Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Chống tham nhũng từ gốc.

 Ngày 16-9-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 32-QĐ/TW quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thay thế Quy định số 211-QĐ/TW ngày 25-12-2019 của Bộ Chính trị khóa XII. Tên gọi của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được bổ sung từ tiêu cực. Từ nay, Ban Chỉ đạo không chỉ trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm mà còn trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tiêu cực khác ngoài tham nhũng. Vì sao có sự bổ sung mới này?

Đó là bởi không chỉ cần đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế, mà quan trọng hơn là phải chống tiêu cực trong cả tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là những biểu hiện tiêu cực. Nếu không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, liệu có dẫn đến tham nhũng? Hai lĩnh vực này có liên quan đến nhau, là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống.

Đó là bởi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang đe dọa sự sống còn của Đảng, của chế độ. Tham nhũng nói riêng và tiêu cực nói chung đều làm mất đi sự trong sạch của bộ máy Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp mà nguyên nhân cơ bản là do công tác phòng, chống tiêu cực tuy đã được quan tâm chỉ đạo nhưng còn phân tán, chưa tập trung; chưa gắn kết chặt chẽ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

 Đó là bởi với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mới của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các cơ quan nội chính được mở rộng phạm vi hoạt động, tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm, nghiệp vụ và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng như các nguyên tắc, quy chế, quy định. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; gắn đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cán bộ các cơ quan nội chính được tiếp thêm động lực để phát huy bản lĩnh, có dũng khí bảo vệ cái đúng, gương mẫu giữ mình, trọng liêm sỉ, không chịu bất cứ sức ép nào hay bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào; công tâm, khách quan “phụng công thủ pháp”, “chí công vô tư”; là những “bao công” trong thời đại mới, góp phần hiện thực hóa và khẳng định quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi và sự tin tưởng của Nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

“Xuống ngựa xem hoa”

 

Câu chuyện “Giám mà không sát, sát mà không dám” đã “tổng kết” cho những cuộc giám sát chuyên đề hình thức, tốn kém, không hiệu lực, hiệu quả. Những cuộc giám sát như vậy tuy lựa chọn được vấn đề cử tri quan tâm nhưng việc chuẩn bị sơ sài, lực lượng mỏng, thời gian ngắn, địa bàn rộng, kết luận chung chung dẫn đến tính hình thức… đang lùi vào “dĩ vãng”. Trong những nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, đặc biệt là nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XV, giám sát chuyên đề đã trở thành hình thức giám sát quan trọng, thường xuyên, kịp thời giữa các kỳ họp, trên các lĩnh vực nóng bỏng của đời sống xã hội và mang lại chuyển biến “ngay và luôn” trong thực tiễn thi hành chính sách pháp luật. 

Giám sát chuyên đề - “Thanh bảo kiếm”

Đổi mới hoạt động giám chuyên đề là một lựa chọn đúng đắn nhằm khắc phục tính hình thức của hoạt động này. Từ đó tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát, nâng cao vị thế, vai trò thực sự của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, đồng hành cùng bộ máy chính quyền.

Nghiên cứu đổi mới hoạt động giám sát chuyên đề cần thấy rõ sự khác biệt giám sát với thanh tra, kiểm tra hay điều tra. Mục đích của giám sát là bảo đảm việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết, pháp lệnh của UBTVQH; bảo đảm thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước. Từ đó làm rõ trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và những giải pháp khắc phục tồn tại. Mục đích công tác kiểm tra, thanh tra là hướng tới xử lý, khắc phục sai phạm hành chính hay thi hành kỷ luật hành chính, kỷ luật đảng theo thẩm quyền và chuyển cơ quan điều tra khi có dấu hiệu phạm pháp luật. Điều này lại càng khác xa với công tác điều tra, truy tố, xét xử. Mục đích của hoạt động giám sát có thể xem là điểm “cốt lõi” khi đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát nói chung và giám sát chuyên đề nói riêng.

Sự lúng túng lâu nay trong đánh giá hiệu quả, hiệu lực giám sát của cơ quan dân cử còn ở nhận thức “thiên lệch” mà chưa làm rõ khác biệt về mục đích, yêu cầu mỗi loại hình giám sát như: chất vấn, xem xét báo cáo hoạt động của cơ quan nhà nước, bỏ phiếu tín nhiệm và giám sát chuyên đề. Điều này gây khó khăn ít nhiều trong lựa chọn hướng đi tập trung đổi mới hoạt động giám sát trong một thời gian dài. Đánh giá hiệu quả giám sát chuyên đề đúng, sát là cơ sở cho những bước đổi mới. Hiệu quả giám sát chuyên đề “cô đọng” ở kết luận giám sát và việc đưa kết luận đó vào cuộc sống. Kết luận của đoàn giám sát như "khuyến nghị" mang tính ràng buộc pháp lý thấp. Kết luận giám sát chuyên đề cần xây dựng thành nghị quyết nhằm “luật hóa” kết quả giám sát; nâng tầm giá trị pháp lý, buộc đối tượng bị điều chỉnh phải tuân thủ. Và khi nghị quyết giám sát được đổi mới chứa đựng quy phạm pháp luật, lượng hóa nhiều mục tiêu, chỉ rõ sai phạm, trách nhiệm cá nhân, thời hạn khắc phục... thì đấy là bước đột phá bảo đảm hiệu lực thi hành pháp luật. Và giám sát chuyên đề như “thanh bảo kiếm” sắc bén vào lĩnh vực nào sáng tỏ lĩnh vực đó; làm rõ những ưu, khuyết, những lỗ hổng pháp luật, lỗ hổng trong vận hành bộ máy và chuyển biến kịp thời.

