Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023

Lời Bác dạy Ngày 28/6/1966


    “Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn.

Là nội dung huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục, họp tháng 6 năm 1957.

Theo Bác, trong giáo dục cần làm cho học sinh biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ cho học sinh luôn được vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, trẻ trung của tuổi thơ, được hưởng quyền dân chủ, được vui chơi và học hành tiến bộ, mang lại cho trẻ em niềm hạnh phúc khi được sống cùng cha mẹ. Để làm được điều đó, giáo dục gia đình giữ vai trò rất quan trọng.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về tầm quan trọng của gia đình, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của gia đình đối với sự phát triển bền vững của đất nước, luôn xác định gia đình là tế bào của xã hội. Ngày 28 tháng 6 năm 2000, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg, chọn ngày 28 tháng 6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt Nam, nhằm đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Ngày Gia đình Việt Nam là dấu mốc quan trọng để những con người đất Việt hướng về cội nguồn, về những người thân yêu, qua đó nuôi dưỡng tình cảm đẹp, những giá trị văn hóa cao quý của dân tộc. Cho dù có đi đâu, làm gì, gia đình vẫn là nơi để nhớ, để yêu thương và để quay về.

Hoạt động của Quân đội là loại hình lao động đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ cơ bản sống xa gia đình, gắn bó với đơn vị; do vậy, với mỗi người lính gia đình luôn có vị trí đặc biệt trong tâm tư, tình cảm và trách nhiệm của mỗi người. Để xây dựng được tinh thần đoàn kết đồng chí, đồng đội, gắn bó giữa bộ đội với cơ quan, đơn vị, các mô hình: “Đơn vị là nhà, cán bộ, chiến sĩ đều là anh em”, “Đảo là nhà, tàu là nhà, biển cả là quê hương”, “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”…đã được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân triển khai thực hiện đạt hiệu quả thiết thực đã góp phần quan trọng xây dựng tinh thần đoàn kết đồng chí, đồng đội, đoàn kết quân dân và sự gắn bó của bộ đội với cơ quan, đơn vị, hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

 

Nâng cao hiệu quả quản lý nhân lực khu vực công ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Quản lý nhân lực là công tác quan trọng, then chốt ở mỗi cơ quan, đơn vị. Trong khu vực công, công tác này có ảnh hưởng đến mục tiêu, chiến lược, chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị và của cả hệ thống chính trị. 


Quản lý nhân lực khu vực công là các hoạt động tuyển dụng, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Quản lý nhân lực một cách hợp lý sẽ phát huy được những khả năng tiềm ẩn của nguồn nhân lực, tạo động lực để mọi người gắn bó và cống hiến cho cơ quan, đơn vị. Quản lý nhân lực đạt hiệu quả chính là chìa khóa để mở cánh cửa phát triển và thành công của cơ quan, đơn vị. 

Trong tiến trình đổi mới, công tác quản lý nhân lực khu vực công ở nước ta đã có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Hiện nay, công tác quản lý nhân lực được thực hiện theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25-9-2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27-11-2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức... Tuy nhiên, công tác này cũng còn một số bất cập, chưa phát huy được tối đa hiệu quả.

Thứ nhất, việc tuyển dụng công chức căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; việc tuyển dụng viên chức căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Tuyển dụng công chức, viên chức có hai hình thức xét tuyển và thi tuyển, bảo đảm lựa chọn được người có phẩm chất, trình độ, năng lực và bảo đảm tính công bằng, công khai trong tuyển dụng.

Tuy nhiên, nội dung và phương pháp tổ chức thi là vấn đề cần xem xét nghiên cứu sửa đổi. Ở một số cơ quan, đơn vị việc thi tuyển, xét tuyển còn thiếu chặt chẽ và chưa được thực hiện nghiêm túc. Còn hiện tượng tiêu cực trong tuyển dụng, do vậy chưa thực sự tuyển được đúng người.

Thứ hai, công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý ở khu vực công bảo đảm tiêu chuẩn chung, tiêu chuẩn chức danh theo quy định của Đảng, Nhà nước và tiêu chuẩn cụ thể của chức vụ bổ nhiệm theo quy định của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền; phải được quy hoạch chức vụ bổ nhiệm hoặc quy hoạch chức vụ tương đương; có hồ sơ, lý lịch cá nhân rõ ràng, được xác minh, có bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định, có ý kiến nhận xét, đánh giá của cơ quan quản lý cán bộ, có nhân xét của cấp ủy nơi công tác và nơi cư trú.

Quy trình thực hiện công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý gồm 5 bước: (1) Trên cơ sở chủ trương, yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và nguồn nhân sự trong quy hoạch, tập thể lãnh đạo thảo luận và đề xuất về cơ cấu, tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình giới thiệu nhân sự; (2) Tập thể lãnh đạo mở rộng thảo luận và thống nhất về cơ cấu, tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình giới thiệu nhân sự và tiến hành giới thiệu nhân sự bằng phiếu kín; (3) Tập thể lãnh đạo, căn cứ vào cơ cấu, tiêu chuẩn, điều kiện, yêu cầu nhiệm vụ và khả năng đáp ứng của cán bộ trên cơ sở kết quả giới thiệu nhân sự ở bước 2, tiến hành thảo luận và giới thiệu nhân sự bằng phiếu kín; (4) Tổ chức lấy ý kiến của cán bộ chủ chốt và cấp ủy đơn vị về nhân sự được tập thể lãnh đạo giới thiệu ở bước 3 bằng phiếu kín; (5) Tập thể lãnh đạo thảo luận và biểu quyết nhân sự.

Nhìn chung, các cơ quan, đơn vị ở khu vực công cơ bản đã bám sát quy định của Đảng và Nhà nước trong thực hiện công tác bổ nhiệm. Tuy nhiên, có nơi, có lúc còn thực hiện thiếu chặt chẽ, có trường hợp cán bộ chưa bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn của chức danh lãnh đạo, quản lý vẫn tiến hành quy trình bổ nhiệm.

Thứ ba, công tác bố trí sử dụng, phân công nhiệm vụ cho công chức, viên chức. Đối với công chức phải bảo đảm phù hợp giữa quyền hạn và trách nhiệm được giao với chức danh, chức vụ và ngạch công chức được bổ nhiệm; đối với viên chức phải bảo đảm phù hợp giữa nhiệm vụ được giao với chức danh nghề nghiệp viên chức, chức vụ quản lý được bổ nhiệm và yêu cầu của vị trí việc làm. Người đứng đầu đơn vị sử dụng công chức, viên chức chịu trách nhiệm bố trí, phân công công tác; giao nhiệm vụ, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm các điều kiện cần thiết để công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm các chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức.

Tuy nhiên, công tác phân công, bố trí công chức, viên chức ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay chưa khoa học, chưa đúng người, đúng việc. Nhiều người phải làm trái ngành, trái nghề, không phù hợp với chuyên môn được đào tạo. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả, trì trệ của cơ quan, đơn vị.

Thứ tư, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở khu vực công được coi trọng, đội ngũ cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng. Nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng có bước đổi mới; đã chú trọng bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới. Tuy nhiên, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa cao, chưa gắn với yêu cầu cần thiết của công việc. Số cán bộ được cử đi đào tạo ngày càng tăng, song có nhiều trường hợp chuyên ngành đào tạo chưa phù hợp với vị trí, yêu cầu nhiệm vụ.

