Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ TÀ ĐẠO

 

Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa và tình hình an ninh, trật tự ở một số địa phương. Một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân; thuyết giảng “kinh sách” có nội dung phê phán, đi ngược lại với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Tính đến tháng 11/2021, Việt Nam có hơn 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả nước; có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Nhà nước ta còn quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động bình thường trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo;... thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc...”. Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24). Đồng thời, “nghiêm cấm xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Tuy nhiên, thời gian qua, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam, một số người đã đứng ra thành lập và tuyên truyền một số hình thức của tà đạo như “Long Hoa Di Lặc”, “Chân không”, “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Hà Mòn”, “Dương Văn Mình”, “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ”…

Thời gian qua, hoạt động của các tà đạo đã tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó, đáng chú ý hoạt động của tà đạo “Thanh Hải Vô thượng sư”, “Pháp môn diệu âm”, “Dương Văn Mình”, “tà đạo Hà Mòn”, tà đạo “Hoàng Thiên Long”… trái với phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc; tuyên truyền mê tín dị đoan; xâm hại đến tính mạng, sức khỏe; khống chế, lừa gạt người dân để trục lợi; gây mất đoàn kết trong cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo, gia đình ly tán (khi bị gia đình, người thân can ngăn, đối tượng đã bỏ người thân theo tà đạo).

Các tà đạo này ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội (kích động trốn vào rừng, trốn đi nước ngoài); một số tà đạo bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động hoạt động chống chính quyền nhân dân (“tà đạo Hà Mòn”)…

Phần lớn các tà đạo ở nước ta có những cách hành đạo trái với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, nhằm mục đích gây thanh thế cá nhân, thu lợi bất chính về kinh tế. Mặt khác, gây bất ổn về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của đất nước.

Chẳng hạn, để lôi kéo người dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, nhằm trục lợi và thanh thế cá nhân, Dương Văn Mình, quê quán huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (đã mất 12/2021), tự xưng là “chúa giáng thế”, tuyên bố rằng: “theo y cầu nguyện, không làm cũng có ăn, không học cũng biết chữ, người già sẽ lột xác, ốm đau sẽ tự khỏi”, nơi hành lễ là “nhà đòn”, dựng ở đâu tùy thích, thờ phụng con ve sầu, chim én, cóc gỗ thay vì thờ cúng tổ tiên như trước đây”.

Còn Y Gyin (sinh năm 1942, ở Sa Thầy - tỉnh Kon Tum), hành nghề cúng bái thì dựng chuyện “Đức mẹ hiển linh” trao cho sứ mệnh truyền giáo, lập ra cái gọi là “đạo Hà Mòn” lôi kéo, lừa bịp nhiều người dân thiếu hiểu biết:“Ai theo Đức mẹ thì mọi nợ nần về vật chất và tinh thần đều được xóa, kể cả nợ ngân hàng; ốm đau không cần chữa cũng khỏi bệnh; người đã theo thì không được bỏ, nếu bỏ đạo gia đình sẽ ly tán”, “Hà Mòn” mới là “tôn giáo riêng” của người DTTS ở Tây Nguyên”.

Hay như các đối tượng cầm đầu tà đạo “Giê Sùa” (Hờ Chá Sùng), tà đạo “Bà Cô Dợ” (Vừ Thị Dợ) đã tuyên truyền cho một bộ phận đồng bào dân tộc Mông ở các tỉnh Tây Bắc rằng: “theo đạo “Giê sùa”, đạo “Bà Cô Dợ” khi có chiến tranh, thiên tai thì sẽ được đưa đến đất nước của Chúa sinh sống; kêu gọi người Mông phải đoàn kết để chung tay xây dựng đất nước riêng của người Mông...”. Thực chất, “Hà Mòn”, “Dương Văn Mình”, “Giê Sùa”, “Bà Cô Dợ” đều mang màu sắc của tà đạo, trái hoàn toàn với đạo lý truyền thống văn hóa dân tộc, đã bị các thế lực thù địch lợi dụng gây xáo trộn cuộc sống của người dân, gây mất an ninh, trật tự ở một số địa phương.

Từ thực tiễn hoạt động của các tà đạo trong thời gian vừa qua, có thể nhận diện các tà đạo dựa vào một số đặc điểm chủ yếu sau:

- Về người đứng đầu: Luôn tự đề cao, đánh bóng bản thân mình cho rằng bản thân họ là “phật”, “thánh”, “thần”…, nhiều người trước khi tạo dựng tà đạo hay “đạo lạ” còn mắc bệnh tâm thần hoặc từ nước ngoài tuyên truyền phát triển vào trong nước trước để tạo thanh thế. Các tà đạo thường sùng bái và thần thánh hóa người cầm đầu, khác với tôn giáo truyền thống: đối tượng sùng bái là những bậc thánh hiền, thần thánh hóa lãnh tụ, siêu trần, thoát thế…, tôn giáo truyền thống phát huy được tác dụng hướng thiện, nâng đỡ cuộc sống con người; “tà đạo” thường có tư tưởng cực đoan, chống lại hiện thực xã hội, thực hành lối sống phi pháp, quyên góp, bóp nặn tiền của người dân.

