Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người.

 Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (tháng 6-1993) khẳng định tính phổ quát của nhân quyền, nhưng luôn tôn trọng tính đặc thù về dân tộc, khu vực. Hiện nay, dựa vào những thành tựu hành động trong 30 năm qua, cần phải vượt qua những thách thức để tăng cường hợp tác và tôn trọng, hiểu biết sự khác biệt nhằm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia theo hướng ưu tiên thực thi các điều ước quốc tế và thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia nhằm tiếp tục thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người

Việt Nam tôn trọng, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy các định hướng chính của quyền con người - Ảnh: VNP

1. Nội dung, ý nghĩa của Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (Vienna Declaration and Programme of Action -VDPA) được thông qua dựa trên sự đồng thuận của đại diện 171 quốc gia tại Hội nghị thế giới lần hai về nhân quyền ngày 25-6 -1993 tại Viên (Áo). Trong Lời mở đầu, Tuyên bố khẳng định: Việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người (hay nhân quyền) là một vấn đề ưu tiên đối với cộng đồng quốc tế; hội nghị này là cơ hội đặc biệt để tiến hành phân tích toàn diện cơ chế và bộ máy quốc tế bảo vệ quyền con người, nhằm nâng cao và thúc đẩy việc tuân thủ đầy đủ hơn các quyền một cách thực sự và tương xứng với tầm quan trọng của chúng. 

Thứ nhất, những nội dung cốt lõi của Tuyên bố

a) Tính phổ quát của nhân quyền, mặc dù phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực: Lời mở đầu nhấn mạnh rằng, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948), cần phải đạt được chuẩn mực chung đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia và là cơ sở để Liên hợp quốc thúc đẩy việc xây dựng các quy chuẩn trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, nhất là trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966). Trong khi phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực cũng như bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, đều phải có nghĩa vụ thúc đẩy, bảo vệ tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người.

b) Nhân quyền không thể chia cắt, phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau: Tuyên bố nhấn mạnh rằng tất cả các quyền con người là bình đẳng về tầm quan trọng và phải theo đuổi mục tiêu chấm dứt sự chia cắt định lượng giữa các quyền dân sự - chính trị và các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa đã được thiết lập trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

c) Đói nghèo và quyền con người: Tuyên bố chỉ rõ mối liên hệ trực tiếp giữa đói nghèo và tôn trọng nhân quyền. Nạn nghèo đói cùng cực và việc bị gạt ra ngoài lề của xã hội cấu thành sự vi phạm nhân phẩm con người. Điều cốt yếu đối với các quốc gia là khuyến khích sự tham gia của những người nghèo nhất vào quá trình hoạch định chính sách ở cộng đồng nơi họ sống và nỗ lực đấu tranh chống nạn nghèo đói cùng cực.

d) Dân chủ, phát triển và nhân quyền: Phần I, Điều 8 Tuyên bố khẳng định dân chủ, sự phát triển và việc tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người phụ thuộc lẫn nhau và bổ sung cho nhau. Dân chủ phải được xây dựng trên nền tảng ý chí được bày tỏ một cách tự do của nhân dân khi lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa cho nước mình, dựa trên sự tham gia đầy đủ của nhân dân vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

đ) Quyền phát triển: Các quốc gia cần hợp tác với nhau trong việc bảo đảm sự phát triển và xóa bỏ những trở ngại cho sự phát triển. Để bảo đảm sự tiến bộ bền vững đòi hỏi phải có những chính sách phát triển có hiệu quả ở cấp độ quốc gia, cũng như những quan hệ kinh tế công bằng và một môi trường kinh tế thuận lợi ở cấp độ quốc tế trong việc thực hiện quyền được phát triển.

e) Thách thức đối với nhân quyền: Đó là việc thải trái phép các chất độc hại, nguy hiểm và rác thải là mối đe dọa nghiêm trọng, tiềm tàng đối với quyền được sống và quyền về sức khỏe của tất cả mọi người; hay một số thành tựu khoa học, nhất là trong y sinh và nhân sinh cũng như trong công nghệ thông tin có thể gây tác động tiêu cực đối với tính chính trực, nhân phẩm, các quyền con người. Các hành động, biện pháp và âm mưu khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của nó, cũng như mối liên hệ của nó với hoạt động buôn lậu ma túy ở một số nước là nhằm phá hoại các quyền và tự do cơ bản của con người, đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia, làm mất ổn định các chính phủ hợp pháp. Từ đó, Tuyên bố kêu gọi cộng đồng quốc tế cần tiến hành các bước cần thiết để tăng cường sự hợp tác nhằm ngăn chặn và chống các thách thức này.  

Thứ hai, về ý nghĩa của Tuyên bố

Việc thông qua Tuyên bố cho phép làm mới lại cam kết của cộng đồng quốc tế sau Chiến tranh Lạnh để thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người; vạch ra một tầm nhìn mới cho hành động toàn cầu ủng hộ nhân quyền trong thế kỷ tiếp theo. Qua đó, Tuyên bố cung cấp cho cộng đồng quốc tế một khuôn khổ lập kế hoạch, đối thoại và hợp tác mới toàn diện để thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người với sự tham gia của các bên liên quan ở tất cả các cấp độ quốc tế, quốc gia và địa phương. Tuyên bố là cơ sở để thành lập Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền theo Nghị quyết 48/121 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (tháng 12-1993).  

2. Ba mươi năm hành động vì quyền con người trên thế giới và ở Việt Nam

Dựa vào Tuyên bố, từ năm 1993 đến nay, Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền đưa ra ý kiến độc lập và có thẩm quyền đối với các vấn đề về quyền con người trên thế giới; sẵn sàng can thiệp trong các tình huống khủng hoảng, hỗ trợ bảo vệ các quyền con người và giúp người dân tiến lại gần hơn với các quyền con người. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giám sát và đào tạo, Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền phối hợp với các định chế quốc tế, khu vực và các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã góp phần tích cực vào các cải cách luật pháp và chính sách để thúc đẩy nhân quyền.

Các thành tựu cơ bản có thể kể, như: các quyền con người là thiết yếu để duy trì một thế giới hòa bình, an ninh và phát triển; các tiêu chuẩn mới về quyền con người được dựa trên Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948) và việc áp dụng phổ quát các công cụ quốc tế về quyền con người đã được cải thiện đáng kể; các hình thức bảo vệ khác được luật quốc tế quy định hiện nay mở rộng ra đối với trẻ em, phụ nữ, nạn nhân bị tra tấn, người khuyết tật và các tổ chức khu vực. Trong trường hợp xảy ra vi phạm, các cá nhân có quyền khiếu nại đến các cơ quan được thành lập theo văn kiện quốc tế về nhân quyền; một khuôn khổ quốc tế được triển khai, như công nhận những khó khăn mà những người di cư và gia đình của họ, cũng như những người dân tại chỗ và dân tộc thiểu số phải đối mặt, đặc biệt là bảo đảm quyền không bị phân biệt đối xử;...

Với chủ trương sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển, Việt Nam đã tăng cường đối thoại, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, trên cơ sở bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết những đặc thù riêng của nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu mà Tuyên bố và Chương trình hành động Viên đề ra, trên cơ sở đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Việc Việt Nam liên tiếp trúng cử Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2001-2003 và Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc các nhiệm kỳ 2014-2016, 2023-2025 với số phiếu cao chính là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với các thành tựu trong công cuộc đổi mới toàn diện nói chung, chính sách, nỗ lực và kết quả tích cực đạt được về nhân quyền, trong đó có việc thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nói riêng.