Thứ năm, chính sách chế độ tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức ở khu vực công hiện nay thực hiện theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14-12-2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; lương theo hệ số, ngạch, bậc. Mức lương = mức lương cơ sở x hệ số lương.

Sau nhiều lần điều chỉnh tăng, từ ngày 1-7-2019 theo Nghị định 38/2019/NĐ-CP ngày 9-5-2019 của Chính phủ, mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang là 1.490 nghìn đồng/ tháng. Việc nâng lương chủ yếu căn cứ vào thời gian làm việc, đủ thời gian được nâng một bậc lương.

Nhìn chung, tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức ở khu vực công còn thấp so với khu vực tư và nhất là với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này là nguyên nhân chính của việc “chảy máu chất xám”, không giữ chân được người tài, không tạo được động lực và khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức phát huy hết năng lực, cống hiến cho cơ quan, đơn vị. 

Để đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhân lực tại khu vực công, trước hết là một số giải pháp như sau:

Một là, sắp xếp tổ chức lại bộ máy khu vực công theo hướng tinh gọn, chuyên sâu, giảm tầng nấc trung gian, loại bỏ trùng lắp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Thực hiện tinh giản biên chế; bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo vị trí việc làm. 

Vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức, từ đó xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. 

Nguyên tắc xác định vị trí việc làm phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị; phải gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng; bảo đảm tính khoa học, khách quan, công khai, minh bạch và phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Xác định vị trí việc làm là cơ sở và căn cứ để xây dựng cơ chế quản lý đội ngũ công chức, viên chức; xóa bỏ tình trạng vừa thừa, vừa thiếu nhân lực. 

Xác định vị trí việc làm để xây dựng cơ cấu công chức, viên chức hợp lý, loại bỏ những đối tượng không đạt chuẩn để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thực thi nhiệm vụvà giảm bớt gánh nặng ngân sách.

Xác định vị trí việc làm còn là công cụ quan trọng để quản lý nhân lực, giúp các cơ quan, đơn vị tuyển chọn được nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của công việc; bố trí, sắp xếp công chức bảo đảm khoa học, hiệu quả và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức; thiết kế các chương trình tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo gắn với vị trí việc làm; đánh giá mức độ quan trọng của từng công việc trong một tổ chức, tránh sự chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ phận. Đồng thời, là căn cứ để thực hiện việc đánh giá người lao động một cách chính xác, khách quan, công bằng và là cơ sở để trả lương, thưởng phù hợp với công việc.

Hai là, tuyển dụng nhân sự là nội dung quan trọng, quyết định chất lượng cán bộ, công chức, viên chức ở thời điểm hiện tại và trong tương lai. Yêu cầu của tuyển dụng là tuyển chọn được nhân sự, nhất là nhân sự chất lượng cao đáp ứng các điều kiện tiêu chuẩn, phù hợp với vị trí công việc cần tuyển, có tiềm năng đáp ứng xu hướng phát triển của cơ quan, đơn vị. Vì vậy, phải có quy trình tuyển dụng khoa học, chặt chẽ, tiêu cực.

Trước hết, cần nâng cao và thống nhất nhận thức trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác nhân sự trong việc xây dựng chính sách, chủ trương thu hút nhân sự; vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác tuyển dụng nhân sự, nhất là nhân sự chất lượng cao. 

Tạo sự chủ động cho các đơn vị trong việc tìm nguồn, chủ động chọn người để tuyển đúng, tuyển đủ người và đúng việc. Đổi mới hình thức, nội dung thi tuyển, xây dựng bộ đề thi phù hợp với từng vị trí công việc cần tuyển dụng. 

Xây dựng chính sách thích hợp để thu hút các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, thủ khoa các trường đại học có danh tiếng trong nước và nước ngoài. Đặc biệt quan tâm thu hút, trọng dụng nhân tài, đây là nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và tuyển dụng được nguồn nhân sự này sẽ rút ngắn được quá trình đào tạo, bồi dưỡng, bắt nhịp nhanh chóng với công tác.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy tuyển được nhân sự chất lượng cao đã khó nhưng giữ chân được họ còn khó khăn hơn, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh nhân sự chất lượng cao từ khu vực tư vốn rất năng động và nhiều cơ hội như hiện nay. Do đó, cần xây dựng chính sách đồng bộ nhằm phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển và sử dụng nhân tài hợp lý. Quy định rõ hơn trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị trong việc phát hiện nhân sự có tài, tạo cơ hội cho họ học tập nâng cao trình độ. Thủ trưởng các đơn vị phải đánh giá đúng năng lực của mỗi người để bố trí họ vào công việc hợp lý nhất, sử dụng đúng chuyên môn và trình độ thực tế của cán bộ, tạo môi trường phát huy được năng lực của cán bộ, mạnh dạn bố trí cán bộ giỏi vào các vị trí quan trọng của cơ quan, đơn vị để họ phát huy tài năng.

Ba là, thực hiện đúng, chấp hành nghiêm quy định của Đảng và Nhà nước về công tác bổ nhiệm cán bộ, nhất là về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, số lượng, độ tuổi...; thực hiện đúng nguyên tắc, minh bạch, công khai, công tâm, khách quan trong lựa chọn, giới thiệu nhân sự. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác bổ nhiệm cán bộ trong các cơ quan, đơn vị khu vực công; kịp thời chấn chỉnh, bảo đảm thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác bổ nhiệm cán bộ.

Bốn là, xây dựng kế hoạch tổng thể và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng; gắn đào tạo, bồi dưỡng với quy hoạch, bố trí, sử dụng. Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng cán bộ, công chức, viên chức; gắn nội dung đào tạo với chức trách, nhiệm vụ của từng chức danh và vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Kết hợp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ với đào tạo, bồi dưỡng hoàn thiện bằng cấp theo tiêu chuẩn chức danh. Từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo yêu cầu và quy định.

Thực hiện phương châm đa dạng hóa hình thức, phương thức đào tạo, bồi dưỡng. Kết hợp đào tạo, bồi dưỡng với rèn luyện cán bộ trong thực tế; đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu với cập nhật kiến thức mới. Tích cực khai thác các nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đầu tư kinh phí thích hợp cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài.

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, viên chức; hướng tới mục tiêu là tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn.

Thực tế hiện nay, mục đích đào tạo, bồi dưỡng còn để trang bị bằng cấp, chứng chỉ, để hợp thức hóa tiêu chuẩn nhằm thăng tiến và hưởng các chế độ,  dẫn đến tình trạng đào tạo, bồi dưỡng vẫn chạy theo thành tích, số lượng. 

Ngoài các giải pháp nêu trên, cần đổi mới đánh giá kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; kết quả đạt được không chỉ đơn thuần đánh giá đã cử được bao nhiêu người đi đào tạo trong nước và nước ngoài; mở được bao nhiêu lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức; bao nhiêu người đạt kết quả học tập khá, giỏi trong quá trình học tập, mà đánh giá sau khi kết thúc đào tạo, bồi dưỡng, những kiến thức thu được có ứng dụng được vào công việc hay không, có nâng cao được hiệu quả công việc hay không, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của chuyên môn hay không.