Không cần thiết không thành lập Ủy ban lâm thời

Hình thức giám sát chuyên đề hoạt động giữa 2 kỳ họp, phiên họp và đưa ra xem xét tại các kỳ họp, phiên họp được tổ chức công phu có khảo sát, nghe báo cáo, giải trình, chất vấn chuyên ngành, có kiểm tra số liệu, đi thực địa, điều tra dư luận xã hội… để đánh giá hoạt động thực thi pháp luật trên những lĩnh vực cụ thể được hoạch định trước như: đất đai, quy hoạch, văn hóa giáo dục, an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi công dân… Hình thức này đang tìm tòi hướng đi mới, giải pháp mới, cách tiếp cận mới, tránh cách làm hình thức, “cưỡi ngựa xem hoa”. Điều này đặt ra nhiệm vụ mới cho các cơ quan của Quốc hội, HĐND các cấp và đại biểu Quốc hội, HĐND trong công tác chuẩn bị.

“Xuống ngựa xem hoa” là cách nói ví von, là yêu cầu khi bắt tay vào đổi mới hoạt động giám sát chuyên đề không hình thức bao biện, không chung chung. Điều đó thể hiện từ việc lựa chọn vấn đề đúng và trúng; chuẩn bị kỹ lưỡng, xác định mục tiêu, mục đích rõ ràng với kế hoạch triển khai cụ thể, sát thực tế… Và quan trọng nhất là kết quả giám sát sẽ là gì? Từ kết quả giám sát có ra được nghị quyết không? Kết luận giám sát bằng một nghị quyết có giá trị như  đạo luật “sửa đổi, bổ sung một số điều” điều chỉnh lĩnh vực được giám sát, buộc đối tượng bị giám sát thực thi nghiêm.

Ngay trong cuộc làm việc mới đây với đoàn giám sát tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cũng đã nhấn mạnh “Việc triển khai 4 chuyên đề giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội lần này có nhiều đổi mới so với trước đây, trong đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến nhiều lần, nhiều vòng mới thống nhất được bản kế hoạch chi tiết và Đề cương giám sát của từng chuyên đề để triển khai thực hiện. Do đó trong quá trình triển khai, Đoàn giám sát phải bám sát các mốc thời gian, tiến độ, mục đích và yêu cầu đặt ra tại Kế hoạch chi tiết và Đề cương giám sát, rà soát đánh giá từng loại phần việc, ai chịu trách nhiệm, sản phẩm đến nay là gì, phải cá thể hóa trách nhiệm đến từng thành viên Đoàn giám sát và từng thành viên tổ giúp việc, chuẩn bị kỹ lưỡng, làm đến đâu chắc đến đấy để bảo đảm hiệu quả giám sát”.

Khi nghị quyết giám sát chuyên đề được đổi mới chứa đựng quy phạm pháp luật thì đấy là bước đột phá bảo đảm hiệu quả, hiệu lực thực thi của hoạt động này.

Chuẩn bị từ sớm, từ xa, kỹ lưỡng và đầy đủ cùng với việc huy động đội ngũ chuyên gia chuyên sâu tham gia hỗ trợ nhưng kết quả giám sát, kết luận giám sát có nói thẳng, nói thật, nói hết không? Điều quan trọng chính là dũng khí, bản lĩnh của mỗi thành viên giám sát dù vấn đề kết luận đụng chạm đến các tầng nấc, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong bộ máy nhà nước, thậm chí là cả hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương. “Giám sát phải đi đến cùng, giám sát đến nơi, đến chốn với mục tiêu cao nhất là vì sự phát triển của đất nước, vì quyền lợi của người dân và doanh nghiệp”. Từ đó thúc đẩy các giải pháp khắc phục nhanh chóng, hiệu quả trong vận hành bộ máy; bảo đảm thực thi phám luật nghiêm minh; hoàn thiện hệ thống pháp luật và xử lý kịp thời những vi phạm; lấy lại niềm tin trong nhân dân.

Giám sát chuyên đề được tổ chức tốt có năng lực mạnh mẽ như một “Ủy ban đặc biệt” xem xét chuyên sâu những vấn đề lớn, có tính hệ thống và mang lại kết quả thiết thực, khả thi cao, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật; nâng cao vai trò, vị trí của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc thành lập Ủy ban lâm thời (theo Khoản 5, Điều 11 và Điều 17 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân năm 2015) để thực hiện giám sát chuyên đề thường xuyên như một số ý kiến khơi gợi chỉ thực sự cần thiết ở những vấn đề cơ quan của Quốc hội cần vào cuộc điều tra./.