- Về lý thuyết, “giáo lý”, “giáo luật”: Chủ yếu được chắp vá, pha tạp, cải biên, xuyên tạc từ một số điều trong lý thuyết, giáo lý, giáo luật của các tôn giáo truyền thống, đã hình thành từ lâu, nên có những lời khuyên, điều răn dạy hướng thiện, giúp xoa dịu, an ủi con người về mặt tinh thần trước những bất hạnh, khó khăn gặp phải trong cuộc sống (đây là yếu tố làm cho tà đạo có thể tồn tại). Tuy nhiên, có một số tà đạo có nội dung giáo lý trái thuần phong, mỹ tục của dân tộc, phản văn hóa, phản khoa học như khuyên người ốm không dùng thuốc, chỉ cần cúng, dâng hoa, cầu nguyện, dùng “nước thánh”, “thuốc phật”…, trái với quy luật tự nhiên; lợi dụng các tà thuyết về “ngày tận thế” hoặc gắn với các nhu cầu về sức khỏe để lôi kéo, mê hoặc, khống chế quần chúng.

Điển hình như đối với tà đạo “Giê Sùa” đã và đang tác động vào vùng dân tộc Mông nước ta từ năm 2015 và tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia với những nội dung khác với giáo lý, giáo luật của đạo Tin Lành. Tà đạo “Giê Sùa” gọi tên Chúa là “Giê Sùa” chứ không phải là Giêsu; coi “đạo Giê Sùa” là tôn giáo chính thống, không thừa nhận các tôn giáo khác; thay nhân vật Adam và Eva trong Kinh thánh bằng “chàng Ong” và “cô Ía”; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh; kiêng ăn thịt lợn và loài cá không vảy. Trong các tài liệu tuyên truyền về tà đạo “Giê Sùa” ngoài nội dung bóp méo Kinh Thánh của đạo Tin Lành, những đối tượng cầm đầu, cốt cán còn tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông”.

- Về mục đích hoạt động: Hầu hết các tà đạo đều có chung mục đích là phục vụ lợi ích của người cầm đầu “giáo chủ” (người sáng lập) và một số đối tượng cốt cán, tay chân của họ nhằm thu về kinh tế thông qua thu lệ phí “quy y”, bán “sắc phong”, “bùa”, bán sách, bài giảng, “thuốc chữa bệnh”... Đáng chú ý, các thế lực thù địch, phản động tạo dựng hoặc lợi dụng “tà đạo” như là công cụ để tuyên truyền, tập hợp, thu hút người vào các hoạt động chống chính quyền.

- Về nghi lễ hành đạo: Mang nặng yếu tố mê muội, mê tín dị đoan, lừa bịp, phản khoa học trái với những nghi lễ truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc hay thần thánh hóa lãnh tụ, các bậc thánh hiền, danh nhân, anh hùng dân tộc như: ép quan hệ tình dục tập thể hoặc với giáo chủ để “đắc đạo” (“tà đạo Chân không” của Lưu Văn Ty ở Hà Tĩnh khuyên tín đồ quan hệ tình dục với “người trời” là Lưu Văn Ty); hủy hoại tài sản, của cải, hủy hoại một phần cơ thể hoặc cả thân xác con người để sớm “siêu thoát” (“tà đạo Chân không” khuyên đốt bỏ một phần tài sản, đầy đọa thân xác mới “đắc đạo”; tà đạo “chặt ngón tay” do Phạm Thị Hải ở TP Hồ Chí Minh khởi xướng năm 1993 quy định người tu theo muốn thành “chính quả” phải chặt một ngón tay để bỏ đi một phần thể xác giúp siêu thoát phần hồn...); kích động tự sát để sớm về “nước trời” (như vụ hơn 50 người ở bản Pahé, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La theo tà đạo “Phạ tốc” đã tuân lệnh “giáo chủ” Cà Văn Liêng tiến hành tự sát tập thể).

- Về cách hoạt động: Thường thiên về hoạt động thực tiễn, nhưng lén lút, thường xuyên thay đổi địa điểm nhằm tránh sự phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng; lợi dụng sơ hở của pháp luật, trong công tác quản lý của chính quyền cơ sở để tuyên truyền phát triển “đạo”; tán phát tài liệu tuyên truyền ở trên mạng Internet hay ở những nơi công cộng, nơi tập trung đông dân cư; tập luyện “dưỡng sinh” ở công viên, quảng trường, vườn hoa; lợi dụng những vùng đồng bào trình độ nhận thức còn thấp, điều kiện sống, chăm sóc sức khỏe còn khó khăn để dụ dỗ, lừa bịp, khống chế, lôi kéo theo “đạo”. Điển hình như đối với tà đạo “Bà Cô Dợ” thường sử dụng các đoạn video clip quay các buổi sinh hoạt của điểm nhóm ở Mỹ và phát trực tiếp trên mạng xã hội Facebook, kênh Youtube để giới thiệu, hướng dẫn mọi người sử dụng điện thoại, máy tính bảng... kết nối Internet vào xem trực tuyến và làm theo hướng dẫn.

