Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

 

PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ ĐỜI SỐNG CÔNG GIÁO

Trong hai ngày 11 và 12/10/2023, tại Hà Nội, hơn 400 linh mục, tu sỹ và giáo dân tiêu biểu đã tham dự Đại hội đại biểu người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VIII. Vai trò, vị trí của tổ chức Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam trong xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được khẳng định. Đại hội được tổ chức một lần nữa khẳng định vị trí đồng bào các tôn giáo, trong đó có đạo Công giáo là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gắn bó, đoàn kết, đồng hành cùng dân tộc. Thực tiễn đó cũng là minh chứng sinh động phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đồng bào Công giáo đồng hành cùng dân tộc

Khi nói đến văn hóa của một dân tộc hay khu vực, không thể không nhắc đến bộ phận cấu thành là tôn giáo. Giá trị văn hóa của tôn giáo thể hiện ở niềm tin, các nguyên tắc đạo đức, các giá trị, những di sản hữu hình và vô hình. Quá trình hình thành, phát triển giáo lý, các nguyên tắc, giáo luật của tôn giáo dần ảnh hưởng, thẩm thấu đến nhận thức, tư tưởng, tâm lý và lối sống không chỉ của tín đồ mà còn ảnh hưởng tới nhiều mặt của xã hội.

Tôn giáo du nhập, hình thành ở Việt Nam từ rất sớm, được người dân đón nhận bởi những giá trị nhân bản mà tôn giáo mang lại phù hợp với đạo lý, văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt. Trải qua chiều dài lịch sử dân tộc, tôn giáo luôn gắn kết chặt chẽ, đồng hành cùng dân tộc, biểu hiện rõ nét nhất là các giá trị đạo đức, văn hóa. Điều đó đã được thể hiện qua các cuộc kháng chiến cứu quốc, nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân đã tham gia, ủng hộ kháng chiến. Tiêu biểu như linh mục Phạm Bá Trực, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; linh mục Hồ Ngọc Cẩn, Vũ Xuân Kỷ, Hồ Thành Biên, Đậu Quang Lĩnh, Nguyễn Thần Đồng, Nguyễn Thế Vịnh, Võ Thanh Trinh… Trong chống Mỹ cứu nước, hơn 5 vạn thanh niên Công giáo lên đường bảo vệ Tổ quốc, nhiều người trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang, dũng sĩ diệt Mỹ và biết bao tấm gương hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhiều bà mẹ Công giáo được phong tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng”.

Ngày nay, là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào Công giáo Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, với phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”, đồng bào Công giáo tiếp tục kề vai cùng nhân dân cả nước vượt qua khó khăn, thử thách, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao vị thế con người và đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Từ đường hướng “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980 và Huấn từ của Đức Giáo hoàng Benedict XVI: “Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”, người Công giáo đã chủ động tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phát động. Với nội dung thiết thực, nhất là lĩnh vực từ thiện xã hội và xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phong trào thi đua yêu nước đã góp phần tích cực vào chăm lo đời sống an sinh, phát triển kinh tế, kiến thiết hạ tầng…

Thời gian qua, cùng với các hoạt động tôn giáo, Công giáo Việt Nam đã tích cực tham gia các lĩnh vực y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo. Giáo hội Công giáo đẩy mạnh các hoạt động như thành lập các trường mẫu giáo, nhà trẻ; tổ chức lớp học tình thương, bổ túc văn hoá cho trẻ em cơ nhỡ, lang thang, trẻ em nghèo thất học, trẻ em khuyết tật; lập quỹ khuyến học hỗ trợ, động viên học sinh, sinh viên nghèo, trao học bổng cho học sinh; mở phòng khám nhân đạo, cơ sở nuôi dưỡng trẻ em nghèo, chăm sóc người già neo đơn, khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam, HIV-AIDS; làm đường liên thôn, bắc cầu và làm cây nước cho bà con nghèo vùng sâu; tham gia tích cực công tác đảm bảo an ninh, quốc phòng… Đó là những đóng góp quan trọng của bà con Công giáo trong công cuộc xây dựng, bảo vệ  và phát triển đất nước.

Hiện thực hoá quan điểm của Đảng và Nhà nước trong đảm bảo tự do tín ngưỡng tôn giáo

Từ khi Đảng ta lãnh đạo cách mạng đã luôn thực hiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp từng giai đoạn, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết các tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh đất nước vừa mới giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ quan điểm mang tính nguyên tắc trong chính sách tôn giáo của Việt Nam: “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố tín ngưỡng, tự do và lương-giáo đoàn kết”. Thể chế quan điểm đó, ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 234/SL, gồm 5 chương, 16 điều - văn bản pháp quy đầu tiên, quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo của người dân và trách nhiệm, nghĩa vụ của chức sắc tôn giáo và tín đồ về hoạt động tôn giáo tại Việt Nam.

Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Những quan điểm nhất quán này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, kể từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013. Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta khẳng định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và Hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận…”.

Những chủ trương và chính sách, pháp luật nêu trên đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề mà thực tiễn công tác tín ngưỡng, tôn giáo đòi hỏi như điều kiện để tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; điều kiện công nhận tổ chức tôn giáo; điều kiện thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo… Đồng thời quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh, huyện và cấp xã, phường, thị trấn trong việc giải quyết kiến nghị của cá nhân, tổ chức tôn giáo. Luật quy định rõ về thời hạn giải quyết, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, hạn chế sự nhũng nhiễu, chậm trễ, tắc trách của công chức trong việc thực thi công vụ, tạo hành lang pháp lý ổn định, thuận lợi cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Thực tế cũng cho thấy, chỉ tính trong 20 năm qua (2003-2023), số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự của các tôn giáo gia tăng đáng kể, phản ánh nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của người dân, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đến năm 2022, Nhà nước ta đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau với khoảng 27 triệu tín đồ, trên 53 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc, hơn 29 nghìn cơ sở thờ tự… Ngoài ra, hằng năm có hơn 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham gia. Trong 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm hecta đất để xây dựng cơ sở thờ tự như TP Hồ Chí Minh đã giao 7.500m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam xây dựng Viện thánh kinh thần học; tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; tỉnh Quảng trị giao thêm 15ha cho Giáo xứ La Vang…

Thành tựu về thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam nói chung và Công giáo nói riêng ngày càng sôi động đã củng cố niềm tin của chức sắc, tôn giáo và đồng bào có đạo với Đảng, Nhà nước ta, tăng cường khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, phát huy dân chủ ở cơ sở, tạo không khí phấn khởi tin tưởng trong các tầng lớp nhân dân nói chung và chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo nói riêng. Đại hội đại biểu toàn quốc Người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VIII đã phát huy trí tuệ tập thể, truyền thống đoàn kết dân tộc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, sống tốt đời, đẹp đạo, hòa nhịp với tiến trình hội nhập, phát triển của đất nước.

Bất chấp thực tiễn đó, các thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với số cơ hội, bất mãn, có tư tưởng định kiến để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo. Họ xuyên tạc quy định “việc đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung” trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là nhằm “kìm kẹp hoạt động tôn giáo”, lấy cớ vu cáo Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng lợi dụng những vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường, những tồn tại về công tác cán bộ, tình trạng tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Họ quy chụp hiện tượng thành bản chất, vi phạm của cá nhân thành “bản chất chế độ”, vu cáo Đảng, Nhà nước phân biệt lương giáo.