Năm là, chính sách tiền lương và các chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức vừa là động lực, đòn bẩy kích thích, khuyến khích người lao động làm việc đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, vừa là phương tiện bảo đảm cuộc sống ngày một nâng cao của họ.

Thực hiện nghiêm chế độ chính sách nâng lương trước thời hạn, nâng ngạch, chuyển ngạch, chế độ hưởng các phụ cấp lương… Tuy nhiên, cần nghiên cứu bổ sung, tạo điều kiện cho công chức, viên chức có mức lương thấp, để họ bảo đảm được cuộc sống hằng ngày, yên tâm công tác, cống hiến, phát huy năng lực, trách nhiệm với công việc.

Xây dựng các chính sách, cơ chế, tạo môi trường phát huy tài năng và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp cho cán bộ, công chức, viên chức.

Tôn vinh các cán bộ, công chức, viên chức có nhiều đóng góp cho sự thành công chung của cơ quan, đơn vị; đồng thời có các hình thức kỷ luật nghiêm khắc các trường hợp cán bộ, công chức, viên chức vi phạm nội quy, quy chế, quy định của cơ quan, đơn vị để giữ vững kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, để cán bộ, công chức, viên chức có môi trường làm việc hiện đại; xây dựng văn hóa công sở, tạo bầu không khí làm việc thân thiện, gắn bó; tạo môi trường làm việc tốt để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm, gắn bó lâu dài, cống hiến cho cơ quan, đơn vị.

Sáu là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ quan tham mưu về công tác tổ chức - cán bộ. 

Lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cán bộ làm công tác tổ chức cần nhận thức sâu sắc công tác tổ chức - cán bộ là một nghề, mỗi nghề gắn với đạo đức nghề nghiệp. Là một nghề khó khăn và phức tạp vì đối tượng của công tác này là con người. Vì vậy, động cơ làm việc trung thành, khách quan, trung thực, trong sáng, tinh thông là điểm cốt yếu của đạo đức nghề nghiệp tổ chức - cán bộ. Động cơ làm việc đúng sẽ trở thành triết lý nhân sinh, thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong mọi hoạt động, ứng xử, đối đãi với người khác của cán bộ làm công tác tổ chức. Động cơ đúng sẽ là nội lực, dẫn dắt người làm công tác tổ chức - cán bộ giữ được tính đảng, tính nhân văn, tính công bằng đối với người khác vì lợi ích chung, sự nghiệp chung.

Công tác tổ chức - cán bộ là một khoa học và là một nghệ thuật ứng xử đối với con người, đòi hỏi người cán bộ tổ chức phải được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ công tác tổ chức. Do đó, phải tăng cường mở các lớp bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ tổ chức. Ngoài ra, cũng cần bồi dưỡng kiến thức tâm lý học, kỹ năng hiểu biết, đánh giá, sử dụng con người, kiến thức quản lý nhà nước.

Thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng đôi ngũ làm công tác tổ chức - cán bộ. Bố trí đủ số lượng cán bộ làm tổ chức; kịp thời thay thế cán bộ không đủ trình độ, năng lực và phẩm chất, bảo đảm cán bộ làm công tác tổ chức có năng lực, uy tín để có thể đảm đương các nhiệm vụ đặt ra.

Các giải pháp nêu trên cần được thực hiện đồng bộ, từ đó, sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhân sự tại khu vực công ở Việt Nam.

Nguồn: ThS TRẦN TUYẾT TRINH

                         Vụ Tổ chức - Cán bộ,

                                           Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Lời Bác dạy Ngày 27/6/1968


    “Phải luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư khen quân và dân miền Bắc, ngày 27 tháng 6 năm 1968. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân miền Nam đang đánh mạnh, thắng to; quân và dân miền Bắc vừa lập công bắn rơi chiếc máy bay thứ 3.000 của giặc Mỹ xâm lược leo thang phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa bằng không quân.

Lời dạy của Bác có ý nghĩa rất lớn, không chỉ động viên, khen ngợi quân và dân miền Bắc mà còn nhắc nhở quân và dân hai miền Nam - Bắc phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm hợp lực, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt; đồng thời, phải coi trọng việc phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm để cùng nhau thi đua trong lao động sản xuất, trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Hưởng ứng lời dạy của Bác, toàn dân và toàn quân ta hăng hái chiến đấu đánh giặc lập công, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, tạo động lực vật chất, tinh thần cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi.

Ngày nay, đất nước hòa bình, thống nhất, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuy nhiên các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, “phi chính trị hóa” quân đội nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Do vậy, học tập và làm theo lời dạy của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn đen tối của các thế lực thù địch.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, từng cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; tích cực học tập, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; làm chủ vũ khí trang bị; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lời Bác dạy Ngày 26/6/1959


    “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có tinh thần xã hội chủ nghĩa, muốn có tinh thần xã hội chủ nghĩa phải đánh bại chủ nghĩa cá nhân” .

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện với sinh viên đại học, ngày 26 tháng 6 năm 1959. Đây là thời điểm miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng; miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Lời dạy của Bác có ý nghĩa vô cùng to lớn, đã  chỉ rõ cho nhân dân ta nói chung, sinh viên Việt Nam nói riêng nhận thức đúng đắn, đầy đủ bản chất của chủ nghĩa xã hội, con đường mà Đảng, Bác và nhân dân ta đã lựa chọn; thức tỉnh tinh thần toàn dân tộc, trong đó có sinh viên, phải nêu cao ý thức và có tinh thần xã hội chủ nghĩa, phấn đấu hết mình cho sự nghiệp vĩ đại đó của dân tộc; đồng thời, kiên quyết đấu tranh bài trừ chủ nghĩa cá nhân ra khỏi đời sống xã hội, một trong những cản trở lớn trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện lời dạy của Bác, lớp lớp sinh viên Việt Nam đã đoàn kết chặt chẽ, ra sức học tập, rèn luyện tốt, chăm chỉ lao động và vượt qua khó khăn, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân để trở thành chủ nhân tương lai của nước nhà, phấn đấu hết mình cho sự nghiệp cách mạng.

Ngày nay, cả nước đang ra sức đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nhiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong tự phê bình và phê bình, đấu tranh bài trừ chủ nghĩa cá nhân ra khỏi đời sống xã hội.