Phương châm của Việt Nam trong 30 năm thực hiện Tuyên bố cũng như các điều ước quốc tế về nhân quyền là: “Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”(1).

Với những đóng góp vào Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về nhân quyền, nên mới đây, khi chúc mừng Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam đã cho đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam thể hiện những nỗ lực cụ thể trong việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và chính trị phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người(2). Thông qua việc thực hiện Tuyên bố này và các điều ước quốc tế khác về nhân quyền, Việt Nam đã đúc kết một số kinh nghiệm về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người: 

Thứ nhất, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy các định hướng chính của quyền con người. Đó là mối quan hệ đúng đắn giữa dân chủ, phát triển và nhân quyền, xóa đói giảm nghèo bền vững, phát triển bao trùm để không bỏ lại ai ở phía sau, theo phương châm: Tôn trọng và hiểu biết, đối thoại và hợp tác nhằm bảo đảm tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người.

Thứ hai, đa dạng hóa các cơ chế để bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền con người, nhất là quyền của các nhóm yếu thế, gồm: (a) Cơ chế mang tính nhà nước: nghị viện, hội đồng địa phương, các cơ quan hành pháp và tư pháp; (b) Cơ chế  mang tính xã hội: Các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp,... (c) Cơ chế thông qua gia đình và các thiết chế tự quản (hương ước, luật tục,...) để bảo đảm nhân quyền trong đời sống hằng ngày;...

Thứ ba, đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và tôn trọng, hiểu biết những đặc thù riêng của nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Trong quá trình đó, cần tăng cường thực hiện phương thức trong đối thoại có đấu tranh để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, nhân quyền; và ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi nước thành viên.

3. Tăng cường hợp tác và tôn trọng khác biệt để thúc đẩy quyền con người

Hiện nay, những thành tựu của cộng đồng quốc tế và Việt Nam trong việc thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nói riêng và các điều ước quốc tế về nhân quyền nói chung, đang vấp phải những thách thức rất gay gắt như: chiến tranh, xung đột, bạo lực, đói nghèo, bất bình đẳng và thiếu công bằng, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, các nguy cơ về an ninh lương thực, an ninh nguồn nước hay những hệ quả của đại dịch Covid -19, suy thoái kinh tế toàn cầu,...

Trước những thách thức trên, Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã bày tỏ lo ngại về tình trạng suy giảm của gắn kết và lòng tin xã hội; từ đó ông đề nghị cộng đồng quốc tế quan tâm hơn nữa đến bảo đảm quyền con người trong bối cảnh tác động của các vấn đề toàn cầu như di cư, biến đổi khí hậu, lạm dụng công nghệ, nạn tin giả,... Cao ủy Nhân quyền thì kêu gọi các nước giảm căng thẳng, tăng cường hợp tác đa khu vực và đoàn kết để xử lý những thách thức hiện nay(3).

Để đẩy mạnh thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người khác, Việt Nam đưa ra sáng kiến về việc Kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nhằm khẳng định lại những mục tiêu và giá trị to lớn, bao trùm của các tuyên ngôn và tuyên bố trên và cam kết chung của cộng đồng quốc tế vì toàn thể nhân loại(4). Để thực thi sáng kiến này, Việt Nam đã và đang triển khai một số phương hướng sau:

Một là, tăng cường hợp tác quốc tế và ưu tiên thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc gia

Từ kinh nghiệm của mình, cùng với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm chung về quyền con người, được thể hiện trên hai vấn đề: Tầm quan trọng không gì thay thế của nhân quyền đối với mỗi người, mỗi quốc gia - dân tộc, cộng đồng quốc tế và những giá trị phổ quát của quyền con người. Chính vì thế, phải tăng cường hợp tác trong tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người để có thể kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo của mỗi quốc gia và khu vực. Trong hợp tác quốc tế về quyền con người, xu thế chung là vừa hợp tác, vừa đấu tranh, để gìn giữ quan hệ tương tác thường xuyên và lợi ích đan xen trong một thế giới ngày càng đa dạng; trong đó không một nước nào có quyền áp đặt cách tiếp cận quyền con người theo mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác.

Khi tham gia thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam chủ động thực hiện những nghĩa vụ của một quốc gia thành viên của điều ước, kể cả cơ chế giám sát do điều ước quy định. Việt Nam hiện đã tham gia 08 công ước và 02 nghị định thư về quyền con người; đã và đang nội luật hóa nội dung của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập vào quá trình xây dựng, thực thi các văn bản pháp luật trong nước.

Để nội luật hóa, một mặt, phải tuân thủ, tôn trọng các nguyên tắc, chuẩn mực, thực hiện các cam kết quốc tế; mặt khác, cần xây dựng các quy phạm pháp luật bảo đảm quyền con người phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của đất nước. Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Khoản 1, Điều 6 quy định: Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp(5). Qua đó cho thấy, Việt Nam luôn tôn trọng và dành vị trí ưu tiên của các điều ước quốc tế về quyền con người mà mình đã ký kết trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Hai là, tôn trọng, hiểu biết sự khác biệt của nhau và chia sẻ trong hợp tác vì quyền con người trên thế giới

Do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, dẫn đến cách tiếp cận về quyền con người ở mỗi quốc gia, khu vực có sự khác nhau, vì vậy, cần có sự tôn trọng, hiểu biết và chia sẻ trong hợp tác vì quyền con người trên thế giới. Chẳng hạn:

Các nước phương Tây, chủ yếu là nhóm G7 và các nước thuộc khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ, đều thừa nhận tất cả các nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền các nhóm xã hội (quyền tập thể), nhưng họ thường theo đuổi việc chia cắt các quyền dân sự, chính trị với các nhóm quyền khác. Đối với Việt Nam và các nước đang phát triển khác, quan điểm nhất quán là tiếp cận một cách toàn diện, bình đẳng tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tập thể trong một tổng thể hài hòa không xem nhẹ hay đề cao bất cứ quyền nào, đúng như sự nhấn mạnh của Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về tính bình đẳng, không thể chia cắt, phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau của tất cả các quyền con người.

Đối với quyền dân tộc tự quyết, các nước đều thừa nhận nội dung đã quy định trong Điều 1 của hai Công ước về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966. Việt Nam chủ trương bảo vệ quyền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị thống nhất với bảo đảm quyền của tất cả người dân và của các nhóm (cộng đồng) xã hội; trong đó có các cộng đồng dân tộc thiểu số và tôn giáo. Do đó, không thể tách rời việc bảo đảm quyền của người dân và của các cộng đồng xã hội với quyền dân tộc tự quyết, hay ngược lại.

Về quan hệ giữa tự do cá nhân với việc bảo vệ cộng đồng, các nước phương Tây cho rằng, trong vấn đề quyền con người thì chủ quyền quốc gia là một chủ quyền hạn chế; thậm chí có quan điểm tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân đến mức cao hơn hoặc đối lập với quyền của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Về vấn đề này, Việt Nam chủ trương, quyền gắn liền với nghĩa vụ; quyền và nghĩa vụ cá nhân phải gắn liền và nằm trong quyền, nghĩa vụ của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa quyền cá nhân với quyền của cộng đồng, quốc gia - dân tộc thì quyền của cộng đồng, quốc gia - dân tộc được đề cao hơn.