Nhiều tổ chức thù địch không ngừng phê phán tình hình tôn giáo ở Việt Nam, cho rằng chính quyền vẫn hạn chế tôn giáo, bắt giam những nhân vật “đấu tranh cho tự do, tín ngưỡng tôn giáo”, vu cáo chính quyền cô lập, không cho những nhóm tôn giáo được đầy đủ các quyền như các tổ chức tôn giáo đã được công nhận. Cách tiếp cận của các thế lực thù địch là cố gắng tìm kiếm những hạn chế, cho dù là rất nhỏ trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam để biến những hạn chế rất nhỏ ấy thành bản chất. Các thế lực thù địch, phản động tìm cách tiếp xúc với những cá nhân, nhân vật bất mãn trong các tôn giáo (có những nhân vật đã bị chính các tổ chức tôn giáo tẩy chay) để phỏng vấn, lấy những quan điểm, nhận xét của các nhân vật này để làm “bằng chứng” vu cáo Việt Nam không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Ở Việt Nam, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016), đã quy định rất rõ: Để được công nhận về mặt tổ chức, các nhóm tôn giáo phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể. Do vậy, khi các nhóm, tổ chức tôn giáo chưa đáp ứng được yêu cầu thì khi đó chính quyền chưa xem xét công nhận tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, các quan điểm thù địch lại cho rằng, Nhà nước phải công nhận tất cả những tổ chức đó, cho dù họ chưa có đủ các điều kiện. Đây là sự can thiệp sai trái vào công việc nội bộ, can thiệp vào pháp luật Việt Nam, đó là điều không thể chấp nhận. Thực tế, các nước trên thế giới cũng có những quy định rất rõ về việc công nhận các tổ chức tôn giáo.

Nguyễn Văn Toản CH32, hệ SĐH

 

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

Khi đồng bào ta phấn khởi, chung vui Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc thì cũng là lúc các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị giở trò xuyên tạc, chống phá nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11) hằng năm đã trở thành nét đẹp văn hóa, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống nhân dân vì đây không chỉ là dịp gặp gỡ, giao lưu, đánh giá kết quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” mà còn là diễn đàn, đợt sinh hoạt chính trị dân chủ, tập hợp và phát huy sức mạnh của các tổ chức, cá nhân, đoàn kết cùng nhau xây dựng khu dân cư ngày càng ấm no, hạnh phúc. Khi đồng bào ta phấn khởi, chung vui Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc thì cũng là lúc các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị giở trò xuyên tạc, chống phá nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo

Chúng ta nhận thấy, vỏ bọc che đậy các hành vi xuyên tạc, vu cáo, thông tin sai sự thật trên không gian mạng hiện nay của các thế lực thù địch, phản động là các chiêu bài "nhân quyền", "dân chủ", "tự do", nhất là tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tự do ngôn luận, báo chí; xuyên tạc những vấn đề do lịch sử để lại, những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc; thổi phồng thiếu sót trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở các địa phương.

Các thế lực thù địch triệt để tận dụng hoặc tạo ra, khai thác mọi khe hở có thể đế thực hiện thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam về vấn đề dân tộc trên chính địa bàn các dân tộc thiểu số đang sinh sống nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới gây bạo loạn, ly khai. Hoạt động chủ yếu là phát tài liệu bịa đặt, dựng cảnh người dân ăn mặc rách rưới, nhem nhuốc rồi chụp ảnh, quay video trên không gian mạng để rêu rao, tạo dư luận xấu về Đảng, Nhà nước Việt Nam. Địa bàn nhắm tới là các buôn, làng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, “tự do tôn giáo, dân tộc”, các thế lực thù địch thường triệt để lợi dụng các vụ việc để chống phá chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ, tiếp sức bởi các thế lực thù địch và các tổ chức quốc tế có hành vi chống phá Việt Nam như: Tổ chức Theo dõi nhân quyền – HRW, Ân xá quốc tế - AI, Đài Phát thanh Á châu tự do - RFA…

Các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước gia tăng kích động biểu tình, tạo điểm nóng chính trị để gây sự chú ý của dư luận thế giới. Đáng chú ý, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài đều tận dụng triệt để mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền, kích động chống phá. Không chỉ kích động tư tưởng ly khai, tự trị riêng cho dân tộc mình tại vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các vụ việc nổi cộm như vụ Đồng Tâm ở TP Hà Nội, vụ Thủ Thiêm ở TP Hồ Chí Minh nhằm gây bất ổn từ bên trong, gây hiểu nhầm đối với dư luận thế giới để kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế vào công việc nội bộ của Việt Nam. Những chiêu trò chống phá chính sách đại đoàn kết dân tộc trên không gian mạng không có gì mới nhưng luôn được thế lực thù địch triệt để lợi dụng, xáo đi xáo lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức khác nhau.

Thủ đoạn, mưu mô rất nguy hiểm, biểu hiện ở chỗ số đối tượng phản động, cơ hội chính trị thường lựa chọn thời điểm nước ta tổ chức các sự kiện trọng đại, kỷ niệm các ngày lễ lớn như kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4) hay Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11)… nhằm xuyên tạc vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam. Tìm cách vu cáo Đảng và Nhà nước, tạo ra những nhận thức sai lệch để các chính phủ, các tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép, tạo điều kiện cho các đối tượng trong nước gia tăng hoạt động chống phá.

Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược và là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Người đã nêu ra luận điểm có tính chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”. Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài; thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc. Các dân tộc có dân số dù ít hay nhiều, ở trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Hiến pháp 2013 quy định: “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” (Điều 5 - Hiến pháp 2013, tr.13); “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14 – Hiến pháp 2013, tr.17). Theo đó, Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) của Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 23-NQ/TW “Về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết số 24-NQ/TW “Về công tác dân tộc”; Nghị quyết số 36-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”; Chỉ thị 45-CT/TW về tăng cường công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Bộ Chính trị (2015).

Đại hội XIII của Đảng khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt trận và đoàn thể nhân dân, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và chính quyền, tăng cường đồng thuận xã hội, tạo thành sức mạnh to lớn, bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Điều 11, Luật Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam quy định: “Ngày 18 tháng 11 hằng năm là Ngày truyền thống của MTTQ Việt Nam và là Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”. Từ đó đến nay, hằng năm, việc tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” đã trở thành sinh hoạt xã hội rộng rãi ở từng cộng đồng dân cư trong cả nước.

Trong những năm qua, Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc diễn ra trong cả nước đã thực sự trở thành ngày hội của toàn dân nhằm tôn vinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Vào dịp này, tinh thần đoàn kết, gắn bó, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn càng được phát huy, góp phần thực hiện tốt các phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa”, “Xây dựng văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng các gia đình điển hình có “Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền”…, đấu tranh với các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, xóa dần những tệ nạn trong xã hội…

Thông qua ngày hội, nhiều khu dân cư đã sáng tạo ra các hình thức thi đua giữa các xóm, tổ dân phố, tổ nhân dân, thực hiện các công trình dân sinh trên địa bàn, giải quyết việc làm, thành lập các tổ giúp đỡ nhau trong sản xuất hay xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chăm sóc người già yếu, neo đơn… Ngày hội cũng đã tạo điều kiện cho việc phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, giúp cấp ủy đảng và chính quyền các cấp lắng nghe nguyện vọng, những phản ánh của nhân dân trong cuộc sống…

Kết quả thực tiễn của ngày hội mang giá trị là động lực về tinh thần trong nhân dân, từng bước được hiện thực hóa bằng các hành động cụ thể trên tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội tại mỗi địa phương, góp phần vào kết quả chung trong xây dựng và phát triển của đất nước; đồng thời là minh chứng sinh động phản bác luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Đoàn Ngọc Quang CH 32, hệ SĐH


 

ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC LẬP NÊN NHỮNG KỲ TÍCH VẺ VANG

Sáng 27/1, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát biểu tham luận về vấn đề “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội”.