Thấm nhuần lời dạy của Bác, từng cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn luôn nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, tích cực học tập, rèn luyện, phát huy tinh thần làm chủ tập thể, luôn đặt công việc, lợi ích của tập thể lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân; không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ; làm chủ vũ khí trang bị; kiên quyết đấu tranh với tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, cục bộ địa phương, thờ ơ, vô cảm… sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là người quân nhân cách mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Lời Bác dạy Ngày 25/6/1952

 

   “Muốn chống tham ô lãng phí, chống quan liêu thì phải dân chủ, gây tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình mình và dám phê bình người“.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất, ngày 25 tháng 6 năm 1952. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước vào giai đoạn gay go, quyết liệt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương sự cố gắng của ngành Hậu cần Quân đội trong bảo đảm đời sống cho bộ đội, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và Bác yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, kiên quyết chống tham ô, lãng phí. Đồng thời, Người chỉ rõ cách để phòng chống tham ô, lãng phí tốt nhất, hiệu quả nhất là phải thực hành dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình, làm cho mọi người biết tự phê bình mình và dám phê bình người. Thực hiện lời dạy của Bác, ngành Hậu cần Quân đội đã nêu cao ý thức phục vụ, thực hành tiết kiệm, bảo đảm tốt chế độ, tiêu chuẩn cho bộ đội, kinh tế công khai minh bạch, không để xảy ra tham ô, lãng phí làm thất thoát tài sản của Đảng, Nhà nước, quân đội, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Hiện nay, trước yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; lời dạy của Bác càng có ý nghĩa quan trọng giúp cho mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của dân chủ, tự phê bình và phê bình trong chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Qua đó, xác định rõ trách nhiệm của mỗi quân nhân trong thực hành dân chủ, thực hành tự phê bình và phê bình; bảo đảm đúng, đủ tiêu chuẩn, chế độ cho bộ đội; tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí có hiệu quả. Quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, qui định của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phòng chống tham nhũng, lãng phí; các cơ quan, đơn vị cần đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, mở rộng dân chủ, minh bạch chế độ, chính sách; bồi dưỡng, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về công tác xây dựng Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 

Phát huy vai trò của trí thức Việt Nam ở nước ngoài theo tư tưởng Hồ Chí Minh

(LLCT) - Trí thức Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Phát huy thế mạnh và tiềm năng của trí thức Việt Nam ở nước ngoài luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Bài viết phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của trí thức Việt Nam ở nước ngoài và đề xuất giải pháp phát huy nguồn lực quan trọng này, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.


Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đội ngũ trí thức là động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Người không chỉ trọng dụng đội ngũ trí thức trong nước, mà còn sử dụng và phát huy tài năng của trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Quan điểm Hồ Chí Minh về trí thức là một bộ phận quan trọng trong tư tưởng của Người, luôn soi đường cho Đảng và Nhà nước làm tốt hơn nữa công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng trí thức, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về số lượng, chất lượng cho sự nghiệp đổi mới đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

1. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của trí thức Việt Nam ở nước ngoài

Thứ nhất, trí thức Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận của lực lượng cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc

Hồ Chí Minh khẳng định: “Trí thức là một bộ phận trong lực lượng cách mạng… Đảng và Chính phủ ta rất quý trọng những người trí thức của nhân dân, vì nhân dân”(1). Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nhận thấy chính quyền thực dân tiến hành đào tạo những người trí thức Tây học, trong đó có một bộ phận được chọn lọc đi du học ở Pháp, nhằm mục đích phục vụ chế độ thực dân, thực hiện chính sách cai trị của chúng. Nhưng trên thực tế, trừ một bộ phận cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp, số còn lại đều có ít nhiều tinh thần yêu nước, thương nòi và bất bình với chế độ thực dân phản động, tàn bạo. Chính vì vậy, Người chỉ rõ lực lượng cách mạng không chỉ là công nhân, nông dân, mà còn bao gồm cả những trí thức yêu nước, dù được đào tạo ở trong nước hay nước ngoài.

Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Người chỉ ra rằng, sự nghiệp cách mạng muốn giành thắng lợi phải có kiến thức, phải hiểu biết, không được “xúi dân bạo động”, mà phải “bày cách tổ chức”. Do đó, phải có vai trò của trí thức. Không có trí thức hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam độc lập sẽ không hoàn thành được.

Trong những văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”(2).

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, dù mục tiêu có thể không hoàn toàn giống nhau, nhưng những người trí thức - trong đó có cả những trí thức Việt Nam ở nước ngoài - và giai cấp công nhân, giai cấp nông dân có điểm chung đều là những người lao động (lao động trí óc và lao động chân tay). Họ là những người chủ yếu làm ra của cải, vật chất cho xã hội; đồng thời là những người bị phân biệt đối xử, bị coi thường bởi mang thân phận người dân mất nước. Tuy nhiên, họ cũng là những người có sức mạnh lật đổ chế độ thực dân phong kiến, xây dựng xã hội mới, là bộ phận của lực lượng cách mạng.

Người khẳng định: “Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều”(3); và “Vì Đảng và Chính phủ biết là kháng chiến và kiến quốc thì phải cần trong mọi ngành: kinh tế, tài chính, quân sự, văn hóa có những người trí thức để giúp vào mới thành”(4).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo tập hợp mọi lực lượng, mọi người yêu nước, tiến bộ dưới ngọn cờ của Đảng. Người kêu gọi, động viên và khuyến khích nhân tài, trí thức, các nhà khoa học, người Việt Nam yêu nước đang sống ở nước ngoài, tham gia đóng góp vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Hòa vào sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc, trí thức Việt Nam ở nước ngoài đã nhanh chóng trưởng thành và có những đóng góp quan trọng cho cuộc kháng chiến, trong số đó có nhiều nhà khoa học nổi tiếng. Một số trí thức đã về nước tham gia kháng chiến. Các trí thức yêu nước ấy đã trở thành những cánh chim đầu đàn trong các ngành công nghiệp, y tế, quốc phòng quan trọng của đất nước, đóng góp vào thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

Nói về sức cảm hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với trí thức Việt Nam ở nước ngoài, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa - trí thức về nước cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946, tâm sự: “Đặc biệt đối với chúng tôi là những trí thức ở nước ngoài mới về, sắp sửa bước vào cuộc đấu tranh gian khổ, Bác chú ý đi sâu vào tâm tình, khơi gợi lòng yêu nước, củng cố niềm tin ở bản thân, tin ở tập thể, ở cách mạng nhất định thắng lợi... Lời nói thân yêu của Bác đã cảm hóa và chinh phục trái tim chúng tôi”(5).

 Cùng với đội ngũ chuyên gia trong nước, trí thức kiều bào đã góp phần thu hẹp khoảng cách về khoa học - công nghệ và tư duy quản lý giữa Việt Nam với các nước phát triển, tạo động lực giúp Việt Nam tăng tốc trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng với trọng tâm là huy động tổng hợp nguồn lực lao động, vốn, khoa học và công nghệ, cùng những nguồn lực mới về số hóa... 

Thứ hai, trí thức Việt Nam ở nước ngoài là lực lượng quan trọng góp phần vào việc xây dựng xã hội mới

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh đất nước đứng trước vô vàn khó khăn, thách thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm việc mời các chuyên gia, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài và cả chuyên gia nước ngoài cộng tác, làm việc. Trả lời phỏng vấn của nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đưa ra nguyên lý cho sự phát triển của đất nước sau khi giành được độc lập: “Chương trình kiến thiết của Việt Nam bước đầu tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt. Muốn như thế thì chúng tôi phải ra sức tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất rộng rãi và chóng có kết quả, thì chúng tôi cần có tư bản, trí thức và lao động… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”(6).

Hồ Chí Minh lý giải vai trò của trí thức, trong đó có trí thức Việt Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước: “Cần phát triển giao thông vận tải, cho nên cần có những kỹ sư thông thạo về việc đắp đường, bắc cầu. Cần giữ gìn sức khỏe của dân, cho nên cần có thầy thuốc. Cần đào tạo cán bộ cho mọi ngành hoạt động, cho nên cần có thầy giáo, v.v.. Do đó, lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân chủ mới để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7).

