Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

Một số vấn đề cơ bản về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền

 TCCS - Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, trong đó, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(1). Như vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là nguyên tắc căn bản để bảo đảm tính thượng tôn pháp luật, mọi lợi ích thực sự thuộc về nhân dân, là điều kiện then chốt để hiện thực hóa nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn với các đại biểu dự Kỳ họp thứ 20, Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hoá khoá XVIII, nhiệm kỳ 2021 - 2026_Ảnh: TTXVN

Tính tất yếu của kiểm soát quyền lực nhà nước

Quyền lực vốn là của nhân dân, nhân dân sử dụng quyền ấy bằng cách ủy quyền cho nhà nước, thông qua đó, nhà nước lại trao quyền cho các cá nhân và tổ chức đại diện để vận hành xã hội với mục tiêu phục vụ lợi ích nhân dân. Tuy vậy, lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh, rằng “quyền lực luôn có xu hướng tha hóa” khi thiếu cơ chế kiểm soát hợp lý và hiệu quả. Thực tế, quyền lực luôn có tính hai mặt: 1) Trong xã hội có tổ chức, sự tồn tại của quyền lực là tất yếu để duy trì hoạt động xã hội trong khuôn khổ, trật tự, bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng; 2) Quyền lực luôn luôn có xu hướng bị lạm dụng. 

Trong nhà nước pháp quyền, bầu cử là phương tiện chủ yếu để người dân thực hiện sự ủy quyền, lựa chọn người cầm quyền. Ở mỗi chế độ chính trị khác nhau, các cuộc bầu cử được tiến hành nhiều cách thức riêng, song đều nhân danh lợi ích nhân dân để ban hành các quyết định chính trị. Người được bầu chọn phải cam kết phục vụ cho lợi ích của người dân, khi họ không giữ lời hứa, nhân dân sẽ thay thế bằng người khác. Như một lẽ tự nhiên, ở đâu xuất hiện sự ủy quyền thì ở đó chứa đựng nguy cơ lạm dụng quyền lực. Thực tế, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng và tự tăng cường vai trò của mình, do vậy, người dân phải kiểm soát quyền lực ấy; cũng do vậy, nhiều nước chú trọng xây dựng các quy định và các điều kiện giúp người dân có thể tước quyền nếu quan chức được bầu có hành vi lạm dụng quyền lực. 

Tính vị kỷ và khát vọng quyền lực của con người đã được các nhà tư tưởng chính trị chỉ ra rằng “Quyền lực luôn có xu hướng tha hóa và quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối”(2). Vì vậy, để ngăn ngừa nguy cơ quyền lực bị lạm dụng, các nhà nước trên thế giới đều phải thiết kế các cơ chế kiểm soát quyền lực riêng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa chính trị, nhận thức, tư duy về thực trạng và tương lai đất nước trên nguyên tắc bảo đảm người nắm giữ quyền lực công cộng không thể lạm quyền hoặc sử dụng quyền lực vì mục đích mang tính cá nhân.

Tuy nhiên trong thực tế, hiện tượng tham nhũng, lợi dụng chức quyền của các quan chức vẫn tương đối phổ biến, đặc biệt là ở các nước đang phát triển có hệ thống kiểm soát quyền lực vẫn chưa đủ mạnh để ngăn ngừa các hành vi lạm dụng quyền lực. Việc lạm dụng quyền lực nhằm trục lợi cá nhân xuất phát từ vấn đề quyền lực nhà nước là sức mạnh và là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng, nhưng quyền lực ấy lại được giao cho một số người với những năng lực hữu hạn thực hiện; về mặt lý thuyết, thì “tập thể trao quyền cho cá nhân vì lợi ích chung”(3), nhưng cũng từ đó, việc sử dụng quyền lực mắc phải sai lầm xuất phát từ hạn chế cố hữu của con người và nếu rủi ro xảy ra thì nhân dân lại phải gánh chịu những hậu quả. Mặt khác, chính sự hữu hạn về năng lực điều hành trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước khiến các quyết định, chính sách của nhà nước không đem lại hiệu quả mong muốn, thậm chí còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người dân. Vì vậy, việc thiết lập một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả là rất quan trọng, bảo đảm các quyết định, chính sách được bàn bạc, thảo luận trước khi ban hành, hạn chế thấp nhất tình trạng đưa ra quyết định sai lầm. 

Mục đích và phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền hiện nay

Như vậy, quyền lực nhà nước tất yếu phải được kiểm soát. Việc kiểm soát quyền lực nhà nước theo nghĩa rộng chính là việc thiết kế tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước sao cho đúng mục đích, hiệu quả nhất; là toàn bộ những cách thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó để ngăn chặn, loại bỏ những hành động sai trái của nhà nước, phát hiện và điều chỉnh việc thực thi quyền lực bảo đảm mục đích và hiệu quả của quyền lực nhà nước. Kiểm soát quyền lực nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước hợp pháp bằng thể chế với mục tiêu xác định. 

Mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước

Từ góc độ chủ nghĩa mác-xít, mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước chính là khắc phục sự tha hóa của quyền lực, đưa quyền lực nhà nước trở về đúng bản chất quyền lực của nhân dân, thực hiện chức năng công quản của xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả. Kiểm soát quyền lực nhà nước là khắc phục những nan giải của chính thể đại diện. Trong nhà nước pháp quyền, quan hệ giữa nhà nước - nhân dân chính là quan hệ giữa người đại diện - người chủ. 

Nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích và hiệu quả, quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước trước hết là việc kiểm soát phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước, bởi quyền lực nhà nước là quyền lực được ủy nhiệm nên trước hết chủ thể quyền lực có quyền kiểm soát đối với quyền lực nhà nước trong phạm vi tác động của quyền lực. Kiểm soát quyền lực cũng cần được thể hiện ở việc kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi hiến pháp, bao gồm cách thức, quy trình hình thành, điều chỉnh, sửa đổi hiến pháp theo đúng quy trình dân chủ, bảo đảm hiến pháp phản ánh được ý chí, lợi ích của nhân dân, không xâm phạm đến lợi ích của cá nhân, nhân dân trong xã hội. Kiểm soát quyền lực nhà nước còn thể hiện ở khâu kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đó là: 1) Kiểm soát cách thức tổ chức bộ máy nhà nước nhằm bảo đảm sự tuân thủ đúng các quy định của hiến pháp và khả năng vận hành hiệu quả trong thực tế; 2) Kiểm soát hoạt động hoạch định chính sách của nhà nước bảo đảm quá trình ra chính sách của nhà nước tuân thủ những quy trình, thủ tục quy định trong hiến pháp và các đạo luật, bảo đảm hiệu quả của hoạt động ra chính sách; 3) Kiểm soát các chính sách, quy định của nhà nước nhằm ngăn chặn, loại bỏ những chính sách, quy định trái với hiến pháp và luật, vi phạm đến quyền và lợi ích của công dân; các chính sách không phù hợp với thực tiễn, không có tính khả thi hoặc hiệu quả kém cũng phải được điều chỉnh, sửa đổi hoặc loại bỏ; 4) Kiểm soát hoạt động thực thi chính sách của nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động đó tuân thủ theo các quy định của pháp luật, ngăn chặn, loại bỏ những hoạt động, hành vi sai trái hoặc kém hiệu quả của nhà nước. Đặc biệt, quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước phải là sự kiểm soát những người thực thi quyền lực nhà nước, thể hiện ở kiểm soát quy trình lựa chọn những người đảm nhiệm các công việc của nhà nước và kiểm soát hoạt động của các chủ thể thực thi quyền lực nhà nước theo quy định của hiến pháp, các đạo luật, những cam kết chính trị, đạo đức khi ở cương vị là người thực thi quyền lực. 

Các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước

Thứ nhất, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước. Tính chất của quyền lực nhà nước là việc người dân ủy nhiệm một phần quyền của mình cho nhà nước, vì thế, chỉ trong các lĩnh vực đòi hỏi có sự phối hợp xã hội, đòi hỏi sự tuân thủ quyền lực công thì mới cần tới quyền lực nhà nước. Vậy nên, việc xác định và kiểm soát trong các phạm vi tác động là rất quan trọng, nhờ đó mà không gian hoạt động của công dân và xã hội được thừa nhận và bảo đảm, đồng thời góp phần làm cho quyền lực nhà nước được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. C. Mác từng khẳng định: “Tự do là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối cao của xã hội thành một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội, và ngay cả ngày nay nữa, các hình thức nhà nước tự do hay không tự do là tùy ở chỗ trong những hình thức ấy, “sự tự do của nhà nước” bị hạn chế nhiều hay ít”(4). Việc hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, như thông qua hiến pháp, các đạo luật, quy ước, luật lệ bất thành văn… tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và truyền thống văn hóa chính trị của mỗi quốc gia. 

Thứ hai, kiểm soát quyền lực thông qua hiến pháp và các chế định hiến pháp. Với tư cách là bộ luật cao nhất, là tuyên ngôn của nhân dân về quyền lực nhà nước, hiến pháp giới hạn quyền lực nhà nước trong một trật tự hiến định, qua đó, nội dung, cách thức và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước có tính bền vững và khó thay đổi. Hiến pháp quy định các quyền và tự do cơ bản của con người. Để tránh tình trạng các đại diện có xu hướng vi phạm quyền của nhân dân khi được ủy nhiệm, một hiến pháp tiến bộ thường bao gồm cả các quy định về các quyền cơ bản của con người. Kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua các chế định hiến pháp là bằng bầu cử định kỳ, hay là sự kiểm soát gián đoạn, được thể hiện ở: 1) Quyền bãi miễn của nhân dân là một phương thức để xử lý vấn đề khi những người được ủy quyền không đủ năng lực phục vụ nhân dân. C. Mác đã khẳng định ngay từ khi thiết lập Công xã Pa-ri rằng: “Công xã loại bỏ hoàn toàn hệ thống đẳng cấp chính trị và thay thế những ông chủ ngạo mạn của nhân dân bằng những đầy tớ luôn có thể bị bãi miễn; thay thế một trách nhiệm tưởng tượng bằng một trách nhiệm thật sự vì những người được ủy nhiệm này luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân”(5); 2) Quyền thay đổi hiến pháp, hiến pháp sẽ được thay đổi khi có sự đồng ý của một đa số người dân; 3) Quyền quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia thông qua trưng cầu dân ý thể hiện rằng các quốc gia sử dụng trưng cầu dân ý như một phương thức phê chuẩn sửa đổi hiến pháp hoặc thể hiện quyền quyết định của người dân, trong thực tiễn, đây chính là sự kiểm soát quyền lực rất mạnh mẽ. 

