Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Nhiều cách làm sáng tạo nơi thành phố mang tên Bác để vượt qua khó khăn, thách thức và phát triển nhanh, bền vững

 - Với lợi thế vượt trội về tiềm lực kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh đã, đang nỗ lực triển khai, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để khẳng định vai trò, trách nhiệm của mình đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và cả nước nói chung. Tuy nhiên, trên chặng đường đó, Thành phố cũng đang gặp phải những rào cản kìm hãm sự phát triển chung. Để vượt qua những rào cản đó đòi hỏi Thành phố cần đề ra những bước đi và thực hiện đồng bộ các giải pháp để vững bước trên con đường phát triển.

Thành phố Hồ Chí Minh - vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và cả nước nói chung_Ảnh: Tư liệu

Vững vàng giữ mức tăng trưởng trong bối cảnh khó khăn

Những năm gần đây, đặc biệt trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019, Thành phố Hồ Chí Minh phải đối diện với nhiều biến động, khó khăn, thách thức, mà Đảng bộ, chính quyền các cấp của Thành phố phải tập trung giải quyết, như các vụ, việc khiếu kiện, khiếu nại liên quan đến khu đô thị mới Thủ Thiêm (Quận 2), khu Công nghệ cao (Quận 9), dự án Safari (huyện Củ Chi); các vụ tụ tập đông người… Những vụ, việc đó gây ảnh hưởng lớn đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành phục vụ sản xuất - kinh doanh và sinh hoạt của người dân toàn Thành phố. Trong khi đó, nguồn lực cho đầu tư phát triển của Thành phố tiếp tục gặp khó khăn do nguồn thu ngân sách để lại cho Thành phố chỉ 18%; tiến độ giải ngân cho các dự án trọng điểm, như tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên, Bến Thành - Tham Lương còn gặp nhiều vướng mắc.

Đứng trước những khó khăn, thách thức đó, Đảng bộ và chính quyền Thành phố tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng cách mạng gắn với sự nỗ lực, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành thông qua nhiều quyết sách để triển khai vào thực tiễn, nên nền kinh tế của Thành phố luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng, cụ thể là: Tỷ trọng quy mô kinh tế của Thành phố năm 2018 chiếm 23,97% so với quy mô kinh tế cả nước, cao hơn năm 2017 (23,41%) và năm 2016 (23,45%). Nếu chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2019, nền kinh tế Thành phố tiếp tục tăng trưởng tích cực, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 611.525 tỷ đồng, tăng 7,86%, tương đương cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 24,6% tổng sản phẩm nội địa cả nước (cao hơn cuối năm 2018); thu ngân sách đạt 193.310 tỷ đồng, đạt 48,43% dự toán, tăng 7,04% so cùng kỳ, bình quân mỗi ngày Thành phố thu 1.500 tỷ đồng nộp vào ngân sách. Mặt khác, cũng trong trong 6 tháng đầu năm 2019, Thành phố có 145 dự án được cấp phép và thực hiện điều chỉnh vốn đầu tư (với số vốn tăng thêm đạt hơn 300 triệu USD); Thành phố còn chấp thuận cho 2.307 trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đăng ký góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp của doanh nghiệp trong nước với tổng vốn góp đăng ký tương đương 2,37 tỷ USD, tăng 26,3% về số trường hợp và tăng 32,6 về vốn đầu tư so với cùng kỳ năm 2018… Có thể khẳng định rằng, những kết quả đạt được đó đã góp phần hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố, tăng tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao; đồng thời tăng trưởng sức hút đầu tư, đặc biệt là không ngừng cải thiện rõ rệt niềm tin của doanh nghiệp trong và ngoài nước vào môi trường đầu tư kinh doanh của Thành phố.

Những kết quả quan trọng trên còn cho thấy, chính là nhờ Đảng bộ, chính quyền Thành phố chú trọng tăng cường thực hiện hiệu quả đối thoại giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước, đối thoại “tứ giác sáng tạo” (nhà khoa học - doanh nghiệp - nhà đầu tư tài chính và cơ quan quản lý nhà nước), từ đó lãnh đạo Thành phố đã đề ra những quyết sách phù hợp và kịp thời hơn trong công tác chỉ đạo, điều hành, góp phần từng bước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và bảo đảm an ninh chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Thành phố nói chung.

Bên cạnh đó, nhìn một cách toàn diện sự phát triển của Thành phố chúng ta còn thấy rõ điểm nổi bật trong thời gian qua là sự chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai các giải pháp đồng bộ, phân công cụ thể các đơn vị thực hiện nhiệm vụ rõ ràng, kịp thời. Ngoài ra, Đảng bộ, chính quyền Thành phố còn có cách làm mới từ công tác lãnh đạo, điều hành, đó là việc tập trung quyết liệt thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14, ngày 24-11-2017, của Quốc hội, “Về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh” và thực hiện 7 chương trình đột phá. Song song đó, ngay đầu năm 2019, thủ trưởng 29 sở, ban, ngành và chủ tịch ủy ban nhân dân 24 quận, huyện đã ký cam kết (với 8 nội dung) trong việc quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cải cách hành chính năm 2019. Những việc làm đó giúp cơ chế một cửa, một cửa liên thông có được sự chuyển biến tích cực, hiệu quả trong công tác giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức doanh nghiệp theo hướng công khai, minh bạch, thuận lợi. Điểm đáng chú ý nữa là, với việc đẩy mạnh các hạng mục trong xây dựng thành phố thông minh, các cơ quan hữu quan của Thành phố đã ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan hành chính nhằm phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, tại kỳ họp thứ 15 Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khóa IX tháng 7-2019, các đại biểu tiếp tục chỉ rõ những khó khăn, thách thức và hạn chế mà Thành phố phải tiếp tục tháo gỡ, đó là: Công tác quy hoạch của Thành phố chậm được điều chỉnh so với nhu cầu phát triển trong thực tiễn, thiếu đồng bộ và chưa đạt tiến độ trong việc triển khai quy hoạch; đất dành cho phát triển dịch vụ và công nghiệp rất thiếu, không đồng bộ là một nguyên nhân căn bản, hạn chế thu hút nguồn đầu tư trong nước và từ nước ngoài...

Mặc dù trong thời gian qua Thành phố rất quan tâm và dành nguồn vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng giao thông, tuy nhiên trên thực tế, kết cấu hạ tầng giao thông hiện vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và đã trở thành điểm nghẽn lớn nhất cho sự phát triển Thành phố (quỹ đất dành cho giao thông chỉ đạt 9% diện tích thành phố so với chuẩn quốc tế của đô thị là 20%), vốn đầu tư các công trình giao thông trọng điểm chưa đáp ứng.

