Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Trên cơ sở phân tích năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bài viết đề xuất bốn giải pháp nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năm giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Để thực hiện tốt các giải pháp trên thì một nội dung quan trọng là mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, trau dồi, rèn luyện phương pháp biện chứng duy vật.

Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự Hội nghị trực tuyến toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng - Ảnh: tapchicongsan.org.vn

Cùng với việc khẳng định những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, Đại hội XIII cũng chỉ ra những hạn chế của công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Trong đó, có những hạn chế như: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả”(1); “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn thấp”(2). Trong khi đó, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động, khó lường, khó dự báo.

Đại hội XIII đã đề ra nhiệm vụ “Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới”(3). Thực hiện Nghị quyết Đại hội, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đáp ứng yêu cầu tình hình mới là rất cần thiết.

Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm lãnh đạo nhưng nhìn chung lãnh đạo được quan niệm là quá trình chủ thể ra quyết định (tức là xác định được mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển của tổ chức); tổ chức lực lượng, phương tiện, hình thành cơ chế, bộ máy... để thực hiện quyết định nhằm thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược đã đề ra; tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyết định; tổng kết việc thực hiện quyết định và rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc ra quyết định tiếp theo.

Theo đó, năng lực lãnh đạo bao gồm năng lực ra quyết định; năng lực tổ chức thực hiện quyết định; năng lực tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyết định; năng lực tổng kết việc thực hiện quyết định và rút ra các bài học kinh nghiệm để điều chỉnh quyết định, tức là điều chỉnh mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược.

Đảng lãnh đạo trong điều kiện nắm giữ chính quyền được gọi tắt là đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là đảng chính trị giành được quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước thông qua và bằng pháp luật cùng các công cụ, phương tiện khác để thực hiện tầm nhìn, định hướng phát triển, mục tiêu chiến lược của đảng. Năng lực cầm quyền của đảng là năng lực giữ chính quyền nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước hợp lý để đề ra được chủ trương, đường lối, mục tiêu phát triển đúng đắn, lãnh đạo nhà nước và nhân dân thực hiện được mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển của đảng.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, sự cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mục tiêu chiến lược của Đảng là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Hiện nay, tình hình thế giới có những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, khó dự báo, đặt ra yêu cầu đối với đảng cầm quyền là phải nắm bắt kịp thời những vấn đề của thời đại như: vấn đề an ninh phi truyền thống, vấn đề biến đổi khí hậu, tác động đa chiều của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thế giới đang có xu hướng chuyển sang đa cực, sự tranh giành quyền lực giữa các nước lớn, v.v.. Từ đó, có những chủ trương, chính sách phù hợp.

Ở trong nước, nền kinh tế đang phục hồi nhưng vẫn còn nhiều vấn đề xã hội đặt ra; vẫn còn những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, v.v.. Những vấn đề này đang đặt ra yêu cầu mới đối với Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thì phải nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định.

Hai năng lực này liên hệ, tác động lẫn nhau. Năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước sẽ tăng cường năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Ngược lại, năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định sẽ góp phần củng cố, tăng cường năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước.

1. Giải pháp nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với chính quyền nhà nước

Thứ nhất, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền nhà nước trong sạch, vững mạnh toàn diện. Nếu Đảng không trong sạch, vững mạnh thì không thể có Nhà nước trong sạch, vững mạnh được.

Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng đủ năng lực lãnh đạo cách mạng. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, Đại hội XIII đề ra hệ thống 10 giải pháp đồng bộ để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là: (1) Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị; (2) Coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng; (3) Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; (4) Đẩy mạnh xây dựng Đảng về tổ chức; (5) Củng cố nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; (6) Tăng cường xây dựng Đảng về cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu; (7) Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; (8) Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; (9) Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; (10) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới(4).

Đảng và Nhà nước có trong sạch, vững mạnh toàn diện mới giúp Đảng củng cố, tăng cường giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước.

Đối với chính quyền nhà nước, Đại hội XIII đã đề ra các định hướng giải pháp: (1) Trên cơ sở tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, tập trung “nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành và năng lực kiến tạo phát triển”(5). (2) “Đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật”(6). (3) “Nâng cao năng lực tổ chức có hiệu quả hệ thống pháp luật, thể chế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội”(7). (4) “Tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả”(8). (5) “Xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(9). (6) “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực sáng tạo dựa trên cơ chế cạnh tranh về tuyển dụng, chế độ đãi ngộ và đề bạt; có phẩm chất đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng”(10).

Thực hiện được các định hướng giải pháp này thì sẽ góp phần nâng cao, tăng cường giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước của Đảng.

Thứ hai, thực hành dân chủ và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng là hạt nhân, nòng cốt của dân chủ, đoàn kết trong Nhà nước và trong xã hội. Vì Đảng ta vừa là thành viên vừa là hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống chính trị.

Đoàn kết nhất trí là giá trị quý báu là nền tảng của năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(11); “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”(12).

Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng tức là thực hành dân chủ ở tất cả các cơ quan, các tổ chức của Đảng, trong toàn thể bộ máy của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, trong các mặt của công tác xây dựng Đảng.

Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng là cơ sở, nền tảng, hạt nhân để thực hành dân chủ rộng rãi trong toàn hệ thống chính trị và trong toàn xã hội. Do vậy, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng không chỉ là con đường, biện pháp, cách thức tốt nhất để thực hiện đoàn kết, thống nhất trong Đảng mà còn là con đường, biện pháp, cách thức tốt nhất để thực hiện sự đoàn kết, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị và trong toàn thể xã hội. Trên cơ sở đó mới nâng cao được năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước của Đảng.

Thứ ba, Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải khoa học, dân chủ, các tổ chức của Đảng và đảng viên phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Để lãnh đạo, cầm quyền một cách khoa học thì những quyết định, chủ trương, đường lối của Đảng phải là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; phản ánh được những vấn đề của thực tiễn cuộc sống, lợi ích của nhân dân, dân tộc; kế thừa được tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại; phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại.

Để lãnh đạo, cầm quyền một cách dân chủ, trước hết là trong nội bộ Đảng phải thực hành dân chủ; sự lãnh đạo, cầm quyền phải tuân theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Những quyết sách lớn của Đảng phải được tổ chức thảo luận rộng rãi, lấy ý kiến của đảng viên, chuyên gia, cán bộ lão thành nhiều kinh nghiệm, nhân dân và các tổ chức đảng từ cơ sở đến Trung ương.