Thứ ba, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách tối ưu hóa các mục tiêu của nhà nước. Thông qua các quy định ràng buộc của hiến pháp và pháp luật, quyền lực nhà nước được giới hạn trong các mục tiêu xác định. Tuy nhiên, trên thực tế, do hạn chế của hiến pháp và pháp luật, cũng như xuất phát từ các nguyên nhân khác nên quyền lực nhà nước có thể được sử dụng cho đa mục tiêu so với quy định ban đầu, dẫn tới sự sai lệch hoặc phân tán về quyền lực, nguồn lực. Do đó, cần kiểm soát quyền lực nhà nước theo sát các mục tiêu ban đầu hoặc tối ưu hóa mục tiêu phát sinh trong tổng thể. 

Thứ tư, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua sự kiểm soát của nhân dân và xã hội được thể hiện tập trung ở việc bầu cử theo nhiệm kỳ. Qua bầu cử, cử tri và nhân dân có thể loại bỏ những đại diện không xứng đáng với sự ủy nhiệm của mình ra khỏi nhà nước. Ph. Ăng-ghen từng khẳng định: “Để ngăn ngừa sự chuyển hóa ấy của nhà nước và các cơ quan của nhà nước, từ chỗ là công bộc của xã hội thành ông chủ đứng trên đầu xã hội - sự chuyển hóa không thể tránh từ trước đến nay trong tất cả các chế độ công xã đã áp dụng hai biện pháp rất chính xác; tất cả những chức vị quản lý, tư pháp, giáo dục nhân dân đều giao cho những người đầu phiếu phổ thông bầu ra, ngoài ra các cử tri có quyền bãi miễn bất cứ lúc nào những người mình bầu ra”(6). Tuy nhiên, quy trình này cũng cần tính đến trường hợp các cuộc bầu cử phổ thông và định kỳ trong thực tế gặp những vấn đề nan giải, đó là việc soi xét, kháng cáo thường xuyên nhằm phóng đại các khuyết điểm của nhà nước, làm giảm sự tôn trọng cần thiết đối với nhà nước và dễ dẫn tới mất ổn định. 

Thứ năm, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua sự giám sát của nhân dân, phương tiện thông tin đại chúng, công luận. Sự giám sát chặt chẽ của nhân dân là một yếu tố cốt lõi để bảo đảm tính minh bạch, công bằng và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của nhà nước, qua đó, mọi hoạt động của nhà nước sẽ hướng đến phục vụ lợi ích của toàn dân, từ đó tạo ra một môi trường xã hội ổn định và phát triển. Giám sát bằng phương tiện thông tin đại chúng cũng là một mắt xích quan trọng của quá trình kiểm soát quyền lực nhà nước, có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Phương tiện thông tin đại chúng, do tính chất nghề nghiệp của mình trong xã hội, có khả năng kết nối, tạo công luận gây sức ép với nhà nước, buộc nhà nước phải có trách nhiệm trong nhiều vấn đề quan trọng. Đây là sự giám sát, phản biện có tính chất thường xuyên của xã hội đối với nhà nước, đặc biệt trong thời đại số hiện nay, cách thức giám sát này càng thể hiện vai trò quan trọng.

Thứ sáu, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cách tách các lĩnh vực của quyền lực nhà nước và bằng cơ chế kiềm chế đối trọng trong bộ máy nhà nước. Đây là hai phương thức kiểm soát phổ biến ở các nhà nước pháp quyền tư sản. Kiểm soát bằng cách tách các lĩnh vực của quyền lực thể hiện yêu cầu khách quan của sự chuyên môn hóa và để hạn chế sự chuyên quyền của nhà nước, phương thức này thể hiện ở sự phân chia chức năng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhánh lập pháp quyết định luật nào được thông qua, nhánh hành pháp thực thi luật và nhánh giám sát việc thực thi. Sự phân chia các nhánh quyền lực nhà nước nhằm mục đích cân bằng quyền lực, ngăn chặn bất kỳ một nhánh riêng lẻ nào giành quá nhiều quyền lực; làm tăng trách nhiệm của các quan chức được bầu. Kiểm soát thông qua cơ chế kiềm chế đối trọng trong bộ máy nhà nước được vận hành bởi việc cơ quan lập pháp có thể thực hiện quyền lực đối với người đứng đầu hành pháp thông qua việc yêu cầu hành pháp ra lệnh thực thi một đạo luật và bỏ phiếu luận tội; thực hiện quyền lực đối với tư pháp như thông qua một sửa đổi hiến pháp và thông qua luật. Quyền lực của tư pháp đối với hành pháp xuất phát từ việc thực hiện các quyền hiến định bảo vệ công dân khỏi hành động chuyên quyền trong thực thi luật. Tuy nhiên, việc kiểm soát bằng thể chế như vậy cũng gặp phải sự hạn chế, đó là sự ngăn cản khả năng người đại diện làm những việc sai trái, nhưng cũng có thể ngăn cản các đại diện làm những việc đáng làm (đây là sự kém linh hoạt và chậm trễ của thực thi quyền lực nhà nước). 

Nhìn chung, các cơ chế kiểm soát khác của nhà nước được thể hiện ở việc nhà nước thiết kế những thể chế có trách nhiệm kiểm soát các cơ quan đại diện thực thi quyền lực của nhà nước, nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm hoạt động của nhà nước đạt được đúng mục tiêu, hiệu quả.

Các đại biểu Quốc hội tiến hành bấm nút biểu quyết tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV_Nguồn: quochoi.vn

Vấn đề phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ở Việt Nam, sau thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định nhiệm vụ quan trọng: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm và tệ nạn xã hội”(7); đồng thời tập trung “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”(8) và “Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở các quy luật thị trường. Tăng cường công tác giám sát, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêu cực của thị trường, không can thiệp làm sai lệch các quan hệ thị trường”(9). Thêm vào đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và đặc biệt Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đều nhấn mạnh phải “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”(10).

Đến nay, với nhiều thành tựu to lớn đạt được sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới cả về “thế” và “lực”, đứng trước “cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”(11). Tuy nhiên, dù đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, song một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề này chưa được luận giải một cách đầy đủ, thuyết phục; tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; đặc biệt, quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện(12)

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực được hiểu là việc cùng nhìn về một mục tiêu của các bộ phận quyền lực nhà nước trong thực thi các quyết định chính trị. Theo đó, việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước cần thỏa mãn các điều kiện, như cần có cơ chế kiểm soát quyền lực, nghĩa là mọi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, lạm dụng, lợi dụng quyền lực phải bị truy cứu và xử lý phải rõ ràng và phối hợp nhịp nhàng để tránh sự chồng chéo, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân được phân công trong quá trình thực thi công vụ, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi đúng lộ trình và hiệu quả cao. Đây cũng là giải pháp được nhấn mạnh trong Nghị quyết 27-NQ/TW: “Hoàn thiện cơ chế thực thi quyền lực nhà nước, xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của mỗi cơ quan và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước”(13).

Ở Việt Nam, cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bởi Đảng thực thi quyền lực chính trị của mình trước hết bằng Nhà nước và thông qua quyền lực nhà nước. Đảng có trách nhiệm kiểm soát quyền lực nhà nước đi đúng quỹ đạo, là công cụ mạnh mẽ, đắc lực nhất để thực hiện mục tiêu, lý tưởng chính trị của Đảng. Đặc biệt, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên, bằng công tác tổ chức và cán bộ bên trong các cơ quan nhà nước, nên sự phân công nhiệm vụ và phối hợp công tác trong Đảng mang tính quyết định đối với phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước. Đồng thời, cũng cần cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ Đảng thông qua các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát... nhằm bắt buộc các tổ chức đảng, đảng viên được trao quyền phải thực hiện quyền lực được ủy nhiệm đúng với mục đích và tôn chỉ của Đảng.

Công cụ phân công và phối hợp chủ yếu giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước là đạo đức và thể chế, dựa trên các giá trị đạo đức xã hội, tập quán pháp, các thiết chế, quy định, luật pháp… đã được thiết lập. Việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước bằng đạo đức căn bản dựa vào nhận thức và sự tự giác của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, phương thức phân công và phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực cần dựa trên nền tảng Hiến pháp, pháp luật. 

Việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đều hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và nhân lên các giá trị ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa/.

--------------------------

(1) Hiến pháp Việt Nam năm 2013: Điều 2: Khoản 1 và 3

Lật tẩy màn kịch “khóc mướn, kêu oan” cho đối tượng Đường Văn Thái

 Tuần qua, sau khi TAND thành phố Hà Nội mở phiên xét xử sơ thẩm vụ án “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước” quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự đối với Đường Văn Thái (HĐXX tuyên phạt Thái 12 năm tù giam, quản chế 3 năm), các thế lực thù địch lại giở chiêu trò tung tin xuyên tạc, chống phá, đánh tráo bản chất vụ việc.

Lại diễn trò xuyên tạc, bôi nhọ hoạt động ngoại giao của Việt Nam

 Với đường lối độc lập, tự chủ, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam đã xây dựng hình ảnh tích cực và uy tín trong mắt cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng, hoạt động đối ngoại của Việt Nam cũng đối mặt với những thách thức, đặc biệt là âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. 

Tăng cường phòng chống, lãng phí trong các cơ quan Trung ương

 Mới đây, trong bài viết “Chống lãng phí”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “công tác phòng, chống lãng phí đang đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới rất khẩn trương, cấp bách”. Nội dung bài viết có giá trị chỉ đạo sâu sắc, là cơ sở để tiếp tục nâng cao chất lượng phòng chống lãng phí trong các cơ quan Trung ương, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đã được Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Trong bài viết “Chống lãng phí”, đồng chí Tổng Bí thư đánh giá, kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã góp phần đưa công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu to lớn; đạt và vượt hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội qua các nhiệm kỳ, kể cả trong bối cảnh có những thách thức chưa từng có tiền lệ như dịch bệnh, thiên tai; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất nước. Tuy nhiên lãng phí còn diễn ra khá phổ biến, dưới nhiều dạng thức khác nhau, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sự phát triển chung của đất nước. Trong đó, gây suy giảm nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, giảm hiệu quả sản xuất, tăng gánh nặng chi phí, gây cạn kiệt tài nguyên, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Hơn thế, lãng phí còn gây suy giảm lòng tin của người dân với Đảng, Nhà nước, tạo rào cản vô hình trong phát triển kinh tế - xã hội, bỏ lỡ thời cơ phát triển của đất nước”. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư đã đề ra bốn giải pháp trọng tâm để công tác phòng, chống lãng phí được thực hiện quyết liệt trong hệ thống chính trị, trong các cơ quan, đơn vị, trách nhiệm của cấp ủy và đảng viên đối với công tác phòng, chống lãng phí.

