Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

Tự hào ngày tế độc lập của dân tộc


 78 năm đi qua nhưng tin chắc rằng những cảm xúc về ngày Tết Độc lập vẫn sẽ vẹn nguyên trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam. Niềm tự hào về ngày Quốc khánh của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác chính là dòng cảm xúc bất tận, là tài sản tinh thần vô giá làm nên quyết tâm, ý chí vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoàn thành mọi nhiệm vụ. Mỗi mùa thu về, trong mỗi chúng ta lại thấy rạo rực, bồi hồi nhớ về thời khắc lịch sử năm ấy.

78 năm trước, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, người dân Việt Nam lần đầu tiên biết đến quyền và nghĩa vụ công dân. Giá trị của độc lập, tự do được đánh đổi bằng trí tuệ, mồ hôi, xương máu bao thế hệ đồng bào, chiến sĩ. Giá trị ấy tiếp tục được bảo vệ, giữ gìn, phát triển qua các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. 

Cụm từ “Tết Độc lập" được dành riêng cho Tết Bính Tuất 1946 - một cái Tết Nguyên đán cổ truyền đầu tiên ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công. Kể từ ngày đó, Tết Độc lập được nhân dân ta sử dụng trong dịp mừng Quốc khánh hằng năm. Đối với người dân Việt Nam, Ngày Quốc khánh 2-9 còn mang ý nghĩa và giá trị lớn hơn cả Tết Nguyên đán, bởi đó là ngày ghi nhận sự kiện một nước Việt Nam mới ra đời. Từ đêm trường nô lệ, lần đầu tiên trong đời, mọi người dân Việt Nam nhận thấy tất thảy giá trị làm người, quyền và nghĩa vụ công dân thiêng liêng, cao cả của mình. 

Ngày Quốc khánh - Tết Độc lập, mỗi người dân Việt Nam đều có quyền tự hào về thành quả cách mạng, tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, dân tộc anh hùng. Lá Quốc kỳ là biểu tượng thiêng liêng cao cả của đất nước, ngày lễ, tết, nhất là ngày Tết Độc lập tung bay khắp góc phố, đường làng ngõ xóm, ngoài hải đảo xa xôi, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nghi lễ chào cờ và hát Quốc ca trên Quảng trường Ba Đình được duy trì hằng ngày, được cử hành nghiêm trang với sự chứng kiến của rất nhiều người dân Thủ đô. Vào ngày 2-9 hằng năm, lễ chào cờ, hát Quốc ca ở trung tâm Thủ đô như thiêng liêng hơn, với sự chứng kiến của đông đảo người dân, đánh dấu hơn bảy thập niên Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Không chỉ vậy, vào ngày đặc biệt này, khắp nơi trên đất nước diễn ra nhiều hoạt động vui Tết, trong đó có các lễ hội của đồng bào vùng sâu, vùng xa.. Niềm vui của Ngày Quốc khánh - Tết Độc lập hiện diện từ ánh mắt, nụ cười, gương mặt của bao thế hệ người Việt Nam suốt hơn bảy thập niên qua. Bởi ai cũng hiểu rằng, ngày Tết đặc biệt ấy là thành quả cách mạng vĩ đại do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là hạnh phúc của người dân Việt Nam. Vậy nên, bổn phận của mỗi người dân là làm cho niềm hạnh phúc ấy ngày càng lan tỏa và trở thành một động lực, niềm tin nâng bước chúng ta vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

 

 

Hiểu đúng quyền “tự do ngôn luận, tự do báo chí”

 


Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.

Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.

Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.

Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

 

Uy tín và vị thế của Việt Nam ngày càng cao trên trường quốc tế

  Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, năm 2022, nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 37 thế giới và theo nhận định của Quỹ Tiền tệ quốc tế, năm 2023, nước ta sẽ là quốc gia có quy mô kinh tế lớn thứ 35 thế giới.

Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao; khi Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có quan hệ ngoại giao với 192 nước thuộc tất cả các châu lục. Việt Nam còn đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021.

Đặc biệt, việc Việt Nam trong hơn 9 năm qua đã cử các đội hình đơn vị tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc còn mang ý nghĩa chính trị quan trọng, không chỉ khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, mà còn góp phần thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề an ninh, bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Từ tháng 6/2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đi thực hiện sứ mệnh cao cả này theo hai hình thức cá nhân và đơn vị tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và Trụ sở Liên Hợp Quốc. Các lực lượng của Việt Nam đã, đang hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Liên Hợp Quốc cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Vui và tự hào nữa là theo xếp hạng của hãng US News & World Report - một công ty uy tín của Mỹ, về những đất nước hùng mạnh nhất thế giới năm 2022, Việt Nam xếp thứ 30 với GDP đạt 363 tỷ USD, dân số vượt 98,2 triệu dân.

Vừa qua, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì đà phục hồi mạnh mẽ bất chấp tình trạng bất định toàn cầu gia tăng liên quan đến xung đột giữa Nga - Ukraine, giá cả hàng hóa thế giới tăng cao và sự gián đoạn chuỗi cung ứng do đại dịch Covid-19.

Thấm thoắt 78 năm kể từ mùa thu ấy, đất nước ta đang tiếp tục vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự thống nhất, mối liên hệ mật thiết giữa mục tiêu và lợi ích của Đảng với mục tiêu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân làm sứ mệnh là cội nguồn sức mạnh. Công cuộc Đổi mới sáng tạo, đưa Việt Nam tiến vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" với nhiều thời cơ thuận lợi và đã giành được nhiều thành tựu, đặc biệt là trên mặt trận kinh tế./.

 

 

“Phi chính trị hóa quân đội”

“Phi chính trị hóa quân đội”

Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Đó là một trong những nội dung quan trọng mà các thế lực thù địch nhắm vào các nước xã hội chủ nghĩa. Xu hướng đòi “phi chính trị hóa” Quân đội ban đầu xuất hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa, trước tiên là Liên Xô, Đông Âu, sau đó lan sang cả Việt Nam. Luận điệu chủ yếu mà các thế lực thù địch thường đưa ra là: “Quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị, không chịu sự lãnh đạo, chi phối của bất cứ chính đảng, lực lượng chính trị nào”, hay “Quân đội do nhà nước nuôi dưỡng nên chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng đảng phái nào”(1).

Gần đây, khi Đảng ta đưa ra chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, quy kết Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng “quân đội hiện đại”, “quân đội nhà nghề”. Từ đó, các thế lực thù địch cho rằng “không có quân đội nhà nghề nào lại do một đảng chính trị lãnh đạo”; cho nên “cần phải tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của đảng”(2). Đây là những luận điệu rất nguy hiểm, không thể coi thường, xem nhẹ.

Trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Thực chất, “phi chính trị hóa” Quân đội là thủ đoạn cực kỳ nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, tách rời Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước ta”(3).

Sở dĩ Tổng Bí thư coi đây là “thủ đoạn cực kỳ nhan hiểm” bởi các thế lực thù địch đã thực hiện thành công âm mưu này ở Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội ở Liên Xô, các thế lực thù địch đã sớm cài cắm các phần tử phản động vào các cơ quan của Đảng Cộng sản khiến cho từ năm 1987, Liên Xô bắt đầu thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội.

Đầu tiên là việc Đảng Cộng sản Liên Xô tự xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội. Chỉ trong khoảng 2 năm (1987-1989), gần 50% cán bộ chiến lược của quân đội, 30% tướng lĩnh bị sa thải hoặc tự ý rời bỏ hàng ngũ. Hơn 100 cán bộ chính trị cấp chiến dịch, chiến lược bị cách chức với lý do “không ủng hộ cải tổ”. Năm 1990, Đại hội bất thường của Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp tục “tự trói tay mình” với việc từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội đã ghi trong Hiến pháp, chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Chỉ đợi có thế, tháng 7/1991, Tổng thống Liên bang Nga ra sắc lệnh “phi đảng hóa” và cấm các đảng chính trị hoạt động trong các cơ quan nhà nước. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô ra lệnh buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng... Bi kịch “phi chính trị hóa” xảy ra đã khiến quân đội Xô Viết - một quân đội hùng mạnh từng đánh bại chủ nghĩa phát xít, với gần 4 triệu quân thường trực, vũ khí trang bị rất hiện đại bỗng chốc mất phương hướng chiến đấu dẫn đến “thảm họa chính trị” tất yếu vào năm 1991.

Trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, nhiều lần Tổng Bí thư nhắc lại sự kiện này như một lời cảnh tỉnh đối với chúng ta trong việc không được coi thường, xem nhẹ âm mưu “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch: “Bài học từ Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay vẫn còn nguyên giá trị với chúng ta”; hay “Bài học đắt giá về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu cho đến nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị”(4). Đây chính là điểm nhấn quan trọng trong cuốn sách và đây cũng chính là quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư trong việc kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội./.

 

 

Phòng, chống biểu hiện cơ hội chính trị trong tình hình hiện nay



Trong tình hình hiện nay phải đặc biệt quan tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tăng cường đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với hệ thống các giải pháp. Trước hết, tập trung vào một số giải pháp như: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị ở nước ta hiện nay. Phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong quản lý, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Phát huy dân chủ, sức mạnh tổng hợp đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị, nhất là biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng với lộ trình, bước đi, hình thức, phương pháp, giải pháp phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các khâu, các bước trong tuyển chọn, bố trí sử dụng, không để những phần tử cơ hội về chính trị chui sâu, leo cao phá hoại Đảng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử có biểu hiện cơ hội về chính trị. Thực hiện tốt công tác chính sách cho các đối tượng đúng quy định của pháp luật, kịp thời tôn vinh, động viên, đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.