Thứ Hai, 7 tháng 4, 2025

Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”, huy động nguồn lực to lớn của nhân dân, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

 TCCS - Ngày 15-10-1949, với bút danh X.Y.Z đăng trên báo “Sự thật”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Dân vận”, trong đó nhấn mạnh, lực lượng của dân rất to, việc dân vận rất quan trọng, dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công. Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển và bảo vệ đất nước, Đảng ta luôn xác định “dân vận” và “công tác dân vận” là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là điều kiện quan trọng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa Đảng với nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương tham dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại ấp Tân Bắc, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, ngày 13-11-2024_Nguồn: daidoanket.vn

Quá trình hình thành và phát triển phong trào thi đua “Dân vận khéo”

Phong trào thi đua “Dân vận khéo” khởi nguồn từ các phong trào thi đua yêu nước do các cấp, các ngành, các địa phương phát động dưới nhiều hình thức khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau, nhưng nhìn chung đều xuất phát từ mục tiêu huy động sức mạnh của nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.

Thấm nhuần sâu sắc chủ trương của Đảng và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận, phương thức “Dân vận khéo” được hình thành và triển khai thực hiện tại nhiều địa phương từ những năm 90 của thế kỷ XX. Năm 1999, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Bác Hồ viết bài báo “Dân vận” (15-10-1949 - 15-10-1999), Bộ Chính trị đã quyết định lấy ngày 15-10-1930 là “Ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng”; đồng thời, lấy ngày 15-10 hằng năm là “Ngày dân vận của cả nước” để đẩy mạnh việc học tập và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận. Đến năm 2008, nhiều địa phương đã xây dựng và triển khai, nhân rộng thành công nhiều mô hình “Dân vận khéo”. Năm 2009, sau 10 năm thực hiện quyết định của Bộ Chính trị về “Ngày dân vận của cả nước”, Ban Dân vận Trung ương tổng kết thực tiễn công tác “Dân vận khéo”, tổ chức biểu dương, khen thưởng và nhân rộng các điển hình “Dân vận khéo”; đồng thời, quyết định phát động triển khai phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong cả nước.

Ngày 3-6-2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW, về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”. Nghị quyết nhấn mạnh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải kết thành một khối vững chắc, làm nên sức sống các phong trào thi đua. Trong Nghị quyết này, Đảng ta khẳng định mục tiêu đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”, gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”  và phong trào thi đua do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội phát động. Tại Đại hội XIII của Đảng, lần đầu tiên tại một kỳ đại hội, Đảng ta đã đưa phong trào thi đua “Dân vận khéo” vào Văn kiện đại hội, với mục tiêu đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng mô hình, điển hình về công tác dân vận; thể hiện sự quan tâm lớn của Đảng trong đẩy mạnh thực hiện tốt công tác dân vận, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

Từ ý nghĩa thiết thực của phong trào thi đua “Dân vận khéo”, đến nay cơ quan, đơn vị, cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo” phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị, gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm. Qua đó, nhiều địa phương đã có hình thức triển khai sâu rộng, hiệu quả, có sức lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng, được đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đồng thuận, tích cực hưởng ứng tham gia.

Một số kết quả thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo”, huy động nguồn lực to lớn của nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Qua hơn 15 năm triển khai phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên quy mô toàn quốc (từ 2009 đến nay), cả hệ thống chính trị và ban dân vận cấp ủy các cấp đã thực sự vào cuộc, tích cực triển khai thực hiện hiệu quả phong trào. Năm 2015, có 279 điển hình “Dân vận khéo” xuất sắc tiêu biểu trên các lĩnh vực được tôn vinh tại Đại hội Thi đua yêu nước ngành dân vận, trong đó có 85 điển hình “Dân vận khéo” tiêu biểu được Ban Dân vận Trung ương lựa chọn, in thành sách tuyên truyền nhân rộng trong cả nước. Năm 2020, tiếp tục có 203 điển hình “Dân vận khéo” xuất sắc toàn quốc được tôn vinh. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, qua thống kê thì cả nước có hơn 408.000 mô hình “Dân vận khéo” được đăng ký; các cấp ủy đã tổ chức 971 cuộc thi, hội thi về công tác dân vận, dân vận khéo; các cấp có thẩm quyền đã công nhận 233.305 mô hình (153.759 mô hình tập thể, 79.546 mô hình cá nhân). Con số trên đã chứng minh cho sức lan tỏa của phong trào “Dân vận khéo”, góp phần thúc đẩy hoạt động của thi đua “Dân vận khéo” đi vào chiều sâu, hướng mạnh về cơ sở và phát triển rộng khắp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một số kết quả nổi bật là:

Một là, trong lĩnh vực phát triển kinh tế có nhiều mô hình, điển hình “Dân vận khéo” nhất, tiêu biểu là vận động nhân dân trong sản xuất, kinh doanh, tập trung nhiều ở địa bàn nông thôn, như hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng trang trại, phát triển làng nghề, cơ sở tiểu - thủ công nghiệp, dịch vụ, tích cực giúp đỡ, chia sẻ kỹ thuật, vốn, kinh nghiệm; qua đó, thu hút nhiều lao động, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, hình thành chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất nông nghiệp, gắn với thị trường, kết hợp hài hòa giữa lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân với lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp. Đặc biệt, phong trào “Dân vận khéo” đã gắn kết chặt chẽ với quá trình thực hiện 2 Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, mang lại động lực mới, phát huy nguồn lực của xã hội, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, cải thiện cuộc sống người dân. Trong quá trình thực hiện chương trình đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân là điển hình “Dân vận khéo” tiên phong trong phát triển kinh tế, chủ động đi vào lĩnh vực mới, tích cực chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất, đẩy mạnh cơ giới hóa, nhằm giảm nhân công lao động. Mô hình, điển hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới, góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu nông - lâm, thủy sản trong những năm gần đây (từ năm 2020 đạt mức 41,2 tỷ USD, đến năm 2023 đạt mức 53,01 tỷ USD và xuất siêu đạt mức kỷ lục 12,7 tỷ USD, chiếm 42,5% xuất siêu cả nước)(1)...

Hai là, trong lĩnh vực văn hóa - xã hội: Phong trào thi đua “Dân vận khéo” được triển khai, gắn với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và phong trào thi đua của cơ quan, đơn vị. Từ đây xuất hiện nhiều mô hình, cách làm “Dân vận khéo” của tập thể, cá nhân có sức lan tỏa cao, như mô hình xe vận chuyển bệnh nhân miễn phí, hỗ trợ mua bảo hiểm y tế, dựng nhà cho đoàn viên, hội viên nghèo, khó khăn, đối tượng chính sách, hộ nghèo và hộ cận nghèo; hiến đất xây dựng đường giao thông nông thôn; cửa hàng 0 đồng phục vụ người nghèo;... Các mô hình này đã tạo sự đồng thuận cao, hưởng ứng tích cực trong đời sống xã hội, xóa bỏ được nhiều tập tục lạc hậu, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần tích cực vào sự phát triển của địa phương, đất nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, trong lĩnh vực quốc phòng - an ninh: Địa phương, đơn vị đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nắm chắc tình hình nhân dân, xây dựng lực lượng nòng cốt, kịp thời đề xuất, xử lý hiệu quả vụ việc phức tạp ở cơ sở, tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, nhất là tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng trọng điểm. Nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả đã được triển khai ở địa phương, như mô hình “Vận động lắp đặt camera an ninh”, “Cổng rào với an ninh, trật tự”, “Xã không có tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội”, “Tổ phụ nữ tự quản đường biên, cột mốc biên giới”, “Thanh niên nói không với tội phạm”, “Đảm bảo an ninh, trật tự trong tôn giáo” được nhân dân tích cực hưởng ứng, góp phần bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững mạnh.