Các cấp ủy cởi mở, dân chủ; các đảng viên thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình, phát biểu, trình bày ý kiến riêng, thậm chí chất vấn các cấp ủy đảng. Các cấp ủy đảng có thể tiếp thu ý kiến, có thể không tiếp thu. Ý kiến gì không tiếp thu phải có giải trình, giải thích rõ ràng.

Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật trong việc giữ chính quyền nhà nước thì sự lãnh đạo, cầm quyền phải dựa trên các căn cứ pháp lý, nghĩa là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng và thông qua Hiến pháp và pháp luật thì tính chính danh, tính chính đáng về sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng càng rõ ràng, càng công khai, càng minh bạch.

Để làm được điều này phải hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật liên quan đến vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước; vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân; của các tổ chức trong hệ thống chính trị cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; thể chế hóa cơ chế này một cách rõ ràng bằng các quy định mang tính pháp lý cụ thể. Đảng ta là lực lượng lãnh đạo và là lực lượng cầm quyền duy nhất cho nên cơ chế “Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ” cần phải được thể chế hóa bằng pháp luật, bằng phát huy dân chủ và trên cở căn cứ khoa học.

Nhà nước quản lý xã hội và công dân bằng pháp luật. Vai trò làm chủ của nhân dân vừa dựa trên cơ sở của pháp luật vừa dựa trên cơ sở của tự giác, tự quản. Nếu cơ chế này được phát huy tối đa thì năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước cũng như vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân được củng cố và tăng cường.

Do vậy, trong cơ chế này phải có quy chế hoạt động rõ ràng, rành mạch, chỉ rõ mối quan hệ giữa các chủ thể: Đảng và Nhà nước, giữa Đảng với nhân dân và chiều ngược lại giữa nhân dân với Đảng, giữa nhân dân với Nhà nước cũng như giữa Nhà nước với Đảng.

Cơ chế này có một mẫu số chung, đó là vì lợi ích của nhân dân, lợi ích của dân tộc, nhưng không vì thế mà không giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng như mối quan hệ giữa nhân dân với Nhà nước và với Đảng.

2. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định

Thứ nhất, nâng cao năng lực ra quyết định, tức là năng lực xác định đúng đắn mục tiêu, tầm nhìn, định hướng thể hiện trong chủ trương, đường lối, giữ vững vai trò lãnh đạo chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước trong việc thực hiện chủ trương, đường lối mà Đảng đã đề ra.

Chủ trương, đường lối đúng đắn là phải phản ánh được quy luật vận động của thực tiễn chính trị, thể hiện được lợi ích của nhân dân. Muốn vậy, phải thu hút được sự đóng góp trí tuệ của toàn thể nhân dân, của các cơ quan nghiên cứu khoa học, đội ngũ các nhà lý luận và hoạt động thực tiễn, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên.

Việc lãnh đạo Nhà nước phải dân chủ, khoa học, không làm thay Nhà nước, đồng thời kiên quyết chống tình trạng lạm quyền, làm thay Nhà nước cũng như buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

Thực hành dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng và trong toàn xã hội. Cùng với việc từng bước hoàn thiện cơ chế cụ thể để mỗi đảng viên thực hiện tốt các quyền bày tỏ quan điểm, ý kiến; quyền được thảo luận, trao đổi, chất vấn lãnh đạo các cấp; quyền bảo lưu ý kiến; quyền được có thông tin liên quan đến thực hiện nhiệm vụ của Đảng v.v.. thì phải tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm kỷ luật phát ngôn, vi phạm kỷ luật đảng.

Thứ hai, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống.

Trong điều kiện có chính quyền nhà nước, Đảng phải thông qua Nhà nước, lãnh đạo Nhà nước để tổ chức lực lượng, xác lập bộ máy, cơ chế, chính sách tổ chức thực hiện, đưa chủ trường, đường lối của Đảng vào cuộc sống.

Cùng với lãnh đạo Nhà nước tổ chức thực hiện chủ trường, đường lối, Đảng trực tiếp tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thông qua tổ chức đảng, đảng viên, các cơ quan, tổ chức tuyên truyền, cổ động, vận động, thuyết phục các tầng lớp nhân dân đồng lòng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong thực tế.

Để lôi cuốn được toàn thể nhân dân tham gia phong trào hành động đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống thì trước hết chủ trương, đường lối phải phản ánh được nguyện vọng, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, phải có chương trình, kế hoạch triển khai phù hợp với tình hình thực tế và toàn Đảng phải có quyết tâm cao.

Thứ ba, nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối. Để thực hiện tốt chức năng này cần phát huy được vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên. Đồng thời, phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia giám sát, phản biện các khâu trong tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống.

Kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện những tình huống, những vấn đề nảy sinh để có biện pháp xử lý ngay từ mầm mống. Các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan, tổ chức có chức năng kiểm tra, giám sát thực hiện kiểm tra, giám sát phải phát hiện được thực chất của vấn đề nảy sinh, kịp thời tháo gỡ để phục vụ việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối vào cuộc sống.

Thứ tư, nâng cao năng lực tổng kết việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối. Muốn vậy, phải phát huy được vai trò của các nhà lý luận, các nhà hoạt động thực tiễn tham gia tổng kết thực tiễn. Năng lực tổng kết thực tiễn thể hiện cụ thể ở khả năng lựa chọn vấn đề để tổng kết đúng, trúng. Lựa chọn vấn đề đúng, trúng là xuất phát điểm cho việc phát huy được vai trò của công tác tổng kết thực tiễn.

Khi lựa chọn được vấn đề thực tiễn để tổng kết thì phải xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng tổng kết; khảo sát, thu thập số liệu một cách khoa học, khách quan. Trên cơ sở đó, phân tích, khái quát hóa, tìm ra những mặt mạnh, những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế, vấn đề đặt ra và đề xuất phương án giải quyết. Qua đó đúc rút các bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện tiếp theo.

Những kết luận được rút ra từ tổng kết thực tiễn phải có tính khái quát cao, đóng góp vào phát triển lý luận, có ý nghĩa gợi mở, soi đường, chỉ đạo việc hoàn thiện chủ trương, đường lối tiếp theo cũng như việc đưa chủ trương, đường lối vào cuộc sống.

