Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

ĐỪNG QUÊN LỊCH SỬ

 

ĐỪNG QUÊN LỊCH SỬ

Ai có thể quên đi quá khứ?

Quên sao đành lịch sử cha ông!

Khác nào vứt bỏ tổ tông

Làm sao xứng đáng con rồng cháu tiên.

Dù vẫn biết bạc tiền quan trọng

Giữa dòng đời cuộc sống bon chen

Khinh chê nhau bởi chữ hèn

Nhưng quên lịch sử sao rèn tánh tâm.

Ai cho trẻ được cầm cây viết

Hỏi dân nghèo có biết hay chăng

Cớ sao Bộ nọ cho rằng

Mảng sâu lịch sử không bằng sương mai.

Qua tham khảo được vài ý kiến

Ở quán trà câu chuyện vu vơ

Người dân nhiều ít nghi ngờ

Lương tri chúng nó bây giờ ở đâu?

Gì cũng vậy có đầu có cuối

Sử không tường đâu buổi hôm nay

Không đêm ắt chẳng có ngày

Tìm đâu những áng thơ hay để đời.

Dòng cổ tích không người kể lại

Truyền thuyết dần cũng phải chia li.

Ca dao, tục ngữ làm gì?

Dân ca, quan họ ra đi nghẹn ngào.

Hỏi đất nước làm sao phải giữ?

Hãy nghe dòng lịch sử gào than

Từ đâu có nước Việt Nam

Muốn thông phải học sử vàng hiểu chưa.

Để nghe tiếng ngày xưa vọng lại

Để bây giờ lưu mãi đời sau

Sử son không thể úa màu

Đừng quên lịch sử để đau nước nhà! St3547

Vua Gia Long-Nguyễn Ánh! ĐỂ VUA YÊN NGHỈ HAY BỚI LÊN TRUY TỘI?

 

Vua Gia Long-Nguyễn Ánh! ĐỂ VUA YÊN NGHỈ HAY BỚI LÊN TRUY TỘI?

Quả thật tôi không Đọc nhiều về thời, giai đoạn Nguyễn Ánh làm Vua vì lúc còn học đã nghe rằng Nguyến Ánh cõng rắn cắn gà nhà rồi. Tuy nhiên tôi đọc nhiều về "thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ", do đó từ góc nhìn lý luận quân sự tôi thấy:

1, Công lớn của Nguyễn Ánh là nguyên nhân ghi danh vào sử sách trận "Rạch Gầm - Xoài Mút", đặc biệt, khiến cho "người Xiêm mà nghe đến Tây Sơn (người Việt) là sợ như sợ cọp" (Hoàng lê thống nhất chí".

2, Việc dành ngôi Vua thì giết cả cha mình người ta cũng làm, cho nên việc Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm, quân Pháp cũng không có gì là lạ, tuy nhiên, phải khẳng định đó là hành động "cõng rắn cắn gà nhà" như đã truyền tụng trong dân gian là đúng hoàn toàn, cấm cãi.

3, Có cái lão "sử học" nào đó muốn đề nghị cả nước vinh danh Nguyễn Ánh (dòng họ của nhà "sử học"). OK! Vậy thì lão hãy giải quyết các mâu thuẫn sau đây:

*** Phủ nhận trận Rạch Gầm-Xoài Mút là một chiến công hiển hách chống quân xâm lược của dân tộc Việt Nam (cả trăm họ chiến đấu ngoại trừ gia tộc họ Nguyễn Ánh)...

*** Công nhận Pháp lã "Mẫu quốc" là quốc gia đi "khai phá văn minh cho dân tộc Việt gần một thế kỷ" (đến 1975, dân tộc Việt đổ không biết bao xương máu mới đuổi được 2 nên "văn minh" ấy đi). Bở vì sau khi Pháp "mượn đường để xâm lược nhà Thanh" thì thấy con gái tộc Nguyễn Ánh đẹp quá nên ngủ lại gần 100 năm...tất cả đều liên can đến dòng tộc Nguyễn Ánh cả.

*** Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ là kẻ thù không đội trời chung, trong khi đó, Nguyễn Huệ, toàn bộ dân tộc Việt, từ cổ chí kim đều coi là người anh hùng dân tộc, áo vải cờ đào chống quân xâm lược; là niềm từ hào của giới quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam, là vị tướng bách chiến bách thắng trong lịch sử quân sự NHÂN LOẠI.

Nguyễn Huệ và Nguyên Ánh như 2 thái cực, nếu phủ nhận người này là công nhận người kia. Vây ông (nhà sử học kia) định dìm cái người mà cả trăm họ (dân tộc Việt) tôn sùng, ghi nhớ để đưa tộc của ông làm Vua lại ư?

Nói thì nói vậy thôi chứ không ai đào mồ tiên tổ để trách cứ, vì đó là lịch sử. Không có Nguyễn Ánh thì không có Rạch Gầm-Xoài Mút; có Nguyễn Huệ, hay Nguyên Huệ sống thọ hơn thì không bao giờ Pháp đặt chân nổi lên Đà Nẵng 1858 và cũng không xuất hiện Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh.

Người ta nói: "Nếu bắn vào lịch sử một viên đạn thì lịch sử sẽ đáp trả lại một phát đại bác" lại rất đúng với con cháu dòng họ nhà Nguyễn Ánh. Đừng thấy đám lật sử nổi lên như nấm vừa qua mà tưởng dễ rồi a dua lật lại sử, gia phả dòng họ. Hãy để các bậc tiên tổ yên nghỉ và lên thiên đường hay địa ngục theo công tội của mình. Trăm họ dân Việt thờ ai, suy tôn ai không phải là chuyện chơi, không phải là từ những kẻ dở hơi đề nghị, quảng bá....st3547

 

QUYẾT LIỆT CHỐNG “CHẠY THÀNH TÍCH” VÀ “THỔI PHỒNG THÀNH TÍCH”

 

QUYẾT LIỆT CHỐNG “CHẠY THÀNH TÍCH” VÀ “THỔI PHỒNG THÀNH TÍCH”

Trong 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chỉ ra, có hai lần từ “thành tích” được nhắc đến.

Đó là “chạy thành tích” và “thổi phồng thành tích”. Đây là mặt trái, cũng là biểu hiện của căn bệnh thành tích, nếu không sớm được phát hiện, ngăn chặn, triệt tiêu sớm sẽ làm ảnh hưởng xấu đến truyền thống, uy tín của quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

Thành tích là kết quả được đánh giá tốt do nỗ lực mà đạt được. Do vậy, trong các phong trào thi đua cách mạng, thành tích là biểu hiện sinh động nhất của kết quả lao động, tinh thần dũng cảm chiến đấu, học tập chăm chỉ, công tác chuyên cần của một người hay một tập thể. Nên ai cũng quý thành tích là vậy!

Gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn phấn đấu không ngừng để đạt nhiều thành tích trên cả 3 chức năng của quân đội (đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất), góp phần bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc, chung tay vì sự bình yên của nhân dân, tạo ra nhiều của cải, vật chất làm giàu cho đất nước.

Phấn đấu để có thành tích không phải đơn giản, dễ dàng, mà phải bỏ ra nhiều tâm sức, trí tuệ, vượt nhiều gian khổ, khó khăn. Phấn đấu để ngày càng có thêm thành tích, cống hiến nhiều hơn cho cách mạng là yêu cầu của Đảng, của toàn dân, toàn quân đối với mỗi chúng ta, là thước đo đạo đức tài năng của mỗi cán bộ, đảng viên.

Đất nước ta sau hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Để đạt được mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần phát huy hơn nữa tinh thần cách mạng, khắc phục thái độ làm việc cầm chừng, dũng cảm vượt qua mọi gian khổ, khó khăn, lập nhiều thành tích xuất sắc.

Tất cả mọi người, mọi cơ quan, đơn vị, địa phương đâu đâu cũng đều cố gắng thi đua lập thành tích thì sự nghiệp cách mạng, dù khó khăn, gian khổ đến mấy, cũng sẽ thắng lợi vẻ vang. Cho nên, chúng ta hết sức quý mến, cảm phục trước những con người, tập thể đã lập nên nhiều thành tích cho cách mạng, cho đất nước.

Đó là những tấm gương sáng để mọi người học tập và noi theo. Đảng, Nhà nước và các cấp, ngành, địa phương luôn quan tâm, khuyến khích động viên mọi người gắng sức để có nhiều thành tích. Những cá nhân và tập thể lập nhiều thành tích được biểu dương, khen thưởng bằng nhiều hình thức khác nhau; những cán bộ có nhiều thành tích được cất nhắc, đề bạt. Đó là sự ghi nhận cần thiết.

Có thể khẳng định: Thời gian qua, nhiều tập thể, cá nhân nhận thức đúng vấn đề thành tích và luôn ra sức phấn đấu để ngày càng có thêm nhiều thành tích với động cơ trong sáng, vô tư, đóng góp ngày càng nhiều vào sự nghiệp chung của cách mạng.

Tuy nhiên, cũng có một số cá nhân, đơn vị không có hoặc chưa có nhận thức và hành động đúng đắn trong vấn đề này. Biểu hiện là: Một số người, một số đơn vị khi đã có ít nhiều thành tích rồi thì sinh ra kiêu ngạo, tự mãn, ngủ quên trên “vòng nguyệt quế”, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên.

Tất nhiên, ai trong mỗi chúng ta đều có quyền tự hào với thành tích mình nỗ lực đạt được nhưng phải luôn giữ cho mình đức tính khiêm tốn, luôn xác định kết quả đạt được hôm nay chỉ là thành quả bước đầu trong cả quá trình phấn đấu lâu dài. Nếu ai cũng bằng lòng với thành tích đạt được hôm nay, không tiếp tục tự học tập, rèn luyện, vươn lên gặt hái những thành công tiếp theo thì sự nghiệp cách mạng sẽ chững lại, các phong trào thi đua thiếu đi động lực mới, quyết tâm mới.

Một số khác do mang nặng chủ nghĩa cá nhân mà mắc bệnh thành tích. Họ làm việc gì cũng chỉ vì thành tích, lúc nào cũng nghĩ đến thành tích. Vì mắc bệnh thành tích mà họ sẵn sàng làm gian dối; họ thích được ca ngợi, thích được khen thưởng, “thổi phồng thành tích” và thù ghét những ai “vạch mặt, chỉ tên” những hạn chế, khuyết điểm của mình.

Ở mức độ nghiêm trọng hơn, những người mắc bệnh thành tích còn “chạy thành tích” và "nặn ra thành tích" bằng cách lo lót cho một số cán bộ có chức quyền, báo cáo gian dối, xuyên tạc kết quả. Khi không lo lót được thì họ dùng những mánh khóe để đánh lừa cấp trên và dư luận...

Có thể nói, bệnh thành tích đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều cơ quan, đơn vị, hệ lụy dẫn đến là những báo cáo không trung thực, bao che khuyết điểm, thổi phồng thành tích. Căn bệnh này cần những “phương thuốc hữu hiệu” để chữa trị kịp thời, nếu không sẽ làm ảnh hưởng đến mặt tích cực của thành tích trong các phong trào thi đua cách mạng.

Để chữa căn bệnh này, trước hết mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng động cơ thi đua đúng đắn trong mỗi cán bộ, đảng viên. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Phải làm cho nhân dân, cán bộ, chiến sĩ hiểu được lợi ích của thi đua trên là vì nước, dưới là vì nhà, một là ích nước, hai là lợi dân.

Xác định động cơ đúng đắn thi đua vì lợi ích chung giúp mỗi cán bộ, đảng viên biết tự thanh lọc tâm hồn; nâng cao ý thức trách nhiệm, phòng ngừa những biểu hiện của bệnh thành tích; đồng thời, nỗ lực phấn đấu, cống hiến bằng chính năng lực của bản thân.

Mỗi cơ quan, đơn vị cần căn cứ vào điều kiện thực tế của mình, từ đó đăng ký các nội dung, phong trào, chỉ tiêu thi đua phù hợp. Tránh tình trạng phô trương, hình thức, dẫn tới chạy thành tích; đánh giá, khen thưởng không đúng người, đúng việc, đúng thành tích, gây ra những phản ứng ngược trong thi đua.

Chú trọng phát huy vai trò giám sát, đánh giá của các tổ chức quần chúng, đoàn thể trong thi đua. Đây được xem là biện pháp rất quan trọng để chữa trị bệnh thành tích. Bởi quần chúng vừa là người có “trăm tay, nghìn mắt”, vừa là người thực hành, giám sát những việc làm của cán bộ. Họ hiểu rõ hơn ai hết cán bộ nào có tài đức, vì lợi ích chung; cán bộ nào chỉ “sính” thành tích mà làm ẩu nhưng báo cáo hay.

Chú trọng phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt là người đứng đầu trong việc công tâm, khách quan trong đánh giá, nhận xét thành tích các tập thể, cá nhân trong các phong trào thi đua. Trên thực tế, ở đâu người đứng đầu giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ kỷ cương, kỷ luật; luôn đặt lợi ích tập thể lên trên hết thì sẽ chữa trị bệnh thành tích trong đơn vị một cách hiệu quả nhất.

Ngoài những giải pháp trên, để bệnh thành tích được ngăn chặn thì rất cần tới sự trong sáng, khách quan của các cơ quan chức năng trong xem xét, đánh giá để quyết định khen thưởng đúng người, đúng việc. Trong đó, các cơ quan chức năng cần thay đổi phương pháp đánh giá mang tính định lượng nhiều hơn thay cho định tính, theo từng tháng thi đua; có điểm “cộng” và “trừ” rõ ràng để tránh tình trạng những cơ quan, đơn vị làm nhiều nhưng chỉ vì một sơ suất nhỏ (chủ yếu do nguyên nhân khách quan) thì lại bị “trừ” hết thi đua.

Mặt khác, cần sự nghiêm minh và kiên quyết trong công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát; kịp thời loại khỏi đội ngũ số cán bộ, đảng viên mắc sai phạm trầm trọng bởi bệnh thành tích, góp phần ngăn ngừa và đẩy lùi tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nhận thức đúng đắn về thành tích để nỗ lực hơn nữa vì lợi ích chung, vì sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đồng thời triệt tiêu những mặt trái của bệnh thành tích, để cán bộ, chiến sĩ toàn quân tiếp tục giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp, danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội.

Qua đó, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội, các cấp ủy, tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; quân đội vững mạnh về chính trị; cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng quân đội hiện đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.st3547

 

NGƯỜI KẾ THỪA VĨ ĐẠI

 

NGƯỜI KẾ THỪA VĨ ĐẠI

Bác là ai?

Người kế thừa vĩ đại

Theo gót Bác Hồ sáng mãi trong tâm

Bao tháng ngày bác vì nước âm thầm

Lo việc nước đối đầu quân tham nhũng.

Bác là ai?

Đi sâu lòng dân chúng

Gốc là dân để xây dựng cơ đồ

Cùng toàn dân chống lại bọn tham ô

Giữ đất nước yên bình trong cuộc sống.

Bác là ai?

Đức nhân cao lồng lộng

Không bạc vàng nào mua nổi lương tâm

Chỉ vì dân, vì nước một lòng

Mong nước Việt nay mai thành cường quốc.

Bác là ai?

Người vì dân, vì nước

Cả một đời hiến trọn tuổi xuân

Đến hôm nay viên ngọc sáng trong ngần

Không vết nứt, không vết mờ khói ám.

Bác là ai?

Người lo dân dịch bệnh

Người đứng đầu lãnh đạo chống Cô vy

Từ việc to đến việc nhỏ thiếu gì?

Bác sáng suốt người điều hành đất nước.

Bác là ai?

Người bao năm về trước

“Cho việc tham ô là giặc nội xâm”

Dù tuổi cao nhưng bác vẫn âm thầm

Nhóm bếp lò để thiêu loài sâu bệnh.

Bác là ai?

Người đã ra mệnh lệnh

Chống tham ô “nếu sợ hãi tránh bên”

Đừng cản đường đất nước tiến lên

Lái con thuyền Việt Nam ra biển lớn.

Bác là một Bao Công thời hiện đại

Bác là người không sợ hãi cường quyền

Bác đã cho tham ô lũ đảo điên

Co rúm lại khi ôm tiền cướp được.

Cho cái bọn luôn tiêu tiền như nước

Những đồng tiền bẩn thỉu tham ô

Những đồng tiền ban phát biếu cho

Bây giờ đây sống run trong sợ hãi.

Cho cái bọn sống lá mặt lá trái

Sống nhóm đàn để vơ vét tiền dân

Sống trên tiền chia chác nhận phần

Giờ hối hận lo cuộc đời bóc lịch.

Bác với bọn tham ô là đối nghịch

Là Bao Công phân biệt rõ trắng đen

Cho vào lò những kẻ đê hèn

Cho Việt Nam sạch bọn sâu phá hoại.