QUÂN ĐỘI TĂNG CƯỜNG CÁC BIỆN PHÁP TUYÊN TRUYỀN ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC

 


                Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, đồng thời bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vĩ đại đó, Đảng ta chủ trương thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, coi đó là động lực, là sức mạnh cơ bản của dân tộc ta. Sức mạnh Việt Nam là sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Toàn thể mọi người dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo đều có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quân đội có trách nhiệm tiến hành công tác vận động quần chúng thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Đây là nội dung  quan trọng, góp phần xây dựng, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa đồng bào thuộc dân tộc, tôn giáo này với đồng bào dân tộc, tôn giáo khác, giữa đồng bào có đạo với đồng bào không theo đạo, giữa đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

Quân đội tiến hành công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền chính sách đại đoàn kết của Đảng về đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc, đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, xây dựng, củng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc.

khuctran

QUÂN ĐỘI PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG

 


          Phát huy sức mạnh tổng hợp trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá. Hiệu quả Quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phải phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương để phát huy sức mạnh tổng hợp để phòng chống đạt hiệu quả cao.

          Các đơn vị quân đội hoạt động trên địa bàn phải bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể địa phương tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương; tích cực tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng nông thôn mới, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phòng tránh khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

Quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá được tiến hành trên nhiều nội dung, có cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội Biên phòng tham gia. Mỗi lực lượng có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, hoạt động phòng chống được tiến hành trên nhiều nhiệm vụ, địa bàn khác nhau, tính chất lại rất phức tạp, bao gồm cả yếu tố trong nước và quốc tế. Vì vậy, tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, điều hành tập trung, thống nhất là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho các lực lượng quân đội tham gia phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá thống nhất về ý chí, hành động, có đủ sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ phòng chống.

khuctran

NHẬN DIỆN CÁC TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG ĐỘI LỐT TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 


Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng, theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng về kinh kệ, đạo pháp... Ở một số nơi, các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo đã làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền nói xấu chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, làm cho các tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc, lợi ích của cách mạng và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.

Các thế lực thù địch đã và đang tìm cách tập hợp lực lượng trong số những người hoạt động tôn giáo bất hợp pháp kích động, lừa mị và lôi kéo những nhóm sinh hoạt đạo mà không có sự quản lý của chính quyền địa phương để biến thành tổ chức phản động và tổ chức quần chúng bị lợi dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Đã có những hoạt động ngấm ngầm tập hợp và móc nối tổ chức lực lượng bên trong với các tổ chức phản động ở nước ngoài.  

Các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ súy các phần tử cực đoan trong các tôn giáo, móc nối, liên kết với nhau cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng. Chúng kích động số bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền.

        Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách tôn giáo để chống phá, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách tôn giáo để kích động tư tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố mất ổn định, gây rối, bạo loạn, biến vấn đề tôn giáo thành vấn đề chính trị, tạo cớ cho nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ nước ta.

khuctran

ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO LÀ BỘ PHẬN CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA

 


Đối với các giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng ta nhấn mạnh phải giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Vì đó là một nguồn quan trọng làm nên sức mạnh của dân tộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời góp phần tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo đúng pháp luật để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đảng, Nhà nước khẳng định đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bởi vì, đồng bào theo tôn giáo trước hết là người Việt Nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc như mọi người Việt Nam khác. Đây chính là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Mặt khác, tín đồ tôn giáo đại bộ phận là nhân dân lao động, họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng.

 Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Thực tiễn chứng minh, trong quá trình cách mạng, đồng bào tôn giáo đã có nhiều đóng góp to lớn cả sức người, sức của, nhiều tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Do vậy, phải luôn tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

khuctran

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA ĐỊCH KÍCH ĐỘNG GÂY MẤT ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Hiện nay các thế lực thù địch đang tăng cường kích động di cư trái phép đến các địa bàn trọng điểm, chiến lược và vượt biên ra nước ngoài, tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, làm cho vấn đề dân tộc trở thành vấn đề phức tạp, ngòi nổ để tạo cớ can thiệp. Những hoạt động tuyên truyền, kích động, tổ chức di cư tự do, vượt biên trái phép nhằm tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, vừa đưa người dân tộc về từng khu vực theo ý đồ để xây dựng "căn cứ" phản cách mạng, làm cho vấn đề dân tộc trở nên phức tạp, có thể trở thành "ngòi nổ", gây bạo loạn, tạo cớ để nước ngoài có thể can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

Mục đích cơ bản của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc ở nước ta là nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng do Đảng  Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; từng bước loại bỏ vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, vai trò quản lý của nhà nước Trung ương và chính quyền các cấp ở từng địa phương có các dân tộc thiểu số sinh sống. Tuyên truyền, kích động vượt biên trái phép, di dân tự do, gây mất ổn định ở các địa bàn có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, phá vỡ khối đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau trên địa bàn;

Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch để chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay rất đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm. Kết hợp các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng với tổ chức lực lượng và trực diện đấu tranh chống chính quyền, đòi quốc tế hóa vấn đề dân tộc để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, phản động có đạt được mục tiêu hay không còn phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của ta.

khuctran

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC ĐỂ PHÁT HUY PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG TÌNH

 

 HÌNH MỚI

Ngày 28-12-2021, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Nghị quyết số 847 đã đề cập đến hai thành tố quan trọng, có mối quan hệ biện chứng là “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” và “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”.

