việt Nam phát triển


Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cứ trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã  và các bản, mường. Hiện nay, hầu như không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng... Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3 đến 4 dân tộc cùng sinh sống.

Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhưng cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc anh em.

Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước. Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ.

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam.

Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành lũy vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng - an ninh trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới. Bởi vậy chính sách dân tộc của Đảng nhà nước Việt Nam không chỉ vì lợi ích các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ còn là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, anh ninh quốc gia. 

Vì sao các dân tộc ở Việt Nam đoàn kết

 


Thứ nhất, do phải đoàn kết để chế ngự tự nhiên và chống giặc ngoại xâm

Việt nam ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi, song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm, mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thủy lợi, đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.

Cùng với lịch sử trinh phục thiên nhiên, nhân dân Việt Nam còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Do Việt nam ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây của thế giới, có tài nguyên, thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính chiến lược. Cho nên các thế lực bành trướng, xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cách thôn tính Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại những thế lực hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược.

 Thứ hai, dân tộc Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn và lòng nhân ái, vị tha cao cả.

Lòng yêu nước Việt nam đã được hun đúc từ bao thế hệ phát triển thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, càng khó khăn gian khổ, càng hiểm nguy thì người dân Việt Nam càng thương yêu nhau hơn, càng quyết tâm hơn, càng đồng lòng hơn để vượt qua. Ví dụ: Chiến tranh ở Irắc 2001...; Chống dịch COVID 3 đợt năm 2020,2021... Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã là cơ sở, động lực rất quan trọng để mọi con dân đất Việt đoàn kết, yêu thương, tương trợ giúp đỡ lẫn nhan. Cùng với đó Người dân Việt nam luôn có tấm lòng nhân ái vị tha cao cả. Lòng nhân ái của người Việt Nam không chỉ trong nội tộc mà còn đối với cả thế giới. Ví dụ: Khi chiến tranh kết thúc Việt nam luôn giải giáp tù hàng binh về nước của họ.

Đoàn kết trong lao động và đấu tranh là truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam đã được nâng lên tầm cao và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng Việt Nam ngày càng được tăng cường.

Nhận diện đúng, có biện pháp kịp thời đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch về tôn giáo

 


Những âm mưu, thủ đoạn mới lợi dụng vấn đề tôn giáo của địch, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân cần nhận diện rõ ràng, để luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng ý chí kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng, để thực hiện tốt cần thực hiện tốt các kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, coi trọng tuyên truyền giáo dục làm cho đồng bào tôn giáo thấu suốt quan điểm, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm nâng cao nhận thức, lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài cấu kết với lực lượng phản động bên trong lợi dụng tôn giáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; kích động đồng bào tôn giáo, đi ngược lại đạo pháp và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, phương pháp công tác tôn giáo cần tuân theo bốn quy cách: có lý, đúng luật, được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ; thống nhất đồng bộ giữa ba bộ phận (Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng là các tín đồ, chức sắc và tổ chức giáo hội)

Ba là, trong xử lý vấn đề lợi dụng tôn giáo hoạt động trái pháp luật, phải bình tĩnh, nắm chắc tình hình, không định kiến, nóng vội, cần tiến hành đồng bộ các biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục; cần tránh hai khuynh hướng: hữu khuynh lừng chừng để kẻ địch có cơ hội lôi kéo, lừa gạt quần chúng hoặc tả khuynh tuyên chiến với tôn giáo, đánh nhầm vào quần chúng tín đồ tốt. Ở những nơi thường xảy ra diễn biến phức tạp cần thành lập các tổ công tác hoặc ban chỉ đạo, những nơi chưa xảy ra phức tạp, phải chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn, giải quyết ngay từ cơ sở không để lây lan, kéo dài.

Bốn là, chủ động sâu sát cơ sở địa bàn có tôn giáo để nắm chắc tình hình, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa; thực hiện tốt ba cùng: cùng ở, cùng làm, cùng sinh hoạt với dân; phải thường xuyên nắm chắc âm mưu, hoạt động của kẻ xấu để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn. Khi xảy ra “điểm nóng” cần phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, chính quyền địa phương với Ban Chỉ đạo Trung ương ở ttừng khu vực để giải quyêt dứt điểm, không để lan sang các vùng khác và phải tuyệt đối tránh tiếp xúc với người nước ngoài.

Năm là, giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với vấn đề dân tộc. Đó là, phải chăm lo giải quyết vấn đề đời sống, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Công tác tôn giáo phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược quốc phòng an ninh, thực hiện chính sách định canh, định cư, chống di dịch cư tự do trong đồng bào các dân tộc ít người, theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Vì vừa qua, kẻ địch đã triệt để lợi dụng tập quán này để truyền đạo trái phép rất phức tạp.