Bốn là, trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: Cơ quan hành chính nhà nước xây dựng mô hình “Dân vận khéo”, gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đạo đức công vụ, duy trì thường xuyên hoạt động đối thoại, giải quyết vấn đề “nóng”, bức xúc, phức tạp trong nhân dân, phát huy quyền làm chủ của đoàn viên, hội viên và nhân dân trong việc tham gia góp ý kiến, giám sát, phản biện chính sách, pháp luật và chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; tổ chức tốt mô hình tự quản trong cộng đồng dân cư, gắn với các phong trào thi đua, như mô hình “Phân công đảng viên phụ trách hộ gia đình”, “Thực hiện cải cách thủ tục hành chính ở bộ phận một cửa”, “Ngày không viết”, “Ngày không hẹn”, “Đối thoại trực tiếp với nhân dân”, “Cấp ủy, chính quyền lắng nghe ý kiến nhân dân”, góp phần thực hiện hiệu quả Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, củng cố, kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Thi công đường dây 500 KV mạch 3 (ảnh: Nguyễn Tuấn Anh)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Đặc biệt, trong những năm gần đây, phong trào thi đua “Dân vận khéo”, góp phần huy động nguồn lực to lớn của nhân dân, nhất là trong việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; giải phóng mặt bằng, thực hiện công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải; công tác cứu nạn, cứu hộ và ủng hộ đồng bào bị ảnh hưởng do thiên tai, bão, lũ gây ra, nổi bật như: 1- Phong trào thi đua “Dân vận khéo”, góp phần thúc đẩy Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 đạt được nhiều kết quả tích cực, bám sát mục tiêu, gắn với thực hiện hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ, từng bước hiện đại, bảo đảm môi trường, cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống và phát triển bền vững. “Theo Bộ NN&PTNT, tính đến ngày 20-10-2024, cả nước có 6.320/8.162 xã đã được chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt quyết định xã đạt chuẩn nông thôn mới; 2.182 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 480 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Về cấp huyện, có 296 đơn vị cấp huyện thuộc 58 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 45,96% tổng số đơn vị cấp huyện của cả nước), trong đó đã có 11 huyện (5%) được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao. Về cấp tỉnh, có 5 tỉnh (Nam Định, Đồng Nai, Hà Nam, Hưng Yên và Hải Dương) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới”(2); 2- Phong trào thi đua “Dân vận khéo” đem lại hiệu quả rất tích cực trong phát huy sức mạnh của nhân dân tham gia vào dự án trọng điểm quốc gia, như Dự án đường dây 500kV mạch 3 từ huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đến Phố Nối, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên hoàn thành với “kỳ tích” chỉ trong 7 tháng, góp phần giảm bớt nguy cơ quá tải cho đường dây và trạm 500kV hiện hữu, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Có được thành công này là nhờ sự điều hành quyết liệt, thường xuyên của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cấp ủy, chính quyền các địa phương, sự nỗ lực, quyết tâm của nhiều ngành, đơn vị có liên quan; trong đó, điều quan trọng nhất là sự chung sức, đồng lòng của người dân trong quá trình triển khai thực hiện dự án; thông qua công tác “Dân vận khéo” đã đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng thực hiện dự án. Nhiều dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành giao thông cũng được đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành vượt tiến độ, đưa vào sử dụng hiệu quả, góp phần tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững, nhờ phát huy hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo”, như dự án cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ, cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ, cao tốc Bắc - Nam (đoạn Mai Sơn - Diễn Châu, Nha Trang - Phan Thiết), dự án Sân bay Long Thành và nâng cấp, mở rộng Cảng Hàng không Điện Biên,...; 3- Phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã đóng góp hiệu quả thiết thực trong việc vận động, hỗ trợ làm nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo tỉnh Điện Biên và các tỉnh Tây Bắc hướng tới kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Chỉ trong 9 tháng nỗ lực thực hiện với quyết tâm cao nhất đã hoàn thành xóa 5.000 căn nhà tạm, nhà dột nát cho người dân các địa phương nêu trên. Tháng 10-2024, Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025”, phấn đấu hoàn thành mục tiêu trước 5 năm so với Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra. Ngay sau khi phát động, phong trào được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, đồng bào trong và ngoài nước tích cực hưởng ứng và tham gia với nhiều hình thức hỗ trợ, vận động. Đến nay, nhiều ngôi nhà mới đáp ứng tiêu chuẩn 3 cứng: “Nền cứng, khung - tường cứng, mái cứng” đã hoàn thành, mang lại giá trị thiết thực cho người nghèo. Đây là một minh chứng cho sự lan tỏa giá trị, hiệu quả của việc đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo” hướng về cơ sở, hướng về nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, phong trào thi đua “Dân vận khéo” vẫn còn một số hạn chế, như chưa thực sự lan tỏa rộng khắp và đi sâu vào các lĩnh vực đời sống xã hội; điển hình “Dân vận khéo” trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và đơn vị sản xuất, kinh doanh, trong lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị còn chưa phong phú. Một số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả người đứng đầu chưa quan tâm đúng mức trong công tác lãnh đạo thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo”; công tác phối hợp, kết hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể ở một số nơi chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, nên việc thực hiện phong trào chưa đi vào thực chất. Việc nhân rộng, lan tỏa mô hình, điển hình “Dân vận khéo” tiêu biểu, nhất là trong xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phục vụ dự án phát triển kinh tế - xã hội có nơi chưa được quan tâm đúng mức, nên hiệu quả chưa cao.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Pha Long (xã Pha Long, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai) tuyên truyền cho đồng bào về bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Tổ quốc_Ảnh: TTXVN

Đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhất là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, với thế và lực đã tích lũy được, với thời cơ, vận hội mới, cùng sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất nước ta đang đứng trước cơ hội lịch sử để bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay và tiếp theo, để thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy sức mạnh và khát vọng của nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân vận trong tình hình mới. Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh, nhân rộng và đưa phong trào thi đua “Dân vận khéo” đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu công tác dân vận trong kỷ nguyên mới, cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác dân vận, đặc biệt là nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác dân vận “khéo” trong tình hình mới. Thường xuyên quán triệt, tuyên truyền sâu rộng chủ trương, nghị quyết của Trung ương, địa phương về công tác dân vận, trọng tâm là các nghị quyết của Trung ương(3); qua đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị về công tác dân vận và phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xác định “Dân vận khéo” là phương thức quan trọng trong công tác vận động quần chúng, là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị.