Đồng chí Trần Thanh Mẫn cho biết, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra trong không khí nhân dân cả nước phấn khởi, tự hào, trân trọng về những thành tựu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng của đất nước về phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, chính quyền và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Nhân dân thể hiện tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kỳ vọng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Tinh thần yêu nước, trọng nhân nghĩa, đùm bọc lẫn nhau đã thấm sâu vào tình cảm và hành động của mỗi người dân đất Việt trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

“Đại đoàn kết toàn dân tộc đã tạo nguồn sức mạnh, lập nên những kỳ tích vẻ vang, là điều kiện cơ bản cho sự thành công của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, cũng như công cuộc đổi mới xây dựng, phát triển đất nước ngày nay” – đồng chí Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh và cho biết, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, để tổ chức Mặt trận thực hiện tốt nhiệm vụ: Tập hợp, xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận phát động đã hướng vào phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững. Thông qua hoạt động giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, các thành viên của Mặt trận đã xây dựng các mô hình nhân dân tự quản, hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, khuyến học, khuyến tài, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện.

“Trước diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 và thiên tai, bão lũ vừa qua, truyền thống yêu nước nồng nàn, tình nghĩa đồng bào sâu nặng, sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc một lần nữa được thể hiện đậm nét và mạnh mẽ” – đồng chí Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, đồng thời đề cập bài học kinh nghiệm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng là nhân tố quyết định để Mặt trận tập hợp được mọi lực lượng, xây dựng, củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. “Quán triệt phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Mặt trận phải thường xuyên đổi mới phù hợp với thực tiễn” – đồng chí Trần Thanh Mẫn nói: “Để phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, đề nghị cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, cả hệ thống chính trị cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam; thực hiện nhất quán quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tạo môi trường thuận lợi để nhân dân phát triển tài năng, sức sáng tạo, mang lại lợi ích cho đất nước” - Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhấn mạnh.

Đào Thanh Nhiệm CH32, hệ SĐH

  

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 12 NĂM 1957!

     “…chủ nghĩa đế quốc là như con “ác vàng” đã ngả về tây. Chủ nghĩa xã hội là như mặt trời mới mọc”!
Lời khẳng định trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết “Ai mạnh hơn?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 1368, ra ngày 07 tháng 12 năm 1957.
Đây là thời điểm miền Bắc nước ta đang bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong điều kiện nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kẻ thù lại thường xuyên chống phá, xuyên tạc làm cho một bộ phận nhân dân nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa xã hội, hoài nghi về tính hiện thực của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Lời khẳng định của Bác có ý nghĩa sâu sắc, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng, xây dựng niềm tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Hiện nay, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản. Do vậy, chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của xã hội loài người và theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Hơn 60 năm đã trôi qua, lời khẳng định của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, trong hoàn cảnh mới, Đảng ta tiếp tục tìm tòi, ngày càng làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, được khẳng định trong Cương lĩnh và văn kiện các đại hội của Đảng, là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Để góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhận thức sâu sắc đối tác và đối tượng của cách mạng, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ sẵn sàng chiến đấu, chất lượng huấn luyện, công tác, xây dựng nếp sống chính quy, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BỆNH HÌNH THỨC KHIẾN CON NGƯỜI BỊ MÊ HOẶC VÀ HỦY HOẠI NỀN TẢNG TINH THẦN XÃ HỘI!

     Không ngẫu nhiên mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra rằng, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức”, vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức!

Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc. Do đó, việc nhận diện, phê phán, khắc phục bệnh hình thức cần phải được coi là một trong những việc làm cấp bách hiện nay nhằm giữ gìn nền tảng tinh thần lành mạnh cho quốc gia và thể chế chính trị-xã hội.            

1. Mong muốn có vẻ ngoài đẹp đẽ, hấp dẫn người khác là một khao khát chính đáng của con người. Nhu cầu trang điểm, làm đẹp xuất hiện. Ban đầu nó là một nhu cầu tâm lý lành mạnh, hướng tới cái đẹp. Đó là nhu cầu được hơn cái phần tự nhiên vốn có, đầu tiên là ở bề ngoài, là vẻ hấp dẫn người khác. Ở cây cối hay loài vật cũng có nhu cầu hấp dẫn đối tượng nhưng chỉ có ở con người điều đó mới được thực hành một cách có ý thức, có kỹ năng. Đó cũng là một phần của cuộc sống. Nó bắt đầu từ con người, từ khát vọng hướng tới cái đẹp. Từ con người, sự việc mở rộng ra những gì liên quan đến con người. Từ chuyện của cá nhân mở rộng ra phạm vi xã hội.

Từ khởi đầu là tâm lý, dần dần vượt ra khỏi khuôn khổ, muốn vươn tới cái ngoài mình, lớn hơn, không có của mình nhưng có thể đem lại cho mình lợi ích. Cũng vẫn là cho con người nhưng chuyện “làm đẹp” từ chuyện của cá nhân đã dần dần mở ra các hoạt động khác, liên quan đến người khác ở phạm vi rộng lớn hơn. Rồi từ những vẻ đẹp tự nhiên ban đầu, nhu cầu ấy mở dần ra những lĩnh vực khác như danh tiếng, địa vị, tiền tài... Nhưng mở đến đâu là vừa, theo hướng nào là phù hợp, làm thế nào là thiết thực là vấn đề của nhận thức, là những giá trị văn hóa.

Cùng với sự vận động và biến đổi trong quá trình “xã hội hóa”, khao khát ban đầu đã bị biến đổi dần theo hướng vụ lợi. Đầu tiên là danh rồi từ danh sinh ra lợi, từ nhu cầu ban đầu ít gắn với giá trị kinh tế, lợi ích vật chất dần dần khao khát ấy ngày càng tỏ ra thích ứng với những đam mê vật chất hơn. Thế cho nên, từ xa xưa người ta đã phải đề ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn mang tính đạo đức rồi sau đó là pháp lý để hạn chế những việc đi quá giới hạn này.

Khi vượt qua những giới hạn đạo đức và pháp luật, nhu cầu “được hưởng nhiều hơn những thứ cá nhân ấy có” trở thành một khuyết tật không chỉ của cá nhân nữa mà là của cộng đồng. Nó trở thành căn bệnh của cả cá nhân và xã hội. Một khi thói háo danh, chuộng hình thức trở nên quá đà sẽ thành một mối nguy cơ cho xã hội vì nó làm lệch lạc giá trị tinh thần của xã hội. Người xưa đúc kết “Y phục xứng kỳ đức” và “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” là để nhắc nhở con người đừng quá đà mà mắc sai lầm khi đề quá cao hình thức, chạy theo hình thức mà quên mất cái thực chất, cái quyết định nên giá trị sự vật là ở chính cái phần nội dung của nó.

2. Nhìn lại lịch sử dân tộc có thể thấy một bài học xương máu: Khi nào bệnh hình thức trở thành một “quốc nạn” thì đất nước sẽ lao đao. Vua chúa, quan lại đua đòi ăn chơi, đám người có của coi sự hơn người về dinh thự, tiền bạc, quyền lực, danh vọng thể hiện “đẳng cấp” xã hội của họ sẽ dẫn đến sự suy thoái của dân khí, sẽ làm suy yếu sức mạnh quốc gia.

