Thứ Năm, 6 tháng 7, 2023

SINGAPORE ĐỀ NGHỊ VIỆT NAM THAM GIA SÁNG KIẾN KẾT NỐI LƯỚI ĐIỆN QUA ĐẠI DƯƠNG

 Phía Singapore đề xuất Việt Nam hỗ trợ các doanh nghiệp Singapore quan tâm đến các dự án đầu tư điện gió, điện gió ngoài khơi tại Việt Nam. Đáng chú ý, Bộ trưởng thứ hai Bộ Công Thương Singapore đề nghị Việt Nam nghiên cứu khả thi việc tham gia sáng kiến kết nối lưới điện qua đại dương...

Ngày 5/7/2023, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đã có cuộc hội đàm với Bộ trưởng thứ hai Bộ Công Thương Singapore Tan See Leng. Cuộc hội đàm diễn ra trong bối cảnh 2 nước Việt Nam - Singapore kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược.
Tại cuộc hội đàm, Bộ trưởng Tan See Leng đã đề xuất một số nội dung hợp tác giữa Singapore và Việt Nam trong thời gian tới.
Theo đó, phía Singapore đề xuất Việt Nam hỗ trợ các doanh nghiệp Singapore quan tâm đến các dự án đầu tư điện gió, điện gió ngoài khơi tại Việt Nam (nội dung trong khuôn khổ Bản ghi nhớ giữa hai Bộ Công Thương về hợp tác năng lượng); nâng cấp Hiệp định khung về kết nối hai nền kinh tế Việt Nam - Singapore (ký năm 2005 giữa hai Chính phủ); nghiên cứu cơ hội hợp tác trong lĩnh vực tài chính xanh;
Đáng chú ý, Bộ trưởng thứ hai Bộ Công Thương Singapore đề nghị Việt Nam nghiên cứu khả thi việc tham gia sáng kiến kết nối lưới điện qua đại dương; Thúc đẩy hợp tác thương mại nông sản giữa hai nước, cụ thể là đối với các sản phẩm thịt chế biến, rau, quả tươi; Thúc đẩy hợp tác về kinh tế số, trong đó có việc các doanh nghiệp nổi bật trong lĩnh vực này của Singapore chia sẻ kinh nghiệm phát triển với Việt Nam.
Đặc biệt, Bộ trưởng thứ hai Bộ Công Thương Singapore đề nghị Việt Nam nghiên cứu ý tưởng phát triển chuỗi cung ứng năng lượng để bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển bền vững, bao gồm các loại năng lượng từ khí tự nhiên, năng lượng tái tạo, các năng lượng mới như hydrogen, amoniac xanh...
Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên khẳng định Việt Nam luôn sẵn sàng tạo điều kiện, hỗ trợ các doanh nghiệp Singapore quan tâm đến đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ nền tảng, năng lượng tái tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, hỗ trợ Việt Nam khai thác, chế biến sâu khoáng sản, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam./.
ST


CÙNG SĨ QUAN CẤP PHÂN ĐỘI HÓA GIẢI ÁP LỰC CÔNG TÁC - BÀI 2: ÁP LỰC TỪ ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH

 Trong điều kiện không có thu nhập khác ngoài lương, bên cạnh áp lực công việc như những gì chúng tôi đã phản ánh ở bài 1, sĩ quan cấp phân đội (SQCPĐ) còn gặp nhiều áp lực khác. Đó là khó khăn về điều kiện kinh tế và chi phí sinh hoạt gia đình.