 Tổng Bí thư Tô Lâm.

Quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm chính là sự cụ thể hóa tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong thời kỳ đất nước đang bước vào “kỷ nguyên mới”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một quy luật đi lên của một đất nước. Theo Bác, không phải chỉ nước nghèo mới thực hành tiết kiệm, mà cả nước giàu cũng phải tiết kiệm: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” (1); đồng thời Người luôn chú trọng phòng, chống lãng phí: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ” (2). Người chỉ rõ: “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô. Kinh nghiệm chứng tỏ rằng: Ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc chắn có tham ô, lãng phí; nơi nào bệnh quan liêu càng nặng thì nơi đó càng nhiều lãng phí, tham ô. Cho nên, muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu” (3). 

Thấm nhuần những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương bao gồm 61 đảng bộ trực thuộc, với gần tám vạn đảng viên đang công tác trong cơ quan tham mưu chiến lược, hoạch định chính sách tầm vĩ mô của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương. Trong những năm qua, Đảng ủy Khối và các đảng ủy trực thuộc đã phối hợp với đảng đoàn, ban cán sự đảng, lãnh đạo các cơ quan Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, đảng viên tham mưu thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị, trong đó có việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Góp phần thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua các giai đoạn; công tác đấu tranh phòng, chống lãng phí được thực hiện toàn diện với quyết tâm chính trị cao, không có vùng cấm và đạt nhiều kết quả quan trọng.

Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các cơ quan Trung ương còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã chỉ ra qua các vụ án, vụ việc cho thấy một số bộ, ngành còn gây thất thoát, lãng phí nghiêm trọng qua các dự án đầu tư công; ở một số cơ quan, đơn vị có tình trạng đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ chưa đúng người, đúng việc, thiếu khách quan, toàn diện, chưa tạo được môi trường làm việc bình đẳng để tạo cơ hội cho cán bộ yên tâm công tác, cống hiến; việc áp dụng công nghệ thông tin, số hóa dữ liệu trong hoạt động hành chính thiếu đồng bộ, tập trung, thống nhất dẫn đến sự lãng phí lớn trong hoạt động công vụ của nhiều cơ quan, đơn vị...

Nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn nêu trên là do một số quy chế, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống lãng phí chưa được cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm; vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và sự nêu gương của người đứng đầu chưa được đẩy mạnh và phát huy đầy đủ; công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra về phòng, chống lãng phí có nơi, có việc còn hình thức; công tác đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn cảm tính, có biểu hiện “lợi ích nhóm” trong khi chính sách bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm chưa hình thành trong thực tế dẫn đến sự hoài nghi, thậm chí mất đoàn kết nội bộ trong một số cơ quan, đơn vị... Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương nói chung và công tác phòng, chống lãng phí, tiêu cực nói riêng.

 4 giải pháp trong bài viết “Chống lãng phí” của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Để đưa chủ trương, đường lối của Đảng về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đi vào cuộc sống, hưởng ứng những chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trong bài viết “Chống lãng phí”, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, công chức tại các cơ quan Trung ương cần quán triệt và thực hiện một số nội dung sau:

Thứ nhấtcấp ủy các cấp cần phối hợp với lãnh đạo cơ quan, đơn vị chủ động, tích cực tham mưu tiếp tục cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống lãng phí phù hợp với tình hình mới theo hướng rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, trách nhiệm, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu và giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên.

Thứ hai, đặc biệt quan tâm, chú trọng đến công tác thu hút và trọng dụng người có tài năng trong lĩnh vực, trong ngành mình. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng được khẳng định và thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, đặc biệt từ những năm đầu đổi mới cho đến nay, trong đó phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng đúng và đãi ngộ xứng đáng các tài năng là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng chính là giải pháp quan trọng đối với việc lãng phí chất xám, bố trí người không đúng chuyên môn, sở trường.

Thứ ba, từng cán bộ, công chức các cơ quan Trung ương cần xác định rõ chức trách, nhiệm vụ của bản thân, có tinh thần tự giác tiết kiệm, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền bạc, tiết kiệm sức lao động để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao cho; phải nhận thức sâu sắc rằng tất cả những gì mình đang sử dụng đều là tiền của Nhà nước, của Nhân dân, do ngân sách nhà nước chi trả. Bởi thế, tiết kiệm là việc làm thiết thực nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân, của cơ quan, mỗi cán bộ, công chức cần nâng niu, quý trọng, bảo vệ và tiết kiệm những gì nhỏ nhất được cơ quan trang bị phục vụ công việc cho công việc chung của cơ quan, đơn vị. Như vậy, song hành với việc tiết kiệm, mỗi cán bộ, công chức cần luôn ý thức nâng cao chất lượng tham mưu, chất lượng công việc đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ mới.