Bên cạnh đó, công tác cải cách hành chính chưa đáp ứng đòi hỏi của người dân và doanh nghiệp; chỉ số môi trường cạnh tranh, hiệu quả hành chính công của Thành phố thấp. Các dự án cải tạo nhà ở ven kênh rạch, cải tạo chung cư cũ triển khai rất chậm; tỷ lệ giải ngân đầu tư công của các quận, huyện chỉ đạt 20%. Quản lý xây dựng còn nhiều yếu kém, tiêu cực. Công tác quy hoạch nhà ở triển khai chậm, trong khi dân số của Thành phố gia tăng rất cao, bình quân tăng 1 triệu người sau 5 năm.

Quyết liệt triển khai đồng bộ nhiều giải pháp

Nhằm tăng tốc hơn nữa trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X chuẩn bị cho những năm tiếp theo, đặc biệt là chuẩn bị cho nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố lần thứ 30 được tổ chức vào đầu tháng 7-2019 đã đề ra những yêu cầu cấp bách đối với các cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các cấp chính quyền trong toàn Thành phố là phải triển khai mạnh mẽ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2019, xây dựng nền tảng cho những năm tới. Việc thực hiện chủ trương này được Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố xem là giai đoạn tăng tốc triển khai quyết liệt các nội dung của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X. Để hoàn thành những mục tiêu quan trọng đó, trong thời gian tới, Thành phố sẽ tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quan trọng sau:

Thứ nhất, chủ đề năm 2019 của Thành phố là “Năm đột phá cải cách hành chính” và đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội “Về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh”. Do vậy, các cấp ủy đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp phải nỗ lực triển khai hiệu quả 7 Chương trình đột phá, Đề án xây dựng Thành phố trở thành đô thị thông minh; chú trọng khơi dậy và phát huy hơn nữa truyền thống đoàn kết, sáng tạo và nghĩa tình của Đảng bộ và nhân dân Thành phố trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, tạo không khí thi đua lao động sáng tạo trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

Thứ hai, Hội đồng nhân dân Thành phố tiến hành xem xét lựa chọn các nội dung giám sát chuyên đề phù hợp, nhằm thúc đẩy việc hoàn thành các chương trình đột phá thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án triển khai Nghị quyết số 54 của Quốc hội từ nay đến năm 2020 làm cơ sở để sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết này. Hội đồng nhân dân Thành phố cần tiếp tục phát huy kết quả giám sát chuyên đề năm 2019 đối với chương trình đột phá về giảm ngập nước trong năm 2020; tập trung giám sát đối với chương trình giảm ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông, chương trình đột phá về cải cách hành chính, đặc biệt là quản lý lập lại trật tự xây dựng trên địa bàn.

Thứ ba, khẩn trương tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 1037/KL-TTTP, ngày 26-6-2019, của Thanh tra Chính phủ về Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Theo đó, các cơ quan hữu quan có trách nhiệm xử lý theo quy định đối với cán bộ, công chức có vi phạm trong quản lý nhà nước; chỉ đạo Ủy ban nhân dân quận 2 tiếp tục đối thoại với các hộ dân có nhà, đất trong phạm vi 4,39 héc-ta phường Bình An về chính sách hỗ trợ; hoàn chỉnh phương án chính sách hỗ trợ, tái định cư.

Thứ tư, với việc đưa ra quan điểm mạnh mẽ, quyết liệt là: Nơi nào để xảy ra xây dựng trên đất không được phép xây dựng và xây dựng khi chưa có phép hoặc sai phép mà không bị xử lý theo quy định của pháp luật thì cấp ủy và chính quyền nơi đó không đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh… Theo đó, Đảng bộ Thành phố yêu cầu các quận ủy, huyện ủy của Thành phố đẩy mạnh, tăng cường lãnh đạo, chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng, tập trung lập lại trật tự xây dựng trên từng phường, xã, thị trấn trước đại hội đảng bộ quận, huyện năm 2020. Theo đó, các đồng chí bí thư, chủ tịch ủy ban nhân dân các phường, xã thực hiện cam kết lập lại trật tự xây dựng trên địa bàn, nếu lãnh đạo các phường, xã không cam kết, ban thường vụ quận ủy, huyện ủy cần kịp thời xem xét bố trí cán bộ cho phù hợp.

Thứ năm, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả thiết thực Quy định số 1374 - QĐ/TU, ngày 1-12-2017, của Ban Thường vụ Thành ủy về quy trình giải quyết thông tin phản ảnh liên quan đến tập thể, cá nhân suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bởi những kết quả đạt được của chủ trương này là rất quan trọng, khi ý kiến trực tiếp của nhân dân gửi đến, được Đảng, chính quyền tiếp thu, chỉ đạo xử lý nghiêm túc là nguồn thông tin giúp cấp ủy, tổ chức đảng kịp thời chấn chỉnh đảng viên có thiếu sót, khuyết điểm, nâng cao chất lượng đảng viên và tổ chức đảng, nâng cao năng lực và hiệu quả của hệ thống chính quyền các cấp, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng.

Thứ sáu, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm tập thể, cá nhân đối với triển khai danh mục các dự án trọng điểm đã được xác định cho giai đoạn 2016 - 2020, 2021 - 2025. Theo đó, Đảng bộ Thành phố yêu cầu các dự án phải khởi công, hoàn thành trong năm 2020, còn các dự án chuẩn bị đầu tư trong năm 2019 - 2020 thì sẽ tiến hành khởi công trong giai đoạn 2021 - 2025. Đặc biệt, phải bảo đảm tiến độ các dự án tuyến đường sắt đô thị số 1 và số 2, dự án chống ngập hơn 9.000 tỷ đồng cho khu vực trung tâm, tích cực triển khai 5 dự án xử lý rác sinh hoạt bằng công nghệ đốt phát điện để cuối năm 2020 khoảng 50% lượng rác sinh hoạt của Thành phố được đốt phát điện.

 

Vận dụng tư tưởng tác phẩm “Đường cách mệnh” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 Năm 2022, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kỷ niệm 95 năm ngày Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, xuất bản Tác phẩm “Đường cách mệnh” của Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tài liệu mẫu mực trong việc học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam những năm 20 của thế kỷ XX.  

Từ tài liệu quan trọng này, tạo lập các tiền đề tư tưởng lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Gần một thế kỷ đã trôi qua, nhưng nhiều vấn đề có liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tác phẩm vẫn giữ nguyên tính thời sự trong giai đoạn hiện nay.