Đó cũng chính là hai vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói tới ở những mức độ và hoàn cảnh khác nhau trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như sáng lập và rèn luyện quân đội nhân dân Việt Nam.

Là một nhà văn hóa kiệt xuất, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ đầy đủ những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, điển hình của nhân cách con người Việt Nam. Một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện đậm nét, mang dấu ấn riêng, rất đặc thù và rất Hồ Chí Minh đó là văn hóa ứng xử./.

Vũ Bão 24

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định

 


          Kỷ niệm 102 năm ngày sinh của Thiếu tướng Nguyễn Thị Định - Nữ tướng duy nhất trong chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam (15/03/1920 - 15/3/2022)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về Nguyễn Thị Định: “Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”. Bà giữ chức Phó Tư lệnh quân Giải phóng miền Nam (1964 - 1975) Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam, năm 1974 được phong hàm Thiếu tướng

          Sau chiến tranh, bà giữ nhiều chức vụ quan trong như: Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch hội đồng Nhà nước. Sau khi bà mất, đền thờ bà được lập tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm. Năm 1995, bà được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”./.

Vũ Bão 23

 

 

Hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ

 


 

          Tàu 016-Quang Trung cập cảng Cam Ranh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia Diễn tập MILAN 2022. Sáng 15-3, Tàu 016-Quang Trung và đoàn công tác của Hải quân nhân dân (HQND) Việt Nam do Đại tá Nguyễn Văn Ngân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân, làm trưởng đoàn đã cập Quân cảng Cam Ranh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia Diễn tập Hải quân đa phương MILAN năm 2022 (MILAN 2022) tại thành phố Visakhapatnam theo lời mời của Hải quân Ấn Độ.

          Trong suốt hải trình đi và về vượt 4.700 hải lý, qua vùng biển Việt Nam, Eo biển Singapore, Eo biển Malacca, biển Andaman, Vịnh Bengal tới thành phố Visakhapatnam của Ấn Độ và hành trình diễn tập trên biển 500 hải lý, mặc dù thời tiết phức tạp nhưng đoàn công tác tổ chức hành quân, diễn tập đúng thời gian, kế hoạch, bảo đảm an toàn tuyệt đối về mọi mặt, bao gồm cả công tác phòng, chống dịch Covid-19.

          Tại hội nghị rút kinh nghiệm sau diễn tập, Đại tá Nguyễn Văn Ngân, Trưởng đoàn công tác, cho biết, HQND Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia Diễn tập MILAN 2022 mặc dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ở Ấn Độ. Trong khuôn khổ diễn tập, HQND Việt Nam đã tham gia tích cực 27/30 khoa mục, nội dung ở hai giai đoạn tại bến và trên biển mà Ban tổ chức Diễn tập MILAN 2022 đưa ra, trong đó nhiều nội dung đạt kết quả xuất sắc, được các nước đánh giá cao. Nước chủ nhà Ấn Độ cảm ơn và nhấn mạnh sự tham gia tích cực của HQND Việt Nam ở các nội dung như Lễ khai mạc, Làng Văn hóa MILAN, diễu binh đường phố, hội thảo hàng hải, diễn tập trên biển…. đã góp phần làm nên thành công của Diễn tập MILAN 2022.

          Thông qua diễn tập, HQND Việt Nam đã cho thấy sự tinh nhuệ, chính quy và khả năng làm chủ vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, cũng như khả năng hoạt động độc lập xa căn cứ dài ngày. Đây cũng là cơ hội tốt để HQND Việt Nam giao lưu học hỏi, trao đổi chuyên môn, trau dồi kinh nghiệm và nâng cao khả năng phối hợp hiệp đồng giữa hải quân các nước trong các hoạt động đa phương quy mô lớn trên biển, góp phần khẳng định năng lực của HQND Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế./.

Vũ Bão 22

THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY

 


"Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".

Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị quân thù treo cổ, khi anh vừa thoát khỏi cái chết do bệnh thương hàn ở công trường Bayarka.

Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.

Lý tưởng cao đẹp nhất - sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người, không chỉ bó hẹp trong một giai đoạn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, không chỉ ở phạm vi một quốc gia nào, mà càng ngày, chúng ta càng thấy rõ sự nghiệp ấy chỉ mới bắt đầu. Nó không chỉ là một sự lựa chọn của một cá nhân, một giai cấp mà là sự nghiệp thống nhất của nhân dân toàn thế giới. Sau cuộc đấu tranh chống áp bức là cuộc đấu tranh chống đói nghèo bệnh tật, chống sự kỳ thị, khủng bố..., cuộc đấu tranh để hoàn thiện bản thân và dân tộc. Chỉ khi đó từ "giải phóng" mới có một ý nghĩa thật sự.

Vì vậy, "Thép đã tôi thế đấy" không chỉ là khúc tráng ca về thế hệ đầu tiên của thanh niên Xô-viết, những con người đã được tôi luyện trong lửa đỏ và nước lạnh như Pavel, Sergey, Valia, Rita, Pankratov, Okuniev... mà là những vấn đề của hôm nay và của tương lai./.