Thứ tư, thường xuyên phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu, thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, như Bác Hồ đã từng nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Không gì có sức lan tỏa mạnh mẽ bằng những việc làm cụ thể của những con người cụ thể sống xung quanh mà chúng ta được tận mắt chứng kiến, tiếp xúc và cũng từ đó mà học tập và noi theo. Phát huy vai trò gương mẫu, đi đầu của cán bộ lãnh đạo trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cần kết hợp chặt chẽ giữa sự phấn đấu, rèn luyện của bản thân từng cán bộ lãnh đạo với sự giúp đỡ, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và quần chúng. Thêm vào đó, mỗi cán bộ lãnh đạo nhất là những người đứng đầu phải là người tiên phong, gương mẫu thực hiện tốt quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan và dân chủ tại cơ sở, theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân hưởng thụ”; xây dựng môi trường tập thể lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật và sự đoàn kết, thống nhất cao, trên dưới một lòng, chung sức xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh.

Thứ năm, tập trung triển khai, tổ chức thực hiện đồng bộ công tác cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính. Áp dụng triệt để công nghệ thông tin, số hóa dữ liệu, khai thác hiệu quả dữ liệu dùng chung phục vụ hoạt động công vụ, bảo đảm thông suốt, công khai, minh bạch, vì người dân, doanh nghiệp, trong đó, nghiên cứu đồng bộ hóa về công nghệ trong hoạt động của các cơ quan Đảng với các cơ quan Nhà nước.

Những chỉ dẫn và tấm gương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Cùng với đó, những chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống lãng phí. Những điều nói trên là bài học có ý nghĩa sâu sắc, là cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý mang tính định hướng tư tưởng, điều chỉnh hành vi đối với mỗi người Việt Nam nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên công chức trong các cơ quan Trung ương về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tư tưởng tiết kiệm, chống lãng phí sẽ biến thành hành động thiết thực, cụ thể và trở thành nét đẹp văn hóa của con người Việt Nam hiện đại, góp phần đưa chúng ta vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

Những thách thức và các giải pháp xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

 rước chuyển biến mau lẹ của thời cuộc, thách thức mới, yêu cầu mới của cách mạng xã hội chủ nghĩa đặt trên vai Đảng nhiệm vụ chính trị nặng nề. Đảng ta đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - thời điểm để định hình tương lai của Đảng ta.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”1. Thực tiễn đã chứng minh, người vạch đường chỉ hướng cho đất nước đi lên và gắn kết toàn dân thành khối đại đoàn kết chính là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng là lực lượng chính trị lĩnh nhận sứ mệnh lịch sử dẫn dắt cả dân tộc vươn mình hướng tới những mục đích cao đẹp. Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không thể thiếu vai trò then chốt của công tác xây dựng Đảng.

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã ban hành Kết luận về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN). 

Kỷ nguyên mới - thách thức mới

Cùng với những kết quả đạt được rất quan trọng, công tác xây dựng Đảng thời gian qua đã, đang đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ được đề cập trong Báo cáo chính trị, mà còn được trình bày riêng trong Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng. Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” xác định những hạn chế, khuyết điểm: Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023) đã nhận định một trong những tình hình đáng lưu ý là “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị còn một số hạn chế”2 mà một trong những nguyên nhân là do “sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức… có xu hướng gia tăng”3. Nghị quyết cũng đã đặt ra một trong những nhiệm vụ, giải pháp là “xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”, trong đó cần “tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện, nhất là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực quản lý của nhà nước”4.

 Để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; việc chỉnh đốn Đảng ngày càng quy củ, thống nhất, cần phải coi tài năng là một tài nguyên, nhưng tài nguyên quý giá nhất của tài năng là tài dùng người tài. (Trong ảnh: Chủ tịch nước Tô Lâm dự Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2024 tại phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, ngày 2/8/2024. Nguồn: TTXVN).

Báo cáo của Hội nghị Trung ương Mười (khóa XIII), bên cạnh việc “định vị” cơ đồ của đất nước sau 40 năm đổi mới, đã xác định “Bốn nguy cơ mà Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa VII đã xác định vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp hơn, trong đó tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cơ hội chính trị, “lợi ích nhóm” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả ở cấp cao đang là yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”5, nhất là “nhận thức lý luận về đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam chưa đủ rõ cả về khái niệm, nội dung, mô hình, phương thức thực hiện”6. Hội nghị cũng xác định một trong những dự báo về tình hình thế giới là “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ AI, chíp bán dẫn tiếp tục phát triển mạnh và tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội”7, đồng thời “công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ… còn phức tạp, tiềm ẩn nhiều thách thức”.

Đặc biệt, trong bối cảnh “Kỷ nguyên mới” mà Tổng Bí thư Tô Lâm đề cập đối với dân tộc Việt Nam là sau 40 năm đổi mới, đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, một câu hỏi lớn cũng đặt ra ở đây là, sau 100 năm thành lập Đảng (1930 - 2030), đất nước sẽ bước vào kỷ nguyên phát triển mới của 100 năm thứ hai (2030 - 2130), và 100 năm thứ hai đó sẽ phát triển như thế nào, Đảng sẽ gánh vác những trọng trách, sứ mệnh trong giai đoạn mới ra sao? Chắc chắn, đó sẽ là thời kỳ có lý luận mới, tư duy mới, chiến lược mới, cách thức triển khai và nhiệm vụ đặt ra mới hơn. Lý luận thời kỳ mới, “kỷ nguyên vươn mình” này không phải phủ nhận cái cũ mà là bổ sung trên cơ sở kế thừa, phát triển, hoàn thiện những kết quả, thành tựu đã đạt được, mang tính chất “đi trước, mở đường” cho thời kỳ phát triển mới. Tư duy mới tiếp tục tìm tòi, nhận thức, đột phá hơn; cách thức tổ chức, thực hiện nhiệm vụ chiến lược mạnh mẽ, quyết liệt để đạt mục tiêu nhanh hơn, sớm hơn với tinh thần “đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đột phá, phát triển”.

 Để đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra, người cán bộ, đảng viên không chỉ cần “làm đúng”, mà còn phải “làm trúng”, không chỉ làm “đúng việc” mà còn phải làm “việc đúng” .  (Trong ảnh: Kiểm toán nhà nước kiểm tra tài chính nhà nước, quá trình quản lý, sử dụng tài sản công. Nguồn: vietnamplus.vn).

Yếu tố trung tâm vẫn là con người

Trước chuyển biến mau lẹ của thời cuộc, thách thức mới, yêu cầu mới của cách mạng xã hội chủ nghĩa đặt trên vai Đảng nhiệm vụ chính trị nặng nề. Đảng ta đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây cũng là thời điểm để định hình tương lai của Đảng ta. Nếu Đảng không nâng cấp mình để ngang tầm với nhiệm vụ mới, phản ứng chậm chạp, đưa ra chủ trương, đường lối, chiến lược không đúng hướng sẽ không đủ sức vượt qua "con sóng" to của thời đại, ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng, ảnh hưởng đến "con thuyền" vận mệnh dân tộc. Đứng trước thời khắc hệ trọng đó, để xây dựng, chỉnh đốn Đảng đáp ứng được những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, cần nhiều biện pháp đồng bộ, căn cơ, có kế hoạch, lộ trình, quy trình cụ thể. Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường đã qua, then chốt vẫn là vấn đề con người mà trọng tâm phải là chiến lược nhân tài. Nhìn vào kinh nghiệm những nước xung quanh như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…, có thể thấy chiến lược nhân tài đã giúp họ bứt phá thành công. 

Đại hội XIII của Đảng xác định đưa công tác cán bộ thành một mặt độc lập hợp thành tổng thể 5 mặt của công tác Xây dựng Đảng là: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trên tinh thần đó, ngày 9/5/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, tiếp tục khẳng định “cán bộ là gốc của mọi công việc”. Đây là Quy định có tính hệ thống, khái quát, cập nhật và góp phần đồng bộ với các quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; có tính liên thông với các quy định về những điều đảng viên không được làm, về nêu gương của Đảng; là sự tiếp nối tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng và là bước cụ thể hóa nhiệm vụ về xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Ngày 9/5/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. (Ảnh: Giang Thanh/dangcongsan.vn).

Ở đây, cần lưu ý rằng, để đáp ứng những yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra, người cán bộ, đảng viên không chỉ cần “làm đúng”, mà còn phải “làm trúng”, không chỉ làm “đúng việc” (làm việc đúng cách để đạt hiệu suất cao) mà còn phải làm “việc đúng” (xác định được đâu là mục tiêu, con đường, một hướng đi hay ước mơ đúng đắn cho tổ chức). Sẽ không bao giờ trở thành một quốc gia hùng cường nếu chỉ bắt chước rập khuôn người khác hoặc tuân theo một “quy trình” mang tính khuôn mẫu. Theo GS.TSKH Vũ Minh Giang, “dù học khắp thiên hạ nhưng cuối cùng phải làm theo cách của mình, đi trên đôi chân của mình, bay trên đôi cánh của mình”8. Thực tiễn cho thấy, trong lãnh đạo, quản lý chữ “làm đúng” được coi là thước đo của công việc nên mỗi cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý luôn lấy những quy định của pháp luật hay văn bản pháp quy làm “khuôn vàng thước ngọc”. Tuy nhiên trong thực tiễn “kỷ nguyên mới” nếu chỉ căn cứ vào câu chữ thì những quy định trong luật hay văn bản pháp quy không bao giờ có thể phủ kín được.

Đặc biệt, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu có đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ; tận tâm, tận tụy phục vụ nhân dân. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút nhân tài; có cơ chế bảo vệ, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ theo tinh thần “7 dám”. Để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh; việc chỉnh đốn Đảng ngày càng quy củ, thống nhất, cần phải coi tài năng là một tài nguyên, nhưng tài nguyên quý giá nhất của tài năng là tài dùng người tài. Đảng phải phát triển mạnh mẽ, thổi được ý chí quyết tâm vào những người tài năng trong đội ngũ lãnh đạo, tuyệt đối không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài; không để lọt những người không đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Mặt khác, cần xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm, làm việc cầm chừng, đùn đẩy, né tránh, thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ. Cần chú ý xử lý triệt để những cán bộ lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội… để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ.

Đồng thời, cần đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tập trung đột phá đổi mới công tác cán bộ những khâu, những việc làm mới, khó khăn, phức tạp, trọng yếu, hoặc còn nhiều hạn chế, yếu kém như :Tiêu chí, tiêu chuẩn, chức danh, cơ chế, thể chế, đánh giá cán bộ, luân chuyển, kiểm soát quyền lực, chống tiêu cực, “chạy tuổi, chạy chức, chạy quyền”, “bán chức, bán quyền”, suy thoái, tham nhũng, lãng phí, thu hút và quản lý, sử dụng hiệu quả nhân tài… Tiếp tục rà soát, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật; đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy đồng bộ, liên thông giữa bộ máy của Đảng với bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới công tác tổ chức, chính sách, khắc phục sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, sự bất hợp lý trong tổ chức bộ máy; đẩy mạnh tinh giản biên chế, tổ chức bộ máy gắn với quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, nhân sự; xây dựng đội ngũ cán bộ gắn với xây dựng đội ngũ đảng viên. Theo đó, quá trình lãnh đạo của Đảng trong “kỷ nguyên mới”, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cần phải là những người tạo ảnh hưởng, dẫn dắt định hướng về cách thức, tiến trình, hành động và quan điểm.

Mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần phải là những tấm gương tiêu biểu, mẫu mực, bởi lẽ Đảng ta là một đảng cầm quyền, là đảng cách mạng - đảng đạo đức - và đảng hành động. (Nguồn ảnh: Bùi Việt Đức/nhiepanhdoisong.vn).

Mặt khác, cần tiếp tục kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Mỗi đảng viên, tổ chức đảng trong hành trình làm cách mạng “cần phải xem tệ tham ô, tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa quan liêu, hình thức, đặc biệt là nạn lãng phí… là “giặc nội xâm” - kẻ thù trong lòng mỗi người cán bộ, đảng viên cần đánh đuổi; như u nhọt, như nọc xấu, như cành sâu cần loại bỏ là vì các loại chủ nghĩa này là căn bệnh trầm kha, rất cứng đầu, rất khó chữa, dễ tái phát, dễ lây lan”9. Bởi sa vào chủ nghĩa này chính là phá vỡ rào chắn, lún sâu vào suy thoái tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống - bước rất ngắn đi đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây chính là trở lực của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân ta.

Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần phải là những tấm gương tiêu biểu, mẫu mực, bởi lẽ Đảng ta là một đảng cầm quyền. Đó là đảng cách mạng - đảng đạo đức - và đảng hành động. Đó không chỉ là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấn thân, tức là đạo đức gắn liền với hành động, đạo đức hành động. Để nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, mỗi một cán bộ, đảng viên khi nói phải nghĩ đến làm, có làm được mới nói, thậm chí chỉ lặng lẽ làm mà không nói. Danh dự, lương tâm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và của Đảng ta nằm ở chính những chỗ này. Mỗi một con người khi đã được cắt cử đảm nhận trọng trách trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước thì "nhất cử, nhất động" của họ đã vượt ra khỏi phạm vi cá nhân, mang ý nghĩa tiêu biểu, trở thành “phương diện quốc gia”, và mỗi hành vi tiêu cực của họ đều quan hệ đến niềm tin của Nhân dân, mà một khi quần chúng đã mất niềm tin vào đạo đức của người cầm quyền thì niềm tin chính trị đối với họ cũng khó mà nguyên vẹn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về “tự mình phải chính trước” đã khẳng định: “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”10. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã từng căn dặn: “Làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”11. Đây cũng chính là quá trình tự cách mạng trong Đảng. Thực tiễn cho thấy, tự cách mạng là chìa khoá thành công của Đảng ta. Bởi chỉ có tự cách mạng, Đảng “mới gột rửa mình cho trong sạch, mới bắt kịp hơi thở thời đại để trở nên tiên tiến, mới chỉnh đốn mình tránh đi vào vết xe đổ dẫn đến suy vong và nối dài truyền thống để trường tồn cùng dân tộc”12.

Chìa khoá để xây dựng đất nước phồn vinh nằm ở Đảng cầm quyền. Đảng thịnh thì nước cường. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua chặng đường 94 năm đồng hành cùng dân tộc. Để “giữ mãi thanh xuân thời đại, giữ mình trung trinh với lợi ích của Nhân dân, Đảng phải bài trừ mọi “nọc xấu” gây tổn hại đến bản chất tiên tiến, trong sạch, phải ngăn chặn những căn bệnh ăn mòn cơ thể Đảng”13. Muốn làm được điều đó, Đảng phải tiến hành tự cách mạng, tự hoàn thiện, thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn để ngang tầm với nhiệm vụ mới. Muốn lôi cuốn và lãnh đạo được Nhân dân, Đảng phải mẫu mực đi trước, làm trước, nói ít làm nhiều. Phải nghiêm cẩn tự soi mình trong mắt Nhân dân, thành tâm tự soi mình trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhân cách của Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đó là thước đo năng lực cầm quyền của Đảng, là ngọn nguồn sức mạnh, uy tín của Đảng, là nhân tố vun đắp phẩm hạnh, liêm sỉ và nhân cách mỗi người. Đó cũng chính là cách xóa đi khoảng cách vạn dặm giữa lời nói và việc làm của không ít người trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chúng ta hiện nay trước khi vững tin và vững tâm bước vào “kỷ nguyên mới”./.