Chính vì vậy, Người nói: “Trí thức không có bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi… Trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần”(8).

Hồ Chí Minh tin tưởng trí thức Việt Nam ở nước ngoài phát huy tinh thần yêu nước, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Để phát huy vai trò của trí thức, Người yêu cầu: “Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điều kiện quá khắt khe. Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc là có thể dùng được. Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy”(9).

Hồ Chí Minh cho rằng, cần có chính sách quan tâm trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Trước hết là hệ thống chính sách của Nhà nước đối với trí thức. Sau Cách mạng Tháng Tám, nền tài chính của nước nhà hết sức eo hẹp, Hồ Chí Minh rất trăn trở về vấn đề thu nhập, đời sống của trí thức. Ngày 8-11-1946, trong buổi tiếp Liên đoàn Giáo dục Việt Nam, Người nói: “Khi nào nền tài chính dồi dào, Chính phủ phải nghĩ ngay đến giáo viên, là những người từ tầng lớp dưới đến tầng lớp trên lĩnh trách nhiệm đào tạo nhân tài cho đất nước”(10).

Những trí thức theo Hồ Chí Minh từ Pháp trở về nước, lên chiến khu đều hết sức cảm động khi thấy Người chỉ thị các cơ quan chăm lo bố trí chỗ ở cho họ. Hồ Chí Minh luôn tạo điều kiện để trí thức, nhân tài tập trung sức lực, trí tuệ vào công tác nghiên cứu, phát minh. Sự tin tưởng, trọng dụng, sự quan tâm chu đáo, tỉ mỉ của Hồ Chí Minh đối với trí thức còn được thể hiện ở chỗ Người rất chăm lo cuộc sống các gia đình của trí thức và ân cần chia sẻ với họ những vui buồn trong cuộc. Đó chính là một trong những lý do quan trọng lý giải sức cảm hóa của Người đối với đội ngũ trí thức, trong đó có trí thức việt Nam ở nước ngoài.

2. Phát huy vai trò của trí thức Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình hiện nay

Vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có trí thức người Việt Nam ở nước ngoài luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, xác định đồng bào ta ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Quan điểm nhất quán đó đã thu hút được sự đóng góp của đồng bào vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kế thừa quan điểm của Hồ Chí Minh về trọng dụng và thu hút trí thức ở nước ngoài, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức ở trong và ngoài nước vào công cuộc phát triển đất nước.

Ngày 26-3-2004, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW “về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, trong đó nhấn mạnh: “Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà; Xây dựng và hoàn thiện các chính sách tạo thuận lợi và khuyến khích các ngành, các trung tâm nghiên cứu khoa học - công nghệ, văn hóa nghệ thuật, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục - thể thao, các cơ sở sản xuất, dịch vụ… ở trong nước mở rộng hợp tác, thu hút sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia công việc ở trong nước…”(11).

Ngày 19-5-2015, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX “về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới”, trong đó nêu nhiệm vụ và giải pháp: “Rà soát, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật tạo hành lang pháp lý thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về đầu tư, sản xuất kinh doanh, góp phần vào thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ từ các nước vào Việt Nam và thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài. Có chính sách thu hút, sử dụng chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực thiết yếu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(12).

Cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ ban hành các chương trình hành động, nghị định thực hiện nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22-9-2014 của Chính phủ quy định về “Thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam”. Nghị định đã nêu rõ các chính sách như: chính sách xuất nhập cảnh và cư trú; chính sách tuyển dụng, lao động, học tập; chính sách tiền lương; chính sách nhà ở, chính sách khen thưởng…

Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, số lượng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài nói riêng và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung trở về nước lao động và làm việc ngày càng nhiều. Chuyên gia, trí thức kiều bào đang tích cực đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước: chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ; huấn luyện, giảng dạy, đào tạo; tư vấn, thẩm định; cung cấp thông tin; làm cầu nối hợp tác khoa học, đào tạo, giúp tìm kinh phí; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển (R&D); đầu tư phát triển công nghệ…

Chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài đã tham gia hợp tác, đóng góp cho Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, tập trung vào khoa học nghiên cứu cơ bản, công nghệ hạt nhân, công nghệ thông tin - truyền thông, nông nghiệp, năng lượng, kinh tế tài chính, y học… Tại các địa phương, các nhà khoa học tham gia hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Nhiều trí thức - doanh nhân kiều bào, vừa có tri thức khoa học công nghệ vừa hiểu biết về quản lý, kinh doanh về nước đầu tư, thành lập công ty, phát triển ứng dụng công nghệ. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp liên doanh, có kinh nghiệm làm việc với các đối tác nước ngoài đã tuyển chọn chuyên gia gốc Việt về làm việc tại Việt Nam.

Những năm gần đây, nhiều hội thảo chuyên ngành đã được các nhà khoa học Việt Nam tại nước ngoài tổ chức tại Việt Nam với sự tham gia của nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới. Nhiều ý kiến phản biện tâm huyết và có giá trị khoa học, thực tiễn của trí thức kiều bào về các vấn đề như khai thác bôxít, xây dựng nhà máy điện nguyên tử, đường sắt cao tốc Bắc Nam, vấn đề biên giới lãnh thổ, sửa đổi Hiến pháp… đã được tập hợp và chuyển tới lãnh đạo cấp cao. Các cuộc hội thảo đã tạo cơ hội cho trí thức kiều bào liên kết với trong nước, thiết lập quan hệ, bày tỏ tâm tư nguyện vọng, đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước.

Bên cạnh đó, trong thời gian qua, các cơ quan trong nước cũng đã bổ nhiệm một số trí thức kiều bào làm Viện trưởng, Trưởng khoa trong một số viện nghiên cứu ứng dụng, trường đại học như: GS Ngô Bảo Châu được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Toán cấp cao, GS Trương Nguyện Thành làm Giám đốc Trung tâm tính toán thành phố Hồ Chí Minh…

Đại dịch Covid bùng phát từ đầu năm 2020 ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Kiều bào ta, dù cũng gặp vô vàn khó khăn ở nước sở tại, những vẫn đồng hành, chia sẻ, không chỉ về vật chất, sức mạnh tinh thần mà còn đóng góp ý kiến tâm huyết để tham mưu với Chính phủ, nhân dân trong nước trong việc phòng, chống, giảm nhẹ tác hại của dịch bệnh.

Nhiều chuyên gia, trí thức kiều bào đã tích cực đẩy mạnh chuyển giao công nghệ sản xuất vắcxin, chia sẻ kinh nghiệm và có nhiều khuyến nghị chính sách. Bác sỹ kiều bào ở nhiều nơi tình nguyện trở về nước tham gia vào tuyến đầu chống dịch tại quê nhà, tiêu biểu là bác sĩ Vũ Ngọc Khuê (kiều bào Mỹ), bác sĩ Doan Viên (Mỹ) mong muốn đưa đoàn bác sỹ từ Mỹ về Thành phố Hồ Chí Minh.

Hàng loạt chương trình trao đổi, tư vấn nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe của đồng bào trong nước giữa các bác sỹ kiều bào với cơ quan, người dân trong nước được tổ chức trên các nền tảng online.