Thứ năm, nâng cao năng lực vận dụng các bài học kinh nghiệm được đúc kết từ tổng kết thực tiễn tổ chức triển khai, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống.

Các bài học kinh nghiệm thực tiễn được đúc kết chỉ có ý nghĩa quý báu khi được vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo. Nếu các bài học được tổng kết công phu, nghiêm túc mà không được ứng dụng trong thực tiễn thì cũng không có giá trị.

Để nâng cao năng lực vận dụng các bài học kinh nghiệm được rút ra từ tổng kết thực tiễn, cần chú ý so sánh, đối chiếu các bài học kinh nghiệm đã được đúc kết với thực tiễn cuộc sống. Trên cơ sở đó có các căn cứ đề xuất việc điều chỉnh mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển, chủ trương, đường lối cũng như điều chỉnh việc tổ chức thực hiện.

Việc tổng kết và vận dụng các bài học phải khách quan, lịch sử cụ thể và gắn với nhu cầu thực tiễn. Thoát ly điều kiện lịch sử cụ thể, thoát ly hoàn cảnh thực tiễn, sẽ trở thành giáo điều hoặc kinh nghiệm chủ nghĩa trong lãnh đạo, chỉ đạo.

Để thực hiện tốt các giải pháp trên, toàn Đảng cần phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, trau dồi, rèn luyện phương pháp biện chứng duy vật cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, phương pháp biện chứng duy vật với các nguyên tắc khách quan, phát triển, lịch sử cụ thể, thống nhất giữa lý luận với thực tiễn sẽ giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng có cơ sở, căn cứ để nâng cao năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Hai nhóm giải pháp cho việc giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước và năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định có mối quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau.

Nâng cao được năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện đối với chính quyền nhà nước là cơ sở tiền đề nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định. Nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước thực hiện mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển mà Đảng đã xác định là củng cố, tăng cường năng lực giữ vững vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước trong mọi thời kỳ cách mạng.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 4-8-2022; Ngày bình duyệt: 07-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.199, 90, 91, 180-199, 284, 285, 285, 286, 287, 288

(11), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.611, 611.

Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đến đường lối xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng hiện nay.

 Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 là một văn kiện lịch sử vô giá, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, chỉ ra con đường vận động, phát triển của nền văn hóa mới Việt Nam nhằm đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Sau 80 năm, những tư tưởng của Đề cương về văn hóa vẫn còn nguyên giá trị, được Đảng ta vận dụng, bổ sung, hoàn thiện trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế.

Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đến đường lối xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng hiện nay

Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. (Trong ảnh: một gia đình tại làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) - Ảnh: vietnamnet.vn

Văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, là thành quả hoạt động sáng tạo, kết tinh trí tuệ của con người. Con người là chủ thể văn hóa và văn hóa là thước đo sự phát triển tiến bộ, văn minh của con người. Khi hình thành các cộng đồng người, các dân tộc, giai cấp thì văn hóa mang dấu ấn cộng đồng, giai cấp, dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã sớm hình thành các nền văn hóa. Văn hóa thời tiền sử: đó là các nền văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn, Hạ Long, Bàu Tró. Văn hóa định hình quốc gia, dân tộc: Văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay 4.000 năm, tiếp đó là văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn hình thành nền văn minh Sông Hồng. Với sự hội nhập từ văn hóa Đông Sơn đến văn hóa Sa Huỳnh (Nam Trung Bộ), văn hóa Óc Eo (Nam Bộ), văn hóa Việt Nam thống nhất trong tính đa dạng.

Quốc gia Đại Việt phát triển “Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” (Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo). Văn hiến là sự hội tụ của các yếu tố: văn hóa, học thức, đạo đức và cái đẹp. Trải qua lịch sử mấy nghìn năm, dân tộc Việt Nam nhiều lần phải chống xâm lược từ phương Bắc và phương Tây để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và cũng chống lại sự xâm lăng văn hóa, đồng hóa về văn hóa. Dân tộc Việt Nam đã đứng vững về chủ quyền lãnh thổ quốc gia và bảo toàn văn hóa dân tộc. Văn hóa còn nên dân tộc còn.

Năm 1943, phong trào cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập của Việt Nam do Đảng Cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh lãnh đạo phát triển mạnh mẽ. Với tầm nhìn chiến lược và nhận thức lý luận, thực tiễn sâu sắc về văn hóa, Đảng đã lãnh đạo thành lập Hội văn hóa Cứu quốc và công bố Đề cương về văn hóa Việt Nam nhằm thúc đẩy và phát huy vai trò của văn hóa và các nhà hoạt động văn hóa góp phần vào thắng lợi của dân tộc trong sự nghiệp giải phóng và phát triển.

Khái niệm văn hóa mà bản đề cương đề cập là văn hóa tinh thần thuộc ý thức xã hội. “Văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật”. Với nhận thức khoa học, đề cương nêu rõ mối “quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chính trị”, quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Đề cương nêu rõ: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động”(1). Trong hoàn cảnh một nước phong kiến và thuộc địa, cách mạng Việt Nam “Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa nữa”. Trên thực tế, các thế lực thực dân, phát xít đã thực hành ở Việt Nam chính sách văn hóa phản động, ngu dân, áp đặt văn hóa của nước đi xâm lược, nên cách mạng văn hóa là tất yếu.

Bản đề cương nêu rõ quan điểm của người cộng sản về cách mạng văn hóa. Văn hóa bao gồm cả tư tưởng, văn chương, nghệ thuật thuộc ý thức xã hội. Ý thức xã hội tiến bộ, tích cực có vai trò cải tạo xã hội, biến đổi tồn tại xã hội. “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội”(2). Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cách mạng chính trị thắng lợi thì cách mạng văn hóa mới thành công. Cách mạng văn hóa dựa vào thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập hoàn toàn “xây dựng nên một nền văn hóa mới”. Nền văn hóa mới “sẽ là văn hóa xã hội chủ nghĩa”.

Ba nguyên tắc xây dựng nền văn hóa mới được đề ra:

“a) Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập).

b) Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng).

c) Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ).

Muốn cho ba nguyên tắc trên đây thắng, phải kịch liệt chống những xu hướng văn hóa bảo thủ, chiết trung, lập dị, bi quan, thần bí, duy tâm, v.v.. Nhưng đồng thời cũng phải chống xu hướng văn hóa quá trớn của bọn tờrốtkít”(3).