Hưng Đạo Đại vương từng phải khuyến cáo tướng sĩ ở thời bình đừng quên những ngày gian khổ chiến tranh, đừng mải nghĩ đến chuyện vui chơi mà sao nhãng luyện tập vì điều đó liên quan đến chuyện thắng thua, còn mất không chỉ của cá nhân họ mà còn của quốc gia. Nguyễn Trãi cũng từng mắng Lương Đăng khi được giao lo chuyện lễ lạt ở tầm quốc gia chỉ chăm chú vào tiêu khiển, ăn chơi, làm đẹp lòng vua quan mà quên đi sứ mệnh của người làm nghề.

Đưa ra mấy ví dụ nhỏ thế để muốn nói rằng thói chạy theo cái bề ngoài, hoặc nghiêm trọng hơn là căn bệnh hình thức vốn gắn với những nhận thức chưa đúng của con người có thể gây hại cho chính con người và xã hội.

3. Nhu cầu làm đẹp là nhu cầu tự nhiên của con người nhưng khi nhu cầu ấy trở thành “bệnh” thì nó đã biến dạng sang một cấp độ khác. Thời xưa đã thế, thời nay cũng thế. Thể chế xã hội nào cũng có những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp để cho “bệnh” hình thức xuất hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng căn bệnh tệ hại này bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân.

Chủ nghĩa cá nhân bắt nguồn từ đề cao cá nhân mình, vọng tưởng về vị trí và quyền lực của mình, cho mình có quyền ban phát chân lý và đứng cao hơn tất cả, kể cả luật pháp nên mọi thứ cá nhân ấy làm “chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể”.

Bệnh hình thức bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân - lối sống chỉ mưu lợi cho cá nhân và đồng bọn. Nó có thể làm suy yếu xã hội, gây ra nguy cơ cho một đơn vị, cộng đồng, thậm chí quốc gia. Bởi như Bác Hồ từng cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Như vậy, bệnh hình thức không chỉ là một căn bệnh thuộc về đạo đức cá nhân nữa mà nó là biểu hiện sự tha hóa của cá nhân, một tổ chức chính trị. Nó là nguồn gốc của thói vị kỷ, là nguồn gốc sinh ra căn bệnh chủ nghĩa cá nhân. Căn bệnh này, ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau tồn tại song song với sự tồn tại của con người nên để tránh nó, con người phải luôn đấu tranh với nó để làm lành mạnh xã hội.

Cuộc đấu tranh này không chỉ nhìn từ góc nhìn đạo đức mà trước hết phải từ những chủ trương, đường hướng đúng đắn, được cụ thể ra bằng những điều luật, cơ chế, bằng những biện pháp tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả ở mọi cấp độ, đặc biệt ở góc độ nêu gương, tu thân.

Việc này không thể giao cho một tổ chức chính trị - xã hội hay một ngành nào quản lý, thực hiện mà phải làm đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Cái đích của nhiệm vụ này không phải chỉ là nhằm giải quyết một vấn đề nảy sinh trong một thời điểm nào đó của xã hội mà nó đòi hỏi phải làm thường xuyên, đồng bộ, liên tục, quyết liệt. Ở bình diện phát triển xã hội bền vững, đích của nó là dân khí quốc gia, là nền tảng tinh thần của sự phát triển, là bảo đảm cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc.

Vì vậy mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra, phải “kiên quyết khắc phục bệnh hình thức” vì đây là những biểu hiện lệch chuẩn văn hóa, lệch chuẩn đạo đức. Đã nói đến lệch chuẩn giá trị văn hóa có nghĩa là đã chỉ ra nguy cơ lâu dài cho sự phát triển bền vững của đất nước, dân tộc.

4. Nhìn vào thực trạng xã hội hiện nay, chúng ta không khỏi lo lắng vì căn bệnh hình thức, phô trương không còn là của cá nhân, không chỉ là căn bệnh đua đòi, chướng tai gai mắt mà đã ăn sâu vào ý thức của một bộ phận không nhỏ của xã hội, có trường hợp đã bộc lộ ra ở tầm chính sách. Nó không còn là chuyện hình thức vặt, hào nhoáng nhất thời mà là một phần của sự suy thoái, băng hoại nhân cách cán bộ, đảng viên, nguyên tắc tổ chức, lạm dụng chính sách gây ra những tổn hại lớn cả về kinh tế lẫn nền tảng tinh thần của xã hội.

Khi người ta cố tình hiểu sai một đường lối đúng đắn để phát triển đất nước với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài nên đã ồ ạt mở các trường đại học mới, nhất loạt nâng cấp các cơ sở cao đẳng lên đại học. Cơ cấu ngành nghề sai, thực lực đội ngũ giáo viên yếu, cơ sở vật chất thiếu thốn, năng lực người học không đáp ứng được yêu cầu tiếp nhận tri thức... nhưng để có thành tích, việc “vơ bèo vạt tép” cho đủ chỉ tiêu được giao đã diễn ra ở nhiều nơi.

Chỉ tiêu này gồm cả danh và lợi: Trường đại học thu hút nhiều người học, hoàn thành trách nhiệm xã hội, uy tín trường được nâng cao, thu nhập của trường tăng, cán bộ quản lý ngành được ghi nhận là có tầm nhìn... Nhưng hệ quả của quá trình này là trong khoảng hai chục năm qua chúng ta đã cấp bằng cấp thật cho nhiều đối tượng đào tạo “nửa thật, nửa giả”, khiến nhiều sản phẩm của quá trình đào tạo này dở thầy, dở thợ.

Tệ sính bằng cấp, chuộng hư danh... đã làm nảy sinh những cuộc “chạy marathon” bằng cấp, học vị. Nhiều “lò ấp” đã đẻ ra những người có học vị tiến sĩ nhưng thực ra rất khó dùng họ vào việc gì. Rồi nhờ tiền bạc, quan hệ, họ “chui” vào cơ quan nhà nước. Số cán bộ này khiến cho nhiều cơ quan nhà nước bị xuống cấp cả ở năng lực chuyên môn lẫn ý thức nghề nghiệp. Họ lũng đoạn cơ quan nơi họ được sử dụng, có khi ngồi ở vị trí lãnh đạo, điều hành. Nhiều ban lãnh đạo của nhiều địa phương, cơ quan, tổ chức xã hội vi phạm khuyết điểm, vi phạm pháp luật đã bị xử lý.

Chất lượng giáo dục phổ thông cũng chịu sự “tàn phá” của thói giả dối, bệnh thành tích. Một bộ phận người lớn đã làm hỏng nhiều người trẻ bằng những lựa chọn lệch chuẩn của mình. Nguy cơ không phải chỉ đối với cá nhân đứa trẻ mà là với cả một thế hệ, ở hướng đi, ở nhận thức quyền lợi và trách nhiệm công dân trước các vấn đề xã hội. Những chuyện vi phạm pháp luật trong tuyển sinh, tuyển chọn cán bộ ở nhiều cơ quan, nhiều cấp bậc từ thấp đến cao, ở mọi địa phương là hồi chuông báo động cho tình trạng này.