Vợ là trụ cột
Khảo sát ở các đơn vị, chúng tôi thấy đa phần SQCPĐ sinh ra ở nông thôn, công tác xa nhà, xa vợ con và có mức sống trung bình so với thu nhập của nhiều đối tượng trong xã hội hiện nay. Trung đoàn 141 (Sư đoàn 3, Quân khu 1) có 73,29% SQCPĐ quê ở vùng nông thôn. Tỷ lệ này ở Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3) là hơn 75%. Hiện nay, số SQCPĐ có gia đình chưa được thụ hưởng chính sách ở nhà công vụ chiếm hơn 95%. Hiện nay, SQCPĐ được ở nhà công vụ chiếm tỷ lệ rất thấp: Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) là 18%; Trung đoàn 165 (Sư đoàn 312, Quân đoàn 1) là 2,4%; còn các đơn vị, như Trung đoàn 64 (Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân), Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3) và Sư đoàn 3 (Quân khu 1) thì chưa có nhà công vụ. Tỷ lệ SQCPĐ ở các đơn vị tự xây được nhà là không nhiều và đa phần phải có sự hỗ trợ của bố mẹ hoặc người thân trong gia đình. Ví dụ, ở Trung đoàn 165 (Quân đoàn 1), tỷ lệ này là 2,58%; Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) là 34%; Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3) là gần 15%.
Đa phần SQCPĐ có cấp bậc quân hàm từ thiếu úy đến trung tá, trong đó cấp úy chiếm số đông. Đây cũng là giai đoạn họ mới lập gia đình, nuôi con nhỏ và phải tích lũy để mua sắm đồ dùng, trang bị thiết yếu. Gánh nặng tài chính gây ra không ít áp lực đối với SQCPĐ, trong khi giá các mặt hàng tiêu dùng ngày một tăng. Do đặc điểm, điều kiện công tác và để không ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ ở đơn vị nên vai trò trụ cột gia đình của SQCPĐ thường do những người vợ gánh vác.
Chúng tôi về xã Đại Bái-nơi có nghề truyền thống đúc đồng nổi tiếng cả nước thuộc huyện Gia Bình (Bắc Ninh) thăm chị Nguyễn Thu Thủy. Chị Thủy là nhân viên nấu ăn của một trường mầm non trên địa bàn với mức lương 3,5 triệu đồng/tháng. Chị có con trai lớn năm nay 3 tuổi và đang mang thai con thứ hai. Chồng chị Thủy là Đại úy Đinh Hữu Đông, Chính trị viên Tàu tên lửa 354 (Lữ đoàn 170, Vùng 1 Hải quân). Chị Thủy tâm sự: "Chúng tôi yêu nhau từ thời học trung học, rồi cưới nhau năm 2018. Từ ngày cưới nhau đến nay, nhiều thời điểm cả tháng anh mới về thăm nhà một lần. Nghỉ lễ, tết, họa hoằn lắm anh mới được nghỉ ở nhà. Vì thế, mọi chuyện trong gia đình từ lớn tới nhỏ, tôi đều phải đảm đương hết, nếu có thì cũng chỉ nhận được ở anh những lời động viên...".
Khi nói đến chuyện xây nhà riêng, chị Thủy cười và cho rằng sẽ rất khó khăn vì xã Đại Bái có nghề truyền thống nên giá đất rất cao. Vợ chồng gần như không có tích lũy, bởi chị lương thấp, chi phí nuôi con nhỏ tốn kém. Hiện nay, mỗi tháng anh Đông gửi về cho vợ khoảng 8 triệu đồng. Dù còn nhiều vất vả nhưng chị Thủy vẫn rất lạc quan. Chị tâm sự: “Khó khăn rồi cũng sẽ qua, nhiều gia đình còn vất vả gấp mấy lần chúng em. Em ở nhà, cố gắng nuôi con, chăm sóc ông bà mạnh khỏe, như thế sẽ giúp anh Đông yên tâm công tác”.
Ở Trung đoàn 24 (Sư đoàn 10, Quân đoàn 3), chúng tôi gặp và trò chuyện với Trung úy Trần Thanh Thịnh, Chính trị viên Đại đội 15 trong lúc anh chuẩn bị xin nghỉ phép vì mẹ bị tai nạn. Năm 2021, anh Thịnh cưới vợ và ở cùng với bố mẹ. Vợ anh là giáo viên mầm non hợp đồng, lương 3 triệu đồng/tháng. Mỗi tháng, anh gửi về nhà 5 triệu đồng hỗ trợ vợ trang trải cuộc sống. Anh Thịnh nói: "Vợ luôn động viên em yên tâm công tác, tập trung vào công việc, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ, không phải lo lắng về vợ con. Ở nhà đã có ông bà, họ hàng và làng xóm".
Trao đổi với chúng tôi, Thượng tá Diêm Đăng Khang, Phó chính ủy Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) cho biết: "Qua nắm bắt tâm tư của cán bộ, chiến sĩ chúng tôi thấy, một số đồng chí có sự so sánh giữa mức lương của SQCPĐ với mức lương của cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, người lao động bên ngoài. Thực tế hiện nay, lương thiếu úy khoảng hơn 8 triệu đồng/tháng, nhưng phải thực hiện nhiệm vụ ở đơn vị và bám nắm bộ đội 24/24 giờ. Trong khi trung bình công nhân bên ngoài làm việc 8 giờ/ngày, lương đạt khoảng 10 triệu đồng/tháng; nếu làm tăng ca có thể đạt khoảng 12-14 triệu đồng/tháng".
Qua khảo sát, chúng tôi thấy nhiều SQCPĐ ở các đơn vị có hoàn cảnh giống gia đình Đại úy Đinh Hữu Đông và Trung úy Trần Thanh Thịnh. Nhiều SQCPĐ ở các đơn vị có hoàn cảnh khó khăn, phải thuê nhà ở. Chi phí thuê nhà mỗi nơi khác nhau và dao động ở mức 1,5-4 triệu đồng/tháng, chưa tính chi phí điện, nước. Càng ở đô thị, giá thuê nhà càng đắt. Chi phí ấy chiếm phần lớn lương của SQCPĐ. Bình thường đã vậy, những trường hợp gặp hoàn cảnh éo le như vô sinh; vợ con, bố mẹ bị bệnh hiểm nghèo... thì cuộc sống càng trở nên khó khăn gấp bội. Ví như trường hợp Đại úy Lê Văn Đinh, Đại đội trưởng Đại đội 6, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 141 (Sư đoàn 3, Quân khu 1), sau 8 năm kết hôn, đến nay vợ chồng anh vẫn chưa có con dù đã chữa trị nhiều nơi với chi phí hết sức tốn kém.
Nỗi niềm riêng và trăn trở chung
Trò chuyện với Đại úy Trần Minh Đăng ở Trung đoàn 43 (Sư đoàn 395, Quân khu 3) về hoàn cảnh gia đình, chúng tôi thấy anh có nhiều trăn trở và cũng có những nỗi niềm riêng. Sinh năm 1985, quê ở Lý Nhân, Hà Nam, trước khi vào học Trường Sĩ quan Chính trị, Trần Minh Đăng đã có 3 năm thực hiện nghĩa vụ quân sự ở đảo Sinh Tồn và một năm công tác tại Học viện Hải quân. Hiện anh có vợ làm công nhân với mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng và hai con nhỏ đang học tiểu học. Mức lương của anh Đăng hiện nay vào khoảng hơn 10 triệu đồng/tháng. Xa nhà gần 400km, trung bình mỗi tháng anh về thăm gia đình một lần và chi phí cho mỗi lần đi lại khoảng gần 1 triệu đồng. Trần Minh Đăng tâm sự, do quá trình đô thị hóa nên giá đất, giá xây dựng ở quê khá cao. Thế nên, với mức thu nhập như vậy, việc vợ chồng tích lũy để tự mua được đất và xây nhà ở là rất khó khăn. Ngoài những lo lắng về kinh tế, điều trăn trở nhất của Trần Minh Đăng là anh đã hết tuổi quy hoạch. Theo suy nghĩ, tính toán của anh, nếu không có gì thay đổi, khoảng 8 năm nữa anh sẽ đến tuổi nghỉ hưu với quân hàm thiếu tá nâng lương và ở độ tuổi 46.
Khảo sát ở nhiều đơn vị, chúng tôi thấy trường hợp có hoàn cảnh giống như Đại úy Trần Minh Đăng khá phổ biến. Theo đại diện lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3): Do chỉ tiêu đi học được phân bổ mỗi năm rất hạn chế nên nhiều đồng chí không được đi đào tạo cán bộ cấp trung, sư đoàn. Cán bộ không được đào tạo rất khó có cơ hội phát triển. Cán bộ cấp phân đội mà không phát triển được, sẽ bị già hóa (gần 50 tuổi), ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Đơn cử như việc nếu cán bộ cấp phân đội tuổi cao sẽ rất khó theo bám được các hoạt động của bộ đội, nhất là trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, hành quân rèn luyện cường độ cao, cùng với đó, kéo theo tâm lý chán nản, giảm ý chí phấn đấu.
Trong hoạt động quân sự, lao động của bộ đội, trong đó có lao động của SQCPĐ là một dạng lao động đặc biệt. Đó là hoạt động tiêu hao năng lượng và sức khỏe thể chất, tinh thần rất lớn. Hoạt động này không những đòi hỏi trách nhiệm, sự tâm huyết, mà còn cần có đủ sức khỏe. Thế nên, điều đó lý giải vì sao trước khi thi vào các trường sĩ quan, thí sinh phải trải qua quá trình tuyển chọn, sàng lọc với hệ thống tiêu chí, quy định rất khắt khe của Bộ Quốc phòng.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy cơ bản SQCPĐ coi binh nghiệp là nghề và có nguyện vọng được gắn bó, phục vụ lâu dài trong Quân đội. Đội ngũ SQCPĐ đều mong muốn được cử đi đào tạo, học tập để có bước phát triển cao hơn. Họ cũng mong muốn cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng nghiên cứu, đề xuất việc cải thiện các chính sách về tiền lương, nhà ở, cũng như các tiêu chuẩn, chế độ khác để họ yên tâm công tác... (còn nữa)./.
ST

KẾT HỢP TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

 Ngày 6/7, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị sơ kết công tác tham mưu toàn quân 6 tháng đầu năm 2023.

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị.
Trong 6 tháng đầu năm 2023, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo toàn quân nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng thường xuyên và đột xuất; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng báo cáo Đảng, Nhà nước có chủ trương, đối sách phù hợp, xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ; bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ; kịp thời điều chỉnh, bổ sung hệ thống văn kiện tác chiến; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn cả nước.
Thực hiện chủ đề “Năm điều chỉnh tổ chức lực lượng”, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo toàn quân thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ Kế hoạch của Bộ Quốc phòng về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; điều chỉnh, ban hành biểu tổ chức biên chế của các tổ chức đáp ứng yêu cầu tinh, gọn, mạnh; chỉ đạo tốt việc mua sắm, sản xuất, sửa chữa, cải tiến trang bị kỹ thuật bằng các nguồn ngân sách theo đúng quy định.
Chất lượng huấn luyện, giáo dục - đào tạo, diễn tập, hội thi, hội thao, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” có nhiều đổi mới, đạt kết quả tốt; duy trì nghiêm chế độ, nền nếp, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật; việc xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” đi vào chiều sâu, thực chất.
Cùng với đó, toàn quân thực hiện nghiêm chế độ ứng trực ở các cấp; chủ động phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, kịp thời điều động 16.300 lượt cán bộ, dân quân tự vệ, trên 1.000 lượt phương tiện ứng cứu kịp thời hàng trăm người và hàng chục phương tiện.
Đặc biệt, Quân đội đã huy động lực lượng, phương tiện và hơn 30 tấn vật chất giúp Thổ Nhĩ Kỳ khắc phục hậu quả động đất, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế; tổ chức thi đấu thể thao trong nước, quốc tế, tham gia SEA Games 32 đạt nhiều thành tích xuất sắc.
Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo tổ chức tốt nhiệm vụ tác chiến điện tử; tăng cường kiểm soát thông tin; bảo đảm duy trì vững chắc hệ thống kỹ thuật mật mã; bảo đảm đầy đủ kịp thời tư liệu địa hình quân sự và thông tin địa lý cho các đơn vị trong toàn quân; thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và đăng kiểm quân sự; tổ chức chặt chẽ công tác kiểm tra, giám định chất lượng trang bị kỹ thuật...
Biểu dương những kết quả nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của toàn quân trong những tháng đầu năm, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nhấn mạnh, 6 tháng cuối năm 2023, nhiệm vụ công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới. Do đó, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thống nhất, chủ động, sáng tạo, nâng cao chất lượng các mặt công tác, khắc phục khó khăn, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm 2023 và thời gian tiếp theo.
Thượng tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu các cơ quan, đơn vị tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, đánh giá, nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những chủ trương, đối sách xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Toàn quân triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương kết hợp quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội theo các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị; hoàn thành có chất lượng văn bản tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; sơ kết 5 năm thực hiện các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về chiến lược quân sự, quốc phòng.
Gợi mở một số vấn đề trọng tâm, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương đề nghị, các cơ quan, đơn vị duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; theo dõi, quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng, bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ; phối hợp với các lực lượng giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn cả nước. Các đơn vị rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn kiện tác chiến; điều chỉnh bố trí lực lượng phù hợp với nhiệm vụ tác chiến và quy hoạch thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ; xây dựng hệ thống, công trình chiến đấu bảo đảm chất lượng, tiến độ, an toàn.
Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân tiếp tục đổi mới, đột phá nhiệm vụ huấn luyện; tổ chức huấn luyện cho các đối tượng, bảo đảm chặt chẽ, đúng nội dung, chương trình, kế hoạch. Các đơn vị tăng cường huấn luyện đêm, huấn luyện cơ động, huấn luyện cường độ cao trong mọi điều kiện, sát với nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn và phương án tác chiến; nâng cao năng lực thực hành, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, sức cơ động cho các đối tượng.../.
ST