Các nội dung văn hóa được nhấn mạnh: về học thuyết tư tưởng làm cho “thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thắng”, về tông phái văn nghệ (văn chương, nghệ thuật) “làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng”. Tranh đấu về tiếng nói, chữ viết, làm giàu tiếng nói, ấn định mẹo văn ta, cải cách chữ quốc ngữ. Chú trọng các giải pháp: tuyên truyền và xuất bản, tổ chức các nhà văn, giành quyền lợi cho nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ..., chống nạn mù chữ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vô sản mácxít với văn hóa.

Dù ngắn gọn, bản đề cương đã trình bày rõ, đầy đủ những quan điểm, nguyên tắc, đường lối, chính sách văn hóa của Đảng với những nội dung cơ bản có ý nghĩa khoa học và thực tiễn chỉ đạo lâu dài xây dựng nền văn hóa cách mạng do Đảng lãnh đạo, bảo đảm cho nền văn hóa mới đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh và phát triển của dân tộc, đất nước.

Trước khi công bố Đề cương về văn hóa Việt Nam, Ban Thường vụ Trung ương Đảng tại Nghị quyết ban hành ngày 28-2-1943 đã nêu rõ quan điểm, chủ trương đẩy mạnh vận động văn hóa. Phái cán bộ chuyên môn hoạt động về văn hóa để gây dựng phong trào văn hóa tiến bộ, văn hóa cứu quốc. “Ở những đô thị văn hóa như Hà Nội, Sài Gòn, Huế, v.v. phải gây ra những tổ chức văn hóa cứu quốc và phải dùng những hình thức công khai hay bán công khai đặng đoàn kết các nhà văn hóa và trí thức (ví dụ có thể tổ chức những nhóm “văn hóa tiền phong”, “nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác”, “nhóm nghiên cứu lịch sử Việt Nam”), v.v.”(4).

Năm 1943, Hội văn hóa Cứu quốc ra đời ở Hà Nội, tập hợp đông đảo trí thức, văn nghệ sĩ hoạt động theo đường lối của Đảng và Chương trình của Mặt trận Việt Minh, nhất là tư tưởng chỉ đạo của Đề cương về văn hóa Việt Nam. Đồng chí Lê Quang Đạo được Đảng phân công trực tiếp chỉ đạo hoạt động của Hội văn hóa Cứu quốc. Tổ chức Hội đã phát triển rộng trên phạm vi cả nước. Hội văn hóa Cứu quốc và đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ hoạt động trên mặt trận văn hóa đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của Đảng và dân tộc dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Các nhà trí thức, hoạt động văn hóa đã là đại biểu của Đại hội quốc dân Tân Trào, tham gia Ủy ban giải phóng dân tộc, Chính phủ lâm thời, được bầu vào Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là thành viên Chính phủ chính thức, Ủy ban xây dựng kế hoạch kiến thiết quốc gia, đóng góp tích cực vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.

Cùng với đường lối kháng chiến, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, phát triển kinh tế, Đảng đề ra chủ trương phát triển văn hóa trong Chỉ thị ngày 25-11-1945: “Về văn hóa, tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ, cổ động văn hóa cứu quốc, kiến thiết nền văn hóa mới theo ba nguyên tắc: khoa học hóa, đại chúng hóa, dân tộc hóa”(5).

Những năm tháng đầu tiên của Nhà nước cách mạng, quần chúng nhân dân không chỉ hiểu thấu giá trị của độc lập, tự do mà còn được thụ hưởng văn hóa mới, xây dựng đời sống mới, khi nhân dân trở thành người chủ đất nước, xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra những chủ trương cấp thiết là chống nạn mù chữ, nâng cao dân trí, tìm kiếm nhân tài: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(6). Hồ Chí Minh mong muốn dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu” và “chúng ta là một dân tộc văn minh”. Ngày 24-11-1946, tại Hội nghị văn hóa toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa với quan điểm “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Giá trị văn hóa mới với bản chất tiến bộ, tiên phong thúc đẩy sự phát triển của dân tộc, đất nước.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng chủ trương kháng chiến toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa. Văn hóa là mặt trận rất quan trọng trong sự nghiệp cứu nước với khẩu hiệu “Văn hóa hóa kháng chiến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa, văn nghệ là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm: “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(7).

Những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã đề ra chủ trương tiến hành 3 cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất, về khoa học - kỹ thuật và về tư tưởng, văn hóa. Cách mạng tư tưởng, văn hóa gắn liền với xây dựng con người của xã hội mới. Văn hóa, tư tưởng có vai trò to lớn trong cải biến, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Cuộc cách mạng đó đào luyện con người mới với tư cách chủ thể trong sự nghiệp sáng tạo xã hội mới. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(8).

Đảng và Nhà nước chăm lo sự nghiệp “trồng người” với một nền giáo dục nghiêm cẩn, sáng tạo, ưu việt của hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa, kết hợp với giáo dục trong gia đình, ngoài xã hội và tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện. Vì vậy, đã có được những lớp người sẵn sàng đem hết tài năng, công sức xây dựng đất nước và đi bất cứ đâu, sẵn sàng hy sinh cứu nước, nêu cao tinh thần tập thể, ý thức làm chủ, với phong cách sống: “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.

Khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đường lối của Đảng hướng đất nước thực hiện xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, tạo nên sức mạnh tổng hợp, vượt qua khó khăn, thách thức, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chính chủ thể là con người năng động, sáng tạo, đổi mới tư duy, vượt qua những nhận thức bảo thủ, trì trệ, giáo điều, nóng vội, đi từ đổi mới từng phần đến khẳng định đường lối đổi mới tại Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986).

Khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đại hội VI chủ trương lấy nhiệm vụ đổi mới cơ chế, chính sách kinh tế làm trung tâm, đồng thời đặt cao vai trò của văn hóa thúc đẩy cải tạo xã hội và phát triển chế độ chính trị, kinh tế vững mạnh. “Mỗi hoạt động văn hóa, văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân. Quan tâm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu lành mạnh của các tầng lớp xã hội và các lứa tuổi”(9). “Chống những tàn tích văn hóa phong kiến, thực dân, tư sản. Làm thất bại âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch biến văn hóa, văn nghệ thành phương tiện gieo rắc tâm lý bi quan và lối sống sa đọa. Bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục”(10).