Giải quyết tốt vấn đề dân tộc dưới CNXH là mục tiêu quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Vấn đề dân tộc là những mâu thuẫn xung đột trong thực hiện các quyền cơ bản như quyền tự quyết đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… của các tộc người trong quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau. Ví dụ trình độ phát triển không đồng đều giữa DTTS và người Kinh ở Việt Nam và một số nước trên thế giới hoặc sự can thiệp của Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch với một số nước ở Châu Mỹ la tinh…

Giải quyết vấn đề dân tộc dưới CNXH là thực hiện bình đẳng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong quốc gia hoặc thực hiện hòa bình hợp tác, phát triển giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới để không có mâu thuẫn, xung đột dân tộc.

Đây cũng chính là xu hướng của các nước trên thế giới hiện nay, luôn coi trọng, đề cao vấn đề bình ổn trong nội tộc để làm cơ sở vững chắc cho quá trình hội nhập

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Cách mạng Việt Nam luôn xác định giải quyết tốt vấn đề dân tộc là mục tiêu và cũng là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài nhưng cũng rất cấp bách trong tình hình hiện nay.

Chủ động, phát huy sức mạnh đoàn kết các chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo

 


Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động các chức sắc và tín đồ tôn giáo vẫn giữ nguyên giá trị. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu, học tập và vận dụng điều kiện mới. Phương pháp vận động quần chúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đạt được ba yêu cầu: “hợp thời, hợp lòng dân và chu đáo”[1] Muốn làm tốt công tác vận động các chức sắc và đồng bào tín đồ tôn giáo trong điều kiện hiện nay, theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần làm tốt các biện pháp sau:

Đối với các chức sắc, chức việc tôn giáo: chúng ta luôn chủ động, tranh thủ, tiếp cận, thuyết phục giác ngộ họ, kéo họ về với sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Sự giác ngộ về lợi ích quốc gia dân tộc của các chức sắc tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tập hợp tín đồ trong mái nhà chung của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vì tiếng nói của họ có sức mạnh to lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Vì vậy Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương cần trú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đối tượng là các chức sắc, chức việc của các tôn giáo, để qua họ tác động đến đông đảo tín đồ nâng cao nhận thức, hành động vì sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước.

Đối với đồng bào tín đồ tôn giáo: chúng ta cần tuyên truyền, giải thích cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Muốn làm cho đồng bào tin thì cán bộ tuyên truyền nói phải đi đôi với làm, chính sách phải đem lại kết quả thiết thực. Chúng ta cần học tập các cha cố truyeèn đạo về tính kiên nhẫn, bền bỉ, không nóng vội. Điều quan trọng là không được mắc sai lầm dẫn đến mất lòng tin của đồng bào và để kẻ thù lợi dụng bôi xấu cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Lực lượng của chúng (của kẻ thù) gồm có: một là, lực lượng của bản thân chúng; hai là: khuyết điểm của cán bộ ta. Những khuyết điểm mà cán bộ ta phạm phải là đồng minh đắc lực của địch”[2]. Để nâng cao hiệu quả vận động quần chúng tín đồ, đòi hỏi chúng ta khi tuyên truyền phải khéo léo, tinh tế, biết kết hợp giữa giá trị các tôn giáo với giá trị của cách mạng trong tuyên truyền, giáo dục; đồng thời cần làm cho đồng bào nhận rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm của địch lợi dụng tôn giáo, làm phương hại đến sự đoàn kết dân tộc và đời sống đồng bào, để đồng bào tín đồ đứng lên đấu tranh vạch mặt kẻ địch.

 Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật; luôn đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức vận động đồng bào tín đồ phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của từng tôn giáo cụ thể. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Phát huy tinh thần của đồng bào có đạo trong tự giác, phối hợp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo cùng với lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ gìn, củng cố an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8. Nxb CTQG, H. 1996, tr 77

[2] Hồ Chí Minh: Sđd, tr.77

Nắm vững khái niệm dân tộc - tộc người để thực hiện tốt chính sách dân tộc

 


Dân tộc là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.

Từ khái niệm nổi lên ba đặc trưng cơ bản sau:

+Dân tộc là cộng đồng mang tính tộc người (ví dụ dân tộc Tày, Thái, Mường, Ba na của Việt Nam…)

+ Là cộng đồng hình thành lâu dài trong lịch sử, có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia - dân tộc khác nhau

+ Được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người.

          Ở Việt nam từ năm 1979 đến nay, khi điều tra về thành phần các dân tộc đều dựa vào 3 đặc trưng nêu trên để xác định các tộc danh.