Hai là, nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp, trọng tâm là đẩy mạnh cải cách hành chính, gắn với hiện đại hóa nền hành chính, nhất là thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 33/CT-TTg, ngày 26-11-2021, của Thủ tướng Chính phủ, “Về tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác dân vận của cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới”; tiếp tục nâng cao đạo đức công vụ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan hành chính nhà nước. Thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; tăng cường đối thoại và chỉ đạo giải quyết kịp thời đề xuất, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Quan tâm tạo điều kiện để xây dựng, nhân rộng phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong hệ thống cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp.

Ba là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở trong việc xây dựng mô hình; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động, gắn với xây dựng và nhân rộng mô hình “Dân vận khéo” trong tập hợp, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương; giải quyết và kịp thời tháo gỡ “điểm nóng” phức tạp, vấn đề khó khăn, còn vướng mắc ngay từ cơ sở. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp. Phát huy rõ nét vai trò giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội.

Bốn là, phát động phong trào thi đua “Dân vận khéo” toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Việc triển khai thực hiện phong trào phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, gắn với phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động khác. Xác định nhiệm vụ trọng tâm của phong trào thi đua theo từng năm và từng giai đoạn để chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc của cấp ủy, tổ chức thực hiện của chính quyền; công tác tham mưu, hướng dẫn của hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đối với việc thực hiện phong trào thi đua ở các cấp, các ngành.

Năm là, duy trì, nhân rộng và phát huy mô hình “Dân vận khéo” đang triển khai thực hiện hiệu quả, thực chất; đồng thời, chú trọng xây dựng, phát triển mô hình, điển hình theo hướng tập trung vào lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi số... Tăng cường tuyên truyền về cách làm hay, đổi mới sáng tạo và hiệu quả của mô hình, điển hình “Dân vận khéo” bằng hình thức phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện truyền thông để tăng hiệu quả tuyên truyền, lan tỏa mô hình, điển hình “Dân vận khéo” tiêu biểu; qua đó, khích lệ, động viên sự tham gia tích cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân; đồng thời, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện và xét chọn tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Dân vận khéo” để biểu dương, tôn vinh hằng năm. Tăng cường trao đổi kinh nghiệm, tổ chức tọa đàm, hội thi “Dân vận khéo” để nhân rộng, lan tỏa mô hình, điển hình có cách làm hay, sáng tạo trong thực hiện công tác dân vận. Chú trọng củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là cán bộ làm công tác dân vận ở cơ sở.

Qua hơn 15 năm phát động và thực hiện trên cả nước, có thể khẳng định, phong trào thi đua “Dân vận khéo” là chủ trương đúng đắn, thiết thực, hợp lòng dân; đồng thời, là phương thức quan trọng trong công tác vận động quần chúng đồng lòng thực hiện hiệu quả chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã thực sự trở thành phong trào thi đua yêu nước quan trọng, góp phần huy động nguồn lực to lớn của nhân dân để đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ./.

-----------------

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng

 TCCS - Công tác bảo vệ chính trị nội bộ là một bộ phận trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng; là hoạt động nhằm bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đứng trước nhiều yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn, cần có giải pháp trọng tâm để góp phần hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của Đảng trước dân tộc.

Tổng Bí thư Tô Lâm làm việc với Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp_Ảnh: TTXVN

1- Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các chỉ thị, quy định của Đảng về công tác tổ chức xây dựng Đảng, thời gian qua công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tăng cường chỉ đạo. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và cán bộ, đảng viên về vị trí, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được nâng lên. Nội dung, nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ được triển khai, thực hiện khá đồng bộ. Việc rà soát, thẩm định, kết luận tiêu chuẩn chính trị và bố trí, sử dụng cán bộ ở hầu hết cấp ủy có nhiều chuyển biến và đi vào nền nếp, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước có bước chuyển biến quan trọng. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu chưa nhận thức thật sự đầy đủ, sâu sắc về yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới; còn vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Công tác nắm, giải quyết vấn đề chính trị hiện nay, nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một số cấp ủy, tổ chức đảng còn lúng túng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu, độc trên không gian mạng có thời điểm chưa kịp thời, đã tác động, ảnh hưởng đến tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Việc quản lý hoạt động của tổ chức phi chính phủ, hội, quỹ, doanh nghiệp xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và chương trình, dự án xây dựng chính sách, pháp luật có tài trợ của nước ngoài trong các lĩnh vực năng lượng, môi trường, bình đẳng giới… còn bất cập. Hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài, có quan hệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài còn chưa chặt chẽ. Công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng trong phát hiện, trao đổi thông tin, tình hình về chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, kịp thời và còn thiếu cơ chế cụ thể để phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan phối hợp. Tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước hoặc thông tin chưa được phép công bố chưa được ngăn chặn triệt để.

Hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, xảo quyệt, triệt để lợi dụng sơ hở, thiếu sót của ta để đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, do công tác phổ biến, quán triệt chủ trương, quan điểm và quy định, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa cụ thể, toàn diện; chưa kết hợp chặt chẽ công tác bảo vệ chính trị nội bộ với quản lý cán bộ, đảng viên; công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước ở một số nơi chưa được tiến hành thường xuyên; tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác tham mưu ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, nhanh chóng; chịu tác động, ảnh hưởng đa chiều từ sự điều chỉnh chính sách đối ngoại, cạnh tranh giữa các nước lớn. Trong khi đó, ta tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Việc quyết liệt triển khai chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy sẽ có tác động đến tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên... Đây là yếu tố để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để gia tăng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng không gian mạng để truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch, kích động phá hoại tư tưởng; phát tán nhiều thông tin xấu, độc xuyên tạc tình hình nội bộ Đảng và hệ thống chính trị… nhằm làm nảy sinh tâm tư trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, hòng làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Chúng lợi dụng quá trình hội nhập, hợp tác quốc tế của đất nước ta để đẩy mạnh hoạt động thu thập bí mật nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tác động, hướng lái quá trình tham mưu, hoạch định đường lối, chính sách với ý đồ từng bước chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Trong khi đó, ở trong nước, một số khó khăn, thách thức tiếp tục tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục phát hiện nhiều vụ án, vụ việc vi phạm nghiêm trọng, phức tạp hơn. Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xử lý thông tin xấu, độc của một số cơ quan chức năng có lúc chưa đáp ứng yêu cầu.

Đoàn kiểm tra số 7, Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương do Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phan Thăng An, Ủy viên Thường trực Tiểu ban làm trưởng đoàn, chủ trì Hội nghị công bố Quyết định triển khai kế hoạch kiểm tra công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Thuận_Ảnh: TTXVN

2- Quán triệt quan điểm công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng chiến lược của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, liên quan trực tiếp đến vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ; để chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; trong thời gian tới, nhất là trong bối cảnh các cấp, các ngành, các địa phương vừa thực hiện tổng kết, sắp xếp tổ chức bộ máy theo định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của đồng chí Tổng Bí thư Tô  Lâm, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, vừa tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung tăng cường chủ trương, giải pháp sau:

Một là, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ, đảng viên về yêu cầu, nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới; thống nhất nhận thức công tác bảo vệ chính trị nội bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu; xác định nguy cơ, thách thức lớn nhất hiện nay về chính trị nội bộ là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để triển khai chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chủ động nắm chắc tình hình nội bộ, đặc biệt là diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và dư luận quần chúng nhân dân; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Tập trung phát hiện và ngăn chặn sớm những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” ngay từ cơ sở; xử lý kịp thời trường hợp cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.