Về tôn trọng, chia sẻ hiểu biết và cả bảo vệ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể ký kết các Điều ước quốc tế về quyền con người: Chẳng hạn đối với Việt Nam, trong nhiều năm qua, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, các thế lực cực đoan trong chính giới ở một số nước ở phương Tây, các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài... thông qua việc ra bản báo cáo phúc trình hằng năm về nhân quyền, thường xuyên vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam. Trong trường hợp có sự phản biện, phê phán như vậy, cơ quan giám sát của các điều ước quốc tế cần có sự tôn trọng, chia sẻ hiểu biết và cả bảo vệ một cách khách quan quyền, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên với tư cách là chủ thể ký kết các điều ước này. 

Ba là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền con người

Thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các quyền như: quyền thoát nghèo; quyền về sinh kế, việc làm, thu nhập; quyền sở hữu; quyền được chăm sóc y tế, sức khỏe; quyền được học tập, giáo dục; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa, trước hết là của các nhóm yếu thế trong xã hội.

Khuyến khích đa dạng hóa nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng trong xã hội, đặc biệt là cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về những thành tựu trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên các diễn đàn quốc tế.

Chủ động hợp tác quốc tế nhằm thực hiện các chính sách, pháp luật về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Tăng cường đối thoại, trao đổi, hợp tác để nâng cao sự hiểu biết, đồng thuận, từng bước thu hẹp bất đồng và sự khác biệt giữa Việt Nam với các đối tác trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ quan điểm, lập trường, pháp luật, lợi ích quốc gia - dân tộc về quyền con người của Việt Nam.

Phối hợp với các nước thành viên, tiếp tục thực hiện hiệu quả việc lồng ghép giới trong chiến lược về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050, phù hợp với mục tiêu cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại COP26 về đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, trong khuôn khổ “Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu” theo Quyết định số 888/2022/QĐ-TTg, ngày 25-7-2022 của Thủ tướng Chính phủ. Các phương hướng cụ thể gồm:

(1) Vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế về quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu được thể chế trong Hiến pháp năm 2013 là tối thượng; trong văn bản pháp luật nếu chưa có quy định hoặc quy định chưa phù hợp với pháp luật quốc tế thì ưu tiên bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với pháp luật quốc tế.

(2) Xác định nội dung vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế và thực hiện hợp tác với các nước thành viên Hội đồng Nhân quyền về quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm: (a) Tăng cường nhận thức của các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ; (b) Xây dựng, thực hiện thể chế trên cơ sở cách tiếp cận giới; (c) Bảo đảm nguồn lực thích đáng; (d) Bảo đảm môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa có tính đổi mới và cầu thị.

(3) Thực hiện việc thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua: (a) Đẩy mạnh chuyển đổi các chuẩn mực văn hóa - xã hội truyền thống sang hướng bình đẳng giới và bao trùm, chẳng hạn tuyên truyền  và thực hiện lồng ghép bình đẳng giới vào các khóa đào tạo, tập huấn cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung ương và địa phương. (b) Quyền tham chính bình đẳng của nữ giới cần được đưa vào tất cả các lĩnh vực, giai đoạn của chính sách cùng với việc xúc tiến xây dựng đạo luật thúc đẩy biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu phù hợp với yêu cầu về giới và sức khỏe. (c) Xây dựng, thực hiện cơ chế giải trình để bảo đảm thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu tại các cơ quan, tổ chức trong việc thúc đẩy thực hiện đại diện của phụ nữ trong công tác lãnh đạo và quản lý; có giải pháp đột phá khi hoạt động của cơ chế này chưa hiệu quả. (d) Cần xem xét một cách nghiêm túc các chính sách, biện pháp thực hiện trên thực tế đối với Luật Bình đẳng giới, đặc biệt là về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng lý luận chính trị, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ.

(4) Tăng cường chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam với các đối tác quốc tế và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trước hết là các nước thành viên thuộc Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, về nỗ lực của Việt Nam trong quá trình thúc đẩy, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ khi ứng phó với biến đổi khí hậu.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 13-3-2023; Ngày bình duyệt: 20-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

 

(1) Tố Uyên - Văn Tuấn: Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang phát biểu tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, https://www.vietnamplus.vn/, ngày 27-2-2023.

(2) PV: Khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Việt Nam, https://www.xaydungdang.org.vn/, ngày 13-12-2022.

(3), (4) Hải Minh: Phương châm tham gia Hội đồng Nhân quyền của Việt Nam, https://baochinhphu.vn/,

ngày 27-2-2023.

(5) Xem: Luật Điều ước quốc tế năm 2016, https://thuvienphapluat.vn/

TIẾP TỤC KIÊN ĐỊNH, GIỮ VỮNG NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG

 Thành tựu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian vừa qua đã khẳng định sự đúng đắn, nhất quán trong chủ trương, quan điểm của Đảng, được dư luận trong và ngoài nước đánh giá cao. Tiếp tục kiên định, kiên trì nguyên tắc tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Có thể thấy thời gian qua, với việc tiếp tục thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII, nội dung Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, hoạt động tự phê bình và phê bình trong Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình; đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm tra, chú trọng gợi ý kiểm điểm đối với những tập thể, cá nhân có biểu hiện vi phạm”. Đại bộ phận các cấp ủy, đảng viên đã gương mẫu, nghiêm túc thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã dành thời gian thỏa đáng để kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý, coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình”. Nhờ đó, đã góp phần khắc phục các khuyết điểm tồn lại kéo dài, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện còn những hạn chế nhất định. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình chưa sâu sắc hoặc thiếu tự giác nhận khuyết điểm, trách nhiệm trong công việc; ở một số nơi nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình chưa được thực hiện nghiêm: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”. Việc thực hiện các nội dung, quy trình tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức đảng chưa thật sự nghiêm túc, ảnh hưởng đến chất lượng tự phê bình và phê bình. Một số cấp ủy chưa coi trọng và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện tự phê bình và phê bình; chưa nhìn nhận đúng khuyết điểm và trách nhiệm của mình trước những hạn chế, khuyết điểm của tập thể. Có tình trạng, tổ chức đảng, người có nhiều ưu điểm chưa được động viên khen thưởng thỏa đáng; trái lại, người có khuyết điểm nhưng vẫn được đánh giá là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được khen thưởng, đưa vào quy hoạch… Những điểm này ít nhiều đã làm hạn chế chất lượng, hiệu quả thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng.
Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng đang đòi hỏi từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Đây cũng là cơ sở để ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII, khóa XIII) gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ “để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ,…”.
Thấm nhuần bài học đắt giá của việc từ bỏ nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô gắn với yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng cần kiên định nguyên tắc tự phê bình và phê bình.
Để nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình trong Đảng hiện nay, trước hết cần tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tự phê bình và phê bình. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải đẩy mạnh giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình đối với công tác xây dựng Đảng; thường xuyên giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ sáng tạo của cán bộ, đảng viên tham gia xây dựng nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng bộ, chi bộ và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Mọi tổ chức đảng và đảng viên cần có thái độ đúng đắn, trách nhiệm trước khuyết điểm của mình và của người khác, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình để không dẫn đến vi phạm những khuyết điểm lớn hơn.
Đồng thời, các tổ chức đảng cần duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Theo đó, cần “thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hàng năm”; “cấp ủy chủ động gợi ý nội dung để đảng viên kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ trung ương đến cơ sở”. Tổ chức đảng, mọi đảng viên cần thực hiện tự phê bình và phê bình một cách thực chất; các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần chủ động xây dựng kế hoạch, duy trì, thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ tự phê bình và phê bình. Qua đó, ngăn ngừa, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong từng cán bộ, đảng viên hiện nay.
Bên cạnh đó, để phòng, chống các biểu hiện lệch lạc trong sinh hoạt Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng phải quán triệt rõ mục đích, ý nghĩa và nghiêm túc chỉ đạo, tổ chức thực hiện tự phê bình và phê bình theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đồng thời, từng cấp ủy viên phải coi trọng kiểm điểm ở cấp mình, trực tiếp dự, chỉ đạo, gợi ý kiểm điểm đối với tập thể, cá nhân thuộc quyền quản lý; coi trọng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình; khuyến khích đấu tranh với những quan điểm và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện thoái hóa, biến chất.
Đặc biệt, cần thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tự phê bình và phê bình; phát huy tính tích cực, chủ động tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Qua đó, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.

Báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 Báo chí là vũ khí sắc bén của Đảng, có đóng góp tích cực trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong những năm qua, “Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh, phát hiện tham nhũng, tiêu cực, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(1). Bài viết làm rõ những đóng góp của các cơ quan báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay.

 

Báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Họp Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức Giải báo chí toàn quốc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lần thứ ba năm 2022-2023 - Ảnh: baodantoc.vn

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc chiến đấu khổng lồ, là việc làm có ý nghĩa sống còn, “Đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào, thành xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận”(2), trong đó, sự tham gia của báo chí có vị trí quan trọng, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc.

1. Tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là trách nhiệm của báo chí và người làm báo

Theo thống kê, đến nay, cả nước có gần 800 cơ quan báo chí, truyền thông, với trên 40 nghìn người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, trong đó có trên 20 nghìn người được cấp thẻ nhà báo(3).

Vai trò của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Điều 75 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định rất rõ trách nhiệm của các cơ quan báo chí và nhà báo trong việc phòng, chống tham nhũng như sau: “1. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đấu tranh chống tham nhũng, đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng.

2. Cơ quan báo chí, nhà báo có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin liên quan đến hành vi tham nhũng. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật về báo chí và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm phản ánh khách quan, trung thực và chấp hành các quy định khác của pháp luật về báo chí, quy tắc đạo đức nghề nghiệp khi đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng”.

Ngoài ra, Điều 13, 14 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 còn quy định cụ thể về việc họp báo, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; quyền yêu cầu cung cấp thông tin...

Những năm qua, báo chí đã cung cấp một lượng lớn thông tin về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên tất cả các loại hình báo chí, từ báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình... Nhiều bài phóng sự điều tra sau khi đăng tải, phát sóng đã tạo được tiếng vang lớn, được dư luận trong nước và quốc tế hoan nghênh, đánh giá cao. Các tuyến bài về chủ đề này đi sâu phân tích, nêu bài học kinh nghiệm, giải pháp, kiến nghị cơ quan chức năng áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo tham nhũng đã tạo những góc nhìn đa chiều về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Báo chí đặt ra và trả lời nhiều câu hỏi lớn mà dư luận quan tâm, như: nguyên nhân tham nhũng, tiêu cực; hậu quả; giải pháp phòng, chống..., từ đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

2. Báo chí tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Công tác thông tin tuyên truyền và vận động nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng đến việc hình thành, phát triển ý thức pháp luật cũng như việc tuân thủ pháp luật.

Hiện nay, báo chí có nhiều hình thức, cách thức tham gia công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng: (1) xuất bản các tác phẩm báo chí về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (2) đưa tin về những vụ việc tham nhũng, tiêu cực; (3) xuất bản các báo lý luận và thực tiễn về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (4) sản xuất, phát hành những phim ảnh có nội dung về phòng, chống tham nhũng; (5) đưa các thông tin về hội thảo khoa học, tọa đàm của các chuyên gia, nhà quản lý về công tác phòng, chống tham nhũng; 6) mở các chuyên mục giáo dục và đào tạo về phòng, chống tham nhũng trên báo chí, các cuộc thi tìm hiểu nội dung về phòng, chống tham nhũng; (7) đưa tin về xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật trong việc phòng, chống tham nhũng...

Các cơ quan báo chí đã tập trung tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng; các nội dung về xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện nghiêm quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, trọng liêm sỉ, danh dự; phê phán, lên án, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực. Tuyên truyền các nội dung liên quan đến việc hoàn thiện thể chế phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Tuyên truyền các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực; cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý...

Qua đó, báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tăng cường và có nhiều đổi mới; sự giám sát của các cơ quan dân cử; vai trò của Mặt trận Tổ quốc, của nhân dân và báo chí, truyền thông trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được phát huy tốt hơn”(4)...

Như vậy, báo chí có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các diễn đàn để nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình, phản ánh những ý kiến, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi những bất cập về chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Tất cả những phương thức, cách làm đó của báo chí là nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: “Sức mạnh và động lực to lớn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là sự đồng tình, ủng hộ, hưởng ứng, tham gia tích cực của nhân dân và cả hệ thống chính trị, báo chí”(5).

3. Báo chí, truyền thông tham gia phát hiện các vụ tham nhũng, tiêu cực

Tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện quy chế, chương trình phối hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền về nội chính và phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan: Ban Nội chính Trung ương, Báo Nhân Dân, Ðài Truyền hình Việt Nam, Ðài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam được tổ chức vào cuối năm 2021, đồng chí Phan Ðình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã nêu rõ: trong thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam đã có những bước đột phá rất quan trọng nhờ sự hoạt động tích cực của các báo nói chung cũng như sự phối hợp của các cơ quan báo chí nói riêng. Các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt vai trò xung kích, đi đầu trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền lợi của đất nước và nhân dân; là tai mắt của Ðảng, là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Các cơ quan báo chí đã đồng hành cùng nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng bằng nhiều hình thức, cách làm, trong đó đáng chú ý là: báo chí phát hiện nhiều vụ việc liên quan đến tham nhũng, sau khi nghiên cứu, thu thập thông tin, điều tra kỹ lưỡng, các cơ quan báo chí, truyền thông đưa tin, sau đó các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ sự việc.

Bằng biện pháp nghiệp vụ báo chí, các cơ quan báo chí sử dụng nhiều kênh thông tin để phát hiện những vụ việc tham nhũng, tiêu cực như: thông tin từ bạn đọc gửi đến các phóng viên, cơ quan báo chí; tiếp nhận những thông tin, phản ánh, tố giác của người dân; cơ quan báo chí điều tra, xác minh, chuyển các chứng cứ đến cơ quan công luận cũng như cơ quan tư pháp. Các cơ quan báo chí đã thực hiện các biện pháp điều tra đặc thù của nghiệp vụ báo chí phát hiện những dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực.

4. Báo chí tham gia giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Đánh giá vai trò của báo chí trong giám sát việc thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Các cơ quan thông tấn, báo chí đã tích cực vào cuộc, đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vừa tuyên truyền, vừa tích cực đấu tranh, phát hiện tham nhũng, tiêu cực, vừa tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”(6).