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGƯỜI CÁCH MẠNG VÀ ĐẢNG CÁCH MẠNG

Tác phẩm Đường cách mệnh được ra đời vào năm 1927, là tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho các khóa huấn luyện học viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đây là giai đoạn chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đề cập nhiều đến vấn đề xác định chuẩn mực đạo đức, tư cách một người cách mạng - những hạt nhân cốt của Đảng - người tham gia trực tiếp vào sự nghiệp đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vẻ vang của dân tộc. Hồ Chí Minh đã bước đầu thể hiện một quan niệm trở thành triết lý nhân sinh: Lý luận cách mạng hàm chứa các giá trị nhân văn cao cả; cách mạng là sự nghiệp hào hùng, oanh liệt, vẻ vang, người cách mạng phải có nhân cách, đạo đức và phẩm hạnh thì mới tiếp thu được tinh thần của lý luận, mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng khó khăn.

Về đảng chính trị, Nguyễn Ái Quốc xem đảng cách mệnh, đảng cộng sản là nhân tố quyết định sự thành công của cách mệnh. Bằng những cứ liệu lịch sử và sự phân tích sâu sắc về tính chất, nội dung các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới như: cách mạng Mỹ năm 1776, Cách mạng Pháp 1789, cách mạng Nga 1917. Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận mang tính so sánh với tiến trình vận động lịch sử: Mặc dầu có ý nghĩa to lớn trong tiến trình phát triển của nhân loại, nhưng cuộc cách Mỹ và cách mạng Pháp vẫn là những cuộc cách mạng “không đến nơi”, không triệt để. Trong quan niệm của Người, chỉ có cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng triệt để. Nguyễn Ái Quốc viết: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trên thế giới”. Việc phân tích các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, đối chiếu với nhu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam: Độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra bài học lớn: Dân tộc ta phải đi theo con đường cách mạng tháng Mười Nga, tức là theo con đường cách mạng vô sản, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Người chỉ rõ, để làm cách mạng thắng lợi, điều kiện hàng đầu là phải có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt... Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Nguyễn Ái Quốc kết luận: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.

Nguyễn Ái Quốc nêu ra 23 tiêu chuẩn, quy tụ trong 3 mối quan hệ cơ bản của người cách mạng:

Đối với mình, có 14 tiêu chuẩn: Cần kiệm; hoà mà không tư; cả quyết sửa lỗi mình; cẩn thận mà không nhút nhát; hay hỏi; nhẫn nại (chịu khó); hay nghiên cứu, xem xét; vị công vong tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; giữ chủ nghĩa cho vững; hy sinh; ít lòng tham muốn về vật chất; bí mật.

Đối với người, có 5 chuẩn mực: Với từng người thì khoan thứ; với Đoàn thể thì nghiêm; có lòng bày vẽ cho người; trực mà không táo bạo; hay xem xét người.

Đối với công việc, có 4 tiêu chuẩn: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng; quyết đoán; dũng cảm; phục tùng đoàn thể. Những phẩm chất này làm thành các giá trị về nhân cách con người, nhân cách làm người - Một mẫu người mới đang định hình và xuất hiện trong phong trào cách mạng của dân tộc.

VẬN DỤNG TRONG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

Nhìn lại chặng đường hơn 92 năm cầm quyền của Đảng, cách mạng Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm lịch sử, chúng ta càng thấm thía sâu sắc giá trị lịch sử và hiện thực những điều căn dặn của Hồ Chí Minh về tư cách của người cách mạng và Đảng cách mạng. Chính nhờ thấm nhuần tư tưởng đó, Đảng đã thực sự trở thành một đảng cầm quyền, "chèo lái" con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh với muôn vàn khó khăn, thử thách cam go, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, hiện nay Đảng ta đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức không thể xem nhẹ, đặc biệt tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã ảnh hưởng rất lớn tới uy tín và thanh danh của Đảng. Vì vậy, để khắc sâu lời căn dặn của Người về tư cách của người cách mạng và Đảng cách mạng, thực hiện thắng lợi các nghị quyết, chỉ thị, kết luận và quy định của Trung ương về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt mấy vấn đề sau:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn Đảng phải lấy nhiệm vụ tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trước tiên đòi hỏi phải: “Nêu cao tinh thần tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên”. Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, cán bộ, đảng viên phải đối mặt với những thử thách mới, mà yêu cầu tự tu dưỡng, rèn luyện không hề giảm nhẹ. Điều kiện sống về vật chất ngày càng cao và tham muốn vật chất cũng tăng lên, nhiều khi không vượt qua được sự cám dỗ. Khi có chức, quyền trong tay dễ bị chi phối bởi tham vọng quyền lực, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng, lãng phí, sa vào ăn chơi và các tệ nạn xã hội, vi phạm giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Chủ nghĩa cá nhân là thách thức nặng nề chi phối công việc lãnh đạo, quản lý và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền, độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ, quan liêu, xa rời quần chúng. Đảng ta chỉ rõ, cán bộ, đảng viên cần thấy rõ trách nhiệm, bổn phận của mình, luôn luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Không ngừng “Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên”.

Hai là, đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo những giá trị và chuẩn mực Đảng đã xác định.

Nhằm đưa công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được hiệu quả thiết thực, sâu rộng và bền vững, Đảng ta chủ trương: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị”. Đạo đức Hồ Chí Minh là tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội và cuộc sống sung sướng, hạnh phúc của đồng bào, suốt đời vì nước, vì dân; luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, của cách mạng, của tập thể lên trên hết, trước hết. Từ tấm gương đạo đức của Bác Hồ, Đảng từng bước xây dựng những chuẩn mực đạo đức trong Đảng. Đảng ta xác định: “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày”. Chú trọng giáo dục đạo đức trong toàn Đảng: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ”. Phải coi giáo dục đạo đức cách mạng là nhiệm vụ thường xuyên và rất quan trọng của các tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở.

Ba là, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và thực hiện nghiêm quy định những điều đảng viên không được làm.

Trong bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng, cán bộ, đảng viên ưu tú đều nêu cao trách nhiệm nêu gương, có ảnh hưởng sâu sắc trong Đảng và được cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo. Song, thực tiễn vẫn còn có những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, thì việc đề cao trách nhiệm nêu gương càng có ý nghĩa lớn lao trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Vì vậy, Đảng yêu cầu: “Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”. Nêu gương là sự phản ánh tự nhiên bản chất, phẩm hạnh của cán bộ, đảng viên. Điều đó khác với những biểu hiện hình thức, cố tạo ra để “đánh bóng” tên tuổi, nâng cao vị thế cá nhân. Nêu gương xuất phát từ lương tâm, danh dự của Đảng, của người Cộng sản và nêu gương cũng là phong cách chân thực của cán bộ, đảng viên. Nêu gương là tính tiên phong, là bản chất cách mạng của cán bộ, đảng viên, “Nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng”. Để sự nêu gương là thực chất cần có sự kiểm tra, giám sát để bảo đảm thực hiện đúng và có hiệu quả những quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương và cả những điều quy định đảng viên không được làm. Cho nên phải: “Coi trọng kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên thực hiện các quy định nêu gương”.