Hai là, tập trung tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Quá trình thực hiện phải bám sát các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp luật và yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam, gắn với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương. Việc tổng kết phải được tiến hành khách quan, dân chủ, khoa học, cầu thị, cụ thể, sâu sắc, khẩn trương; xác định rõ yếu kém, bất cập, nguyên nhân; đề xuất sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm tính đồng bộ, liên thông. Đồng thời, chú trọng làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền phản ánh đậm nét việc triển khai, thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong tình hình mới nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong nhân dân; khẳng định việc tinh gọn tổ chức bộ máy là điều kiện rất quan trọng để đất nước phát triển. Nhiệm vụ sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy là công việc rất khó khăn, nhạy cảm, phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi con người trong từng tổ chức, đòi hỏi sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận, quyết tâm cao, dũng cảm và hy sinh lợi ích cá nhân, vì lợi ích chung của từng đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

Ba là, tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; trong đó, chú trọng công tác chỉ đạo, định hướng thông tin, tạo dòng thông tin tích cực, lành mạnh là chủ lưu, lấn át thông tin tiêu cực, sai sự thật trên không gian truyền thông; chủ động nắm bắt, kịp thời phát hiện, xử lý sớm bức xúc nổi lên ở từng địa bàn, lĩnh vực tác động đến tư tưởng, tâm trạng xã hội; kịp thời đấu tranh phản bác sắc bén các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc trên không gian mạng và ngay từ cơ sở về chủ trương, đường lối, công tác nhân sự, việc sắp xếp tinh, gọn tổ chức bộ máy và hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để gia tăng, kích động hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc huy động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bốn là, chủ động rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình và nội dung khác liên quan đến nhân sự dự kiến tham gia cấp ủy các cấp và đối với cán bộ, đảng viên được quy hoạch, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; làm việc ở cơ quan, bộ phận, vị trí trọng yếu, cơ mật; thường xuyên làm việc với cá nhân, tổ chức nước ngoài. Chú ý bám sát quan điểm chỉ đạo “nắm chắc lịch sử chính trị và chú trọng vấn đề chính trị hiện nay”; coi trọng năng lực, uy tín và sự tin cậy về chính trị; không bỏ “sót” người thật sự có đức, có tài, có uy tín trong Đảng và nhân dân; đồng thời, không để “lọt” vào cấp ủy khóa mới người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm tiêu chuẩn chính trị và trách nhiệm nêu gương. Nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với cán bộ, đảng viên học tập, làm việc ở nước ngoài. Quản lý chặt hoạt động hợp tác quốc tế, tiếp nhận tài trợ từ nước ngoài. Thực hiện nghiêm quy định bảo mật và bố trí, quản lý cán bộ, đảng viên làm việc tại cơ quan, bộ phận, vị trí trọng yếu, cơ mật, tham mưu chiến lược. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Năm là, tăng cường công tác quản lý báo chí, truyền thông, bảo đảm an toàn, an ninh mạng; thực hiện tốt công tác quy hoạch, sắp xếp cơ quan báo, đài, tạp chí; chỉ đạo, định hướng thông tin báo chí theo phương châm chủ động, kịp thời, hiệu quả; phát huy vai trò của cơ quan báo chí trong định hướng dư luận; giữ nghiêm kỷ luật thông tin đối với vấn đề chính trị, đối ngoại, chủ trương, đường lối và công tác nhân sự của Đảng. Cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, quy định về việc thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên internet, mạng xã hội, quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng, trách nhiệm nêu gương; nghiêm cấm để lộ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ, lan truyền, tán phát thông tin sai lệch hoặc đơn, thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh mà nội dung xấu, mang tính xuyên tạc, vu khống, kích động hoặc gây mất đoàn kết nội bộ.

Sáu là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự phục vụ đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng; tập trung làm tốt công tác nắm tình hình; nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nghiêm trách nhiệm tiếp công dân, tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời, đúng quy định vụ việc khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của công dân ngay từ cơ sở; quan tâm xem xét, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; kịp thời có hướng chỉ đạo giải quyết, xử lý vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài, không để phát sinh thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự; chỉ đạo cơ quan chức năng xử lý nghiêm hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối, kích động, xúi giục, tổ chức công dân khiếu kiện, chống phá trong quá trình chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp.

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự trong sạch, vững mạnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bảo vệ chính trị nội bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, nhất là trách nhiệm của cấp ủy cơ sở. Trong tình hình hiện nay, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần được tiến hành theo phương châm chủ động phòng ngừa, lấy tự bảo vệ và giữ vững bên trong là chính; lấy xây dựng, chỉnh đốn Đảng làm cơ sở, nền tảng và phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cơ bản, thường xuyên; đồng thời, đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu nâng cao nhận thức, trách nhiệm, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện nội dung, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo Kết luận số 108-KL/TW, ngày 26-12-2024, của Bộ Chính trị, “Về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới”, nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc ./.

Quốc hội tiếp tục kế thừa, đổi mới và phát triển hoạt động lập hiến trong giai đoạn hiện nay

 TCCS - Trải qua lịch sử 80 năm xây dựng, đổi mới và phát triển, Quốc hội Việt Nam cùng các thiết chế khác trong hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân đã không ngừng nỗ lực xây dựng, ban hành các bản Hiến pháp, tạo cơ sở chính trị - pháp lý thúc đẩy sự phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Thông qua mỗi bản Hiến pháp, những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về tư tưởng lập hiến, về nội dung Hiến pháp, về quy trình, thủ tục lập hiến, về triển khai thi hành Hiến pháp, về bảo vệ Hiến pháp,… luôn được nhất quán khẳng định, kế thừa, đổi mới và phát triển phù hợp với chế độ chính trị và điều kiện lịch sử cụ thể. 

Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Lương Cường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và đại biểu Quốc hội dự Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV tham quan Triển lãm Nhật báo “Quốc hội” với Tổng tuyển cử đầu tiên (6-1-1946_Ảnh: TTXVN

Đất nước đang chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Việc tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị nền tảng trong lịch sử hoạt động lập hiến là cơ sở chính trị - pháp lý và thực tiễn vững chắc giúp Quốc hội đồng hành cùng dân tộc, viết tiếp những trang sử vẻ vang, phấn đấu hoàn thành mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Sự hình thành và phát triển tư tưởng lập hiến từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay

Tư tưởng lập hiến là những giá trị cốt lõi về việc xây dựng một bản văn Hiến pháp - văn kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội và chủ quyền của quốc gia, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của nhà nước và chế độ. 

Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội cùng các thiết chế khác trong hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân đã xây dựng, ban hành 5 bản Hiến pháp, đánh dấu những bước phát triển trong chiều dài lịch sử phát triển của đất nước. Trong suốt quá trình đó, tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về một nhà nước độc lập, dân chủ, pháp quyền; nhân dân là phạm trù trung tâm, “dân là gốc”, “mọi quyền hành đều ở nơi dân”; về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; về giới hạn quyền lực nhà nước trong Hiến pháp và pháp luật, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng;…luôn được kế thừa, vận dụng sáng tạo, đổi mới và phát triển ở một tầm cao mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong từng thời kỳ phát triển. 