- Về đối tượng tin theo: Phần lớn người tin theo các tà đạo là những người gặp rủi ro, bế tắc trong cuộc sống, do ốm đau, bệnh tật, nghèo khó; những người có trình độ văn hóa thấp, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, cũng có những tà đạo do biết khai thác, lợi dụng, tạo vỏ bọc xuyên tạc các sự kiện thực tế (dịch bệnh, thiên tai, hiểm họa môi trường...) để “khoác áo” cho các “tín điều” nên đã thu hút được những người trẻ tuổi ưa cái mới, kể cả những người có trình độ nhận thức và chuyên môn kỹ thuật cao, hoặc cán bộ các cơ quan chính quyền và nhất là số cán bộ nguyên là lãnh đạo các ngành, giáo sư, tiến sỹ nghỉ hưu tiếp tay cho tà đạo hoạt động.

Cũng như hoạt động bình thường khác của xã hội, mọi sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều phải trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam; nghiêm cấm bất kỳ ai lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật. Dù ở quốc gia nào, hoạt động tôn giáo đều cần phải có sự quản lý để bảo đảm hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và tuân thủ luật pháp. Không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc.

Phan Dương


ÂM MƯU PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA NHỮNG KẺ THÙ ĐỊCH

 

Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.

Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cho thấy, các thế lực thù địch triệt để sử dụng con bài kỳ thị chủng tộc đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Các thế lực thù địch không chỉ áp dụng thủ đoạn này đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Nam Tư trong vấn đề Kosovo...

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.

Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...

Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...

Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được 170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả trên bình diện quốc tế và quốc gia.

Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật, các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội...

Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn, thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Cụ thể như, công dân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số sẽ được hưởng các các chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế, đào tạo nghề, việc làm, đất đai, nhà ở, tín dụng, hỗ trợ sản xuất... Ngoài ra, còn được hưởng các dự án đầu tư trực tiếp như xây dựng điểm tái định cư tập trung do nhà nước đầu tư toàn bộ hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã thể hiện mạnh mẽ quyết tâm cùng với cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bài ngoại và các hình thức phân biệt chủng tộc khác.

Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch với chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc là rất tinh vi, thâm độc, hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp, mục đích không thay đổi, hậu quả khó lường. Dù những âm mưu và hành động trên đã bị phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời nhưng các thế lực thù địch không từ bỏ, vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, các tổ chức và công dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm của bản thântrong phòng tránh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của chúng.

Các cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, góp phần xóa bỏ đi tư tưởng kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo Bình Nguyên - Hoàng Ly


 

Kế thừa, phát huy giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay

 Lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Bài viết làm rõ những giá trị truyền thống của dân tộc cần kế thừa, phát huy trong hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới và những nguyên tắc cần quán triệt trong quá trình đó.

Theo nghĩa chung nhất, lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam là hệ thống quan điểm của Đảng về các quy luật mang tính biện chứng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Lý luận đó dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”(1). Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc không chỉ là vấn đề có tính quy luật, mà còn là yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

1. Lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam trước hết là kết tinh trí tuệ sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân tộc, phản ánh nhu cầu của cuộc sống và quy luật của công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong bối cảnh mới, đồng thời là sự tiếp nối truyền thống cao đẹp của các thế hệ cha ông trong quá trình dựng nước, giữ nước.

Kế thừa và phát huy giá trị truyền thống dân tộc là vấn đề có tính quy luật và là đòi hỏi khách quan trong quá trình xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới. Nó không chỉ khẳng định, duy trì các giá trị truyền thống cao đẹp đã được sàng lọc qua thời gian và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn, mà còn góp phần bổ sung, phát triển, làm giàu thêm truyền thống dân tộc, tăng thêm sức sống cho những truyền thống ấy, phát huy sức mạnh của chúng trong hiện tại, đồng thời tạo tiền đề vững chắc trên con đường hướng đến tương lai.

Mặt khác, quá trình này còn phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, sự kết nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai thành một thể thống nhất trong tiến trình lịch sử tư tưởng của dân tộc Việt Nam.

Mấy nghìn năm lịch sử với nhiều biến cố, thăng trầm bởi sự tác động của thiên nhiên và con người, đã hun đúc, kết tụ nên những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc ta. Những giá trị truyền thống đó là bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, phản ánh bản sắc và cốt cách văn hóa của con người Việt Nam. Đồng thời, góp phần làm phong phú thêm những giá trị văn hóa nhân loại. Thực tế chứng minh, “Chúng ta có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc từ lâu đời, nhiều giá trị truyền thống rất cao đẹp được xây dựng và phát huy, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước, gắn kết các thế hệ người Việt Nam trong cộng đồng bền chặt, tạo nên sức mạnh to lớn, đứng vững trước mọi cuộc xâm lăng về văn hóa của nước ngoài”(2).

