Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

Phê phán quan điểm về “dân tộc bản địa” ở Việt Nam.

  Những năm gần đây, các phần tử có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng bản Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa của Liên hợp quốc để vận động các quốc gia phương Tây, các tổ chức quốc tế công nhận ở Việt Nam có “dân tộc bản địa”. Đồng thời, kích động các dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào Chăm, Khơme và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đòi quyền tự quyết. Bài viết phản bác quan điểm “ở Việt Nam có dân tộc bản địa”, đồng thời làm rõ về “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số”, từ đó đề xuất giải pháp đấu tranh phòng, chống âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Phê phán quan điểm về “dân tộc bản địa” ở Việt Nam

Thiếu nữ đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc hòa mình trong không gian lễ hội Hoa Ban, tỉnh Điện Biên - Ảnh: chinhphu.vn

1. Ở Việt Nam không có “dân tộc bản địa”

Ngày 13-9-2007, Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 61/295: Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc bản địa, với 46 điều.

Cụm từ “dân tộc bản địa” được dịch từ văn bản gốc của Liên hợp quốc là Indigenous peoples (dân tộc bản địa hay dân tộc bản xứ). Thuật ngữ “dân tộc bản địa” xuất hiện cùng với quá trình tìm kiếm thị trường, truyền bá tôn giáo và xâm lược thuộc địa từ khoảng thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX của các nước tư bản châu Âu đối với các quốc gia ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh.

Ví dụ, những người thổ dân ở châu Úc đã sinh sống lâu đời trước khi người Anh xâm lược; những người Mỹ gốc thổ dân thường được gọi là người da đỏ (hay Anh điêng) bởi đó là những người đã sinh sống lâu đời trên vùng đất Hoa Kỳ trước khi người châu Âu đến chiếm đóng. Khu vực Mỹ Latinh trước kia là lãnh thổ của các bộ lạc da đỏ. Nghị quyết 61/295 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc chính là đề cập tới các nhóm thổ dân này.

Không phủ nhận rằng, trong lịch sử hình thành các quốc gia - dân tộc, đặc biệt là ở khu vực Mỹ Latinh, sau mỗi cuộc chiến tranh xâm lược, quá trình di dân từ “chính quốc” đến thuộc địa đã hình thành những quốc gia - dân tộc mới. Ngay từ khi mới hình thành, ở những quốc gia này vẫn luôn tồn tại hai nhóm xã hội: nhóm người di cư và nhóm người bản xứ. Những nhóm xã hội này thường vẫn muốn duy trì phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lối sống riêng của mình. Có thể xem Hoa Kỳ, Canađa và Ôxtrâylia là những ví dụ. Trong những quốc gia này, khái niệm “người bản địa” vẫn tồn tại và còn có những ý nghĩa nhất định(1).

Sau khi Nghị quyết 61/295 của Liên hợp quốc ra đời, ngày 22-9-2012, tại North Carolina, Hoa Kỳ, ba tổ chức phản động lưu vong là: Hội đồng Dân tộc Thượng, Hội đồng tối cao Campuchia - Krom, Hội đồng phát triển văn hóa xã hội Chămpa đã thống nhất thành lập một liên minh đấu tranh của các dân tộc bản địa Việt Nam với tên gọi là “Hội đồng tối cao các dân tộc bản địa Việt Nam ngày nay” (tên tiếng Anh là The Supreme Council of Indigenous Peoples of Today’s Vietnam, hay SCIP-TVN). SCIP-TVN thể hiện rõ âm mưu qua việc xác định ba mục tiêu chính là: 1) “Kêu gọi Chính phủ Việt Nam phải công nhận dân tộc Thượng, Campuchia - Krom và Chăm là dân tộc bản địa”; 2) “Yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải thực thi những điều khoản nêu trong Tuyên ngôn về Quyền của các dân tộc bản địa mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết”; 3) “Kêu gọi các tổ chức của Liên hợp quốc đóng vai trò tích cực trong cuộc vận động đấu tranh của SCIP-TVN phù hợp với Tuyên ngôn về Quyền của các dân tộc bản địa của Liên hợp quốc”(2).

Như vậy, có thể thấy rõ, âm mưu của các tổ chức phản động lưu vong đòi chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc Chăm, Khơme và các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên là “dân tộc bản địa”, không xuất phát từ lợi ích của đồng bào các dân tộc thiểu số, mà xuất phát từ mưu đồ phá hoại khối đại đoàn kết của các dân tộc, chia cắt sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, Việt - Mường và một bộ phận của nhóm Tày - Thái được cho là phát triển từ các nhóm người cổ đại hình thành ở Việt Nam và các khu vực khác của Đông Nam Á. Các dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao, Hán, Tạng - Miến, một bộ phận của nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và Mã Lai - Đa Đảo được xác định là di cư từ phía Nam Trung Quốc hoặc từ vùng hải đảo tới từ hàng nghìn năm đến hàng trăm năm trước.

Mặc dù có nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán riêng, cư trú ở Việt Nam vào những thời gian khác nhau, nhưng các dân tộc đã chung sống hài hòa và phân bố rộng khắp từ miền Bắc đến miền Nam, từ đồng bằng đến miền núi, từ biên giới đến hải đảo, các dân tộc cư trú xen kẽ, không có dân tộc nào hoàn toàn tách riêng về mặt địa lý. Ðiều này đã làm cho sự hòa hợp trở thành đặc điểm lịch sử, văn hóa; tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc, dù đa số hay thiểu số, cùng phát triển trên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, tương trợ, giúp đỡ nhau.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “dân tộc bản địa” gắn liền với các thời kỳ nước ta bị đô hộ, xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc, tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ thế giới, bị chia cắt thành ba kỳ trong xứ Đông Dương thuộc Pháp; thuật ngữ “người bản xứ” (hoặc “người bản địa”) được dùng để chỉ tất cả các cộng đồng dân tộc Việt Nam (kể cả người Kinh và các dân tộc thiểu số). Khi ấy, người dân nước ta không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giàu hay nghèo, trí thức hay lao động chân tay đều bị gọi chung bằng tên gọi miệt thị “Annammit”.

Như vậy là, khái niệm “người bản xứ” (hoặc “người bản địa”) chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân và nó chỉ tồn tại với chế độ đó.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, người dân Việt Nam làm chủ đất nước của mình, không còn là “dân bản địa” hay “bản xứ” nữa. Thay vào đó là khái niệm “quyền công dân” - là quyền của tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc thiểu số hay đa số. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Điều 6 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa”.