Tiêu biểu là hội thảo “Kinh nghiệm triển khai hệ thống bác sĩ gia đình ở Italia trong việc điều trị bệnh nhân Covid-19 - tham vấn và hỗ trợ cấp cứu 118 Italia”; hội thảo “Mối nguy hiểm của biến thể Delta và cách phòng ngừa”; tọa đàm “Chuyên gia kiều bào chung sức cùng TP. Hồ Chí Minh chống dịch Covid-19” và đặc biệt là Hội nghị kiều bào đóng góp ý kiến về chuyển đổi số và khắc phục tác động của đại dịch Covid-19 để phát triển kinh tế Việt Nam (tháng 10-2020)… Những hoạt động thiết thực này được các cơ quan, người dân trong nước bày tỏ sự trân trọng, ghi nhận tình cảm của các chuyên gia, trí thức và bác sỹ kiều bào.

Hằng năm có khoảng 500 lượt chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài về nước tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ (chưa bao gồm số về Việt Nam dự hội nghị, hội thảo và các đoàn trao đổi ngắn hạn). Đồng thời, ngày càng nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia hợp tác trong các hoạt động giảng dạy, đào tạo nhân lực, kiến nghị chính sách, nghiên cứu phát triển, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam.

Cùng với đội ngũ chuyên gia trong nước, trí thức kiều bào đã góp phần thu hẹp khoảng cách về khoa học - công nghệ và tư duy quản lý giữa Việt Nam với các nước phát triển, tạo động lực giúp Việt Nam tăng tốc trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng với trọng tâm là huy động tổng hợp nguồn lực lao động, vốn, khoa học và công nghệ, cùng những nguồn lực mới về số hóa.

Trí thức kiều bào tham gia ngày càng trực tiếp và sâu rộng, tham mưu Chính phủ giải quyết những vấn đề cấp thiết đặt ra trong quá trình phát triển. Năm 2021, các chuyên gia kiều bào đã tích cực đóng góp ý kiến vào dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Bốn chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài tham giao vào Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng nhiệm kỳ 2016-2021, đã đưa ra những khuyến nghị, tư vấn chính sách hiệu quả với các vấn đề nổi bật như năng lượng sạch, công nghệ xanh, năng lượng tuần hoàn, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, ứng dụng Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào tăng năng suất, chất lượng tăng trưởng...

Ngoài các lĩnh vực truyền thống, đóng góp của trí thức kiều bào ngày càng đi vào những vấn đề có tính thời sự, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và bám sát nhu cầu thực tiễn của Việt Nam.

Tuy nhiên, sự gắn kết giữa trí thức ở trong và ngoài nước cũng như việc thu hút nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp cho đất nước còn chưa được phát huy tối đa.

Hiện nay, chúng ta đang thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu mở có khả năng cập nhật hồ sơ cá nhân và chia sẻ thông tin, trở thành diễn đàn kết nối trí thức người Việt ở trong cũng như ngoài nước. Đây còn là một mạng lưới điều phối cũng như có các hoạt động để tăng cường hiệu quả liên kết giữa các thành viên. Điều này đặc biệt cần thiết vì hiện nay, trong nước đang rất cần các chuyên gia giỏi để phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao mà chúng ta đang ưu tiên như: công nghệ điện hạt nhân, vũ trụ, tự động hóa…

Thêm vào đó, các bộ, ngành, địa phương, các trường đại học, viện nghiên cứu đều có nhu cầu thu hút chuyên gia, trí thức kiều bào về hợp tác, làm việc nhưng chưa có các chương trình, dự án khả thi; vai trò của trí thức mới được đề cập chung chung trên các văn bản, các cuộc hội nghị, hội thảo mà chưa được triển khai trong thực tế hoặc các kiến nghị của kiều bào chưa được quan tâm, giải quyết thấu đáo. Các bộ, ngành, địa phương chưa xác định được nhu cầu sử dụng cũng như thiếu thông tin về chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài nên gặp khó khăn trong việc thu hút và sử dụng…

Mặt khác, việc ứng dụng các công trình nghiên cứu khoa học chưa đạt hiệu quả cao, việc sử dụng và trả lương cho người nghiên cứu chưa thực sự xứng đáng… cũng là những trở ngại đối với các chuyên gia, trí thứcngười Việt Nam ở nước ngoài.

Trong hoạt động khoa học, sự khác biệt về tư duy và phong cách làm việc cũng là rào cản đáng kể đối với các chương trình hợp tác làm việc chung. Vai trò của trí thức Việt kiều ở các trường đại học, viện nghiên cứu chưa được đề cao. Ngoài ra, tình trạng thiếu thốn các điều kiện nghiên cứu như phòng thí nghiệm, mối liên hệ quốc tế, ê kíp làm việc mạnh… cũng là những khó khăn không nhỏ.

Bên cạnh đó, vướng mắc trong xét, cấp kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ và thiếu các chế độ đãi ngộ cụ thể đối với chuyên gia trí thức kiều bào đã và đang là cản trở lớn đối với việc huy động chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc.

Vì vậy, để xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, cần quán triệt sâu sắc, nhất quán chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tăng cường sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt phải xây dựng được cơ chế “đặc biệt” mang tính đột phá nhằm thu hút hơn nữa nguồn lực kinh tế và tiềm năng trí tuệ của chuyên gia, trí thức kiều bào.

Cần xác định tiêu chí lựa chọn và thu hút người tài, xây dựng các tiêu chuẩn, quy định sàng lọc để lựa chọn được những cá nhân xuất sắc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng như xây dựng chính sách hỗ trợ cho họ.

Mặt khác, Nhà nước cần dành ngân sách ưu tiên đầu tư phát triển các cơ sở nghiên cứu khoa học, đầu tư đúng mức cho giáo dục và đào tạo, tập trung phát triển nhân lực trình độ cao.

Cần có biện pháp để thực thi hiệu quả những chính sách đã được ban hành như: tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào mua nhà ở, loại bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, thực hiện cơ chế “một cửa” trong giải quyết thủ tục hành chính đối với kiều bào; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định về tuyển dụng trí thức kiều bào vào vị trí quản lý tại các cơ quan trong nước; xây dựng cơ chế tiếp thu, giải đáp và phản hồi ý kiến, sáng kiến đểnhững đóng góp của trí thức kiều bào được áp dụng, triển khai trong thực tiễn.

__________________

Ngày nhận bài: 24-6-2022; Ngày bình duyệt: 2-8-2022; Ngày duyệt đăng: 28-8-2002.

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.378.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t3, tr.3.

(3), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.275, 184.

(4), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.59; 56, 59.

(5) Chúng ta có Bác Hồ, Nxb Lao động, Hà Nội, 1999, tr.93-94.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.71-72.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.43.

(9) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.365.

(10) Bộ Chính trị: Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 26-3-2004.

(12) Bộ Chính trị: Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19-5-2015 Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới.

Nguồn: ThS NGUYỄN THỊ THU TRANG

Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


Lời Bác dạy Ngày 24/6/1960


   “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải lao động tốt. Muốn lao động tốt thì phải có sức khỏe. Muốn có sức khỏe thì phải giữ gìn vệ sinh”.