Cơ quan báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng; phối hợp với các cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; do đó, khi đưa tin, các cơ quan báo chí luôn bảo đảm tính chính xác, trung thực, khách quan cũng như thể hiện rõ trách nhiệm về những nội dung thông tin mà mình đã công bố. Báo chí cũng đã thể hiện rõ vai trò của mình trong việc tạo áp lực, tạo dư luận để các cơ quan, đơn vị chức năng thực hiện tốt nhiệm vụ từ điều tra, thanh tra, kiểm tra, giám sát, truy tố cũng như xét xử những hành vi tiêu cực, tham nhũng. Báo chí đã góp phần vào thực hiện nghiêm phương châm chỉ đạo: không có ngoại lệ, không có vùng cấm.

Báo chí, truyền thông đã phản ánh khách quan, đa chiều, công bằng về những vụ việc liên quan đến tham nhũng, thực hiện tốt sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng phải cổ vũ, động viên sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp” như Bác Hồ đã dạy”(7).

Để biểu dương, tôn vinh và khuyến khích, động viên các nhà báo, các cơ quan báo chí tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức nhiều giải báo chí phòng, chống tham nhũng, như Giải báo chí toàn quốc “Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, được tổ chức từ năm 2017 do Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp tổ chức. Đến nay, đã tổ chức thành công 3 mùa giải, mỗi mùa giải, đều có trên 2.000 tác phẩm tham dự. Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt và trách nhiệm của nhà báo trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

5. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của báo chí trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý đối với báo chí trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí”(8). Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Các cơ quan truyền thông cần đăng tin, bài định hướng đúng đắn dư luận xã hội để thấy rõ những kết quả tích cực của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, cũng như những hạn chế, yếu kém, những khó khăn, phức tạp; khẳng định rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng. Khắc phục tình trạng thông tin một chiều, thông tin không chính xác, mang tính kích động, gây hoang mang hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử. Bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo tích cực, dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng; xử lý nghiêm khắc việc đưa tin sai sự thật, vu cáo, bịa đặt, gây hậu quả xấu. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cơ quan chức năng phải chủ động cung cấp một cách kịp thời, đúng pháp luật cho các cơ quan báo chí những thông tin có liên quan đến tham nhũng”(9).

Xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ phóng viên, biên tập viên, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam. Đồng thời, kiên quyết “xử lý nghiêm theo quy định Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có cơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội”(10).

Thứ hai, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “tập trung đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền”(11). Báo chí khi thông tin cần phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thật, phản ánh đúng bản chất vấn đề. Khen ngợi, biểu dương cần đúng mực, không tô hồng, hoặc khi lên án, phê phán cũng không bôi đen.

Thứ ba, tiếp tục phát huy, cổ vũ, lan tỏa những mặt tích cực của báo chí, truyền thông trong đưa tin, bài về tham nhũng. Về vấn đề này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “tăng cường thông tin, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, hành vi tham nhũng, tiêu cực; bảo vệ, khen thưởng, động viên những người làm báo dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”(12).

Báo chí cần thực hiện tốt các nhiệm vụ: “chủ động, kịp thời cung cấp thông tin thiết yếu và tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, các thông tin về tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tệ nạn xã hội; biểu dương nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt”(13). “Kiên quyết đấu tranh loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(14).

Thực tế chứng minh “phòng, chống tiêu cực mà trọng tâm là phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, tức là trị tận gốc của tham nhũng”(15).

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh”(16). Báo chí có nhiệm vụ quan trọng là phản ánh trung thực dòng chảy chính của xã hội, lan tỏa năng lượng tích cực, các kinh nghiệm tốt, tạo đồng thuận và niềm tin xã hội, khơi dậy khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, tạo thành sức mạnh tinh thần để Việt Nam bứt phá vươn lên thành nước phát triển, thực hiện “Đôi cánh cho Việt Nam bay lên thì một bên là sức mạnh tinh thần, một bên là sức mạnh vật chất dựa trên công nghệ”.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023) 

Ngày nhận bài: 31-5-2023; Ngày bình duyệt: 17-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

(1), (2), (4), (5), (6), (7), (9), (12), (15) Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. 33, 13, 33, 21, 33, 40, 61, 50, 16.

(3) Báo cáo công tác báo chí năm 2020 và đánh giá khái quát giai đoạn 2016-2020, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2021, Tài liệu Hội Nhà báo Việt Nam.

(3) Thống kê internet Việt Nam 2020, https://vnetwork.vn/, ngày 19-2-2020.

(8), (10), (11), (13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.234, 234, 234, 142.

(14) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, Sđd, tr.146.

(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.465.

“KHÔNG QUÂN ĐỘI NÀO, KHÔNG KHÍ GIỚI NÀO CÓ THỂ ĐÁNH NGÃ ĐƯỢC TINH THẦN HY SINH CỦA TOÀN THỂ MỘT DÂN TỘC”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 77, ngày 29 tháng 10 năm 1945.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, núp bóng quân Anh, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, rồi đánh chiếm rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ và phần lớn Cam-pu-chia; khống chế vùng nông thôn rộng lớn ở Lào,... từng bước thực hiện dã tâm xâm lược Đông Dương lần thứ hai. Nền độc lập mà dân tộc ta mới giành lại được phải đương đầu với nhiều kẻ thù, bị uy hiếp từ nhiều phía. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi đồng bào Nam Bộ giữ vững tinh thần chiến đấu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc; trong đó Người tiếp tục khẳng định tinh thần chiến đấu anh dũng hy sinh của dân tộc ta là sức mạnh vô địch để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.



Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “Quyết tử, để Tổ quốc quyết sinh” là nhân tố bao trùm, tạo nên bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quả cảm của dân tộc Việt Nam, được hun đúc trong lịch sử và tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Những giá trị văn hóa ấy, không chỉ có sức mạnh tập hợp, đoàn kết trong suốt hai cuộc trường kỳ kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh mà còn lan xa, thấm đậm trong lòng bạn bè quốc tế, thức tỉnh lương tri nhân loại trên thế giới ủng hộ Việt Nam đánh bại mọi đế quốc, thực dân xâm lược và bè lũ tay sai, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và gặt hái được những thành tựu bước đầu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.


Ra đời vào thời điểm đầy gian khó của cách mạng Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân - phong kiến, Quân đội ta đã được Đảng và Bác Hồ thành lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện; từ 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ của ngày đầu thành lập, Quân đội ta đã không ngừng phát triển, trưởng thành, lập nên những chiến công chói lọi. Cán bộ, chiến sỹ đã hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai... Với truyền thống vẻ vang và những chiến công vang dội đó, Quân đội ta thật sự là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.


QĐND

Phát huy giá trị bộ bản đồ và tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay.

 Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đóng vai trò rất quan trọng trong đấu tranh khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Những tư liệu, bản đồ có tính xác thực lịch sử cụ thể và giá trị pháp lý cao đã thể hiện một cách minh định lịch sử khai phá, xác lập, quản lý và thực thi chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa qua các thời kỳ. Do đó, phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyền truyền là rất cần thiết, đặt trong bối cảnh công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là trên mặt trận thông tin - truyền thông.

 

Phát huy giá trị bộ bản đồ và tư liệu "Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý" trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay

Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: TTXVN

1. Tổng quan về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là hệ thống các bản đồ, tư liệu, hình ảnh đặc sắc, có giá trị lịch sử và pháp lý cao, thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu, kỹ lưỡng; được Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các bộ, ngành và các nhà khoa học, các nhà sưu tầm trong và ngoài nước tiến hành sưu tầm, thẩm định các tư liệu, bản đồ của Việt Nam, nước ngoài để xây dựng Bộ bản đồ và tư liệu này. Nguồn tư liệu và bản đồ có sự đóng góp rất lớn từ các đơn vị như Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, Ủy ban Nhân dân huyện Hoàng Sa... cùng một số tổ chức, cá nhân khác.

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” gồm các bản đồ, tư liệu, hình ảnh được sắp xếp thành các nhóm chính: Hoàng Sa, Trường Sa trong thư tịch cổ và bản đồ cổ Việt Nam; Bản đồ xuất bản tại phương Tây (thế kỷ XVI - XIX) ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Bản đồ Trung Quốc do phương Tây và Trung Quốc xuất bản (thế kỷ XVI - XX) xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc; Hoàng Sa, Trường Sa trong thời kỳ Pháp thuộc và cho đến trước năm 1975; Một số tư liệu, hình ảnh về biển, đảo và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” thể hiện qua các nội dung chính sau:

Trước hết, Bộ bản đồ và tư liệu đã cho thấy, Nhà nước Việt Nam là chủ thể duy nhất đã khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ XVII bằng con đường hòa bình, liên tục và không có tranh chấp đến năm 1909. Điều này đã được thể hiện qua các nguồn sử liệu phong phú như Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá soạn năm 1686; Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776; Hoàng Việt địa dư chí (1833); Đại Nam thực lục chính biên (1844 - 1848); Việt sử cương giám khảo lược (1876); Quốc triều chính biên toát yếu (1910)… Các tài liệu chính sử của Nhà nước Việt Nam như Đại Nam thực lục.

Đặc biệt, nội dung về các hoạt động quản lý và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn được phản ánh đậm nét và cụ thể trong các Châu bản triều Nguyễn. Đây là các văn bản hành chính chính thức của triều đình nhà Nguyễn, có dấu phê duyệt của Hoàng đế và ấn tín các cơ quan nhà nước nên mang tính pháp lý rất cao.

Thứ hai, Bộ bản đồ và tư liệu đã cho thấy chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định và ghi nhận tại các hội nghị quốc tế quan trọng mà không có bất kỳ sự phản đối nào từ các quốc gia tham dự.

Tại hội nghị San Francisco (từ ngày 4 đến 8-9-1951, với sự tham dự của 51 quốc gia), Trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng chính quyền Bảo Đại, ông Trần Văn Hữu đã tuyên bố: “...để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn thuộc về Việt Nam”(1) mà không gặp bất cứ sự phản đối hoặc bảo lưu quốc tế nào.

Theo diễn tiến lịch sử, từ Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943 và Tuyên ngôn Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cai-rô cho đến Hòa ước San Francisco (ký ngày 8-9-1951), các văn kiện pháp lý quốc tế nói trên đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Thứ ba, các tư liệu, bản đồ từ phương Tây đã mặc nhiên khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những thực thể địa lý thuộc lãnh thổ của Việt Nam; đồng thời, những bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc do phương Tây và chính Trung Quốc xuất bản đều xác nhận lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Tiêu biểu như bản đồ của anh em nhà Van Langren (người Hà Lan) vẽ năm 1595. Bản đồ vẽ khá chi tiết, hình vẽ Hoàng Sa rõ ràng và điển hình, ghi rõ I.de Pracel. Quần đảo Hoàng Sa cùng với dải bãi ngầm và bãi cát Hoàng Sa được phân biệt rõ ràng với các đảo Pulo S.polo (Cù Lao Chàm), Pulo Catam (Cù Lao Ré), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh)… ở ven bờ.

Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ, do Giám mục người Pháp Jean Louis Taberd vẽ và nằm trong phụ bản của cuốn sách Dictionarium latino-anamiticum (Từ điển Latinh - An Nam), được xuất bản tại Calcutta (Ấn Độ) năm 1838 có ghi dòng chữ Latinh: Paracel seu Cát Vàng, nghĩa là “Paracel hoặc là Cát Vàng” để chỉ quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam. Đặc biệt là bộ Atlas Universel do Philippe Vandermaelen (1795 - 1869), nhà địa lý học người Bỉ, người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ biên soạn, xuất bản tại Bruxelles (Bỉ) vào năm 1827(2). Tờ bản đồ Partie de la Cochinchine ở tập 2 khẳng định Paracels (quần đảo Hoàng Sa) là thuộc Việt Nam. Điều này cho thấy sự thống nhất giữa bản đồ quốc tế và Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhiều bản đồ Trung Quốc do phương Tây vẽ đều ghi nhận lãnh thổ cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam. Bản đồ Trung Quốc do các nhà nước Trung Quốc xuất bản và phát hành chính thức cũng đều thể hiện nhất quán như vậy. Đáng chú ý là bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (do nhà Thanh xuất bản năm 1904), thể hiện lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc chỉ giới hạn ở đảo Hải Nam. “Tấm bản đồ hơn trăm năm này không chỉ mang đến những thông tin lịch sử giá trị mà tự thân nó nói lên một thông điệp rằng, từ năm 1904, trong nhận thức của người Trung Quốc, cực nam đất nước của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Đồng nghĩa, đây là một bằng chứng tư liệu do chính Trung Quốc xuất bản khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc”(3).

Ngoài ra, Bộ bản đồ và tư liệu còn có các bản đồ Việt Nam từ thế kỷ XVI - XIX ghi nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tiêu biểu như Đại Nam nhất thống toàn đồ do vua Minh Mạng cho vẽ vào năm 1838, có thể hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa bằng chữ Hán. Bản đồ vẽ hình thế tỉnh Quảng Ngãi trong tập Nam Việt bản đồ, biên soạn vào thế kỷ XIX. Chú dẫn phía trên bản đồ này có miêu tả địa danh Bãi Cát Vàng bằng chữ Nôm, ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi.

Các tư liệu của phương Tây xuất bản từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, trong đó có những trang văn bản miêu tả về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như quá trình người Việt đến hai quần đảo này để khai thác hải sản, cắm mốc chủ quyền và thực thi chủ quyền. Tiêu biểu như sách Tableau de la Cochinchine do E. Cortambert và Léon de Rosny biên soạn, xuất bản tại Paris năm 1862, viết về vương quốc Cochinchine. Trang 7 liệt kê Paracel trong bảng miêu tả về Cochinchine và ghi rõ: “đối diện với Huế là quần đảo Paracels tức là Kat-vang (Cát Vàng)”, khẳng định Paracels (tức quần đảo Hoàng Sa) chắc chắn thuộc về Việt Nam.

Về thời kỳ Pháp thuộc và cho đến trước năm 1975, Bộ bản đồ và tư liệu có các hình ảnh về quá trình chiếm giữ và thực thi chủ quyền của chính quyền Việt Nam và chính quyền Pháp ở Đông Dương trong những năm 1936 - 1954. Đây là những tư liệu được Ủy ban Biên giới Quốc gia - Bộ Ngoại giao cung cấp và một số hình ảnh hiện đang được lưu trữ tại UBND huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng. Tiêu biểu như Nghị định số 4702-CP ngày 21-12-1933 của Thống đốc Nam Kỳ M.J. Krautheimer ký (Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa). Hình ảnh tấm bia khẳng định chủ quyền do một đơn vị lính bảo an người Việt dựng trên đảo Hoàng Sa vào tháng 6-1938. Trên bia có khắc dòng chữ: “République Francaise - Empire d’Annam - Archipels des Paracels 1816 - Ile de Pattle 1938” (Cộng hòa Pháp - Đế chế An Nam - Quần đảo Hoàng Sa 1816 - Đảo Hoàng Sa 1938).