Thời gian qua, người ta thấy khá nhiều vụ lùm xùm xung quanh suy tôn các danh hiệu, giải thưởng cao quý, kể cả giải thưởng cấp nhà nước về khoa học - công nghệ, văn học-nghệ thuật. Đây là sự tôn vinh các giá trị tinh thần trước đây vốn được coi là cao quý “không gì mua được” vì nó thuần túy là sự tôn vinh những giá trị đích thực. Thế nhưng những kiện tụng, ì xèo, thậm chí bị tước danh hiệu đã xảy ra-điều mấy chục năm về trước chưa hề có.

Còn các danh hiệu “kỷ lục này nọ” thì không ít trường hợp gây ra sự nhạo báng của xã hội. Nó bị biến thành phương tiện để mua danh, để đánh bóng cá nhân. Nhiều lúc dư luận xã hội chê cười việc làm ấy nhưng sau khi sự phê phán về mặt đạo đức xã hội chìm xuống, không có cơ quan nào xử lý về mặt pháp luật hay hành chính thì trong hồ sơ của họ vẫn nghiễm nhiên tồn tại những danh hiệu này. Người ta nói đến khá nhiều những danh hiệu không xứng đáng là “danh hiệu của các hội đồng” chứ không phải là giá trị đích thực.

5. Căn bệnh háo danh, chạy theo hình thức tưởng nhỏ mà không nhỏ. Từ góc độ đạo đức, nếu nó là của cá nhân thì tác hại không thật lớn nhưng nếu nó bị thổi lên như là căn bệnh của một thời thì rất nguy hiểm. Vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, nó có nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân mà chủ nghĩa cá nhân thì không bao giờ đem lại điều gì tích cực cho xã hội.

Nó chỉ mang ý nghĩa tiêu cực, chỉ phá hoại và khi ở mức cao nhất, nó có thể gây ra sức mạnh hủy hoại nền tảng tinh thần của một quốc gia. Sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân là nó luôn khoác cái áo vì tập thể, vì tương lai, vì cộng đồng nên nó vẫn có thể mê hoặc con người. Nguy hiểm hơn là khi vẫn có những tổ chức và cá nhân có quyền lực là bệ đỡ cho nó.

Do vậy, cần nhận thức thấu đáo về mối nguy hại của căn bệnh này và phải có những biện pháp thật sự nghiêm khắc để phòng ngừa, chữa trị và đẩy lùi căn bệnh hình thức, phô trương trong xã hội nói chung, trong bộ máy công quyền nói riêng./. 
Yêu nước ST.

 

Luận điệu phản động của Nguyễn Tâm Linh

Lợi dụng một số vấn đề về chức năng, nhiệm vụ của quân đội, Nguyễn Tâm Linh đã đăng trên trang “Tintuchangngayonline” bài viết “Phi chính trị hóa quân đội là chiêu bài của ai”, nhằm cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, chia rẽ Đảng với quân đội, tuyên truyền, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Nguyễn Tâm Linh đã đưa ra nhận định hết sức phản động là: “Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của quốc gia Việt Nam hay là công cụ bạo lực của đảng cộng sản Việt Nam. Nếu Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những bộ phận cấu thành của lực lượng vũ trang Việt Nam thì những nhiệm vụ chính trị của đội quân này trước hết phải mang tính chính danh, nhiệm vụ chính trị đó phải đặt lợi ích của nhân dân làm tối thượng và luôn phải tối thượng… nhiệm vụ chính trị của quân đội này là bảo vệ lợi ích của đảng cộng sản, bất kể lợi ích đi ngược lại lợi ích của người dân, Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực riêng của đảng cộng sản thì tổ chức này sẽ không được phép sử dụng ngân sách quốc phòng trích từ thuế của nhân dân cho hoạt động duy trì, tuyển mộ và mua sắm trang thiết bị …”. Vấn đề này Nguyễn Tâm Linh nên hiểu rằng: Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định; “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong mọi thời kỳ.

Lịch sử nhân loại cũng chứng tỏ rằng con đường phát triển của các quốc gia, dân tộc, sự nghiệp cách mạng của một dân tộc bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc đó dẫn dắt và lãnh đạo. Lực lượng chính trị lãnh đạo dân tộc ấy cũng đồng thời là lực lượng tổ chức và lãnh đạo “quân đội của dân tộc”. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, của chính lực lượng chính trị đang đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc, đang lãnh đạo và dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển.

Thực tiễn lịch sử xây dựng chiến đấu và trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng vẻ vang của quân đội; mối quan hệ giữa Đảng với quân đội đã trở thành bản chất, truyền thống quý báu của quân đội. Do đó, việc tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thực chất là âm mưu “phi đảng hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, nhằm làm cho quân đội mất phương hướng chính trị, mất đi yếu tố cơ bản nhất của sức mạnh chính trị – tinh thần, dẫn đến suy yếu, mất sức chiến đấu. Mặt khác, âm mưu tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng nhằm cô lập Đảng, làm cho Đảng mất đi lực lượng chính trị trung thành, tin cậy nhất, mất đi sức mạnh vật chất to lớn để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.

Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhằm đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Như vậy, mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân Việt Nam, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng, của dân tộc trong từng giai đoạn. Đó là sự biểu hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, một tổ chức quân sự kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, quân đội mới có được sức mạnh chiến đấu vô địch để chiến thắng kẻ thù trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đáng thắng”.

Tóm lại, những vấn đề nêu ra trong bài viết của Nguyễn Tâm Linh đã bộc lộ dã tâm thâm độc, chia rẽ Đảng với quân đội, xuyên tạc sự thật làm suy giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và quân đội. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn của Y./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÚ TRỌNG XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ LÀM CHỦ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ, quá trình thực hiện nhiệm vụ phòng thủ trên không gian mạng, bảo vệ an toàn cho hệ thống thông tin chỉ huy, hệ thống điều khiển vũ khí công nghệ cao của Quân đội, bảo vệ các công trình trọng yếu hệ thống thông tin quốc gia... đang đặt ra không ít thách thức. Nhưng với sự nỗ lực, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, Trung tâm 586 (Bộ tư lệnh 86) đã xử trí kịp thời, hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng!

Phố phường đã lên đèn nhưng trong phòng làm việc của Phòng 51 (Trung tâm 586), những quân nhân làm nhiệm vụ tác chiến không gian mạng vẫn đang tập trung cao độ trước màn hình máy tính để theo dõi dữ liệu trên giao diện. Trung tá Nguyễn Văn Bắc, Giám đốc Trung tâm 586 cho hay: Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ mới, có tính chất đặc thù; yêu cầu nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao trong khi cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Thời gian qua, đơn vị luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trinh sát, giám sát không gian mạng quốc gia; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, hệ thống công nghệ thông tin trong các cơ quan trọng yếu của Đảng, Nhà nước, các ngành kinh tế, lĩnh vực trọng điểm quốc gia. Trung tâm đã xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm an toàn thông tin cho các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; thực hiện tốt nhiệm vụ hỗ trợ về kỹ thuật trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi người trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, góp phần xây dựng không gian mạng an toàn, nhân văn, rộng khắp.

Theo Trung tá Nguyễn Văn Bắc, “bí quyết” để hoàn thành nhiệm vụ chính là Trung tâm coi trọng xây dựng và phát huy nguồn nhân lực. Khoa học-công nghệ trên không gian mạng phát triển từng giờ, từng phút, chiến thuật trong lĩnh vực này chưa có trường lớp nào đào tạo bài bản. Đơn vị đã kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với thực hiện nhiệm vụ, coi trọng phương pháp làm việc theo nhóm chuyên sâu trên các lĩnh vực. Phát huy tinh thần tự học, tự nghiên cứu của cán bộ, nhân viên, nhất là nghiên cứu những tài liệu, công nghệ của nước ngoài; thực hiện cấp trên bồi dưỡng cấp dưới, cán bộ có kinh nghiệm bồi dưỡng cán bộ trẻ mới về đơn vị. Cùng với đó, Trung tâm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số vào hoạt động huấn luyện, nhất là xây dựng, cập nhật hệ thống các bài tập với nhiều tình huống trên không gian mạng mang tính giả định, đưa bộ đội vào sát thực tế nhiệm vụ. Qua đó, nâng cao khả năng tư duy, sáng tạo, quyết đoán, xử lý nhanh, hiệu quả các tình huống. Với nhiều giải pháp đồng bộ, hiện nay, 100% cán bộ của Trung tâm 586 có trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó có 30% được cấp chứng chỉ quốc tế về công nghệ thông tin, an ninh mạng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Thượng tá Hoàng Văn Quyết, Phó giám đốc Trung tâm 586 cho hay: Thực tế vì chưa có chính sách mang tính đột phá trong trọng dụng nhân tài, nên có thời điểm, đơn vị xuất hiện biểu hiện “chân trong, chân ngoài”, muốn được chuyển sang công việc khác với thu nhập cao hơn. Để giúp cán bộ, nhân viên yên tâm công tác, Trung tâm tăng cường giáo dục, động viên tư tưởng, chú trọng xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, đoàn kết, tạo điều kiện để mọi người nghiên cứu, học tập, cống hiến; tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi để cán bộ, chiến sĩ có cái nhìn đầy đủ, toàn diện, từ đó xây dựng tinh thần “dám hành động vì lợi ích chung” trong thực hiện nhiệm vụ, xây dựng đơn vị. Bên cạnh đó, Thường vụ Đảng ủy Trung tâm đã mạnh dạn báo cáo Bộ tư lệnh giao nhiệm vụ cho những đồng chí có năng lực, trách nhiệm cao thực hiện các đề tài, đề án quan trọng, qua đó anh em được cống hiến, khẳng định mình và đó cũng là cơ sở để xét đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, tạo động lực cho bộ đội phấn đấu. “Đó là những biện pháp trước mắt của đơn vị. Về lâu dài, chúng ta cần nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ; xây dựng các điều kiện, tiêu chí cụ thể và theo dõi, quản lý nhân tài trong Quân đội một cách khoa học, xứng đáng với sự cống hiến của họ và phù hợp với sự phát triển của đất nước trong tình hình mới”, Thượng tá Hoàng Văn Quyết nhấn mạnh.

BOX: Được thành lập ngày 10-12-2013, Trung tâm 586 từng bước khẳng định vị thế là đơn vị tiên phong trên mặt trận tác chiến mới. Với những kết quả nổi bật, Trung tâm 586 được tặng thưởng 31 cờ thi đua và bằng khen của các cấp; trong đó, năm 2020 và 2022, được Bộ Quốc phòng tặng Cờ thi đua vì đã có thành tích xuất sắc toàn diện các mặt công tác, tiêu biểu trong Phong trào Thi đua Quyết thắng toàn quân. Đặc biệt, năm 2023, Trung tâm được Bộ Quốc phòng đề nghị tặng Cờ thi đua của Chính phủ; được tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba./.
Yêu nước ST.

 

Chính sách quốc phòng “bốn không” vì hòa bình, tự vệ của Việt Nam


Chủ trương, quan điểm, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về củng cố quốc phòng, an ninh với mục đích là vì hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách xuyên tạc nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Mới đây, Phạm Trần đã đăng tải bài viết “An ninh – quốc phòng cũng diễn biến” trên trang Doithoaionline.com nhằm mục đích xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” vì hòa bình, tự vệ của Việt Nam.

Bằng thủ đoạn tinh vi, Phạm Trần đã suy diễn rằng, nguyên nhân của những quan điểm sai trái, suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực quốc phòng là do “Việt Nam thời Cộng sản bây giờ “không có đồng minh quân sự””; do “chính sách 4 “không”. Từ đó, Phạm Trần quy kết “lập trường quốc phòng của Việt Nam … là “không thực tế””. Với những luận điệu trên, Phạm Trần đã xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” vì hòa bình, tự vệ của Việt Nam một cách rất tinh vi và thâm hiểm.

Trước hết, chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng, chính sách quốc phòng “bốn không” là thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta trong thời bình. Chính sách này đã thể hiện sự nhất quán nhằm triệt tiêu hoàn toàn mầm mống chiến tranh đến từ phía Việt Nam; không cho bất cứ ai có thể lợi dụng Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam để xâm lược hoặc gây phương hại nước khác. Đây là những yếu tố rất quan trọng để bảo đảm hòa bình thực sự không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với các quốc gia khác trên thế giới. Từ thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Việt Nam luôn thấu hiểu giá trị của hòa bình. Giá trị hòa bình đó cũng đồng thời là mục tiêu cao cả của nhân loại chân chính đã và đang hướng tới. Xuyên suốt lịch sử mấy nghìn năm và hiện nay, trong khả năng của mình, Việt Nam đã và đang làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình cho đất nước; đồng thời, đóng góp tích cực vào đảm bảo môi trường hòa bình trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, trong chính sách quốc phòng, từ lâu, Đảng, Nhà nước ta đã nhất quán thực hiện chủ trương “ba không” bao gồm: Không tham gia các liên minh quân sự; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia. Hiện nay, chính sách này được hiểu đầy đủ thành “bốn không”, trong đó chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là sự bổ sung, phát triển, phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước trong tình hình mới, chứ không phải “không thực tế” như lời Phạm Trần đã đơm đặt vô căn cứ. Phạm Trần cần phải hiểu, chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam hiện nay không có nghĩa là Việt Nam không quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước mà “tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”.

Chính sách quốc phòng “bốn không” là thông điệp hòa bình và cũng là cam kết của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam gửi đến các quốc gia trên thế giới. Thấu hiểu giá trị của hòa bình, Việt Nam luôn mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trong quan hệ quốc tế, sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác, kể cả hợp tác quốc phòng, trên cơ sở không phân biệt sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển. Việt Nam không chấp nhận quan hệ hợp tác dưới bất kỳ điều kiện áp đặt hoặc sức ép nào. Việt Nam chưa từng và cam kết sẽ không bao giờ gây hấn hay xâm lược nước khác, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là tôn chỉ, là truyền thống văn hóa đã trở thành cốt cách của dân tộc Việt Nam. Chính sách quốc phòng “bốn không” là thông điệp hòa bình, đúng đắn, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, phức tạp, khó lường hiện nay. Vì vậy, chính sách quốc phòng “bốn không” là sự chủ động bày tỏ thiện chí, thái độ thẳng thắn của Việt Nam, xuất phát từ khát vọng hòa bình, vì hòa bình của chính dân tộc mình cũng như hòa bình của nhân loại, chứ không phải vì “sự yếu kém” của an ninh, quốc phòng như Phạm Trần đã rêu rao.

Ủng hộ chính nghĩa, vì hòa bình là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta và được thể hiện trong chính sách quốc phòng “bốn không” là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thời cuộc và xu thế chung của lịch sử nhân loại. Vì vậy, những luận điệu xuyên tạc của Phạm Trần và các thế lực thù địch dù có tinh vi, thâm hiểm như thế nào chăng nữa cũng không thể bôi đen chính sách quốc phòng “bốn không” vì hòa bình, tự vệ của Việt Nam./.

Âm mưu “Phi chính trị hóa” quân đội


Gần đây, trên trang “Baoquocdan” có bài viết “Quân đội nhân dân của dân hay của Đảng” của Bút danh Lê Dủ Chân. Bài viết cho rằng: “quân đội phải đứng ngoài chính trị”; quân đội cần phải “trung lập”, không lệ thuộc hoặc đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào… và rằng: “quân đội chỉ để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và chủ quyền quốc gia”… Đây là luận điệu hết sức phản động, nguy hại nhằm “phi chính trị hóa” quân đội.

Cần khẳng định rằng: Không thể có bất kỳ quân đội của một quốc gia nào đó đứng ngoài, không có liên quan gì đến chính trị của quốc gia đó. Cho dù hiện nay trên thế giới có một số nước tuyên bố tính trung lập về chính trị của lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, để nhìn nhận đúng bản chất vấn đề, chúng ta cần thấy rằng: trong cấu trúc đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập của các nước nói trên thì việc quy định lực lượng quân đội trung lập về chính trị là giải pháp bắt buộc với các nước đó. Bởi vì, ở các nước có chế độ đa đảng đối lập, cuộc đấu đá, tranh giành quyền kiểm soát cơ quan quyền lực nhà nước giữa các đảng phái chính trị diễn ra hết sức quyết liệt, phức tạp. Quan điểm “quân đội phải trung lập, đứng ngoài chính trị” được các đảng phái chính trị ra sức tán dương, cổ súy nhằm đẩy lực lượng này đứng ngoài cuộc tranh đấu giành quyền kiểm soát quyền lực nhà nước. Còn trong thực tế, bản thân các đảng chính trị đều ra sức tìm sự hậu thuẫn từ lực lượng quân đội. Như vậy, lời tuyên bố trung thành với Nhà nước, về thực chất cũng là trung thành với đảng cầm quyền, khi đảng đó đã chiến thắng qua bầu cử.

Mặt khác, những đảng đối lập ở các nước có chế độ đa đảng này thực chất chỉ là đối lập về hình thức bề ngoài. Bởi vì, về căn bản các đảng này (ngoại trừ các đảng cộng sản và công nhân) vẫn chung nền tảng ý thức hệ, đa đảng đối lập, nhưng nguyên tắc cơ bản của tổ chức đảng, mục đích hoạt động và bản chất vẫn là các đảng của giai cấp tư sản. Các đảng này chỉ khác nhau ở những điểm chi tiết, không cơ bản về những mục tiêu cụ thể, phương cách cụ thể để đạt mục đích chung… Do đó, dù hiến định hay không hiến định vấn đề lực lượng vũ trang trong Hiến pháp ở các nước, thì cũng không có nghĩa lực lượng vũ trang của các nước đó trung lập, đứng ngoài chính trị.

Đối với Việt Nam, sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhiều lần nhận được câu hỏi của các tướng lĩnh và giới nghiên cứu quân sự thế giới: “Vì sao Quân đội nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay lại đánh thắng hai đế quốc to trong những cuộc chiến tranh không cân sức?”. Đại tướng đã khẳng định: “Sẽ không tìm được câu trả lời cho câu hỏi này nếu không nhìn vào chiều dày lịch sử dân tộc và đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, giáo dục, rèn luyện; quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của Quân đội ta luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là nhằm thực hiện thắng lợi mục đích của Đảng nêu ra trong Điều lệ Đảng: “Xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Bản chất giai cấp luôn thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam./.

Vậy nên, nhận diên, kiên quyết đấu tranh loại bỏ âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng nước ta là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên cấp bách của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của nhân dân và mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay./.

 Chiêu trò “bình mới, rượu cũ” chống phá Quân đội của Nguyễn Lộc Yên


Lợi dụng dịp kỷ niệm 78 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức “diễn” lại những chiêu trò xuyên tạc quen thuộc, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội. Mới đây, với chiêu trò “bình mới, rượu cũ”, Nguyễn Lộc Yên đã đăng tải bài viết “Minh định nhiệm vụ và danh xưng Quân đội Việt Nam hiện nay” trên trang Baoquocdan.org, hòng chia rẽ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội.

Với luận điệu cũ rích, Nguyễn Lộc Yên cố gượng gạo rêu rao rằng: “Nếu “Quân đội nhân dân Việt Nam” phục vụ cho quốc gia thực sự, sẽ tuyệt đối không thể làm công cụ cho Đảng Cộng sản Việt Nam, nghĩa là không thể tuân thủ theo mệnh lệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam!.”; ““Quân đội nhân dân Việt Nam” đúng như danh xưng, nghĩa là Quân đội này phục vụ cho Nhân dân”. Thực chất luận điểm trên của Nguyễn Lộc Yên không có gì mới trong thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội – “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam; làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất sức chiến đấu. Nguyễn Lộc Yên đã cố tình cắt xén nội hàm trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; đối lập sự trung thành với Đảng và trung thành với Nhân dân, đối lập phẩm chất trung với Đảng và hiếu với dân của Quân đội ta.

Trước hết, cần khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quân đội nhân dân là một tất yếu. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của đấu tranh giai cấp; bất cứ quân đội nào cũng đều mang bản chất của giai cấp thống trị đã sinh ra nó; không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập. V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị – đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản”. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Đặc thù của Quân đội nhân dân Việt Nam là ra đời trước khi nhân dân ta giành được chính quyền, thành lập Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng trở thành nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất của một vấn đề; hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng, không tách rời, được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Thực tiễn lịch sử chứng minh, chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta mới thực sự là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trung thành với Đảng, hiếu với dân là phẩm chất cơ bản, cốt lõi gắn bó chặt chẽ với nhau trong bản chất, truyền thống của Quân đội ta. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân, trung với Đảng là phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đó, là phục vụ đất nước, phục vụ Nhân đân. Trung thành với Đảng, hiếu với dân được thể hiện trong mọi công việc cách mạng của Ðảng, trong từng suy nghĩ, việc làm cụ thể của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội tất cả đều vì lợi ích quốc gia – dân tộc. Trung với Đảng bao hàm cả việc tuyệt đối trung thành với quốc gia, dân tộc, với Tổ quốc và Nhân dân. Đó là mối quan hệ biện chứng thống nhất trong thuộc bản chất của Quân đội ta, không thể tách rời. Vì vậy, việc Nguyễn Lộc Yên cho rằng, “danh xưng “Quân đội nhân dân Việt Nam” đúng nghĩa” là chỉ “phục vụ cho Nhân dân” là sự cố tình xuyên tạc, tách rời phẩm chất trung với Đảng và hiếu với dân, là không đúng với bản chất chính trị – xã hội của Quân đội ta.

Mọi yêu sách của Nguyễn Lộc Yên và các thế lực thù địch đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội hay “đề nghị” Quân đội ta chỉ cần “phục vụ cho Nhân dân và Tổ quốc”, “phục vụ cho quốc gia” đều chỉ là trò “giả nhân, giả nghĩa”. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh, vạch trần những luận điệu xảo trá này của Nguyễn Lộc Yên và các thế lực thù địch./.

 

Sự xuyên tạc trắng trợn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của Quách Vĩnh Niên

Gần đây, đám tàn quân bại trận nhục nhã của cái gọi là “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” lại tụ tập, tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, với “ảo mộng phục quốc”, hòng khôi phục chế độ tay sai bán nước của chúng. Cùng với đó, chúng triệt đã để lợi dụng các phương tiện truyền thông, internet, mạng xã hội để ra sức thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trên trang “Baoquocdan”, kẻ có bút danh Quách Vĩnh Niên đã tán phát bài viết Lính hay bộ đội. Với bản chất của lưu manh chính trị, Quách Vĩnh Niên đã cố tình xuyên tạc, phủ nhận vai trò, phẩm chất, hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và ca ngợi “lính Ngụy”. Quách Vĩnh Niên cho rằng, lính Việt Nam Cộng hòa là “thực sự phụng sự tổ quốc, cán đáng mọi an nguy của toàn dân”, luôn lấy “châm ngôn Tổ quốc – danh – trách nhiệm làm kim chỉ nam”, còn “Bộ đội Cụ Hồ”, là “quái gở”, “tội đồ”, là “công cụ của đảng CSVN”, “con cờ” của “Trung Cộng” và “Liên Xô”!…

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh và bác bỏ luận điệu xuyên tạc trắng trợn của Quách Vĩnh Niên. Bởi lẽ: “Lính Việt Nam Cộng Hòa” của Chính phủ bù nhìn Miền Nam Việt Nam, thực chất là tập hợp của những kẻ tay sai, bán nước làm công cụ chiến tranh “lính đánh thuê” cho thực dân Pháp, rồi đến đế quốc Mỹ nhằm tiêu diệt phong trào yêu nước, phong trào kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập, tự do cho đất nước của Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức lãnh đạo. Lính “Quân lực Việt Nam Cộng hòa” được sự bảo trợ của thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ, đã trở thành công cụ tay sai đắc lực cho thực dân, đế quốc thực hiện hàng ngàn, hàng vạn cuộc lùng sục, tìm “diệt cộng” và càn quét đẫm máu, thảm sát dân thường, giết hại trẻ em, hãm hiếp phụ nữ, nhục hình với tù binh cộng sản… gây ra bao tội ác, đau thương cho nhân dân Việt Nam suốt mấy thập kỷ liền. Tội ác của chúng còn mãi ghi như vụ thảm sát dân thường ở Mỹ Lai, Nhà tù Phú Quốc, nỗi đau chất độc da cam … là minh chứng hùng hồn “trời không dung, đất không tha” của chế độ ngụy quân ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa.

Ngược lại, Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành Quân đôi nhân dân Việt Nam đã cùng nhân dân làm nên những chiến thắng huy hoàng, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân và được Nhân dân tin yêu gọi với cái tên trìu mến “Bộ đội Cụ Hồ”! Phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, làm nên giá trị nhân văn cao quý của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Như vậy, từ hình ảnh, bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng khác nhau, thậm chí đối lập nhau; rõ ràng không thể mang “ngụy quân, ngụy quyền”, “Lính Việt Nam Cộng Hòa” chuyên làm tay sai, bán nước, gây tội ác với Tổ quốc và nhân dân để so sánh phủ nhận, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội nhân dân Việt Nam, một đội quân cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân mà chiến đấu. Hầu hết chúng ta không khó để nhận ra âm mưu, thủ đoạn thâm độc và luận điệu phản động này của Quách Vĩnh Niên, mục đích của Y không gì khác là kích động, lôi kéo những phần tử cơ hội, bất mãn; lừa bịp những người thiếu thông tin, kém hiểu biết, nhẹ dạ, cả tin tham gia chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta mà thôi. Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân cần hết sức tỉnh táo, nêu cao cảnh giác, vạch trần và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động như Quách Vĩnh Niên./.

 

ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA


Như chúng ta đã biết, chính sách quốc phòng của Việt Nam mang đậm tính chất hòa bình, tự vệ, nhân văn, nhân đạo; kiên quyết, kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp đối thoại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; phát huy tương đồng, hóa giải bất đồng, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh từ sớm, từ xa. Đối ngoại quốc phòng của Việt Nam luôn nhất quán, kiên định thực hiện nguyên tắc: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Điều đó khẳng định quyết tâm và đóng góp tích cực của Việt Nam cho hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới, được các nước tin tưởng, đánh giá cao; qua đó khẳng định vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam và của Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện toàn diện công tác đối ngoại quốc phòng, hội nhập quốc tế và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Đối ngoại quốc phòng đã tích cực, chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước giải quyết rất tốt các vấn đề chiến lược về quân sự, quốc phòng, an ninh, biên giới lãnh thổ, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; xử lý tốt quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, nước lớn, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, tạo nên thế đan xen chiến lược, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc; củng cố tình hữu nghị, đoàn kết quốc tế, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng, góp phần tăng cường tiềm lực, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và quân đội trên trường quốc tế.

Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam thiết lập quan hệ quốc phòng với quân đội hơn 100 nước, trong đó có 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 3 tổ chức vũ trang quốc tế của Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức Thủy đạc quốc tế (IHO). Thiết lập quan hệ quốc phòng với tất cả các đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện với Lào, Campuchia, Cuba; đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, Nga, Ấn Độ… Đến nay, đã có 31 nước đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Việt Nam; 20 nước kiêm nhiệm. Việt Nam đặt Phòng Tùy viên Quốc phòng tại 32 nước, Liên hợp quốc và EU.

Việt Nam chủ động đề xuất sáng kiến tại các diễn đàn hợp tác quốc phòng đa phương khu vực và quốc tế như: Hội nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ASEAN, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị an ninh quốc tế Moscow, Diễn đàn Hương Sơn – Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Seoul… Đặc biệt, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt cán bộ, nhân viên, với 4 lượt bệnh viện dã chiến cấp 2 đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên Hợp Quốc, cử Đội Công binh đi làm nhiệm vụ tại Phái bộ An ninh lâm thời của Liên Hợp Quốc tại khu vực Abyei (UNISFA); cử 76 quân nhân tham gia cứu hộ, cứu nạn sau thảm họa động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Năm 2022, Bộ Quốc phòng tổ chức rất thành công Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam, góp phần tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng; quảng bá năng lực công nghệ, vũ khí trang bị do Việt Nam sản xuất; đa dạng hóa các kênh hợp tác mua sắm, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của nước ngoài để sản xuất vũ khí, trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu của lực lượng vũ trang và tìm hiểu xu hướng phát triển của công nghiệp quốc phòng trên thế giới. Triển lãm đã đón 52 đoàn khách quốc tế và lãnh đạo Bộ Quốc phòng của các nước; Quân đội 30 nước, cùng hơn 170 doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng của các quốc gia và vùng lãnh thổ đến tham gia; đã đón hơn 60.000 lượt người dân, gần 10.000 lượt cán bộ, chiến sĩ tới tham quan.

Sau 37 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đối ngoại quốc phòng góp phần rất quan trọng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ trong thời bình, không để xảy ra xung đột, kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Đại hội XIII của Đảng xác định, tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường. Độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định của đất nước luôn có nguy cơ bị đe dọa. Chính vì vậy, để thực hiện tốt kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, đòi hỏi công tác đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục quán triệt sâu sắc hơn nữa và nghiêm túc thực hiện tốt phương châm: Tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Không ngừng đổi mới, tham mưu đúng, trúng với Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh bảo vệ Tổ quốc; để có đối sách đúng đắn, kịp thời, giành thắng lợi trên bàn đàm phán, chiến thắng trên mặt trận ngoại giao, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; nâng cao sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa; không để Tổ quốc bị động, bất ngờ./.