Theo đó, ở mỗi giai đoạn lịch sử, tùy thuộc vào bối cảnh và tình hình đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những bước phát triển về tư duy, nhận thức và chủ trương chỉ đạo trong hoạt động lập hiến. Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, xác lập và củng cố nền độc lập, tự do mới giành được sau Cách mạng Tháng Tám và khẳng định ý chí của nhân dân Việt Nam quyết tâm “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ(1)Hiến pháp năm 1959 là bản Hiến pháp thứ hai của nước ta ra đời sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954, miền Bắc tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân chủ nhân dân. Hiến pháp năm 1959 đã phản ánh nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam và tạo cơ sở pháp lý cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thực hiện thống nhất nước nhà. Hiến pháp năm 1980 được ban hành trong hoàn cảnh đất nước giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời đương đầu với khó khăn mới ở cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam. Do vậy, tinh thần cách mạng vẫn là tiền đề cho việc xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất. Bên cạnh đó, trong thời gian này, Đảng ta định hướng xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Vì vậy, Hiến pháp năm 1980 được xác định là “Hiến pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước”, phản ánh một cách trọn vẹn quan điểm, chủ trương của Đảng cũng như nhận thức của xã hội thời kỳ đó về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dựa trên mô hình nền kinh tế kế hoạch tập trung(2) và mô hình nhà nước chuyên chính vô sản. Bước sang giai đoạn mới, Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện đậm nét sự thay đổi trong tư duy, nhận thức thời cuộc của Đảng ta bằng việc khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Hiến pháp năm 1992 đã thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (được Đại hội VII của Đảng thông qua); hiến định mô hình nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; theo tinh thần Đại hội VI (năm 1986) của Đảng đã được khởi xướng và từng bước thực hiện. Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Hiến pháp năm 2013 được ban hành thể chế hóa sâu sắc và toàn diện hơn Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các chủ trương, đường lối của Đảng có liên quan. Do vậy, Hiến pháp năm 2013 được đánh giá là bản Hiến pháp phản ánh chân thực thời kỳ đổi mới toàn diện, đồng bộ về kinh tế và chính trị, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong suốt chặng đường 80 năm lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội và cả hệ thống chính trị đã đồng hành cùng dân tộc xây dựng 5 bản Hiến pháp. Mỗi bản Hiến pháp đều có sự kế thừa, phát triển, thể hiện ý Đảng, lòng dân, đánh dấu chặng đường xây dựng và trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam. Trong suốt chặng đường ấy, tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều được nhất quán khẳng định và thể hiện sinh động trong quá trình xây dựng các bản Hiến pháp. 

Kế thừa, đổi mới và phát triển về quy trình lập hiến

Theo nghĩa chung nhất, quy trình lập hiến là trình tự, thủ tục mà các chủ thể có quyền lập hiến phải tuân theo trong quá trình ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp. Qua thực tiễn hoạt động lập hiến ở nước ta, “Quy trình lập hiến là trình tự, thủ tục mà những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện hoạt động lập hiến phải tuân theo trong quá trình ban hành mới hoặc sửa đổi Hiến pháp nhằm chuyển hoá ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thành những quy phạm hiến định và thể hiện chúng dưới hình thức một bản văn Hiến pháp”(3).

Khác với quy trình lập pháp, quy trình lập hiến thường chặt chẽ hơn và phải do Hiến pháp quy định. Bởi Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của mỗi quốc gia; quyền lập hiến thuộc về nhân dân; Hiến pháp có tính ổn định cao, do vậy, Hiến pháp không thể được sửa đổi một cách đơn phương từ phía Nhà nước. Quy trình lập hiến ở các quốc gia có sự khác nhau nhưng đều có điểm chung cơ bản như: (1) Đưa ra sáng quyền lập hiến (giai đoạn xác lập sự cần thiết xây dựng hoặc sửa đổi Hiến pháp); (2) Soạn thảo Hiến pháp (soạn thảo dự thảo Hiến pháp hay dự thảo sửa đổi Hiến pháp); (3) Công bố dự thảo Hiến pháp rộng rãi để các tầng lớp nhân dân góp ý; (4) Thảo luận và thông qua Hiến pháp (tại Quốc hội, hoặc trưng cầu ý dân khi dự thảo được Quốc hội thông qua).

Trên thế giới, mô hình phổ quát về việc sửa đổi, ban hành các bản Hiến pháp thường được thực hiện bởi: Hội nghị lập hiến soạn thảo và thông qua Hiến pháp(4); do Quốc hội lập hiến(5) hoặc Quốc hội lập hiến, lập pháp(6) thông qua nhưng theo một trình tự, thủ tục đặc biệt; do trưng cầu ý dân(7); hoặc do người đứng đầu nhà nước ban hành (thường là vua)(8).

Thông thường, việc sửa đổi, ban hành Hiến pháp thường gắn với những thay đổi rất lớn trong đời sống xã hội. Ở nước ta, quá trình ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp đều gắn với thực tiễn bối cảnh lịch sử, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua từng giai đoạn. Trong quá trình đó, quy trình, thủ tục về xây dựng Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp luôn được thể hiện nhất quán dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Quốc hội quyết định với 2/3 số đại biểu Quốc hội yêu cầu/biểu quyết tán thành; Quốc hội bầu ra Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp; nhân dân tham gia vào quá trình sửa đổi Hiến pháp. Việc hiến định về sửa đổi Hiến pháp trong lịch sử lập hiến Việt Nam đã phản ánh một quy trình lập hiến dân chủ, do Quốc hội quyết định và thu hút sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào quá trình xây dựng và thông qua Hiến pháp. 

Nhìn lại lịch sử lập hiến nước nhà có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến lớn trong việc đổi mới, hoàn thiện quy trình lập hiến. Từ chỗ chưa xác định rõ về chủ thể sáng quyền lập hiến (cơ quan nào có quyền kiến nghị sửa đổi Hiến pháp), chưa xác định rõ quy trình, thủ tục sửa đổi Hiến pháp, tên gọi của cơ quan soạn thảo dự thảo sửa đổi Hiến pháp,… trong các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 được ban hành đã hoàn thiện các vấn đề này. Hiến pháp năm 2013 đã hiến định chủ thể có quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp là Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội; hiến định chủ thể quyết định việc sửa đổi Hiến pháp là “ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”; Quốc hội quyết định thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp cũng như quyết định thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; hiến định việc soạn thảo, lấy ý kiến toàn dân về dự thảo Hiến pháp, xem xét, thông qua dự thảo Hiến pháp(9); hiến định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp và công bố Hiến pháp.

Tuy nhiên, là một quy trình đặc biệt, độc lập với quy trình lập pháp thông thường và chỉ được quy định trong Hiến pháp, hiện nay, quy trình lập hiến ở nước ta chưa được cụ thể hóa trong bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào. Đây là một trong những vấn đề đặt ra, cần được Quốc hội tiếp tục xây dựng, hoàn thiện trong thời gian tới.