Bốn là, thường xuyên làm tốt công tác dân vận, giữ vững mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Lòng dân, sức dân, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân với Đảng, là cội nguồn sức mạnh bảo vệ Đảng. Do đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải đặc biệt chú trọng công tác dân vận. Không tẩy sạch thói “xem khinh dân vận” như Hồ Chí Minh từng phê phán, thì Đảng không thể là Đảng chân chính cách mạng trong lòng dân. Dân vận phải gắn liền với dân chủ, đoàn kết và tạo ra sự đồng thuận. Người căn dặn chúng ta phải nêu cao quyết tâm, giữ được tín tâm, có sức hấp dẫn, thu hút lớn bởi sức mạnh đồng tâm từ Đảng tới dân. Vì vậy, Đảng ta chủ trương: “Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo hướng thiết thực, tăng cường đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dận tộc trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, đó là một trong những thước đo của xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho sự hài lòng của người dân đối với cán bộ, đảng viên tăng lên, làm cho niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố.

Năm là, chấp hành nghiêm các nguyên tắc, chế độ sinh hoạt của Đảng.

Đây là vấn đề quan trọng, là cơ sở để củng cố tổ chức, bảo đảm đoàn kết thống nhất, kỷ luật trong Đảng. Vì vậy, phải quán triệt, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, chế độ tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ­ương khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để tiếp tục khơi dậy và phát huy tính tích cực, dân chủ, trách nhiệm của đảng viên. Đảng ta chỉ rõ phải: “Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm”. Kiên quyết chống quan điểm, tư tư­ởng phủ nhận, xuyên tạc, bóp méo nguyên tắc, chế độ xây dựng Đảng, hòng làm cho Đảng suy yếu về tổ chức, dẫn đến biến chất Đảng theo tinh thần: “Chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, nguyên tổ chức và hoạt động của Đảng”.

Làm tốt những vấn đề trên là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, làm cho Đảng ngang tầm nhiệm vụ, xứng đáng là một Đảng chân chính cách mạng, theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.

ST: Nguồn “TG”

HIỂU ĐÚNG Ý NGHĨA: "CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC"


Còn nhớ, cố Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã từng trả lời đanh thép với Clinton rằng: "Thưa ngài, cái mà ngài gọi là "chiến tranh Việt Nam" thì nhân dân Việt Nam chúng tôi gọi đó là "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước..."


Một phát ngôn thể hiện chất "thép" của cố Tổng Bí thư vì ông không những là nguyên thủ Quốc gia, mà còn là một người lính đã từng vào sinh ra tử nơi chiến trường...


Thế mà thời đại của Internet 5G và cuộc sống hiện đại hôm nay, thế hệ trẻ đang bị nhồi sọ lập lờ bản chất của khái niệm "Chiến tranh Việt Nam" hay "KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ" của nhân dân ta dưới chiêu bài nguy hiểm trong chiến lược "Diễn biến hòa bình", chủ nghĩa xét lại của bọn ngụy sử, mấy tay nhà báo rởm ất ơ được sinh ra trong hòa bình, mấy tay làm phim không có lập trường chính trị.


"Chiến tranh Việt Nam"? Vậy Mỹ đem bom đạn dội lên đầu dải đất hình chữ S này thì sao? Mỗi tấc đất ngọn cỏ đều thấm đẫm máu xương đồng bào tôi trong mấy chục năm ròng, những cuộc thảm sát đẫm máu mà nhân chứng sống đang còn đó. Chẳng lẽ bây giờ Mỹ vô can? Chúng ta cầm súng ra trận "đánh cho Mỹ cút", vậy có phải KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ hay không? 


Lịch sử phải công bằng, gọi và hiểu cho đúng bản chất. Đau thương mất mát đã quá nhiều, chúng ta hãy suy nghĩ vì đâu mà có được thành quả đó? Hãy gọi đúng tên và hiểu đúng ý nghĩa của nó: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC. 


Tháng tư đang về, hãy lắng lòng lại một chút để tưởng nhớ đến 1,2 triệu liệt sĩ đang yên nghỉ trên khắp lãnh thổ đất nước Việt Nam!

---------

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Tạo chuyển biến mới, có tính đột phá phát triển vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.

 - Ngày 15-4-2022, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 10-2-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII, về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Đồng chủ trì có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.

Dự hội nghị có các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, trưởng các ban xây dựng Đảng, trưởng các cơ quan bộ, ngành liên quan, ban thường vụ các tỉnh ủy vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, địa phương tại các điểm cầu trực tuyến.

Toàn cảnh Hội nghị_Ảnh: TTXVN

Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, ngày 1-7-2004, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW, về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 và Bộ Chính trị khóa XI đã tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ban hành Kết luận số 26-KL/TW, ngày 2-8-2012, về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 và thời kỳ 2011 - 2020. Sau 17 năm thực hiện, nghị quyết và kết luận của Bộ Chính trị khóa IX và khóa XI, các địa phương trong vùng đã nhận thức ngày càng rõ hơn về vai trò, vị trí, tầm quan trọng và khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của vùng. Hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư, giúp cải thiện đáng kể sự kết nối giữa các tỉnh trong vùng và giữa vùng với cả nước. Một số địa phương đã có sự phát triển bứt phá, tạo nên những điểm sáng trong vùng và cả nước.

Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 10-2-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII, về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 lần này đã kế thừa, bổ sung, phát triển 3 quan điểm của Nghị quyết số 37-NQ/TW thành 5 quan điểm chỉ đạo mới, phù hợp với tình hình, bối cảnh mới. 

Nghị quyết lần này đã xác định rất rõ mục tiêu tổng quát và một số chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, thể hiện rõ khát vọng, ý chí và quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, nhất là cấp ủy, chính quyền và đồng bào các dân tộc trong vùng. Phấn đấu đến năm 2030, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng phát triển xanh, bền vững và toàn diện, trên cơ sở tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng liên kết nội vùng với vùng đồng bằng sông Hồng, Thủ đô Hà Nội; phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng; nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ, đặc sản; kinh tế cửa khẩu, du lịch; bảo vệ, khôi phục rừng, nhất là rừng đầu nguồn; đẩy mạnh trồng rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, khoáng sản; bảo vệ môi trường, an ninh sinh thái và an ninh nguồn nước.