Vũ Bão 21

Bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho cán bộ đoàn

 

1.     Bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho cán bộ đoàn

Học tập và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là vinh dự, vừa là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta

Thời gian qua, đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (CNQP) đã tích cực học tập, làm theo Bác toàn diện cả về tư tưởng, đạo đức, phong cách; trong đó vấn đề bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho cán bộ đoàn

Lãnh đạo Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, kiểm tra sản phẩm của Nhà máy Z115

Phong cách làm việc Hồ Chí Minh là lề lối, phương pháp, cách thức làm việc tiêu biểu, ổn định, mang đặc trưng của Người trong quá trình hoạt động cách mạng, thể hiện tập trung ở phong cách làm việc quần chúng; dân chủ, tôn trọng tập thể; khoa học; làm việc cụ thể, đến nơi, đến chốn; nêu gương, nói đi đôi với làm. Thời gian qua, cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các cấp thuộc Tổng cục CNQP đã chú trọng, thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xác định, tiến hành nhiều chủ trương, biện pháp bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn, công tác đoàn và phong trào thanh niên của tổng cục, phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục CNQP ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục CNQP vẫn còn những hạn chế: Một số cấp ủy, cán bộ nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về sự cần thiết phải bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn; tư duy, cách nghĩ, cách làm có thời điểm còn chậm đổi mới. Nội dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡng có thời điểm chưa toàn diện, trọng tâm, cụ thể. Phong cách làm việc của một số cán bộ đoàn chưa tương xứng với mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ.

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo đảm cho Đảng thực sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ đang được tiến hành quyết liệt với những yêu cầu ngày càng cao. Nhiệm vụ của quân đội, của Tổng cục CNQP có bước phát triển mới. Để bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục CNQP, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết các cơ quan đơn vị thuộc tổng cục cần tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng đối với hoạt động bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn. Theo đó, cần tập trung tuyên truyền, giáo dục để mọi tổ chức, mọi lực lượng nắm được các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, của quân đội về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung, về phong cách làm việc của Người nói riêng.

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, tổ chức đoàn trong bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn. Nội dung bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn cần bảo đảm tính toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm; yếu cái gì, thiếu cái gì bồi dưỡng cái đó.

Các cơ quan, đơn vị cần xác định đúng nội dung, vận dụng đa dạng các hình thức, biện pháp bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn ở tổng cục. Đồng thời, đội ngũ cán bộ đoàn cần phát huy tính tích cực, tự giác, tự bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục CNQP vừa là nhiệm vụ thường xuyên, vừa là yêu cầu khách quan, cấp thiết hiện nay. Để quá trình này được thực hiện một cách có hiệu quả, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp; mỗi cán bộ đoàn và tùy vào điều kiện cụ thể của từng cơ quan, đơn vị mà lựa chọn, vận dụng các giải pháp cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập rèn luyện

 


          Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện; là một tập thể, một môi trường đặc biệt để mỗi người phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành. Với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác, Quân đội đã lập nhiều chiến công oanh liệt, cùng toàn dân đánh thắng “hai đế quốc to” (thực dân Pháp và đế quốc Mỹ), bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Trong chiến đấu, công tác, hàng nghìn đơn vị, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã lập chiến công, thành tích đặc biệt xuất sắc, được Đảng, Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và các phần thưởng cao quý khác… Những tập gương ấy luôn sống động, là niềm tự hào đối với mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ. Trong điều kiện đất nước hòa bình, dưới tác động của tình hình chính trị, xã hội phức tạp hiện nay, Quân đội luôn quan tâm xây dựng phong trào thi đua trong học tập, rèn luyện, huấn luyện, làm chủ khoa học công nghệ, vũ khí trang bị… Đó là một động lực để Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, làm tròn trọng trách bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc./.

Vũ Bão 20

Hành trình đến Dinh Độc Lập

 

1.     Hành trình đến Dinh Độc Lập

Lữ đoàn Xe tăng 203 (Quân đoàn 2), tiền thân là Trung đoàn Xe tăng 203, thành lập ngày 22-6-1965, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Phát huy truyền thống anh hùng, cán bộ, chiến sĩ lữ đoàn luôn nỗ lực huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Có mặt ở thời khắc lịch sử

Tham quan nhà truyền thống của lữ đoàn, Thượng tá Nguyễn Đăng Nho, Phó chính ủy Lữ đoàn Xe tăng 203 giới thiệu: Trung đoàn Xe tăng 203 (nay là Lữ đoàn Xe tăng 203) thành lập ngày 22-6-1965, tại xã Lưu Quang, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1973, trung đoàn được điều động từ Binh chủng Tăng thiết giáp, tham gia chiến đấu trong đội hình Quân khu Trị-Thiên. Từ năm 1974 đến nay, trung đoàn phát triển thành lữ đoàn và biên chế trực thuộc Quân đoàn 2.