Từ lịch sử và yêu cầu của đất nước trong bối cảnh hiện nay cho thấy, những giá trị truyền thống tiêu biểu, được sàng lọc bởi thời gian và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn, cần kế thừa, phát huy trong quá trình hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay, bao gồm:

Một là, truyền thống yêu nước và khát vọng về quốc gia độc lập, hùng cường

Trong các yếu tố cấu thành hệ giá trị truyền thống của dân tộc ta, truyền thống yêu nước và khát vọng về quốc gia độc lập, hùng cường là một trong những giá trị tiêu biểu, làm nên nét đặc sắc của nền văn hóa và con người Việt Nam.

Yêu nước, trong truyền thống dân tộc thể hiện trước hết ở ý chí kiên cường, tinh thần bất khuất chống ngoại xâm để bảo vệ chủ quyền, khẳng định sự tồn tại của một quốc gia độc lập. Đó còn là tinh thần tự tôn, tự lực, tự cường dân tộc; là khát vọng về một quốc gia độc lập, tự do, giàu mạnh, nhân dân hạnh phúc. Yêu nước còn là lẽ sống và phương châm xử thế của con người, là tiêu chuẩn để phân biệt nhận thức đúng sai, hành động tốt xấu, đồng thời là căn cứ nhận diện bản chất, phẩm giá con người.

Đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhận định, yêu nước là giá trị cao nhất trong thang giá trị của con người và là bản sắc dân tộc Việt Nam. Yêu nước không chỉ là tư tưởng và tình cảm chủ yếu của người Việt Nam xưa nay, mà còn là “sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam”, là “đỉnh cao của các đỉnh cao, như tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị, phổ biến, mẫu mực, làm nền cho mọi sinh hoạt tinh thần của nhân dân ta qua tất cả các thời kỳ”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(4).

Hai là, truyền thống nhân văn, yêu chuộng hòa bình. Cùng với truyền thống yêu nước, truyền thống nhân văn, yêu chuộng hòa bình là một trong những nét đặc sắc của văn hóa và con người Việt Nam, là yếu tố cấu thành sức mạnh dân tộc, góp phần gắn kết con người Việt Nam để vượt qua mọi chông gai, thử thách.

Truyền thống nhân văn, yêu chuộng hòa bình thể hiện trước hết ở tình yêu thương con người, bảo đảm, tôn trọng quyền và phẩm giá con người; tinh thần tương thân, tương ái; trọng nghĩa tình, trọng công lý và đạo lý xã hội. Đó còn là tinh thần bao dung, hòa hiếu không chỉ trong mối quan hệ giữa các cá nhân, mà còn thể hiện trong mối quan hệ bang giao với các quốc gia, dân tộc khác.

Từ xưa đến nay, mỗi khi hòa bình và độc lập dân tộc bị đe dọa, nhân dân ta luôn kiên cường, bất khuất để bảo vệ giang sơn, nhưng khi đã đánh bại kẻ thù thì sẵn sàng “mở lòng hiếu sinh”, thực hiện bang giao hòa hiếu để đất nước được hòa bình, nhân dân được sống trong tự do, hạnh phúc.

Ba là, truyền thống đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng. Thực tiễn cuộc sống đòi hỏi nhân dân ta phải đoàn kết thành một khối vững chắc mới có thể sinh tồn và phát triển.

Đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng không chỉ là nhu cầu mà trở thành lẽ sống của người Việt, phản ánh lợi ích và tình nghĩa thiêng liêng giữa cá nhân và cộng đồng. Vấn đề xây dựng, củng cố khối đoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để bảo vệ giang sơn và nòi giống đã được các thế hệ người Việt Nam nhận thức rất sâu sắc và vận dụng thành công trong thực tiễn cuộc sống, trở thành truyền thống quý báu của dân tộc. Đoàn kết dân tộc thể hiện trước hết ở việc xóa bỏ những hiềm khích, bất hòa cá nhân, giữa các nhóm cộng đồng, thực hiện sự thống nhất, đồng lòng trong nội bộ lãnh đạo đất nước, làm nòng cốt cho việc quy tụ sức mạnh toàn dân tộc để chống lại kẻ thù xâm lược. Mặt khác, đoàn kết còn thể hiện ở tinh thần cố kết toàn dân, cả nước một lòng để hướng tới mục tiêu chung của dân tộc.

Tổng kết lịch sử đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta từ quá khứ đến hiện tại, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, “sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ...”(5). Đồng thời, Người nêu lên một chân lý bất hủ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.

Bốn là, truyền thống cần cù, sáng tạo, trọng dụng nhân tài. Tinh thần chịu đựng gian khó, cần cù và sáng tạo trong lao động là một trong những phẩm chất đặc trưng của người Việt; trọng dụng nhân tài, xem “hiền tài là nguyên khí quốc gia” là truyền thống của dân tộc ta, được tiếp nối và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử. Cơ đồ đất nước hôm nay chính là kết quả hàng nghìn năm lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân qua nhiều thế hệ, gắn với tên tuổi bất hủ của những vị anh hùng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ cụ thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động của đồng bào ta và sự cần thiết phải phát huy truyền thống đó trong xây dựng xã hội mới: “xây dựng chủ nghĩa xã hội phải lấy CẦN làm gốc. CẦN là lao động: Lao động cần cù và sáng tạo”(6). Bên cạnh đó, Người cũng chỉ rõ vai trò quan trọng của việc trọng dụng nhân tài, thường xuyên nhắc nhở các cấp, các ngành phải tìm nhân tài, trọng nhân tài, tập hợp nhân tài, cất nhắc và sử dụng nhân tài hợp lý, đồng thời chú trọng bồi dưỡng nhân tài để phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Năm là, truyền thống trọng dân, vì dân, “lấy dân làm gốc”. Đây là một trong những truyền thống được hình thành từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý của các học thuyết trong tiến trình giao lưu văn hóa. Tuy nhiên, nó không phải sự rập khuôn, sao chép bất cứ học thuyết nào, mà chứa đựng nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Truyền thống trọng dân, vì dân, “lấy dân làm gốc” thể hiện trước hết ở chỗ, trong thời bình, phải dựa vào dân để xây dựng, phát triển quốc gia độc lập, cường thịnh; quan tâm đời sống của dân, coi trọng lòng dân, ý dân để củng cố tiềm lực đất nước. Khi xã tắc lâm nguy phải biết tin dân, phát huy sức mạnh của toàn dân để bảo vệ Tổ quốc. Thực tế tiến trình lịch sử nước ta cũng cho thấy, tin dân, dựa vào dân, biết khơi dậy sự đồng lòng và phát huy ý chí, khát vọng toàn dân tộc mới bảo đảm được sự trường tồn của non sông đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, và “Nước lấy dân làm gốc... Gốc có vững cây mới bền/Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(7).

Các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “Đó là một tài sản vô cùng quý báu do Tổ tiên, Cha ông ta mấy nghìn năm để lại, không phải nơi nào cũng có được; chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy, nếu không là chúng ta có tội với lịch sử, là vong ân bội nghĩa với Tổ tiên, Cha ông chúng ta”(8).

2. Lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới đất nước cũng như trong quá trình xây dựng, từng bước hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định vai trò to lớn và tầm quan trọng đặc biệt của truyền thống dân tộc, được thể hiện tập trung qua các giá trị truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam cũng như trong lý luận về đường lối đổi mới trên từng lĩnh vực cụ thể, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được Đảng ta kế thừa, phát huy, đồng thời bổ sung thêm những giá trị mới theo yêu cầu của thực tiễn đất nước và thời đại.

Hiện nay, yêu nước không chỉ là tinh thần dám xả thân trong chiến tranh cứu nước, mà còn là chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; là quyết tâm “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(9). Nghĩa là, yêu nước không chỉ thể hiện khi đất nước có chiến tranh, mà yêu nước được thể hiện ngay cả trong thời bình xây dựng đất nước. Hơn nữa, càng phải củng cố, phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước để giữ gìn nền hòa bình đó. Yêu nước gắn với khát vọng về quốc gia độc lập, hùng cường trong điều kiện hiện nay là phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để nước ta thực sự “sánh vai với các cường quốc năm châu”, mà trước hết là xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, tạo tiền đề vững chắc để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.

Kế thừa và phát huy truyền thống nhân văn trong bối cảnh hiện nay là thực sự bảo đảm gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, “không để ai bị bỏ lại phía sau” trên con đường phát triển của đất nước; tạo điều kiện bình đẳng cho mọi người được cống hiến, phát huy tối đa năng lực và hưởng thụ xứng đáng với năng lực và sự cống hiến đó; không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; là ngăn chặn có hiệu quả sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống; đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội, xây dựng môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện con người, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới có sự gắn kết hài hòa giữa phẩm chất truyền thống và giá trị hiện đại.

Yêu chuộng hòa bình trong bối cảnh hiện nay là phải kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(10).

Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều biến động nhanh chóng, rất phức tạp, khó dự báo hiện nay, yêu chuộng hòa bình không tách rời nhiệm vụ chủ động chuẩn bị về mọi mặt để sẵn sàng và kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống; ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng trong bối cảnh hiện nay là phải không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo trên cơ sở giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội. Đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân; thực hiện sự đoàn kết, nhất trí, đồng lòng trong Đảng là hạt nhân và là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy tinh thần đồng thuận xã hội và tích cực triển khai các cam kết khu vực và quốc tế với tinh thần “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại đã ký kết”(11).

Kế thừa và phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo, trọng dụng nhân tài trong giai đoạn hiện nay gắn liền với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế trong bối cảnh mới; xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ lãnh đạo các cấp dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo. Đồng thời, có cơ chế đột phá để “thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(12).

Trong điều kiện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh chóng, đòi hỏi phải thực sự đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gắn với phát triển mạnh khoa học và công nghệ, “nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia”, tạo môi trường thuận lợi để không ngừng củng cố, phát triển tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam.

Kế thừa, phát huy truyền thống trọng dân, vì dân trong điều kiện hiện nay là phải xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân; quán triệt bài học “Dân là gốc”; thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(13). Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phải “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”(14); mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân; phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội XHCN “Do nhân dân làm chủ”, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.

Với tư duy biện chứng duy vật, trong xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, nhiều giá trị truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, phát huy; nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, với các đặc trưng “dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học” từng bước được hiện thực hóa; “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam góp phần quan trọng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh mới.

3. Cùng với sự vận động của thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, “lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(15).

Bên cạnh đó, yêu cầu bức thiết đang đặt ra hiện nay là không ngừng hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, phát triển Cương lĩnh, làm phong phú và củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kiến tạo một hệ thống lý luận thật sự khoa học và hiện đại về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Tiếp tục kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là một trong những việc làm thiết yếu để đáp ứng yêu cầu trên, đồng thời góp phần làm nên nét đặc sắc của lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam. Trong quá trình đó, cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước trong bối cảnh hiện nay để thẩm định, sàng lọc các giá trị truyền thống dân tộc

Thực tiễn đất nước và thời đại luôn trong quá trình vận động tiến về phía trước theo quy luật khách quan của nó. Truyền thống của mỗi quốc gia dân tộc được hình thành từ trong quá khứ, là sản phẩm của các thế hệ và những thời đại đã qua. Do đó, các giá trị truyền thống, suy cho cùng cũng là những cái thuộc về quá khứ, do quá khứ để lại nên cũng mang tính lịch sử - cụ thể. Xã hội ngày nay có những đặc điểm và nhu cầu khác với các xã hội trước đây nên không phải cái gì từng là giá trị, có ý nghĩa tích cực trong quá khứ cũng đều phù hợp với đời sống thực tại. Vì vậy, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của đất nước trong bối cảnh thời đại mới để thẩm định, sàng lọc các giá trị truyền thống với phương châm “kế thừa tinh hoa, thải loại cặn bã”, để không sa vào lối tư duy bảo thủ, phục cổ, nệ cổ.

Hai là, gắn kế thừa với đổi mới, bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm nội dung của các giá trị truyền thống dân tộc

Kế thừa là vấn đề mang tính quy luật, phản ánh mối quan hệ tất yếu giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại trong sự vận động, phát triển của mọi sự vật hiện tượng nói chung, của văn hóa, tư tưởng, lý luận nói riêng. Từ quá khứ đến hiện tại và tương lai là một quá trình liên tục; cái mới trong quá trình hình thành, phát triển không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ; mặt khác, kế thừa cũng không đồng nhất với việc phục hồi, duy trì y nguyên cái cũ, cự tuyệt với mọi cái mới theo lối tư duy “bài tân, thủ cựu”. Vì thế, không xa rời nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nhưng cũng cần có cách nhìn các giá trị truyền thống từ hiện đại, vượt lên những gì không còn phù hợp, đồng thời làm giàu nội dung của truyền thống bằng những giá trị mới của xã hội hiện đại.

Kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở nước ta hiện nay đòi hỏi một mặt phải phê phán, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu cùng những biểu hiện phái sinh của nó đang cản trở con đường đi lên của đất nước, đồng thời phải chuyển đổi các giá trị truyền thống thành các giá trị hiện đại, đem lại cho những giá trị ấy sức sống mới và hướng vào giải quyết những nhiệm vụ của đất nước và thời đại đang đặt ra.

Rõ ràng, nội dung của yêu nước và khát vọng về quốc gia độc lập, hùng cường; nhân văn và yêu chuộng hòa bình; đoàn kết và trách nhiệm cộng đồng; cần cù và sáng tạo; trọng dân, vì dân... trong lý luận về đường lối đổi mới phải mang sức sống và hơi thở của thời đại, gắn với nhu cầu của đất nước và nhân dân trong điều kiện hiện nay. Nếu chỉ duy trì nguyên vẹn mà không có sự cải biến, không nâng truyền thống lên tầm thời đại thì nó rất khó có thể thích ứng với hoàn cảnh mới. Sự kế thừa, phát huy phải bao hàm việc tiếp nhận, bổ sung thêm những nội dung vốn không có và không thể có trong quan niệm cũ, làm cho giá trị truyền thống trở thành những nhân tố cấu thành của các giá trị mới trong hệ thống giá trị hiện đại.

Ba là, định hướng xây dựng, hình thành những giá trị mới theo xu thế thời đại, gắn kết với những giá trị toàn cầu, hội nhập quốc tế

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo điều kiện để các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau, giao lưu, tiếp biến văn hóa ngày càng sâu rộng, góp phần làm phong phú thêm truyền thống văn hóa mỗi dân tộc. Song, những mặt trái của nó cũng tác động tiêu cực đến truyền thống, bản sắc văn hóa mỗi quốc gia. Vì vậy, kế thừa, phát huy giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải đấu tranh với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa, trái với truyền thống cao đẹp của dân tộc; chống tư tưởng sùng ngoại, đồng thời tiếp nhận, thẩm thấu những thành tựu văn hóa nhân loại, biến nó từng bước trở thành những yếu tố nội tại của nền văn hóa dân tộc.

Tuy nhiên, đó không phải là sự tùy tiện bỏ cái này, giữ cái kia, lắp ghép, chắp vá một cách chủ quan duy ý chí mà là quá trình tích hợp biện chứng, vừa tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn minh, hiện đại của các dân tộc khác, vừa giữ gìn, bảo vệ những giá trị chân - thiện - mỹ, khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng trong truyền thống dân tộc, với tinh thần “kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại”(16).

Trong sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã phát huy cao độ truyền thống dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, lãnh đạo nhân dân ta làm nên những thắng lợi vĩ đại, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng đã “Huy động các giá trị truyền thống để làm cách mạng và kháng chiến hiện đại, là huy động sức mạnh của hàng mấy mươi thế kỷ, là mấy mươi thế kỷ tổ tiên ông cha cổ vũ và trợ chiến cho con cháu hoàn thành sự nghiệp dân tộc”(17).

Trong giai đoạn hiện nay, cùng với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, việc tiếp tục kế thừa, phát huy giá trị truyền thống dân tộc nghìn năm văn hiến trong xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới là lựa chọn đúng đắn, giúp đất nước ta vững bước trên con đường hội nhập và phát triển.

Nguồn: LLCT

(1) ĐCSVN: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

(2) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu nghiên cứu kết luận Hội nghị lần thứ X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004, tr.56-57.

(3), (17) Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, tr.93, 52.

(4), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.38, 164-165.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Sđd, tr.432.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.501-502.

(8), (16) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.175, 170.

(9), (10), (11), (12), (13), (14), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.156, 162, 164, 110, 173, 192, 103.

 

NHỮNG KẺ SOI MÓI

 

Ông bà ta có câu thành ngữ “bới lông tìm vết” hàm nghĩa chỉ những người có tính soi mói, cố tìm điểm yếu của người khác để phê phán, công kích bằng thái độ và dụng ý xấu.

“Bới lông tìm vết” - thói phê bình vơi tình cạn nghĩa

Nếu nghiêm túc tìm hiểu, thẳng thắn chỉ ra công khai những khuyết điểm nhằm góp ý giúp người khác sửa chữa, tiến bộ thì cần được hoan nghênh, nhưng "bới lông tìm vết" thì lại khác.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số cá nhân chuyên tìm những thiếu sót, sơ hở, vi phạm của cán bộ, đảng viên, công chức, chính quyền, rồi thổi phồng, "xâu chuỗi", đẩy lên thành vấn đề "nóng" với ý đồ xấu.

Những đối tượng này thường có ảnh hưởng nhất định trên mạng xã hội, tự lấy danh nghĩa là đại diện cho dư luận để phán xét. Nhưng kỳ thực, cái gọi là “dư luận” mà chúng vỗ ngực đại diện ấy chỉ là một bộ phận nhỏ người sử dụng mạng xã hội có quan điểm trái chiều, cổ xúy, tung hê cho nhau.

Trước mỗi sự việc thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm trong bộ máy chính quyền, chúng lại "bới lông tìm vết", thậm chí còn theo kiểu "thầy bói xem voi". Khi các cơ quan chức năng đang tiến hành làm rõ sự việc thì những đối tượng này đã tự thêm thắt nhiều thông tin lượm lặt không chính thống, rồi thêu dệt và ra “phán quyết miệng” trên trang mạng xã hội nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ của chúng.

Điều nguy hiểm nhất là chúng lục tìm, tập hợp thông tin có chủ đích, sai sự thật hòng làm thay đổi bản chất vụ việc để từ công kích cá nhân đẩy lên lu loa, phê phán bộ máy công quyền với luận điệu rằng chính quyền tắc trách, sơ hở, bao che cho nhau cùng sai phạm... Từ đây, chúng lợi dụng mạng xã hội và những nhóm người có tư tưởng trái chiều để bẻ lái dư luận, hạ thấp uy tín của cá nhân lãnh đạo và bộ máy chính quyền. Xa hơn, chúng công kích thể chế nhà nước, nói xấu chế độ ta.

Kiểu “bới lông tìm vết” mà các thế lực thù địch, bất mãn thường dùng để chống phá đất nước, chế độ ta là cực kỳ thâm độc, nham hiểm. Mỗi chúng ta cần cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, đấu tranh.

 Theo ĐÔNG A


PHẢN BIỆN VÀ VẠCH MẶT CÁI GỌI LÀ "TỌA ĐÀM KHOA HỌC"!

1. Hội đồng "Nguyễn Phúc tộc" chỉ là một kiểu tập hợp "hội", "nhóm" gia tộc nội bộ, tự phát. "Hội đồng" này không có tư cách pháp nhân để tổ chức cái gọi là "Tọa đàm khoa học". Càng không có tư cách pháp nhân để yêu cầu làm việc với cơ quan này, đơn vị kia. Ở Nhà nước pháp quyền XHCN thì pháp luật thượng tôn, mọi công dân, cá nhân, tổ chức đều bình đẳng. Việt Nam không còn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế, vậy nên các ông đừng đem cái uy "Hoàng tộc" ra mà giễu võ giương oai! Hay là các ông đang có chí nhớn, mơ ước khôi phục chế độ quân chủ tại Việt Nam? Tỉnh lại đi các ông nhé! Nếu có cơ quan nào "lắng nghe", "làm việc" thì họ cũng chỉ "lắng nghe", "làm việc" theo hướng "tiếp công dân", nắm bắt ý kiến Nhân dân mà thôi.

2. Cái gọi là "Tọa đàm khoa học" của "Hội đồng Nguyễn Phúc tộc" có cơ quan nào cấp phép không? Cơ quan nhà nước nào là chủ quản, chịu trách nhiệm pháp lý về cái "tọa đàm" này không? Nếu mà không được cấp phép thì đây chỉ là một cuộc hội họp, tập hợp những tay viết thân quen, nội bộ, "tự sướng", tự sinh hoạt văn thơ với nhau thôi! Nếu vậy thì nói vuông một câu là tổ chức "chui", không được chính quyền, cơ quan chức năng công nhận.

3. Nếu tổ chức "chui" thì cái được gọi là "khoa học" là vô giá trị. Những lập luận hay bằng chứng lịch sử mà các ông này đưa ra chỉ dựa trên sử liệu do triều Nguyễn viết ra - Như vậy thì nói vuông nữa là không thuyết phục, không khoa học. Những kẻ làm trái ý Nguyễn Ánh, có thù với Nguyễn Ánh, viết xấu về Nguyễn Ánh... đều bị vua quan nhà Nguyễn tru di cửu tộc, ném xuống biển hoặc giết hại man rợ hết sạch rồi (trả thù hèn hạ, tàn bạo đối với nhà Tây Sơn, nhân dân yêu nước có cảm tình với Tây Sơn; giết vợ, ném con xuống biển...)

4. Việc yêu sách nhà nước phải thế nọ thế kia, phải rút một di sản văn hóa phi vật thể đã được bao đời Nhân dân lưu truyền, thực hành là việc làm vô pháp, vô thiên, không đủ căn cứ pháp lý. Nghiêm trọng hơn, việc làm này đã chà đạp lên quyền, lợi ích của Nhân dân huyện Côn Đảo nói riêng và Nhân dân cả nước nói chung; xúc phạm anh linh nhân vật mà người dân tôn thờ hàng trăm năm nay. Các người cứ ra Côn Đảo mà tổ chức "tọa đàm" về "vụ bôi nhọ" đi 🤬 nếu Nhân dân ở đây không mời các người "ăn trầu đỏ toe toét mồm" thì anh linh các nhân sỹ yêu nước, anh hùng cách mạng ở đó cũng sẽ không tha cho các ngươi!

5. Những kẻ âm mưu "rửa tội" cho Nguyễn Ánh và triều Nguyễn có thể tự quậy tưng bừng, lồng lộn bày mưu tính kế, lăng xê bằng "báo sạch", các nhà "khoa học", "nhơn sỹ"... nhưng rồi cũng chỉ là sự gào thét vô vọng thôi. Vì rõ ràng bia lịch sử nhân dân vài trăm năm nay vẫn ghi rõ bằng máu về tội bán nước, sự bất tài, hèn mạt và độc ác của Nguyễn Ánh cùng bè lũ vua quan bạc nhược sau này. Càng bới lên thì Nhân dân lại càng căm phẫn, càng có dịp kể tội, lên án, nguyền rủa những kẻ bán nước cầu vinh, quỳ gối trước ngoại bang... càng ô nhục!

6. Điểm mặt, chỉ tên thì quanh quẩn vẫn là những gương mặt thân quen trong làng bị thường xuyên bị dư luận Nhân dân chửi, đó là: thanhnien, tuoitre, danviet... đưa tin và tìm cách rửa mặt, đánh nanh cho những nhân vật lịch sử phản diện, xú danh. Trên maket của cuộc "tọa đàm" này không hề có cụm từ "khoa học" - Như vậy rõ ràng là mấy ông "thợ viết" đã CỐ NHÉT vào, để lập lờ đánh tráo khái niệm, lừa gà... tăng thêm "thanh thế" cho cuộc tọa. Thật lạ, nếu không có thế lực nào yểm trợ, hà hơi... thì một cái "tọa đàm" của hội nhóm gia tộc tự phát có được nhiều "báo nhớn" đưa tin rầm rộ, phình phịch hàng chục bài liền như vậy không? Anh em các "hội nhóm" khác nhìn vào đấy mà học tập nhé! Nhân dân chúng tôi vẫn đang ngày đêm mong chờ các cơ quan chức năng thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.

7. Hãy ngừng ảo vọng đòi đặt tên đường cho Nguyễn Ánh - Gia Long. Mục 2, Chương 2 của Nghị định số 91/2005-CP, ngày 11/7/2005 của Chính phủ "về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường phố, phố và công trình công cộng" đã quy định rõ: "Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì xem xét chưa đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng". Xem lại "Nguyễn Ánh - Gia Long" thì không những "có ý kiến đánh giá khác nhau" mà chính xác hơn là bị Nhân dân, lịch sử phê phán, lên án. Xin nhắc lại mấy câu thơ trong bài "Lịch sử nước ta" của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thay cho lời kết:

"Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài,
Tư mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây,
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi giày mả, thiệt là ngu si"./.







Yêu nước ST.