Các đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV_Ảnh: TTXVN

Công tác triển khai thi hành Hiến pháp được quán triệt, bảo đảm thực hiện phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước

Triển khai thi hành Hiến pháp là việc đưa các quy định cụ thể của Hiến pháp đi vào đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước thông qua việc cụ thể hóa các chế định, nguyên tắc trong Hiến pháp thành các bộ luật, luật, pháp lệnh và các văn bản quy định chi tiết. Trong quá trình đó, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền đóng vai trò đặc biệt quan trọng, không ngừng kế thừa, đổi mới và phát triển hoạt động triển khai thi hành Hiến pháp. 

Nhìn lại lịch sử, tùy điều kiện cụ thể của đất nước, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan khác đã chọn lựa cách thức thi hành Hiến pháp chủ động, linh hoạt. Trong giai đoạn 1946 - 1975, trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vẫn còn tiếp diễn đã làm gián đoạn việc tổ chức, triển khai thực hiện Hiến pháp. Trong hoàn cảnh đó, Quốc hội đã ban hành được một số luật quan trọng(10). Sau khi thống nhất đất nước, việc triển khai thi hành Hiến pháp trong giai đoạn sau được thực hiện có hiệu quả hơn. Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, với sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013, hoạt động tổ chức thi hành Hiến pháp đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Là bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ đổi mới, từ sau khi Hiến pháp năm 1992 được ban hành, Quốc hội đã đẩy mạnh công tác lập pháp để cụ thể hóa Hiến pháp và thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng, ban hành trăm đạo luật để thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước, đặt nền tảng cho sự hình thành nền kinh tế thị trường, thúc đẩy phát triển kinh tế(11),…

Đặc biệt trong giai đoạn thi hành Hiến pháp năm 2013, Quốc hội, Chính phủ, các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức trong toàn hệ thống chính trị đã cùng vào cuộc với nhiều biện pháp quyết liệt bảo đảm tổ chức thi hành Hiến pháp, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong nhân dân nội dung của Hiến pháp, bảo đảm để Hiến pháp được tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp hành. Riêng Quốc hội khóa XV, thực hiện Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị(12), Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15(13) và Kế hoạch số 734/KH-UBTVQH15(14) xác định 156 nhiệm vụ lập pháp cần thực hiện trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Tính đến hết tháng 6-2024, đã có 131/156 (83,97%) nhiệm vụ hoàn thành việc nghiên cứu, rà soát và nghiên cứu, xây dựng mới. Sau hơn 11 năm kể từ khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua đến nay (ngày 29-6-2024), đã có 179 đạo luật được Quốc hội ban hành, phủ khắp các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.Từ đó, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, đối ngoại và hội nhập quốc tế;...

Bên cạnh đó, tư duy lập pháp và kỹ thuật lập pháp ngày một tiến bộ đã góp phần quan trọng giúp cho các chế định của Hiến pháp được đi sâu vào đời sống chính trị, kinh tế - xã hội. Ví dụ như các nguyên tắc về hạn chế quyền con người, quyền công dân đã được quán triệt đầy đủ, chỉ bị hạn chế trong các trường hợp đã được Hiến pháp quy định và chỉ bằng luật. Cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân cũng được quy định cụ thể hơn trong các đạo luật thông qua việc trực tiếp quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân khác có liên quan. 

Có thể nói rằng, là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, Quốc hội cùng với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Hiến pháp thành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh từng ngành, từng lĩnh vực riêng biệt, từng bước xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Qua đó, tinh thần của Hiến pháp càng được thẩm thấu trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, đi sâu vào đời sống của người dân, hình thành ý thức thượng tôn Hiến pháp, văn hóa pháp luật, đem lại đời sống chính trị dân chủ, pháp quyền trong nhân dân và toàn xã hội.

Tư tưởng bảo vệ Hiến pháp được kế thừa, đổi mới và phát triển ngày càng toàn diện hơn

Bảo vệ Hiến pháp (bảo hiến) được hiểu là việc các chủ thể có thẩm quyền và nhân dân thực hiện các biện pháp phòng ngừa, xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến của các hành vi, văn bản do các cơ quan nhà nước thực hiện, ban hành và tiến hành các biện pháp xử lý theo quy định nếu các văn bản, hành vi đó vi phạm Hiến pháp nhằm bảo đảm sự tôn trọng, tuân thủ Hiến pháp, ngăn ngừa các hành vi vi hiến(15). Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, tư tưởng về bảo hiến đã xuất hiện từ Hiến pháp năm 1946 và dần được hoàn thiện, thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013. Trong các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959 và năm 1980, nếu như thiết chế bảo hiến chỉ được thiết kế chung chung, gián tiếp thông qua việc hiến định: Quốc hội là cơ quan giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật thì đến Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013, tư tưởng bảo vệ Hiến pháp đã được thể hiện cụ thể, sâu sắc hơn thông qua việc hiến định các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp gồm: Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể nhân dân. Trên cơ sở nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(16), Hiến pháp đã giao nhiệm vụ bảo hiến cho nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nước và nhân dân. Mặc dù vậy, Quốc hội vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc bảo vệ Hiến pháp khi được Hiến pháp trao thẩm quyền giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước, đóng vai trò là cơ quan trung tâm của hoạt động bảo vệ Hiến pháp. Hiệu quả của hoạt động bảo vệ Hiến pháp được đánh giá thông qua các hoạt động lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội. 

Quốc hội tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trị của nền tảng của hoạt động lập hiến Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Hiện nay, tình hình thế giới diễn biến nhanh, phức tạp cả về an ninh, chính trị và kinh tế, những thời cơ, thuận lợi đan xen những khó khăn, thách thức. Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh và phát triển với những đột phá công nghệ ở nhiều lĩnh vực đã chi phối sâu sắc tiến trình phát triển của nhân loại và tác động trực tiếp tới mọi quốc gia. Với vị trí, vai trò là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến và lập pháp, Quốc hội tiếp tục kế thừa những giá trị lịch sử lập hiến Việt Nam, kiên định, kiên trì tổ chức thực hiện tốt các quy định của Hiến pháp năm 2013, đẩy mạnh công tác bảo vệ Hiến pháp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; nâng cao nhận thức về Hiến pháp, huy động nhiều hơn nữa nguồn lực từ cả hệ thống chính trị và nhân dân để thi hành và bảo vệ Hiến pháp.

Để tiếp tục kiên định triển khai thực hiện tốt các quy định của Hiến pháp năm 2013 trong thời gian tới một cách có hiệu quả cũng như chuẩn bị đầy đủ các yếu tố để có thể phản ứng kịp thời những thay đổi của tình hình trong nước và thế giới có tính bước ngoặt, cần thiết phải có các giải pháp để kế thừa, phát huy, đổi mới, hoàn thiện hơn trên mọi phương diện của hoạt động lập hiến. 