Ra đời vào thời điểm khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lữ đoàn đã nỗ lực, vượt mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, vừa xây dựng, củng cố lực lượng, vừa tham gia chiến đấu và là lực lượng cơ động đột kích, thọc sâu trong các chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược như: Đường 9-Khe Sanh (1968), Đường 9-Nam Lào (1971) và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975), góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau năm 1975, lữ đoàn cơ động tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng và hành quân thần tốc bảo vệ biên giới phía Bắc. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Lữ đoàn Xe tăng 203 và 6 tập thể, 3 cá nhân được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

https://file3.qdnd.vn/data/images/13/2022/04/13/phamthuthuy/1_ohdj35191516pm.jpg?dpi=150&quality=100&w=870

Xe tăng 390 của Lữ đoàn Xe tăng 203 tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975.

Nhìn những hiện vật gắn với các chiến công của lữ đoàn khiến tôi hình dung về những ngày lữ đoàn hành quân thần tốc tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đội hình xe tăng của lữ đoàn tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, cắm lá cờ chiến thắng lên nóc dinh-sào huyệt cuối cùng của địch vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Để có những chiến công đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ của lữ đoàn đã hy sinh anh dũng, tiêu biểu là Đại úy Ngô Văn Nhỡ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 hy sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn khi chỉ huy đội hình thọc sâu, vượt qua cầu Sài Gòn vào giải phóng thành phố.

Tôi nhớ lần gặp mặt truyền thống cựu chiến binh (CCB) Lữ đoàn Xe tăng 203 năm 2010, nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập lữ đoàn. Đại tá Bùi Quang Thận (1948-2012), nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Xe tăng 203, người trực tiếp cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975 kể: “Tháng 4-2010, tôi cùng các đồng chí thuộc kíp xe tăng 843 và 390 được trở lại thăm Dinh Độc Lập (nay là Dinh Thống Nhất). Thật xúc động trong lần trở lại này với tôi vì còn có nhiều anh em khác đã hàng chục năm rồi chưa trở lại thăm nơi đây, nơi chúng tôi chứng kiến sự sụp đổ của chính quyền ngụy Sài Gòn...”.

Trong số các thành viên kíp xe tăng 390 húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc Lập có CCB Lê Văn Phượng, nguyên Phó đại đội trưởng về kỹ thuật Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203 kiêm pháo thủ số 2. “Sở dĩ tôi kiêm pháo thủ số 2 kíp xe 390 vì trong trận đánh ở căn cứ Nước Trong (Đồng Nai) ngày 29-4-1975, pháo thủ số 2 bị thương. Để thay thế nhau được là do đơn vị thường tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, với phương châm “thành thạo vị trí của mình, biết thêm nhiều vị trí khác”, CCB Lê Văn Phượng cho biết.

CCB Nguyễn Đình Đài, nguyên lái xe tăng 910 thuộc Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203, hiện ở xã Di Trạch (huyện Hoài Đức, TP Hà Nội), bồi hồi nhớ lại: “Tôi nhập ngũ tháng 1-1972. Sau khóa huấn luyện chiến sĩ mới, tháng 4-1972, tôi được trên cử đi học lái xe tăng. Khi ấy, tôi khá lo lắng vì ở nhà tôi còn chưa biết đi... xe đạp. Nhưng rồi bằng nỗ lực của bản thân, sự hướng dẫn của giáo viên, đồng đội giúp đỡ, tôi đã hoàn thành chương trình lái xe và nắm vững tính năng kỹ thuật, chiến thuật của xe tăng. Sau đó, tôi được biên chế về Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203, tham gia chiến đấu ở các chiến trường, từ Quảng Trị-Thừa Thiên Huế-Đà Nẵng đến hành quân thần tốc tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi lái xe tăng 910, cùng đơn vị đánh địch ở căn cứ Nước Trong rồi thọc sâu vào Sài Gòn. Trưa 30-4-1975, xe tăng 910 là chiếc xe thứ ba tiến vào Dinh Độc Lập, sau xe 843 và 390... Được chứng kiến giờ phút lịch sử trọng đại ấy, tôi và đồng đội vô cùng xúc động, tự hào. Sau này khi rời quân ngũ, tôi vào học ngành sư phạm, trở thành giáo viên giảng dạy môn Toán ở Trường THCS Dương Liễu (Hoài Đức, Hà Nội). Những dịp kỷ niệm Ngày chiến thắng, Ngày thành lập Quân đội nhân dân, tôi lại đến các trường, khu dân cư tham gia nói chuyện truyền thống, kể chuyện chiến đấu”...

Còn rất nhiều CCB Lữ đoàn Xe tăng 203 có mặt trong giờ phút lịch sử tiến vào Dinh Độc Lập, giải phóng miền Nam. Đó là khoảnh khắc vô cùng tự hào khiến họ ghi nhớ mãi.