Thời kỳ Việt Nam Cộng hòa có các công văn, phiếu trình, văn bản hành chính liên quan đến công tác quản lý, thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa như cử quân đội bảo an người Việt ra đóng giữ ở các đảo Hoàng Sa, Trường Sa; công văn và tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về việc vi phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Cùng với đó, Bộ bản đồ và tư liệu còn có những tài liệu, hình ảnh, thể hiện sự quan tâm, tình cảm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, quân đội, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài với những hành động thiết thực, chung sức bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Điều này đã khẳng định sự đoàn kết, quyết tâm, ý chí trước sau như một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc Việt Nam đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”

Trong những năm qua, Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đã được giới thiệu, thông tin, tuyên truyền rộng rãi trên cả nước; đồng thời giới thiệu đến đông đảo bà con người Việt ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Trong đó, “Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 63 tỉnh thành, phố trực thuộc Trung ương; 24 đơn vị lực lượng vũ trang, lực lượng kiểm ngư; 11 huyện, thành phố”(4).

Tính riêng trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “tổ chức triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 5 đại học, trường đại học trên toàn quốc”(5), thu hút sự tham gia tìm hiểu về biển, đảo đất nước ở giới trẻ, đặc biệt là sinh viên.

Để lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam gắn với biển, đảo đến bạn bè quốc tế, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 3 triển lãm ảnh, tư liệu với chủ đề “Việt Nam đất nước, con người - Nhìn từ biển, đảo” tại nước ngoài (Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Séc và Liên bang Nga), trong đó có những tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bên cạnh đó, để đổi mới, đa dạng hóa phương thức tuyên truyền qua ứng dụng công nghệ thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xây dựng nội dung triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”; từng bước nâng cấp công nghệ, chất lượng đồ họa, bổ sung tư liệu dựa trên cơ sở dữ liệu được số hóa nhằm thực hiện có hiệu quả việc thông tin, tuyên truyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông đến các đối tượng tuyên truyền ở mọi lúc, mọi nơi, thông qua mạng internet, thiết bị di động thông minh.

Giai đoạn 2015 - 2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức 61 cuộc triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn 21 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Trong năm 2019, Bộ Thông tin và Truyền thông đã “Tổ chức triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 28 trường trung học phổ thông trên địa bàn 10 tỉnh trên toàn quốc”(6).

Trên cơ sở dữ liệu của Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” được Bộ Thông tin và Truyền thông cung cấp, trao tặng (là bản sao chụp và phần mềm số của Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”), nhiều địa phương, đơn vị đã chủ động xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu đến đông đảo cán bộ, đảng viên, người lao động và nhân dân trên địa bàn.

Đơn cử như tại Khánh Hòa, “Giai đoạn 2017 - 2020, Sở Thông tin và Truyền thông đã tổ chức triển lãm lưu động và trưng bày tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa tại 7 huyện, thị xã, thành phố. Qua 7 đợt triển lãm (triển lãm kéo dài 3 ngày tại mỗi địa phương), đã đón tiếp 12.229 lượt người đến tham quan, tìm hiểu về triển lãm… Tổ chức 3 đợt triển lãm số “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” tại 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nha Trang, thu hút 4.750 giáo viên và học sinh tham dự”(7).

Nguồn tư liệu quý từ Bộ bản đồ và tư liệu đã được sử dụng trong các công trình nghiên cứu khoa học, xây dựng nội dung tuyên truyền về biển, đảo… góp phần không nhỏ nhằm lan tỏa giá trị Bộ bản đồ và tư liệu này đến mọi tầng lớp nhân dân những năm gần đây. Ngoài ra, những bản đồ, tư liệu quý này đã được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các nhà báo, phóng viên… lựa chọn, sử dụng trong các bài viết, nghiên cứu cũng như đấu tranh với những luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là trên không gian mạng, góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay.

Nhìn tổng thể, công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng:

Một là, Bộ bản đồ và tư liệu là những minh chứng sống động, xác đáng, giúp cho đông đảo nhân dân có một cái nhìn đầy đủ, trung thực về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ, phù hợp với các quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Hai là, Bộ bản đồ và tư liệu đã góp phần khẳng định lập trường chính nghĩa của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Qua đó khắc sâu ý thức về chủ quyền quốc gia trên biển đối với mỗi người dân Việt Nam; nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn dân trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Ba là, Bộ bản đồ và tư liệu đã giúp đồng bào ta ở nước ngoài cũng như bạn bè quốc tế có cách nhìn khách quan, trung thực về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Điều này góp phần gắn kết bà con kiều bào với nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo quê hương cũng như tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với lập trường, ứng xử và hành động của Việt Nam liên quan đến vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bốn là, những bằng chứng lịch sử và pháp lý mà Bộ bản đồ và tư liệu thể hiện là căn cứ vững chắc để Việt Nam đấu tranh bằng con đường ngoại giao, pháp lý, bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; đồng thời bác bỏ những yêu sách chủ quyền vô căn cứ từ phía Trung Quốc.

Bên cạnh đó, công tác thông tin, tuyên truyền giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” cũng có một số nội dung cần quan tâm:

Thứ nhất, bản sao chụp Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” đã được Bộ Thông tin và Truyền thông trao tặng cho nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị trên cả nước. Tuy nhiên, phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu vào hoạt động triển lãm, thông tin, tuyên truyền chưa có sự đồng nhất, mà còn tùy thuộc vào cách thức tổ chức và sự quan tâm của mỗi tổ chức, đơn vị.

Thứ hai, Bộ bản đồ và Tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” hiện có là những bản đồ, tư liệu đã được thẩm định nghiêm túc, kỹ lưỡng. Tuy nhiên hiện nay, trên thị trường và không gian mạng có rất nhiều tư liệu trôi nổi liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa chưa được kiểm chứng về giá trị và tính xác thực. Điều này ảnh hưởng không nhỏ về tính đồng nhất đối với những bản đồ, tư liệu thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ ba, nội dung bộ bản đồ và tư liệu trong những năm qua thường được tập trung trưng bày, giới thiệu tại các địa phương, đơn vị, các trường học, trường đại học… còn tại các diễn đàn học thuật, hội thảo khoa học các cấp chưa được chú trọng thông tin, tuyên truyền; mặc dù đây là kênh có thể phổ biến, lan tỏa những bằng chứng lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa đến công chúng cũng như giới học thuật.

Thứ tư, hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề Biển Đông, đặc biệt là lập trường, quan điểm về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa chưa được xây dựng thành một chủ đề riêng, trình bày đầy đủ và bao quát.

Thứ năm, công tác thông tin, tuyên truyền về giá trị Bộ bản đồ và tư liệu đối với đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế chưa được tổ chức nhiều để tạo sự lan tỏa mạnh mẽ về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông.