Thứ nhất, cần nhất quán và kiên định tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; tiếp tục nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta về quyền lập hiến và quan niệm về Hiến pháp.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Hiến pháp và dân chủ là hai yếu tố không tách rời nhau. “Hiến pháp dân chủ” phải là một bản Hiến pháp có nội dung và cách thức ban hành dân chủ. Ðồng thời là phương tiện để cho nhân dân được hưởng quyền tự do, dân chủ. Ngược lại, dân chủ là điều kiện cần và đủ cho một bản “Hiến pháp dân chủ” ra đời, tồn tại và phát huy giá trị. Trong bản Hiến pháp đó, sức mạnh của “thần linh pháp quyền” phải được thể hiện rõ nét trong từng chế định. Do đó,việc hoàn thiện nhận thức phổ quát về quan điểm lập hiến này sẽ tạo nền tảng vững chắc để nước ta thực hiện tốt định hướng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra. 

Thứ hai, tiếp tục kế thừa, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa các quy định về quy trình, thủ tục lập hiến dưới sự lãnh đạo của Đảng; tiếp tục phát huy dân chủ trong hoạt động lập hiến, tạo điều kiện để mọi cơ quan, tổ chức và công dân tham gia tích cực vào hoạt động lập hiến.

Thứ ba, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong việc đưa các quy định của Hiến pháp đi vào thực tiễn đời sống của nhân dân. “Xây dựng ý thức và lối sống thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong hệ thống chính trị và toàn xã hội; đưa nội dung phù hợp về Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng của hệ thống giáo dục quốc dân. Nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong thực thi Hiến pháp, pháp luật”(17).

Thứ tư, kế thừa, đổi mới và phát triển cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành, phát huy tính chủ động, tích cực của các cơ quan nhà nước và nhân dân trong bảo vệ Hiến pháp.

Nhìn lại chặng đường 80 năm qua, có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và xuyên suốt của Đảng, dù trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, Quốc hội luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, nỗ lực, cố gắng cao nhất để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó. Mỗi bản Hiến pháp ra đời đều minh chứng cho sự kế thừa, đổi mới và phát triển của Quốc hội trong hoạt động lập hiến, tạo lập nền tảng chính trị - pháp lý góp phần rất quan trọng đưa đất nước vững bước vượt qua khó khăn, tạo ra những chuyển biến tích cực, mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đóng góp lớn vào những thành tựu vô cùng ý nghĩa của công cuộc giành độc lập, xây dựng và đổi mới đất nước./.

-----------------------

Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội tự tin, vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

 TCCS - Đồng hành cùng chặng đường 95 năm vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc. Phát huy truyền thống văn hiến, anh hùng, đoàn kết, bản lĩnh, trí tuệ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc được hun đúc qua nhiều thế hệ; Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội tiếp tục gương mẫu, đi đầu, quyết tâm hiện thực hóa ý chí và khát vọng phát triển, tự tin cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm đến làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội_Nguồn: hanoimoi.vn

Đảng bộ thành phố Hà Nội đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và công cuộc đổi mới đất nước

Lịch sử ra đời, đấu tranh, xây dựng và phát triển của Đảng bộ thành phố Hà Nội luôn gắn liền với quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vinh dự là Đảng bộ được thành lập sớm nhất cả nước (ngày 17-3-1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chỉ hơn 1 tháng), với trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần chủ động, sáng tạo, cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Trung ương Đảng, đề ra quyết sách đúng đắn, phù hợp; bằng ý chí, quyết tâm không quản gian khổ, không sợ hy sinh, nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng bộ thành phố Hà Nội đã lãnh đạo nhân dân lập nên nhiều chiến công quan trọng, mà tiêu biểu là thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945; tiếp đó là cùng toàn quốc kháng chiến với ý chí “Cảm tử để Tổ quốc quyết sinh”; cùng quân dân cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm 1954.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố, quân và nhân dân Thủ đô Hà Nội vừa tập trung sức khôi phục và phát triển kinh tế, nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa cùng đồng bào miền Bắc dốc sức chi viện cho chiến trường miền Nam, với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”,... Hà Nội luôn xung kích, đi đầu, khởi nguồn nhiều phong trào thi đua yêu nước, tiêu biểu như “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Chiếc gậy Trường Sơn”,... Đóng góp đó là minh chứng sống động về tinh thần cách mạng của Đảng bộ, quân và nhân dân Thủ đô, mà đỉnh cao là đã phối hợp cùng quân và nhân dân miền Bắc đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ, lập nên kỳ tích “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972; góp phần quan trọng cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước. Khi non sông Việt Nam liền một dải, thành phố Hà Nội cùng cả nước bước vào giai đoạn cách mạng mới, khôi phục, phát triển đất nước sau chiến tranh; đồng thời, cùng với quân và nhân dân cả nước tiếp tục chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bắt đầu từ Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng bộ thành phố (tháng 10-1986), Thủ đô Hà Nội đã cùng cả nước xây dựng, phát triển, hoàn thiện cơ chế kinh tế mới; từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Gần 40 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng của Ðảng bộ thành phố, quân và nhân dân Thủ đô đoàn kết một lòng, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, chiến đấu kiên cường, thông minh, sáng tạo, lập nhiều thành tích xuất sắc, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Đảng bộ thành phố Hà Nội luôn nỗ lực triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, được Trung ương đánh giá cao, xứng đáng với niềm tin yêu, hy vọng và tự hào của đồng bào cả nước. Thực tiễn hoạt động phong phú, sinh động, cùng kinh nghiệm quý báu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng, Nhà nước đúc kết, nhân rộng các điển hình, triển khai nhiều chủ trương lớn ra phạm vi toàn quốc. Đặc biệt, sau hơn 16 năm mở rộng địa giới hành chính, thành phố Hà Nội tích cực triển khai Luật Thủ đô, tiếp tục phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, diện mạo, với những thành tựu to lớn, toàn diện, duy trì bảo đảm vững chắc 3 trụ cột lớn: Phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng và bảo đảm an sinh xã hội, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của đất nước, xứng đáng là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trái tim của cả nước; trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ và hội nhập quốc tế của cả nước.

Với thành tích đặc biệt xuất sắc và đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như trong công cuộc phát triển đất nước, Đảng bộ, quân và nhân dân Thủ đô Hà Nội đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất và danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Cờ luân lưu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”... Đây là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân Thủ đô Hà Nội để tiếp tục nỗ lực vươn lên, hoàn thành trọng trách với Đảng, với dân tộc.

Những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn do tình hình phức tạp, bất ổn trên thế giới, nhất là suy thoái kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch COVID-19, cùng với những yếu tố tác động tiêu cực đến sự phát triển chung của đất nước, thành phố Hà Nội đã nỗ lực tập trung thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII; Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 5-5-2022, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, quá trình thực hiện đạt nhiều kết quả nổi bật, toàn diện, cụ thể:

1- Đảng bộ và hệ thống chính trị đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, tạo tiền đề quan trọng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, chất lượng đội ngũ đảng viên ngày càng được nâng cao. Thành phố Hà Nội gương mẫu, đi đầu trong thực hiện đổi mới, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy và hệ thống chính trị, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả theo định hướng, chỉ đạo mới của Trung ương. Bên cạnh đó, thành phố Hà Nội chủ động đề xuất với Trung ương và tổ chức triển khai hiệu quả các nhiệm vụ có tính chiến lược để phát triển Thủ đô; tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong gần 40 năm thực hiện trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.