Một số tỉnh nằm trong nhóm các tỉnh phát triển khá của cả nước; bản sắc văn hóa các dân tộc được bảo tồn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc; tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khối đại đoàn kết các dân tộc được tăng cường. Đến năm 2045, vùng trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng phát triển xanh, bền vững và toàn diện; hình mẫu phát triển xanh của cả nước, trong đó có khoảng 50% số tỉnh nằm trong nhóm các tỉnh phát triển khá trong cả nước...

Nghị quyết lần này đề ra đầy đủ, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng; phát triển nhanh và bền vững kinh tế vùng; phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị phù hợp với Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và bối cảnh tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo_Ảnh: TTXVN

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, để phát huy được tiềm năng, lợi thế của mỗi vùng và cả nước, bên cạnh những chủ trương, chính sách phát triển chung cho cả nước cũng cần phải có các chủ trương, chính sách phát triển cụ thể, sát hợp, phù hợp với từng vùng; khắc phục tình trạng tỉnh nào cũng xin cơ chế, chính sách đặc thù, ưu đãi riêng, không phù hợp với những nguyên tắc chung cơ bản của kinh tế thị trường là thống nhất và bình đẳng.

Để tổ chức thực hiện tốt, có kết quả thiết thực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, phải quán triệt thật đầy đủ, đúng đắn và sâu sắc ý nghĩa, mục tiêu, yêu cầu, nội dung của nghị quyết, nắm vững những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm; tạo sự thống nhất cao trong nhận thức ở tất cả các cấp, các ngành, của người dân và cộng đồng các doanh nghiệp về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của vùng. Đổi mới tư duy phát triển, nhất là về liên kết vùng, tiểu vùng; cơ chế, chính sách đặc thù; phân bổ nguồn lực; nguồn nhân lực và tiềm năng, lợi thế nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của vùng, các tiểu vùng và từng tỉnh trong vùng, tiểu vùng; giải quyết các vấn đề trọng điểm quốc gia tại vùng; các vấn đề liên ngành, liên vùng, liên tiểu vùng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, khơi dậy và phát huy mạnh mẽ hơn nữa truyền thống cách mạng, lòng yêu nước; tinh thần chủ động, sáng tạo; ý thức tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của cán bộ, đảng viên và nhân dân các địa phương trong vùng; quyết tâm vượt lên chính mình, khắc phục tư tưởng bằng lòng, trung bình chủ nghĩa; không cam chịu đói nghèo, thua kém các tỉnh khác, vùng khác. Đồng thời, tăng cường sự hỗ trợ của Trung ương, sự hợp tác, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước để phát triển kinh tế vùng nhanh và bền vững hơn; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng đạt mức cao hơn bình quân chung của cả nước trên cơ sở từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng.

Về đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền; kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan trong hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW; phấn đấu các thôn, bản ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đều có đảng viên và chi bộ đảng; thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp bảo đảm chất lượng, số lượng, cơ cấu hợp lý, có sự chuyển giao, kế thừa chặt chẽ giữa các thế hệ; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện lớp cán bộ kế cận, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân; xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; phát huy cao độ truyền thống văn hóa, cách mạng; sự cần cù và ý chí tự lực, tự cường của nhân dân trong vùng; xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân trong vùng với nhân dân các nước bạn láng giềng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, ngay sau hội nghị này, căn cứ vào nghị quyết và kế hoạch của Bộ Chính trị, sự chỉ đạo, hướng dẫn của các ban đảng Trung ương và các cơ quan cấp trên, các cấp ủy và tổ chức đảng ở Trung ương và các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị của các địa phương trong vùng cần khẩn trương xây dựng kế hoạch hành động, chương trình học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết gắn với tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các tỉnh.

Ban Cán sự đảng Chính phủ cần chỉ đạo khẩn trương xây dựng, ban hành chương trình hành động triển khai nghị quyết, giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương trong vùng. Chương trình hành động phải bám sát các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và nội dung của nghị quyết, đồng thời sát hợp với từng địa phương trong vùng và tiểu vùng. Các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương trong vùng cần cụ thể hóa nghị quyết và chương trình hành động của Chính phủ bằng các cơ chế, chính sách, kế hoạch, đề án, dự án và nguồn lực cụ thể, có tính khả thi cao.  

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tin tưởng, sau hội nghị này, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các tỉnh trong vùng trung du, miền núi Bắc Bộ sẽ cùng với các ban, bộ, ngành Trung ương và cấp ủy, chính quyền các cấp trong cả nước, nhất là Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh và toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc quyết tâm cao hơn, tiếp tục đổi mới, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn để tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức; thực hiện thắng lợi nghị quyết của Bộ Chính trị lần này, tạo bước chuyển biến mới, có tính đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.

Chặng đường 15 năm xây dựng và phát triển của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương.

 - Ngày 11-4-2007, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương. Từ đó đến nay, Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, xứng đáng với sự tin tưởng của Trung ương, góp phần vào thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước những năm qua, trên cơ sở đó tiếp tục nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ thời gian tới.

Quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao

Khi thành lập, Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương (Đảng bộ Khối) gồm 31 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 29 đảng bộ tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng; 2 đảng bộ cơ quan với trên 47.000 đảng viên. Đến nay (tháng 4-2022), Đảng bộ Khối có 38 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 2 đảng bộ cơ quan và 36 đảng bộ doanh nghiệp, với 1.148 tổ chức cơ sở đảng, 156 đảng bộ bộ phận, 5.742 chi bộ trực thuộc và 87.586 đảng viên trong tổng số gần 712.000 người lao động. Có 9 tập đoàn kinh tế, 20 tổng công ty, 6 ngân hàng, 1 tổ chức tài chính nhà nước với tổng số 930 doanh nghiệp trực thuộc trong Khối.

Công nhân của Vietsovpetro (Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) sửa chữa thiết bị trên giàn khoan tại mỏ Bạch Hổ_Ảnh: TTXVN

Mười lăm năm qua, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương (Đảng ủy Khối) đã vượt qua các khó khăn, thách thức, thực hiện và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Lãnh đạo việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị

Bám sát các chủ trương của Trung ương và chính sách của Chính phủ về phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ủy Khối đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận chuyên đề về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, triển khai đến các tổ chức đảng để thực hiện trong toàn Đảng bộ và chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hành động sát hợp với điều kiện thực tiễn và đặc thù của các doanh nghiệp.

Kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp có mức tăng trưởng khá, cơ bản hoàn thành và vượt các chỉ tiêu quan trọng do Nghị quyết Đại hội Đảng các nhiệm kỳ đề ra. Trong điều kiện có nhiều khó khăn, song các doanh nghiệp thuộc Khối hoạt động trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đã khẳng định được vai trò nòng cốt và là lực lượng quan trọng giữ vững một số cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực quốc gia, góp phần quan trọng xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong Khối còn bảo đảm nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước với tỷ trọng khoảng 16,5%.