3. Một số giải pháp phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay

Hiện nay, các nước trong và ngoài khu vực đều có chiến lược tuyên truyền về bảo vệ các chính sách của mình tại biển Đông, phản bác yêu sách của các nước khác, làm dư luận hiểu không đúng bản chất vấn đề Biển Đông. Thực tế này đặt ra những yêu cầu mới về công tác thông tin, tuyên truyền về biển, đảo nói chung và phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” nói riêng, do đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền giá trị Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” một cách bài bản, chắc chắn ngay từ cấp cơ sở. Theo đó, tại mỗi đơn vị hành chính cấp xã, cần có một bản sao Bộ bản đồ và tư liệu, đồng thời bố trí không gian trưng bày phù hợp, tùy điều kiện mỗi địa phương. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về tuyên truyền biển, đảo cho cán bộ cấp cơ sở phụ trách công tác thông tin, tuyên truyền nhằm thông tin sâu rộng về giá trị Bộ bản đồ và tư liệu đến đông đảo nhân dân.

Về lâu dài, đây là điều cần thiết để những tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được đông đảo nhân dân dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từ đó, giúp mỗi người dân có được những kiến thức cơ bản về chủ quyền quốc gia trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đồng thời, những tư liệu sinh động từ Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là điều kiện cần thiết để mỗi người dân nhận thức sâu sắc hơn giá trị thiêng liêng về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đã được định hình xuyên suốt chiều dài lịch sử; từ đó bồi đắp ý chí, nuôi dưỡng quyết tâm đối với công cuộc đấu tranh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay.

Hai là, kịp thời chuẩn hóa tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong những năm qua, đặc biệt là khi Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 11-12-2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác sưu tầm, thẩm định, công bố, sử dụng các tài liệu, bản đồ, ấn phẩm và khen thưởng đối với các cá nhân, tổ chức đã sưu tầm và hiến tặng tài liệu liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt Nam được ban hành, công tác sưu tầm, thẩm định các tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã được tiến hành nghiêm túc, cẩn trọng, với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân, chuyên gia nghiên cứu về biển, đảo.

Trên cơ sở những kết quả sưu tầm, thẩm định, cần chuẩn hóa các tư liệu, bản đồ thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa cả về hình thức lẫn giá trị khoa học, pháp lý; đồng thời bổ sung vào Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” một cách đầy đủ, toàn diện.

Bên cạnh đó, nguồn tư liệu, bản đồ sau khi được chuẩn hóa cần được xây dựng thành cơ sở dữ liệu số một cách hệ thống và được cập nhật trên các trang thông tin của các cơ quan, tổ chức nhà nước có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, nghiên cứu, tuyên truyền về biển, đảo. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, tra cứu tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa một cách nhanh chóng, dễ dàng; tránh được việc viện dẫn, sử dụng tư liệu về Hoàng Sa, Trường Sa trôi nổi trên không gian mạng, chưa được kiểm chứng hoặc chứa yếu tố phản ánh sai lệch chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

Ba là, thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về Bộ bản đồ và tư liệu một cách khoa học, có trọng tâm, trọng điểm. Trong bối cảnh hiện nay, ngoài việc trưng bày, triển lãm Bộ bản đồ và tư liệu theo kế hoạch thường niên và các sự kiện quan trọng hằng năm của mỗi tổ chức, đơn vị; cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, giới thiệu Bộ bản đồ và tư liệu, đặc biệt là các tư liệu mới phát hiện, bổ sung… tại các diễn đàn học thuật. Đây là một kênh quan trọng giúp cho việc lan tỏa những bằng chứng lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đến giới nghiên cứu… từ đó thúc đẩy việc minh chứng, khẳng định chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông trên các diễn đàn, ấn phẩm khoa học.

Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tổ chức các đợt trưng bày, triển lãm Bộ bản đồ và tư liệu tại nước ngoài nhiều hơn, hướng đến đối tượng là bạn bè quốc tế và đồng bào ta ở nước ngoài. Trên cơ sở Bộ bản đồ và tư liệu hiện có, nên có sự lựa chọn những tư liệu, bản đồ, hình ảnh tiêu biểu của mỗi chủ đề; đồng thời biên dịch sang ngôn ngữ các nước có đông người Việt Nam đang sinh sống, công tác, học tập và lao động để xây dựng thành ấn phẩm thông tin phù hợp. Qua đó, mỗi người Việt ở nước ngoài đều có thể sử dụng, giới thiệu về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đến bạn bè quốc tế một cách thiết thực, hiệu quả.

Bốn là, bổ sung, hoàn thiện hệ thống tư liệu về chủ trương, quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông cũng như chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Đây là một nội dung rất quan trọng, cần được sắp xếp khoa học, hợp lý theo diễn tiến lịch sử, thể hiện lập trường nhất quán của Việt Nam đối với vấn đề chủ quyền trên Biển Đông. Đồng thời, quan điểm, chính sách và hành động của Việt Nam giai đoạn gần đây cần được khắc họa cụ thể, rõ nét nhằm thể hiện tính chính nghĩa, tôn trọng luật pháp quốc tế cũng như tinh thần hòa hiếu của Việt Nam trong giải quyết các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông.

Điều này góp phần thể hiện ý chí, quyết tâm trước sau như một của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc; qua đó vừa củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân với công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước trên Biển Đông, vừa lan tỏa tính hợp pháp, chính nghĩa, chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình của Việt Nam đến bạn bè quốc tế; tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đối với Việt Nam trong chính sách, lập trường, hành động và ứng xử đối với các vấn đề liên quan đến chủ quyền trên Biển Đông.

Bộ bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý” là bằng chứng xác đáng, đanh thép khẳng định chủ quyền hợp pháp, không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phát huy giá trị Bộ bản đồ và tư liệu trong công tác thông tin, tuyên truyền hiện nay là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, góp phần củng cố, nâng cao nhận thức của nhân dân về vấn đề chủ quyền biển, đảo đất nước; thể hiện chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông đến đông đảo bạn bè quốc tế; đồng thời đấu tranh, phản bác với những quan điểm xuyên tạc chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là cơ sở vững chắc nhằm góp phần thực hiện tốt công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 8-5-2023; Ngày bình duyệt: 23-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

(1) Bộ Ngoại giao, Ủy ban Biên giới quốc gia: Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2013, tr.42

(2) Bộ Atlas Universel do Philippe Vandermaelen (1795 - 1869) biên soạn, gồm 6 tập: Châu Âu (tập 1), Châu Á (tập 2), Bắc Mỹ (tập 3), Nam Mỹ (tập 4), Châu Phi (tập 5) và Châu Úc (tập 6).

(3) Mai Hồng - Lê Trọng: Hoàng Sa, Trường Sa là máu thịt Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2015, tr.57.

(4) Bộ Tài Nguyên và Môi trường: Thuyết minh Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030, Hà Nội, 2022, tr.15

(5) (6) Bộ Thông tin và truyền thông: Báo cáo số 12/BC-BTTTT ngày 13-3-2020, Báo cáo kết quả triển khai thực hiện Đề án tuyên truyền bảo vệ chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam năm 2019 theo Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 28-7-2018 của Thủ tướng Chính phủ, tr.2.

 

(7) Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Khánh Hòa: Báo cáo Kết quả thông tin, tuyên truyền chủ quyền biển, đảo, ngày 22-6-2022 (gửi Đoàn công tác Học viện Chính trị khu vực III).