Luôn huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao

Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Phạm Mạnh Phi, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Xe tăng 203 cho biết, truyền thống và kinh nghiệm chiến đấu đã được lữ đoàn phát huy, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn huấn luyện, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội. Cụ thể là, lữ đoàn chú trọng giáo dục bộ đội nhận thức tốt nhiệm vụ; làm tốt công tác chuẩn bị huấn luyện, tập huấn cán bộ và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, giữ nghiêm kỷ luật huấn luyện, quản lý tốt mọi mặt. Quá trình huấn luyện, lữ đoàn bám sát phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu cho từng loại xe tăng, bảo đảm sát thực tế chiến đấu, đặc điểm địa bàn và đối tượng tác chiến; vận dụng tốt các quan điểm, nguyên tắc, mối kết hợp trong huấn luyện; tăng cường huấn luyện thực hành, huấn luyện đêm, huấn luyện phối hợp chiến đấu với bộ binh và các binh chủng trong điều kiện đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao và huấn luyện trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cơ động dài ngày... Lữ đoàn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào huấn luyện như: Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị giáo án huấn luyện trên máy tính, giảng dạy một số nội dung bằng trình chiếu PowerPoint... Cùng với đó, lữ đoàn đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện, thực hiện kiểm tra cán bộ trước khi kiểm tra đơn vị, cơ quan. Qua kiểm tra phát hiện những điểm yếu để kịp thời khắc phục. Nhờ đó, chất lượng huấn luyện của lữ đoàn ngày càng được nâng lên, kiểm tra hằng năm các đối tượng đều 100% đạt yêu cầu, trong đó có 86% khá, giỏi; hoàn thành tốt diễn tập và huấn luyện dã ngoại kết hợp công tác dân vận; tham gia hội thi cấp toàn quân và quân đoàn, lữ đoàn đều giành giải cao.

https://file3.qdnd.vn/data/images/13/2022/04/13/phamthuthuy/_dsc219637591337pm.jpg?dpi=150&quality=100&w=870

Cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203 triển khai ngày kỹ thuật hằng tuần.

“Để nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, lữ đoàn thường xuyên duy trì Phong trào Thi đua Quyết thắng, sáng tạo các hình thức, mô hình thi đua; xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến. Nhiều mô hình thi đua hiệu quả của lữ đoàn như: “Chi đoàn huấn luyện giỏi”, “Trung đội điểm giỏi”, “Khẩu đội 3 nhất”, “Kíp xe quyết thắng”... Trong những ngày tháng Tư lịch sử, lữ đoàn tổ chức thi đua “Hành trình về Dinh Độc Lập”, các cơ quan, đơn vị tổ chức chấm điểm, chọn những tập thể, cá nhân xuất sắc nhất để biểu dương, khen thưởng”, Đại tá Nguyễn Xuân Quý, Chính ủy Lữ đoàn Xe tăng 203 tiếp lời.

Mong muốn có vũ khí hiện đại cho bộ đội

 

1.     Mong muốn có vũ khí hiện đại cho bộ đội

Đại tướng Phùng Quang Thanh khi trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát, cụ thể, tạo điều kiện để phát triển khoa học, công nghệ (KHCN) quân sự.

Tôi nhiều lần được tháp tùng Đại tướng Phùng Quang Thanh những năm ông trên cương vị từ Tổng Tham mưu trưởng đến Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đến thăm và làm việc với các cơ quan, đơn vị nghiên cứu KHCN và các ngành kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng (CNQP). Ấn tượng của tôi về Đại tướng Phùng Quang Thanh là người chỉ huy luôn sâu sát, cụ thể. Thường thì ông tham quan các sản phẩm KHCN trước, sau đó mới làm việc và trực tiếp chỉ đạo các cơ quan chức năng giải quyết những kiến nghị, vướng mắc mà các cơ quan nghiên cứu, nhà khoa học đưa ra. Ở Đại tướng Phùng Quang Thanh không chỉ là sự quan tâm đến bộ đội, đến các nhà khoa học mà ông luôn mong muốn sao cho Quân đội ta tự chủ và làm chủ sản xuất được vũ khí, khí tài tiên tiến để đưa vào biên chế, phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nhất là trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao.

https://file3.qdnd.vn/data/images/13/2022/02/16/phamthuthuy/6099add9-5d26-4291-b3f0-7b6e836f81af.jpeg?dpi=150&quality=100&w=870

Đại tướng Phùng Quang Thanh tham quan sản phẩm khoa học, công nghệ do công nghiệp quốc phòng nước ta sản xuất, trưng bày tại Trung tâm Huấn luyện quốc gia Miếu Môn, tháng 4-2011. Ảnh: XUÂN GIANG