Bác tiếp nối Hồ Chí Minh vĩ đại

Bác Trọng ơi! Chính là bác, bác ơi

Bác Trọng là viên ngọc sáng ngời

Người kế thừa Hồ Chí Minh vĩ đại. st3547

 

Tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

 - Đại hội XIII của Đảng định hướng rõ ràng việc đổi mới từng chức năng, từng loại công việc cụ thể của Quốc hội. Đó là: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao”(1).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu Quốc hội tại phiên bế mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV _Ảnh: TTXVN

Đặc điểm tổ chức bộ máy của Quốc hội

Tổ chức bộ máy của Quốc hội có cấu trúc gọn nhẹ, dễ vận hành (vận hành linh hoạt) và có đủ sức mạnh thì mới bảo đảm nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Quốc hội thuộc nhánh quyền lực lập pháp có tổ chức bộ máy khác xa với hai nhánh quyền lực khác là hành pháp và tư pháp. Trong khi nhánh quyền lực hành pháp có cơ cấu tổ chức mang tính chất “chuyên môn hóa cao”, ngoài Chính phủ, còn có nhiều cơ quan khác (bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ) có tính độc lập tương đối (có trụ sở riêng, nghị định hoạt động riêng...) theo từng lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực và có hệ thống theo chiều dọc từ Trung ương xuống tới địa phương; thì lập pháp chỉ có một cơ quan duy nhất, đó là Quốc hội, không có hệ thống dọc, nhưng phạm vi hoạt động là toàn bộ hoạt động của một xã hội.

Do phạm vi hoạt động của Quốc hội là toàn bộ hoạt động của một xã hội nên trong cấu trúc tổ chức bộ máy của Quốc hội được tổ chức theo dạng “cơ quan trong cơ quan”, nghĩa là có nhiều cơ quan trong một cơ quan - Quốc hội. Các cơ quan trong Quốc hội dù nhân lực ít (trên dưới 40 người) nhưng vị trí tương đương như các bộ, cơ quan ngang bộ bên hành pháp. Các cơ quan này được phân công hoạt động ở những lĩnh vực nhất định. Nhân sự (cán bộ, công chức, người lao động) thuộc các bộ, ngành bên hành pháp thường ổn định, lâu dài như một dòng chảy của thời gian, trừ người đứng đầu có thể thay đổi theo nhiệm kỳ; thì nhân sự của Quốc hội (đại biểu Quốc hội) cứ 5 năm thay đổi một lần, kể cả người đứng đầu. Trong đó có người làm việc với toàn bộ thời gian cho Quốc hội, nhưng cũng có người chỉ làm việc khoảng một phần ba thời gian (2/3 thời gian còn lại có thể làm việc ở cơ quan hành pháp, tư pháp hoặc ở các cơ quan chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, ở doanh nghiệp, hợp tác xã...).

Từ các đặc điểm trên, bộ máy làm việc của Quốc hội cũng cứ 5 năm được tổ chức lại một lần và làm việc theo cơ chế mà Luật Tổ chức Quốc hội quy định, đó là: “Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số” (Khoản 1, Điều 3 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020). Quốc hội khóa XV đã được tổ chức và kiện toàn, đủ khả năng, năng lực để kế thừa, phát huy và tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nhằm nâng chất lượng hoạt động của Quốc hội lên một tầm cao mới.

Thực trạng và phương hướng đổi mới tổ chức bộ máy của Quốc hội

Có thể nói, Quốc hội là cơ quan tiên phong trong việc tổ chức bộ máy tinh gọn theo phương châm: Bộ máy giản lược, nhân lực tối thiểu, hiệu quả công việc tối đa. Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020, thì Quốc hội có một số chức danh: Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH); Chủ tịch Hội đồng Dân tộc (HĐDT); Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội. Trong bộ máy nhà nước, các chức danh này được khẳng định và có thang lương và mức lương khác nhau. Vị thế của Ủy viên UBTVQH cao hơn Chủ tịch HĐDT và Chủ nhiệm các Ủy ban. Tuy nhiên từ Quốc hội khóa IX đến nay, các thành viên UBTVQH kiêm luôn Chủ tịch Hội đồng, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội. Từ khóa XI đến nay, Ủy viên UBTVQH kiêm luôn Trưởng Ban Công tác đại biểu và Trưởng Ban Dân nguyện. Như hiện nay là đã giảm bớt được 11 nhân sự cấp cao (tương đương bộ trưởng), tính ra lương, phụ cấp và các chế độ khác hằng năm đã tiết kiệm được rất lớn.

Trên thế giới có 3 mô hình tổ chức số lượng các cơ quan của Quốc hội (nghị viện). Khá nhiều nghị viện các nước có số ủy ban thường trực tương đương với số bộ của chính phủ; một số nghị viện có số ủy ban thường trực nhiều hơn số bộ; và nghị viện một số nước có số ủy ban thường trực ít hơn số bộ của chính phủ. Lẽ đương nhiên hai mô hình trên có ưu thế hơn, nhất là trong hoạt động giám sát. Ở nước ta, qua các khóa, Quốc hội được tổ chức theo mô hình thứ ba, số ủy ban thường trực của Quốc hội chỉ bằng trên dưới 30% số bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ (chưa tính các cơ quan thuộc Chính phủ). Khóa XIV, trong Quốc hội có 10 cơ quan thường trực, nhiều nhất so với nhiều khóa trước đây, nhưng cũng chỉ bằng 40% số bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ. Tuy nhiên, do chất lượng bộ máy, chất lượng nhân lực được nâng lên, do điều hành, phối hợp chặt chẽ và nhiều yếu tố đổi mới khác mà kết quả hoạt động của Quốc hội khóa XIV đã được đánh giá là “xuất sắc”.

Có thể nói bộ máy và hoạt động của Quốc hội luôn được tổ chức hợp lý, gọn nhẹ và hiệu quả. Nhưng, tất nhiên, theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, phải: “Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập, pháp, hành pháp, tư pháp”(2) và theo yêu cầu của thực tiễn thì còn phải đổi mới hơn nữa. Do sử dụng mô hình thứ ba (nói trên) nên 10 cơ quan của Quốc hội đối ứng với 22 bộ, cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ thì phạm vi hoạt động của mỗi cơ quan Quốc hội rất rộng, rất khó có thể bao quát hết, nhất là trong hoạt động giám sát. Mặt khác, trong 10 cơ quan của Quốc hội lại được tổ chức theo các mô hình khác nhau nên vẫn còn tình trạng chồng chéo công việc, nhưng lại có việc còn bỏ ngỏ. Và cứ 5 năm thay đổi nhân sự “toàn diện” một lần nên tổ chức công tác có khó khăn, nhất là sự kế thừa thành quả của các nhiệm kỳ trước. Từ đó rất cần thiết phải thực thi một số giải pháp sau đây.

Thứ nhấtphát huy hiệu lực của các tiểu ban.

Đối với Quốc hội, muốn thành lập tổ chức mới thì phải sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội. Trong điều kiện chưa thể thành lập thêm tổ chức (Ủy ban) thì phải phát huy cao độ nội lực của HĐDT và các Ủy ban đã có mà Luật cho phép. Đó là: “Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các tiểu ban để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng, Ủy ban. Trưởng tiểu ban phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban, các thành viên khác có thể không phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban hoặc không phải là đại biểu Quốc hội” (Khoản 4, Điều 67, Luật Tổ chức Quốc hội). Như vậy, một đại biểu có thể tham gia nhiều tiểu ban, hoặc là thành viên tiểu ban của HĐDT hoặc là thành viên tiểu ban của các Ủy ban khác (vì trong Quốc hội có một số đại biểu “đa năng” giỏi cả hai, ba chuyên môn nghiệp vụ). Mặt khác, trong điều kiện không thể tăng biên chế thì Hội đồng, Ủy ban có thể sử dụng nhiều chuyên gia giỏi mà không phải là đại biểu Quốc hội. Đây cũng là xu thế mà nhiều nghị viện trên thế giới đã và đang thực hiện có hiệu quả cao. Tổ chức làm việc theo cách này được gọi là tổ chức theo “mô hình báo chí”. Mỗi tòa soạn báo, tạp chí chỉ có một số phóng viên, biên tập viên nhất định, nhưng cái tài, cái giỏi của mỗi tòa soạn là khả năng thu hút được một đội ngũ đông đảo cộng tác viên có chất lượng cao.

Thứ hai, tiếp tục điều chỉnh lại nhiệm vụ giữa các cơ quan của Quốc hội.

Quốc hội có 10 cơ quan, nhưng được tổ chức theo 3 mô hình khác nhau; trong đó, 8 Ủy ban được tổ chức theo lĩnh vực (Pháp luật; Tư pháp; Kinh tế; Tài chính và Ngân sách; Quốc phòng và An ninh; Các vấn đề xã hội; Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Đối ngoại). Một Ủy ban được tổ chức theo lĩnh vực kết hợp với đối tượng, đó là Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (văn hóa, giáo dục là lĩnh vực; thanh niên, thiếu niên và nhi đồng là đối tượng). Riêng HĐDT được tổ chức theo mô hình vừa là lĩnh vực, vừa là đối tượng, vừa là địa bàn (dân tộc là đối tượng, cũng là lĩnh vực; các dân tộc sinh sống trên các địa bàn khác nhau). Sự kết hợp giữa lĩnh vực, đối tượng và địa bàn dẫn đến có những việc trùng lắp, ai làm cũng được, không làm cũng không sao. Ví dụ, giám sát trẻ em nghiện hút thuốc phiện ở vùng núi phía Bắc, thì HĐDT, Ủy ban về các vấn đề xã hội hay Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, cả 3 cơ quan thực hiện đều đúng chức năng, nhiệm vụ. Hay các vấn đề kinh tế - xã hội trên địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa (mà HĐDT có trách nhiệm) thì cũng nằm trong các vấn đề kinh tế - xã hội của cả đất nước. Chính vì thế mà khi thực thi nhiệm vụ đôi khi xảy ra những vướng mắc nhất định. Việc định ra tiêu chí để quy định rạch ròi, tách bạch, “cưa đứt, đục suốt” cũng không dễ. Vì vậy, UBTVQH cần có văn bản phân công, điều chỉnh, có tính chất quy ước để mỗi cơ quan biết giới hạn, biết “đường biên” mà thực hiện. Như ở ví dụ trên (trẻ em là người các dân tộc thiểu số) thì nên quy định cho HĐDT chủ trì thực hiện, có sự tham gia của hai ủy ban liên quan. Nói một cách tổng quát là: Những loại việc hoàn toàn đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi đơn vị thì các đơn vị chủ động thực hiện; những loại công việc có các “mảng giao thoa” với một số đơn vị khác thì mảng giao thoa lớn nhất nghiêng về đơn vị nào thì giao cho đơn vị đó chủ trì thực hiện; các đơn vị khác phối hợp.

Thứ ba, tối ưu hóa việc sắp xếp các đại biểu vào các cơ quan của Quốc hội.

Việc sắp xếp các đại biểu vào HĐDT và các Ủy ban trong nhiều khóa nay chủ yếu theo yêu cầu của đại biểu, trên cơ sở chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với Hội đồng hoặc Ủy ban và có xu hướng ngày càng tăng số đại biểu tham gia. Khóa XI có 295/498 tổng số đại biểu là thành viên Hội đồng và các Ủy ban, bằng 59,24%; tương tự như vậy, khóa XII có 359/493, bằng 72,81%; khóa XIII: 390/500, bằng 78,00%, khóa XIV: 433/494, bằng 87,65% và khóa XV có 450/499, bằng 90,18%. Tuy có sự điều chỉnh một số trường hợp cho cân đối về số lượng giữa các Ủy ban, nhưng về chất lượng hoạt động cũng chưa tăng được bao nhiêu (vì không ít đại biểu đăng ký tham gia Hội đồng, Ủy ban thường tính toán kỹ về lợi ích, thậm chí không đúng chuyên môn, nghiệp vụ nhưng chắc chắn có lợi ích thì cũng tham gia). Từ nhiệm kỳ này, nên đặt ra một số tiêu chí có tính nguyên tắc để cơ cấu đại biểu vào Hội đồng, Ủy ban. Đại biểu tham gia Hội đồng, Ủy ban phải nhằm mục tiêu tối thượng là có đóng góp thiết thực, làm cho chất lượng hoạt động của Hội đồng, Ủy ban được nâng lên. Các tiêu chí đó gồm: Một là, ưu tiên đại biểu tái cử của Hội đồng, Ủy ban, nhất là đại biểu đã hoạt động chuyên trách. Hai là, có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp (tính đến cả chuyên môn hẹp, Hội đồng, Ủy ban đều cần các đại biểu có chuyên môn luật, nhưng phải là lĩnh vực luật mà Hội đồng, Ủy ban cần). Ba là, về số lượng chỉ nên vừa đủ đáp ứng chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng, Ủy ban, “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, khoảng 30 - 35 thành viên có chất lượng cao là được (tiêu chí này nhằm bảo đảm nguyên tắc phải có 2/3 số thành viên trở lên dự phiên họp thì các biểu quyết của Hội đồng, Ủy ban mới có giá trị).

Tổ chức bộ máy gọn nhẹ, các thành viên trong bộ máy làm việc tận tâm, “đều tay” cộng với việc điều hành nhạy bén, thanh thoát, nhất định sẽ góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ gặp mặt nhóm đại biểu Quốc hội trẻ khoá XV _Ảnh: TTXVN

Dân chủ hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(3). Tại Đại hội XIII của Đảng, một trong những điểm mới được Đại hội quyết nghị về dân chủ, đó là: “Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân”(4).

Thực thi dân chủ trong hoạt động của Quốc hội

Trong toàn xã hội nói chung, trong hoạt động của Quốc hội nói riêng, dân chủ đã được Quốc hội thể chế hóa, pháp luật hóa ngay từ khi Quốc hội mới ra đời. Một trong ba nguyên tắc của Hiến pháp năm 1946 là “đảm bảo các quyền tự do dân chủ” và ngay Điều thứ nhất của Hiến pháp năm 1946 đã quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa”. Ngay trong cả kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I nói chung và trong thảo luận thông qua Hiến pháp nói riêng, quyền dân chủ đã được bảo đảm và phát huy mạnh mẽ. Đến ngày nay thì quyền đó càng được bảo đảm và phát huy lên những tầm cao mới.

Ngày 2-11-1946, Quốc hội khóa I bắt đầu thảo luận để thông qua Hiến pháp. Qua nhiều phiên thảo luận, có nhiều ý kiến khác nhau trong cùng một vấn đề, nhưng qua tranh luận dân chủ, sôi nổi, thẳng thắn, rồi đi đến hoàn thiện từng điều, từng chương của dự thảo Hiến pháp, đến ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp với tỷ lệ gần như tuyệt đối là 240/242 đại biểu có mặt tán thành(5)

Ngày nay, trong hoạt động của Quốc hội, tính chất dân chủ ngày càng được phát huy mạnh mẽ, cao độ. Trong thảo luận xây dựng luật, trong hoạt động giám sát tối cao và trong việc quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, tất cả các ý kiến khác nhau (thậm chí trái chiều) đều được trình bày công khai, minh bạch trước Quốc hội. Khi thảo luận, giữa các đại biểu có sự tranh luận và tranh luận lại làm cho nghị trường sôi động, nóng lên. Từ những ý kiến với các góc nhìn khác nhau mà tiếp cận vấn đề toàn diện, sát với thực tiễn, tìm ra được phương án tối ưu cho mỗi vấn đề được thảo luận. Chính vì vậy mà dân chủ trong hoạt động của Quốc hội mang ý nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Quốc hội thảo luận tự do, dân chủ nhưng phải tuân thủ Quy chế làm việc của Quốc hội, tuân theo Nội quy kỳ họp và theo sự điều hành của chủ tọa. Bởi vậy mà dân chủ được gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, “phép nước”.

Chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội

Chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố cơ bản: Thứ nhất, đại biểu chuyên nghiệp (hoạt động chuyên trách); thứ hai, công việc của Quốc hội phải mang đầy đủ tính chất chuyên môn, nghiệp vụ chuyên lĩnh vực; trong đó yếu tố thứ hai đã được hiến định: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Hiến pháp năm 2013, Điều 69). Tuy nhiên, hiện nay chưa phải tất cả các ĐBQH đã dành toàn bộ thời gian thực hiện đầy đủ công việc của Quốc hội. Bởi vậy, mức độ chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội phần lớn phụ thuộc vào tổ chức bộ máy của Quốc hội và số lượng cùng chất lượng của đại biểu hoạt động chuyên trách. Số đại biểu hoạt động kiêm nhiệm với thời gian chủ yếu (2/3) làm việc cho cơ quan, đơn vị, tổ chức của họ, hưởng lương, thành quả lao động tại đó thì lẽ thông thường phải dành công sức xứng đáng cho nơi đó.

Sở dĩ các khóa Quốc hội nước ta khi bước sang thế kỷ XXI đến nay ngày càng hoạt động có chất lượng, trong các nguyên nhân, có nguyên nhân quan trọng là số lượng và tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách (gồm cả ở Trung ương và địa phương đầu mỗi nhiệm kỳ) tăng lên liên tục: Khóa XI có 119 đại biểu chuyên trách (chiếm 23,90% so với tổng số đại biểu); tương tự như vậy, khóa XII có 144 đại biểu chuyên trách (29,21%); khóa XIII có 155 đại biểu chuyên trách (31,00%); khóa XIV có 167 đại biểu chuyên trách (33,80%). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, phải: “Bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách”(6). Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, số lượng đại biểu cơ cấu hoạt động chuyên trách trúng cử là 193 người (ở Trung ương là 126 người, ở địa phương là 67 người), chiếm 38,68% so với tổng số ĐBQH, xấp xỉ đạt 40% theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội. Các đại biểu hoạt động chuyên trách đều là những người đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết: Có năng lực, trình độ và phẩm chất chính trị, được rèn luyện qua thử thách, thực tiễn công tác. Đội ngũ đại biểu chuyên trách sẽ đóng vai trò làm nòng cốt trong các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đoàn ĐBQH ở địa phương.

Các đại biểu Quốc hội trao đổi bên hành lang Quốc hội _Ảnh: TTXVN

Để thực hiện đúng đắn sự chỉ đạo đó đối với đại biểu hoạt động chuyên trách thì trong tổ chức cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tuyệt đại bộ phận số đại biểu này nên là đại biểu tái cử, nhất là những đại biểu đã từng hoạt động chuyên trách. Tiếp đó là những đại biểu đã làm việc lâu năm trong các cơ quan phục vụ Quốc hội. Bởi vì, hai loại đại biểu này đã nắm được (đã thông thạo) quy trình, thủ tục làm việc của Quốc hội; đã “thiết kế” được mối quan hệ công tác trong và ngoài Quốc hội, có nhiều kinh nghiệm (có năng lực chuyên môn, có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, thương lượng, nắm chắc nhiều vấn đề...), nên bắt tay vào việc đầu nhiệm kỳ là thao tác được ngay.

Hai là, nếu là đại biểu chuyên trách mới, thì nên chọn những đại biểu biết nhiều chuyên môn, nghiệp vụ, những người có bề dày kiến thức, đã từng kinh qua công tác quản lý, lãnh đạo; những người đã từng làm công tác phân tích, tổng hợp, xây dựng chính sách, nhất là ở tầm vĩ mô.

Ba là, đã là đại biểu hoạt động chuyên trách thì phải làm được ít nhất hai nhiệm kỳ. Do đó, phải cơ cấu độ tuổi cho tương thích. Sở dĩ phải có bước đi hợp lý vì phải tính toán cả “đầu vào” và “đầu ra”. Một trong những đặc điểm của ĐBQH thuộc biên chế Nhà nước là, tuổi “đầu ra” đúng như tuổi của cán bộ, công chức các cơ quan hành pháp và tư pháp. Kinh nghiệm các nhiệm kỳ qua vừa cho thấy, không ít ĐBQH khi kết thúc nhiệm kỳ thì rơi vào tình trạng khó bố trí công việc, hưu trí thì chưa tới, làm ĐBQH tiếp thì ngoài khung tuổi của nhiệm kỳ mới đã được quy định, việc “gá lắp” công việc tiếp theo đôi khi là tạm chấp nhận vậy. Đây cũng là một loại vấn đề (một loại chính sách) mà Quốc hội cần sớm nghiên cứu, ban hành và thực thi.

Nhân đây xin được bàn thêm:

Thứ nhất, khi đã lựa chọn kỹ càng đại biểu hoạt động chuyên trách, trong đó có “tiêu chí” là nguồn nhân lực chất lượng cao thì nên tận dụng tối đa “chất xám” (năng lực, trình độ, trí tuệ, bản lĩnh, phẩm chất đạo đức) của họ. Theo tuổi nghỉ hưu, nếu còn một năm trở lên thì nên để họ được ứng cử, tái cử, tương đương như giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ có thể được làm việc tiếp một số năm so với tuổi nghỉ hưu hiện hành.

Thứ hai, nghiên cứu để thực hiện sớm chính sách tiền lương đối với ĐBQH hoạt động chuyên trách, theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đó là: “Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn... với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả”(7).

Có thể nói, dân chủ hóa và chuyên nghiệp hóa vừa là mục tiêu, vừa là phương châm, lại vừa là động lực của đổi mới và phát triển. Quốc hội khóa XV và các khóa tiếp theo chắc chắn sẽ phát huy cao độ hơn nữa theo tư tưởng chỉ đạo tại Đại hội XIII của Đảng để nâng chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội lên những tầm cao mới./.

------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 175
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 174 - 175
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 84 - 85
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 174
(5) Xem: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 102 - 105
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 176
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 149

ĐỪNG ĐỂ MẤT NIỀM TIN CỦA NGƯỜI DÂN!

         Vua Gia Long hay có tên khác Nguyễn Ánh cống rắn cắn gà nhà nó chết cách đây 200 năm nhưng ai là người muốn dựng nó lên ai muốn rửa tội cho tên bán nước cầu vinh bọn chúng không thể một tay che trời.
Bọn lật sử rõ như ban ngày đã lên đến QH đã lên đến Thủ tướng . Ai đã chống lưng cho bọn chúng đưa ra mà xử còn Nguyễn ánh thì sử sách đã ghi lại muôn đời như thế cần gì phải xem xét.
Đừng để mất niềm tin của người dân./.




Môi trường ST.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG”

 


          Các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên mọi lĩnh vực; trong đó, có lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Gần đây, nhân sự kiện chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga đang diễn ra ở Ukraine, chúng tìm mọi cách lại xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam.

          Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ về bản chất chính sách quốc phòng nước ta. Với nhan đề “Nga thiếu may mắn vì Ukraine không chọn “chính sách 4 không” của Trân Văn đăng trên Tiếng Dân News, ngày 04/3/2022... Họ đã viết: “Nếu Ukraine xác lập chính sách quốc phòng “ba không”: “Không tham gia liên minh quân sự”. “Không liên kết với nước này để chống nước kia”. “Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác” và đến năm 2019, long trọng bổ sung thêm một “không” nữa vào “Bạch thư Quốc phòng”: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” như Việt Nam, vị thế chính trị của Ukraine sẽ không như mọi người đã thấy suốt thời gian qua”. Viết vậy, nhưng Trân Văn suy diễn: “Khi phải làm hàng xóm với một quốc gia vừa nuôi tham vọng chi phối, dẫn dắt các lân bang... một dân tộc quật cường như dân Ukraine chắc chắn sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ đảng nào, chính phủ nào định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”(!).

          Thưa Trân Văn, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nói đến Tổ quốc có thể khái quát là sự hợp thành của hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội. Nếu thiếu một trong hai phương diện trên thì chưa phải Tổ quốc hoàn chỉnh. Đúng thế! Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về phương diện tự nhiên lịch sử của đất nước ta vẫn còn nguyên đó, thực dân Pháp có “bê” được vùng đất, trời, biển của Việt Nam về lắp ghép với vùng đất, trời... của nước Pháp đâu mà nhân dân ta vẫn nói là nước mất nhà tan. Vì chính quyền phong kiến Việt Nam lúc đó chỉ là bù nhìn, làm tay sai cho thực dân Pháp mà thôi...

          Mặt khác, nếu không có phương diện tự nhiên lịch sử, thì dù có đầy đủ bộ máy nhà nước thì họ cũng đâu có Tổ quốc. Trên thực tế, một số tổ chức lưu vong có thâm thù với Đảng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam luôn tìm cách nhằm lật đổ chế độ, như: Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời (từ 1990 đến nay), do Đào Minh Quân lãnh đạo; Việt Nam Quốc dân Đảng (1927 đến nay), do Trần Tử Thanh, Trần Thắng lãnh đạo; Đại Việt Cách mạng Đảng (1965 đến nay) do Trần Dzũng Minh Dân, Nguyễn Văn Lung lãnh đạo; Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (1982 đến nay) do Hoàng Cơ Minh, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hồng Thuận lãnh đạo,... dù các tổ chức này có bộ máy, nhưng họ đâu có Tổ quốc. Vì họ làm gì có vùng đất, vùng trời, biển... nào để mà làm chủ. Thế mà, Trân Văn lại cho rằng: “...định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”! Xin nhắc lại, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên cả hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội; không thể chỉ bảo vệ “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho Đảng và Chính phủ mà không “giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”. Vì hai mặt này thống nhất biện chứng với nhau tạo nên Tổ quốc; nên không thể chỉ có mặt này mà không có mặt kia và ngược lại.

          Việc cố tình lờ đi tính lịch sử của chính sách quốc phòng Việt Nam nói trên của Trân Văn để y hòng “buộc tội” cho việc “sai lầm” của chính sách này. Đây là việc làm không khách quan với chủ ý xấu của kẻ tiểu nhân. Nhân đây xin nhắc lại chính sách quốc phòng “ba không” lần đầu tiên xuất hiện trong sách trắng quốc phòng của Việt Nam năm 1998 và sau đó, tái xuất hiện trong sách trắng quốc phòng các năm: 2004 và 2009. Chính sách này cũng được nêu ra trong Luật Quốc phòng của Việt Nam, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2019. Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam (từ ba không thêm một không: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”) xuất hiện trong sách trắng quốc phòng năm 2019. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình. Chúng ta kiên định chính sách quốc phòng "Không liên kết với nước này chống nước kia". Việt Nam không liên minh quân sự, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng nhằm mở rộng sự ủng hộ quốc tế, phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết của chúng ta.

          Thực tế cho thấy, đối với nước nhỏ trước những nước lớn, thế lực lớn đan xen thì phải khôn khéo trong chính sách đối ngoại, làm sao để dân tộc mình giữ được mối quan hệ tốt với các nước, đặc biệt là với các nước lớn, để tận dụng tốt thời cơ phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam là nhằm mục đích đó.

          Mới đây, trả lời phỏng vấn của Báo Tuổi trẻ về chiến dịch quân sự đặc biệt giữa Nga và Ukraine, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh: Chúng ta không thể đứng ngoài sự việc này, bởi trước hết Nga và Ukraine đều là bạn của Việt Nam, những bên can dự vào đều là đối tác của chúng ta. Việt Nam chúng ta có 3 thế mạnh để có thể tham gia, đóng góp giúp tạo lập lại hòa bình. Thứ nhất, chúng ta đã chiến thắng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, để kiến lập nền hòa bình bền vững cho đất nước. Thứ hai, chúng ta cũng có kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng vẫn giữ được hòa bình. Trong hơn 1/4 thế kỷ qua, sóng gió như vậy nhưng Việt Nam giữ vững được toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, giữ được độc lập tự chủ và những gì chúng ta đang có, đồng thời giữ được hòa bình. Thứ ba, chúng ta có quan hệ đa phương rộng rãi với hầu hết các quốc gia, các tổ chức quốc tế.

 

          Cho nên, quốc gia muốn yên ổn và phát triển phải giữ được sự độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, không là đồng minh với nước này để chống lại nước kia, không có những hành động gây ảnh hưởng tới an ninh cho quốc gia khác, bình thường hóa với tất cả các nước, coi các nước đều là đối tác, nếu có hành động tạo sự căng thẳng với một nước lớn nào đó thì rất nguy hiểm. Vì thế, trong quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, không để đụng độ, va chạm xảy ra làm ảnh hưởng đến môi trường hòa bình phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam cũng nhằm mục đích đó, cớ sao lại suy diễn nhằm mục đích xấu?./.