Những năm đầu đổi mới, trước tác động tiêu cực của sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô, sự phá hoại của các thế lực thù địch sử dụng công cụ văn hóa, văn nghệ, báo chí, phát thanh trong chiến dịch “Chuyển lửa về quê nhà”, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam đã bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo đảm cho công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển lành mạnh, vững chắc và có thành tựu lớn cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và đời sống mọi mặt của nhân dân.

Nhận thức lý luận và thực tiễn về vai trò của văn hóa không ngừng phát triển. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng (tháng 9-1991) thông qua và Cương lĩnh bổ sung, phát triển tại Đại hội XI (tháng 1-2011) đều nêu rõ một trong các đặc trưng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để cụ thể hóa quan điểm của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quá trình thực hiện Nghị quyết của Trung ương đã đạt nhiều thành quả về xây dựng, phát triển văn hóa trong quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời cũng đòi hỏi phải tổng kết làm rõ hơn quan điểm, chủ trương về văn hóa phù hợp với thực tiễn đất nước và quan hệ quốc tế.

Văn hóa luôn luôn gắn liền với chủ thể là con người, con người sáng tạo không ngừng các giá trị văn hóa và văn hóa góp phần xây dựng và hoàn thiện con người. Ngày 9-6-2014, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI ban hành Nghị quyết Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu chung: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(11). Nghị quyết đề ra 5 mục tiêu cụ thể, trong đó mục tiêu hàng đầu là hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi con người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.

Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI khẳng định 5 quan điểm, trong đó quan điểm hàng đầu là: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang với kinh tế, chính trị, xã hội”(12). Đảng chú trọng bảo đảm bản sắc của văn hóa, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người, con người có đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng; phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa. Xây dựng, phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng. Đảng đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để xây dựng, phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ mới.

Những quan điểm, nhiệm vụ do Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI đề ra nhằm chủ động, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng”. Khắc phục tình hình đời sống văn hóa, tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu, khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân. Môi trường văn hóa còn tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Khắc phục tình trạng còn ít những tác phẩm văn chương, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật và những tiêu cực khác trong đời sống văn hóa, xã hội.

Có một thực tế là, trong công cuộc đổi mới, có nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, song lại có biểu hiện xuống cấp về văn hóa, đạo đức, lối sống. Điều đó đặt ra sự cần thiết phải nhận thức sâu sắc hơn về vai trò xây dựng, phát triển văn hóa, con người, có những chính sách, giải pháp thích hợp để phát triển hài hòa kinh tế và văn hóa nhằm củng cố chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế cũng đòi hỏi mỗi người, mỗi tập thể, cộng đồng chăm lo hơn đời sống văn hóa, kết hợp đúng đắn đời sống vật chất với đời sống tinh thần, tình cảm vì những giá trị hạnh phúc thật sự.

Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) là bước tiến rất quan trọng trong nhận thức tầm cao và ý nghĩa của văn hóa khi nhấn mạnh các hệ giá trị: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội”(13).

Xây dựng, phát triển văn hóa, xây dựng con người với những hệ giá trị và chuẩn mực là sự bảo đảm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần rất quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, tạo động lực để xây dựng, phát triển kinh tế. Tất cả đều hướng tới mục tiêu vì một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Ngày 24-11-2021, tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài phát biểu rất quan trọng làm rõ những quan điểm cơ bản, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển văn hóa và con người mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Tổng Bí thư nêu rõ: “dù theo nghĩa rộng hay hẹp thì khi đã nói đến văn hóa là nói đến những gì là tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa, nhân tình, tiến bộ (một con người có văn hóa, một gia đình có văn hóa, một dân tộc có văn hóa; lối sống văn hóa, nếp sống văn hóa, cách ứng xử có văn hóa,...). Còn những gì xấu xa, việc làm ti tiện, đớn hèn, những hành động phi pháp, bỉ ổi... là vô văn hóa, phi văn hóa, phản văn hóa. Hạnh phúc của con người không phải chỉ ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn, được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng”.

Đã 80 năm Đề cương về văn hóa Việt Nam, sức sống, ý nghĩa của Cương lĩnh đầu tiên của Đảng về văn hóa vẫn trường tồn và phát triển phong phú, sáng tạo đến hôm nay và mãi mãi.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 540 (tháng 02-2023)

Ngày nhận bài: 17-02-2023; Ngày bình duyệt: 18-02-2023; Ngày duyệt đăng: 21-02-2023.

 

(1), (2), (3), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.316, 318, 319, 301.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.8, Sđd, tr.28.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.7.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.246.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.13, Sđd, tr.66.

(9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.47, Sđd, tr.426, 427.

(11), (12) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2014, tr.46-47, 48.

(13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.143.


Nhận diện một số thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

 Bài viết góp phần nhận diện một số thủ đoạn mà các thế lực thù địch và các phần tử cực đoan thường lợi dụng vấn đề tôn giáo nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam như: lợi dụng truyền đạo trong đồng bào dân tộc thiểu số nhằm hình thành tư tưởng ly khai và chủ nghĩa dân tộc cực đoan; xuyên tạc chính sách tôn giáo nhằm can thiệp vào chính trị nội bộ, mặc cả trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam; tôn giáo hóa các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội; lợi dụng hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; lợi dụng vấn đề đất đai liên quan đến cơ sở tôn giáo; lợi dụng mạng xã hội và diễn đàn quốc tế; lợi dụng các hoạt động từ thiện xã hội.