Tháng 8-2006, một số cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng chủ trì, tham gia các chương trình cấp Nhà nước về KHCN và khoa học xã hội-nhân văn tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả nghiên cứu giai đoạn 2001-2005. Trong lần đầu chủ trì hội nghị của Hội đồng Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng trên cương vị Chủ tịch hội đồng, đồng chí Phùng Quang Thanh đã yêu cầu Cục Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Cục Khoa học quân sự)-Bộ Quốc phòng báo cáo cụ thể về các chương trình này. Sau đó, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh trực tiếp đến các cơ sở nghiên cứu và bảo đảm kỹ thuật của quân đội như: Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục CNQP, Tổng cục II, Học viện Quân y, Học viện Kỹ thuật quân sự, Trung tâm Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ quân sự (nay là Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) để nắm tình hình. Từ các buổi thăm, làm việc đó, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cùng tập thể Quân ủy Trung ương tham mưu với Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Chính phủ ban hành các văn bản lãnh đạo; cụ thể hóa đường lối, chính sách, tạo điều kiện phát triển KHCN quân sự. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch, ký kết hoạt động phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Quốc phòng, qua đó góp phần tạo nguồn lực đầu tư và nhân lực, từng bước tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế quản lý KHCN trong Bộ Quốc phòng. Thông qua sự phối hợp, hợp tác, các cơ quan, đơn vị và cán bộ khoa học quân đội có điều kiện chủ trì, tham gia nhiều chương trình, đề tài trọng điểm cấp Nhà nước, của các bộ, ngành. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh còn quan tâm chỉ đạo các cơ quan chức năng, các ngành, cơ sở nghiên cứu xây dựng và triển khai các chương trình nghiên cứu phát triển vũ khí, khí tài công nghệ cao; chương trình, đề án nghiên cứu phát triển, cải tiến, nâng cấp và đồng bộ vũ khí trang bị kỹ thuật... Cũng từ yêu cầu thực tế quân đội, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh và Quân ủy Trung ương đã chủ trương triển khai các giải pháp đồng bộ, đột phá xây dựng quân đội từng bước tiến lên chính quy, hiện đại; trước mắt xây dựng 6 lực lượng là phòng không, không quân, hải quân, thông tin liên lạc, trinh sát kỹ thuật và tác chiến điện tử tiến thẳng lên hiện đại.

Cũng từ sâu sát, nắm tình hình cụ thể ngành CNQP, từ năm 2008, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng Pháp lệnh CNQP, nhằm tạo cơ sở pháp lý xây dựng ngành CNQP trở thành bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, sản xuất vũ khí cho quân đội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thúc đẩy CNQP phát triển, Đại tướng Phùng Quang Thanh cùng tập thể Quân ủy Trung ương tham mưu với Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về xây dựng và phát triển CNQP đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Từ nghị quyết này, Đề án KC.NQ.06 cấp Bộ Quốc phòng về “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số vũ khí mới giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020” được xây dựng và triển khai. Ngày 18-9-2015, Đại tướng Phùng Quang Thanh đến dự cuộc bắn trình diễn vũ khí mới là sản phẩm của Đề án KC.NQ.06 và một số nhiệm vụ độc lập cấp Bộ Quốc phòng do Tổng cục CNQP tổ chức. Cuộc bắn thử nghiệm đạt kết quả tốt. Đại tướng Phùng Quang Thanh rất vui và đánh giá cao nỗ lực của các nhà khoa học. Sự quan tâm cụ thể của Đại tướng Phùng Quang Thanh góp phần tạo động lực để các nhà khoa học, công nghệ quân sự lao động sáng tạo, nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới, có hàm lượng KHCN cao. Nhờ đó mà Quân đội ta hiện đang chuyển dần từ mua sắm, lắp ráp là chính sang làm chủ nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất trong nước nhiều chủng loại vũ khí trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới như: Vũ khí lục quân thế hệ mới, tàu quân sự hiện đại, khí tài thông tin liên lạc, radar và một số loại vũ khí công nghệ cao...

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 15/3

 


          "Giặc Mỹ đã thua to, nhưng chúng vẫn ngoan cố chưa chịu từ bỏ những âm mưu tàn bạo và quỷ quyệt. Quân và dân ta đang thắng lớn, càng phải kiên quyết chiến đấu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn".

          Lời khẳng định trên là một phần nội dung bức thư khen Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi quân và dân Hải Phòng nhân sự kiện quân và dân ở đây bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 của Mỹ vào ngày 6 tháng 3 năm 1968.

          Lời thư của Bác ngợi khen thành tích của quân và dân Hải Phòng cũng chính là lời ngợi khen đối với thành tích của quân và dân miền Bắc nói chung trong quá trình chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ. Trong những tháng năm đánh Mỹ, nhân dân hậu phương miền Bắc thực hiện khẩu hiệu "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng", vừa đẩy mạnh sản xuất vừa triển khai thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Địa phương nào, nhà máy xí nghiệp nào lập nhiều thành tích đều được Bác Hồ gửi thư khen ngợi, động viên, biểu dương thành tích sản xuất, chiến đấu, chi viện chiến trường miền Nam.

          Những bức thư khen của Bác như tiếp thêm động lực để quân và dân Hải Phòng nói riêng, quân và dân miền Bắc nói chung “ra sức thi đua với quân và dân miền Nam anh hùng, nâng cao cảnh giác, sản xuất tốt hơn nữa, chiến đấu giỏi hơn nữa, sát cánh cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

          Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc khen thưởng, biểu dương những địa phương, tập thể, đơn vị, cá nhân có thành tích trong lao động sản xuất, học tập, công tác nhằm kịp thời động viên, khích lệ tinh thần thi đua, nhân rộng điển hình tiên tiến, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa, giá trị của công tác động viên như lúc sinh thời Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt. Những gương “người tốt, việc tốt” được tập hợp, in thành sách, tạo ra tủ sách “người tốt, việc tốt”. Học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chúng ta cần hiểu đúng, hiểu rõ, có hành động thiết thực quan tâm, chăm lo những tập thể, cá nhân lập nhiều thành tích; tạo thêm động lực, xây dựng điển hình để nhân rộng “giá trị” của “người tốt, việc tốt”./.

Vũ Bão 19