NỮ VẬN ĐỘNG VIÊN KHIẾM THỊ ĐƯỢC GHI VÀO SÁCH KỶ LỤC VIỆT NAM

 Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, chị Nguyễn Thị Hảo không may mắc khiếm thị bẩm sinh ngay từ khi lọt lòng mẹ. Thế nhưng, vượt qua những điều kém may mắn của mình, cô gái ở xóm Xuân, thôn An Điền, Nam Sách, Hải Dương đã trở thành một kình ngư trên đường đua xanh, được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba năm 2005 và được sách kỷ lục Việt Nam xác lập là vận động viên khiếm thị đạt nhiều thành tích nhất ở môn bơi lội.

Xuất hiện trên sân khấu "Trạm yêu thương" với nụ cười luôn nở trên môi và đôi mắt đen láy lấp lánh, nếu Nguyễn Thị Hảo không giới thiệu, chắc chắn mọi người sẽ khó nhận ra chị là người khiếm thị. Mang đến chương trình hàng trăm chiếc huy chương, chị Hảo bật mí rằng đây chỉ là một phần nhỏ trong bảng thành tích chinh phục đường đua xanh của mình. Chính bơi lội đã giúp chị mạnh mẽ vươn lên và tự tin đối mặt với những khiếm khuyết của mình.
Năm 1991, ngay khi mới chào đời, Nguyễn Thị Hảo đã mắc phải căn bệnh khiếm thị bẩm sinh. Đến tuổi đi học, cô bé Hảo cũng khao khát được làm quen với con chữ như bạn bè cùng trang lứa. Thế nhưng sự khác biệt về thị lực, cộng thêm bị bạn bè trêu chọc nên Hảo dần thu mình, trở nên nhút nhát và tự ti. Không đi học, Hảo chỉ quanh quẩn trong nhà, thi thoảng giúp bố mẹ công việc đồng áng, xung quanh chỉ là chiếc bóng mờ mờ ảo ảo.
Năm 10 tuổi, thật may mắn, Hảo được Hội Người mù tỉnh Hải Dương giúp đỡ và được về sống ở mái ấm Thiên Ân, TP Hồ Chí Minh. Một mình từ Hải Dương vào TP Hồ Chí Minh học, cô gái khiếm thị không khỏi lo lắng và buồn tủi. Thế nhưng chính điều đó giúp Hảo càng quyết tâm chăm chỉ học hành vì môi trường mới giúp những người như Hảo có thể học và làm được mọi việc như người bình thường.
Vốn hiền lành, nhút nhát, những ngày đầu học ở mái ấm Thiên Ân, chị Hảo vừa không biết bơi, vừa sợ nước. Trong một lần tình cờ theo các anh chị đi bơi tại hồ bơi Tân Bình, chị Hảo mon men học thử. Với các bạn chỉ 2 tuần là có thể bơi, còn Hảo mất tận 3 tháng. Thế nhưng sau 6 tháng học bơi, thầy giáo nhận thấy Hảo không chỉ tiếp thu tốt các kiến thức được dạy mà còn bộc lộ năng khiếu và có những bước tiến rất nhanh, được xem là một thần đồng bơi lội.
Nhút nhát là thế, nhưng khi đã làm chủ được dưới nước, cô bé Hảo lại vô cùng say mê với môn thể thao này... Do hạn chế về tầm nhìn đã khiến chị Nguyễn Thị Hảo khi đó đã không ít lần húc đầu vào tường, có khi còn gẫy cả răng cửa... Nhưng tất cả những khó khăn ấy không làm giảm tình yêu bơi lội. Sau khi gắn răng lại, Hảo tiếp tục học bơi như chưa có gì xảy ra.
Những tháng ngày miệt mài học bơi, cộng thêm nghị lực và sự quyết tâm của bản thân, năm 12 tuổi, Nguyễn Thị Hảo mang về tấm HCB ngay ở cuộc thi đầu tiên trong đời mình ở giải tiền Para Games II – 2003.
Và sau đó là những thành tích liên tiếp: phá 3 kỷ lục Para Games II - 2003, đoạt 3 HCV tại Para Games III - 2005, đoạt 3 HCV tại giải bơi lội toàn quốc 2005, 3 HCV giải bơi lội toàn quốc 2006... Ngay trong năm 2005, chị Hảo đã vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Ba…
Cần mẫn, kiên nhẫn và cẩn thận trong từng động tác tập luyện, những thành tích mà Nguyễn Thị Hảo đạt được ngày hôm nay là cả những năm tháng dài miệt mài ở bể bơi bất chấp khắc nghiệt của thời tiết: “Mỗi lần đặt chân trên đường đua xanh, mình như được sải đôi cánh tự do cùng làn nước - một thế giới đầy mê say”.
15 tuổi, chị Hảo được sách kỷ lục Việt Nam (Vietbooks) xác lập là vận động viên khiếm thị đạt nhiều thành tích nhất ở môn bơi lội. “Môn bơi lội không chỉ giúp tôi vượt lên trên nỗi sợ nước của chính mình mà còn khiến bản thân tôi tự tin hơn trong cuộc sống. Những lần về quê chơi, thay vì tò mò về những khiếm khuyết hồi nhỏ, mọi người hỏi về những tấm huy chương khiến tôi rất vui và tự hào” – chị Hảo tâm sự.
Thời điểm hiện tại, hàng ngày chị Nguyễn Thị Hảo vẫn tới hồ bơi, nhưng không phải để tập luyện cho những giải đấu mà trong vai trò một huấn luyện viên. Khi được hỏi về ước mơ trong tương lai, chị Hảo mong muốn tiếp tục hành trình dạy bơi miễn phí cho các con em gia đình khiếm thị.
Người phụ nữ ấy còn đạt được những thành tích đáng ngưỡng mộ nào trên hành trình chinh phục đường đua xanh của mình? Tất cả đang chờ khán giả khám phá trong "Trạm yêu thương", chủ đề “Vượt lên trên đường đua xanh” lên sóng lúc 10h thứ Bảy ngày 8/7/2023 trên kênh VTV1./.
ST

Phát huy truyền thống “sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”

 Sự thực lịch sử, hai tiếng “đồng bào” thiêng liêng đã thành cốt cách và niềm tự hào trong văn hoá dân tộc Việt Nam. Hoàn toàn không phải như luận điệu bôi nhọ rằng “việc gọi các sắc tộc Tây Nguyên bằng từ “đồng bào” không che giấu được toan tính chính trị”, đả kích thành “đây là cách áp đặt văn hoá và mị dân”!

“Bệnh xa dân” làm cán bộ dễ hư hỏng

 

Một thực tế đó là, mỗi khi có đồng chí cán bộ nào bị xử lý sai phạm thì xuất hiện tâm lý hả hê ở một bộ phận dư luận. Phần đa ý kiến không đồng tình với tâm lý hả hê đó, nhưng điều này cần được nhìn nhận thấu đáo để hiểu rõ vì sao? Một trong những nguyên nhân gây nên tâm lý đó chính là “bệnh xa dân” của cán bộ khiến dư luận đã có cái nhìn tiêu cực, thiếu cảm thông mỗi khi có vụ việc.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẠI SAO VIỆT NAM XÓA NỢ CHO CUBA!

     Năm 2018 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sang thăm Cuba trao cho Bạn một món quà quý giá cho Bạn đó là Đảng nhà nước và nhân dân Việt Nam quyết định xóa hết những gì mà Cuba nợ Việt Nam (số liệu cụ thể chưa rõ) lập tức nhiều kẻ ph.ản đ.ộng lên tiếng la ó, Việt Nam đã nghèo mà còn chơi sang, nhưng họ không biết rằng: 
- Thời kỳ Chống Mỹ, Cuba gửi hàng chục vạn liều máu sang cho Việt Nam để cứu chữa thương binh và nhân dân Việt Nam bị thương, Nhân dân Miền bắc bao năm dùng đường Cuba, bạn viện trợ không biết bao nhiêu tấn đường cho Việt Nam.
- Học sinh được tiêm Vacxin miễn phí do Cu ba cấp 
- Năm 1973 chính phủ Cuba viện trợ cho chúng ta 5 công trình mà đến bây giờ vẫn còn sử dụng tốt, đó là: (1) Khách sạn Thắng lợi; (2) Bệnh viện Đồng Hới Quảng Bình; (3) Đường Xuân Mai Hòa Bình; (4) Một Trại Gà; (5) Một trang trại bò sữa Ba Vì. Tổng giá trị 80 triệu USD tương đương bây giờ khoảng 600 triệu USD 
- Cuba là nước đi đầu lên án Mỹ xâ.m lược. Việt Nam và vận động các nước ủng hộ Việt Nam trên mọi mặt ngoại giao và ủng hộ Việt Nam vào Liên Hiệp quốc.
- Khi mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam ra đời Cuba là nước ủng hộ đầu tiên và cử đại diện vào khu giải phóng nơi đặt chính phủ Miền Nam Việt Nam để thể hiện sự ủng hộ.
- Sau chiến thắng Vịnh con lợn Cuba bắt được khá nhiều tù binh, Mỹ muốn chuộc lại Cuba bắt trả bằng USD, sau đó Bạn dùng số tiền này ủng hộ Việt Nam, sang Nhật mua máy ủi máy húc đưa sang Việt Nam làm đường sau đó để lại cho Việt Nam đưa vào đường Trường sơn mở đường và lấp hố bo.m. 
- Vì Việt Nam Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu, một câu nói này thôi Tiền nào mua được, vì thế Việt Nam xóa nợ cho Cuba cũng là một lẽ thường tình, Việt Nam cũng thường xuyên mang gạo sang giúp đỡ Cuba khi Cuba khó khăn.
Bây giờ mình đang giúp đỡ Cuba phát triển thông tin và cải cách kinh tế dần dần xóa bỏ bao cấp và hội nhập kinh tế thị trường mà Việt Nam là một gương sáng cho nhiều nước nghèo đói học tập để vươn lên./.
Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 7 NĂM 1953!

         “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”!
     Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10/7/1953; là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng.
     Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng.
     Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
     Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác trong tình hình mới, quan tâm chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết nội bộ và làm tốt công tác dân vận; xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tiêu biểu: “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tặng bò giống cho đồng bào nghèo”, “Bệnh xá quân dân y kết hợp”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… góp phần củng cố, giữ vững thế trận lòng dân, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng tăng cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.
Môi trường ST.

ÔNG CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: "ANH HÙNG LLVT NHÂN DÂN, MẸ VNAH NGUYỄN THỊ RÀNH" - HƠN CẢ MỘT TƯỢNG ĐÀI!

     Về quê hương địa đạo Củ Chi, ghé vào xã Phước Hiệp, thăm Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Rành. Người dân quanh vùng thường gọi má bằng những cái tên thân thương: “Má Tám Rành”, “Bà mẹ Củ Chi”, “Bà mẹ Đất thép”, “Bà má Dũng sĩ”. Ngoài ra, do ghiền trầu từ thời trẻ, nên má còn được gọi là “Má Tám Trầu”!

Tuổi thơ nhọc nhằn
Cô bé Rành chào đời năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo, sẵn có truyền thống yêu nước ở ấp Trại Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh). Bấy giờ, ở Nam kỳ, hội kín phát triển mạnh, đặc biệt là phong trào “Thiên Địa hội” của Phan Xích Long nổ ra tại Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân. Năm 1913, người cha của Rành bị thực dân Pháp bắt vì tội “làm quốc sự”, bị đày ra Côn Đảo và biệt tích. Nhà chỉ có hai anh em, quá nghèo và cực khổ, nên người anh của Rành đi ở trừ nợ từ trước. Ngày ngày, Rành đi mò tôm, xúc cá, mang ra chợ kiếm cái đắp đổi qua ngày. Nỗi đau mất cha còn chưa kịp nguôi ngoai, thì người mẹ đột ngột qua đời. Với món nợ truyền kiếp, nhưng “gia sản” chỉ có căn lều rách te tua như lều vịt, nên dù mới 14 tuổi, Rành bị tay xã trưởng cho người lôi về nhà hắn. Quãng đời đi ở đợ làm công, đói rách, cơ cực không sao kể xiết. Nhưng cô bé Rành cứ thế vụt lớn lên thành một thiếu nữ biết tự trọng, giàu tình cảm và cứng cỏi.

Mười tám tuổi, Rành gặp anh hương sư Nguyễn Văn Cầm (Tám Cầm), quê ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, Long An, về dạy học trong vùng. Rồi họ nên vợ, nên chồng. Hai năm sau, tại ấp Trại Đèn, đứa con trai đầu lòng chào đời. Rồi anh Tám được cử về miền Tây trông coi một ngôi trường vừa mới mở. Tại đây, Tám Cầm gặp được những người cùng chung chí hướng, yêu nước, ghét Tây.

Dâng hiến cho cách mạng và kháng chiến
Trong vòng 22 năm (1920-1942), má Nguyễn Thị Rành sinh hạ 10 người con, 8 trai, 2 gái. Năm 1941, thầy giáo Cầm quyết định nghỉ dạy để có điều kiện hoạt động cách mạng, tham gia Việt Minh. Vợ chồng má luôn giáo dưỡng con cái biết sống tử tế, giàu tình thương và có nghĩa khí; anh chị làm gương cho em út. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, thực dân Pháp trở lại gấy hấn, đánh chiếm Sài Gòn, rồi mở rộng ra toàn xứ Nam bộ. Nguyễn Văn Dúng, người con lớn đã giấu cha mẹ gia nhập bộ đội, anh được phân công làm Xã đội trưởng xã Phước Hiệp. Má nói với đàn con: Đứa nào lớ quớ theo giặc, tao chém! Năm 1947, má Tám Rành tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc xã. Trong lúc chỉ huy anh em đánh bọc hậu một đơn vị địch, anh Hai Dúng hy sinh, để lại người vợ trẻ và đứa con trai. Thương con đứt ruột, má xót xa cho con dâu còn quá trẻ và đứa cháu đích tôn thơ dại. Nhưng không gì cản được các con của má lần lượt nối tiếp nhau cầm súng đánh giặc. Năm 1954, má Nguyễn Thị Rành làm Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ và là Chính trị viên Xã đội Phước Hiệp. Những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, vợ chồng má nhận thêm một tin xé ruột: người con thứ 2 là Nguyễn Văn Sóc, tiểu đội trưởng đặc công hy sinh tại Long An.

Trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, Củ Chi là một trong những nơi bị địch đàn áp khốc liệt, nhất là sau khi có đạo luật phát xít 10/59, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Ngoài việc tham gia “đội quân tóc dài”, đấu tranh trực diện với địch, má Tám còn đào hầm nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho du kích… Địch bắt nhốt má nửa tháng trời tại đồn quận lỵ Củ Chi, để hòng dụ Nguyễn Văn Vé người con thứ 4 ra hồi chánh. Và thêm một khúc ruột của má bị cắt lìa, chiến sĩ du kích Năm Vé anh dũng hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, vợ chồng má kêu cả đàn con đến trước thi hài của Năm Vé và nói như dao chém đá: “Mấy đứa bây coi gương của anh Hai, anh Ba, thằng Năm. Coi đó mà trả thù cho tụi nó!”. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, gần giáp Tết, má Tám Rành cùng một số người trong Hội Mẹ chiến sĩ được mời dự hội nghị do Huyện ủy Củ Chi tổ chức bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Ngắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh, lòng má bừng lên một tinh thần mới!

Năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Cùng với việc xây dựng căn cứ Đồng Dù, địch tăng cường chà xát, biến Củ Chi thành vùng trắng, bình địa. Sau khi bẻ gãy 2 trận càn với quy mô cực lớn là Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất”, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (tháng 9/1967), Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng”. Cùng trong năm này, má Rành ba lần nhận tin dữ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hè, người con thứ 5 bị địch khui hầm, trúng đạn chỉ cách nhà mẹ chừng vài trăm thước. Tiếp đến, đứa cháu nội Nguyễn Văn Rưng (con anh Hai Dúng), tiểu đội phó đặc công, hy sinh. Người con thứ 8, Nguyễn Văn Nâng, Xã đội trưởng Phước Hiệp bị pháo địch dập trúng. Là chính trị viên xã đội, má nuốt nước mắt, cắn chặt môi, nén lòng để giữ vững tinh thần cho các chiến sĩ du kích tiếp tục chiến đấu.

Tết Mậu Thân 1968, ông giáo Tám đau yếu phải về quê nội dưỡng bệnh. Một mình má Tám sửa soạn ban thờ cúng gia tiên. Trước 5 bát nhang, má lầm rầm khấn: Các con sống làm chiến sĩ, chết anh hùng vì dân vì nước, ráng phù hộ cho anh em đánh giặc. Rồi má lấy chéo khăn rằn chấm nước mắt… Ra giêng, má Tám Rành đứt đoạn thêm hai khúc ruột nữa. Chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, con thứ 7, vừa ngã xuống; tiếp đến Nguyễn Văn Huội, con thứ 6 hy sinh trong trận nhổ đồn địch ở An Nhơn Tây. Nhận tin dữ, má ôm con dâu và đứa cháu nội (con Bảy Huội) vào lòng, ngỡ mình không sống nổi. Bọn ác ôn đưa má Tám về đồn, giở trò dọa dẫm đủ đường, suốt tuần lễ, má không ăn, chỉ nhai trầu, uống nước cầm hơi. Cuối cùng chúng đành chào thua và thả bà Tám Trầu “cứng cổ”. Huyện ủy, Huyện đội Củ Chi lo cho sự an nguy của má Tám, nhưng má không chịu. Má nói với anh em, tụi bây báo với cấp trên, Tám Rành này còn giọt máu cuối cùng vẫn một lòng một dạ với cách mạng!

Đầu năm 1969, trong một trận đột nhập căn cứ địch, quân ta diệt nhiều tên. Khi đơn vị lui quân, chiến sĩ Nguyễn Văn Luông, người trai út của má Rành ở lại cản hậu và trúng đạn. Trước tột cùng nỗi đau, cả 8 người con trai cùng đứa cháu đích tôn hy sinh, năm sau, ông giáo Tám Cầm về với ông bà tổ tiên. Năm 1970, thêm đứa cháu ngoại là chiến sĩ Huỳnh Văn Cường, con chị Nguyễn Thị Săng (con thứ 3 của má), hy sinh tại Mộc Hóa, Long An.

Dường như má Rành đã khô kiệt nước mắt. Con người má quánh đặc nỗi đau. Nhưng không chỉ lao vào hoạt động, má như cây cột trụ làm chỗ dựa vững chắc cho con dâu, con gái kiên cường sống. Ngày 29/4/1975, từ sáng sớm má Tám đã xuống đường. Má treo cờ đỏ sao vàng lên ngọn cây điệp ở đầu ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, mở màn cho cuộc nổi dậy giành chính quyền của nhân dân xã nhà.

Tượng đài bất tử
Ngày 6/11/1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Thị Rành, vì đã “làm được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”. Ngày 26/1/1979, má Tám Rành qua đời. Năm 1983, vợ chồng má được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Đến năm 1994, má Rành được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có 8 người con và 2 cháu nội, ngoại hy sinh cho Tổ quốc. Để ghi nhớ công ơn của “Bà mẹ Đất thép”, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định chọn con đường đẹp nhất Củ Chi mang tên Nguyễn Thị Rành. Đường dài gần 20km, từ ngã rẽ quốc lộ 22 thuộc ấp Bàu Đưng, xã Tân An Hội, kéo qua Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, An Nhơn Tây và kết thúc tại điểm đầu tỉnh lộ 8, xã Phú Mỹ Hưng. Trên con đường này, có một trạm y tế mang tên má Tám.

Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (2011-2016) ra nghị quyết chọn công trình Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Rành là 1 trong 6 công trình trọng điểm của nhiệm kỳ 2011-2016. Công trình được khởi công từ tháng 7/2012 và khánh thành cuối tháng 1/2013 trên nền nhà cũ của má. Giai đoạn 2 mở rộng được hoàn thành vào tháng 10/2016, với tổng diện tích 5.609 m2. Kinh phí xây dựng do cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ 24 quận, huyện, các đơn vị và Mạnh thường quân đóng góp. Bên trong nhà có phù điêu chân dung má Tám Rành. Phía trên bàn thờ là ảnh Bác Hồ với câu nói của Người: “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”. Tiếp đến là bài vị thờ chồng má, cùng 8 con trai, 2 cháu liệt sĩ. Phía trước trang thờ, trên hai cột được chạm khắc cặp câu đối: “Trước sau một dạ anh hùng, quê nghèo đất thép; Con cháu mười người Liệt sĩ, tay trắng lòng son”. Gia tài của “Bà mẹ Củ Chi” được lồng trong tủ kính là 5 cái chén đĩa, 1 cây đèn bão, 1 cái cối giã trầu bằng đồng bé tẹo và một xấp dày giấy báo tử… Chỉ vậy thôi, nhưng dân tộc này, đất nước này sẽ trường tồn mãi mãi bởi những người mẹ như má Nguyễn Thị Rành. Mất con nhưng còn nước! Đức hy sinh của má Tám Rành không gì sánh nổi, vâng, có lẽ nó còn hơn cả một tượng đài!
Yêu nước ST.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng

 

1.   

          Thời gian qua, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương (NQTƯ) 4, khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (gọi tắt là NQTƯ 4) trong Đảng bộ BĐBP Thái Bình đã tạo ra nhiều chuyển biến mang tính đột phá trong công tác xây dựng Đảng; góp phần phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng.

Trong những năm qua, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong BĐBP Thái Bình đã quán triệt, nắm vững chủ trương, nội dung NQTƯ 4 khóa XII; từ đó, có nhiều biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, quyết liệt, đa dạng hóa các hình thức triển khai thực hiện NQTƯ 4 gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; thực hiện nghiêm Chỉ thị 103/CT-BQP ngày 28/11/2019 của Bộ Quốc phòng về “Tiếp tục tăng cường quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật và bảo đảm an toàn trong QĐND Việt Nam”, Chỉ thị số 173-CT/ĐU ngày 3/7/2021 của Thường vụ Đảng ủy BĐBP; Kế hoạch số 3088/KH-BĐBP ngày 6/8/2021 của Bộ Tư lệnh BĐBP về “Tăng cường giáo dục chính trị, quản lý tư tưởng, bảo vệ nội bộ; chấn chỉnh, khắc phục tình trạng vi phạm kỷ luật, pháp luật và bảo đảm an toàn trong BĐBP”, tạo sự chuyển biến tích cực trong đơn vị về công tác “tự soi, tự sửa”, giáo dục chính trị tư tưởng, chấp hành pháp luật, kỷ luật và đảm bảo an toàn.

Đến nay, nội dung của NQTƯ 4 đã đi vào thực tiễn cuộc sống sinh hoạt, công tác của cán bộ, chiến sĩ BĐBP Thái Bình. Các cấp ủy, chỉ huy trong BĐBP Thái Bình luôn nêu cao tinh thần đấu tranh phê bình, tự phê bình, phát huy quy chế dân chủ ở cơ sở trong sinh hoạt, công tác; quan tâm, lắng nghe và giải quyết thấu đáo quyền lợi chính đáng của từng tập thể, cá nhân. Từ đó, mọi cán bộ, đảng viên luôn có lập trường, tư tưởng vững vàng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; toàn Đảng bộ không có biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ... Hằng năm, tỷ lệ hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của đảng viên trong các đơn vị luôn đạt gần tuyệt đối; chất lượng tổ chức Đảng được nâng lên.

Tình hình chấp hành pháp luật, kỷ luật và đảm bảo an toàn ở cơ quan, các đơn vị có nhiều chuyển biến tích cực; phát huy được sức mạnh tổng hợp của tập thể, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ “kép”, vừa quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới vùng biển của tỉnh, vừa phòng, chống dịch Covid-19 có hiệu quả; chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trong xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới biển của tỉnh, được cấp trên, địa phương ghi nhận và đánh giá cao. Nhiều tập thể, cá nhân thuộc Đảng bộ được Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Bộ Tư lệnh BĐBP và Tỉnh ủy Thái Bình khen thưởng, biểu dương...

Sinh hoạt “tự soi”, “tự sửa” là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng được Đảng ủy BĐBP Thái Bình lãnh đạo, triển khai trong 6 tháng đầu năm 2022. Sau khi có hướng dẫn của Cục Chính trị BĐBP, Đảng ủy BĐBP tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai nghiêm túc, kịp thời, với cách làm thiết thực, hiệu quả, Đảng ủy BĐBP tỉnh đã cử các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ trực tiếp dự, lắng nghe ý kiến “tự soi, tự sửa” của các chi bộ trực thuộc và Đảng ủy cơ sở, chi bộ cơ sở.

Các tổ chức Đảng không né tránh, thẳng thắn, đánh giá rõ các tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng Đảng, thực hiện nhiệm vụ. Việc nhận diện, đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, kiểm tra, giám sát đã trở thành việc làm thường xuyên, nghiêm túc trong các tổ chức Đảng, của các đảng viên, giúp ngăn ngừa các hành vi vi phạm, suy thoái. Nội dung kiểm điểm gắn đánh giá thực hiện các nhiệm vụ công tác chuyên môn với kiểm điểm, đánh giá về việc thực hiện NQTƯ 4 khóa XII và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị...

Bên cạnh đó, tại đợt sinh hoạt chính trị, rút kinh nghiệm công tác giáo dục chính trị, quản lý tư tưởng, bảo vệ nội bộ, khắc phục tình trạng vi phạm kỷ luật, Đảng ủy BĐBP tỉnh đã có nghị quyết lãnh đạo chuyên đề, kế hoạch thực hiện cụ thể; các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng ủy BĐBP Thái Bình, thủ trưởng Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã dự và chỉ đạo quán triệt các văn bản của trên; đồng thời lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, chiến sĩ.

Qua những hội nghị kiểm điểm và các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, với tinh thần dân chủ, thẳng thắn, chân tình, cởi mở, việc “tự kiểm điểm, tự soi, tự sửa” của các đối tượng thuộc diện kiểm điểm tại các đơn vị được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả, giúp cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp tự rà soát lại quá trình công tác, xem xét lại những hạn chế, khuyết điểm có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến trách nhiệm của bản thân, từ đó, xây dựng kế hoạch sửa chữa, khắc phục những sai phạm, hạn chế, khuyết điểm, phát huy những ưu điểm, kết quả tốt, góp phần xây dựng tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị đoàn kết, vững mạnh, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Trong thời gian tới, Đảng ủy BĐBP Thái Bình, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong BĐBP Thái Bình tập trung quán triệt quan điểm về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta đề ra trong các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương. Tiếp tục quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và các quy định, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị khóa XIII.

Cùng với đó, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao; cảnh giác, chủ động phòng, chống hiệu quả “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; thực hiện tốt việc dự báo, nắm, quản lý, định hướng và giải quyết tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, không để bị động, bất ngờ. Lãnh đạo duy trì thực hiện nghiêm các chế độ, nền nếp hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; làm tốt công tác quản lý tư tưởng, mọi biểu hiện xấu, tiêu cực về tư tưởng phải được phát hiện và phản ánh kịp thời.

Đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức Đảng, Ủy ban kiểm tra; xử lý kịp thời, nghiêm minh những vi phạm xảy ra. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng và Ủy ban kiểm tra trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”; duy trì nghiêm túc, chặt chẽ điều lệnh, các chế độ, quy định về quản lý bộ đội. Ngoài ra, duy trì thường xuyên chế độ, nền nếp sinh hoạt đối thoại dân chủ, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình. Duy trì tốt đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân-dân, cấp trên gần gũi, sâu sát cấp dưới, chống mọi biểu hiện gia trưởng, mất đoàn kết nội bộ.

"Giữ nước từ khi nước chưa nguy" theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

1.     

 Khi trình bày mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh, Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh những nhiệm vụ mới nổi lên cần giải quyết trong những năm tới là: "Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa"; đồng thời còn nhấn mạnh thêm: "có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển"[1].

Đây là một trong những điểm mới trong tư duy của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Thực tế cho thấy, dựng nước đi đôi với giữ nước là bài học xuyên suốt trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta, “dựng nước đi đôi với giữ nước”; “giữ nước từ khi nước chưa nguy” đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. Đó vừa là sản phẩm, vừa là động lực của sự nghiệp giữ nước, của công cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước suốt mấy nghìn năm lịch sử. Do đó, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” là một giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc, trở thành một tư tưởng chỉ đạo, triết lý và phương châm giữ nước của ông cha ta.

Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân ta phải liên tiếp đương đầu với các thế lực ngoại xâm có sức mạnh quân sự mạnh hơn ta rất nhiều, song với nghệ thuật giữ nước từ sớm, từ xa; bằng tinh thần đoàn kết và ý chí quật khởi của dân tộc, chúng ta đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, đem lại hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Nét đặc sắc của giá trị văn hóa giữ nước đó chính là xây dựng và phát triển đất nước, chăm lo đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh, gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, giữ yên lòng dân, ngăn ngừa, đẩy lùi các nhân tố dẫn đến nguy cơ chiến tranh, xung đột. Tướng Trần Quang Khải khi chỉ đạo quân dân Đại Việt chuẩn bị kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) đã thể hiện tư tưởng này qua câu thơ: “Thái bình tu trí lực/Vạn cổ thử giang san” (Thái bình nên gắng sức/Non nước vững nghìn thu). Giành lại nền độc lập dân tộc sau 10 năm gian lao kháng chiến, vua Lê Thái Tổ đã nêu cao tinh thần hòa hiếu, giữ đất nước thái bình, tránh xung đột, chiến tranh. Khi đi kinh lý vùng biên, vua Lê Thái Tổ đã thể hiện rõ tư tưởng đó của mình bằng bài thơ cho khắc trên vách núi đá Thác Bờ (Hòa Bình): “Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an” (Biên phòng cần có phương lược tốt, đất nước nên có kế lâu dài”. Cho đến lúc cuối đời, vua Lê Thái Tổ di chúc lại cho con cháu: “Lo giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Giữa thế kỷ XV, trước nhiệm vụ giữ nước còn rất nặng nề, vua Lê Thánh Tông đã nhắc nhở: “Phàm có nhà nước tất có võ bị” và ra chỉ dụ khuyên các tướng sĩ phải biết quý trọng gìn giữ, bảo vệ từng thước núi, tấc sông do cha ông để lại, năng luyện rèn sẵn sàng đối phó với giặc ngoài...

Điều đó cho thấy, "giữ nước từ lúc nước chưa nguy" là tư tưởng chiến lược, đã trở thành một quy luật trong sự nghiệp giữ nước của dân tộc ta. “Giữ nước từ khi nước chưa nguy” là thực hiện nhiệm vụ giữ nước trong điều kiện đất nước dựng xây hòa bình, không phải khi có chiến tranh thì mới nói đến giữ nước. Nhiệm vụ giữ nước luôn gắn liền với nhiệm vụ xây dựng và được thực hiện ngay trong quá trình xây dựng đất nước. Trong điều kiện kinh tế phát triển, xã hội ổn định, đất nước thái bình đã phải chú trọng và thực tốt nhiệm vụ giữ nước. Đồng thời cần thấy rằng, hiện nay chúng ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền đất nước gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng. Đó là sự kế thừa, phát triển và nâng lên tầm cao mới tư tưởng giữ nước của ông cha ta trong điều kiện lịch sử mới.

Không thể nói rằng, ngày nay chúng ta bảo vệ Tổ quốc là chỉ bảo vệ đất nước, chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, không cần phải gắn với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng. Đó là quan điểm sai trái và phản khoa học. Mọi sự tách rời, đối lập các mặt, các nội dung trên đều là sai lầm, không đúng với bản chất của tư tưởng và phương cách giữ nước trong giai đoạn hiện nay, càng không đúng với thực chất bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới, vì vậy cần phải được đấu tranh, phản bác.

Trong bối cảnh tình hình an ninh, chính trị, kinh tế thế giới có nhiều biến động lớn, nhanh chóng và phức tạp, nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống trở thành những thách thức lớn trên quy mô toàn cầu. Đại dịch Covid-19 kéo dài, diễn biến phức tạp làm đảo lộn, suy thoái nghiêm trọng kinh tế thế giới; khu vực Đông Nam Á là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn, tiềm ẩn nhiều bất ổn, tranh chấp chủ quyền, biển, đảo căng thẳng, phức tạp; đất nước đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra.

Để chủ động đối phó với những nguy cơ, thách thức mới, Đảng ta xác định: Phải xây dựng đất nước hùng cường “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”. Trong đó xây dựng các tiềm lực kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc ngay trong thời bình.

“Giữ nước từ khi nước chưa nguy” là nhấn mạnh một bài học lịch sử, một giá trị văn hóa giữ nước đặc sắc của dân tộc ta, là sự tiếp nối và phát huy giá trị đó, nâng lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng và sự phát triển của dân tộc trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Từ đó "phải chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo tình hình, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường; xử lý đúng đắn, linh hoạt, hiệu quả các mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng, đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại; khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc"[2].

Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Xác định nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Có kế sách ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.

Thế hệ chúng ta hôm nay, được sống trong điều kiện đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, cuộc sống của nhân dân ngày một ấm no, hạnh phúc, đó là thành quả của cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Bác Hồ kính yêu; là công sức, máu xương của hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống vì nền tự do, độc lập. Chúng ta càng tự hào về đất nước, dân tộc Việt Nam anh hùng, về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, mỗi chúng ta cần phải nêu cao tinh thần trách nhiệm của một công dân trước Tổ quốc thân yêu và những người đã ngã xuống cho quê hương, đất nước, cho nền tự do, độc lập. Chúng ta càng vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, và con đường đi lên của dân tộc, vào thành công của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới; mỗi chúng ta cần ra sức học tập, nghiên cứu, lao động sản xuất, ứng dụng khoa học, công nghệ, làm ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội, để có điều kiện xây dựng đất nước hùng cường, sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới, như mong muốn của Bác Hồ kính yêu. 

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh chống lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch trên địa bàn biên giới

1.      

Trong những năm tới, tình hình lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch tiếp tục diễn biến phức tạp, với phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi, thâm độc hơn. Địa bàn các tỉnh biên giới Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ vẫn là trọng điểm mà chúng tập trung chống phá. Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh, đòi hỏi các đơn vị BĐBP cần tập trung thực hiện hiệu quả một số biện pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, quán triệt sâu sắc, đầy đủ, cụ thể hóa và triển khai thực hiện đúng quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, chủ trương của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ở KVBG nâng cao nhận thức, hiểu biết về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhất là chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; tuyên truyền, giáo dục cho quần chúng nhân dân ở KVBG hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam, để đồng bào đề cao cảnh giác, không nghe theo kẻ xấu, không bị lợi dụng, kích động, lôi kéo.

Thứ hai, tiếp tục phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các ban, ngành, lực lượng và địa phương xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo phương châm chân thành, rộng rãi, lâu dài, giữ vững ổn định chính trị - xã hội địa bàn KVBG; mở rộng và da dạng hóa các hình thức tập hợp Nhân dân, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tôn giáo. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào với kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và hành động kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo. Giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự ở KVBG, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia.

Thứ ba, tích cực, chủ động làm tốt công tác tham mưu và tham gia cùng các địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc, tôn giáo ở KVBG. Tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ làm công tác vận động quần chúng, cán bộ tăng cường xã, đảng viên đồn biên phòng tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn, bản và phụ trách hộ gia đình ở KVBG; nhân rộng và nâng cao hiệu quả các mô hình: “Con nuôi đồn biên phòng”,“Nâng bước em tới trường”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”, “Xuân biên phòng ấm lòng dân bản”…. Tham gia xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư; giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản sắc, truyền thống của các dân tộc, tôn giáo ở KVBG; đẩy mạnh thông tin tuyên truyền những giá trị văn hóa mới tiến bộ, phù hợp gắn với bài trừ hủ tục, tệ nạn xã hội, tạo thiết chế và không gian văn hóa phong phú, lành mạnh, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào các dân tộc, tôn giáo.

Thứ tư, tích cực tham gia xây dựng, củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở KVBG. Tham mưu cho cấp ủyỷ, chính quyền địa phương thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, đoàn thể; chú trọng nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo ở KVBG; thực hiện chính sách ưu tiên trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ người DTTS, cán bộ là người có đạo.

Tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa và triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của trên, nhất là Kết luận số 68-KL/TW ngày 05/02/2020 của Ban Bí Thư về chủ trương tăng thêm cán bộ đồn Biên phòng tham gia cấp ủy cấp huyện, xã biên giới, biển, đảo; phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ biên phòng tăng cường xã, đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt tại chi bộ thôn, bản và phụ trách hộ gia đình ở KVBG nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, phát triển địa phương và quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Thứ năm, chủ động nắm, đánh giá, dự báo sát, đúng tình hình, kịp thời phát hiện từ sớm, từ xa những vấn đề phức tạp có thể nảy sinh để có chủ trương, biện pháp phòng ngừa tích cực, hiệu quả; kịp thời xử lý, giải quyết dứt điểm các tình huống, vụ việc bức xúc có liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, không để bị động, bất ngờ, lan rộng, kéo dài, tạo thành các “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo ở KVBG. Xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật những kẻ cầm đầu, ngoan cố chống đối; kiên trì thuyết phục quần chúng nhẹ dạ, cả tin, bị dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo nghe theo kẻ xấu, giúp họ trở lại với cộng đồng, ổn định tư tưởng, cuộc sống; đối xử nhân văn, độ lượng, bình đẳng với những người lầm lỗi, có tinh thần ăn năn, hối cải, có thái độ thành thật sửa chữa.

Những năm tiếp theo, lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta tiếp tục được các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước quyết liệt thực hiện với âm mưu, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc, trong đó KVBG vẫn là địa bàn trọng điểm. Thực tiễn đó đặt ra cho BĐBP yêu cầu nhiệm vụ mới, nhiều khó khăn, phức tạp hơn, đòi hỏi phải làm tốt công tác nắm, đánh giá, dự báo sát, đúng tình hình có liên quan; tăng cường chỉ huy, chỉ đạo; tích cực, chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương; phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, lực lượng triển khai đồng bộ các biện pháp để phòng ngừa và đấu tranh thắng lợi.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp và thường xuyên là Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP; phát huy vai trò, trách nhiệm,những kinh nghiệm và biện pháp triển khai phù hợp trong thời gian qua, với tinh thần đổi mới, sáng tạo…, hoạt động của BĐBP tham gia thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước nói chung, đấu tranh chống âm mưu và thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch ở KVBG nói riêng chắc chắn sẽ thu được những kết quả to lớn hơn. 

Trong thời đại ngày nay, yêu nước phải gắn với yêu Đảng, yêu Chủ nghĩa xã hội

 

1.     

Lòng yêu nước luôn thường trực trong mỗi con dân đất Việt, nhất là mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy trước họa xâm lược của ngoại bang thì tinh thần ấy lại trỗi dậy, đoàn kết muôn người như một quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[1]. Nhưng trong thời đại ngày nay, với lòng yêu nước chung chung thì không thể giành được thắng lợi, mà yêu nước phải gắn với yêu Đảng, yêu CNXH như hai phần trên đã đề cập. Vậy làm thế nào để tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong thời đại ngày nay được gắn với yêu Đảng, yêu CNXH? Để thực hiện được điều đó cần tiến hành tổng thể nhiều nội dung, biện pháp.

Trước hết, Đảng phải không ngừng tự xây dựng, tự chỉnh đốn để thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức là văn minh”, được các tầng lớp nhân dân yêu mến, quý trọng, mãi mãi gọi là Đảng ta. Muốn vậy, Đảng cần giữ vững nền tảng tư tưởng của mình là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì ngày nay các thế lực có thâm thù với Đảng ta không ngừng bôi đen, xuyên tạc, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm cho Đảng ta mất phương hướng, mất vai trò lãnh đạo. Để lý luận nền tảng tư tưởng của Đảng mãi mãi xanh tươi cần không ngừng kế thừa, phát triển lý luận ấy trong điều kiện mới. Vì thế, các nhà macxit, nhất là những nhà lý luận macxit phải trả lời các câu hỏicái gì lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước đây đúng và ngày nay vẫn giữa nguyên giá trị? Cái gì đúng với thời các ông nhưng ngày nay do điều kiện thay đổi nên không còn phù hợp? Cái gì không đúng hoặc cần được bổ sung, phát triển? Có như vậy mới làm cho lý luận của các ông mang hơi thở của thời đại, làm nền tảng vững chắc cho Đảng ta.

Cùng với đó, tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với việc không ngừng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thực sự, thực chất và hiệu quả. Tiếp tục xây dựng các tổ chức đảng thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đẩy mạnh thực hiện công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đi vào chiều sâu, tạo sự đồng thuận trong xã hội,... Thông qua đó, củng cố niềm tin của các tầng lớp trong xã hội với Đảng, tạo được sự yêu mến, quý trọng của nhân dân đối với Đảng. Từ đó, nhân dân mới ra sức bảo vệ Đảng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, mỗi bước tiến của xã hội mới là một bước nâng cao đời sống của nhân dân. Nhân dân chỉ nhận rõ giá trị của xã hội mới khi mỗi sự phát triển của xã hội là đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện và nâng lên. Do vậy, mọi hoạt động của các cấp chính quyền từ Trung ương đến các địa phương đều hướng vào phục vụ nhân dân, vì nhân dân. Đồng thời tích cực xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng trong xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, phải “khiến cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu” như Nguyễn Trãi đã nói. Có như vậy mới củng cố được “thế trận lòng dân”, làm cho người dân không chỉ yêu mến mà còn quyết tâm bảo vệ và ra sức xây dựng xã hội mới XHCN.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về Đảng Cộng sản và về CNXH.Cùng với việc Đảng tự xây dựng, chỉnh đốn để thật sự trong sạch, vững mạnh và việc xây dựng xã hội mới phải thể hiện rõ tính ưu việt để các tầng lớp nhân dân tự nhận thấy mà tin yêu, quý trọng. Bởi “Hữu xạ tự nhiên hương”. Nhưng ngày nay, với sự chống phá quyết liệt của những kẻ cơ hội, của các thế lực thù địch, họ ra sức xuyên tạc, bôi nhọ về Đảng về chế độ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng, thì việc tăng cường tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về Đảng Cộng sản về CNXH là việc làm rất cần thiết. Trong tuyên truyền về Đảng về CNXH không tô hồng cũng không bôi đen, mà nói đúng sự thật, thực chất, nhằm tạo niềm tin của các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, đấu tranh, phê phán với các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch hòng hạ thấp uy tín của Đảng và bôi đen xã hội ta hiện nay.

Thứ tư, mấu chốt là xây dựng con người, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước thật sự liêm chính, “vừa hồng vừa chuyên”. Đây là vấn đề căn cốt, gốc của mọi vấn đề. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, Người nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”, để có cán bộ tốt, thì công tác cán bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Công tác cán bộ là một nhiệm vụ then chốt của các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị. Công tác cán bộ bao gồm nhiều khâu: lựa chọn, đào tạo, huấn luyện, đánh giá, sử dụng và chính sách cán bộ. Đó là các khâu liên hoàn, nếu làm không tốt bất cứ một khâu nào, đều ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ và thành quả cách mạng. Do đó, ngày nay vẫn tiếp tục trả lời cho được những vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra như: “Cần phải biết huấn luyện cán bộ” như thế nào? “Cần phải biết dạy cán bộ” ra sao? “Cần phải biết lựa chọn cán bộ” hay “Cần phải có chính sách cán bộ” sao cho đúng đắn, phù hợp..., để tạo ra đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên” ngang tầm nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Như vậy, trong thời đại ngày nay, yêu nước phải gắn với yêu Đảng, yêu CNXH, không có yêu nước chung chung, như một số người trương ra hòng lòe bịp, lợi dụng lòng “yêu nước” nhằm mục đích xấu, thực chất là tạo ra các véc-tơ lực ngược chiều nếu không nói là “Chọc gậy bánh xe” cản trở sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Và để yêu nước gắn với yêu Đảng, yêu CNXH cần tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp, gắn xây dựng với chống quan điểm sai trái, thù địch; gắn chống quan điểm sai trái, thù địch với xây dựng Đảng, xây dựng CNXH.

Phát huy vai trò của BĐBP trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo của các thế lực thù địch ở khu vực biên giới

1.     

Khu vực biên giới nước ta là “phên dậu” của Tổ quốc, có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đồng thời, là địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá cách mạng nước ta với âm mưu, phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Cụ thể là:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước ta; đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái pháp luật, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nhằm kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương.

Đáng chú ý, chúng tập trung kích động người dân đòi hỏi yêu sách phi lý, lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật…Nổi lên ở khu vực biên giới (KVBG) các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Nghệ An, Điện Biên, Lai Châu và một số tỉnh Tây Nguyên. Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chính trị, an ninh, trật tự.

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, nhằm hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức “tôn giáo riêng” cho người DTTS, như “Tin lành của người Mông” để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; “Phật giáo Nam Tông Khmer” để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... Thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá cách mạng nước ta.

Điển hình như vụ kích động, lôi kéo đồng bào Mông tham gia tụ tập đông người đòi thành lập cái gọi “Nhà nước Mông” tại KVBG tỉnh Điện năm 2011.Gần đây, một số tổ chức phản động ở nước ngoài đã câu kết với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động chống phá.

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và người dân biểu tình, phá rối an ninh, trật tự, tạo cớ can thiệp từ bên ngoài. Chúng còn tổ chức đào tạo, dụ dỗ, mua chuộc các chức sắc tôn giáo có tư tưởng cực đoan để kích động, lôi kéo giáo dân tham gia các hoạt động chống đối chính quyền trong giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương; coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Điển hình là vụ gây rối do các Linh mục phản động kích động giáo dân tại Nghệ An, Hà Tĩnh và một số địa phương khác tham gia.

Bốn là, triệt để lợi dụng các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước phương Tây để tác động quốc hội, nghị viện sở tại thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo… xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam nói chung, ở KVBG nói riêng; vu cáo Nhà nước ta vi phạm nhân quyền, đàn áp và phân biệt đối xử với tôn giáo. Bên cạnh đó, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa về Việt Nam để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động chống phá. Chúng còn móc nối với số đối tượng cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở các địa phương để tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật trên các diễn đàn, mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta trên trường quốc tế. Mượn danh các tổ chức từ thiện, nghiên cứu văn hóa, dân tộc học, môi trường, đầu tư kinh doanh…, các đối tượng đi đến từng bản, làng, buôn, ấp, nhà dân, tiếp cận những già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo để lôi kéo, kích động, truyền bá tư tưởng phản động, gây mâu thuẫn, chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn giáo, đoàn kết với cấp ủy, chính quyền địa phương, gây mất ổn định địa bàn.

Trước tình hình đó, các đơn vị BĐBP đã tích cực, chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng triển khai nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ, phù hợp phòng, chống hoạt động của các thế lực thù địch. Kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định tình hình an ninh, trật tự địa bàn KVBG; tích cực tham gia thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, bảo đảm quyền bình đẳng, tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; tham mưu và trực tiếp xử lý nghiêm hành vi lợi dụng tôn giáo, vi phạm pháp luật của các đối tượng cầm đầu, cốt cán; tranh thủ sự ủng hộ đông đảo đồng bào các dân tộc, tôn giáo.

Các đơn vị BĐBP đã chủ động phối hợp với các ngành, lực lượng và địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân ở KVBG, kết hợp chặt chẽ tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền đặc biệt, tấn công chính trị, góp phần thiết thực nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản bác luận điệu, thông tin sai trái, xuyên tạc, vu cáo; hướng dẫn và tổ chức cho Nhân dân kỹ năng tự đề kháng, biết đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, thù địch; củng cố và tăng cường đoàn kết dân tộc, tôn giáo, niềm tin vào Đảng, chính quyền, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ biên giới quốc gia