Nhận diện một số thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam

Pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể để bảo hộ và thúc đẩy các quyền con người, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo - Ảnh: tapchicongsan.org.vn

 Cùng với các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, vấn đề tôn giáo cũng luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Có thể nhận diện một số cách thức, thủ đoạn mà chúng đã và đang sử dụng:

1. Lợi dụng truyền đạo trong đồng bào dân tộc thiểu số nhằm hình thành tư tưởng ly khai, dân tộc cực đoan

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, đồng bào các dân tộc, tôn giáo đoàn kết, cùng chung sống hòa bình, thân thiện với nhau. Trong lịch sử, một số chức sắc, tín đồ tôn giáo và đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạng. Lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam và khó khăn về kinh tế - xã hội ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng việc truyền đạo trái pháp luật để gây ra những vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự, thậm chí tạo những điểm nóng chính trị - xã hội, nhằm tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Ở khu vực miền núi phía Bắc, những thập niên gần đây, chúng lợi dụng sự chuyển đổi niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo gắn với lịch sử, tâm lý của người Mông để kích động ly khai, thành lập “Nhà nước Mông tự trị” nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc. Sự kiện lợi dụng đạo Tin lành tuyên truyền, tập trung hàng nghìn người Mông tại bản Huổi Khon, huyện Nậm Bồ, tỉnh Điện Điên năm 2011 với âm mưu gây bạo loạn và vụ việc vài trăm người Mông (xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu) bị các phần tử phản động tuyên truyền, kích động đã trốn vào rừng nhằm tiếp tục âm mưu tuyên truyền, gây bạo loạn vào tháng 2-2020 (trong đó có nhóm người đã từng gây ra vụ bạo loạn năm 2011 tại Mường Nhé) cho thấy, các thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để thúc đẩy hoạt động ly khai trong người Mông tại Việt Nam.

Ngoài việc lợi dụng đạo Tin lành, ở một số địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, các phần tử phản động cũng tăng cường lợi dụng một số hiện tượng tôn giáo mới. Hiện tượng “Con đường mới” (ở huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu), hiện tượng “Giê Sùa” (tại Điện Biên, Lai Châu) cũng đã bị lợi dụng để lôi kéo người Mông nhằm tập hợp lực lượng phục vụ cho hoạt động thành lập “Nhà nước Mông”. Ở một số địa phương như Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn và Lào Cai, một số người Mông theo hiện tượng “Dương Văn Mình” cũng bị lôi kéo vào các hoạt động chống đối Nhà nước như: không tham gia hoạt động bầu cử, tổ chức biểu tình, khiếu kiện, khiếu nại,...

Tại khu vực Tây Nguyên, các thế lực Fulro, có sự tiếp tay từ nước ngoài, đã kích động đồng bào dân tộc thiểu số gây ra các vụ bạo loạn chính trị nhằm lật đổ chính quyền, âm mưu thành lập nhà nước “Đề ga tự trị”. Sự kiện chính trị năm 2001 và 2004 cùng các vụ việc phức tạp liên quan đến vấn đề tôn giáo, dân tộc kéo dài nhiều năm ở Tây Nguyên cho thấy rõ âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, dân tộc của các thế lực thù địch, phản động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và chống phá Nhà nước Việt Nam.

Những năm gần đây, ở nước ngoài, các tổ chức Fulro lưu vong như: “Hội những người miền núi”(MFI); “Nhân quyền người Thượng” (MHRO); “Người Thượng thống nhất” (UMP),... vẫn đang ra sức tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam với chiêu bài kích động người dân Tây Nguyên đấu tranh đòi thành lập nhà nước độc lập.

Ở trong nước, tàn dư của lực lượng Fulro có dấu hiệu hoạt động trở lại khi chúng lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới như “Hà Mòn”, “Bơ khắp Brâu” để truyền bá mê tín dị đoan và hoạt động chính trị, gây phức tạp tình hình an ninh, trật tự xã hội ở một số địa phương.

Ở khu vực miền Trung, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề Hồi giáo (Hồi giáo Bà ni, Islam giáo) và Bà-la-môn giáo để kích động đồng bào Chăm theo tư tưởng ly khai, khôi phục “Vương quốc Chămpa tự trị”.

Ở khu vực Tây Nam Bộ, người Khmer với Phật giáo Nam tông từ lâu đã bị chúng nhắm tới  trong chiêu bài thành lập quốc gia “Khmer Krôm tự trị”. Ở ngoài nước, nhiều tổ chức phản động của người Khmer như:“Hội Ái hữu Khmer Campuchia Krôm” (AKKK), “Hội bảo vệ nhân quyền Khmer Campuchia Krôm”, “Hội sư sãi Khmer Campuchia Krôm”, “Liên hiệp Ủy ban chủ nghĩa dân tộc” (KKK), “Mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia Krôm” (KKNLF), “Ủy ban dung hòa Khmer Campuchia Krôm” (KKKCC), “ủy ban Điều phối Khmer Campuchia Krôm” (KKKCC)”, “Liên minh Khmer Campuchia-Krôm” (KKF),... cũng ráo riết đẩy mạnh hoạt động, kích động lôi kéo sư tăng ra nước ngoài học tập, kích động sư tăng trong nước ly khai khỏi Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ở trong nước, chúng lợi dụng mối quan hệ đồng tộc, đồng tôn giữa người Khmer ở Việt Nam và người Khmer ở Campuchia để kích động, lôi kéo người Khmer ly khai, tự trị.

2. Xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam nhằm kiếm cớ can thiệp vào chính trị nội bộ, tạo sức ép và mặc cả trong các quan hệ đối ngoại

Trong những năm qua, các phần tử phản động là người Việt Nam ở trong và ngoài nước đã câu kết với các thế lực thù địch nước ngoài chống phá Việt Nam bằng cách công bố những báo cáo sai sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam thông qua cách tiếp cận thông tin một chiều, phiến diện, thiếu thiện chí.

Năm 1998, Quốc hội Mỹ ban hành Đạo luật tự do tôn giáo quốc tế và thành lập Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ. Theo quy định của Đạo luật này, cán bộ ngoại giao của Mỹ ở các quốc gia có trách nhiệm thu thập thông tin về tình hình tự do tôn giáo ở nước sở tại. Ngoại trưởng và các đại sứ lưu động về tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, hằng năm sẽ phải trình lên Quốc hội “Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế, bổ sung các báo cáo mới nhất về nhân quyền với những thông tin chi tiết về các vấn đề liên quan tới tự do tôn giáo quốc tế”. Trên cơ sở báo cáo của Ngoại trưởng cùng một số nguồn thông tin khác, Văn phòng Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ sẽ tổng hợp và báo cáo Quốc hội về tình hình tự do tôn giáo của mỗi quốc gia. Các bản báo cáo này sẽ được chính quyền Mỹ sử dụng để xây dựng chính sách, triển khai công tác ngoại giao và trừng phạt các nước mà họ cho là có vi phạm tự do tôn giáo. Đây là quy định nhằm can thiệp trắng trợn vào nội bộ nước khác dưới chiêu bài tự do tôn giáo kiểu Mỹ.