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết: “Phải đẩy mạnh hơn nữa công việc vệ sinh”, với bút danh T.L; đăng trên Báo Nhân dân, số 2288, ngày 24 tháng 6 năm 1960. Đây là thời điểm công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đem lại những thành công bước đầu, góp phần quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao giá trị của lao động đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và vai trò quan trọng của sức khỏe, của việc giữ gìn vệ sinh đối với sức khỏe của xã hội, cộng đồng và mỗi con người; đồng thời, còn là lời động viên, khích lệ, nhắc nhở mọi người phải yêu quý lao động, tích cực rèn luyện sức khỏe, giữ gìn vệ sinh, phòng chống bệnh tật. Thực hiện lời dạy của Bác, nhân dân ta từ miền xuôi cho đến miền núi, thành thị cho đến nông thôn trong khắp cả nước đã tích cực thi đua lao động sản xuất, rèn luyện thể lực, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòng chống bệnh tật, đóng góp công sức, tài trí cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vấn đề môi trường, lao động và sức khỏe con người đang đặt ra những thách thức mới; do đó, việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy có ý nghĩa thực tiễn to lớn, đồng thời là cơ sở để Đảng ta nghiên cứu, vận dụng trong xác định chủ trương, đường lối xây dựng lực lượng sản xuất xã hội chủi nghĩa; quan tâm bảo đảm môi trường và điều kiện để phát triển con người Việt nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hoạt động quân sự là lao động đặc biệt, cần phải có sức khỏe tốt để đáp ứng yêu cầu cao trong thực hiện nhiệm vụ. Quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác, mỗi quân nhân trong quân đội phải ra sức học tập, huấn luyện, rèn luyện, không ngừng nâng cao thể lực, trình độ, năng lực, đi đôi với cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; tích cực tham gia giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường; xây dựng doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp; tích cực xây dựng cơ quan, đơn vị có môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú… hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Thầy giáo biên phòng của trẻ em nghèo

 

Gần 17 giờ, trong căn phòng nhỏ nằm bên con hẻm thuộc khu phố 3, phường Phú Mỹ, quận 7 (TP Hồ Chí Minh), khá đông trẻ nhỏ đang chơi đùa vui nhộn. Bỗng một em reo lên: “Thầy Tính đến rồi”, tất cả lập tức dừng lại và đồng thanh: “Chúng con chào thầy ạ!”, rồi chạy ùa vào lớp, mở sách vở ra, ngồi trật tự. Thầy Tính bước vào: “Chào các con. Cả lớp ổn định, chúng ta bắt đầu học nhé”...

Lớp học của thầy giáo Vũ Trường Tính, Trung tá QNCN, nhân viên kiểm tra, giám sát biên phòng, thuộc Trạm Biên phòng Cửa khẩu cảng Phú Mỹ, Biên phòng Cửa khẩu cảng TP Hồ Chí Minh (Bộ đội Biên phòng TP Hồ Chí Minh) bắt đầu như thế! Căn phòng rộng chừng 25m2, có đủ bàn ghế cho hơn 30 em ngồi học.

Trên bục giảng, thầy Tính nắn nót viết đầu bài lên bảng rồi ân cần hướng dẫn học trò tập đọc, tập viết. Với những em lớp 1, lớp 2, thầy nhẹ nhàng cầm tay giúp các em đưa từng nét chữ; với các em lớp 3, lớp 4, lớp 5, thầy hướng dẫn nội dung tập làm văn, thực hiện các phép tính nhân, chia, giải toán đố...

Liên tục hai tiếng đồng hồ, thầy Tính cặm cụi giảng bài, hướng dẫn học trò ôn luyện và kiểm tra nhận thức của các em. Chứng kiến một buổi lên lớp của thầy Tính, chúng tôi cảm phục lòng kiên trì, nhiệt huyết và tình cảm mà anh dành cho học trò nghèo trong suốt những năm qua.

Trung tá QNCN Vũ Trường Tính chia sẻ: “32 học sinh ở các độ tuổi, lớp học khác nhau nhưng chỉ có một phòng học chung nên phải xếp mỗi dãy bàn một lớp. Các buổi tối thường có những sinh viên, tình nguyện viên hỗ trợ dạy thêm. Hôm nào các bạn ấy bận việc thì một mình tôi phải đảm nhiệm hết. Vất vả nhưng vui”.

Phường Phú Mỹ có khá đông người dân là lao động từ các tỉnh miền Tây về sinh sống, làm nghề tự do... Các em cũng theo cha mẹ đến ở trọ trong khu dân cư. Do không có hộ khẩu và hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ chủ yếu làm thuê, làm công nhân, buôn thúng bán bưng... nên hầu hết các em đều không được đến trường.

Hằng ngày, các em phải phụ cha mẹ bán vé số, nhặt ve chai, một vài em đi nhặt bóng thuê ở sân tennis. Có em vì cha mẹ làm công nhân nên suốt ngày bị nhốt trong phòng trọ chật chội, tù túng. Bởi vậy, khi được đi học các em rất vui. Mặc dù 17 giờ hằng ngày (trừ chủ nhật) mới vào lớp nhưng nhiều em đến sớm trước vài tiếng để được vui đùa cho thỏa thích. Đến với lớp học tình thương, các em được học những môn: Tập đọc, Tập viết, Tiếng Việt, Toán, Tập làm văn, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh... Có học sinh khi đi học còn bế theo cả em đến lớp. Những trường hợp như thế, thầy Tính và các tình nguyện viên lại kiêm luôn cả vai trò “bảo mẫu”.

Để kết quả học tập của học trò tốt hơn, sát với chương trình học ở các nhà trường, thầy Tính liên hệ với phòng giáo dục và đào tạo địa phương xin chương trình khung, tài liệu, giáo án về soạn lại cho phù hợp với nhận thức của lớp học tình thương; cố gắng diễn đạt thật đơn giản để các em dễ hiểu, biết vận dụng vào làm bài tập, hoàn thành nội dung theo chương trình, lớp học. Thầy Tính chia sẻ: “Gần 6 năm dạy ở lớp học tình thương phường Phú Mỹ, có hơn 50 học sinh nghèo không biết đọc, không biết viết, đến nay đã đọc, viết thành thạo, biết làm toán, làm văn, hoàn thành cơ bản chương trình tiểu học. Đây là niềm vui, niềm hạnh phúc lớn lao của “người đưa đò” như tôi”.

28 năm tuổi quân, Trung tá QNCN Vũ Trường Tính có tới 23 năm làm “thầy giáo”. Dường như anh bén duyên với nghiệp “nhà giáo” ngay từ khi còn là học viên Trường Trung cấp Biên phòng 2 (nay là Trường Cao đẳng Biên phòng). Nhớ lại thời gian đó, anh Tính kể: “Năm 1995, tròn 19 tuổi, tôi nhập ngũ. Năm 1997, tôi được cử đi học Trường Trung cấp Biên phòng 2. Gần đó có Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa-Vũng Tàu. Vào ngày nghỉ, tôi thường sang thăm bạn bè ở trường sư phạm, rồi mượn sách, tài liệu của bạn về đọc thêm. Thấy tôi thích ngành sư phạm nên bạn bè hướng dẫn, chia sẻ phương pháp, kỹ năng dạy học.

Hai năm sau, tốt nghiệp ra trường, tôi được điều về công tác tại Đồn Biên phòng Thạnh An (Bộ đội Biên phòng TP Hồ Chí Minh), đóng tại xã đảo Thạnh An (huyện Cần Giờ). Tại đây, tôi đảm nhiệm công tác vận động quần chúng ở ấp đảo Thiềng Liềng, địa bàn xa xôi, nghèo khó nhất của xã đảo Thạnh An với tứ bề sông nước, kênh rạch chằng chịt. Trong một lần đến ấp Thiềng Liềng thực hiện nhiệm vụ, tôi thấy nhiều em nhỏ học hết lớp 5 phải nghỉ học, bởi ở đây không có trường THCS, muốn học tiếp phải ra trung tâm huyện, mà đi lại phụ thuộc vào con nước, rất bất tiện. Về đơn vị, tôi đề nghị chỉ huy cho phép mở lớp dạy học cho các em được học tiếp chương trình từ lớp 6 trở lên và lớp xóa mù chữ. Được cấp ủy, chỉ huy đơn vị đồng ý, quan tâm, chỉ đạo sát sao, tôi liên hệ gặp thầy hiệu trưởng trường THCS địa phương đề xuất việc mở lớp và xin tài liệu, bắt đầu nhận dạy những học sinh đầu tiên với chương trình lớp 6, lớp 7 ngay tại ấp Thiềng Liềng”.

Vậy là, từ năm 2000, đồng chí Vũ Trường Tính trở thành “giáo viên” của trẻ em nghèo trên ấp đảo. Kết quả ban đầu thành công, trường THCS địa phương cử giáo viên hỗ trợ dạy thêm chương trình lớp 8, lớp 9. Thầy Tính tiếp tục nhận các em học sinh vào dạy lớp 6, lớp 7... Cứ thế, trong 9 năm, anh đã “đưa đò” 3 khóa với hơn 130 em hoàn thành chương trình THCS rút gọn.

Năm 2010, đồng chí Vũ Trường Tính được chuyển đến công tác tại Trạm Biên phòng Cửa khẩu cảng Bến Nghé (Biên phòng Cửa khẩu cảng TP Hồ Chí Minh). Sau một năm thâm nhập địa bàn, anh nhận thấy khu vực hành lang cảng Bến Nghé, phường Tân Thuận Đông (quận 7), có nhiều hộ gia đình là dân nhập cư từ các tỉnh Long An, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hậu Giang, Vĩnh Long... về ở trọ làm thuê, làm mướn để mưu sinh, cuộc sống rất khó khăn. Nhiều trẻ em ở đây đến tuổi đi học vẫn ở nhà chơi đùa, lêu lổng, thậm chí có em hơn 12 tuổi vẫn chưa biết chữ. Từ thực tế đó, anh trăn trở, tìm cách giúp các em “xóa mù”.

Được chỉ huy đơn vị nhất trí phối hợp cùng Đoàn Thanh niên phường Tân Thuận Đông tổ chức xóa mù chữ cho các em, lớp học chính thức đi vào hoạt động từ năm 2012, đều đặn vào các buổi tối thứ 2, 4, 6 hằng tuần, tại Nhà văn hóa khu phố 5, phường Tân Thuận Đông. Trung tá QNCN Vũ Trường Tính (khi đó là Đại úy) trực tiếp đứng lớp giảng dạy cho các em.

Anh Tính tâm sự: “Lúc đầu, nhiều phụ huynh chưa tin lớp học của Bộ đội Biên phòng nên không cho con đến lớp. Tôi phải mang quà, bánh, kẹo đến tận nhà vận động, “dụ” các em đi học. Ban đầu, cả lớp chỉ có chưa đầy 10 em, nhưng sau đó đông dần lên tới gần 30 em, được học chương trình từ lớp 1 đến lớp 5. Tính đến khi tôi chuyển công tác về Trạm Biên phòng Cửa khẩu cảng Phú Mỹ (năm 2017), đã có hơn 80 em được học tập trong lớp học tình thương”.

Nếu cộng tất cả học sinh ở 3 nơi (phường Phú Mỹ, phường Tân Thuận Đông và ấp đảo Thiềng Liềng), đến thời điểm này, số học trò của thầy Tính đã lên tới hơn 270 em. Trong số đó, nhiều người đã tiến bộ, trưởng thành, làm trưởng ấp, trưởng ban công tác mặt trận, công an viên, kiểm lâm viên, kỹ sư thủy sản... Anh Nguyễn Văn Đức, kiểm lâm viên (Hạt Kiểm lâm huyện Cần Giờ) bày tỏ: “Sau khi học hết chương trình THCS ở lớp của thầy Tính, tôi được chuyển sang học THPT, rồi được tuyển dụng vào công tác trong ngành kiểm lâm. Tôi rất biết ơn thầy Tính. Nếu không có lớp học của thầy thì việc học của tôi đã bị đứt quãng từ lớp 5 và sẽ chẳng bao giờ có công việc ổn định như ngày hôm nay”...

Không chỉ dạy chữ cho trẻ em nghèo, Trung tá QNCN Vũ Trường Tính còn kết hợp rèn đạo đức, dạy các em lẽ sống làm người và những kỹ năng cần thiết để trở thành người có ích thông qua sự mẫu mực của chính bản thân mình và những câu chuyện người tốt, việc tốt từ thực tiễn hằng ngày.

Cùng với đó, anh và cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị tích cực vận động các mạnh thường quân, tổ chức, cá nhân hỗ trợ vật chất, như: Bàn ghế, quần áo, đồ dùng học tập, lương thực, thực phẩm... để chăm lo cho học sinh. Trung tá Nguyễn Văn Hiệu, Chính trị viên Trạm Biên phòng Cửa khẩu cảng Phú Mỹ cho biết: "Khi dịch Covid-19 bùng phát, đồng chí Vũ Trường Tính đã cùng lãnh đạo, chỉ huy đơn vị vận động được hơn 1 tấn gạo và 100 thùng mì ăn liền tặng học sinh trong lớp học tình thương phường Phú Mỹ. Nhân các ngày Quốc tế thiếu nhi, Tết Trung thu, Tết Nguyên đán hằng năm, Trạm Biên phòng Cửa khẩu cảng Phú Mỹ đều tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, “đêm hội trăng rằm”, tặng quà học sinh nghèo trong lớp học và trên địa bàn. Ngày 1-6 vừa qua, Trạm đã vận động tặng xe đạp, 325kg gạo, 32 thùng mì ăn liền và nhiều bánh, kẹo cho học sinh trong lớp học tình thương... giúp các em và gia đình ổn định cuộc sống".

Theo bà Phan Kiều Thanh Hương, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, những việc làm nghĩa tình, thầm lặng của đồng chí Vũ Trường Tính không chỉ được cấp ủy, chỉ huy đơn vị và đồng đội ủng hộ, động viên mà còn được chính quyền, đoàn thể địa phương ghi nhận, đánh giá cao. Đặc biệt, trẻ em nghèo và người lao động trên địa bàn tin tưởng, quý mến thầy giáo Tính. Đây là việc làm đầy ý nghĩa nhân văn của Bộ đội Biên phòng TP Hồ Chí Minh, góp phần tăng cường tình đoàn kết quân dân, tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ-bộ đội của dân.