Các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong Khối khẳng định được vai trò dẫn dắt thị trường, thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ, cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế; là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, đối phó với những biến động thị trường, kiềm chế lạm phát, góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, tạo việc làm, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.

Các cấp ủy trực thuộc đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo các doanh nghiệp, đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị; trong đó, tập trung vào chiến lược phát triển doanh nghiệp, cơ cấu lại, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp gắn với những nhiệm vụ, chủ trương lớn của doanh nghiệp, đơn vị; lãnh đạo việc xây dựng điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định. Báo cáo, đề xuất của Đảng ủy Khối và các cấp ủy trực thuộc đã góp phần quan trọng giúp Trung ương, Quốc hội, Chính phủ nắm rõ hơn tình hình của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, ngân hàng trong Khối và những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động cần tháo gỡ; đồng thời, nhiều nội dung được sử dụng làm căn cứ để xây dựng cơ chế, chính sách hoặc chỉ đạo thực hiện tại các doanh nghiệp.

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, Đảng ủy Khối đã lãnh đạo, chỉ đạo các đảng ủy trực thuộc lãnh đạo, chỉ đạo các doanh nghiệp nỗ lực đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp theo đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Công tác sáp nhập, chia tách, giải thể, thoái vốn tại các công ty con, công ty liên kết đang được các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng tiếp tục thực hiện theo đề án đó. Sau cổ phần hóa, công tác quản trị doanh nghiệp được cải thiện, công khai, minh bạch hơn; năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp được nâng lên, trên 90% các doanh nghiệp sau cổ phần hóa kinh doanh có lãi. Hầu hết các tập đoàn, tổng công ty đã thiết lập tương đối đầy đủ hệ thống quản trị, kiểm tra, kiểm soát nội bộ, quy trình sản xuất, kinh doanh, đầu tư làm cơ sở cho quản lý, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra được tăng cường, phục vụ tốt sản xuất, kinh doanh, đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý, hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng các công cụ quản trị hiện đại, tạo sự chuyển biến rõ rệt về hiệu quả hoạt động sau cơ cấu lại.

Đảng bộ Khối và các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc chú trọng công tác quán triệt các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, biên giới, biển, đảo; xây dựng các công trình kinh tế lưỡng dụng sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh và bố trí lực lượng lao động ở khu vực cần thiết; củng cố lực lượng tự vệ và tham gia bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; đồng thời, quan tâm đầu tư, triển khai các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, đạt nhiều kết quả quan trọng

Hoạt động xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức của Đảng ủy Khối tập trung vào việc giáo dục lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; nâng cao nhận thức của tổ chức đảng, cấp ủy, cán bộ, đảng viên, người lao động về vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của DNNN trong vai trò trụ cột, dẫn dắt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo định hướng hoạt động thông tin tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, người lao động trong toàn Đảng bộ được chú trọng(1); chủ động phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí của Trung ương và địa phương cung cấp thông tin chính thống; giới thiệu, tuyên truyền rộng rãi kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; cổ vũ động viên những nhân tố mới và điển hình tiên tiến; tổ chức phối hợp đấu tranh phản bác các quan điểm, thông tin sai trái của các thế lực thù địch, phản động trên internet và mạng xã hội.

Việc nắm bắt tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của người lao động trong các doanh nghiệp, nhất là ở những nơi tiến hành cổ phần hóa, sắp xếp lại doanh nghiệp đã được các cấp ủy quan tâm và kịp thời có hướng chỉ đạo giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ cơ sở. Hầu hết các doanh nghiệp đã quan tâm chăm lo thỏa đáng đời sống, việc làm, thu nhập và quyền lợi của người lao động, không để xảy ra tranh chấp lao động, đơn, thư vượt cấp, khiếu kiện kéo dài; không để cán bộ, đảng viên, người lao động bị lôi kéo vi phạm pháp luật, tham gia tuần hành, biểu tình, đình công, lãn công...

Đảng ủy Khối và cấp ủy các cấp thường xuyên chú trọng công tác giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc, đất nước, của Đảng, của doanh nghiệp cho cán bộ, đảng viên, người lao động vào dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và ngày truyền thống của ngành, đơn vị. Tri ân các tiền nhân trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tri ân Bác Hồ và các lãnh tụ Đảng, Mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng liệt sĩ, người có công với nước... trong các tổ chức đảng, cấp ủy, cán bộ, đảng viên, người lao động; trở thành một thành tố quan trọng của đời sống tinh thần trong những doanh nghiệp, đơn vị thuộc Khối.

Việc thực hiện các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng ủy Khối và các tổ chức đảng, cấp ủy triển khai thực hiện nghiêm túc, bảo đảm đúng tiến độ theo kế hoạch, hướng dẫn của Trung ương(2); thường xuyên kiểm tra, giám sát(3), đôn đốc việc xây dựng và thực hiện cam kết; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, người lao động tiêu biểu trong doanh nghiệp gương mẫu học tập và làm theo Bác.

Cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp gương mẫu thực hiện các quy định của Đảng về chuẩn mực đạo đức, lối sống; về những điều đảng viên không được làm; về văn hóa công sở, văn hóa ứng xử... cả ở nơi công tác và nơi cư trú. Các cấp ủy, chi bộ chú trọng giám sát đạo đức, lối sống đảng viên trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ, giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú, quan hệ đồng chí, đồng nghiệp, quan hệ cộng đồng, gia đình, xã hội...

Đảng ủy Khối tăng cường lãnh đạo việc thực hiện văn hóa doanh nghiệp, tập trung vào nâng cao ý thức xây dựng tác phong làm việc khoa học, xây dựng đạo đức chuẩn mực trong kinh doanh và cách ứng xử đúng đắn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; tăng cường ý thức tổ chức kỷ luật lao động; nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động theo hướng chuyên nghiệp; cải tiến quy trình trả lương, tiền thưởng theo hướng công bằng và khoa học hơn; động viên người lao động hăng say cống hiến, tham gia tích cực vào công tác quản lý và xây dựng đơn vị; mọi hoạt động được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch.

Đảng ủy Khối thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ chủ chốt, cán bộ quy hoạch cấp ủy, đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chức danh cán bộ theo quy định... Tổ chức bồi dưỡng cán bộ dự nguồn Ban Chấp hành Đảng bộ Khối và đào tạo chương trình cao cấp, trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ nguồn quy hoạch; góp phần nâng cao nhận thức, thống nhất hành động, tăng cường bản lĩnh chính trị, trí tuệ và sức chiến đấu cho tổ chức đảng, cấp ủy, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh chủ trì tọa đàm "15 năm xây dựng và phát triển Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương (11-4-2007 - 11-4-2022"_Ảnh: TTXVN

Về xây dựng tổ chức đảng, Đảng ủy Khối đã ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các đảng ủy trực thuộc; kiện toàn, sắp xếp các tổ chức đảng từ 31 đảng bộ trực thuộc (năm 2007) lên 38 đảng bộ trực thuộc (tháng 4-2022); thí điểm giao quyền cấp trên cơ sở cho 25 đảng ủy cơ sở, ủy quyền kết nạp và khai trừ đảng viên cho 95 đảng ủy cơ sở đủ điều kiện; tiếp nhận 341 tổ chức cơ sở đảng, chuyển giao 333 tổ chức cơ sở đảng về trực thuộc cấp ủy địa phương, từng bước hoàn thiện mô hình, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng. Đồng thời, Đảng ủy Khối đã nghiên cứu, chỉ đạo ban hành các văn bản về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng bộ Khối.

Đảng ủy Khối đã lãnh đạo các đảng ủy trực thuộc thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của Trung ương trong thực hiện nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng và quản lý đảng viên. Công tác quản lý đảng viên được thực hiện theo đúng các quy định, hướng dẫn của Trung ương, thông qua việc đánh giá về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; bằng việc thực hiện bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đảng viên hằng năm; giữ mối liên hệ với cấp ủy cơ sở nơi cư trú. Kết quả công tác quản lý đảng viên đã góp phần quan trọng vào việc đánh giá, xếp loại đảng viên hằng năm trong toàn Đảng bộ Khối.

Công tác phát triển đảng viên được Đảng ủy Khối quan tâm lãnh đạo các đảng ủy trực thuộc triển khai thực hiện có hiệu quả. Các cấp ủy, chi bộ đề ra chỉ tiêu phát triển đảng viên hằng năm(4) bảo đảm chất lượng, chú trọng phát triển đảng viên trẻ, đảng viên nữ trong doanh nghiệp. Công tác phát triển đảng chú trọng đến chất lượng kết nạp đảng viên. Bình quân từ năm 2007 đến năm 2020, các đảng bộ trực thuộc đã kết nạp 4.400 đảng viên mới/năm.

Đảng ủy Khối đã đề xuất với Trung ương về công tác xây dựng Đảng phù hợp với hệ thống tổ chức doanh nghiệp; đã tham gia ban chỉ đạo, tổ biên tập các đề án xây dựng quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác xây dựng Đảng trong doanh nghiệp, tham mưu trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành; qua đó, tăng cường, góp phần quan trọng vào việc lãnh đạo doanh nghiệp thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, hiệu quả.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện theo quy định; lãnh đạo thực hiện có hiệu quả công tác bảo mật, bảo vệ tài liệu của Đảng, Nhà nước. Thực hiện nghiêm túc việc thẩm định tiêu chuẩn chính trị; thẩm tra, xác minh, kết luận tiêu chuẩn chính trị trước khi thực hiện quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, giới thiệu cán bộ ứng cử và kết luận về lịch sử chính trị của quần chúng trước khi kết nạp vào Đảng theo quy định.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy Khối đã tập trung vào phân công người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu phụ trách công tác kiểm tra, giám sát; chủ động tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các văn bản của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng; ban hành và sửa đổi, bổ sung các văn bản về kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng thuộc thẩm quyền; quan tâm củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra và xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra; thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và thực hiện nền nếp việc giao ban quý, sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra của Đảng.

Chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ và hằng năm của cấp ủy, ủy ban kiểm tra được xây dựng, tổ chức thực hiện có sự phối hợp với hoạt động, công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và của doanh nghiệp. Nội dung kiểm tra, giám sát chú trọng vào việc lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế của Đảng, công tác tổ chức cán bộ, thực hiện nhiệm vụ chính trị, cơ cấu lại, cổ phần hóa DNNN và nội dung phục vụ các đợt sinh hoạt chính trị, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ Khối trong 15 năm qua đã giúp phát hiện, nhắc nhở, chấn chỉnh, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm; cảnh báo vi phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên từ khi còn manh nha; giải quyết các vụ việc ngay từ cơ sở; góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; góp phần lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.

Công tác dân vận của Đảng ủy Khối được chú trọng và đổi mới, phát huy dân chủ, gắn với thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và tổ chức chính trị - xã hội về công tác dân vận được nâng lên. Phong trào “Dân vận khéo” được mở rộng, trở thành hoạt động thường xuyên trong Đảng bộ Khối.

Công tác dân vận trong doanh nghiệp tập trung giải quyết kịp thời, bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức và người lao động; củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng, tạo sự đồng thuận cao trong doanh nghiệp; tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy đối với các tổ chức chính trị - xã hội; tạo điều kiện cho các tổ chức này hoạt động đúng định hướng chính trị, đúng pháp luật và có hiệu quả; phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc kiện toàn tổ chức và đổi mới hoạt động. Thực hiện nghiêm túc việc ký kết thỏa ước lao động tập thể theo quy định, công khai, minh bạch tài chính, phân phối lợi nhuận. Dân chủ trong tổ chức đảng được mở rộng, các quy chế, quy định của doanh nghiệp, đơn vị thực hiện công khai, minh bạch. Công tác dân vận chính quyền được coi trọng. Sự phối hợp giữa lãnh đạo doanh nghiệp và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp trong triển khai thực hiện công tác dân vận được đẩy mạnh.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Khối Doanh nghiệp Trung ương thường xuyên đổi mới, sáng tạo, triển khai thực hiện nhiều giải pháp có hiệu quả hưởng ứng các phong trào hành động cách mạng của Đoàn và đã đạt được nhiều kết quả thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Khối, của Đoàn và phong trào thanh, thiếu niên của tuổi trẻ cả nước. Trong 10 năm qua, Đoàn Khối luôn là đơn vị dẫn đầu cả nước về đảm nhận, thực hiện công trình, phần việc thanh niên với gần 13.500 công trình với tổng giá trị thực hiện hàng nghìn tỷ đồng, có hơn 7.900 sáng kiến, đề án, đề tài khoa học được ra đời và ứng dụng vào sản xuất kinh doanh tạo ra giá trị làm lợi hàng trăm tỷ đồng. Các tổ chức đoàn trong toàn Khối đã tham gia xây dựng được 910 ngôi nhà nhân ái, nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết với trị giá trên 27 tỷ đồng. Hỗ trợ xây nhà văn hóa thôn, tặng máy tính nối internet, xây dựng, sửa chữa đường giao thông, thắp sáng đường quê... với tổng số tiền là hơn 238 tỷ đồng. Hưởng ứng phong trào “Hiến máu tình nguyện”, toàn Khối hiến được hơn 50.800 đơn vị máu, thể hiện trách nhiệm sâu sắc và tính nhân văn của tuổi trẻ Khối Doanh nghiệp Trung ương đối với xã hội và cộng đồng.

Từ những phong trào trên, các cấp bộ đoàn trong Khối đã phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu nhiều đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp, góp phần bổ sung lực lượng trẻ có chất lượng cho Đảng. Trong 10 năm qua, toàn Khối đã giới thiệu cho Đảng gần 26.300 đoàn viên ưu tú được bồi dưỡng lý tưởng Đảng, trong đó đã có gần 15.000 đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng.

Phát huy kết quả đạt được, tập trung thực hiện tốt mọi nhiệm vụ trong thời gian tới

Đồng chí Nguyễn Long Hải, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương thăm hỏi, tặng quà và chúc tết cán bộ, nhân viên và người lao động Tổng Công ty Hàng không Việt Nam và Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam đang làm việc, trực tết tại sân bay quốc tế Nội Bài_Ảnh: doanhnghieptrunguong.vn

Để ghi nhận những thành tích đã đạt được trong thời gian qua, Đảng bộ Khối được Chủ tịch nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất năm 2015, Huân chương Lao động hạng Nhất năm 2020... Có 4/7 ban, đơn vị thuộc Đảng ủy Khối được tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba...

Từ tháng 4-2007 đến năm 2016, có 3 đơn vị trực thuộc Khối được tặng Huân chương Sao Vàng, 3 đơn vị được tặng Huân chương Hồ Chí Minh, 26 đơn vị được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; 72 đơn vị được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba...

Cùng với các thành tích của tập thể, hàng nghìn cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Khối được Đảng, Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý: Anh hùng lao động; Huân chương Độc lập hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba...

Thời gian tới, Đảng bộ Khối tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng đối với doanh nghiệp; nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức đảng, mô hình các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, nâng cao tính đảng và ý thức tuân thủ pháp luật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong DNNN đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng.

Bên cạnh đó, về phía các cấp có thẩm quyền, đề nghị trước hết sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật, tạo khuôn khổ và hành lang pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất để cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Nghiên cứu, rà soát sửa đổi cơ chế quản lý, giám sát và thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan và người đại diện chủ sở hữu nhà nước, hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát DNNN và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp một cách rõ ràng hơn, phù hợp với bối cảnh tình hình hiện nay, phát huy vai trò “mở đường”, dẫn dắt của DNNN. Rà soát, xây dựng cơ chế, chính sách hoặc các quy định cụ thể để tách bạch việc thực hiện sản xuất, kinh doanh của DNNN với các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng cho doanh nghiệp; trên cơ sở đó, thực hiện việc giám sát và đánh giá doanh nghiệp trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng chuẩn mực quốc tế và bảo đảm hoạt động kinh doanh của DNNN bình đẳng như các doanh nghiệp khác.

Hai là, rà soát và hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN, người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp. Tăng cường minh bạch thông tin đối với tất cả các DNNN theo các tiêu chuẩn áp dụng đối với các công ty đại chúng; nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về DNNN; có chế tài xử lý nhằm bảo đảm tính hiệu quả trong việc phối hợp quản lý, sắp xếp doanh nghiệp giữa các bộ, ngành, địa phương. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm toán nhằm kịp thời phát hiện các vi phạm, xử lý nghiêm minh đối với các vi phạm, tạo sự răn đe để nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Ba là, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, có các cơ chế đặc thù để ủy ban thực sự hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là một trong những giải pháp trọng tâm trong việc thay đổi phương thức quản lý vốn nhà nước đối với các DNNN.

Bốn là, nghiên cứu việc thành lập cơ quan thực hiện chức năng đầu tư vốn nhà nước vào các DNNN, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp, phù hợp kinh nghiệm quốc tế và các quy định của pháp luật./.

---------------------

(1) Trang thông tin điện tử Đảng ủy Khối đã đăng tải trên 11.500 tin, bài, hình ảnh, video clip... phản ánh các hoạt động của Đảng, Nhà nước, Đảng ủy Khối và các đảng bộ trực thuộc; xây dựng các chuyên đề “Đảng với đổi mới và phát triển doanh nghiệp” trên Đài Truyền hình VTC; phối hợp Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí thường xuyên tuyên truyền về các hoạt động của Đảng bộ Khối; biên tập, phát hành trên 204 nghìn bản “Thông tin nội bộ” và thông tin chuyên đề phục vụ sinh hoạt chi bộ; mở nhiều chuyên mục mới: Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng), Hộp thư bạn đọc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong Khối có 7 tạp chí, hơn 80 bản tin, trang thông tin điện tử, website của các doanh nghiệp, ngân hàng, đã thông tin kịp thời các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các hoạt động của doanh nghiệp.
(2) Đảng ủy Khối đã ban hành Kế hoạch số 16-KH/ĐUK, ngày 2-11-2016, của Đảng ủy Khối, “Về triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị”; Kế hoạch số 29-KH/ĐUK, ngày 13-1-2017, “Về tuyên truyền thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị”; Kế hoạch số 24-KH/ĐUK, ngày 20-8-2021, của Đảng ủy Khối, “Về học tập chuyên đề toàn khóa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”; kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW hằng năm và tổ chức các hội nghị trực tuyến học tập, quán triệt các chuyên đề theo hướng dẫn của Trung ương. Việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII được các cấp ủy, tổ chức đảng cụ thể hóa trong các chương trình công tác toàn khóa, hằng năm và thông qua sinh hoạt hằng tháng của chi bộ, các hội nghị của cấp ủy.
(3) Các cấp ủy đã tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với kiểm tra, giám sát chuyên đề, định kỳ đối với 3.211 tổ chức đảng; Đảng ủy Khối kiểm tra, giám sát đối với 9 tập thể cấp ủy và bí thư cấp ủy của 9 đảng ủy trực thuộc.
(4) Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã ban hành Chỉ thị số 07-CT/ĐUK, ngày 12-12-2018, “Về tăng cường công tác phát triển đảng viên”, Kế hoạch số 04-KH/ĐUK, ngày 4-4-2019, “Về thực hiện Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21-1-2019, của Ban Bí thư, “Về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”, Công văn số 863-CV/ĐUK, ngày 12-7-2017, “Về kết nạp lại, kết nạp quần chúng vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình vào Đảng”; Công văn số 1584-CV/ĐUK, ngày 11-12-2018, “Về việc kết nạp lại đảng viên”...