Sinh thời, một trong những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để Đảng xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, nhấn mạnh, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là về tư tưởng chính trị và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mà còn nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức.
Trong thời gian qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo và yêu cầu các cấp ủy đảng, địa phương, đơn vị tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Trung ương. Trong đó, công tác xây dựng Đảng về đạo đức của cán bộ, đảng viên xem là một trong những nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng hiện nay nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới. Qua đó, tiếp tục kế thừa và khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng không chỉ có giá trị lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.
1. Xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh về đạo đức - yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng
Để xác định mục tiêu của đảng cộng sản ở từng nước, C.Mác từng chỉ rõ, trước hết phải giành lấy chính quyền, khi đã giành được chính quyền thì đảng phải lãnh đạo nhà nước của dân, do dân và vì dân để xây dựng xã hội mới. Do vậy, vai trò lãnh đạo của đảng lại càng cần thiết. Bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là sứ mệnh cao cả mà nhân dân trao cho đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhu cầu phát triển của Đảng. Mỗi bước phát triển của cách mạng đòi hỏi phải giải quyết các mâu thuẫn cơ bản một cách sâu sắc, toàn diện và triệt để, khi ấy tất yếu phải tiến hành những biện pháp để xốc lại đội ngũ, chấn chỉnh lực lượng, tăng thêm sức mạnh của Đảng.
Để Đảng làm tròn sứ mệnh của mình trước những chuyển biến của cách mạng, của đời sống xã hội, tất yếu Đảng phải thường xuyên làm trong sạch đội ngũ của mình, phải nâng mình lên ngang tầm với lịch sử, phải chỉnh đốn và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Tiếp thu tư tưởng của C.Mác, V.I.Lê-nin về đổi mới, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam và đưa ra những quan điểm hết sức sâu sắc. Người nhận định, “trong hàng chục vạn cán bộ và đảng viên xứng đáng, còn lẫn vào một số người thấp kém về tinh thần và đạo đức cách mạng. Họ còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân trong mình. Đứng trong hàng ngũ chiến đấu của Đảng mà họ không có dũng khí cách mạng, ít lo nghĩ về trách nhiệm của mình, không quyết tâm vươn lên phía trước. Họ hững hờ như những người không có lý tưởng, đến đâu hay đó, qua tháng qua ngày. Đối với công việc của cách mạng, không có thái độ người làm chủ tập thể, dám nghĩ dám làm, mà thường bị động ngồi chờ”.
Vì những lý do trên mà Đảng phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về đạo đức là đòi hỏi khách quan và cũng là yêu cầu sống còn để bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, nâng cao bản lĩnh chính trị và sức chiến đấu của Đảng, khắc phục những hạn chế, sai lầm khuyết điểm; tạo môi trường và điều kiện để mỗi đảng viên và cán bộ hoàn thiện nhân cách, trở thành người cộng sản chân chính, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
2. Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Trong tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927, ngay trang đầu tiên của tác phẩm, Người đã nêu lên 23 điều về tư cách của người cách mạng, tập trung giải quyết ba mối quan hệ cơ bản, đó là với mình, với người, với việc. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.
Vai trò nền tảng của đạo đức được Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa”, “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức còn có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi mới xã hội cũ thành một xã hội mới và xây dựng thuần phong mỹ tục. Người cho rằng: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước… khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa”.
Qua nghiên cứu các quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, có thể khái quát lại thành những chuẩn mực đạo đức cơ bản sau: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; yêu thương con người, sống có tình, có nghĩa; tinh thần quốc tế trong sáng. Phẩm chất “trung”, “hiếu” là những khái niệm đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống của người phương Đông, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng và đưa vào những nội dung mới, tiến bộ hơn, phù hợp hơn, vượt qua những hạn chế trước đây. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, thì trung với nước là trung thành với sự nghiệp cách mạng, với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây là nước của dân, còn dân chính là chủ nhân đích thực của nước. Từ chỗ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Bác đã chỉ ra: Nhân dân từ chỗ là kẻ nghèo hèn, phải được chăn dắt, sai khiến trở thành lực lượng làm nên lịch sử, sáng tạo ra lịch sử. Trước kia quan là phụ mẫu của dân, thì nay Đảng, cán bộ, đảng viên là “’đầy tớ trung thành của nhân dân”. Theo Người, trung với nước, hiếu với dân là phải suốt đời đấu tranh cho cách mạng, ra sức làm việc giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lấy dân làm gốc, tiếp thu trí tuệ của dân, học hỏi dân, phải biết làm học trò của dân mới làm được thầy của dân. Như thế, sự nghiệp cách mạng mới thành công.
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là phẩm chất đạo đức thể hiện rõ qua hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là các hoạt động hằng ngày của Người. Trong các tác phẩm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại nói về đạo đức cách mạng như: Đường cách mệnh 1927, Đạo đức cách mạng 1958…, những phẩm chất trên được Người đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất. Bác không những giải thích nghĩa của cần, kiệm, liêm, chính mà Người còn nêu lên mối quan hệ giữa 4 phẩm chất đó: Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính. Một con người phải cần, kiệm, liêm nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn. So với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Người cho rằng: “Thiếu một mùa, thì không thành trời. Thiếu một phương, thì không thành đất. Thiếu một đức, thì không thành người”. Cần, kiệm, liêm, chính đối với cán bộ, đảng viên lại rất cần thiết, bởi vì “cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, càng có chức, có quyền càng phải cần, kiệm, liêm, chính “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”.
Chí công vô tư là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào”. Thực hành chí công vô tư là phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng, trái với nhân cách, phẩm chất của một người cộng sản chân chính. Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, bởi “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”.
Tuy nhiên, cần nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân thì việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, chỉ lo “mình béo mặc thiên hạ gầy”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Con người không phải thánh thần, có tốt, có xấu. Chúng ta cần làm cho phần tốt của mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi.
Đạo đức của Đảng hàm chứa tình nhân ái, rộng lớn, bao la. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng, mà trước hết giành cho những người mất nước, người cùng khổ. Yêu thương con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la, vừa gần gũi, bao trùm cả cộng đồng đến từng số phận con người, đánh thức những gì tốt đẹp nhất trong mỗi con người, tạo điều kiện cho họ đứng dậy vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Tình yêu thương con người ở Chủ tịch Hồ Chí Minh vượt ra ngoài phạm vi dân tộc, mang tính nhân loại, vừa bốn biển năm châu, vừa bốn phương vô sản. Đó chính là tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung.
Có thể khẳng định, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về đạo đức cách mạng là tài sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, việc vận dụng và phát triển các giá trị tư tưởng đó vào sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ của đất nước trong điều kiện hiện nay là việc làm không chỉ có giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn./.
Kế thừa truyền thống vẻ vang của các thế hệ cha anh, những năm qua, thanh niên Quân đội đã ra sức rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, vất vả, đầy gian khổ, hy sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch!
Là một bộ phận của thế hệ trẻ Việt Nam, thanh niên Quân đội là lực lượng dự bị hùng hậu của Đảng, lực lượng bổ sung, kế tục đội ngũ cán bộ cho Quân đội. Với tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tuổi trẻ Quân đội luôn xung kích, đi đầu trong các phong trào của thanh niên cả nước; chủ động, tích cực trong mọi nhiệm vụ, trên mọi mặt trận, làm lan tỏa, phát huy phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đặc biệt, thanh niên Quân đội luôn nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, giữ vững và phát huy phẩm chất chính trị; đồng thời là lực lượng nòng cốt trong tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Bám sát yêu cầu, nhiệm vụ, tổ chức Đoàn các cấp trong toàn quân đã chú trọng nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Nhiều hình thức giáo dục đã được triển khai sáng tạo như: Tọa đàm, diễn đàn, sinh hoạt câu lạc bộ lý luận trẻ, sân khấu hóa, các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin (giáo dục qua mạng Internet, hội thi kết hợp trực tiếp và trực tuyến...). “Các đơn vị chủ động nắm, quản lý, giải quyết tình hình tư tưởng, định hướng dư luận trong thanh niên; động viên thanh niên Quân đội tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, phòng, chống “diễn biến hòa bình”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên.
Nhờ vậy, nhìn chung cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm công tác, không dao động trước khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội đã chú trọng lựa chọn những đồng chí có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; năng lực công tác khá; thông thạo trong sử dụng các công cụ, phương tiện trên Internet để tham gia đấu tranh trên các trang mạng xã hội. Thanh niên Quân đội, nhất là cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các cơ quan, học viện, nhà trường đã chủ động lập tài khoản cá nhân, tham gia các trang, nhóm để đấu tranh có hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, đoàn viên còn chủ động viết bài đấu tranh đăng tải trên các báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, truyền thanh nội bộ để tạo thành một mạng lưới đấu tranh rộng khắp. Thông qua các hoạt động nói trên, thanh niên Quân đội đã góp phần vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, củng cố lòng tin của cán bộ, đoàn viên, thanh niên, nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thanh niên Quân đội tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế nhất định: Các hình thức đấu tranh chưa thực sự phong phú, đa dạng; kết quả đấu tranh chưa tương xứng với tiềm năng, năng lực vốn có của cán bộ, đoàn viên thanh niên; số lượng bài viết chuyên sâu chưa nhiều; một số bài viết thiếu luận chứng, luận cứ khoa học nên chưa thực sự thuyết phục người đọc; việc tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng chủ yếu tập trung ở một số cán bộ, đoàn viên chủ chốt;…
Để tiếp tục phát huy vai trò tích cực của thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tích cực tuyên truyền cho thanh niên Quân đội về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua nhiều hình thức phong phú, sinh động, sáng tạo nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, khả năng “tự đề kháng, tự miễn dịch” cho đoàn viên, thanh niên trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Nội dung tuyên truyền, giáo dục tập trung vào các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo 35 các cấp về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới; nhất là những luận điểm chống phá đối với Quân đội hiện nay. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức sáng tạo các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các văn bản của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và các cấp về hoạt động quản lý, sử dụng điện thoại, internet và mạng xã hội trong Quân đội, như: Luật An ninh mạng năm 2018; Thông tư số 202/2016/TT-BQP, ngày 12/12/2016 quy định bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội; Chỉ thị số 1492/CT-BV, ngày 17/9/2013 của Tổng cục Chính trị về tăng cường quản lý các trang mạng xã hội trên internet trong Quân đội;… Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tích cực tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch.
Hai là, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho thanh niên Quân đội.
Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường bồi dưỡng những vấn đề cốt lõi về lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để thanh niên Quân đội có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, luôn kiên định, tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, tiếp tục triển khai thực hiện Hướng dẫn số 824/HD-TN, ngày 25/9/2018 của Ban Thanh niên Quân đội về việc thanh niên Quân đội tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Định kỳ tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, tập huấn kỹ năng cho thanh niên về việc nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, chú trọng phổ biến, quán triệt yêu cầu, nhiệm vụ và trao đổi nội dung, phương pháp, kinh nghiệm nhận diện, đấu tranh; bồi dưỡng kinh nghiệm, kỹ năng khai thác, sử dụng tiện ích của các phần mềm, trang mạng xã hội, như: Blog, facebook, zalo, youtube,… để chia sẻ tin, bài, hình ảnh, bình luận, viết và đăng tải bài chuyên sâu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Ba là, phát huy tốt vai trò của tổ chức Đoàn các cấp trong Quân đội.
Tổ chức đoàn các cấp chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy đơn vị kiện toàn, mở rộng lực lượng, bảo đảm vật chất, phương tiện, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh, rút kinh nghiệm hoạt động đối với cán bộ, đoàn viên, thanh niên là lực lượng nòng cốt đấu tranh của đơn vị. Đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ, học tập những kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả và chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hạn chế, yếu kém, sai phạm. Đặc biệt, cần phát huy tốt trách nhiệm của tổ chức Đoàn trong quản lý, điều hành, quan tâm chăm lo giải quyết nguyện vọng chính đáng của thanh niên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho cán bộ, đoàn viên thanh niên tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, lành mạnh gắn với phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sở trong Quân đội; xây dựng môi trường văn hóa quân sự dân chủ, lành mạnh; từ đó xây dựng hình mẫu người thanh niên Quân đội: “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”. Nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống vẻ vang của Đảng, của Quân đội và của Đoàn, xây dựng niềm tin và truyền thụ kinh nghiệm đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, quan tâm, khơi dậy và phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của thanh niên Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ nói chung, trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch nói riêng để thanh niên Quân đội thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, xứng đáng là lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay./.
Chưa bao giờ người ta lại nói nhiều về các từ “xu thời”, “cơ hội”, “thực dụng” như trong mấy năm trở lại đây. “Xu thời” theo nghĩa đen là biết nắm xu hướng, thời thế để hành động cho phù hợp. “Cơ hội” được hiểu là biết tận dụng thời cơ để hành động đạt mục đích, kết quả cao nhất. Còn “thực dụng” vốn có nghĩa là coi trọng tính ứng dụng thực tế. Bản thân các từ đó không có lỗi, nhưng chúng đã bị biến dạng bởi chính những suy nghĩ, hành vi lệch lạc của một bộ phận người trong xã hội!
Người “xu thời” hiện nay được biểu hiện dưới nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau. Không ít cô cậu thanh niên mới lớn ở thành phố, thị xã, xem phim nước ngoài, thấy người ta nhuộm tóc vàng, đánh son màu tím trên môi thì cũng chạy theo “mốt” gội đầu, “sơn tóc” vàng ệch, tô môi thâm xịt. Một số người “lắm tiền nhiều của” thấy dân nước khác xây dựng những vi-la màu mè thì mình cũng thể hiện sự “sành điệu” bằng cách thiết kế những ngôi nhà “nửa tây, nửa ta” ngất ngưởng, lòe loẹt. Có những cô gái “chân quê” dịu dàng, đoan trang, sau vài năm “đi tỉnh về” cũng “tóc ngắn, quần bò, áo phông” trông thật kệch cỡm. Rồi vị chức sắc này, ông cán bộ nọ thấy người ta có bằng cấp thạc sĩ, tiến sĩ thì mình cũng cố “học”, cố “thi” bằng được lấy tấm bằng để có “cái mác” dán vào “cương vị” cho “oai”, cho... “oách”! Thái độ xu thời thực chất là biểu hiện của sự sùng ngoại, lai căng, tự ti, tự đánh mất mình và cứ tưởng “cái bóng in trên tường to thì chủ nhân là người vĩ đại”!
“Thật đáng tiếc! Đó là cơ hội “ngàn vàng” nhưng anh đã không tận dụng được”- Bình luận viên bóng đá trên truyền hình đã bất chợt thốt lên như vậy khi một cầu thủ của ta đã sút bóng trượt cầu môn trong một tư thế rất thuận lợi. “Cơ hội” chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc nhất định, thậm chí chỉ trong giây lát mà khó có thể lặp lại tương tự. Tận dụng cơ hội tốt để làm việc nghĩa, việc thiện, việc có ích là cử chỉ, hành động đáng biểu dương và tôn vinh. Tuy nhiên hiện nay, không ít người cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống luật pháp và những sơ hở trong công tác quản lý, điều hành của bộ máy công quyền để làm những việc sai pháp luật, trái đạo đức, lương tâm. Có những kẻ triệt để lạm dụng lúc “tranh tối, tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân, bất chấp điều hay, lẽ phải và chính nghĩa ở đời. Xuất phát từ “cơ hội” mà sinh ra bao thứ phiền toái: nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau “một tấc lên trời”, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, nói xấu sau lưng, thậm chí là “ném đá sau lưng”... Từ đó, tư tưởng cơ hội xuất hiện dưới những hành vi, như: thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác...
“Thực dụng” là nấc thang kế tiếp của tư tưởng cơ hội. Lấy lợi ích vật chất là cao nhất, coi đồng tiền là “chìa khóa vạn năng” để giải quyết mọi mối quan hệ xã hội, lúc nào cũng muốn “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”... là những biểu hiện của những kẻ thực dụng. Tất nhiên, hành vi thực dụng khi ẩn chứa kín đáo, tinh vi, lúc hiển hiện công khai, lộ liễu và thỉnh thoảng còn biết “cưa sừng làm nghé” hay “đóng rắn giả lươn” để lòe bịp thiên hạ. Thiếu sự coi trọng giá trị nhân phẩm, không đề cao ý nghĩa tinh thần và những nét đẹp văn hóa, đạo đức nên những kẻ thực dụng sẵn sàng “hạ thấp nhân cách” bản thân, bằng “mọi cách, mọi giá” để mưu cầu, trục lợi cho mình càng nhiều càng... tốt! Chủ nghĩa thực dụng là nguyên nhân dẫn đến nhiều điều nhiễu nhương trong cuộc sống: tham ô, hối lộ, hách dịch, cửa quyền, chuyên quyền độc đoán, bòn rút tài sản của Nhà nước, lạm dụng mồ hôi và công sức của nhân dân...
Xu thời, cơ hội, thực dụng là “con đẻ” của chủ nghĩa cá nhân, là mặt trái của nền kinh tế thị trường và là “hậu quả” của xã hội tiêu dùng hiện đại. Thái độ xu thời dễ làm đánh mất bản sắc văn hóa và giá trị đạo đức quý báu của dân tộc. Tư tưởng cơ hội gây chia rẽ mất đoàn kết, làm cho các mối quan hệ tốt đẹp của con người bị tổn thương. Chủ nghĩa thực dụng tạo nên những hành vi sùng bái đồng tiền, đặt lợi ích vật chất lên trước hết và cao nhất, khiến cho các chuẩn mực xã hội bị đảo lộn. Ở đâu còn có thái độ xu thời, tư tưởng cơ hội và chủ nghĩa thực dụng là ở đó còn những hành động, việc làm thiếu trong sáng, lành mạnh và thiếu tình thương yêu cao đẹp của con người. Đấu tranh ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ những biểu hiện đó là góp phần xây dựng nền tảng đạo đức lành mạnh, văn hóa xã hội tiến bộ, văn minh./.
Thông tư 105/2023/TT-BQP ngày 6/12/2023 của Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn sức khỏe, khám sức khỏe cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, trong đó quy định các bệnh miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự Những bệnh thuộc diện miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự, không nhận vào quân thường trực, gồm:Mời xem toàn văn Thông tư tại: facebook.com/groups/chinhsachphapluat
Hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức
phá hoại, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền
tảng tư tưởng của Đảng ta hòng làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo
của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân. Do đó, cần phải phát
huy tối đa vai trò, trách nhiệm của tất cả cán bộ, đảng viên, nhân dân.
Cơ
sở lý luận
Ngày
22-10-2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là
bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia,
dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đó là
nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng
tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cả hệ
thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.
Nền
tảng tư tưởng của Đảng ta đã được quy định trong Điều lệ Đảng: “Đảng lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí
tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn
của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù
hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam
là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập
trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”.
Những
nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, đó là:
1) Nhóm đối lập về hệ tư tưởng. Đảng ta là hệ tư tưởng vô sản thì những người
theo hệ tư tưởng tư sản, kể cả tàn dư phong kiến sẽ quyết liệt chống lại chúng
ta. 2) Các thế lực thù địch về chính trị luôn chống lại chế độ XHCN của chúng
ta, với mục đích làm con đường phát triển đất nước của Đảng chệch hướng, thay
đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. 3) Những người vốn là đảng viên cộng sản
nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng, đạo đức cách
mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí là phai nhạt lý tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ.
Nhận
diện các nhóm đối tượng nêu trên cho thấy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng dù rất khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng khó khăn và phức tạp đến đâu
cũng phải làm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Các
thế lực thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các
nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư
bản. Ngay ở các nước tư bản phát triển, những nhà hoạt động chính trị thuộc
giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động
chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng XHCN cũng đấu tranh lẫn nhau. Các
lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với những đối
tượng chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức để chống phá cách mạng
nước ta. Một số cán bộ, đảng viên (trong đó có cả những đảng viên đã từng giữ
chức vụ cao trong hệ thống chính trị) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”. Nhóm người này không khó để nhận ra, nhưng lại rất khó
đấu tranh.
Sự
phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch, phản động
Sau
nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các
thế lực phản động ở trong nước và nước ngoài đang thay đổi phương thức hoạt
động. Tuy nhiên, mục tiêu của họ vẫn không thay đổi là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa Quân đội, tiến
tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Họ tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết
Mác - Lênin, đưa ra các luận điệu cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh; phủ định tư
tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Ngoài ra, họ còn bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhiều thủ đoạn
tinh vi; chống phá chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Phương
thức chống phá của họ chủ yếu là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng,
đặc biệt là xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về
trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt
Nam… Họ sử dụng in-tơ-nét và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng những
hạn chế trong quản lý nhà nước để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc
đường lối; tổ chức các hội thảo đòi xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch
sử… Cách làm của họ âm thầm và lâu dài nhưng tác hại thực sự rất khó lường.
Ngang ngược hơn, họ còn đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đòi đa đảng; phá bỏ
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ;
vu cáo Đảng chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng
trị”; đối lập Đảng với Nhà nước và đối lập Đảng, Nhà nước với Nhân dân...
Bên
cạnh đó, các thế lực thù địch còn lôi kéo, kích động một bộ phận người dân và
cả một số cán bộ hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào các mục đích sai trái,
bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội... Đây cũng là những vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để có biện pháp,
phương hướng xử lý, đấu tranh phù hợp, hiệu quả.
Thực
trạng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm
2011) nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng
Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó,
chủ nghĩa Mác - Lênin là những học thuyết sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực,
mà cơ bản, trọng yếu, cốt lõi, nhất là: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ
nghĩa xã hội khoa học. Đó là chủ nghĩa cộng sản khoa học do C.Mác - Ph.Ăng-ghen
xây dựng trong suốt gần 60 năm (từ những năm 40 cho đến cuối thập niên 90 thế
kỷ XIX), được V.I.Lê-nin bổ sung, phát triển trên cơ sở thực tiễn chủ nghĩa tư
bản đã và chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc; phong trào đấu tranh cách
mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên toàn thế giới đang phát
triển mạnh mẽ và giành được những thắng lợi mang tính bước ngoặc như: Công xã
Pa-ri và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đưa tới sự ra đời Liên bang Cộng
hòa XHCN Xô-viết (gọi tắt là Liên Xô), giải phóng hàng trăm triệu nhân dân lao
động khỏi ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư bản.
Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự
vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý
báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân
dân ta giành thắng lợi.
Nói
khái quát, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học thuyết,
những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu
văn minh của tư duy nhân loại, liên tục được bổ sung, phát triển từ những kết
quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử thế giới,
cùng những dự báo về tương lai.
Hệ
thống tri thức này là những kiến thức khoa học có tác dụng trực tiếp nâng cao
trình độ nhận thức, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận
khoa học và nhân cách của mỗi đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, đoàn
viên, hội viên và nhân dân. Nếu mỗi người đều được học tập và chịu khó học tập
không ngừng để quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo những kiến thức này trong
hoạt động thực tiễn thì sẽ luôn đứng vững trên lập trường của người cộng sản,
không bị hoang mang, dao động trước những nội dung tuyên truyền xấu độc, xuyên
tạc của các thế lực thù địch.
Tuy
vậy, trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư đã và đang diễn ra nhanh chóng, sự phát triển siêu tốc của in-tơ-nét,
mạng xã hội (MXH)... tạo nên “thể giới phẳng”, những thông tin không được kiểm
soát, gây nhiều khó khăn cho việc tiếp nhận, phân tích, luận giải để hiểu thấu
đáo nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó là sự tồn tại,
phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản và những khó khăn, thách thức cùng sự
kéo dài của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta; sự tác động của mặt trái cơ chế
thị trường trên nhiều phương diện. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; nạn tham nhũng,
"lợi ích nhóm"... diễn ra còn nhiều, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm
tư, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước.
Lợi
dụng bối cảnh đó, những năm qua, nhất là trong thời gian đại hội đảng các cấp
tiến tới Đại hội XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu
HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các thế lực thù địch, phản động và những phần
tử đối lập, bất mãn chính trị... ở trong và ngoài nước ra sức đẩy mạnh các hoạt
động tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc
Đổi mới của nhân dân ta. Chúng lợi dụng in-tơ-nét, MXH đăng những tin, bài xấu,
độc, xuyên tạc, phản bác, phủ nhận nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; công kích, phủ
nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta.
Nhận
diện âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng
của Đảng ta
Thời
gian gần đây, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đẩy mạnh tuyên truyền
chống phá cách mạng Việt Nam, bằng mọi âm mưu, thủ đoạn. Chúng tăng cường xuất
bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: các báo cáo, nghị quyết, dự luật của
nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của các tổ chức
quốc tế, các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá quốc tế (AI), Tổ chức
Theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp
chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng
cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát
thanh, phát hình bằng tiếng Việt…
Họ
đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các
đài phát thanh - truyền hình có chương trình tiếng Việt; tổ chức nhiều cuộc hội
thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và
ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta. Qua đó, chúng
phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được
trong các cuộc đấu tranh cách mạng đã qua và trong công cuộc Đổi mới, bóp méo
thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót
trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh
trong các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Qua đó, chúng kích động, lôi kéo các tầng
lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc
đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Một
trong những phương thức mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền, chống
phá có hiệu quả nhất hiện nay, đó là MXH. Việt Nam là nước có số người dùng
in-tơ-nét và MXH thuộc tốp đầu trên thế giới, với hơn 64 triệu người dùng
in-tơ-nét (chiếm 67% dân số); hơn 55 triệu người dùng MXH (chiếm 57% dân số) và
436 MXH đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng MXH nhiều
nhất thế giới. Cùng với những giá trị tích cực, MXH cũng bộc lộ những mặt
trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước. MXH được ví như con
dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường đối với người sử
dụng không đúng mục đích. Thực tế, bên cạnh các thông tin bổ ích, có giá trị
đối với xã hội thì còn vô số thông tin, hình ảnh có nội dung xấu, độc có thông
tin sai trái như: xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi
mới, bịa đặt, vu cáo, nói xấu các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước,
gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội
bộ ta trên mọi lĩnh vực. Tác hại của những thông tin xấu độc trên MXH do các
thế lực “mạng đen” tung ra có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận
xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin
của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ
XHCN.
Một
số tồn tại, hạn chế
Trong
những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại
của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
củng cố và tăng cường niềm của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên,
vẫn còn nhiều hạn chế như:
Chưa
đa dạng hóa các hình thức thông tin, chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp
ứng nhu cầu của người dân. Chưa tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông
tin, quan điểm sai trái, thù địch. Chưa phát huy vai trò giám sát, phản biện
của các cơ quan báo chí, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các
tệ nạn xã hội... Chưa hoàn toàn chủ động định hướng, cung cấp kịp thời để làm
chủ thông tin, lấy thông tin tích cực, chính thống đấu tranh chống lại các
thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên MXH, in-tơ-nét. Việc khai
thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, MXH… còn hạn
chế.
Việc
giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại chưa được quan tâm đúng mức; chưa làm tốt việc dự báo, định hướng để
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công
tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam ổn định và phát triển, nâng cao uy
tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế còn hạn
chế. Việc kết hợp đưa thông tin ra nước ngoài và thông tin chính thống từ thế
giới vào Việt Nam chưa chặt chẽ, hiệu quả, do đó chưa hạn chế được nhiều tác
động tiêu cực của những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế
lực cơ hội, thù địch.
Chưa
phát triển nhanh, mạnh, vững chắc với cơ cấu, quy mô hợp lý các loại hình thông
tin theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả, phù hợp xu thế
phát triển khoa học và công nghệ, thông tin, truyền thông thế giới, đáp ứng
quyền tiếp cận thông tin của nhân dân, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, ngang tầm khu vực và thế giới… Vẫn còn tình trạng thông tin
thiếu cân đối, chưa đảm bảo sự đồng đều về phân bố và khoảng cách hưởng thụ
thông tin của nhân dân giữa các vùng, miền.
Các
giải pháp để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Một
là,
tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn Dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu
sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.
Xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư
tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là
thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh,
phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.
Hai
là, tiếp
tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những
thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo
và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc Đổi
mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy
nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh và Hiến pháp. Đổi mới nội dung,
phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo
hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm
quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi
đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên in-tơ-nét,
MXH.
Ba
là,
tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý
kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ
Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm
kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những
thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu
khống, kích động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng Internet, MXH. Phát huy trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước
hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản
bác các quan điểm sai trái, thù địch...
Bốn
là,
tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ
thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua. Đổi mới nội
dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để
vận dụng vào thực tiễn.
Bên
cạnh “chống”, cần tăng cường biện pháp “xây”, thực hiện tốt công tác xây dựng
Đảng ở cơ sở; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện tốt
các nghị quyết của Đảng. Các địa phương sớm kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây
dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù
địch trên không gian mạng. Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống
để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước...
Năm
là,
tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó,
cần đánh giá lại tâm lý xã hội hiện nay, trong đó phải phân tích sâu đến từng
giai tầng xã hội để đánh giá đúng thực trạng nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng
của các đối tượng, từ đó có cách thức tổ chức đấu tranh cho phù hợp, đạt hiệu
quả cao.
Nhiều năm qua, Việt Nam luôn là thành viên
tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời thực hiện nghiêm túc
các nội dung của Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
(CERD). Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công
ước CERD. Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5, qua đó
khẳng định những thành tựu trong công tác nhân quyền nói chung và bảo đảm quyền
của người dân tộc thiểu số nói riêng.
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
(CERD) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết
số 2106 A (XX) ngày 21/12/1965 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc. Công ước CERD ra
đời với mục tiêu lên án, tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc, đồng thời xác
lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết
và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên
chủng tộc, mầu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.
Trong phần mở đầu, Công ước CERD khẳng định: “Tất cả mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật, và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình
đẳng để chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử hay bất kỳ sự kích động phân biệt
đối xử nào”; đồng thời chỉ rõ: “Các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa
bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước
pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc
quốc gia hay sắc tộc” (Điều 5).
Nội dung của Công ước CERD có nhiều điểm tương đồng chủ trương,
đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Ngay từ khi mới khai sinh nước
Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại bản
Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã xây dựng trên các nguyên tắc:
Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; bảo
đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của
nhân dân.
Trên cơ sở đó, Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả công dân Việt
Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều thứ
6); tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia
chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều
thứ 7); ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ
về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều thứ 8).
Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trong đó việc xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt chủng tộc được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và bảo đảm tính thực
thi. Tại Điều 5 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước
Việt Nam.
Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng
phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia
là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc
dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của
mình.
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều
kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.
Đồng thời, các quy định về bình đẳng, không phân biệt chủng tộc được tiếp tục
cụ thể hóa trong các văn bản luật, các chính sách, mục tiêu quốc gia,… và triển
khai đồng bộ ở mọi lĩnh vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm dân tộc
thiểu số phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Chính sự tương đồng về quan điểm, mục tiêu bảo vệ quyền con
người nói chung, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc nói riêng nên từ năm
1982, Việt Nam đã gia nhập Công ước CERD. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn thực
hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; tích cực triển khai thực hiện
nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc
thiểu số.
Trong các năm 1983, 1993, 2000 và 2012, Việt Nam đã bốn lần bảo
vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Điều này cho thấy những
nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc
bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số như xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh
xã hội, bình đẳng giới…
Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5 gửi
đến Ủy ban Công ước và được xếp lịch bảo vệ tại kỳ họp thứ 111 của Ủy ban (dự
kiến tháng 11 và 12/2023). Thông tin về Báo cáo quốc gia CERD 5, bà Trần Chi
Mai - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Dân tộc cho biết báo cáo được
xây dựng toàn diện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước ở Trung
ương và địa phương, các cơ quan Đảng, Quốc hội, các tổ chức chính trị-xã hội,
tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và người dân.
Cụ thể trong Báo cáo CERD 5 tập trung thể hiện kết quả Việt Nam
thực thi Công ước CERD từ năm 2013-2019, tập trung vào các nội dung: Hệ thống
pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc
thiểu số tại Việt Nam; định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp
của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; vai trò
quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; kết quả thực hiện các cam kết cấm và
xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng
trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; các biện pháp bảo đảm
cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân
biệt chủng tộc.
Với những nội dung nêu trên, có thể khẳng định Báo cáo quốc gia
CERD 5 sẽ cung cấp cho cộng đồng quốc tế một bức tranh khá toàn cảnh về vấn đề
chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam, từ những biện pháp lập pháp, hành chính,
tư pháp cũng như các biện pháp khác mà Việt Nam đã xây dựng, triển khai cho đến
kết quả tổ chức thực hiện các biện pháp đó trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2019
nhằm bảo vệ quyền con người, chống các hành vi kỳ thị, phân biệt về chủng tộc
tập trung vào người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Báo cáo CERD 5 được trình bày và bảo vệ tại Ủy ban Công ước sẽ
là cơ hội để Việt Nam tuyên truyền về những thành tựu bảo vệ nhân quyền nói
chung và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người dân tộc
thiểu số nói riêng. Với một quốc gia có tới 53/54 là dân tộc thiểu số thì việc
bảo đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Đồng thời cũng qua Báo cáo CERD 5, hình ảnh đất nước, con người
Việt Nam thuận hòa, đoàn kết, gắn bó, đề cao ý thức tuân thủ pháp luật sẽ được
lan tỏa đến cộng đồng quốc tế, nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy các
quan hệ hợp tác. Từ hiện thực sinh động, thuyết phục này sẽ góp phần bác bỏ
những luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đối
với Việt Nam, nhất là trong vấn đề thực hiện các chính sách đối với đồng bào
dân tộc thiểu số.
Đáng buồn là thời gian qua, trên một số diễn đàn mạng xã hội và
trong một bộ phận dân cư vẫn xuất hiện những quan điểm, ý kiến lạc lõng, sai sự
thật về cái gọi là “kỳ thị dân tộc”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc
thiểu số” ở Việt Nam.
Nguy hiểm hơn, các đối tượng chống phá, thù địch thường xuyên
lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào, các tranh chấp, khiếu
kiện, những vấn đề do lịch sử để lại,… coi đây là mục tiêu để tấn công, hòng
khoét sâu những bất đồng, mâu thẫu, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan. Địa
bàn được các đối tượng chống phá nhắm đến là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây
Nam Bộ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Như ở khu vực Tây Bắc,
các đối tượng chống phá dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông”, và đưa ra yêu
sách về “quyền tự trị”.
Còn ở Tây Nguyên, các đối tượng rêu rao “Tây Nguyên là của người
Thượng”, “người Kinh cướp đất của đồng bào trên chính quê hương của mình” từ đó
kích động “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về
xuôi”. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các đối tượng kích động người dân tộc Khmer ly
khai thành lập “Nhà nước Khơme Krôm độc lập”.
Song song đó, các đối tượng còn lôi kéo, dụ dỗ, tổ chức các hoạt
động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào
mất ổn định; từ đó rêu rao Việt Nam phân biệt chủng tộc, vi phạm nhân quyền,
kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Không khó để nhận diện âm mưu của
các đối tượng chống phá, thù địch này là hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc, gây mất lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, kích động bạo loạn,
lật đổ chế độ.
Thực tế này cho thấy các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm
mưu, thủ đoạn chống phá núp dưới chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc
hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Đặc biệt, việc kích động, chống phá trên
không gian mạng được chúng triệt để khai thác để tỏa “chân rết” đi đến các vùng
miền, xâm nhập vào các cộng đồng người dân tộc thiểu số, tác động theo kiểu
“mưa dầm thấm lâu”, hết sức nguy hiểm.
Thực tế này đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương,
cũng như các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân
tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là
đồng bào khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, các cơ quan chức
năng cần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp
luật đối với các đối tượng có hành vi chống phá, kích động phân biệt chủng tộc.
Người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cần nâng cao
tinh thần cảnh giác, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước,
không tin, nghe theo sự lôi kéo, dụ dỗ của người khác để thực hiện các hành vi
vi phạm pháp luật. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần trách nhiệm, kịp thời
phát hiện những biểu hiện tiêu cực trong cộng đồng để báo cáo tới cơ quan chức
năng làm rõ.
Sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân sẽ
tạo khối đoàn kết gắn bó chặt chẽ, hiệu quả, giúp ngăn chặn hiệu quả và làm
thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu.