Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024

Nghệ thuật quân sự đỉnh cao

 

Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ là thắng lợi của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố vô cùng quan trọng là nghệ thuật quân sự đỉnh cao của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá chính xác tình hình, Đảng ta đã đưa ra những chỉ đạo đúng đắn về chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật chiến đấu để giành toàn thắng.

Phân tích, đánh giá chính xác tình hình

Sau gần 8 năm tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, thực dân Pháp bị tổn thất nặng nề, các kế hoạch xâm lược liên tiếp bị thất bại. Quân đội xâm lược Pháp tuy tăng lên gần 50 vạn, nhưng năng lực chiến đấu lại sút kém. Do đó, vào tháng 5-1953, Chính phủ Pháp cử Tướng Na-va sang làm Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy đội quân Pháp ở Đông Dương thay cho tướng Xa-lăng. Na-va đã đề ra kế hoạch tổng quát về chính trị, quân sự nhằm đảo ngược tình thế.

Trước âm mưu và thủ đoạn của địch, Đảng ta phân tích kế hoạch Na-va chỉ là sản phẩm của thế thua, thế thất bại nên chứa đựng nhiều mâu thuẫn và hạn chế. Đầu tháng 9-1953, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu tổ chức nghiên cứu tình hình để xây dựng kế hoạch tác chiến. Phương hướng chiến lược của ta là “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do, tạo điều kiện giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Theo đó, quân đội ta sẽ đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời chuẩn bị lực lượng đánh những cứ điểm ngày càng mạnh của địch. Đó là quyết sách cực kỳ quan trọng của Đảng để lãnh đạo quân và dân ta tiếp tục tiến lên giành thắng lợi trên mặt trận quân sự.

Bộ chỉ huy quân sự của Pháp chọn Điện Biên Phủ làm bàn đạp để chiếm lại Tây Bắc. Với lực lượng đông, hỏa lực mạnh, công sự vững chắc, các tướng lĩnh của Pháp và Mỹ xác nhận đây là một “tập đoàn cứ điểm đáng sợ”, “một pháo đài bất khả xâm phạm”. 

Tuy nhiên, Bộ Chính trị đã phân tích: Đối với địch, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, nhưng cũng có nhược điểm lớn. Điện Biên Phủ là một kết cấu gồm nhiều cứ điểm tách rời. Nhược điểm này cho phép ta tập trung sức mạnh tiêu diệt và bẻ rời từng cứ điểm để làm suy yếu địch. Thêm vào đó, Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn nằm giữa núi rừng Tây Bắc, rất xa căn cứ hậu phương, mọi việc tăng viện và tiếp tế đều phải dựa vào đường không. Nếu đường không bị cô lập hay cắt đứt, địch sẽ nhanh chóng mất sức chiến đấu. Về phía ta: bộ đội chủ lực của ta đã có những tiến bộ lớn về chiến dịch và chiến thuật, chất lượng chiến đấu của quân ta đã được nâng cao cùng với sự tiến bộ về trang bị kỹ thuật. Vấn đề đường sá, tiếp tế cho chiến dịch đúng là một khó khăn lớn, nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, ta có thể huy động tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến.

Như vậy, với việc phân tích đánh giá đúng tình hình, âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp, Đảng ta nhận định: Điện Biên Phủ là cơ hội đánh tiêu diệt lớn để từ đó có thể chấm dứt chiến tranh, nên Trung ương Đảng đã hạ quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mạnh nhất của địch.

Chủ động, bất ngờ, phối hợp nhịp nhàng các hình thức đấu tranh

Kế hoạch Na-va là một kế hoạch chiến lược lớn vận dụng những nguyên lý của khoa học quân sự của Pháp và Mỹ để phân tích cục diện chiến trường. Trong kế hoạch này, địch dự định tập trung binh lực, tăng cường lực lượng cơ động chiến lược nhằm giành lại thế chủ động, tiến công, chuẩn bị một trận quyết chiến chiến lược trên một chiến trường do chúng lựa chọn. Lúc đầu, địch không có ý định điều quân chủ lực lên chiến trường rừng núi Tây Bắc và trận Điện Biên Phủ đương nhiên không nằm trong kế hoạch chiến lược ban đầu của tướng Na-va.

Tuy nhiên, trong chiến cuộc Đông Xuân (1953 - 1954), ta đã sử dụng một bộ phận lực lượng chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng hiểm yếu mà địch tương đối sơ hở, tiêu diệt từng bộ phận lực lượng của chúng. Từ đó, “ta buộc chúng phải ném chủ lực xuống cánh đồng Điện Biên Phủ. Ta đã tạo nên thời cơ và đã lập tức nắm lấy thời cơ, hạ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ” (1).

Như vậy, Ðiện Biên Phủ từ chỗ không có trong Kế hoạch Na-va của Bộ chỉ huy quân Pháp, lại trở thành điểm hẹn lịch sử cho một trận quyết chiến chiến lược. Điều này thể hiện sinh động sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta với đặc trưng tích cực chủ động, cơ động linh hoạt, bí mật bất ngờ. Trong đó, nét đặc sắc nhất của sự chỉ đạo chiến lược đó là luôn chủ động - giành lấy quyền chủ động, giữ vững và phát triển quyền chủ động trong mọi tình huống: “chủ động trong phản công, chủ động trong tiến công, chủ động cả trong tình huống tạm thời tiến hành phòng ngự” (2).

Cùng với “chủ động” là “bất ngờ”. Sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm cho quân địch đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. “Bất ngờ đến nỗi khi chúng đang tin tưởng có thể tập trung lực lượng cơ động thì bỗng dưng bị buộc phải phân tán ra ở những hướng chúng chưa hề dự kiến. Bất ngờ đến nỗi khi chúng cho rằng ta không còn sức để đánh Điện Biên Phủ thì ngay hôm sau ta mở cuộc tiến công lớn vào Điện Biên Phủ. Bất ngờ đến nỗi trong khi chúng cho rằng Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm có khả năng gây tổn thất không thể cứu vãn cho chủ lực của ta, thì trong thời gian tiếp đó, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn” (3).

Một nét đặc sắc lớn nữa trong sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta là đã tạo nên một sức mạnh to lớn từ sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang với cuộc chiến đấu rộng khắp của nhân dân, giữa hoạt động của ba thứ quân, giữa các mặt trận sau lưng địch với mặt trận chính diện, giữa các chiến trường quan trọng trên phạm vi cả nước ta và trên phạm vi các chiến trường của toàn bán đảo Đông Dương. Sự phối hợp đó còn diễn ra giữa hoạt động quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Từ đó, chúng ta đã tạo nên một sức mạnh tổng hợp to lớn.

Thay đổi cách đánh phù hợp với thực tế

Khi đã hạ quyết tâm mở cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thì vấn đề đặt ra là phải đánh như thế nào để bảo đảm cho chiến dịch lịch sử này giành được toàn thắng. Đó mới là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự.

Trên mặt trận Điện Biên Phủ, lúc đầu chúng ta đã quyết định vận dụng phương châm “đánh nhanh thắng nhanh”, tập trung toàn bộ chủ lực, tổ chức hiệp đồng giữa các binh chủng, mở cuộc tiến công từ một số hướng, tiêu diệt toàn bộ quân địch trong thời gian ba đêm hai ngày. “Theo phương châm ấy, một kế hoạch tác chiến cụ thể đã được đề ra; mọi mặt công tác chuẩn bị đã được triển khai rất khẩn trương; các sư đoàn chủ lực đã được giao nhiệm vụ; các đơn vị pháo binh đã được kéo vào trận địa; công tác bảo đảm hậu cần trên hỏa tuyến đã được đẩy mạnh; mạng thông tin liên lạc đã được tổ chức. Công tác chính trị đã động viên bộ đội và dân công nêu cao quyết tâm giành toàn thắng cho chiến dịch. Quân ta chỉ đợi lệnh là bắt đầu nổ súng” (4).

Tuy nhiên, trong thời gian chuẩn bị, ta đã bám sát quân địch, theo dõi từng động tĩnh của chúng và phát hiện hệ thống phòng ngự của chúng ngày càng được xây dựng vững chắc hơn. “Đến ngày 25-1-1954, khi kiểm tra lại tình hình địch, ta về mọi mặt thì chúng ta đi đến kết luận: tập đoàn cứ điểm của địch đã được củng cố rất nhiều so với trước; trong tình hình đó, kế hoạch đánh nhanh không thể bảo đảm chắc thắng được” (5).

“Sáng ngày 26, vào lúc 11 giờ, ta quyết định thay đổi cách đánh, bỏ kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh, chuyển sang phương châm đánh chắc tiến chắc” (6).

Chiều ngày 26, toàn bộ lực lượng ta đã được lệnh rút ra khỏi trận địa, trở về nơi tập kết; các đơn vị pháo binh trước đây đã được lệnh kéo vào đến nay lại được lệnh kéo ra. “Một công cuộc chuẩn bị mới với một khối lượng công tác tham mưu, chính trị và hậu cần rất lớn lại được triển khai” (7).

Cho đến khi mọi công tác chuẩn bị đã được hoàn thành, quân địch tưởng rằng ta đã bỏ ý định mở cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, thì ngày 13-3, quân ta mở đầu cuộc tiến công lớn vào tập đoàn cứ điểm. Và thắng lợi của chiến dịch chứng tỏ rằng, sự thay đổi phương châm là hoàn toàn chính xác. Nó đã có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của chiến dịch.

Vận dụng những phương pháp chiến thuật mới

Với trận Điện Biên Phủ, quân đội ta đã thực hiện một bước nhảy vọt lớn. “Chỉ trong một thời gian ngắn, từ chỗ tiêu diệt một tiểu đoàn địch hay nhiều nhất là một tiểu đoàn tăng cường trong công sự vững chắc, quân đội ta đã tiến vượt hẳn lên, tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm kiên cố với một lực lượng tinh nhuệ rất mạnh gồm hai mươi mốt tiểu đoàn” (8).

Quân đội ta đã thực hiện bước tiến vượt bậc ấy trong hoàn cảnh trang bị vũ khí của ta rất thô sơ, chưa có máy bay hay xe tăng, pháo binh còn rất hạn chế, trong khi địch có xe tăng, có không quân và pháo binh mạnh.

Bí quyết của bước tiến vọt đó, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, là “sự vận dụng những phương pháp chiến thuật mới, những phương pháp chiến thuật có ý nghĩa chiến dịch nhằm giải quyết yêu cầu mới rất cao của nhiệm vụ là phải tiêu diệt bằng được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ” (9).

Trong đó, chiến thuật quan trọng nhất là lần lượt tiêu diệt từng tiểu đoàn hoặc một số tiểu đoàn địch nằm trong hệ thống tập đoàn cứ điểm. Phương pháp chiến thuật ấy phù hợp với trình độ của bộ đội ta, phù hợp với khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng của quân đội ta lúc bấy giờ. “Trong quá trình phát triển của chiến dịch, quân ta đã sáng tạo ra chiến thuật bao vây đánh lấn, nhanh chóng tiêu diệt từng trung tâm đề kháng của địch mà ta thì bị thương vong rất ít” (10).

Tiếp đến là chiến thuật xây dựng hệ thống trận địa tiến công và bao vây. Bộ đội ta đã xây dựng được một “hệ thống các trận địa vững chắc của pháo binh đặt trên sườn các đồi núi vây quanh Điện Biên Phủ; mặc dù kẻ địch ra sức bắn phá, các trận địa pháo binh của ta vẫn hoạt động tốt, không hề bị gián đoạn” (11).

Triệt đường tiếp tế hậu cần của địch là một thành công lớn của quân đội ta, một trong những kinh nghiệm nổi bật trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi trận địa tiến công và bao vây của ta ngày càng thắt chặt lại, hỏa lực pháo binh rồi đến hỏa lực bộ binh của ta đã khống chế sân bay Mường Thanh. Việc tiếp tế bằng cầu hàng không của địch bị cắt đứt hoàn toàn. “Kết quả là, mặc dù quân địch còn trên một vạn quân, nhưng chúng đã lâm vào cảnh thiếu lương thực, thiếu đạn dược, bị đẩy vào chỗ nguy khốn nghiêm trọng, cuối cùng đã phải đầu hàng (12).

Đi đôi với triệt đường tiếp tế hậu cần của địch, là tìm mọi biện pháp để bảo vệ các tuyến hậu cần tiếp tế của ta. Ngoài những tuyến đường đã có sẵn, chúng ta đã gấp rút mở thêm đường mới, lợi dụng cả đường bộ và đường sông, sử dụng mọi phương tiện vận chuyển từ thô sơ đến hiện đại. Đặc biệt, sự khai thác hậu cần tại chỗ đã có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần giải quyết một phần khá lớn yêu cầu chiến đấu cho quân ta. “Bằng những biện pháp hết sức tích cực và sáng tạo, với một sự cố gắng to lớn, chúng ta đã bảo đảm thành công vấn đề tiếp tế hậu cần cho chiến dịch. Do đó, cái mà địch cho là chỗ yếu không thể khắc phục của ta đã trở thành một nhân tố bất ngờ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch” (13).

Vậy là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nghệ thuật quân sự đỉnh cao, cùng ý chí quyết tâm của toàn quân, sự ủng hộ, chi viện của toàn dân, sau 56 ngày đêm chiến dấu kiên cường và anh dũng, quân và dân ta làm nên một thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thắng lợi oanh liệt của Chiến dịch Điện Biên Phủ đánh dấu đỉnh cao phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; đồng thời là cơ sở quan trọng để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vững tin dám đánh, quyết đánh và đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước sau này.

* (1 - 13): Trích từ cuốn sách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Điện Biên Phủ 50 năm nhìn lại, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2004.

 

Nhân tố quyết định

 

Những ngày này toàn Đảng, toàn Dân và toàn quân ta đang náo nức trong không khí kỷ niệm 49 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2024) và 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 - 7-5-2024).

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vang dội 5 châu, chấn động địa cầu đã buộc thực dân Pháp ngồi vào bàn đàm phán, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, lập lại hòa bình ở Việt Nam. 21 năm sau, cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta kết thúc thắng lợi hoàn toàn bằng Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là bước ngoặt lịch sử của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Hai cuộc kháng chiến thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc ta, đồng thời mang tầm vóc quốc tế và tính thời đại sâu sắc. Những thắng lợi này bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quyết định là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng - kết tinh trí tuệ, bản lĩnh của dân tộc Việt Nam.

Đó là xác định và thực hiện đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhằm một mục tiêu chung là hoàn thành độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Đó là xác định thực hiện đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, kiên định phương pháp cách mạng tổng hợp, gồm hai lực lượng chủ yếu là lực lượng chính trị của quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đồng thời, kiên trì thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công với phương châm: đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, kéo địch xuống thang từng bước, tiến tới đánh bại hoàn toàn quân địch.

Đó là phát huy cao độ nghệ thuật quân sự và vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích được xây dựng vững mạnh, bố trí rộng khắp. Trong đó, các binh đoàn chủ lực giữ vai trò nòng cốt trong các chiến dịch, thực hiện tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn. Nắm vững quy luật chiến tranh, vận dụng và thực hiện sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân, chúng ta đã từng bước chuyển hoá cục diện chiến trường theo hướng có lợi, luôn đánh địch trên thế mạnh, thế chủ động, thế bất ngờ.

Đó là coi trọng công tác đảng, công tác chính trị, trực tiếp định hướng tư tưởng cán bộ, đảng viên, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt ở miền Bắc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của đồng bào miền Nam "thành đồng Tổ quốc". Tạo động lực chính trị - tinh thần to lớn cho đồng bào và chiến sĩ cả nước trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù xâm lược.

Đó là chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đặc biệt cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược có đủ tâm, đủ tầm và kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Những vị tư lệnh, chính uỷ các binh đoàn chủ lực mẫu mực, xông xáo, quyết đoán, toàn tâm toàn ý với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mãi mãi là những tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo.

Đó là phát huy hiệu quả sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới với sự ủng hộ to lớn cả vật chất và tinh thần của cộng đồng quốc tế.

Nhân tố quyết định làm nên thắng lợi của các cuộc kháng chiến cần được kế tục, phát huy cao độ trong điều kiện hiện nay khi tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức đan xen. Vai trò lãnh đạo của Đảng chỉ được giữ vững và phát huy khi Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, thực sự "là đạo đức, là văn minh" như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định. Điều đó chỉ có được từ phấn đấu, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và từ cơ chế khiến mỗi người không dám, không muốn và không thể vi phạm kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2024

 TÍNH THỐNG NHẤT GIỮA TẬP TRUNG VÀ DÂN CHỦ 
TRONG NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác – Lê-nin về đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và cũng là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản. Thực hiện nguyên tắc này là cơ sở đảm bảo sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động của Đảng, làm cho Đảng luôn vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đồng thời, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các tổ chức đảng và mọi đảng viên. Mặt khác, nguyên tắc cơ bản này cũng là trọng điểm mà các thế lực thù địch, chống đối thường tập trung công kích nhằm phá hoại và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Trong nguyên tắc tập trung dân chủ, tập trung và dân chủ luôn thống nhất với nhau, tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ đi đôi với tập trung. Dân chủ là điều kiện, tiền đề của tập trung, tập trung là cơ sở bảo đảm cho dân chủ được thực hiện và phát huy. Dân chủ càng được đề cao thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh đoàn kết của Đảng càng được khẳng định. Nếu thực hành dân chủ tốt, sẽ phát huy được trí tuệ, tiềm năng, khơi dậy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi đảng viên, tổ chức đảng, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng. Bởi vậy, trong tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng, phải thực hiện sự thống nhất chặt chẽ dân chủ với tập trung, không được tuyệt đối hóa hay coi nhẹ mặt nào. Nếu tuyệt đối hóa tập trung sẽ dẫn đến quan liêu, chuyên quyền, độc đoán; ngược lại, tuyệt đối hóa dân chủ sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng, vô tổ chức, vô kỷ luật. Cả hai biểu hiện trên đều không đúng và làm giảm sức mạnh của Đảng.

Không thể phủ nhận tự do internet ở Việt Nam

Kể từ khi chính thức hòa mạng internet vào năm 1997, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là luôn tôn trọng và bảo vệ quyền phát triển của mỗi người dân, quyền được tự do thông tin, tự do internet. Việt Nam chỉ nghiêm cấm những hành vi lợi dụng hệ thống kết nối toàn cầu này để gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, đồng thời xác định trong kỷ nguyên số, tự do internet là một trong những tiền đề quan trọng để phát huy dân chủ và phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Việt Nam có tốc độ phát triển internet ở mức cao trên thế giới.

Việt Nam có tốc độ phát triển internet ở mức cao trên thế giới.

Dù hòa mạng internet muộn hơn so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên Việt Nam đã thu về nhiều thành tựu vượt bậc về tốc độ phát triển, là động lực quan trọng để thúc đẩy sự đi lên của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, được bạn bè quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Tuy nhiên, vì mục đích riêng, vẫn có cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí cố tình phớt lờ mọi nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, quyền tự do internet, đưa ra những đánh giá phiến diện, định kiến, sai sự thật, bỏ qua những điểm sáng, mặt tích cực để xếp Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia không có tự do internet.

Điển hình là Báo cáo thường niên Freedom on the Net 2022 (Tự do trên mạng 2022) được tổ chức Freedom House (FH) công bố ngày 18/10/2022, trong đó xếp hạng Việt Nam là một trong năm quốc gia kém tự do internet nhất trên thế giới.

Đây không phải là lần đầu tiên FH đưa ra những đánh giá phiến diện, tiêu cực, sai sự thật về vấn đề tự do, dân chủ tại Việt Nam. Ngày 2/6/2022, tổ chức này đã ra cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” với nhiều nội dung xuyên tạc tình hình thực tế của Việt Nam, nổi lên là cáo buộc vô căn cứ “chính quyền đang tiến hành thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”. Vào tháng 3 năm nay, FH cũng xếp Việt Nam ở vị trí áp chót khu vực Đông Nam Á về mức độ tự do. Nhìn lại quá khứ, tổ chức này đã 7 lần liên tiếp cho rằng Việt Nam không có tự do internet.

Tự mô tả mình là “tiếng nói cho dân chủ và tự do trên toàn thế giới”, phương thức đánh giá, tiêu chuẩn xếp hạng của FH cũng như nhiều tổ chức nhân quyền khác lại hoàn toàn trái ngược với tuyên bố của họ. Các báo cáo của FH cho thấy tổ chức này không hề dựa trên các cuộc khảo sát, điều tra xã hội học tại các quốc gia được xếp hạng mà chỉ thu thập thông tin từ những nguồn thất thiệt, không chính thống.

Thêm vào đó, tiêu chí xếp hạng nhân quyền của FH chỉ dựa trên ý chí của một hoặc vài cá nhân, nhưng không hề có cơ sở khoa học. Thậm chí trong giai đoạn 1970-1988, nhiều nhà nghiên cứu và báo chí phát hiện ra rằng giám đốc Freedom House, Raymond Duncan Gastil đã một mình soạn thảo các báo cáo thường niên Freedom in the World (Tự do trên thế giới) mà không hề có sự trao đổi, bàn bạc với các học giả, nhà nghiên cứu uy tín.

Trong bài viết The Politics of Rating Freedom: Ideological Affinity, Private Authority, and the Freedom in the World Ratings (tạm dịch Chính trị của xếp hạng tự do: Mối quan hệ tư tưởng, Quyền lực tư nhân và Quyền tự do trong xếp hạng thế giới) trên tạp chí Perspectives on Politics (thuộc nhà xuất bản Cambridge, Anh) xuất bản ngày 18/8/2017, học giả Sarah Sunn Bush bình luận: nhiều nhà phê bình đã nhận thấy sự thiếu sót trong phương pháp luận của Raymond Gastil trong các báo cáo của FH trước năm 1990.

Sau khi tổ chức này thuê một nhóm chuyên gia khác thực hiện báo cáo, tình hình có được cải thiện nhưng FH vẫn vấp phải nhiều sự chỉ trích. Bởi lẽ, các định nghĩa, phương pháp luận của FH về dân chủ có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.

Các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ thường được FH chấm điểm cao hơn so với các nước khác. Hơn nữa, theo ghi nhận của Sarah Sunn Bush, báo cáo của FH có ý nghĩa quan trọng, là nguồn tham khảo với các nhà lập pháp và chính trị gia Hoa Kỳ. Bởi vậy, các quốc gia yếu thế đang tìm kiếm sự hỗ trợ hoặc ưu ái của Hoa Kỳ buộc phải có những động thái mỗi khi FH tung ra các báo cáo mới.

Trên thực tế, không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia trên thế giới đã từng gay gắt phản đối các báo cáo về tình hình nhân quyền của FH như Cuba, Trung Quốc, Nga, Sudan, Uzbekistan,… Chẳng những vậy, nhiều tổ chức xã hội dân sự tại Hoa Kỳ cũng thường xuyên lên án FH.

Ngày 16/2/2018, trên website chính thức của mình, tổ chức The Heritage Foundation nhận định: “Không có lý do gì khiến những người theo chủ nghĩa bảo thủ ở Hoa Kỳ và khắp phương Tây phải quan tâm đến các báo cáo của Freedom House vì chúng không khác biệt với những tuyên truyền của Tổ chức Ân xá quốc tế, Tổ chức Theo dõi nhân quyền hoặc các nhóm bình phong của George Soros (tỷ phú người Mỹ gốc Hungary, người bị cáo buộc thường xuyên tài trợ cho các tổ chức nhân quyền vì động cơ chính trị và đảng phái)”.

Tại Việt Nam, tháng 3/2021, hàng chục nghìn tài khoản facebook đã truy cập vào fanpage của FH để phản đối tuyên bố “Việt Nam không có tự do internet” do tổ chức này đưa ra. Trong đó, nhiều người đã thẳng thắn đề xuất FH nên để cho chính người Việt Nam chấm điểm về tự do trên internet của đất nước mình. Dù vậy, FH đã bỏ ngoài tai những yêu cầu chính đáng của nhân dân Việt Nam để tiếp tục tung ra các luận điệu xuyên tạc sự thật qua những báo cáo mới đây.

Cách đây khoảng ba thập kỷ, việc hòa mạng internet từng là “thử thách rất lớn trong quá trình đổi mới bởi đây là vấn đề rất nhạy cảm” (theo nhận định của ông Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện). Bởi lẽ, quá trình đưa internet vào Việt Nam không chỉ đòi hỏi sự nâng cấp đáng kể về mặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mà còn yêu cầu sự đổi mới tư duy của nhà làm luật.

Tại thời điểm ấy, còn tồn tại nhiều luồng ý kiến e ngại về việc hòa mạng toàn cầu có thể dẫn đến nguy cơ gây mất an ninh quốc gia. Mặc dù vậy, trong giai đoạn 1997-2008, bất chấp nhiều khó khăn, thiếu thốn và hạn chế khi mới hòa mạng toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm và phát huy quyền tự do của người sử dụng dịch vụ internet. Tiêu biểu như Nghị định số 55/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/8/2001 về Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet đã khẳng định không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ internet (Điều 9).

Hay Nghị định số 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/8/2008 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet đưa ra hàng loạt chính sách phát triển internet quan trọng như: khuyến khích việc ứng dụng internet trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội để nâng cao năng suất lao động; mở rộng các hoạt động thương mại; Thúc đẩy việc ứng dụng internet trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, trường học, bệnh viện, các cơ sở nghiên cứu, đưa internet đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; hỗ trợ cải cách hành chính, tăng tiện ích xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm an ninh, quốc phòng; Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và sử dụng dịch vụ internet, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về internet.

Có biện pháp để ngăn chặn những hành vi lợi dụng internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, vi phạm các quy định của pháp luật và để bảo vệ trẻ em khỏi tác động tiêu cực của internet; Phát triển internet với đầy đủ các dịch vụ có chất lượng cao và giá cước hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (khoản 1,2,3,4 Điều 4 Nghị định).

Còn tại Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/7/2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhấn mạnh người sử dụng internet có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật (khoản 1, Điều 10).

Bên cạnh đó, từ quan sát và phân tích sự tăng trưởng về lượng người sử dụng internet tại Việt Nam và thế giới, các nhà hoạch định chính sách, nhà lập pháp đã nhận ra mối liên hệ mật thiết giữa quyền tự do trên internet với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền riêng tư trên không gian mạng,...

Từ đây, Quốc hội cùng các cơ quan chức năng đã tổ chức xây dựng các giải pháp pháp lý phù hợp nhằm bảo đảm các quyền này cũng như phòng, chống, ngăn chặn các hành vi lợi dụng tự do trên internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục. Đây là cơ sở để hình thành một hệ thống văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh của Việt Nam về internet nói riêng, an ninh mạng nói chung như: Luật Viễn thông, Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng,...

Qua đó, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được một hành lang pháp lý quan trọng, góp phần tạo ra một môi trường mạng lành mạnh, an toàn, phát huy quyền tự do, dân chủ của công dân. Song song với quá trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật phù hợp sự phát triển của internet tại Việt Nam, Chính phủ đã phê duyệt hàng loạt đề án phát triển internet với các chỉ tiêu phát triển cụ thể theo từng giai đoạn.

Theo Báo cáo mới đây của Bộ Thông tin và Truyền thông, trung bình cứ 100 người dân Việt Nam có 83 thuê bao internet di động, trong khi thuê bao cố định là 21. Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam 2022 của Bộ Công thương cho thấy người Việt dành 6 giờ 38 phút mỗi ngày để truy cập internet. Đây đều là những thống kê cao hơn mức trung bình của thế giới. Việt Nam cũng nằm trong nhóm các quốc gia có giá cước internet rẻ nhất thế giới. Hiện tại, Việt Nam có 1.952 trang thông tin điện tử tổng hợp và 935 mạng xã hội trong nước đã được cấp phép hoạt động, là những diễn đàn trực tuyến để người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân.

Thực tế nêu trên cho thấy quyền tự do trên internet tại Việt Nam luôn được bảo đảm, phát huy, trái với luận điệu xuyên tạc của một số cá nhân, tổ chức không thiện chí. Không những vậy, là một đất nước văn minh, dân chủ, tiến bộ và thân thiện, Việt Nam luôn sẵn sàng hỗ trợ và tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức quốc tế có thể tìm hiểu, nghiên cứu một cách trung thực, khách quan về công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, bao gồm quyền tự do trên internet, tự do ngôn luận, tự do báo chí trên không gian mạng./. 

ST.

Vai trò, trách nhiệm của báo chí cách mạng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác tư tưởng, tuyên truyền, dân vận. Đây được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cách mạng. Sự thành công của công tác này có vai trò của báo chí.

Báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Đảng lãnh đạo trực tiếp toàn diện báo chí bằng đường lối, chủ trương, chính sách.

Báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Đảng lãnh đạo trực tiếp toàn diện báo chí bằng đường lối, chủ trương, chính sách.

Vì thế, Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm đến xây dựng và phát triển báo chí cách mạng Việt Nam, coi đây là một trong những phương thức để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nhờ đó, nền báo chí cách mạng Việt Nam đạt nhiều kết quả, đóng góp tích cực vào công cuộc kiến thiết nước nhà nói chung và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói riêng. 

Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Quan điểm của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, trách nhiệm của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thời đại ngày nay, không có tờ báo chính trị thì không thể có phong trào gọi là chính trị”, “chúng ta cần trước hết là tờ báo, không có nó thì không thể tiến hành một cách có hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động hết sức có nguyên tắc và toàn diện” báo chí cần “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”; “cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”. “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”. Như vậy, báo chí là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Để làm được điều đó, Người yêu cầu: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”. 

Với người làm báo, Hồ Chí Minh quan niệm: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng”. Họ là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng, góp phần quan trọng trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, Hồ Chí Minh yêu cầu người làm báo phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, trau dồi tư tưởng, học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động, phải luôn nâng cao trình độ văn hoá, rèn giũa nghiệp vụ, mài sắc ngòi bút của mình trong sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh căn dặn: “Về trách nhiệm báo chí, Lênin có nói: Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung. Vì vậy, nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”.
Để báo chí nói chung và người làm báo nói riêng làm được điều đó cần bảo đảm nguyên tắc: “Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị”. Người yêu cầu phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, trong đó có việc đưa đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam vào phụ trách báo chí của Đảng. Theo Hồ Chí Minh, muốn có đóng góp tích cực nhất vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, báo chí phải tự giác phục tùng và tranh thủ tối đa sự lãnh đạo của Đảng. “Chính vì thế cho nên, tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành, v.v.) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”.
Để khẳng định tính tất yếu phải có sự lãnh đạo của Đảng trong báo chí, Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Tờ báo của chúng ta có mấy điểm chính: 1. Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục, và tổ chức dân chúng, để đưa dân chúng đến mục đích chung. 2. Mục đích là kháng chiến và kiến quốc. Để đi đến kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, thì: 3. Tôn chỉ của tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc. Vì vậy: 4. Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là tờ báo của mình, thì: 5. Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và: 6. Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa. Hiện nay, các báo ta thường có những khuyết điểm sau đây: Về mặt tuyên truyền thì không kịp thời và chính trị suông quá nhiều” (10).

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trách nhiệm của báo chí cách mạng, hơn 96 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đao, chỉ đạo công tác báo chí. Đảng khẳng định: báo chí cách mạng phải làm tốt chức năng tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện, khẳng định và nhân rộng ra toàn xã hội cái hay, cái đẹp, những điển hình, những nhân tố mới; đồng thời, phải tích cực đấu tranh phê phán cái xấu, tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (sửa đổi, bổ sung tại Đại hội lần thứ XI) và tiếp tục khẳng định tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013:“Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, đã xác định phải “phát huy vai trò của báo chí truyền thông”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định:“Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng… Tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch” (11). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định nhiệm vụ: Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông, sắp xếp ngành xuất bản, in và phát hành theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiện đại hóa. Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục.
Từ khi Nghị quyết 35 được ban hành, báo chí đã chủ động, tích cực tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí đã thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Từ đó, góp phần khẳng định những thành tựu, tính ưu việt của chế độ, sự đúng đắn trong lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và Nhân dân ta. Đặc biệt, hình ảnh con người Việt Nam vì cộng đồng trong ứng phó với đại dịch Covid-19 được báo chí truyền thông cập nhật thường xuyên, toàn diện, sáng tạo đến đông đảo nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế. Báo chí tích cực tham gia, tiên phong trong công tác đấu tranh, trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nhiều cây bút - nhà báo chuyên sâu về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với những bài viết có tính chiến đấu, thuyết phục cao... góp phần phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm của Nhân dân. Có thể nói, báo chí đã góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bên cạnh các kết quả đạt được, sự đóng góp của nhà báo vào công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn hạn chế. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do tri thức lý luận chính trị của một bộ phận đội ngũ báo chí chưa thực sự sâu sắc, nhận thức về các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa - Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước còn hạn chế. Nguyên nhân của vấn đề này là một số cơ quan đại chúng chưa có chính sách bồi dưỡng lý luận chính trị thường xuyên, liên tục, hợp lý cho nhà báo; một số nhà báo còn ngại, lười học chính trị. Do đó, nhận thức về bảo vệ nền tảng của Đảng chưa toàn diện, coi bút chiến là chính mà chưa chú trọng đến tuyên truyền cái hay, cái đẹp để chứng minh điều ngược lại. Nhiều bài viết chưa xác định rõ đối tượng mình hướng đến để đấu tranh, tuyên truyền, từ đó cách viết, ngôn từ chưa thực sự phù hợp.
Nâng cao vai trò của báo chí trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Để phát huy vai trò của công tác báo chí trong công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Đảng lãnh đạo trực tiếp toàn diện báo chí bằng đường lối, chủ trương, chính sách, những định hướng lớn và nội dung tư tưởng đối với báo chí, bằng công tác cán bộ đối với các tổ chức cơ quan báo chí. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí đã nhấn mạnh phải hoàn thiện cơ chế chính sách và luật pháp.

Chủ trương của Đảng phải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, thể chế liên quan lĩnh vực báo chí, truyền thông và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong đó, chú trọng các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý cho báo điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông trên internet phát triển, phục vụ sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Các cơ quan chức năng cần tham mưu sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí năm 2016 và các luật liên quan; xây dựng cơ chế, chính sách kinh tế báo chí, đặt hàng báo chí, truyền thông phục vụ nhiệm vụ chính trị; chính sách đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và lý luận chính trị cho lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, truyền thông.
Hai là, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác báo chí nói chung và đội ngũ làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng nói riêng.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí ngoài tri thức, hiểu biết về báo chí, cần có trình độ lý luận chính trị, hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Người lãnh đạo cũng cần có khả năng vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào công tác chỉ đạo báo chí. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch không được áp đặt chủ quan, không dùng mệnh lệnh hành chính đơn thuần; phải lấy thực tiễn khách quan làm tiêu chuẩn, thước đo để đấu tranh, phê phán, bác bỏ. Cùng với việc đấu tranh, phê phán, bác bỏ các quan điểm thù địch, sai trái cần khẳng định, tuyên truyền, phổ biến những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định những thành tựu trong chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Mặt khác, người cán bộ lãnh đạo báo chí cần có năng lực, bản lĩnh về chuyên môn, nghiệp vụ để có thể ra quyết định đăng tải tin, bài; bảo đảm đặt lên hàng đầu lợi ích của Đảng, quốc gia, dân tộc, Nhân dân.
Người làm báo nói chung phải có lập trường chính trị vững vàng, nhà báo phải là chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh cách mạng. Do đó, lập trường chính trị tư tưởng vững chắc là tiêu chuẩn và là yêu cầu hàng đầu đối với mỗi người làm báo. Cần đa dạng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, báo chí, như: học tập chính trị, thảo luận chuyên đề, thực tiễn tác nghiệp báo chí hoặc thông qua sinh hoạt của chi bộ, đoàn thanh niên, công đoàn… Thông qua các hình thức này đội ngũ phóng viên, biên tập viên không chỉ nắm vững quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những chủ trương và chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước,... mà còn có điều kiện thể hiện chính kiến quan điểm của mình, thể hiện tin, bài một cách khách quan, khoa học.
Ba là, tăng cường đầu tư các nguồn lực cho các cơ quan báo chí, truyền thông và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Chú trọng rà soát, hoàn thiện cơ chế tài chính đối với công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói chung và các cơ quan báo chí nói riêng. Rà soát, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện quy định, hướng dẫn về chế độ tài chính đối với tin bài, ấn phẩm đấu tranh phản bác trên báo chí, truyền thông và trên không gian mạng. Có chế độ khuyến khích đội ngũ báo chí trong tuyên truyền thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, những mô hình mới, nhân tố mới, người tốt việc tốt… Đồng thời, cần đầu tư tài chính phù hợp cho việc trang cấp trang thiết bị hiện đại cho cơ quan báo chí, trong đó, ưu tiên cho đội ngũ là công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

ST.

Thực chất học thuyết phản kháng phi bạo lực - cơ sở lý luận của “cách mạng màu”

Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, thế giới chứng kiến sự bùng nổ làn sóng chính trị chưa từng có được gọi bằng những cái tên khác nhau rất mỹ miều, như “cách mạng màu”, “mùa xuân Arab”, hay “biểu tình hòa bình” núp dưới các yêu sách “đòi dân sinh”, “xúc tiến dân chủ”, “cải cách”, “bảo vệ nhân quyền”, “chống tham nhũng”, “chống độc tài” hay là “chống gian lận trong bầu cử”...

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn

Đã có không ít nguyên thủ nhiều nước đương quyền hoặc vừa mới giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử đã phải ra đi trước sức ép của làn sóng chính trị này. Ở Việt Nam, một số kẻ cơ hội chính trị, phản động đã vận dụng học thuyết phản kháng phi bạo lực, đề ra chủ thuyết về "cách mạng trắng", "cách mạng hoa sen"... với âm mưu thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam. Vậy thực chất của học thuyết phản kháng phi bạo lực là gì?   
Nạn nhân của học thuyết phản kháng phi bạo lực, điển hình là cuộc “cách mạng hoa hồng” trong năm 2003 buộc Tổng thống Gruzia Eduard Shevardnadze phải từ chức ngay sau khi vừa tuyên bố đắc cử tổng thống để nhường ghế cho Mikheil Saakashvili-một chính khách được đào tạo rất bài bản ở Mỹ. Cuộc “cách mạng cam” lần thứ nhất ở Ukraine năm 2004 đưa Viktor Yushchenko lên cầm quyền và cuộc “cách mạng cam” lần thứ hai cuối năm 2013 đầu năm 2014 dẫn tới cuộc chiến tranh bạo loạn lật đổ chính thể của Tổng thống Viktor Yanukovych. Phong trào chính trị mang tên “mùa xuân Arab” từ cuối năm 2010 tới nay vẫn chưa chấm dứt ở các nước Bắc Phi-Trung Đông, núp dưới khẩu hiệu “chống tham nhũng” và “chống độc tài” để lật đổ chính thể của chính phủ nhiều nước trong khu vực này. “mùa xuân Arab” đã dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược Libya do NATO tiến hành để xóa bỏ chính thể của Tổng thống Muammar Gaddafi. “Cuộc cách mạng nhung” dẫn tới bạo loạn chính trị ở Venezuela năm 2012 với toan tính ngăn chặn Tổng thống Hugo Chaves tái đắc cử nhưng bất thành. Cuộc “cách mạng trắng” ở Nga với toan tính ngăn cản Vladimir Putin đắc cử nhiệm kỳ thứ ba trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2012... 
Theo giới phân tích chính trị quốc tế, căn nguyên sâu xa của làn sóng các cuộc “cách mạng màu” trên đây đều xuất phát từ một học thuyết chính trị mang tên “phản kháng phi bạo lực”-nghĩa là không thiên về sử dụng bạo lực để giành chính quyền. Học thuyết này đang là tâm điểm thu hút sự quan tâm của dư luận quốc tế và giới nghiên cứu công nghệ chính trị. Một trong những chuyên gia bậc thầy về học thuyết “phản kháng phi bạo lực” là Michael McFaul-vị đại sứ của Mỹ ở Nga nhậm chức vào năm 2012. Michael McFaul từng nhận được học bổng theo chương trình đào tạo mang tên “Cecil Rhodes, 1853-1902” để theo học tại Đại học Oxford (Anh). Chương trình này chuyên đào tạo giới tinh hoa chính trị của nhiều nước nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của đế chế Anh trên toàn thế giới dưới khẩu hiệu “đòi dân chủ” và “vì tự do”. Theo Michael McFaul, khi quá trình phi thực dân hóa bùng phát sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Chính phủ Anh quyết định phát triển một hình thức bá chủ thế giới kiểu mới được gọi là cuộc “chiến tranh ủy nhiệm”. Chủ trương chiến lược này được nghiên cứu và hoàn thiện tại Đại học Oxford theo một chương trình mang tên "Đề án phản kháng dân sự và chính sách sức mạnh", gọi tắt là CR&PP (Civil Resistance and Power Politics). Từ năm 2006, lãnh đạo đề án này là hai vị giáo sư của Đại học Oxford là Adam Roberts và Timothy Garton Ash. 
Adam Roberts cũng là người phụ trách chương trình của Đại học Oxford về thay đổi tính chất chiến tranh (Oxford University Programme on the Changing Character of War) nhằm áp dụng các biện pháp phản kháng phi bạo lực trong chiến lược chính trị và quân sự trên phạm vi toàn cầu. Trong một cuộc hội thảo quốc tế tại Đại học Oxford được tổ chức trong khuôn khổ Đề án CR&PP do Adam Roberts chủ trì, Michael McFaul tham dự và đọc tham luận về học thuyết phản kháng phi bạo lực. Về sau, Michael McFaul tập trung nghiên cứu về Nga và trở thành chuyên gia hàng đầu về học thuyết phản kháng phi bạo lực với nhiều công trình nghiên cứu như “Cuộc cách mạng chưa kết thúc ở Nga: Những thay đổi chính trị từ Gorbachev tới Putin” (“Russia's Unfinished Revolution: Political Change from Gorbachev to Putin”); “Sự lựa chọn phổ biến và nền dân chủ có điều khiển: Các cuộc bầu cử ở Nga trong những năm 1999-2000” (“Popular Choice and Managed Democracy: The Russian Elections of 1999 and 2000”); “Dân chủ và chuyên quyền trong thế giới hậu cộng sản” (“Democracy and Authoritarianism in the Рostcommunist World”) và “Dân chủ tiến bộ trên thế giới: vì sao chúng ta cần và chúng ta có thể hành động thế nào” (“Advancing Democracy Abroad: Why We Should and How We Can”)... Chính Michael McFaul là kiến trúc sư trưởng của nhiều cuộc “cách mạng màu” và là người chấp bút bản báo cáo tổng kết của Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) về các cuộc “cách mạng màu” trong không gian hậu Xô viết
Một chuyên gia chính trị học người Mỹ khác là Gene Sharp-nhà lý luận bậc thầy về học thuyết phản kháng phi bạo lực và cũng từng được đào tạo tại Đại học Oxford. Gene Sharp nổi tiếng thế giới bởi những tác phẩm của ông viết về các phương pháp phản kháng phi bạo lực nhằm lật đổ các chế độ cầm quyền được ông gọi là “chuyên chế”. Năm 1983, Gene Sharp thành lập Viện xã hội mang tên Albert Einstein-một tổ chức phi chính phủ chuyên nghiên cứu cách thức sử dụng các phương pháp đấu tranh phi bạo lực. Gene Sharp là tác giả hai chuyên khảo nổi tiếng mang tựa đề "Từ chuyên chế đến dân chủ" ("From Dictatorship to Democracy") và "198 phương pháp phản kháng phi bạo lực" ("198 Methods of Nonviolent Action"). Hai tác phẩm này là cơ sở lý luận và thực tiễn của học thuyết phản kháng phi bạo lực, được dịch ra hàng chục thứ tiếng và phổ biến rộng rãi ở nhiều nước. Chỉ tính riêng năm 2012 đã có 44 bản dịch học thuyết phản kháng phi bạo lực của Gene Sharp sang tiếng Nga, tiếng Thái, tiếng Arab, tiếng Myanmar... và được sử dụng làm “cẩm nang” của “các chiến sĩ đấu tranh cho tự do” chống lại chế độ “chuyên chế” ở nhiều nước trên thế giới. Những tác phẩm của Gene Sharp được sử dụng làm giáo trình huấn luyện về chiến lược và chiến thuật phản kháng phi bạo lực tại Trung tâm quốc tế nghiên cứu về xung đột phi bạo lực của Mỹ. Các lực lượng đối lập ở nhiều nước, nhất là một số nước cộng hòa trong không gian hậu Xô viết và các nước Arab từng trải qua các khóa huấn luyện tại trung tâm này. Vì thế, Gene Sharp được mệnh danh là “cha đẻ” tư tưởng về các cuộc “cách mạng màu” đã và đang diễn ra trên khắp thế giới.
Theo học thuyết phản kháng phi bạo lực của Gene Sharp, quần chúng nhân dân không chỉ là người bỏ lá phiếu bầu nguyên thủ các quốc gia mà cũng có thể là lực lượng nòng cốt trong các cuộc bạo loạn chính trị để lật đổ họ một khi không đáp ứng được lợi ích của phương Tây. Khi đó, người dân được kích động, lôi kéo bằng rất nhiều thủ đoạn tinh vi và trở thành các chiến binh thực sự trong cuộc chiến tranh bạo loạn được tiến hành dưới khẩu hiệu “đòi dân chủ”, “vì tự do”, “đòi nhân quyền”, “chống tham nhũng”, “chống đói nghèo”... Tuy nhiên, theo Gene Sharp, hoạt động phản kháng phi bạo lực để lật đổ chính thể của các quốc gia “chuyên chế” không chỉ bằng các biện pháp “biểu tình hòa bình” mà trong trường hợp cần thiết phải kết hợp với hành động can thiệp quân sự từ bên ngoài. Cuộc chiến tranh xâm lược do NATO tiến hành ở Libya năm 2011 là diễn biến tiếp theo sau các cuộc “biểu tình hòa bình” trong “mùa xuân Arab” là thí dụ điển hình nhất về luận điểm này của Gene Sharp. Cũng theo Gene Sharp, phản kháng phi bạo lực không chỉ là sự phản kháng của người dân trong khuôn khổ pháp luật như thiết lập đối thoại với chính quyền mà còn có thể xóa bỏ luật pháp hiện hành bằng bạo lực. Trong số 198 phương pháp phản kháng phi bạo lực do Gene Sharp đề xuất, có cả các phương pháp bạo lực như khủng bố, làm giả tài liệu, phát tán tiền giả, cướp bóc, hãm hại, ám sát, thâm nhập vào những công trình được bảo vệ để chiếm giữ các tòa nhà và văn phòng của chính phủ. Các cuộc “cách mạng màu” hay phong trào “mùa xuân Arab” đã thể hiện rất rõ luận điểm này của Gene Sharp. 
Theo học thuyết phản kháng phi bạo lực của Gene Sharp, hoạt động lật đổ chính thể của một quốc gia diễn ra theo 3 giai đoạn. Giai đoạn 1, phát hiện các điểm yếu trong bộ máy chính quyền sở tại như nạn tham nhũng của các quan chức chính phủ, khó khăn kinh tế-xã hội, khoảng cách giàu-nghèo quá lớn, nội bộ chính quyền bị chia rẽ, gian lận trong bầu cử. Từ đó xác định khẩu hiệu cho các hoạt động “mềm” như mít tinh và biểu tình nhằm khoét sâu thêm khiếm khuyết và tiêu cực trong xã hội và hệ thống chính trị, từ đó quy kết bộ máy quản lý yếu kém của chính quyền và chứng tỏ chính thể hiện thời “không có năng lực” và “không hợp lòng dân”... Để thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn này sẽ sử dụng bộ máy truyền thông, trước hết là các mạng xã hội như Facebook, Twitter... Lấy cảm hứng từ hiệu quả rất cao của các mạng xã hội trong việc khơi mào các hoạt động phản kháng và đẩy tới bạo loạn chính trị, cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã đưa ra dự báo về “kỷ nguyên cách mạng màu từ mạng internet”. Nhiệm vụ của giai đoạn này còn là để kiểm chứng khả năng phản ứng của chính quyền, khả năng kích động dư luận xã hội và liên kết các nhóm phản kháng đơn lẻ thành phong trào chống chính phủ trên quy mô lớn, thậm chí trong phạm vi cả nước. Giai đoạn 2, tập trung làm băng hoại uy tín và thể diện của bộ máy quyền lực nhà nước, thậm chí vận động các quan chức chính phủ đã thoái hóa biến chất đứng về phía “người dân” để chống lại chính quyền. Giai đoạn 3, ra tối hậu thư yêu cầu người đứng đầu chính quyền từ chức, thậm chí gây bạo loạn để lật đổ chính thể hiện hành và dựng lên chính quyền mới đáp ứng lợi ích của các thế lực bên ngoài. 
Trung tâm điều phối toàn bộ hoạt động phản kháng phi bạo lực là đại sứ quán nước ngoài ở nước sở tại và các cơ quan tình báo quốc tế. Tài trợ trực tiếp cho các hoạt động này là hàng trăm tổ chức phi chính phủ của phương Tây hoạt động trên khắp thế giới như “Ngôi nhà tự do” , “Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Cộng hòa”, “Viện quốc gia nghiên cứu quốc tế của Đảng Dân chủ”, Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ. Những tổ chức này tài trợ cho hàng nghìn tổ chức phi chính phủ được lập ra ở các quốc gia mục tiêu-nơi dự kiến sẽ tiến hành “cách mạng màu” để lật đổ chính quyền sở tại. Những tổ chức này hiện diện trước hết tại các quốc gia nằm ở những khu vực đang diễn ra cạnh tranh địa-chính trị giữa các cường quốc như không gian hậu Xô viết, Bắc Phi-Trung Đông, Mỹ Latin, Đông Nam Á, Nam Á. Lực lượng trực tiếp tiến hành hoạt động phi bạo lực là các lực lượng đối lập thường được hình thành ở những quốc gia có chế độ chính trị đa nguyên đa đảng, hoặc “đội quân thứ năm” được cài cắm trong hệ thống chính trị của nước sở tại. Công cụ để tiến hành hoạt động phản kháng phi bạo lực là bộ máy truyền thông rộng khắp, trước hết là mạng xã hội Facebook hay Twitter...
Nắm rõ bản chất của học thuyết phản kháng phi bạo lực là vấn đề rất quan trọng để giữ vững ổn định chính trị ở các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển. Đối với công dân Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, nắm chắc thực chất của học thuyết phản kháng phi bạo lực để có "sức đề kháng" trước âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; cũng như góp phần ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; thực hiện bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa./.

ST.

Nhận diện, phê phán những biểu hiện lệch lạc trong sáng tạo văn chương hiện nay

Nền văn học nước nhà trong hơn 35 năm đổi mới chứng kiến sự cách tân mạnh mẽ từ góc độ nội dung lẫn thi pháp biểu hiện và tư tưởng nghệ thuật. Tuy vậy, mỗi sự phát triển luôn bao hàm mặt trái của nó. Dưới quan điểm biện chứng, mỗi giai đoạn văn học đều có những giới hạn tất yếu cần thẳng thắn chỉ ra nhằm khắc phục, từ đó hạn chế tối đa những tác hại có thể gây ra cho bạn đọc nói riêng và đời sống văn hóa tinh thần xã hội nói chung.

Ảnh minh họa: TTXVN

Ảnh minh họa: TTXVN

Cảnh báo những biểu hiện lệch lạc trong sáng tạo văn chương
1. Vấn đề nổi cộm, lệch lạc trong đời sống văn học thời gian qua cần chỉ ra là việc hư cấu lịch sử vượt ra khỏi logic của sự thật và bối cảnh xã hội thực tiễn của lịch sử. Viết về lịch sử không thể viết tùy tiện, sáng tạo hư cấu như thế nào cũng được. Nhà văn viết về lịch sử có thể sáng tạo ra tâm lý, ngôn ngữ, tư tưởng, tình cảm cho những nhân vật lịch sử nổi tiếng có thật, thậm chí có thể hoàn toàn sáng tạo ra thêm một vài nhân vật hư cấu để làm rõ hơn dụng ý nghệ thuật của mình, như Nguyễn Xuân Khánh đã làm trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly”.
Nhưng nhà văn viết về lịch sử buộc phải nghiên cứu kỹ bối cảnh xã hội của thời điểm lịch sử mà tác phẩm đề cập đến. Đặt một loài cây, một đồ vật, một chi tiết, một sự kiện chưa/không thể có ở thời điểm lịch sử mà tác phẩm miêu tả, thì đó nhất định là một lỗi sáng tạo, một nhầm lẫn kém cỏi, chứ không thể ngụy biện dưới cái ô “sáng tạo không giới hạn về lịch sử”, hay thậm chí là cả thủ pháp “hư cấu siêu sử ký” (historical fiction) của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong văn học hậu hiện đại, những nhà văn như Isaac Bashevis Singer, Donald Barthelme có chủ ý và công khai ngay từ đầu những hư cấu lịch sử phi lý, cố tình trộn lẫn các sự kiện, nhân vật vào những bối cảnh xã hội khác nhau. Còn ở ta, đơn giản là những nhà văn có sự nhầm lẫn, sai sót về thời điểm và văn hóa lịch sử trong sáng tạo.
2. Vẫn còn hiện tượng nhiều nhà văn thường chủ trương sử dụng các chi tiết dục tính (sex), kinh dị, những chất liệu ngôn từ suồng sã, dung tục quá nhiều trong tác phẩm đã tạo ra nhiều hệ lụy, tác hại đối với đời sống tinh thần bạn đọc. Việc xuất hiện yếu tố sex, kinh dị hay từ tục trên văn đàn thế giới, trong sáng tác của các bậc thầy văn học là không hiếm. Nhưng yếu tố sex, từ tục hay kinh dị, huyền ảo xuất hiện trong tác phẩm của những bậc thầy văn học là những thủ pháp nghệ thuật có tính tư tưởng, có quan niệm thẩm mỹ nhất định.
Ngược lại, nhiều tác phẩm văn học đương đại của Việt Nam hiện nay chủ yếu chỉ tập trung vào sex, kinh dị, hay sử dụng từ tục nhằm gây scandal (bê bối) nhằm nổi tiếng và bán sách. Ranh giới giữa thanh và tục, giữa thủ pháp nghệ thuật với sự non kém nghệ thuật, vấn đề đạo đức trong sáng tạo văn học luôn rất khó để minh/nhận định. Cùng một từ, một bối cảnh, một hành vi, nhưng ở nhà văn có tài, có tâm, thì nó có thể là một sáng tạo, ngược lại, với những nhà văn kém tài, hoặc có tài song tâm không trong sáng, thì nó chỉ đơn thuần là một chiêu trò để thu hút độc giả.
3. Biểu hiện lệch lạc khác trong sáng tác văn học là kiểu sáng tạo theo bản năng, viết văn “cứ hay là được”, “vô chiêu thắng hữu chiêu”. Rất nhiều nhà văn hiện nay, cả thế hệ già lẫn thế hệ trẻ cố chấp tin rằng tài năng thiên bẩm của họ sẽ là tấm hộ chiếu thông hành suốt đời trên con đường văn chương. Họ chẳng cần bất kỳ một "visa" nào để đi vào những thế giới khác của nghệ thuật đương đại thế giới.
Có nghĩa là, nhà văn cứ viết theo cảm xúc, nhận thức cá nhân là được, không cần đọc nhiều các tác giả đồng nghiệp, đọc văn học thế giới lại càng viển vông xa vời, tất nhiên không cần đọc các tri thức xã hội nhân văn hay khoa học tự nhiên làm gì cho mất thời gian. Những lý thuyết văn học, những trào lưu, trường phái văn học thế giới lại càng xa xỉ đối với nhà văn Việt Nam. Điều này dẫn đến hiện trạng những sáng tác văn học Việt Nam thiên về miêu tả vấn đề địa phương, về suy tư cá nhân, thời gian bị tù đọng.
Những nhà văn dẫu tài năng nhất cũng sớm tàn lụi, hoặc mất đi sức sáng tạo, sự cương mãnh trong tư duy nghệ thuật sau khi những tác phẩm đầu tay đã gây xôn xao văn đàn, hứa hẹn một sự nghiệp tươi sáng. Họ đã không thể đi xa và đi lâu dài trong thế giới nghệ thuật khi tác phẩm thiếu đi tính tư tưởng, tính thời đại, những kiến thức đương đại về lý thuyết văn học và những quan điểm mỹ học, triết học mới.
Nhiều nhà văn ngày nay có thể vẫn có những tác phẩm đáng chú ý, hoặc tác phẩm bán chạy trên thị trường sách, song họ đã không còn là người tiên phong, người dẫn đầu cho một thời đại văn học mới. Đơn giản hơn, họ đã không vượt qua được cái bóng của chính mình trong quá khứ. Chính vì ít đọc, nhất là ít đọc những kiệt tác văn học thế giới đương đại cùng những lý thuyết văn học, trào lưu và trường phái văn học mới của thế giới nên nhiều nhà văn ở nước ta ngộ nhận trong sáng tạo. 
4. Trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay, tạo ra những hạn chế và lệch lạc không nhỏ là bộ phận văn học mạng. Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, “thế giới phẳng” theo cách nói của nhà báo người Mỹ T.Friedman, nơi chứng kiến thân phận của tri thức bị biến thành hàng hóa và được chu chuyển, buôn bán trên internet. Nhà văn viết bằng bàn phím và mười đầu ngón tay chứ không dùng bút giấy truyền thống nữa.
Mạng xã hội trở thành cộng đồng diễn giải chính, là không gian khả dĩ để nhà văn tồn tại, thay vì thế giới của thực tại. Thế giới ảo đang dần lấn át thế giới thực, từ đó những tác giả và tác phẩm văn học mạng bước ra văn đàn, lấn át những nhà văn truyền thống. Hàng loạt nhà văn được đông đảo bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ/nhỏ tuổi hiện nay yêu mến cuồng nhiệt là nhà văn mạng. Họ chiếm lĩnh thị trường sách một cách áp đảo so với văn học viết truyền thống. Đa phần họ đều trẻ tuổi, thông minh, có tài năng.
Tuy nhiên, mặt trái của văn học mạng, xuất phát từ đặc trưng trong tiếp nhận và bản chất của ngôn ngữ, đó là nặng về tính giải trí, tính truyền thông đa phương tiện mà yếu về tính tư tưởng, thiếu chiều sâu về nghệ thuật. Chúng ta không phủ nhận những đóng góp của văn học mạng. Sự phát triển của nó trong xu thế văn hóa, văn minh hiện nay là tất yếu, song cũng cần nhận ra văn học mạng chỉ chủ yếu là văn học giải trí, văn học thị trường hoặc là cận văn học. 
Tạo "bệ đỡ" và không gian lành mạnh cho sáng tạo văn chương chân chính
Từ nhận định nói trên, chúng ta có thể thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn học nói chung, cũng như thực tiễn sáng tạo văn học nói riêng. 
Giải pháp đầu tiên là đổi mới tư duy trong quản lý văn nghệ. Các cơ quan quản lý văn học hiện nay đa phần nặng về tính hành chính và tư tưởng mà thiếu đi những nhà chuyên môn đích thực, được đào tạo bài bản. Những hội văn nghệ cả ở Trung ương và địa phương ngày càng mở rộng quy mô hội viên, song lại hoạt động chưa hiệu quả, nặng về tính quan liêu, cơ chế xin-cho và bị mối quan hệ cá nhân chi phối. Do đó, cần sớm đổi mới phương thức quản lý nhà nước về văn học-nghệ thuật, cũng như đổi mới phương thức hoạt động của các hội nghề nghiệp liên quan đến văn chương, nâng cao chất lượng các giải thưởng văn học.
Trong tình hình hiện nay, cần quan tâm đến đời sống nhà văn, nhất là các nhà văn trẻ, làm sao cho họ có thể sống được với đam mê và nghề nghiệp. Muốn vậy, cần quảng bá, khuyến khích phát triển văn hóa đọc. Vị thế của môn văn trong nhà trường cũng cần được cải thiện, thông qua đổi mới cách giảng dạy văn chương, đổi mới cách lựa chọn tác phẩm văn học. Người học văn phải được tự do sáng tạo trong cảm thụ và nghị luận, từ đó mới yêu văn chương một cách thuần khiết. Nhà nước, các nhà xuất bản và các đoàn thể, doanh nghiệp cần thành lập những quỹ bồi dưỡng tài năng trẻ, những giải thưởng văn học danh giá, có giá trị kinh tế cao.
Bên cạnh đó, cần chú trọng đến vai trò của bộ môn lý luận văn học nói riêng và ngành Ngữ văn nói chung trong hệ thống giáo dục đại học. Chính họ sẽ là những nhà lý luận, phê bình văn học tương lai-"bà đỡ" cho những tác phẩm lớn ra đời. Chỉ có thể có một nền văn chương lớn chừng nào có một nền lý luận phê bình văn học vững mạnh. Các hội văn học, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương cần tổ chức thường xuyên hơn các diễn đàn, hội nghị trao đổi, hội thảo khoa học và các khóa học ngắn hạn về lý luận, phê bình văn học cho các nhà báo, nhà văn và giáo viên, giảng viên của ngành văn học.
Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, cần chú trọng làm trong sạch và nâng cao chất lượng xuất bản, văn hóa đọc. Các cơ quan chức năng cần phối hợp các giải pháp tư tưởng, hành chính để tinh lọc, loại bỏ những tác phẩm tiêu cực, có nội dung độc hại, rẻ tiền, chủ yếu đánh vào tâm lý tò mò, những động cơ thấp hèn, bản năng của bạn đọc và tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa, đạo đức xã hội.
Việc làm căn cơ hơn là kiến tạo cho nhà văn không gian sáng tạo lành mạnh, để họ có thể phát huy tâm huyết, tài năng của mình nhằm cho ra đời những tác phẩm văn chương có giá trị về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật. Muốn vậy, cần có chính sách đãi ngộ tốt cho những nhà văn thực tài. Các tạp chí văn học cần nâng cao mức nhuận bút, các nhà xuất bản cần mạnh dạn đầu tư cho những bản thảo văn học tốt (chứ không phải chỉ bán giấy phép để lấy tiền), các hội văn nghệ cần có quỹ sáng tạo văn học lớn để đầu tư cho sáng tác. Nguồn tiền đầu tư cho sáng tác văn học cần đa dạng hóa, ngân sách nhà nước, doanh nghiệp ủng hộ, gây quỹ bạn đọc... Nhà văn sống được với nghề nghiệp, là một con người tử tế, đàng hoàng, thì mới có thể an tâm đầu tư sáng tạo ra những tác phẩm chân chính, có giá trị về tư tưởng, nghệ thuật./.

ST.

Cần nhận thức đúng chế độ dân chủ của xã hội ta ngày nay

Hiện nay có những luận điệu sai trái được lan truyền trên không gian mạng rằng: “Mô hình “độc đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo) là một mô hình tạo ra sự mất dân chủ trong xã hội Việt Nam".

Ảnh minh họa / Vietnam+

Ảnh minh họa / Vietnam+

Theo luận điệu này, muốn có một xã hội dân chủ, muốn phát triển thì Việt Nam phải từ bỏ “chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN)”, đi theo con đường “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” như ở các nước phương Tây. Vậy luận điệu trên sai trái ở điểm nào?
Xã hội dân chủ tại Việt Nam mang giá trị chung của nhân loại
Trước hết, tư tưởng dân chủ của phương Tây có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ dân chủ xuất hiện đầu tiên tại Athens, Hy Lạp trong thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Về nội dung, đó là “quyền lực thuộc về nhân dân” đồng thời theo nguyên tắc đa số. Nhưng khái niệm “nhân dân” ở đây không bao gồm phụ nữ và người nô lệ. Về mặt phương thức, dân chủ có nhiều hình thức: Dân chủ trực tiếp đó là những người tham gia bầu cử bầu ra người đại diện cao nhất của xã hội. Dân chủ gián tiếp-dân chủ đại diện là người bầu cử chỉ bầu ra người đại diện của mình... từ đó chỉ có những người đại diện mới bầu ra cơ quan và người lãnh đạo xã hội. 
Trải qua quá trình phát triển, chế độ dân chủ trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình, trong đó có chế độ dân chủ đa đảng nhưng thực chất chỉ có hai đảng thay nhau cầm quyền như ở Mỹ (Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa); hay dân chủ với nhiều đảng nhưng đều thừa nhận Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền như tại Trung Quốc... Đáng lưu tâm là vào năm 2019, Đại học Cambridge (Anh) có một nghiên cứu cho thấy mức độ bất mãn về thực trạng nền dân chủ tại Hoa Kỳ và Anh ở mức cao đặc biệt. Cụ thể, năm 2019, tỷ lệ người không hài lòng với nền dân chủ ở Anh lên tới 61%. Tại Mỹ, mức độ hài lòng chỉ còn dưới 50%. Như thế có thể thấy, chế độ dân chủ tại hai quốc gia trên chưa làm hài lòng chính công dân của họ, nên không thể và không nên được coi là hình mẫu cho nền dân chủ của bất cứ quốc gia nào.   

Chế độ dân chủ của chúng ta khởi nguồn từ khi dân tộc Việt Nam đi theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ những thập niên đầu thế kỷ 20. Giữa vòng vây của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đã vùng lên tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại được độc lập dân tộc, đồng thời xây dựng xã hội mới. Trong “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Nhà nước của chúng ta đã kế thừa có chọn lọc những tư tưởng dân chủ trên thế giới: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Từ đó, trong phần cuối của “Tuyên ngôn Độc lập”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Ngay từ hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta-Hiến pháp năm 1946 đã cho thấy các quyền công dân (bao gồm cả quyền con người) được bảo đảm. Hơn 77 năm qua (1945-2022), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đấu tranh giành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội, vượt qua những giai đoạn đầy khó khăn, gian khổ, đến nay đã trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế ngày càng phát triển, có vị thế, uy tín cao trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Những mô hình xã hội Việt Nam là sự vận dụng và phát triển sáng tạo các mô hình xã hội hiện đại trên thế giới, đồng thời kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nền dân chủ của Việt Nam hiện nay là nền dân chủ gắn với chế độ làm chủ của nhân dân, do một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền-đó là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hệ thống chính trị Việt Nam là cơ sở chính trị-pháp lý của nền dân chủ Việt Nam. Về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “1- Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Như thế, qua quy định trong Hiến pháp có thể thấy: 1-Đảng không chỉ là đại diện lợi ích cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà còn là đại biểu trung thành lợi ích của cả dân tộc; 2-Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền nhưng các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; 3-Dân chủ gắn liền với Nhà nước và pháp luật.
Cũng theo Hiến pháp năm 2013 thì: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Các đại biểu Quốc hội được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, nghĩa là mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia trực tiếp bầu cử đại biểu Quốc hội để đại diện cho tiếng nói của mình tại cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. 
Dân chủ trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Chế độ dân chủ của Việt Nam còn bao hàm cả văn hóa dân chủ. Trong đó, các cán bộ, công chức phải là công bộc của nhân dân. Các cấp chính quyền phải bảo đảm phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cùng với đó, công dân phải tuân thủ pháp luật.              
Chúng ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, bản chất là yêu cầu thượng tôn pháp luật, mọi cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong xã hội phải sống và làm việc trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây là yêu cầu mà mọi nhà nước pháp quyền trên thế giới đều hướng tới.                   
Thế nhưng, hiện nay có nhiều người lầm tưởng rằng, môi trường internet, mạng xã hội là môi trường dân chủ vô hạn độ, người ta muốn nói gì thì nói, viết gì thì viết... mà không phải chịu trách nhiệm. Đó là một sai lầm rất nguy hiểm, vì suy nghĩ như vậy không khác nào coi môi trường internet, mạng xã hội là một môi trường vô luật pháp. Không ít người đã vi phạm pháp luật bị xử lý, thậm chí bị xử lý hình sự vì những phát ngôn xuyên tạc, chống đối Đảng, Nhà nước; vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác trên internet và bị quy vào tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Bộ luật Hình sự. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ quốc gia nào, các quyền dân chủ đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật.   
Tương tự, quyền tự do báo chí của công dân được Nhà nước ta tôn trọng, bảo vệ. Tuy nhiên, quyền tự do đó cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Điều 10, Luật Báo chí năm 2016 quy định rõ: “Quyền tự do báo chí của công dân bao gồm: “1.Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2.Cung cấp thông tin cho báo chí; 3.Phản hồi thông tin trên báo chí; 4.Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”.
Điều 9 của Luật Báo chí quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, ví dụ như: “Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có nội dung: a) Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; b) Bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; c) Gây chiến tranh tâm lý; Đăng, phát thông tin có nội dung: a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc...; Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc...; Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy...”.
Sở dĩ ngày nay, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao trước hết nhờ những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, tích cực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ, bảo đảm an sinh xã hội. Việt Nam còn là một môi trường hòa bình, ổn định, có quan hệ ngoại giao hữu nghị với các nước, đấu tranh vì tiến bộ trên thế giới. Vừa qua, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là lần tái cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc sau nhiệm kỳ 2014-2016 rất thành công, cho thấy uy tín cao của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế về dân chủ, nhân quyền. Những thực tế khách quan đó cho thấy bản chất của xã hội XHCN tại Việt Nam là một xã hội dân chủ, vì con người, và không có luận điệu xuyên tạc nào có thể phủ nhận./.

ST.