Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2022

CHIM SẮT" CỦA BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN

 

Năm 1960, Mặt trận giải phóng miền Nam ra đời, cô gái trẻ Lê Thị Thu Nguyệt năm đó đã đầu quân cho lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định. Đây là lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của quân đội ta. Lực lượng này hoạt động chiến đấu giữa sào huyệt, trung tâm đầu não của địch.
Theo chia sẻ của anh hùng LLVTND Lê Thị Thu Nguyệt, biệt danh "Chim sắt" của bà được bà lý giải như sau: "Tôi có biệt danh Chim sắt - là bay cao, bay xa, đánh nhanh, đánh đau, thắng lớn".
"Khi tôi bắt đầu vào đội 159, lúc đó tôi chuyên đánh những cố vấn quân sự Mỹ. Năm 1963 Mỹ bắt đầu đưa cố vấn qua rất đông, thì mấy anh mấy chú cứ khi nào đánh Mỹ thì giao cho tôi, do đó tôi mới có biệt danh Chim sắt".
Để có thể hoạt động giữa sào huyệt của địch, "Chim sắt" phải biến hoá, mưu trí và đặc biệt phải giữ được cho mình một tinh thần thép. Anh hùng LLVTND Lê Thị Thu Nguyệt nói thời kỳ đó, trước khi đi làm nhiệm vụ, bà luôn được cấp trên dặn 3 điều:
-Không để lọt vũ khí vào tay giặc.
-Không để lộ mục tiêu.
-Không để đồng bào ta bị thương.
"Và như thế chỉ còn hy sinh thôi và tôi sẵn sàng hy sinh" - anh hùng Thu Nguyệt nói với sự nhẹ nhàng và đơn giản - "Chết, tôi thấy rất vinh dự vì tôi chết cho đất nước, tôi chết cho dân tộc tôi".
Năm 1963, thế giới rúng động khi máy bay FHA007 của Mỹ bị đánh nổ và người làm nên điều đó không ai khác chính là người mang biệt danh "Chim sắt" - Lê Thị Thu Nguyệt.
Tuy nhiên, để làm nên được kỳ tích này - huỷ diệt một máy bay Mỹ với 300 quân Mỹ trong đó có 80 sỹ quan cao cấp - không phải một chuyện đơn giản. "
Anh hùng Thu Nguyệt nói người đồng chí trong vai nhân viên sân bay đã đặt một cái túi của Nguỵ trong phòng vệ sinh và nhiệm vụ của bà là mang đồ để vào đó và anh sẽ mang lên băng chuyền để lên máy bay.
"Lúc đó tôi định 15' ra tới Thái Bình Dương thì sẽ nổ nhưng không ngờ khi lên máy bay nó không nổ. Không biết tại sao. Nếu nó không nổ thì lộ hết" - anh hùng Thu Nguyệt nhớ lại thời điểm căng thẳng trong nhiệm vụ bà đã thực hiện thời điểm ấy - "Nó lấy được quả mìn của mình thì mai mốt mình không làm được nữa. Nhưng mà không ngờ ngày hôm sau, sau khi mấy anh cứ rà đài thì biết máy bay mang hiệu số FHA007 cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất quá cảnh ở Honolulu nổ. Máy bay này chở 300 quân Mỹ trong đó có 80 sỹ quan cao cấp".
Tuy nhiên, chiến tích này chỉ là một trong nhiều chiến tích "Chim sắt" đã thực hiện.
Cuối năm 1963, "Chim sắt" bị bắt. Thế nhưng, lồng cũi không giam được ý chí chiến đấu của người Cộng sản. 11 năm trong ngục là 11 năm chiến đấu - một mặt trận ngùn ngụt khí thế ở nơi mà người ta vẫn gọi là địa ngục trần gian.
Anh hùng Thu Nguyệt nhớ lại những năm tháng bị tù đày: "Từ một chú chim tự do mà tôi bị đàn áp, bị mất tự do. Ý chí lúc đó là tôi muốn chiến đấu mà chiến đấu phải thắng".
"Khi vào tù tôi chống ly khai, chống tố Cộng, chống chào cờ. Nó đánh tôi, cho chó bẹc-giê xé tôi... Chúng tôi đã cướp chính quyền trong đó. Nếu mình có chết thì người sau cũng được hưởng những thắng lợi đó".
Sau khi được ra tù, "Chim sắt" vẫn tiếp tục hoạt động cho đến ngày đất nước được giải phóng. Anh hùng Lê Thị Thu Nguyệt cũng như những chiến sĩ Biệt động Sài Gòn đã viết nên huyền thoại đẹp về những người con bất tử, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng và trường tồn của dân tộc./.
vubao3-st
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và ngoài trời
2

CÁCH ĐÁNH GIẶC ĐỘC ĐÁO CỦA DU KÍCH VIỆT NAM

 

Sự sáng tạo, đỉnh cao của nghệ thuật đánh du kích có lẽ là cái giàn thun bắn lựu đạn, đơn giản và hiệu quả. Ông Tư Bốn (tên gọi thân mật của Trung tướng Nguyễn Việt Thành, nguyên Giám đốc Công an Tiền Giang) kể lại:
"Cái giàn thun bắn lựu đạn là do sáng kiến của tôi và tôi là người sử dụng giàn thun khá hiệu quả, không chỉ bắn xa ngoài 300m mà còn bắn rất chính xác. Coi vậy chớ theo thời gian lịch sử, giàn thun bắn lựu đạn đã đi vào huyền thoại với những cái tên gọi khá mỹ miều tôi từng được nghe: Nào là "pháo hãm thanh", "cối tự hành", "nỏ thần thời chống Mỹ", kể cũng không có gì cường điệu.
Tôi còn nhớ một hôm, chú Chín Hải (Lê Văn Phẩm, nguyên Phó Bí thư Khu ủy Khu 8, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Mỹ Tho) đi họp về, có nói nơi nào đó bắn lựu đạn bằng cái ná thun và biểu tôi làm thử. Từ đó, hình ảnh cái giàn thun bắn lựu đạn cứ thoắt ẩn, thoắt hiện trong đầu. Cái ná thun thì hồi nhỏ, tôi "rành sáu câu" nhưng tìm đâu ra dây cao su cho giàn thun này bây giờ? Cái bao da may bao lớn? Thân ná chọn loại gỗ gì, cỡ cùm chân hay bắp vế? Không phải chuyện đùa, thao tác nửa chừng mà đứt dây, gãy ná là "bỏ mẹ".
Chuyện cái giàn thun bắn lựu đạn dài dòng lắm! Tóm lại, trong cái khó ló cái khôn, những giây phút hiếm hoi ngã mình trên cánh võng, bất chợt tôi đã nghĩ ra. Có ai ngờ rằng, cái cọng dây thun nhỏ xíu thường dùng buộc các bịch mũ đựng hàng, buộc bịch đựng nước ngọt đã làm cho bọn Mỹ-ngụy thất điên, bát đảo. Một cây làm chẳng nên non! Từng sợi thun nhỏ được kết với nhau thành từng sợi cỡ ngón tay; từng sợi thun cỡ ngón tay lại được bện xoắn với nhau thành từng sợi cỡ cùm tay, bắp tay. Giữa hai sợi thun đã được bện xoắn nhiều lần, có một cái bao da dùng để đựng quả lựu đạn. Thân ná là hai thân cây cỡ bắp đùi rời nhau, cơ động dễ dàng, tiện lợi hơn khi sử dụng cây tại chỗ. Năm lần bảy lượt, làm tới làm lui, cuối cùng cái giàn thun bắn lựu đạn cũng hoàn thành.
Lại lao vào tập bắn! Nhiêu khê lắm, khó khăn không kém gì khi làm cái giàn thun. Tập bắn thẳng đến tập bắn cầu vồng; tập bắn xa, bắn gần; tập bắn sao cho lựu đạn vừa chạm đất là nổ, thậm chí còn cho nó nổ chụp từ trên không xuống. Thuần thục rồi mà khi vào bắn thật, đã xảy ra một số trường hợp đứt dây thun, gãy giàn, lựu đạn rơi tại chỗ "chạy thấy mẹ".
Nói vậy thôi, chớ giàn thun bắn lựu đạn đã phát huy hiệu quả chiến đấu rất cao. Bọn địch kinh hoàng vì bất ngờ lựu đạn từ trên trời rơi xuống, không biết đằng nào mà đối phó. Bằng cách sử dụng lựu đạn gài, chốt chặn đường tiến quân của địch; bằng cách gài lựu đạn chặn trước chặn sau; gài trên bờ, gài dưới mương và dùng giàn thun bắn lựu đạn vào đội hình địch khi chúng co cụm, chúng tôi đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề!".
vubao2-St
Có thể là hình ảnh về 1 người và ngoài trời
5
Thích
Bình luận
Chia sẻ

ĐIỀU PHI LÝ TRONG BÁO CÁO NHÂN QUYỀN HẰNG NĂM CỦA BỘ NGOẠI GIAO MỸ

 

Liên tục từ năm 1997 đến nay, Bộ Ngoại giao Mỹ đều đặn ra Báo cáo nhân quyền hằng năm, với nhiều điều phi lý. Tiêu biểu cho những điều phi lý đó là họ đánh giá Việt Nam “không tôn trọng sự toàn vẹn của con người”, khi chính nước Mỹ vẫn chìm sâu trong vấn nạn bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, cảnh sát lạm sát, v.v. Sự phi lý đó một lần nữa cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ.
Những năm gần đây, một số nước tư bản phát triển, trong đó có chính quyền Mỹ, đã và đang triệt để lợi dụng nhân quyền như là một công cụ - nói đúng hơn là đội lốt nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc, nhất là các nước đối lập về hệ tư tưởng, hoặc không nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của họ, nhằm ép buộc những nước này không đứng ngoài “trật tự thế giới” do họ làm chủ. Cùng với việc ra sức truyền bá các học thuyết, các giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản, đề cao vị trí độc tôn của tự do, lợi ích cá nhân, “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, đặt nó đứng ngoài, thậm chí đứng trên pháp luật, lợi ích cộng đồng; họ còn tăng cường các hoạt động xuyên tạc, bóp méo tình hình nhân quyền của các nước. Họ tự cho mình quyền đứng trên pháp luật quốc tế để đưa ra các báo cáo, đánh giá nhân quyền của các quốc gia, dân tộc có chủ quyền khác. Vì thế, không lạ gì khi lâu nay các thế lực thù địch luôn coi “dân chủ”, “nhân quyền” là một mũi nhọn chống phá cách mạng Việt Nam, vẫn đều đặn ra báo cáo nhân quyền Việt Nam như một thông lệ. Có thể nói, từ tư cách của chủ thể đến nội dung các báo cáo này đều phi lý; nhưng chỉ xin bàn đến nội dung quyền sống hay “tôn trọng sự toàn vẹn của con người” trong các báo cáo ấy để minh chứng cho sự phi lý đến nực cười này.
Chúng ta đều biết, nhân quyền trước hết và tối thiểu nhất là quyền được sống của mỗi người, được pháp luật quốc tế và mỗi quốc gia, dân tộc bảo vệ như một tất yếu. Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển kỳ diệu của đất nước trên nhiều lĩnh vực, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng hoàn thiện. Cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và truyền thông, báo chí không ngừng nỗ lực để người dân được thụ hưởng đầy đủ nhất các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc (năm 1977), Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người. Pháp luật về quyền con người của Việt Nam cũng đã có bước phát triển. Với 36 điều trên tổng số 120 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 vừa khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, vừa thể chế hóa sâu sắc, toàn diện nhận thức, quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.
Để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quyền con người của Việt Nam ngày càng đồng bộ, từng bước hoàn thiện; việc tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật về quyền con người được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra việc thực thi pháp luật; kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân. Những năm gần đây, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và tình hình thiên tai diễn biến phức tạp, với mục tiêu “sức khỏe và tính mạng của người dân là trên hết, trước hết”, Chính phủ luôn kết hợp chặt chẽ giữa đẩy mạnh phát triển kinh tế với chăm lo bảo đảm an sinh xã hội; kiên trì thực hiện “mục tiêu kép” để đem lại hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam không ngừng tăng và nhanh nhất trong số các nước đang phát triển (năm 2020 tăng 04 bậc, xếp thứ 79 trên thế giới, đứng hàng đầu châu Á).
Trong tính tổng thể đó, lẽ dĩ nhiên, quyền sống hay “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” được pháp luật Việt Nam bảo vệ và thực thi đầy đủ, nghiêm minh, bình đẳng với mọi công dân Việt Nam và người nước ngoài sinh sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, để đảm bảo an toàn cho người dân, pháp luật Việt Nam nghiêm cấm việc cá nhân sở hữu vũ khí (bao gồm cả vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao) và công cụ hỗ trợ; còn những đối tượng được pháp luật cho phép trang bị, sử dụng súng được quy định rất cụ thể tại khoản 1, Điều 55, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (năm 2017). Đó chủ yếu là những người được giao nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm,… kèm theo những quy định chặt chẽ về các điều kiện, như: sức khỏe, phẩm chất đạo đức, đã qua đào tạo, huấn luyện và được cấp giấy chứng nhận về sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ. Mọi hành vi xúc phạm nhân phẩm, tra tấn, hành hung, tước đoạt mạng sống con người trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm.
Vậy mà, các báo cáo nhân quyền về Việt Nam của Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn đưa ra những nhận xét không khách quan, dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện về “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” ở Việt Nam. Theo cách “bới lông tìm vết”, họ cố tình nhặt nhạnh những sự việc riêng lẻ, hy hữu chưa được kiểm chứng rồi ra sức thổi phồng, xuyên tạc, bóp méo để nó trở thành nghiêm trọng. Mục đích cuối cùng là để bôi xấu tình hình nhân quyền của Việt Nam nhiều nhất có thể. Và chỉ chờ có thế, các cá nhân, nhóm hoạt động đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền” trong và ngoài nước đua nhau lên án Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”; từ đó, quy chụp, vu khống, hạ thấp uy tín của các cơ quan thi hành pháp luật Việt Nam; đồng thời, cho rằng “hậu quả” đó là do Đảng ta độc tài, toàn trị.
Điều phi lý là, trong khi cố tình “đặt điều” từ những sự việc chưa kiểm chứng, lớn tiếng rao giảng về “nhân quyền”, phán quyết về “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” của các nước khác, thì chính quyền Mỹ lại cố tình lờ đi những “lỗ hổng” khó hàn gắn về vấn đề này ngay trong lòng nước Mỹ. Vấn nạn bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, cảnh sát lạm sát,… vẫn phủ bóng đen gây ám ảnh dai dẳng người dân Mỹ, gây chia rẽ sâu sắc trong nội bộ nước Mỹ. Ở Mỹ, năm 2020, hơn 45 nghìn người đã chết vì bạo lực súng đạn, tăng 35% so với năm trước đó. Theo số liệu thống kê của Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI): số vụ xả súng có chủ đích tại nước này trong năm 2021 đã tăng hơn 50% so với năm 2020. Năm 2022, bạo lực súng đạn lại tái diễn với hàng loạt vụ nổ súng kinh hoàng tại New York, Texas và nhiều nơi khác. Theo số liệu của Gun Violence Archive1, tính đến tháng 6/2022, bạo lực súng đạn đã khiến hơn 19.300 người thiệt mạng và trong dịp nghỉ lễ từ ngày 01 - 04/7/2022 vừa qua, xảy ra hơn 500 vụ xả súng ở hầu khắp các bang trên toàn nước Mỹ. Thực tế cho thấy, ở Mỹ, thuốc chữa bệnh, nước sạch cho người dân, sữa bột cho trẻ em có thời điểm có thể rất khan hiếm; nhưng, súng đạn thì luôn rất dồi dào, được phép bán công khai và mọi công dân có thể mua nếu có nhu cầu. Đây là nguồn cung cho những kẻ muốn dùng súng đạn để giải quyết mâu thuẫn, hay đơn giản giết người chỉ để thể hiện quan điểm tự do cá nhân. Gần đây, trước những hậu quả nặng nề do bạo lực súng đạn gây ra, đã có lúc chính quyền nước này muốn tìm cách thắt chặt kiểm soát, song vẫn bất lực, do lập trường của chính quyền vẫn đang bị chia rẽ bởi những lợi ích nhóm chi phối. Số lượng súng đạn được bán ra vẫn tăng lên theo những bất ổn của xã hội Mỹ. Theo Forbes2, gần 20 triệu khẩu súng đã được bán tại Mỹ trong năm 2021, tức là trong 100 người Mỹ thì 06 người đã mua súng, tăng tỷ lệ người trưởng thành ở Mỹ sử dụng lên 46%. Với dân số hơn 330 triệu người nhưng đã có hơn 393 triệu khẩu súng cá nhân được cấp phép tại Mỹ, tức là mỗi người sở hữu hơn 01 khẩu súng; đây là nguyên nhân hàng đầu khiến Mỹ là quốc gia hứng chịu nhiều bạo lực súng đạn nhất thế giới.
Điều phi lý nữa là, chỉ dựa vào những sự việc chưa được kiểm chứng, các báo cáo nhân quyền về Việt Nam của Mỹ vẫn lên án các lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam làm tổn hại đến sức khỏe, nhân phẩm người khác. Thế nhưng, cảnh sát Mỹ lạm sát nhằm vào người da màu là một thực tế không thể chối cãi ở Mỹ. Theo thống kê của báo giới Mỹ, có hơn 1.000 người đã bị cảnh sát bắn tử vong ở Mỹ trong năm 2021. Một thực tế khác không khó để nhận thấy, mặc dù nhân danh bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhưng Mỹ và phương Tây lại không ngừng gia tăng việc tiến hành chiến tranh, can thiệp vũ trang ở nhiều nơi. Các cuộc “cách mạng màu sắc”, “can thiệp nhân đạo” mà Mỹ và phương Tây tiến hành ở Iraq, Afghanistan, Libya,… đã và đang gây ra những đau khổ không kể xiết dành cho người dân các nước này và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho các tập đoàn sản xuất vũ khí. Hơn ai hết, người dân Việt Nam đều thấu hiểu bộ mặt thật đằng sau các chiêu trò “nhân quyền” của Mỹ. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, để bảo vệ cho “chế độ dân chủ” tay sai của mình ở miền Nam, Mỹ đã dội lên đầu mỗi người dân Việt Nam hơn 45,5 kg bom đạn; tiến hành hàng trăm nghìn cuộc vây ráp, khủng bố và giết chóc. Tàn ác hơn, họ đã cho rải hơn 80 triệu lít chất độc hóa học có chứa dioxin trên khắp Việt Nam, khiến gần 05 triệu người Việt Nam bị chết, tàn tật và di chứng cho nhiều thế hệ sau; hơn 40.000 người bị chết và 60.000 người bị thương do bom mìn sót lại sau chiến tranh gây ra, trung bình mỗi năm cướp đi tính mạng của hơn 1.000 người và hơn 1.300 người phải mang thương tích, thương tật suốt đời. Như vậy, chẳng phải chỉ đích danh, song ai cũng biết những kẻ lớn tiếng phê phán quốc gia khác không “bảo đảm sự toàn vẹn của con người” lại là kẻ vi phạm nghiêm trọng nhất điều này, cả trong lịch sử lẫn hiện tại. Sự thật đó cho thấy, cái gọi là “tôn trọng sự toàn vẹn của con người” trong báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ thật phi lý.
Bản chất của nhân quyền là sự đảm bảo về quyền sống, quyền tự do và bình đẳng đối với mỗi con người trong một chế độ xã hội nhất định. Bảo đảm việc thực thi các giá trị này trên thực tế đến đâu sẽ nói lên bản chất của một chế độ xã hội. Với bản chất tốt đẹp, tiến bộ của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa - nền dân chủ của dân, do dân và vì dân, Việt Nam luôn đặt con người ở trung tâm của mọi chính sách phát triển, nhằm đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đó là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam./.
vubao1-st
Thích
Bình luận
Chia sẻ

NGƯỜI LÃNH ĐẠO CẦN BIẾT TRỌNG DANH DỰ, GIỮ LIÊM SỈ!

         Để trở thành cán bộ lãnh đạo, mỗi người đều phải trải qua quá trình tích cực học tập, công tác, rèn luyện, thử thách, cống hiến và trưởng thành, hội tụ đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác.
     Sự ghi nhận, tin tưởng, tôn vinh, hay ngưỡng mộ, kính trọng của tổ chức, tập thể và rộng hơn là của nhân dân, của xã hội đối với người lãnh đạo tạo nên danh dự của người đó. Đó là sự coi trọng, đánh giá cao phẩm chất, uy tín, năng lực cá nhân và quá trình công tác, thành tích cống hiến của họ, đó cũng chính là những giá trị tinh thần, xã hội, ý nghĩa cuộc sống vì sự đóng góp, cống hiến của họ.
     Danh dự, uy tín của người lãnh đạo không thể đo đếm hay mua bán, đánh đổi bằng vật chất, tiền bạc, cũng không tự nhiên mà có, không ai có thể mang đến cho họ hoặc làm thay, làm hộ, mà phải do bản thân người lãnh đạo trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện, giữ gìn, cống hiến nhiều năm. Danh dự của con người không liên quan tuổi tác, không phụ thuộc vào giới tính, học vấn, trình độ, địa vị, thành phần xuất thân. Là người bình thường, ai cũng đều có lương tâm, danh dự.
     Tuy nhiên, mức độ lan tỏa và ảnh hưởng của danh dự ở mỗi người trong xã hội có khác nhau phụ thuộc vào phương thức truyền thông, sự lan tỏa giá trị, quan hệ xã hội, uy tín, địa vị công tác, hoặc địa vị xã hội của người đó. Người có trình độ học vấn, có vị trí càng cao, có ảnh hưởng đến nhiều người, càng phải biết trọng danh dự, giữ gìn tư cách, hình ảnh, giá trị cá nhân đã được thừa nhận.
     “Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực”. (Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 30/6/2022)./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 08 THÁNG 10 NĂM 1961!

         “Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cân nhắc cán bộ miền núi”!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi nói chuyện tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi. Bác nói ngày 08 tháng 10 năm 1961; báo Nhân dân, đăng số 2757, ngày 09 tháng 10 năm 1961. 
     Thực hiện Chỉ thị số 156-CT/TW ngày 25 tháng 8 năm 1959 của Trung ương Đảng về việc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi miền Bắc nước ta, sau hai năm triển khai thực hiện quyết liệt, Cuộc vận động đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng, đánh thức tiềm năng, thế mạnh của một vùng miền núi rộng lớn có vị trí, ý nghĩa chiến lược quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở miền núi phát triển chưa đều, một số chính sách cụ thể thích hợp với miền núi chưa được quy định, công tác tư tưởng trong hợp tác xã chưa được chú ý, công tác quản lý hợp tác xã còn rất lúng túng. Nhiều nơi chi bộ, ủy ban hành chính và các đoàn thể nhân dân chưa được vững mạnh. Có những xã chưa có chi bộ đảng. Lực lượng cán bộ các dân tộc nói chung thiếu và yếu. Do vậy, Bác đã có những chỉ đạo rất sát đúng, kịp thời về mọi mặt; trong đó, cần phải hết sức chú trọng đến công tác cán bộ - cái gốc của mọi công việc.
     Thực hiện huấn thị các Bác, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 24 khóa IX của Đảng về công tác dân tộc đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có phẩm chất chính trị, năng lực công tác và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; có cơ cấu, số lượng cán bộ phù hợp trong hệ thống chính trị”. Thực hiện chính sách về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số đã thực sự được nâng cao cả về chất lượng và số lượng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Đặc biệt, công tác đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số đã từng bước hoàn thiện, chuẩn hóa, nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, góp phần tích cực vào sự phát triển của các địa phương miền núi, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi với miền xuôi.
     Thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội đã chủ động làm tốt việc tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số từ sớm, thông qua việc mở các lớp thiếu sinh quân để đào tạo con em đồng bào dân tộc thiểu số từ các bậc học phổ thông, đào tạo tại các trường sĩ quan, cao đẳng, trung cấp. Đã có hàng vạn lượt con em đồng bào dân tộc thiểu số trên khắp cả nước được nuôi dưỡng, đào tạo trong môi trường quân đội; nhiều đồng chí trở thành cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương, trở thành tướng lĩnh trong quân đội và có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đúng như tâm nguyện của Bác kính yêu./.
Môi trường (Yêu nước) ST.

NHẬN DIỆN ĐÚNG BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA ĐẢNG TA!

         Hiện nay, các thế lực thù địch phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng của trí thức.
     Mỗi chúng ta đều thấy rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.
     Từ thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều hay ít của giai cấp”.  
     Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng./.


Môi trường (Yêu nước) ST.