          Nâng cao nhận thức về khái niệm dân tộc nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc. Nắm vững những đặc trưng của dân tộc để tránh những hạn chế của việc ra chính sách trung tính, chính sách chung chung, không có con người, vùng miền cụ thể. Chính sách phù hợp sẽ góp phần củng cố, tăng cường sự thống nhất quốc gia trên nền tảng kinh tế, thúc đảy sản xuất hàng hóa phát triển, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng; củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời nắm vững đặc điểm dân tộc để ban hành những chính sách phù hợp, mang tính đặc thù cho từng dân tộc, tạo điều kiện cho từng dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số, phát triển gắn với sự phát triển chung của cả cộng đồng.

Phát huy các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 


- Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc và dân tộc; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo, tăng cường sự đồng thuận giữa người có và không có tín ngưỡng, tôn giáo; giữa các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống các hoạt động tà đạo, mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm phương hại lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.

- Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo làm cho các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo đi sâu vào đời sống vật chất, tinh thần của xã hội, lấn át đi những mặt tiêu cực, sùng bái, mê tín dị đoan, mê hoặc con người, phi nhân tính có hại đối với cuộc sống.

 - Phát huy nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước được biểu hiện trên những vấn đề chủ yếu sau:

+ Phát huy nguồn lực của tôn giáo, bằng việc không những phát huy các giá trị đạo đức tốt đẹp của tôn giáo mà còn cải tạo, phát triển, xây dựng hệ giá trị mới phù hợp với điều kiện mới để con người có niềm tin, sức mạnh tinh thần vượt qua mọi khó khăn trở ngại trong cuộc sống.

+ Phát huy nguồn lực của tôn giáo bằng việc phát huy vị trí, vai trò, chức năng tích cực của các chức sắc, chức việc, tín đồ có uy tín trong việc tuyên truyền vận động các tín đồ chấp hành và thực hiện tốt mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

+ Phát huy nguồn lực của tôn giáo cũng đồng thời là phát huy sức mạnh vật chất, tinh thần của tín đồ tôn giáo, sống “tốt đời, đẹp đạo” để phát huy hết khẳ năng sẵn có của hơn 24 triệu tín đồ tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cần nắm vững khái niệm dân tộc theo nghĩa quốc gia dân tộc để hoạch định chính sách phù hợp


Dân tộc là một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.

Dân tộc hay quốc gia - dân tộc là cộng đồng chính trị xã hội được hình thành ổn định và lâu dài trong lịch sử, chịu sự chỉ đạo bởi một nhà nước trong một quốc gia như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Anh, dân tộc Đức…Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, các cộng đồng tộc người cùng sống trên một địa bàn lãnh thổ, do nhu cầu tồn tại và phát triển, có mối quan hệ với nhau đã đi tới thành lập các quốc gia - dân tộc, bao gồm: địa bàn sinh sống của một hay nhiều tộc người. Ở phương Tây, quá trình này gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sự hướng tới thành lập các quốc gia - dân tộc độc lập. Dân tộc hiểu theo nghĩa quốc gia gồm những đặc trưng chủ yếu sau:

          + Chịu sự quản lý của một nhà nước; nhà nước - dân tộc đó phải là một nhà nước độc lập;

+ Có lãnh thổ chung ổn định, là địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc. Vận mệnh dân tộc - một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ;

+ Có chung phương thức sinh hoạt kinh tế, là liên kết tự nhiên, chặt chẽ, bền vững của cộng đồng dân tộc;

+ Có ngôn ngữ chung, làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, tình cảm…;

+ Có chung một nền văn hóa, thể hiện qua tâm lý, tính cách phong tục, tập quán…tạo nên bản sắc riêng của cộng đồng dân tộc. 

Các tổ chức tôn giáo hoạt động theo dúng quy định của pháp luật

 


- Bảo đảm các tổ chức tôn giáo và các tín đồ nhận thức sâu sắc về chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, để từ đó chấp hành nghiêm túc mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó thực hiện tốt phương châm sống “tốt dời, đẹp đạo”

- Tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật có liên quan đến tôn giáo như: Đất đai, văn hóa, giáo dục, y tế…bảo đảm đồng bộ với pháp luật về tôn giáo và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

- Tổ chức tuyên truyền và thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, kịp thời xây dựng mới cũng như bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật. Triển khai thực hiện tốt Luật tín ngưỡng, tôn giáo, siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

- Trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật tôn giáo, tín ngưỡng cần tiếp thu nghiêm túc những ý kiến phản ánh, những kết quả giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và của cán bộ, nhân dân về những bất cập, hạn chế của công tác tôn giáo nói chung và của chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng.