Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

Điểm mới của Quy định 96-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị.

 Ngày 02-02-2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 96-QĐ/TW (sau đây gọi là Quy định 96-QĐ/TW) về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị thay thế Quy định số 262-QĐ/TW ngày 08-10-2014 của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Quy định 96-QĐ/TW có nhiều điểm mới về nội dung, cập nhật và khái quát công tác cán bộ của Đảng. Làm rõ những điểm mới trong Quy định 96-QĐ/TW có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất nhận thức và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên về lấy phiếu tín nhiệm hiện nay.

Điểm mới của Quy định 96-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị

Quy định số 96-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị có nhiều điểm mới về nội dung, cập nhật và khái quát công tác cán bộ của Đảng - Ảnh: vietnamplus.vn

Sau Đại hội XIII của Đảng, để đưa các nội dung của Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống thì hàng loạt các quy định thi hành Điều lệ Đảng đã được các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung như: Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng; Quy định số 24-QĐ/TW ngày 30-7-2021 về thi hành Điều lệ Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 41-QĐ/TW ngày 03-11-2021 của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; Thông báo kết luận số 20-TB/TW, ngày 08-9-2022 của Bộ Chính trị về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật...

Ngày 02-02-2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định 96-QĐ/TW về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, thay thế Quy định số 262-QĐ/TW ngày 08-10-2014 của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội.

Thực tế cho thấy, những nội dung về quản lý, đánh giá cán bộ tuy đã được quy định nhưng cần được cập nhật, bổ sung. Nghị quyết Đại hội XIII chỉ rõ: “Quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng về công tác quản lý đảng viên chưa bao quát hết tình hình thực tiễn”(1), “Việc cụ thể hóa Điều lệ Đảng về nguyên tắc tổ chức và cơ cấu tổ chức của Đảng còn có nội dung chưa phù hợp”(2), “Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong tổ chức và hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng có nội dung chưa được quy định cụ thể phù hợp với tình hình thực tế, nhất là về mối quan hệ, trách nhiệm giữa tập thể, cá nhân và người đứng đầu, nên khó xác định trách nhiệm của cá nhân khi xảy ra sai phạm”(3)

Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng các quy định cho thấy còn có những vướng mắc, bất cập do các quy định cụ thể hóa Điều lệ Đảng chưa thực sự đồng bộ và thống nhất, chưa dự liệu hết những tình huống xảy ra trong thực tế.

Đại hội XIII chỉ rõ: “Những vướng mắc, bất cập nêu trên chủ yếu liên quan đến nội dung trong các quy định, hướng dẫn của Trung ương”(4). Do vậy, việc Bộ Chính trị ban hành Quy định 96-QĐ/TW thay thế Quy định số 262-QĐ/TW là rất cần thiết, đáp ứng đòi hỏi thực tiễn đặt ra. Quy định 96-QĐ/TW có những điểm mới nổi bật như sau:

Thứ nhất, về bố cục, kết cấu

Điều 1, Quy định 96-QĐ/TW đã bổ sung “Quan điểm” bên cạnh “Nguyên tắc” của Điều 1, Quy định 262-QĐ/TW. Nội dung của Điều 1, Quy định 96-QĐ/TW có tính cô đọng, khái quát và nêu rõ việc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng, đề cập rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, người đứng đầu, nhất là người được lấy phiếu tín nhiệm, người ghi phiếu tín nhiệm.

Điều 1, Quy định 96-QĐ/TW nêu rõ: lấy phiếu tín nhiệm là nội dung quan trọng trong đánh giá cán bộ, được thực hiện định kỳ chứ không phải chỉ vào năm thứ 3 giữa nhiệm kỳ. Đây là điểm mới rất đáng chú ý vì Quy định 262-QĐ/TW nêu: “việc lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện định kỳ vào năm thứ 3 giữa nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp”, “Phiếu tín nhiệm là một trong những kênh thông tin tham khảo quan trọng cho việc đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ”.

Thứ hai, Quy định 96-QĐ/TW bổ sung Điều 2. Mục đích, yêu cầu

1. Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

2. Góp phần đánh giá uy tín và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của cán bộ; giúp cán bộ “tự soi”, “tự sửa”, tiếp tục phấn đấu, rèn luyện trong công tác; là cơ sở quan trọng để cấp ủy, tổ chức đảng đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ; nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý, giám sát cán bộ.

3. Quá trình tổ chức lấy phiếu tín nhiệm phải thực hiện nghiêm theo quy định này và các văn bản liên quan, bảo đảm thực chất, góp phần tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng.

Chuyển Điều 2 của Chương 1 về phạm vi, đối tượng vào Chương 2 và chuyển các quy định có tính liệt kê xuống phần Phụ lục.

Thứ ba, Điều 5, Chương III, Quy định 96-QĐ/TW bổ sung tiêu chí thay cho nội dung lấy phiếu tín nhiệm ở Điều 7, Quy định 262-QĐ/TW

Điều 5. Tiêu chí lấy phiếu tín nhiệm

1. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật

- Lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; tinh thần trách nhiệm trong công việc, thái độ phục vụ Nhân dân; liêm chính, trung thực, công tâm, khách quan trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

- Ý thức tổ chức kỷ luật, việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; chấp hành sự phân công của tổ chức; thực hiện các quy định, quy chế của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi công tác; khả năng quy tụ, đoàn kết nội bộ và xử lý những vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm.

- Kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; sự gương mẫu của bản thân và vợ, chồng, con trong việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú.

2. Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (tính từ đầu nhiệm kỳ đến thời điểm lấy phiếu)

- Kết quả lãnh đạo, tham mưu, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực, phạm vi phụ trách; tính năng động, đổi mới, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

- Số lượng, chất lượng sản phẩm, hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan, đơn vị trực thuộc.

- Kết quả lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; công tác kiểm tra, giám sát; giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực, phạm vi phụ trách.

Điểm mới về tiêu chí là, đã cập nhật thêm các quy định mới của Đảng sau Đại hội XIII như: kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; sự gương mẫu của bản thân và vợ, chồng, con trong chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; việc thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú.

Như vậy, so với Quy định 262-QĐ/TW, việc thường xuyên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú cũng được đưa vào tiêu chí lấy phiếu tín nhiệm.

Bên cạnh “Kết quả lãnh đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực, phạm vi phụ trách” của Quy định 262-QĐ/TW thì Quy định 96-QĐ/TW bổ sung: “Kết quả lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát” một số tiêu chí lấy phiếu tín nhiệm.

Thứ tư, Quy định 96-QĐ/TW bổ sung mới Điều 8. Xây dựng kế hoạch lấy phiếu tín nhiệm

Căn cứ Quy định của Bộ Chính trị về lấy phiếu tín nhiệm, các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định, trong đó xác định cụ thể: Mục đích, yêu cầu, số lượng và chức danh lấy phiếu tín nhiệm, thành phần ghi phiếu tín nhiệm đối với từng chức danh, việc công khai và sử dụng kết quả phiếu tín nhiệm; phân công tổ chức thực hiện… phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thứ năm, về quy trình lấy phiếu tín nhiệm.

Điều 9, Quy định 262-QĐ/TW chia 3 nhóm cán bộ lấy phiếu tín nhiệm:

9.1- Đối với Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư

9.2- Đối với ủy viên ban thường vụ cấp ủy các cấp

9.3- Đối với các chức danh cán bộ khác (nêu tại Điều 5 của Quy định này)

Quy trình lấy phiếu tín nhiệm tại Điều 9, Quy định 96-QĐ/TW được bổ sung theo hướng chia cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm thành 2 nhóm:

1. Đối với các chức danh cấp ủy và chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị

2. Đối với các chức danh cán bộ do Quốc hội và hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn

Việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành theo 3 bước:

Bước 1: Chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm

Bước 2: Tổ chức lấy phiếu tín nhiệm

Bước 3: Báo cáo kết quả lấy phiếu tín nhiệm

Thứ sáu: về cách thức công khai kết quả phiếu tín nhiệm

Điều 10, Quy định 262-QĐ/TW nêu:

- Việc công khai kết quả lấy phiếu tín nhiệm được công bố tại các hội nghị lấy phiếu tín nhiệm có thành phần ghi phiếu tín nhiệm nêu tại Điều 5 của Quy định này.

- Căn cứ vào tình hình cụ thể, cấp có thẩm quyền quyết định công khai tín nhiệm đối với cán bộ ở phạm vi, đối tượng khác.

Điều 10, Quy định 96-QĐ/TW nêu rõ ràng, cụ thể hơn:

- Công bố tại các hội nghị lấy phiếu tín nhiệm.

- Đối với Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư thì công khai trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

- Đối với các chức danh do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu, phê chuẩn thì công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để cử tri và Nhân dân biết.

- Đối với các chức danh, chức vụ còn lại trong hệ thống chính trị thì công khai tại hội nghị lấy phiếu tín nhiệm.

Thứ bảy, về sử dụng kết quả phiếu tín nhiệm

Điều 11, Quy định 96-QĐ/TW được bổ sung khá đầy đủ, cập nhật, đồng bộ hóa với các quy định của Đảng sau Đại hội XIII.

Một là, Quy định 96-QĐ/TW khẳng định “Kết quả phiếu tín nhiệm được sử dụng để đánh giá cán bộ, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, miễn nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ”.

Nếu trước đây, “kết quả phiếu tín nhiệm được sử dụng để tham khảo trong đánh giá cán bộ” thì nay là để “đánh giá” chứ không phải chỉ là một kênh để tham khảo trong đánh giá cán bộ. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì đánh giá giá cán bộ vẫn luôn là khâu khó, thậm chí bị coi là khâu “yếu” trong công tác cán bộ của Đảng.

Hai là, theo Quy định 262-QĐ/TW “Những đồng chí có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp cần được xem xét đưa ra khỏi danh sách quy hoạch các chức vụ cao hơn khi rà soát, bổ sung quy hoạch và xem xét bố trí, sắp xếp công tác phù hợp”, thì Quy định 96-QĐ/TW làm rõ “Những trường hợp có trên 50% nhưng dưới 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp thì cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ đưa ra khỏi quy hoạch các chức vụ cao hơn; xem xét cho thôi giữ chức vụ đang đảm nhiệm, bố trí công tác khác hoặc cho từ chức hoặc tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm theo quy định”.

Như vậy, trước đây “việc đưa ra khỏi danh sách quy hoạch các chức vụ cao hơn” chỉ được tiến hành “khi rà soát, bổ sung quy hoạch” thì nay “cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ đưa ra khỏi quy hoạch các chức vụ cao hơn” chứ không đợi đến khi rà soát, bổ sung quy hoạch.

Quy định 96-QĐ/TW thay cụm từ mang tính chung chung của Quy định 262-QĐ/TW là “xem xét bố trí, sắp xếp công tác phù hợp” bằng cụm từ rất rõ ràng, cụ thể “xem xét cho thôi giữ chức vụ đang đảm nhiệm, bố trí công tác khác hoặc cho từ chức hoặc tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm theo quy định”.

Ba là, Quy định 262-QĐ/TW nêu: “Những đồng chí có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên cần kịp thời xem xét, nếu xét thấy không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thì cho từ chức hoặc cho thôi giữ chức vụ để bố trí công tác khác, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác” thì Quy định 96-QĐ/TW làm rõ: “Những trường hợp có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên thì cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện miễn nhiệm chức vụ đang đảm nhiệm và bố trí công tác khác (thấp hơn) mà không chờ đến hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm”.

Như vậy, trước đây “Những đồng chí có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên cần kịp thời xem xét, nếu xét thấy không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thì cho từ chức hoặc cho thôi giữ chức vụ để bố trí công tác khác” thì nay “Những trường hợp có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên thì cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện miễn nhiệm chức vụ đang đảm nhiệm và bố trí công tác khác (thấp hơn) mà không chờ đến hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm”.

Đây là điểm mới rất thuyết phục, thể hiện tính rõ ràng, khả thi và đồng bộ hóa các quy định của Đảng. Trước đây, Quy định số 260-QĐ/TW ngày 02-10-2009 về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ đã có các hình thức cho từ chức hoặc cho thôi giữ chức vụ. Trong đó, cho thôi giữ chức vụ được định nghĩa “là việc cấp có thẩm quyền quyết định cho cán bộ chấm dứt chức vụ để nhận nhiệm vụ khác hoặc nghỉ để chữa bệnh. Việc thôi giữ chức vụ gắn với yếu tố khách quan”. 

Hiện nay, Quy định số 41-QĐ/TW ngày 03-11-2021 của Bộ Chính trị về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ chỉ còn các hình thức miễn nhiệm và từ chức nên việc Quy định 96-QĐ/TW quy định: “Những trường hợp có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp trở lên thì cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ thực hiện miễn nhiệm chức vụ đang đảm nhiệm và bố trí công tác khác (thấp hơn) mà không chờ đến hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm” thể hiện tính cập nhật, đồng bộ cũng như sự nghiêm khắc của Đảng trong công tác cán bộ. Vì, theoQuy định số 41-QĐ/TW ngày 03-11-2021 của Bộ Chính trị: “Từ chức là việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận” nhưng “Miễn nhiệm là việc cấp có thẩm quyền quyết định cho cán bộ thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút, có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức”.

Quy định 96-QĐ/TW bổ sung trường hợp “Đối với người được lấy phiếu tín nhiệm ở 2 nơi thì việc đánh giá tín nhiệm đối với cán bộ sẽ do cấp có thẩm quyền quyết định trên cơ sở xem xét tổng thể kết quả phiếu tín nhiệm ở từng nơi”.

Như mục đích, yêu cầu nêu tại Điều 2, Quy định 96-QĐ/TW, việc lấy phiếu tín nhiệm góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; đánh giá uy tín và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của cán bộ; giúp cán bộ “tự soi”, “tự sửa”, tiếp tục phấn đấu, rèn luyện trong công tác; là cơ sở quan trọng để cấp ủy, tổ chức đảng đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ; nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý, giám sát cán bộ.

Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm thực chất, có hiệu quả đối với các chức danh cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định đối với mỗi tổ chức đảng, đảng viên đáp ứng yêu cầu thực tiễn chính là thiết thực đưa các quy định của Đảng vào cuộc sống, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đường lối, chủ trương có rồi, phải có biện pháp thực hiện cho tốt. Chủ nghĩa xã hội là phải có biện pháp. Kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần, và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước”(5).

_________________

Ngày nhận bài: 06-02-2023; Ngày bình duyệt: 13-02-2023; Ngày duyệt đăng: 24-02-2023

 

(1), (2), (3), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.266-267, 273, 273, 300.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.25.

Phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

 Khát vọng độc lập, tự cường dân tộc và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Để thực hiện khát vọng cao cả đó, Người chỉ rõ,phải dựa vào dân, tập hợp lực lượng đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh vô cùng, vô tận của nhân dân. Trong công cuộc đổi mới đất nước, kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy vai trò của nhân dân để xây dựng đất nước độc lập, tự cường, phồn vinh, hạnh phúc có ý nghĩa cấp thiết.

Phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng và phát triển đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp bổ túc văn hóa của bà con lao động ở khu Lương Yên, thành phố Hà Nội (ngày 27-3-1956) - Ảnh: hochiminh.vn

1. Hồ Chí Minh với khát vọng đất nước độc lập, tự do, phồn vinh và hạnh phúc

Sinh ra trong cảnh nước mất, nhà tan, Hồ Chí Minh thấu hiểu sâu sắc nỗi đau, nỗi nhục của người dân mất nước. Dưới ách cai trị của đế quốc Pháp, bị đầy đọa về thể xác, bị nô dịch về tinh thần, bị đàn áp, khủng bố tàn bạo, nhưng với ý chí quật cường và lòng yêu nước cháy bỏng, các thế hệ nhân dân Việt Nam không ngừng đứng lên đấu tranh giành độc lập. Khát vọng “độc lập, tự do” ngấm sâu trong Hồ Chí Minh, thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước. “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, đó là niềm trăn trở khôn nguôi, là lẽ sống cao quý suốt cuộc đời Hồ Chí Minh. Ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã có tầm nhìn thời đại, sự trải nghiệm và hiểu biết mới. Chắt lọc những giá trị văn hóa, tư tưởng của nhân loại, đúc rút những bài học kinh nghiệm quý giá của cách mạng thế giới - từ các cuộc cách mạng tư sản, Cách mạng Tháng Mười Nga đến phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa, phong trào công nhân kết hợp với khát vọng cháy bỏng giành độc lập dân tộc, sự nhạy cảm chính trị đặc biệt, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc và cách thức xây dựng đất nước độc lập, tự cường khi giành được độc lập. Đó là con đường cách mạng vô sản, là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là đất nước giàu mạnh gắn liền với cuộc sống hạnh phúc của mỗi người dân.

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chứng minh cho sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập không chỉ là sự tổng kết cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam, mà còn khẳng định chân lý quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của bất cứ ai, bất cứ dân tộc nào. Triết lý Hồ Chí Minh nêu “nếunước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(1) đã trở thành phương châm, nguyên tắc và giá trị cốt lõi, định hướng con đường phát triển của nước Việt Nam mới.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam với xuất phát điểm là một nước nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu với hơn 90% dân số mù chữ, nhưng với niềm tin và khát vọng phát triển cháy bỏng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra câu hỏi “làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu... dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu”(2). Từ lời khẳng định chủ quyền “Sông núi nước Nam vua Nam ở”, ý thức tự tôn, tự hào dân tộc “vốn xưng nền văn hiến đã lâu” của cha ông, đến thời đại Hồ Chí Minh, tầm nhìn và vị thế dân tộc có sự phát triển vượt bậc: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(3).

Định hướng xây dựng một nước Việt Nam “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đã được chế định thành tiêu ngữ của mọi văn bản nhà nước, gắn với quốc hiệu từ “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” đến “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đó cũng là khát vọng thôi thúc cả dân tộc tiếp tục đấu tranh bảo vệ độc lập, giành quyền sống và mưu cầu hạnh phúc; phù hợp với xu thế phát triển tiến bộ của nhân loại.

Trong gian khổ, ác liệt của cuộc chiến tranh trường kỳ chống lại những đế quốc xâm lược giàu mạnh, Người vẫn khẳng định tinh thần bất diệt "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"(4), nêu lên chân lý bất hủ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do(5), để "Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!"(6).

2. Dựa vào dân, vì dân để xây dựng đất nước độc lập, tự cường, phồn vinh và hạnh phúc

Với Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể của cuộc đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước; đồng thời là chủ thể tối cao của đất nước và quyền lực Nhà nước. Người chỉ rõ: Nhân dân là mọi người Việt Nam, không phân biệt thành phần, giới tính, giai cấp, giàu nghèo, tôn giáo... trừ bọn phản nước. Chữ Dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh được mở ở biên độ rộng nhất, bao quát nhất, chứa đựng trong đó mọi tầng lớp nhân dân với đầy đủ sự đa dạng và khác biệt.

Truyền thống thân dân, trọng dân của dân tộc “đẩy thuyền là dân, mà lật thuyền cũng là dân”, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” đã được Hồ Chí Minh kế thừa, nâng tầm và phát huy trong thời đại mới.

Không chỉ dành tình yêu thương vô hạn đến các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người lao động, Người nhận thức sâu sắc về sức mạnh của nhân dân khi được giác ngộ, tập hợp dưới sự lãnh đạo của một tổ chức chân chính. Người khẳng định “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(7).

Theo Hồ Chí Minh, chăm lo đời sống nhân dân là ưu tiên hàng đầu trong mọi chính sách của Đảng và Nhà nước. Đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân là mẫu số chung để đoàn kết toàn dân Việt Nam, là cơ sở cho sự thống nhất tư tưởng, xây dựng niềm tin, phát huy tinh thần và nội lực dân tộc trong công cuộc giải phóng, bảo vệ và xây dựng đất nước. Vì vậy, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã gấp rút chỉ đạo, lãnh đạo thực hiện xây dựng chế độ mới, thiết chế Nhà nước Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước do dân làm chủ, của nhân dân và vì nhân dân.

Đối với Đảng, khi trở thành Đảng cầm quyền, Người cảnh báo nguy cơ suy thoái: kiêu ngạo, quan liêu, xa dân, hủ hóa, tham nhũng…. và luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”(8), “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”(9). Bên cạnh nhiệm vụ cấp bách bấy giờ là cứu đói cho dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện cuộc đấu tranh trọng đại “diệt giặc dốt” nhằm nâng cao trình độ dân trí và ý thức dân chủ cho nhân dân, để mỗi người dân biết “quyền lợi và bổn phận của mình”, xứng đáng với công dân tự do của một nước độc lập.

Đặt trọng tâm vào xây dựng con người của nền văn hóa mới, trong bối cảnh ác liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người phát động phong trào xây dựng đời sống mới cho nhân dân với nếp sống mới, lối sống văn hóa mới mà sợi chỉ đỏ xuyên suốt là Thi đua ái quốc nhằm mục đích “Diệt giặc đói - Diệt giặc dốt - Diệt giặc ngoại xâm” với cách làm “dựa vào: Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân”(10)

Chăm lo đời sống nhân dân còn là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân. “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(11). “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(12). Người nhắn gửi các nhân viên, cơ quan chính quyền các cấp “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc, phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết. Song ngay từ bước đầu, chúng ta phải theo đúng phương châm”(13).

Người cũng chỉ ra lực lượng thực hiện tất cả chính sách của Đảng và Nhà nước, có thể biến tất cả mục tiêu tốt đẹp thành hiện thực không ai khác là nhân dân. Trong nhân dân có nguồn lực tiềm tàng, vô tận, cần phát huy vai trò của nhân dân theo phương châm “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(14). Đảng và Nhà nước thực hiện vai trò người cầm lái, người tổ chức để nhân dân bằng trí tuệ và sức mạnh vốn có giải quyết các vấn đề và phục vụ lợi ích của chính mình. Người từng nói: Đảng và Chính phủ không chỉ cần tiến hành “khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế”; “phát triển công tác vệ sinh, y tế”; “sửa đổi chế độ giáo dục”; “củng cố quốc phòng”,... mà còn phải tổ chức, giáo dục,động viên nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân xây dựng đời sống ấm no, xây dựng đất nước tự cường và hạnh phúc.

3. Phát huy vai trò nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Kiên định con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra, qua hơn 35 năm đổi mới, dân tộc Việt Nam vững vàng vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử, để đạt được thành tựu to lớn, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(15). Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng XHCN.

Hiện nay, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, đe dọa hòa bình, ổn định và an ninh thế giới; các nước vừa hợp tác vừa cạnh tranh gay gắt trong việc bảo vệ lợi ích cốt lõi của dân tộc. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển nhanh chóng, đòi hỏi sự bứt phá, đột phá mạnh mẽ, toàn diện. Việt Nam qua hơn 35 năm đổi mới đã đạt thành tựu to lớn nhưng cũng còn nhiều khó khăn, bất cập, những nguy cơ nếu không được giải quyết, tháo gỡ sẽ trở thành điểm nghẽn, thậm chí đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, độc lập chủ quyền và sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, đạt mục tiêu lớn mà Đại hội XIII đề ra, chúng ta cần huy động tối đa nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó có phát huy vai trò và sức mạnh của nhân dân.

Trước hết, khẳng định, làm rõ và cụ thể vai trò làm chủ của nhân dân. Trong các văn kiện Đại hội, nghị quyết của Đảng; Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước; trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, có quyền tham gia vào các công việc của Nhà nước, giám sát hoạt động quản lý nhà nước và phản biện xã hội, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, làm chủ vận mệnh của bản thân, làm chủ vận mệnh của đất nước.

Trong mối quan hệ với nhân dân, cán bộ, công chức là người được “ủy quyền”, thực hiện các nhiệm vụ do nhân dân giao phó, chịu sự kiểm soát và chịu trách nhiệm trước nhân dân về kết quả công việc của mình. Nhà nước phải xây dựng và bảo đảm trên thực tế các cơ chế về kiểm tra, giám sát, đánh giá của nhân dân để điều chỉnh hoạt động của mình. Nếu thiết chế nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức không đáp ứng yêu cầu của nhân dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân thì nhân dân có quyền “đuổi Chính phủ đi”. Từ đó, tránh tâm lý chủ quan, tự mãn, coi thường nhân dân - một căn bệnh của một bộ phận cán bộ, công chức hiện nay.

Để nhân dân thực sự là người làm chủ, cần xây dựng, bồi đắp và thực hành năng lực làm chủ của nhân dân. Phát huy dân chủ phải gắn liền với nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền. Đó là lý do ngay sau khi cách mạng thành công, trong bộn bề công việc cấp thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào bình dân học vụ để nâng cao dân trí và tiến hành Tổng tuyển cử để thực hành quyền dân chủ của nhân dân. Trong quá trình đổi mới đất nước, trình độ dân trí không ngừng nâng cao, ý thức và năng lực làm chủ của nhân dân ngày một cải thiện; thể chế thực thi các quyền làm chủ của nhân dân được xác lập cụ thể và đầy đủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong 5 bài học đúc rút từ 35 năm đổi mới, Đảng ta nêu bài học thứ hai là “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân”(16).

Trong thời kỳ phát triển mới, bài học đó cần trở thành phương châm hành động, để nhân dân thật sự là chủ, có đầy đủ năng lực, quyền lợi và trách nhiệm của người làm chủ, để cùng “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(17).

Chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu trong mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng nêu nhiệm vụ quan trọng là “cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(18) với các vấn đề trọng tâm như an ninh xã hội, an ninh con người, xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh; nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, chính sách việc làm, thu nhập; phát huy dân chủ và nâng cao dân trí. Đảng không chỉ quan tâm nâng cao đời sống nhân dân ở diện rộng theo từng giai cấp, tầng lớp mà còn “quan tâm đến mọi người dân”(19).

Tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, với con đường phát triển của dân tộc. Vai trò cầm quyền của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước và con đường đi lên CNXH được duy trì hay không, phải dựa trên yếu tố căn cốt, nền tảng, đó là “dân tin”. Niềm tin của dân được xây dựng bởi đường lối, chủ trương, định hướng phát triển đúng đắn của Đảng, Nhà nước, là kết quả của thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, từ nền hành chính liêm chính, phục vụ nhân dân,kinh tế phát triển,văn hóa, giáo dục tiến bộ,xã hội lành mạnh, nhân ái, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức “thực đức, thực tài”, thực sự là công bộc của dân, biết đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên trên hết, trước hết.

Từ niềm tin đó vun đắp, củng cố sự đoàn kết, nhất trí, tạo được sự đồng thuận trong xã hội; khơi nguồn sáng tạo, hứng khởi và phát huy trách nhiệm xã hội, khát vọng chấn hưng đất nước của mỗi người dân với đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Muốn vậy, trước hết mỗi cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu trong mỗi việc làm, lời nói, trong cách ứng xử với dân phải thật “mực thước” để dân tin, dân mến, dân phục và dân làm theo.

_________________

Ngày nhận bài: 23-11-2022; Ngày bình duyệt: 30-11-2022; Ngày duyệt đăng: 08-3-2023  

 

(1), (2), (4), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 64, 35, 534, 64.

(3), (8), (10), (12), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr. 256, 289, 556, 75, 81.

(5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr. 131, 131.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Sđđ, tr. 453.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Sđđ, tr. 334.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, Sđđ, tr. 518.

(15), (16), (18), (19) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 25, 27-28, 116, 116.

(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Sđđ, tr. 660.


Vấn đề ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong báo chí, truyền thông ở Việt Nam hiện nay.

 Hiện nay, các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo và dữ liệu lớn đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, nhằm trợ giúp việc sản xuất nội dung, chia sẻ tin tức, tương tác với độc giả và tìm hiểu thông tin người dùng… Bài viết khái quát về trí thông minh nhân tạo và việc ứng dụng trong lĩnh vực báo chí, truyền thông; đề xuất một số giải pháp ứng dụng trí thông minh nhân tạo vào hoạt động báo chí, truyền thông ở Việt Nam hiện nay.

Vấn đề ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong báo chí, truyền thông ở Việt Nam hiện nay

Các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo và dữ liệu lớn đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong đời sống - Ảnh IT

1. Khái quát về trí thông minh nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo là một lĩnh vực đã được ngành công nghệ thông tin nghiên cứu từ rất sớm. Trí tuệ nhân tạo hay trí thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence - viết tắt là AI) là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (Computer science), đây là một sản phẩm do con người sử dụng các kỹ thuật, công nghệ để giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi, suy nghĩ, xử lý và hành động mô phỏng trí thông minh của con người. Theo thời gian, các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo ngày càng tiếp cận tới nhiều người dùng, có khả năng phân tích, tư duy như con người đồng thời có khả năng cung cấp các dữ liệu hữu ích, có tính chính xác cao, có khả năng kiểm chứng được và có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực nếu được sử dụng đúng cách. 

Việc áp dụng các phần mềm ứng dụng trí thông tin nhân tạo hiện nay phổ biến trong các hoạt động nghiệp vụ như tóm tắt nội dung văn bản và tài liệu có dung lượng lớn, tạo ra các câu trả lời theo yêu cầu và chủ đề của người dùng hoặc sáng tạo các nội dung, các tác phẩm theo góc nhìn mới, đặt tiêu đề cho các bài báo, dịch thuật đa ngôn ngữ. Các ứng dụng này giúp con người có thể tiết kiệm thời gian và công sức lao động của mình trong các hoạt động hàng ngày. 

Nguyên lý hoạt động của các phần mềm hỏi - đáp tự động sử dụng dữ liệu lớn khá là đơn giản. Phần mềm sẽ ghi nhận những câu hỏi của người dùng, sau đó đưa ra lời giải đáp dựa trên kỹ thuật phân tích dữ liệu lớn. Để trả lời câu hỏi của người dùng, các phần mềm này sẽ dự đoán, phân tích và sau đó đưa ra đáp án dựa vào nguồn thông tin trong hệ thống hoặc các dữ liệu được cung cấp từ người dùng dẫn đến một cảm giác thông minh thực sự như một con người. Điểm tạo nên sự khác biệt của các phần mềm này là việc không ngừng thu thập dữ liệu, phân tích và tăng vốn hiểu biết thông qua các dữ liệu được thay đổi liên tục trên không gian mạng và các dữ liệu thu thập được trong khi vẫn dự đoán các nội dung của câu hỏi. Điều này giúp các phần mềm cũng như các hệ thống ứng dụng trí thông minh nhân tạo ngày các tiếp cận được với con người và dần thu thập các dữ liệu đầu vào với nhiều gợi ý và trả lời nhiều thắc mắc của người dùng hơn. Với một người dùng bình thường, các phần mềm này đơn giản là một trang web hay một ứng dụng cho phép nói chuyện các chủ đề với một con người ảo.

Về bản chất, đây là các phần mềm thông minh nhân tạo, thực hiện các câu trả lời của người dùng thông qua dữ liệu. Quá trình tạo ra một phần mềm thông minh nhân tạo bao gồm các bước: Thu thập dữ liệu (từ không gian mạng, từ cung cấp của người dùng), chọn lọc dữ liệu, thực hiện gán nhãn dữ liệu để thực hiện huấn luyện cho phần mềm và huấn luyện phần mềm như việc tiếp thu tri thức của con người. Dữ liệu thu thập được càng nhiều thì càng có nhiều câu trả lời. 

Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh ở đây là các phần mềm này có thể phân tích và hiểu rất nhiều tầng ý nghĩa của một dữ liệu của đầu vào, nhưng không thể hiểu được ý nghĩa đó “đúng” hay “sai”. Thực tế cho thấy, việc một dữ liệu là đúng hay sai chỉ là tương đối. Các dữ liệu đang tồn tại trên internet mà các nhà khoa học thu thập được để huấn luyện cho phần mềm cũng không phải luôn theo thiên hướng có ý nghĩa là “đúng” và dữ liệu đó chứa thông tin là “đúng” do các nhà khoa học thường sử dụng các công cụ thu thập dữ liệu tự động, sức người cũng không thể thu thập được các dữ liệu để phân tách được tính đúng - sai của các dữ liệu đó do các dữ liệu trên internet là rất lớn. Đơn cử, dữ liệu thu thập về trái đất của chúng ta, có thể có các dữ liệu là trái đất hình tròn, nhưng cũng có thể có các dữ liệu minh chứng trái đất là phẳng. Khi đó, các dữ liệu thu thập được sẽ chứa cả dữ liệu đúng và dữ liệu sai. 

Một phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo sẽ phân tích, xử lý và tìm kiếm các dữ liệu để tìm ra các tầng ý nghĩa của thông tin đầu vào đó thì đồng thời nó cũng tìm ra các dữ liệu mang tính “đúng” và các dữ liệu mang tính “sai” mà nó không thể xác định được đâu là dữ liệu đúng, đâu là dữ liệu sai. Các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo đơn giản chỉ là ghi nhớ dữ liệu thu thập được, phân tích để tìm ra các tầng ý nghĩa của các dữ liệu nên khi được hỏi, các phần mềm này không phân biệt được đúng hay sai mà chỉ trả lời lại các dữ liệu đã được nó lưu trữ, phân tích. 

ChatGPT ra đời đã đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ của lĩnh vực ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong đời sống kinh tế, xã hội. ChatGPT (Chat Generative Pre-training Transformer) là một chatbot do công ty OpenAI của phát triển. ChatGPT được huấn luyện với 300 tỷ từ, 175 tỷ tham số, tổng thời gian huấn luyện gộp là 300 năm với chi phí huấn luyện hơn 5 triệu USD và được OpenAI phát triển từ 2015 với số tiền đầu tư 1 tỷ USD. 

Hiểu một cách đơn giản, ChatGPT là một phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo nhưng điểm khác biệt là nằm ở "kho" kiến thức đã học được, nó có thể hiểu được nội dung câu hỏi một cách chính xác và nhanh chóng đưa ra câu trả lời lưu loát, đầy đủ. Các câu trả lời này được ChatGPT tự tổng hợp và được tạo ra từ dữ liệu lớn đã được huấn luyện trước. ChatGPT còn có thể làm thơ, soạn nhạc, viết thư, thiết kế đồ họa, lập trình... ChatGPT và các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo khác có khả năng tự tạo ra nội dung dựa trên yêu cầu đầu vào, được lập trình để tự học dựa vào dữ liệu và tương tác với con người nên càng nhiều người sử dụng ChatGPT và ứng dụng trí thông minh nhân tạo càng khiến cho các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo này ngày càng thông minh, hoàn thiện và rất khó để phân biệt giữa kết quả được tạo ra bởi các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo này với kết quả được tạo bởi con người.

Đây là một phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo để trả lời các câu hỏi của người dùng thông qua phân tích ngôn ngữ tự nhiên như việc trao đổi giữa người với người. Để huấn luyện phần mềm này, các nhà khoa học tại công ty OpenAI đã thu thập một lượng lớn dữ liệu dưới dạng văn bản của con người từ internet, các dữ liệu này đến từ Wikipedia, các trang thông tin điện tử, mạng xã hội, các dữ liệu từ bách khoa toàn thư được công khai trên không gian mạng. Sau khi thu thập, họ làm sạch, chọn lọc nội dung và cho phần mềm ChatGPT học và tìm hiểu các tầng ngữ nghĩa như suy nghĩ của con người khi tiếp nhận thông tin. Các tầng ngữ nghĩa được phần mềm này nhận ra thì càng có nhiều tham số để ChatGPT trả lời người dùng.

2. Trí thông minh nhân tạo ứng dụng vào báo chí, truyền thông hiện nay

ChatGPT và ứng dụng trí thông minh nhân tạo cũng tạo ra các thách thức cho hoạt động báo chí, truyền thông: làm thế nào để nhận diện, xác định và loại bỏ các nội dung được tạo ra bởi các ứng dụng thông minh nhân tạo khi bản thân nó chứa các thông tin chưa được kiểm chứng, không trích dẫn nguồn gốc, sai lệch cũng như các vấn đề bảo mật thông tin người dùng. 

Báo chí, truyền thông luôn cần những dữ liệu trung thực, nguồn thông tin và các góc nhìn mới về các sự kiện chính trị, xã hội, văn hóa đang diễn ra trong thực tiễn Việt Nam và trên thế giới, trong khi đó ChatGPT ứng dụng trí thông minh nhân tạo có khả năng trợ giúp con người tạo ra các thông tin mới dựa trên phân tích ngữ nghĩa và tổng hợp thông tin từ các dữ liệu có sẵn, hoặc nếu bị các đối tượng lạm dụng các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo này để sản xuất nội dung sẽ dẫn tới các thông tin sai lệch, xuyên tạc. 

Các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo này cũng có thể được sử dụng và huấn luyện các dữ liệu có chủ ý để tạo ra các thông tin sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc tạo ra các chỉ dẫn không đúng… từ đó phát tán thông tin sai lệch trên không gian mạng. Khi đó, việc tuyên truyền các nội dung cũng như kiểm duyệt nội dung được tạo ra bởi các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo cũng là một thách thức lớn trong hoạt động báo chí, truyền thông. 

Thực tế cho thấy, nhiều hãng công nghệ như Google, Facebook, IBM, Microsoft đã nhiều lần giới thiệu các phần mềm trả lời tự động nhưng do các phần mềm đó khi được ứng dụng đều trả lời một số câu hỏi dẫn tới thiên hướng có ý nghĩa “sai” mà không thể chấp nhận được về mặt chuẩn mực của con người như xúc phạm về giới tính, không tôn trọng tôn giáo, sắc tộc hay bịa đặt, thay đổi tính chính xác của các sự kiện đã diễn ra hay sai lệch so với các chân lý được con người đồng thuận là đúng… Chính vì thế, các phần mềm này đều bị dừng ứng dụng hoặc không đưa ra thị trường. Các công ty lớn nhận định, nếu phần mềm chưa thể giải quyết được nhận thức “đúng”-“sai” thì sẽ không đưa ra thương mại hóa hay cung cấp cho người sử dụng để phòng ngừa việc lạm dụng các phần mềm này cho các hoạt động gây ảnh hưởng không tốt tới cộng đồng. 

ChatGPT cũng tạo ra những đoạn văn vi phạm tới chuẩn mực về tính "đúng - sai" của con người do nó không hiểu được các ý nghĩa “đúng” - “sai” trong dữ liệu mà nó thu thập được, nhưng công ty OpenAI vẫn đưa ChatGPT ra công chúng. OpenAI đã trở thành công ty đi  đầu trong việc thương mại hóa một phần mềm mà chưa thể kiểm soát về tính "đúng - sai".

Hiện nay, các phần mềm sử dụng trí thông minh nhân tạo và dữ liệu lớn đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong đời sống. Các thế lực thù địch, chống phá Đảng và Nhà nước ta đang cũng đang lợi dụng các kỹ thuật mới, công nghệ mới trong đó có trí thông minh nhân tạo để xây dựng các nội dung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, tấn công thu thập dữ liệu để sử dụng vào mục đích chống phá, can thiệp vào hoạt động chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, đưa ra các thông tin thất thiệt hay dựng chuyện, bịa chuyện… Do đó, để ứng dụng hiệu quả trí thông minh nhân tạo vào hoạt động báo chí, truyền thông ở Việt Nam, bài viết đề xuất một số giải pháp sau: 

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, Nhà nước về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; cần có sự thống nhất và phối hợp đồng bộ trong các cơ quan, tổ chức quản lý thông tin trên không gian mạng. Đặc biệt, cần xây dựng một cơ sở dữ liệu lớn về lý luận chính trị, nền tảng tư tưởng của Đảng để cung cấp luận cứ cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân soi chiếu tính đúng đắn của thông tin thu thập được.

Hai là, bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành luật pháp và hướng dẫn thực thi pháp luật liên quan đến sử dụng các hệ thống phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo, đặc biệt là sử dụng các dữ liệu trên không gian mạng, trong đó bổ sung các hành lang pháp lý về điều chỉnh hành vi của người dùng khi sử dụng các phần mềm hỏi - đáp tự động để sáng tạo nội dung và cung cấp thông tin trên không gian mạng. Cần bổ sung những quy định liên quan đến các hành vi vi phạm như đánh cắp thông tin, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ đơn vị sở hữu khỏi những tình huống bị thiệt hại bởi các cá nhân/đơn vị khác.

Ba là, các cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng các kế hoạch, chiến lược, chương trình tập huấn cho các cơ quan, tổ chức báo chí, truyền thông, nhà báo, phóng viên trong các hoạt động ứng dụng các phần mềm thông minh nhân tạo. Nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân và phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức báo chí, truyền thông đối với công tác kiểm chứng các thông tin ứng dụng các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo.

Bốn là, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức báo chí, truyền thông để tận dụng thế mạnh về các cơ sở dữ liệu của mình, đồng thời chia sẻ dữ liệu với các cơ quan, tổ chức khác. Bên cạnh đó, cần xây dựng các kế hoạch và chiến lược truyền thông một cách hợp lý, phù hợp với đại đa số người dân về chất lượng, ảnh hưởng của các sản phẩm do các phần mềm này tạo ra. 

Năm là, tăng cường công tác tập huấn, đào tạo nguồn nhân lực tham gia hoạt động bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, nguồn lực tham gia việc kiểm chứng thông tin, đặc biệt nhận diện và kiểm chứng thông tin do các phần mềm ứng dụng trí thông minh nhân tạo tạo ra. Đặc biệt chú trọng các hoạt động ứng dụng trí thông minh nhân tạo trong các lực lượng chuyên trách bảo đảm và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, ban hành các chính sách hợp lý nhằm tổ chức thực hiện cũng như phối hợp giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ nghiên cứu, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ bí mật nhà nước, chủ quyền quốc gia, an ninh quốc gia trên không gian mạng.

_________________

Ngày nhận bài: 10-3-2023; Ngày bình duyệt: 12-3-2023; Ngày duyệt đăng: 17-3-2023.

 

Tài liệu tham khảo

1. Theo báo cáo tổng hợp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Một số đặc trưngtác động hàm ý chính sách đối với Việt Nam” của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2017.

2. Nguyễn Đăng Đào: Bảo đảm an toànan ninh thông tin quốc gia trên không gian mạng, Tạp chí Antoàn thông tin, 2018.

3. Thorp, H. Holden. "ChatGPT is fun, but not an author" Science 379.6630 (2023): 313-313.

4. Alan D. Thompson (tháng 2 năm 2023), Báo cáo của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (Scholes, Bernanke, MIT),  https://lifearchitect.ai/chatgpt/#timeline.


Bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo.

  Vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam luôn bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm mục đích chống phá thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bài viết nhận diện những luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo qua Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ. Bằng những chứng cứ thực tiễn về đời sống tôn giáo ở Việt Nam, bài viết phản bác, phê phán đối với những luận điệu vu cáo Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo của mọi người.

Bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo

Một buổi thánh lễ tại Nhà thờ Chợ Quán - Ảnh: vnexpress.net

Trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ, mặc dù đã đề cập đến nỗ lực và tiến triển của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền tự do tôn giáo và bảo đảm đời sống tôn giáo, nhưng vẫn tiếp tục đưa ra những luận điệu cáo buộc Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền, bóp méo sự thật, đánh giá sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Báo cáo đã bỏ qua những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho mọi người.

Ngay trong phần tóm tắt của báo cáo đưa ra một số luận điệu: pháp luật Việt Nam quy định sự kiểm soát của chính quyền đối với các hoạt động tôn giáo và có những quy định “mập mờ” cho phép hạn chế tự do tôn giáo, pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo không tương đồng với công ước quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền con người, trái với các tiêu chuẩn về nhân quyền quốc tế; trong năm qua, chính quyền không công nhận tổ chức tôn giáo mới nào, có nhiều hình thức sách nhiễu, theo dõi, từ chối, hoặc không trả lời yêu cầu đăng ký và các yêu cầu xin phép khác, như chính quyền cấp tỉnh và cấp cơ sở sách nhiễu đối với các nhóm Công giáo, Tin lành, trong đó có nhóm Ngũ Tuần độc lập, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, các nhóm Hòa Hảo độc lập, Cao đài độc lập, Dương Văn Mình; chính quyền địa phương ở Tây Nguyên hăm dọa với thành viên một số nhóm Tin lành chưa đăng ký, bắt giữ tín đồ của Hội thánh Truyền giảng Phúc Âm ở tỉnh Đắk Lắk; các nhà chức trách đã giam giữ một số tín đồ của đạo Dương Văn Mình, bắt giữ 03 chức sắc của Cao đài độc lập; v.v..

Những nội dung và dẫn chứng được nêu trong báo cáo hoàn toàn không mang tính đại diện và phổ quát cho đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Một số nhóm tôn giáo mà báo cáo cho rằng chính quyền sách nhiễu, gây khó khăn, như: Hội thánh truyền giảng Phúc Âm, Dương Văn Mình, Hội thánh Tin lành Đấng Christ, Cao đài Độc lập, Hội thánh Tin lành Đề Ga quốc tế... là thông tin sai sự thật, đây đều là các nhóm, tổ chức lợi dụng hoạt động tôn giáo để thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chống phá Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, báo cáo đưa ra số liệu chức sắc, tín đồ tôn giáo bị bắt, giam giữ, chất vấn về hoạt động tôn giáo của họ cũng là thông tin bịa đặt, bởi pháp luật Việt Nam quy định chỉ những người vi phạm các tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự thì cơ quan chức năng mới tiến hành các thủ tục tố tụng điều tra, truy tố, xét xử.

Ở Việt Nam không có khái niệm “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”. Cần tường minh vấn đề này, không thể mập mờ, “đánh lận con đen” để vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền.

Dễ dàng nhận thấy, ẩn chứa trong báo cáo này là việc lợi dụng vấn đề tôn giáo, biến tôn giáo trở thành một thứ vũ khí lợi hại để xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam nhằm đưa Việt Nam vào cái gọi là “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt”, gây ảnh hưởng đến hoạt động đối nội, đối ngoại của Việt Nam, làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo sức ép từ bên ngoài và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, từ đó thay đổi chế độ chính trị của Việt Nam.

Chiêu bài vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm nhân quyền của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã có từ lâu. Những đánh giá, kết luận hằng năm của tổ chức này chỉ dựa trên những báo cáo của một số tổ chức phi chính phủ thông qua việc thị sát vài vùng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên và một số nhóm, tổ chức mang danh nghĩa tôn giáo, nhưng thực chất hoạt động lợi dụng tôn giáo để trục lợi là thiếu tính khách quan, tính chính xác, tính toàn diện, thể hiện sự tùy tiện trong nhận định và đánh giá.

1. Việc Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cho rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là bước “thụt lùi” về tự do tôn giáo, trái với tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế là hoàn toàn không đúng sự thật

Quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo là một cách thức bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tự do tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối, mà có giới hạn. Khoản 2 điều 29 Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 quy định: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.

Khoản 3 điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Do đó, theo các quy định này, quyền tự do tôn giáo là quyền giới hạn, quyền này phải bảo đảm sự tôn trọng quyền tự do của những người khác và thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và phúc lợi chung cho xã hội.

Pháp luật của các quốc gia đều phân định rõ ràng giữa tự do tôn giáo và luật pháp, giữa tự do tôn giáo và lợi dụng tự do tôn giáo, nên có những quy định cụ thể về quyền tự do tôn giáo, nhân quyền, đồng thời ngăn chặn những hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo, nhân quyền để cản trở quyền của người khác, xâm phạm an ninh quốc gia; đều có hành lang pháp lý để xử lý các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo được diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tiễn, truyền thống lịch sử và văn hóa của từng quốc gia, dân tộc.

Việc Nhà nước Việt Nam đưa ra các quy định pháp luật để quản lý hoạt động tôn giáo là phù hợp và tương đồng với luật pháp quốc tế. Các công ước, điều ước quốc tế về quyền con người liên quan đến quyền tự tôn giáo mà Việt Nam là thành viên hoặc tham gia ký kết đều đưa ra các nguyên tắc: nguyên tắc về những quyền con người cơ bản; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc về sự bảo vệ pháp lý; nguyên tắc tăng cường đối thoại; nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác(1).

Theo các nguyên tắc trên, pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể để bảo hộ và thúc đẩy các quyền con người, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, đồng thời tránh việc lợi dụng quyền tự do tôn giáo.

Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Khoản 1 điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; khoản 1 điều 3 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có thay đổi quan trọng về chủ thể hưởng quyền tự do tôn giáo từ “công dân” mở rộng sang “mọi người” cho thấy, chính sách nhất quán của Chính phủ Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng đồng thời các hành vi lợi dụng quyền tự do tôn giáo vi phạm pháp luật cũng bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Các văn bản pháp luật của Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tựu trong hoàn thiện chính sách, pháp luật, tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền và nhằm bảo đảm quyền tự do tôn giáo được thực thi, đồng thời bảo vệ, thúc đẩy tự do tôn giáo, thúc đẩy quyền con người, hoàn toàn tương đồng với luật pháp quốc tế và phù hợp thực tiễn đời sống tôn giáo, lịch sử, văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Mặt khác, việc hoàn thiện luật pháp, trong đó có luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, để bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, quyền con người đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia nhận được sự tín nhiệm của cộng đồng thế giới và trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 với số phiếu tín nhiệm cao (184/193 phiếu). Ngày 11-10-2022, Việt Nam lại tiếp tục trúng cử là một trong 14 thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của ASEAN cho vị trí này. Kết quả trên cho thấy, pháp luật, chính sách tôn giáo của Việt Nam; những nỗ lực của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

2. Thực tiễn đời sống tôn giáo Việt Nam là minh chứng bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo

Một là, về công nhận tổ chức tôn giáo

Trước năm 1990, Nhà nước Việt Nam công nhận 03 tổ chức tôn giáo, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc). Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 33 tổ chức tôn giáo, 04 tổ chức và 01 pháp môn được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động(2). Bên cạnh đó, có trên 3.800 điểm nhóm đã được cấp giấy đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung(3).

Trong quá trình công nhận, cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, chính quyền Trung ương và địa phương hướng dẫn, giúp đỡ các tổ chức tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tuân thủ đúng trình tự pháp luật, tạo nên sự tin tưởng, phấn khởi của chức sắc, tín đồ tôn giáo.

Sau khi được công nhận, tổ chức tôn giáo được tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý; được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc; được sửa chữa cải tạo trụ sở; tham gia hoạt động từ thiện nhân đạo; tổ chức đại hội thông qua hiến chương; được thành lập, chia tách, sát nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc...

Hai là, về số lượng tín đồ

Từ năm 1990 đến nay, số lượng tín đồ của các tôn giáo đều gia tăng. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 1997, cả nước có trên 15 triệu tín đồ, chiếm hơn 20% dân số cả nước; năm 2003 cả nước có 17,4 triệu tín đồ, năm 2013 cả nước có 24 triệu tín đồ, chiếm 25% dân số và đến năm 2021, cả nước có 26,3 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước(4). Như vậy, số lượng tín đồ liên tục tăng thêm. Ngoài các tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, ước tính gần 90% người Việt Nam có đời sống tâm linh sâu sắc, thực hành niềm tin mang tính đa thần, theo các tín ngưỡng truyền thống như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, tín ngưỡng thờ Mẫu...

Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Việt Nam có 7.966 lễ hội/năm, trong đó 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%); 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,82%); 332 lễ hội lịch sử cách mạng (chiếm 4,16%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), 40 lễ hội khác (chiếm 0,50%)(5). Sự gia tăng tín đồ gắn liền với sự gia tăng của tổ chức tôn giáo và số người xác định mình là tín đồ của một tôn giáo cụ thể và số người thực hành tín ngưỡng truyền thống ngày một tăng lên chính là minh chứng sống động cho tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ba là, về số lượng cơ sở thờ tự tín ngưỡng, tôn giáo

Số lượng cơ sở thờ tự của tín ngưỡng hiện là 50.703 cơ sở, trong đó có 15.205 cơ sở thuộc danh mục kiểm kê di tích; 31.903 cơ sở đăng ký hoạt động tín ngưỡng theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo(6).

Về cơ sở thờ tự tôn giáo, năm 2000 cả nước có 18.474 cơ sở thờ tự, đến năm 2021 cả nước có 30.047 cơ sở thờ tự, tăng 11.573 cơ sở. Thí dụ, ở tỉnh Hải Dương, năm 2003 có 899 cơ sở, năm 2007 đã tăng lên 995 cở sở; tỉnh Nghệ An năm 2003 có 01 cơ sở, năm 2017 tăng lên 50 cơ sở, tỉnh Lâm Đồng năm 2003 có 121 cơ sở, năm 2017 tăng lên 200 cơ sở(7).

Từ năm 2003 đến năm 2018 các địa phương đã xem xét, giao đất, công nhận quyền sử dụng đất, trong đó có việc giao đất với quy mô lớn cho các tổ chức tôn giáo như: chính quyền thành phố Đà Nẵng cấp hơn 10.000 m2 đất cho Công giáo để mở rộng Tòa Giám mục Đà Nẵng, giao 5.000 m2 đất xây dựng trụ sở Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam; chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh giao 7.500m2 đất cho Tổng liên hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) để xây dựng Viện Thánh kinh thần học; chính quyền Thành phố Hà Nội giao 10 ha cho Giáo hội Việt Nam xây dựng Học viện Phật giáo; chính quyền tỉnh Quảng Trị giao thêm 15 ha đất cho Giáo xứ La Vang; chính quyền tỉnh Thừa Thiên - Huế cấp 10 ha đất xây dựng Thiền viện Bạch Mã; chính quyền thành phố Hải Phòng cấp 10.000m2 đất xây dựng nhà dưỡng hưu cho các linh mục, tu sĩ thuộc Giáo phận Hải Phòng; chính quyền tỉnh Ninh Bình cấp 15.000 m2 đất xây dựng Trung tâm Mục vụ Giáo phận Phát Diệm(8)... Tính đến ngày 31-12-2015, cả nước có 18.017 ha đất tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó đất tôn giáo là 11.720 ha (chiếm trên 65%), đã cấp 19.000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(9).

Bốn là, về sinh hoạt tôn giáo

Sinh hoạt tôn giáo của cá nhân và tổ chức tôn giáo được diễn ra bình thường tại gia đình, cơ sở thờ tự theo quy định của pháp luật. Nhiều hoạt động tôn giáo diễn ra với quy mô lớn như Hội Yến Diêu trì cung của đạo Cao đài; Đại lễ Vesak Liên hợp quốc được tổ chức 03 lần tại Việt Nam vào các năm 2008, 2014, 2019; lễ hội La Vang của Công giáo; lễ kỷ niệm 100 năm Tin lành truyền đến Việt Nam của đạo Tin lành. Các hoạt động tôn giáo nêu trên đều thu hút số lượng lớn tín đồ ở trong nước và ở nước ngoài. Chỉ tính riêng Đại lễ Vesak Liên hợp quốc năm 2019 tại Tam Chúc, tỉnh Hà Nam đã thu hút sự tham dự của hơn 3.000 đại biểu chính thức, trong đó có 570 đoàn quốc tế, với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 04 nguyên thủ quốc gia, Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc, đại diện các tổ chức quốc tế, đại sứ quán các nước tại Việt Nam; đại diện các tổ chức, tông phái Phật giáo trên thế giới; chức sắc, tăng ni, phật tử tiêu biểu trong và ngoài nước thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam; đại diện lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương và địa phương(10). Trong 03 ngày diễn ra đại lễ, mỗi ngày có khoảng 50.000 lượt tăng ni, phật tử tham gia các hoạt động.

Năm là, về in ấn xuất bản kinh, sách

Năm 1998, Chính phủ đã chấp thuận việc thành lập Nhà xuất bản Tôn giáo thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, có trách nhiệm xuất bản các xuất bản phẩm phục vụ công tác tôn giáo và đồng bào có đạo. Cho đến năm 2014, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp phép xuất bản cho 4.347 ấn phẩm tôn giáo, trong đó Phật giáo 2.869, Công giáo 1.828, Tin lành 680 ấn phẩm, ngoài ra 205 văn hóa phẩm liên quan đến tôn giáo như: lịch, băng đĩa(11).

Từ năm 2018 đến năm 2020, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp quyết định xuất bản cho 1.457 xuất bản phẩm, với 5.47 triệu bản in, riêng Công giáo và Tin lành số lượng bản in của Kinh thánh là 1 triệu bản. Kinh thánh Cựu ước và Tân ước của đạo Tin lành không chỉ được dịch ra tiếng Việt, mà còn được dịch ra 15 ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số khác của Việt Nam như: Cơ ho, Bru - Vân kiều, Êđê, Gia-rai, Bana, Xtiêng, Mnông, Chăm, H’rê, Nùng, Hoa, Tày v.v.. nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của đồng bào.

Các tôn giáo lớn đều có báo, tạp chí, các trang wibsite... hoạt động liên tục để truyền tải các thông tin liên quan đến các hoạt động của tổ chức tôn giáo, riêng Phật giáo được cấp phép cho 08 đơn vị thuộc lĩnh vực thông tin truyền thông: Báo Giác ngộ, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, Tạp chí Khuông Việt, Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy, các trang tin điện tử Phật sự online, Cổng thông tin Phật giáo, phatgiao.org.vn; Công giáo có tờ tập san Hiệp thông, báo Công giáo và Dân tộc, báo Người Công giáo Việt Nam; Tin lành có tờ Mục vụ, Thông công; Phật giáo Hòa Hảo có tạp chí Hương Sen...

Sáu là, về mở trường đạo chức sắc tôn giáo

Trước năm 1990 chỉ có một số cơ sở đào tạo chức sắc của Phật giáo, Công giáo hoạt động, từ năm 1990 đến nay, nhiều cơ sở đào tạo của tổ chức tôn giáo được thành lập, đáp ứng việc đào tạo chức sắc tôn giáo để hướng dẫn hoạt động tôn giáo của tín đồ. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, tính đến tháng 12-2021, cả nước có 65 cơ sở đào tạo người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, trong đó: Phật giáo 48 cơ sở, Công giáo 11 cơ sở; Tin lành 04 cơ sở; Cao đài 01 cơ sở và Phật giáo Hòa Hảo 01 cơ sở. Mỗi năm có hàng nghìn người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp tốt nghiệp các trường đào tạo của tôn giáo. Năm 2021, cả nước có 8.884 người tốt nghiệp ra trường, 13.350 người đang theo học. Không chỉ đào tạo chức sắc tôn giáo ở trong nước, các tổ chức tôn giáo còn cử chức sắc tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài ở các bậc thạc sĩ, tiến sĩ, nhằm nâng cao chất lượng chức sắc, đồng thời tạo ra sắc diện mới cho sự phát triển của các tôn giáo.

Nhờ đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành, những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, số chức sắc, chức việc, nhà tu hành tôn giáo tăng nhanh. Chỉ tính riêng số lượng chức sắc tôn giáo, năm 1995 có 31.548 người, năm 2021 là 54.125 người, chỉ trong hơn 20 năm qua, số lượng chức sắc tôn giáo đã tăng lên trên 20 nghìn người.

Bảy là, về hoạt động quốc tế của các tổ chức tôn giáo

Từ năm 1990 đến nay, hoạt động quốc tế của các tôn giáo đa dạng và phong phú trên nhiều phương diện: quan hệ đồng đạo thông qua việc giao lưu, hỗ trợ tín đồ, chức sắc, chia sẻ thông tin, thăm viếng, đào tạo chức sắc; quan hệ về tổ chức, như hướng dẫn sinh hoạt tôn giáo, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm chức sắc; quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo dựa trên tinh thần đối thoại, liên tôn trước những vấn đề như đói nghèo, chiến tranh, môi trường, công bằng xã hội. Nhà nước Việt Nam hỗ trợ, giúp đỡ các cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia các chương trình đối thoại, hội thảo về tôn giáo. Trong các năm 2011 - 2020 đã có hàng trăm đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam và nhiều cá nhân, tổ chức tôn giáo Việt Nam tham gia hoạt động quốc tế ở nước ngoài. Việt Nam chấp thuận Vatican cử đại diện không thường trú tại Việt Nam.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 539 (tháng 01-2023)

Ngày nhận bài: 06-12-2022; Ngày bình duyệt: 07-01-2023; Ngày duyệt đăng: 27-01-2023.

 

(1) Xem Chu Văn Tuấn (Chủ biên): Đời sống tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, tr.123.

(2), (7), (8), (11) Nguyễn Thanh Xuân: Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2020, tr.428-433, 436-437, 437-438, 439.

(3) Ban Tôn giáo Chính phủ: Báo cáo 03 năm thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2021, tr.10.

(4) Nguồn: Phòng Tổng hợp thống kê, Văn phòng Ban Tôn giáo Chính phủ.

(5) Cổng thông tin điện tử Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch: Thống kê lễ hội, truy cập ngày 10-01-2023.

(6) Ban Tôn giáo Chính phủ: Báo cáo 03 năm thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2021, tr.2.

(9) Ban Chỉ đạo Tổng kết Nghị quyết số 25 về công tác tôn giáo: Báo cáo Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo.

(10) Bộ Nội vụ: Báo cáo Kết quả công tác tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp quốc 2019 tại chùa Tam Chúc, Kim Bảng, Hà Nam, Hà Nội, 2019.