Riêng với Việt Nam, trong các năm từ 2004 đến 2006, Mỹ cáo buộc Việt Nam có vi phạm tự do tôn giáo và đưa Việt Nam vào Danh sách các nước cần được quan tâm đặc biệt (CPC). Sau nhiều năm, với sự đấu tranh kiên quyết và thực tiễn thực hiện chính sách, pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Mỹ đã phải đưa Việt Nam ra khỏi danh sách CPC. Tuy nhiên, một số chính khách cực đoan thiếu thiện chí với Việt Nam ở các nước như Mỹ, Anh, Đức, Canađa và các phần tử phản động người Việt Nam vẫn luôn ráo riết tác động tới Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ và Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) có trụ sở ở Mỹ,... để thông qua các báo cáo, các nghị quyết, thông cáo, phúc trình có nội dung xuyên tạc, làm cho cộng đồng quốc tế hiểu sai về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhằm đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC, bất chấp những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm tự do tôn giáo cho người dân.

Báo cáo thường niên của Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ trong các năm 2017, 2018, 2019, 2020, 2021 đã có những nhận định thiếu khách quan và xuyên tạc trắng trợn về tự do tôn giáo ở Việt Nam như: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam “quy định sự kiểm soát đáng kể của Chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo và bao gồm các điều khoản mơ hồ cho phép hạn chế quyền tự do tôn giáo”; “Tín đồ tôn giáo bị nhà chức trách sách nhiễu”; “Chính phủ Việt Nam đàn áp mọi tôn giáo, bắt giữ những người biểu tình ôn hòa để đòi hỏi tự do tín ngưỡng và tự do thờ phụng”; “Các tôn giáo ở Việt Nam bị buộc im tiếng hay biến thành công cụ của nhà nước”; “Nhà nước Việt Nam gây khó khăn cho việc đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo”; Các nhân vật đấu tranh cho tự do tôn giáo luôn bị nhà nước gây khó khăn trong hoạt động, bị hạn chế đi lại; Ở Việt Nam có các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”(1)...

Đặc biệt, gần đây nhất, tháng 12-2022, dựa trên những thông tin một chiều, phiến diện, thiếu khách quan, Bộ Ngoại giao Mỹ đã đưa Việt Nam vào cái gọi là “Danh sách theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo”(2).

Đó là những cáo buộc rất thiếu thiện chí, áp đặt với ý đồ xấu, hậu thuẫn cho các hoạt động vi phạm pháp luật của một số chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan ở Việt Nam với chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền”. Đồng thời, thông qua những cáo buộc này, một số chính khách phương Tây nêu điều kiện, yêu sách đối với Việt Nam trong các quan hệ ngoại giao, nhằm đưa Việt Nam vào quỹ đạo ảnh hưởng, phục vụ cho lợi ích của họ và hòng từng bước chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam; đưa Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ kiểu phương Tây; tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ, chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây bất ổn chính trị, xã hội ở Việt Nam.

3. Tôn giáo hóa các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội

Những năm qua, lợi dụng những sơ hở, hạn chế trong quản lý kinh tế - xã hội của Việt Nam, các phần tử phản động trong và ngoài nước đã kích động một số chức sắc, nhà tu hành xúi giục đồng bào theo đạo biểu tình, phản đối các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Điển hình như: sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung năm 2016 do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra, đã bị chúng kích động, lôi kéo dẫn đến hàng nghìn tín đồ Công giáo tụ tập, biểu tình, ngăn chặn các phương tiện giao thông qua lại, đập phá tài sản công, tấn công lực lượng chức năng...; vụ việc 39 người Việt tử vong trong container ở Vương quốc Anh cũng bị một số chức sắc tôn giáo lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước, đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước gây ra nghèo đói, khiến người dân phải bỏ đất nước ra đi kiếm sống và bỏ mạng nơi xứ người,...

Năm 2018, khi Nhà nước Việt Nam chuẩn bị thông qua một số dự luật như: Dự luật an ninh mạng, Dự luật đặc khu kinh tế - hành chính Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc, một số chức sắc tôn giáo, nhà tu hành bị lợi dụng bởi các thế lực xấu đã kích động người dân tham gia biểu tình phản đối Đảng, Nhà nước.

Đặc biệt, những năm gần đây, tình hình tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến việc thực thi pháp luật về đất đai, xây dựng của chính quyền và người dân xảy ra ở nhiều địa phương. Một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng vào đó để kích động tín đồ, gây phức tạp về an ninh chính trị.

Năm 2020, ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội, các đối tượng cực đoan, phản động đã xúi giục, thúc ép một số người dân cố tình xâm phạm đất quốc phòng, tổ chức bắt giam cán bộ, chống đối người thi hành công vụ và tấn công lực lượng chức năng khiến 3 cảnh sát hy sinh, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Khi các cá nhân phạm tội bị xử lý theo quy định của pháp luật thì một số chức sắc tôn giáo đã lợi dụng các buổi giảng đạo, lên tiếng phê phán Đảng, Nhà nước và kích động tín đồ biểu tình chống đối.

Có thể nói, các thế lực thù địch đã dùng thủ đoạn“tôn giáo hóa” các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để chống phá Việt Nam. Các âm mưu, thủ đoạn đó đã tác động tiêu cực đối với xã hội, gây phức tạp về an ninh trật tự tại một số địa bàn, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc và đồng bào theo đạo đối với Đảng, Nhà nước ta.

4.  Lợi dụng hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam để công kích Đảng, Nhà nước, công kích chế độ

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế. Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam cũng không tránh khỏi một số hạn chế trong công tác quản lý, điều hành trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội nói chung và trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo nói riêng.

Lợi dụng những tồn tại, hạn chế này, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã thổi phồng, quy kết mọi tồn tại, hạn chế đó là do sự sai lầm, yếu kém trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước. Từ đó, chúng xúi giục một số chức sắc tôn giáo và một số đối tượng phản động là người dân tộc thiểu số kích động tín đồ và đồng bào dân tộc thiểu số khiếu kiện, nêu yêu sách với các danh nghĩa như: đòi quyền lợi cho tôn giáo, quyền lợi cho người dân tộc thiểu số, bảo vệ cuộc sống của người dân, của các nhóm yếu thế, kích động di cư tự do, xuất cảnh trái phép gây khó khăn cho công tác quản lý, gây mất an ninh trật tự, bất ổn chính trị tại một số địa bàn. Âm mưu của các thế lực thù địch là tạo ra các lực lượng chống đối Đảng, Nhà nước ngay trong lòng đất nước, tạo nên sự liên kết chống đối trong và ngoài nước hòng tạo cơ hội lật đổ chế độ thông qua các phong trào kiểu như “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” tại Việt Nam.