2. Nhận diện các thủ đoạn lợi dụng, đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số”

Ở Việt Nam, vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền của các dân tộc thiểu số” thường bị các thế lực phản động, thù địch xuyên tạc, lôi kéo, kích động ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết của dân tộc - quốc gia” với quyền của “dân tộc - tộc người”.

Các thế lực thù địch thường đánh tráo khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của các “quốc gia - dân tộc” (nation-state) với quyền của “dân tộc - tộc người” (ethnic groups) nhằm kích động, tuyên truyền tư tưởng ly khai tự trị trong vùng dân tộc thiểu số, như kích động thành lập “nhà nước Hmông tự trị” ở vùng Tây Bắc, “nhà nước Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên, “nhà nước Khơme - Krom” ở Tây Nam Bộ.

Trong Hiến chương Liên hợp quốc, dân tộc tự quyết được coi là nguyên tắc để duy trì hòa bình và hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc. Khoản 2, Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”(3).

Ngày 14-12-1960, Đại Hội đồng Liên hợp quốc ban hành Nghị quyết số 1514 (XV) thông qua Tuyên bố về “Trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”, trong đó, tại Điều 2, Nghị quyết khẳng định: “Tất cả các dân tộc có quyền tự quyết, xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”(4).

Công ước quốc tế về “Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16-12-1966 của Đại hội đồng Liên hợp quốc), Điều 2 quy định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá”(5).

Như vậy, trên bình diện quốc tế, quyền dân tộc tự quyết là việc một quốc gia - dân tộc có quyền tự chủ đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền quyết định về thể chế chính trị và con đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... Dân tộc tự quyết còn thể hiện ở quyền tách ra thành một quốc gia độc lập, hay quyền liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của dân tộc ấy.

Khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được chính thức ghi nhận tại Điều 27 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966): “Ở những quốc gia tồn tại các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ, những người thuộc các nhóm thiểu số đó sẽ không bị từ chối quyền, trong cộng đồng với các thành viên khác trong nhóm của họ, được hưởng nền văn hóa của họ, tuyên xưng và thực hành tôn giáo của họ, hoặc sử dụng ngôn ngữ riêng của họ”(6).

Có thể thấy, chủ thể của quyền dân tộc tự quyết là quốc gia - dân tộc chứ không phải là một dân tộc thiểu số trong quốc gia - dân tộc đó. Pháp luật quốc tế không công nhận một dân tộc thiểu số ở một quốc gia được ly khai, được thành lập một quốc gia độc lập với quốc gia được quốc tế công nhận mà họ là công dân trong quốc gia đó(7).

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm đa số, với tỷ lệ 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số(8). Điều 4, khoản 2 Nghị định về Công tác dân tộc, quy định: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; khoản 3 quy định: “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia”; khoản 4 quy định: “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”(9). Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc là nhất quán: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển...”(10).

Hiến pháp năm 2013, Điều 5 quy định: “1) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; 2) Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; 3) Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; 4) Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”(11).

Thứ hai, các thế lực thù địch thường lợi dụng sự khác biệt và phát triển không đồng đều giữa các dân tộc nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm tới đồng bào các dân tộc thiểu số, từ đó kích động tư tưởng ly khai, tự trị.

Ở Việt Nam, các dân tộc - tộc người, mặc dù có nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán khác nhau, cư trú ở Việt Nam vào những thời điểm khác nhau, nhưng các tộc người đều chịu chung sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, nên đã sớm có ý thức tự giác chung sống đoàn kết trong một quốc gia, dân tộc. Truyền thống đoàn kết được hình thành dựa trên hai yếu tố cơ bản: chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm.

Một đặc điểm nổi bật về bức tranh phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là hình thái cư trú phân tán, xen kẽ làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng. Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn. Tình hình cư trú phân tán, xen kẽ của các tộc người gắn liền với quá trình phát triển lâu dài của đất nước.

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều thể hiện giữa các vùng, và giữa các tộc người. Sự phát triển không đều này do những nguyên nhân của lịch sử, do điều kiện tự nhiên, không gian sinh tồn, đặc điểm văn hóa truyền thống... Do đó, khắc phục sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các tộc người là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng dân tộc thiểu số. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(12).

3. Tăng cường đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác dân tộc, tôn giáo. Mỗi cấp ủy đảng, theo chức năng, nhiệm vụ của mình cần làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền và cấp ủy cấp dưới thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo. Đối với cấp xã, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cần linh hoạt các phương thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm về ngôn ngữ, phong tục, tập quán và điều kiện tự nhiên của địa phương, của cộng đồng các dân tộc thiểu số(13).

Thứ hai, quan tâm đầu tư, hỗ trợ các dân tộc thiểu số, tổ chức thực hiện sáng tạo, hiệu quả chính sách dân tộc, phù hợp với thực tiễn của từng địa phương và từng dân tộc thiểu số. Kiện toàn, củng cố hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cơ sở; làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng, bố trí hợp lý cơ cấu cán bộ dân tộc thiểu số vào các chức danh chủ chốt ở cơ sở; phát huy vai trò của bí thư chi bộ, trưởng dòng họ, già làng, trưởng bản, người có uy tín; phân công cán bộ hiểu biết phong tục tập quán đồng bào về công tác ở vùng dân tộc thiểu số.

Thứ ba, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Công tác nghiên cứu lý luận về vấn đề tôn giáo; điều tra cơ bản, tổng kết thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo có vai trò hết sức quan trọng và cần được quan tâm, thực hiện thường xuyên. Qua tổng kết thực tiễn, phát hiện những bất cập trong quá trình thực hiện các chính sách địa phương, từ đó có những đề xuất với Trung ương và các cơ quan chuyên trách điều chỉnh, bổ sung chính sách. Để đấu tranh có hiệu quả với hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc và tôn giáo nói riêng, toàn hệ thống chính trị nói chung cần tăng cường công tác nắm tình hình, từ đó đề ra các phương thức đấu tranh ngăn chặn hoạt động truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng dân tộc, tôn giáo, kích động gây mất đoàn kết dân tộc và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thứ tư, chủ động, tích cực đấu tranh ngoại giao trong các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Chủ động lồng ghép các nội dung vận động, đấu tranh về dân tộc, tôn giáo trong công tác đối ngoại, đặc biệt là trong các hoạt động ngoại giao quy mô lớn và trong lộ trình thúc đẩy quan hệ ổn định, lâu dài với các nước, các tổ chức quốc tế.

Tăng cường thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chính sách, pháp luật và thành tựu của Việt Nam trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; vừa kiên quyết đấu tranh, vừa bày tỏ thiện chí đối thoại và hợp tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp công việc nội bộ của mỗi nước. Chủ động đưa nội dung dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo vào nội dung làm việc của lãnh đạo cấp cao của nước ta khi đi thăm các nước hoặc trong dịp đón lãnh đạo các nước thăm Việt Nam, qua đó giúp quốc tế hiểu rõ các thành tựu bảo đảm quyền con người và chủ động đấu tranh trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo(14).

Thứ năm, tiếp tục thể chế hóa các quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Cụ thể, trước hết cần tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, thúc đẩy cải cách tư pháp, củng cố thể chế, chính sách, pháp luật về quyền con người phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định dân tộc và tôn giáo là vấn đề chiến lược, cơ bản và lâu dài. Việt Nam luôn tích cực tuân thủ đầy đủ các quy định quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người thông qua việc cụ thể hóa các quyền này trong quy định của Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, ở Việt Nam không có dân tộc bản địa. Sự hình thành, tồn tại, thống nhất và phát triển của quốc gia gắn liền với sự tồn tại và phát triển trong sự đa dạng và phong phú của các dân tộc. Trong suốt quá trình lịch sử, xu hướng chủ đạo, hợp quy luật là hòa hợp, thống nhất, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc. Đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước của Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, việc làm có ý nghĩa quyết định là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy truyền thống đoàn kết, tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh và xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc thiểu số, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước bền vững theo định hướng XHCN.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận: 30-01-2023; Ngày bình duyệt: 15-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1) Bắc Hà: “Ở nước cộng hòa xã hội nghĩa Việt Nam không tồn tại “Quyền của người bản địa”, https://tuyengiao.vn/tuyen-truyen/o-nuoc-chxhcn-viet-nam-khong-ton-tai-quyen-cua-nguoi-ban-dia-1993, ngày 21-9-2008.

(2) Xem: Phan Văn Hùng: Luận cứ phê phán quan điểm: vấn đề quyền của dân tộc bản địa, https://khanhhoa.gov.vn/Resources/Docs/file/2014/Thang5/10Luan%20cu%20phe%20phan%20quan%20diem%20%20Van%20de%20Quyen%20vau%20dan%20toc%20ban%20dia.pdf.

(3) Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 26-6-1945.

(4) Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa (Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) của Đại Hội đồng Liên hợp quốc), ngày 1-4-1960.

(5) Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa theo Nghị quyết số 2200 A (XXI) ngày 16-12-1966.

(6) Bản gốc: “In those States in which ethnic, religious or linguistic minorities exist, persons belonging to such minorities shall not be denied the right, in community with the other members of their group, to enjoy their own culture, to profess and practise their own religion, or to use their own language”.

(7) Quốc An: Không thể đánh đồng quyền dân tộc tự quyết và quyền của dân tộc thiểu số, https://www.qdnd.vn/phong-chong-dien-bien-hoa-binh/khong-the-danh-dong-quyen-dan-toc-tu-quyet-va-quyen-cua-dan-toc-thieu-so-535752, ngày 09-04-2018.

(8) Ban Chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2019.

(9) Chính phủ: Nghị định về Công tác dân tộc, số 05/2011/NĐ-CP, Hà Nội, ngày 14-01-2011.

(10), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2021, tr.170, 170-171.

(11) Quốc hội: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013.

(13) Vũ Trường Giang: Nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, Tạp chí Dân tộc, số 249, tháng 12-2021, tr.13.

(14) Hoàng Nam: Tăng cường công tác đối ngoại, đấu tranh chống lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở nước ta, https://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 10-11-2020.

Đấu tranh phản bác sự xuyên tạc những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

  - Bài viết góp phần nhận diện những quan điểm sai trái, xuyên tạc, của các thế lực thù địch, nhằm phủ nhận những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đưa ra những luận cứ khoa học để vạch trần và bác bỏ những luận điệu giả danh “khoa học”, giả danh “cách mạng” của các phần tử cơ hội, phản động.

Đấu tranh phản bác sự xuyên tạc những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Nhiệm vụ của những người mácxít chân chính là phải làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Trong tình hình hiện nay, khi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đang bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bôi nhọ, công kích từ nhiều phía, nhiệm vụ của những người mácxít chân chính là phải làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ nhất, có ý kiến cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với bối cảnh lịch sử - xã hội của châu Âu ở thế kỷ XIX; bởi theo họ, trong một chừng mực nhất định, “chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của thế kỷ XXI”. Từ đó họ cho rằng “chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời”.

Thừa nhận là, thực tiễn hiện nay đã có nhiều đổi thay so với thời đại của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin; bên cạnh đó, có một số luận điểm cụ thể của chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị thực tiễn lịch sử vượt qua. Song, cho dù với sự phát triển của khoa học - công nghệ và trình độ nhận thức của con người, một số quan điểm lý luận cần phải nhận thức lại, thì linh hồn sống của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp biện chứng duy vật và duy vật lịch sử vẫn giữ nguyên bản chất cách mạng, khoa học.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành quả vĩ đại bậc nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại, được xem là một trong những phát minh vượt thời đại. V.I.Lênin đã chỉ rõ, triết học Mác ra đời đã khắc phục được “hai cái quên” lớn nhất của lịch sử tư tưởng nhân loại: quên điểm xuất phát là hiện thực khách quan của chủ nghĩa duy tâm đủ mọi loại và quên vai trò tích cực của chủ thể là con người của chủ nghĩa duy vật siêu hình.

Ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin tương ứng với ba bộ phận, ba nguồn gốc hình thành: Triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị tư sản Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Ngoài ra, chủ nghĩa Mác - Lênin còn chứa đựng nhiều tri thức khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau: Chính trị học, xã hội học, đạo đức học, lịch sử, văn hóa và khoa học dự báo... về quy luật vận động, phát triển của con người và xã hội loài người.

Chủ nghĩa Mác - Lênin giúp nhân loại lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới xã hội không có người bóc lột người, một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Trong cuốn sách Tại sao Mác đúng(1), Giáo sư Terry Eagleton (Trường Đại học Tổng hợp Lancaste Vương quốc Anh) đã khẳng định cách tiếp cận của C.Mác là cách xem xét tốt nhất đối với chủ nghĩa tư bản. Terry Eagleton cho rằng, những phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin là “lạc hậu”, “không còn phù hợp” đó là những phê phán bộc lộ sự thiếu hiểu biết, non kém về lý luận, cách nhìn phiến diện, chụp mũ. Terry Eagleton khẳng định, từ khi ra đời và trong quá trình phát triển, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là sự phê phán quyết liệt nhất về mặt lý luận, phong phú nhất về mặt thực tiễn, không khoan nhượng nhất về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Cho đến nay về cơ bản: chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đúng.

Thứ hai, về một số quan điểm cho rằng “Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đã lỗi thời”, vì theo họ “chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, không còn là chế độ bóc lột nữa”. Tất nhiên, những người chống đối chủ nghĩa Mác không đưa ra được cơ sở lý luận thật sự khoa học và thuyết phục. Bởi việc phát hiện ra Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác là dựa trên cơ sở Học thuyết giá trị lao động, mà trực tiếp là việc phát hiện ra “tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa”, “lao động cụ thể và lao động trừu tượng”. Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa, là điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào. Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa sẽ tạo ra giá trị của hàng hóa. Chỉ có lao động sống mới tạo ra giá trị của hàng hóa, tạo ra giá trị thặng dư.

Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người lao động làm ra bị nhà tư bản chiếm không. Giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Không có giá trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản.

C.Mác đã vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản, vạch trần bản chất bóc lột của chế độ tư bản - thủ phạm cầm tù nhân dân lao động của giai cấp tư sản, kẻ chà đạp lên tự do, độc lập của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đây là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản.

Chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, còn hàng hóa sức lao động, thì chừng đó Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vẫn còn nguyên giá trị. Bởi vì, nhìn về mặt bản chất, chủ nghĩa tư bản hiện đại tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức sở hữu, về quản lý và phân phối... để thích nghi với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của chủ nghĩa tư bản tư nhân vẫn tồn tại, thì bản chất bóc lột vẫn không thay đổi. Nhà nước tư bản - về cơ bản vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Cho dù có một bộ phận công nhân có mức sống khá sung túc, song họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, chỉ có điều: hình thức bóc lột tinh vi hơn.

Phải nhìn nhận rõ, trong điều kiện hiện nay sản xuất giá trị thặng dư có những điểm mới, do áp dụng rộng rãi khoa học - công nghệ hiện đại, nên khối lượng giá trị thặng dư tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động, chi phí lao động sống cho một đơn vị sản phẩm giảm nhanh; cơ cấu lao động xã hội có sự biến đổi lớn, hàm lượng chất xám chiếm khá cao trong giá trị sản phẩm; lao động trí tuệ tăng, ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Chính vì vậy, tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư tăng lên rất nhiều.

Sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày càng mở rộng dưới nhiều hình thức, như xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi không ngang giá... nhằm bóc lột, bòn rút từ các nước kém phát triển, mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho các nước tư bản. Sự cách biệt giàu và nghèo ngày càng tăng.

Dù có điều chỉnh đến đâu thì các mâu thuẫn cơ bản trong xã hội vẫn ngày càng trầm trọng, bởi nó thể hiện bản chất của chủ nghĩa tư bản, đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và tính chất tư hữu ngày càng tăng của chiếm hữu tư liệu sản xuất; mâu thuẫn giữa tư bản và lao động làm thuê, mâu thuẫn giữa các nước đang phát triển, chậm phát triển và các nước tư bản phát triển, mâu thuẫn trong nội bộ các nước tư bản với nhau v.v..

Dù hình thức bóc lột có biến tướng, tinh vi đến mức nào chăng nữa thì bản chất bóc lột của tư bản đối với lao động vẫn là bóc lột giá trị thặng dư - tức là bóc lột lao động sống. Do vậy, Học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị, chủ nghĩa tư bản vẫn giữ nguyên bản chất bóc lột của nó.

Thứ ba, về sự xuyên tạc, phủ nhận lý luận về “hình thái kinh tế - xã hội” của C.Mác.

Những người chống chủ nghĩa Mác cho rằng, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội chỉ là một lý thuyết về “chủ nghĩa xã hội không tưởng”, không bao giờ thực hiện được; rằng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là “sai lầm”, đã “lỗi thời” vì thực tiễn đã thay đổi; là một hình thức của thuyết “quyết định luận” lịch sử.

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác dựa trên cơ sở các quan hệ kinh tế hiện thực; các mâu thuẫn hiện thực giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng nhau trong xã hội, trên cơ sở đó đã tìm ra quy luật vận động khách quan của lịch sử xã hội. Sự phát triển của lịch sử xã hội loài người đã minh chứng, sản xuất vật chất là phương thức tồn tại của xã hội loài người, không có sản xuất vật chất thì xã hội loài người không thể tồn tại, vận động và phát triển.

Hơn nữa, lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác có phương pháp tiếp cận toàn diện về xã hội, từ quan hệ của con người đối với tự nhiên, quan hệ của con người đối với con người trong sản xuất vật chất đến các quan hệ xã hội, các quan điểm chính trị, triết học, pháp luật, đạo đức... Sự ra đời của xã hội mới từ trong lòng xã hội cũ là do sự vận động của sản xuất vật chất, của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trên cơ sở đó kéo theo sự thay đổi các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, đặc biệt là do sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất.

Rõ ràng, cách tiếp cận của C.Mác là biện chứng, khoa học, không thể phủ nhận một cách vô căn cứ.

Thứ tư, về những ý kiến phê phán luận điểm của C.Mác về đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, thực chất là những quan điểm chống đối chủ nghĩa Mác - Lênin núp dưới danh nghĩa “khoa học, cách mạng”.

Cùng với việc cố tình xuyên tạc và phủ nhận về lịch sử phát triển của xã hội loài người, các thế lực phản động đã xuyên tạc những luận điểm của C.Mác về đấu tranh giai cấp, về cách mạng xã hội.

Họ cho rằng, C.Mác đã “làm nghèo đi những hình thức tiến hóa của xã hội, khuyến khích thù hận, mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp liên miên”. Dựa vào một số cải cách ở các nước tư bản, nhất là dựa vào các mô hình xã hội dân chủ ở Bắc Âu, họ cho rằng từ chủ nghĩa tư bản tiến sang chủ nghĩa xã hội không nhất thiết phải thông qua cách mạng xã hội mà cứ để cho nó phát triển tự nhiên, thông qua việc mở rộng dân chủ, đấu tranh nghị trường để nhân dân tự lựa chọn chế độ chính trị.

Bám vào quan điểm về đấu tranh giai cấp, chúng bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề con người, các thế lực thù địch lớn tiếng rêu rao: “chủ nghĩa Mác - Lênin đã bỏ rơi con người”; “chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa tam vô”(2)...

Họ đã cố tính lờ đi hoặc cố tình bỏ qua, khi vấn đề con người là một trong những phạm trù trung tâm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác luôn khẳng định “con người vừa là xuất phát điểm, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển”. Một trong những điểm khác nhau căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với các trào lưu tư tưởng khác, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục đích nào khác ngoài mục đích giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức người nô dịch người, người áp bức người, người bóc lột người. Con người ở đây không phải là một thiểu số có địa vị đặc biệt trong xã hội, mà là quần chúng nhân dân, là cộng đồng xã hội, vừa là mỗi cá nhân trong cộng đồng ấy.

Mục tiêu của chủ nghĩa Mác - Lênin là giải phóng con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện, con người làm chủ đất nước, xã hội và bản thân. Với chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển kinh tế - xã hội cũng là vì con người, nhằm phục vụ con người.

Thứ năm, một số ý kiến phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; mượn danh nghĩa “phê phán”, nhằm xuyên tạc  chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa.

Họ xuyên tạc rằng “chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được, bởi nó được dựng lên từ một “hệ thống triết học tư biện” chứ không phải từ “hiện thực khách quan”; rằng sẽ “không có một xã hội hoàn hảo như chủ nghĩa Mác - Lênin đặt ra”; rằng “chủ nghĩa Mác là một giấc mơ về xã hội không tưởng”... Lợi dụng sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu, họ phủ nhận những thành quả cách mạng của nhân dân các nước đó, để rồi “phán quyết” sự tan rã của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là một tất yếu. Từ đó vội vàng kết luận: “chủ nghĩa xã hội chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, nếu có chỉ là sự thất bại và đổ vỡ”.

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, chủ nghĩa xã hội dựa trên quan điểm của học thuyết Mác - Lênin không phải là “hệ thống lý luận tư biện” và càng không phải “phi hiện thực khách quan”, mà được hình thành từ cơ sở lý luận - thực tiễn trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Bởi vậy, học thuyết Mác về chủ nghĩa xã hội đã chỉ ra cơ sở và bản chất, quy luật vận động của sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ của nó, từ đó tìm ra các thuộc tính chung của sự vật, hiện tượng.

Cụ thể, học thuyết Mác ra đời dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội của châu Âu, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, C.Mác, Ph.Ăngghen đã tìm ra được quy luật vận động của xã hội loài người.

Một trong những cống hiến to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin là đã phát hiện ra sự thật lịch sử: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”(3). Đây chính là điểm xuất phát có tính nguyên tắc để nhận thức và giải thích toàn bộ lịch sử nhân loại trên lập trường duy vật biện chứng.

Với điểm xuất phát đó, các nhà kinh điển đã từng bước tìm ra cấu trúc và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người, rút ra những kết luận có tính tất yếu về sự ra đời, diệt vong, thay thế của những hình thái kinh tế - xã hội nhất định.

Cho đến nay, mặc dù hệ thống xã hội chủ nghĩa mô hình Xô viết đã tan rã, nhưng không ai có thể phủ nhận sự tồn tại khách quan và tính ưu việt của nó. Những thành tựu bước đầu trong công cuộc cải cách ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam... đang chứng minh cho sức sống và giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thứ sáu, cùng với việc xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, những người có thái độ thù địch với cách mạng Việt Nam còn đang cố tình bôi nhọ, xuyên tạc tiểu sử, thân thế sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, và “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”.

Họ cho rằng, “Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa”. Họ lý giải: “chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc”; rằng lý luận Mác - Lênin chỉ giải quyết “vấn đề đấu tranh giai cấp”; “không thể áp đặt mẫu học thuyết Mác - Lênin vào Việt Nam”, nhất là trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang thực hiện “kinh tế thị trường”. Thâm độc hơn, một số người còn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là một thủ đoạn hết sức tinh vi, vừa phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin trước hết từ học thuyết của V.I.Lênin “về cách mạng thuộc địa”. Người tiếp thu, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác - Lênin bằng những luận điểm mới.

Sớm nhận thấy khát vọng giải phóng của cả dân tộc và sức mạnh vĩ đại của chủ nghĩa yêu nước trong tất cả các tầng lớp nhân dân, Người kêu gọi cả dân tộc đứng lên “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(4). Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có thể và cần phải chủ động tiến hành trước cách mạng vô sản để giành thắng lợi. Đây là một luận điểm sáng tạo, có giá trị lý luận và thực tiễn rất to lớn của Hồ Chí Minh, đã được thực tế cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Từ quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp ở Việt Nam. Người chỉ rõ, quyền lợi của bộ phận (giai cấp) phải phục tùng quyền lợi của tổng thể (dân tộc). Trong sự nghiệp giải phóng ở Việt Nam tr­ước hết phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Vấn đề dân tộc độc lập được giải quyết, thì vấn đề giải phóng giai cấp đồng thời cũng đ­ược giải quyết.

Đối với cách mạng Việt Nam, phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo con đ­ường cách mạng vô sản, do Đảng Cộng sản lãnh đạo mới thành công, tiến tới làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhằm triệt để giải phóng con ngư­ời. Đó là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh trong tiếp thu, vận dụng và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào một n­ước thuộc địa, kém phát triển. Không giáo điều, máy móc khi vận dụng lý luận cách mạng.

Để thực hiện mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, phải “phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”, tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Theo Hồ Chí Minh, mục tiêu, con đường của cách mạng Việt Nam là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, bởi vì chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc và giải phóng triệt để con người. Độc lập dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đất nước hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không phụ thuộc vào n­ước nào, cả về chính trị và về kinh tế, dân tộc tự quyết định con đường phát triển.

Đặc biệt, khi vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng Đảng Cộng sản, trên những nguyên lý cơ bản, Hồ Chí Minh đã đưa ra hệ thống quan điểm chỉ đạo về xây dựng một chính đảng mácxít ở một nước thuộc địa, giai cấp công nhân có số lượng ít, chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn điền mà chưa phải công nhân từ nền sản xuất công nghiệp hiện đại như ở phương Tây. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin; phong trào công nhân và phong trào yêu nước - đó là một sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Để hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh quán triệt, Đảng phải tự nâng mình lên hơn nữa sao cho ngang tầm với trí tuệ của thời đại; “Đảng là đạo đức, là văn minh”; mỗi đảng viên phải ra sức trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng tăng cường mối liên hệ với nhân dân, để xứng đáng “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Từ quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng lực lượng cách mạng bao gồm tất cả các tầng lớp nhân dân, xây dựng lực lượng toàn dân, nhằm phát huy vai trò và sức mạnh của toàn dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng ta thực hiện chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là liên minh công, nông, trí.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng, bổ sung và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đã được kiểm chứng trong thực tiễn, tuyệt nhiên không phải là “sự vay mượn, chắp vá”, hay “nhập khẩu cách mạng” như ý kiến của các thế lực thù địch đã xuyên tạc.

Hiện nay, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận diễn ra hết sức phức tạp.  Để làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, các âm mưu và thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, tăng cường bảo vệ giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận chính trị, để trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc của kẻ địch. Đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, tìm tòi nghiên cứu, phát hiện những vấn đề mới, góp phần bổ sung, phát triển lý luận, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng hiện nay.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 12-12-2022; Ngày bình duyệt: 08-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1) Terry Eagleton: Tại sao Mác đúng, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội, 2012.

(2) Chủ nghĩa tam vô: Vô gia đình, Vô tổ quốc, Vô thần.

(3) C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.15.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.596.

XIN ĐỪNG ĐÁNH MẤT DÒNG LỊCH SỬ

 Nếu một mai không còn lịch sử

Bốn ngàn năm văn hiến chôn vùi
Máu cha ông dựng xây đất nước
Nhạt nhòa theo quá khứ buông xuôi.
Nếu một mai không còn lịch sử
Giống Tiên Rồng ai biết từ đâu
Từ cái thủa "mang gươm mở cõi"
Hóa mịt mờ cửa sổ bóng câu.
Nếu một mai quên rồi lịch sử
Ánh huy hoàng sấm động trời Nam
Có còn ai thấu hoài tường tỏ
Của một thời Âu Lạc Văn Lang.
Nếu một mai quên rồi lịch sử
Đinh - Lý - Trần - Lê đến từ đâu
Niềm tự hào kiên cường bất khuất
Và chiến công buồn bã gục đầu.
Nếu một mai xa rời lịch sử
Ai dạy con truyền thống hào hùng
Lòng yêu nước đánh lùi xâm lược
Giữ vẹn toàn mảnh đất quê hương.
Nếu một mai xa rời lịch sử
Qua mấy đời ai nhớ ai quên
Những Bạch Đằng - Đống Đa.. Biên Giới
Có hóa thành trận đánh "vô danh"…
Nếu một mai xa rời lịch sử
Khoảng trống không im lặng nhói lòng
Đâu bóng Người tìm đường cứu nước
Đâu xuân về nối lại non sông.
...
Dòng lịch sử xin đừng đánh mất
Vì đó là xương máu cha ông
Là văn hóa cội nguồn dân tộc
Xin đừng làm một kẻ "quay lưng"./.
ST


VIỆT NAM YÊU CẦU BỎ THÔNG TIN SAI SỰ THẬT TRONG PHIM TÀI LIỆU VỀ MÁY BAY MH370

 Chiều 6/4, tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã trả lời câu hỏi liên quan đến thông tin bộ phim tài liệu “MH370: Chiếc máy bay biến mất” được chiếu trên Netflix có nội dung không chính xác, cho rằng Việt Nam không hợp tác trong việc hỗ trợ tìm kiếm MH370.

Theo đó, Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nêu rõ: Ngay sau khi xảy ra vụ việc máy bay MH370 của Hãng Hàng không Malaysia Airlines bị mất tích, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã khẩn trương, chủ động lên các phương án ứng phó, tích cực chia sẻ thông tin và phối hợp với phía Malaysia cũng như các quốc gia mong muốn triển khai tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn trên quy mô lớn, đồng thời hỗ trợ phóng viên nước ngoài tham gia đưa tin.
Những nỗ lực của Việt Nam vào thời điểm đó đã được cộng đồng quốc tế và dư luận báo chí trong và ngoài nước ghi nhận. Cho tới nay, các cơ quan chức năng chưa hề đưa ra bất cứ một kết luận nào về vụ việc mất tích của máy bay MH370.
Do đó, bộ phim tài liệu “MH370, chiếc máy bay biến mất” đưa ra những nhận định khi chưa có kết luận chính thức của các cơ quan chức năng là sai sự thật, không có cơ sở, không phản ánh đúng nỗ lực của các cơ quan chức năng của Việt Nam và khiến dư luận Việt Nam bất bình.
Phó Phát ngôn Phạm Thu Hằng nhấn mạnh yêu cầu công ty sản xuất và nhà làm phim phản ánh chính xác những đóng góp của Việt Nam trong công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn máy bay MH370 của Malaysia và gỡ bỏ, sửa đổi những nội dung không phù hợp./.
ST


PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA NHÂN DÂN TRONG CUỘC CHIẾN “KHÔNG KHÓI SÚNG”

 Thời gian qua, hàng triệu người dân trong nước khi tiếp cận được các thông tin bẩn đã vô cùng phẫn nộ với các chiêu trò kích động, bịa đặt, bôi xấu, hạ bệ lãnh tụ, xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng và Nhà nước. Bức xúc trước thực trạng đó, nhiều người dân đã dùng ngay chính những phương tiện cá nhân tự có và sử dụng các mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo của mình để đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của những kênh “truyền thông bẩn” chủ yếu từ nước ngoài.

Ban đầu là hành động đơn lẻ của những cá nhân riêng lẻ. Sau một thời gian ngắn, vì cùng tư tưởng “chống giặc trên không gian mạng” nên những người dân dần liên kết với nhau một cách tự nguyện, từ tự phát trở thành tự giác, để phối hợp cùng đấu tranh, phản bác các kênh “truyền thông bẩn” và thông tin xấu độc. Họ thuộc nhiều thành phần, giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi, trong đó có cán bộ, công chức, giáo viên, nhà văn, nhà báo, nhà khoa học, bộ đội nghỉ hưu, sinh viên trên khắp mọi miền đất nước và cả một bộ phận người Việt Nam yêu nước đang sinh sống ở nước ngoài.
Nếu trước đây, Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành chiến tranh nhân dân giành độc lập cho dân tộc và thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ; thì ngày nay, trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, chúng ta tiếp tục thực hiện chiến tranh nhân dân trên mặt trận tư tưởng.
Không ít luận điệu xuyên tạc bịa đặt, bóp méo, xét lại lịch sử của các nhóm phản động ở trong và ngoài nước vừa tung ra online ngay lập tức bị nhiều người dân phản bác bằng lý lẽ thông minh, lập luận sắc bén. Thật khâm phục thái độ làm việc nghiêm túc, khoa học của một cán bộ cao tuổi nghỉ hưu có thể trích dẫn ngay những câu nói của Bác Hồ về một vấn đề nào đó, Bác nói mấy lần, trong những hoàn cảnh nào, trích dẫn cụ thể, tên sách, tập, trang, dòng, cơ quan và năm xuất bản để phản bác thông tin xuyên tạc lãnh tụ.
Một thanh niên, một cô giáo dạy trung học cơ sở, một thương binh-cựu chiến binh, một cán bộ nghỉ hưu... đều đồng lòng góp sức, góp công, góp phần tham gia “bẻ gãy” các luận điệu xuyên tạc về Đảng, về lãnh tụ và bôi đen, bóp méo thành tựu công cuộc đổi mới ở Việt Nam...
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Tin ở dân, chăm lo cho dân, lấy dân làm gốc là một bài học lớn được rút ra từ chiều sâu lịch sử đất nước ta. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Bác Hồ và Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của công tác dân vận, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Chính nhờ thế mà mặc dù với số lượng không đông, Đảng ta vẫn có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, dù đó là kẻ thù nguy hiểm và hung bạo nhất”.
Đảng ta dựa vào nhân dân, tin tưởng vào lực lượng, trí tuệ của nhân dân, chăm lo cho cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là điều căn bản, cốt yếu tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng là hạt nhân. Từ đó khẳng định chúng ta chỉ có thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước các thế lực thù địch, phản động khi chúng ta biết dựa vào và phát huy sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân./.
ST


Lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá đất nước

Phản bác những luận điệu xuyên tạc hệ thống pháp luật Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, góp phần giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, bảo vệ ổn định chính trị - xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh. Trong tiến trình xây dựng nền văn minh, tất cả các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Tùy theo tình hình, điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình để phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới và thực tiễn đất nước. Tuy nhiên, thời gian qua nổi lên việc một số đối tượng cơ hội chính trị, phản động lưu vong, chống phá Nhà nước từ bên ngoài tìm cách cấu kết với các hội nhóm, cá nhân trong nước kêu gọi xóa bỏ một số điều luật vì mục đích chính trị, hòng gây bất ổn xã hội, chống phá chế độ. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, các đối tượng nêu trên thường xuyên dùng thủ đoạn lợi dụng quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng để ra sức đả kích, xuyên tạc hoạt động của hệ thống chính trị mà trực tiếp nhất là nhắm vào các cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật của Việt Nam. Ðáng chú ý, Ðiều 331 Bộ luật Hình sự "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" hiện đang là mục tiêu hướng đến của các đối tượng chống phá. Lợi dụng những sự việc gây chú ý dư luận về phát ngôn, ứng xử, hoạt động xã hội của một số cá nhân, nghệ sĩ, người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội, những sự việc liên quan đến một số cá nhân bị khởi tố và xử lý theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự Việt Nam như trường hợp Trương Châu Hữu Danh và các thành viên nhóm "Báo Sạch"; Nguyễn Phương Hằng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Ðại Nam cùng một số cá nhân liên quan..., một số trang mạng phản động lập tức lớn tiếng rêu rao, xuyên tạc, đòi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017). Cụ thể là sau khi phiên tòa xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm là thành viên nhóm "Báo Sạch" kết thúc, một tờ báo tiếng Việt ở hải ngoại lập tức đăng tải bài viết: "Vụ xử "Báo Sạch": Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù". Bài báo đã dẫn lời một cá nhân của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) để quy kết Việt Nam ngăn cản "tự do ngôn luận", từ đó đòi có một sự cải cách trong thực thi quyền công dân. Hay liên quan đến vụ việc Nguyễn Phương Hằng cùng một số đối tượng tổ chức nhiều buổi livestream với nội dung thông tin không kiểm chứng, xâm phạm đời tư của người khác đã bị cơ quan chức năng tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam, một số tổ chức, hội nhóm phản động đã đưa ra nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, kích động, vu khống các lực lượng chức năng. Ðiển hình như trên facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân cho rằng: "Công an sử dụng Ðiều 331 để khởi tố bà Hằng là sai trái". Còn trang RFA đã phỏng vấn một số cá nhân tự phong là "nhà dân chủ", thiếu thiện chí với Việt Nam, đã chỉ trích Nhà nước, chính quyền, và cho rằng việc bắt Nguyễn Phương Hằng theo Ðiều 331 là "không hợp lý". Các đối tượng không ngừng rêu rao luận điệu nhằm xuyên tạc Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là "phục vụ thủ đoạn của chính quyền cộng sản. Các cơ quan chức năng thực hiện theo Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là vi phạm quyền tự do dân chủ, nhân quyền". Từ đó quy kết: "Ở Việt Nam, pháp luật không hề tồn tại, quyền dân chủ ở Việt Nam bị bóp nghẹt"; đồng thời kêu gọi đòi xóa bỏ điều luật này với lập luận rằng "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ - một điều luật hoàn toàn thừa thãi", "đây là điều luật mơ hồ", "được tạo ra để chụp mũ lên bất kỳ đối tượng nào mà Việt Nam muốn trừng trị", "cần xóa bỏ điều luật này khỏi Bộ luật Hình sự",... Một thủ đoạn quen thuộc được các đối tượng chống phá tiếp tục sử dụng đó là "tôn vinh" những đối tượng vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng xử lý theo đúng quy định của pháp luật bằng những cái tên mỹ miều như "nhà dân chủ", "nhà phản biện", "luật sư nhân quyền", để rồi lớn tiếng cho rằng việc bắt giam những người này là "vi phạm dân chủ, nhân quyền". Có thể nhận thấy mục đích mà các đối tượng kêu gọi xóa bỏ Ðiều 331 Bộ luật Hình sự là nhằm đưa các đối tượng chống phá ra ngoài vòng pháp luật; xuyên tạc hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng để hạ bệ, bôi nhọ hệ thống pháp luật Việt Nam, chính quyền các cấp, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng, vai trò quản lý của Nhà nước. Cần khẳng định rằng pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do, toàn diện của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trong vòng trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm quyền con người. Liên quan đến quyền tự do dân chủ, một căn cứ quan trọng để soi chiếu đó là Khoản 2 Ðiều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948: "Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn". Nhiều quốc gia trên thế giới cũng có những quy định rõ ràng về việc thực hành dân chủ cũng như bảo đảm quyền tự do ngôn luận. Cụ thể, Hiến pháp Ðức quy định "Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân"... Ở Việt Nam, Nhà nước luôn đặt quyền tự do dân chủ của công dân lên hàng đầu, sự tôn trọng và đảm bảo được quy định rõ trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật. Ðiều 15, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác". Trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Ðiều 331 quy định về "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" là sự cụ thể hóa Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; giúp điều chỉnh, ngăn chặn, có chế tài đối với các hành vi vi phạm, lệch chuẩn trong các quan hệ xã hội, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Thực tế chứng minh, công dân Việt Nam có đầy đủ các quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền đó. Việc mỗi tổ chức và cá nhân thông qua nhiều hình thức đa dạng để bày tỏ ý kiến cá nhân, nổi lên thời gian qua là việc thiết lập và sử dụng tài khoản mạng xã hội như là xu thế tất yếu trong bối cảnh của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 hiện nay. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân khi đưa lên công khai trên phương tiện truyền thông, trên mạng xã hội nếu phù hợp với tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc. Ðồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân sử dụng mạng xã hội với mục đích xấu, động cơ không trong sáng, núp dưới danh nghĩa bảo vệ quyền tự do dân chủ mà thực chất là có những hành vi chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác, xâm phạm đến Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng. Ðiều này thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các hành vi vi phạm pháp luật, răn đe, trừng phạt thích đáng đối với những đối tượng có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn mang tính nhân văn, nhân đạo tạo cơ hội cho người mắc sai lầm, vi phạm có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, một số người do thiếu thông tin, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng đã cố tình bất hợp tác, lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại đến lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác. Nguy hiểm hơn, một số đối tượng, phần tử cơ hội, phản động thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Ðảng, Nhà nước và chế độ ta. Ðể đảm bảo một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh với những hành vi nêu trên nhất thiết phải chịu những chế tài xử lý nghiêm khắc. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền kiến thức pháp luật và nâng cao ý thức trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong cộng đồng cũng cần được quan tâm. Bởi đó là cách thức bền vững và hữu hiệu để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội cho mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng, cũng như góp phần tăng cường ý thức, trách nhiệm của công dân đối với xã hội, đất nước

“Dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông

“Dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm chủ trương “dân thụ hưởng” vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng... CỐ TÌNH XUYÊN TẠC VỚI MƯU ĐỒ XẤU Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên. Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên... SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó. Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20/3/2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng. Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững. Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế... ĐỘNG LỰC ĐỂ DÂN TIN ĐẢNG Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn.

ĐẤU TRANH THÌ PHẢI HỢP LÝ, HỢP TÌNH!

     Đang chuẩn bị đi ngủ thì Hùng thấy anh họ của mình là Hải gọi điện. Vừa bật máy nghe, anh Hải đã nghiêm giọng:
- Em xóa ngay mấy câu bình luận trên diễn đàn X đi. Anh thấy ngôn ngữ ấy không phù hợp với vị trí, công việc của em đâu!
- À, tại em bực quá anh ạ! Anh biết không, cái tay đăng bài đó em theo dõi đã lâu. Hắn chuyên soi mói, lắp ghép, nhào nặn thông tin để xuyên tạc, làm xấu hình ảnh cán bộ, công chức, nhất là hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. 

Trước phân trần của Hùng, anh Hải nhẹ nhàng: 
- Cái đó anh cũng biết mà. Nhưng có cần thiết để em phải nổi nóng và tung lên mạng xã hội như vậy không?
- Anh biết đấy, trước thực trạng thiếu hụt trầm trọng cán bộ, nhân viên đăng kiểm, Cục Đăng kiểm mới đề nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hỗ trợ lực lượng, tăng cường cán bộ, nhân viên đăng kiểm hỗ trợ các trung tâm đăng kiểm, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân. Vậy mà một số người cố tình xuyên tạc, cho rằng Quân đội, Công an làm sai chức năng, “lấn sân” sang ngành dân sự. Cái tay viết bài đăng trên trang X mà em phản biện còn quy chụp các đăng kiểm viên của Quân đội bỏ cả việc chuyên môn để tranh thủ “kiếm thêm”. Như vậy anh bảo em không bực làm sao được?
Thấy Hùng vẫn đang “sung”, anh Hải ôn tồn phân tích:
- Có những người luôn nhìn cuộc đời bằng ánh mắt tiêu cực. Có những kẻ còn nhận tiền để viết bài nói xấu chế độ. Với họ, ta mà nổi nóng, chửi tục, văng bậy là mắc mưu kẻ xấu. Nhiều người nhìn vào sẽ thấy hóa ra ta cũng chỉ... ngang họ. Nếu em hiểu sự việc, phân tích cho mọi người hiểu sẽ ý nghĩa hơn nhiều. Đấu tranh với cái sai nhưng bằng phương pháp khoa học mới đạt được hiệu quả. 
     Nghe anh Hải phân tích có tình, có lý, Hùng dịu giọng: “Em hiểu rồi! Đúng là em nóng tính, chưa nghĩ được sâu! Em sẽ xóa các lời bình luận khiếm nhã và học cách đấu tranh hợp lý, hợp tình ạ”!./.
Yêu nước ST.

THƯỢNG TƯỚNG HOÀNG XUÂN CHIẾN TIẾP ĐOÀN CỤC HÓA HỌC BỘ TỔNG THAM MƯU LÀO!

     Chiều 6-4 tại trụ sở Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã tiếp đoàn Cục Hóa học, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Lào do Đại tá Thiem Homsana, Cục trưởng làm trưởng đoàn nhân dịp thăm, làm việc tại Việt Nam!
     Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến nhấn mạnh mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Lào luôn được lãnh đạo cấp cao hai nước, hai Bộ Quốc phòng coi trọng gìn giữ, củng cố và mong muốn vun đắp ngày càng trở nên tốt đẹp hơn. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến khẳng định hợp tác quốc phòng Việt Nam-Lào thời gian qua không ngừng phát triển toàn diện, hiệu quả, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ hai nước. Đặc biệt, trong “Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 2022”, Bộ Quốc phòng hai nước đã phối hợp tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần lan tỏa về mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, thủy chung, trong sáng Việt Nam-Lào. 
     Đại tá Thiem Homsana thông báo với Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến kết quả cuộc làm việc trước đó với Binh chủng Hóa học Việt Nam; khẳng định sẽ nỗ lực thúc đẩy thực hiện kế hoạch hợp tác trong năm giữa hai bên. Đại tá Thiem Homsana bày tỏ mong muốn Bộ Quốc phòng Việt Nam quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa cho hợp tác giữa lực lượng Hóa học hai nước.
     Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến bày tỏ ghi nhận và đánh giá cao kết quả hợp tác giữa lực lượng Hóa học hai nước trong thời gian qua; đề nghị lực lượng Hóa học hai nước tập trung tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có kiến thức phòng hóa hiện đại, có trình độ, năng lực làm chủ trang thiết bị tiên tiến. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến khẳng định Bộ Quốc phòng Việt Nam luôn ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để lực lượng Hóa học hai bên tăng cường hợp tác, góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác quốc phòng song phương./.


Yêu nước ST.

 

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị 

tư tưởng Hồ Chí Minh

Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này.

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.

Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”(1). Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

Tỉnh táo, nhận diện đúng các luận điệu xuyên tạc về đổi mới chính trị - xã hội ở Việt Nam

Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.

Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Thủ đoạn tinh vi, khó lường  

Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...".