5. Lợi dụng vấn đề đất đai liên quan đến cơ sở tôn giáo

Những năm gần đây, vấn đề đất đai tôn giáo ở Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp. Các vụ tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đất đai tôn giáo xảy ra ở nhiều địa phương trên cả nước. Lợi dụng vấn đề tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đất đai tôn giáo, các thế lực thù địch đã kích động tín đồ các tôn giáo với chiêu bài “bảo vệ quyền lợi của giáo hội”, “bảo vệ quyền lợi của tín đồ tôn giáo” để lôi kéo tín đồ tôn giáo tụ tập, biểu tình, nêu yêu sách đòi lại đất đai, gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ. Nhiều vụ việc từ khiếu kiện đất đai đơn thuần đã đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự và tạo cớ để các thế lực bên ngoài lên tiếng, phê phán Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, điển hình như các vụ việc: đền bù, giải tỏa đất tại số 178 Nguyễn Lương Bằng và số 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ Tam Tòa (Quảng Bình), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (Thành phố Hồ Chí Minh)và gần đây là các vụ việc phức tạp tại giáo phận Vinh, Kon Tum, v.v.. Các vụ việc khiếu kiện nói trên đã bị một số chức sắc Công giáo cực đoan lợi dụng, kích động người dân tụ tập, biểu tình chống đối Đảng, Nhà nước; kêu gọi tín đồ Công giáo hiệp thông để “đòi quyền lợi cho giáo hội và quyền lợi cho giáo dân”; kêu gọi các tổ chức quốc tế gây sức ép buộc Nhà nước Việt Nam phải trả lại đất đai cho tôn giáo,...

Bên cạnh đó, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam, mặc dù đều đã được Nhà nước cấp đất xây dựng cơ sở theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại một số địa phương, một số chức sắc đã lợi dụng, tuyên truyền, xúi giục tín đồ chuyển nhượng đất trái pháp luật cho cơ sở tôn giáo. Thậm chí, có nơi chức sắc còn xúi giục tín đồ lấn chiếm đất để mở rộng khuôn viên, xây dựng cơ sở thờ tự trái pháp luật. Khi các cơ quan quản lý nhà nước xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai liên quan đến tôn giáo thì các thế lực phản động tuyên truyền rằng, Nhà nước đàn áp tôn giáo, gây khó khăn cho sinh hoạt tôn giáo của người dân.

6. Lợi dụng mạng xã hội, diễn đàn quốc tế để xuyên tạc, bịa đặt về tự do tôn giáo ở Việt Nam

Hiện nay, các phần tử phản động và một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo đang ráo riết tranh thủ sự bùng nổ của mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”; gây chia rẽ nội bộ các tôn giáo bằng cách công kích các chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tích cực tham gia các tổ chức chính trị - xã hội; kêu gọi tín đồ tẩy chay tổ chức Giáo hội mà chúng cho là “do Nhà nước lập ra”; tuyên truyền kích động tín đồ đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam, đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, đòi xây dựng xã hội dân sự Việt Nam kiểu phương Tây. Chúng kêu gọi chính phủ các nước phương Tây lấy vấn đề tự do tôn giáo làm điều kiện trong đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương, đa phương để buộc Nhà nước Việt Nam chấp nhận tự do tôn giáo trái với Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Chúng còn lợi dụng các diễn đàn quốc tế, gặp gỡ các chính khách phương Tây để xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Hai nhân vật tôn giáo lưu vong là Mục sư Tin lành A Ga - người dân tộc thiểu số Tây Nguyên và tín đồ đạo Cao đài Lương Xuân Dương đã gặp Tổng thống Mỹ

Donald Trump vào tháng 7-2019, xuyên tạc về tự do tôn giáo ở Việt Nam, đề nghị Mỹ đưa Việt Nam trở lại Danh sách các nước cần được quan tâm đặc biệt. Có thể nói, đó là những hành động nực cười, phản động của những kẻ vong bản, quay lưng lại với quê hương, đất nước của họ.

7. Lợi dụng các hoạt động từ thiện xã hội để truyền đạo và tiến hành các hoạt động tôn giáo trái pháp luật

Những năm qua, có rất nhiều tổ chức phi chính phủ từ các nước đến Việt Nam hoạt động cứu trợ, từ thiện nhân đạo, trong đó có một số cá nhân, tổ chức đã lợi dụng các hoạt động này để truyền đạo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, được sự chỉ đạo và tiếp tay từ bên ngoài, một số chức sắc tôn giáo trong nước đã lợi dụng các hoạt động từ thiện, nhân đạo để tuyên truyền, kích động chia rẽ đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh; tìm cách mua chuộc, lôi kéo những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, trong các tôn giáo nhằm tạo dựng hạt nhân, chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị để tìm cớ can thiệp, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới phức tạp hiện nay, các hoạt động lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng vô cùng đa dạng, phức tạp. Do đó, nhận diện âm mưu, thủ đoạn, cách thức lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để chủ động có những đối sách kịp thời nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển đất nước là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho công tác tôn giáo của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 539 (tháng 01-2023)

Ngày nhận bài: 07-11-2022; Ngày bình duyệt: 07-01-2023; Ngày duyệt đăng: 27-01-2023.

 

(1) Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế các năm 2017, 2018, 2019, 2020, https://www.state.gov/wp-content/uploads/VIETNAM-INTERNATIONAL-RELIGIOUS-FREEDOM-REPORT.pdf (2017, 2018, 2019, 2020).

(2) https://www.state.gov/countries-of-particular-concern-special-watch-list-countries-entities-of-particular-concern/.

Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Lan Hiền - Vũ Thị Mai Hiên (Tuyển chọn và hiệu đính): Tôn giáo và an ninh - mối liên hệ mới trong quan hệ quốc tế, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2021.

2. Hoàng Thị Lan (Chủ biên): Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2021.

3. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Tôn giáo với các vấn đề về quyền con người, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2020.

4. Nguyễn Thanh Xuân, Lê Tâm Đắc (Chủ biên): Đời sống tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2019.

5. Lê Văn Lợi (Chủ biên): Giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2018.

PGS, TS HOÀNG THỊ LAN