Vượt qua khó khăn chung, năm 2024, thành phố Hà Nội đã quyết liệt triển khai nhiều giải pháp, nhằm tiếp tục phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ các chỉ tiêu kinh tế - xã hội; khẳng định vai trò “đầu tàu” kinh tế của cả nước. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 6,52%, cao hơn cùng kỳ năm trước; tổng thu ngân sách nhà nước vượt 500.000 tỷ đồng; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt trên 2 tỷ USD,… Thủ đô Hà Nội tiếp tục khẳng định là điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư. Hiện nay, thành phố Hà Nội có 100% huyện, xã đạt chuẩn nông thôn mới; với 191 xã nông thôn mới nâng cao (vượt 35 xã so với mục tiêu của Thành ủy Hà Nội đến năm 2025); có 84 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu (vượt 4 xã so với mục tiêu đề ra).

Cùng với đó, thành phố Hà Nội quyết liệt triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng, có tính chiến lược liên quan đến phát triển Thủ đô, như Luật Thủ đô năm 2024, xây dựng Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065.

2- Công tác xây dựng nông thôn mới - đô thị văn minh có nhiều thành tích nổi bật. Thành phố Hà Nội đẩy nhanh tiến độ triển khai và hoàn thành các dự án, công trình trọng điểm được cải tạo, nâng cấp, mở rộng đường quốc lộ, dự án liên kết vùng, dự án trọng điểm của thành phố; tập trung triển khai dự án đầu tư xây dựng Đường vành đai 4 - vùng Thủ đô đúng tiến độ đề ra.

3- Sự nghiệp giáo dục - đào tạo luôn được thành phố Hà Nội quan tâm, đầu tư, đạt được nhiều kết quả toàn diện, ở khắp các cấp học, nhà trường, các loại hình giáo dục, với quy mô giáo dục tiếp tục mở rộng và phát triển, đứng đầu cả nước. Năm 2024, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của Thủ đô đạt 99,81% (tăng 0,25% và 5 bậc so với năm 2023, là kết quả cao nhất trong 10 năm qua); tiếp tục là đơn vị đứng đầu trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia.

4- Công tác bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc người có công được thành phố Hà Nội chú trọng: Năm 2024, đã tạo việc làm mới cho 178,7 nghìn lao động (đạt 108,3% kế hoạch), hơn 203.000 trường hợp được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; chi cho công tác ưu đãi người có công là 1.930 tỷ đồng. Đến nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội cơ bản không còn hộ nghèo (chỉ tiêu giảm nghèo về đích trước 1 năm so với kế hoạch đề ra cho giai đoạn 2021 - 2025); hoàn thành mục tiêu xóa 100% nhà ở xuống cấp,... Bên cạnh đó, thành phố Hà Nội tiên phong trong lĩnh vực chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số; tiếp tục ưu tiên công tác quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị. Năm 2024, theo đánh giá của Bộ Thông tin và Truyền thông, kết quả chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) của Thủ đô Hà Nội tăng 19 bậc từ năm 2021 đến nay; là đơn vị đứng thứ nhất bảng xếp hạng chung về Chỉ số công nghiệp - công nghệ thông tin; đứng thứ nhất về Chỉ số quản trị điện tử (theo Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam) và đứng thứ hai trong 7 năm liên tiếp về Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam,...

Là địa phương đầu tiên ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp văn hóa, qua hơn 2 năm triển khai thực hiện và 5 năm chính thức là thành viên Mạng lưới các thành phố Sáng tạo của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), hiện nay Thủ đô Hà Nội đang phát triển đa dạng sản phẩm công nghiệp văn hóa ở các lĩnh vực, tạo nên bản sắc riêng, lưu giữ truyền thống, định hình hiện tại và hướng tới tương lai; nhiều không gian sáng tạo đã trở thành thương hiệu, điểm nhấn của Thủ đô. Nhiều năm qua, thành phố Hà Nội luôn kiên trì, tập trung lãnh đạo, triển khai nhiều giải pháp xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, góp phần tạo động lực và nguồn lực mới cho phát triển bền vững. Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TU, ngày 19-2-2024, về “Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng về xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh”; theo đó, tổ chức thành công sự kiện, hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa trên lĩnh vực du lịch văn hóa của Thủ đô (năm 2024, số lượng khách du lịch đến Hà Nội đạt 27,86 triệu lượt, tăng 12,7% so với năm 2023; tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 110,52 nghìn tỷ đồng, tăng 18,3% so với năm 2023). Thành phố Hà Nội được vinh dự đón nhận nhiều giải thưởng lớn, nổi bật, như “Điểm đến du lịch thành phố hàng đầu châu Á”, “Điểm đến Thành phố golf tốt nhất thế giới năm 2024” do Tổ chức World Travel Awards trao tặng; nằm trong nhóm “100 điểm đến thành phố hấp dẫn nhất thế giới năm 2024” do trang nghiên cứu Euromonitor International bình chọn.

Là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng, thành phố Hà Nội luôn chú trọng làm tốt công tác quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các sự kiện quan trọng về chính trị, ngoại giao, văn hóa diễn ra ở Thủ đô. Năm 2024, thành phố Hà Nội đã tổ chức thành công, an toàn tuyệt đối cuộc diễn tập khu vực phòng thủ cấp thành phố, với gần 17.000 người tham gia; qua đó, khẳng định năng lực quốc phòng - an ninh và củng cố vị thế của Thủ đô với tư cách trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trái tim của cả nước; trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ và hội nhập quốc tế của cả nước trong tình hình mới. Cùng với đó, Đảng bộ thành phố Hà Nội luôn quan tâm lãnh đạo, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh, đối ngoại; thường xuyên xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, bảo vệ vững chắc Thủ đô trong mọi tình huống. Thành phố Hà Nội tăng cường liên kết với các địa phương, các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước; duy trì củng cố, đẩy mạnh quan hệ hữu nghị hợp tác song phương và đa phương với các thủ đô, thành phố, đối tác nước ngoài, các tổ chức quốc tế theo hướng ngày càng thực chất, có chiều sâu. Hà Nội là Thủ đô bình yên, thân thiện, có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch và nhà đầu tư quốc tế; tham gia với trách nhiệm cao và đảm nhiệm cương vị quan trọng tại nhiều diễn đàn quốc tế lớn; qua đó, giới thiệu, quảng bá hình ảnh, góp phần nâng cao vai trò, uy tín của Thủ đô, nâng cao tầm vóc, vị thế của đất nước trong cộng đồng quốc tế.

Du khách trải nghiệm vẽ gốm Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thủ đô Hà Nội tự tin, vững bước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Trong nhiều bài viết, bài phát biểu quan trọng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm luôn khẳng định, với thế và lực đã tích lũy được sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cùng sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, với thời cơ, thuận lợi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta đã hội tụ đủ điều kiện cần thiết đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Đây là nhận thức, tư duy lý luận đột phá, tạo cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Tư duy lý luận về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam chính là sự phát triển nhận thức, tư duy lý luận về giai đoạn phát triển mới của đất nước và của dân tộc, trên cơ sở thành tựu lý luận trước đó. Hành trang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, như Đảng ta và đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định là: Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững, là đột phá để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: Chúng ta phải đổi mới tư duy, phải “cởi trói”, phải quyết đoán, phải bứt phá, phải vượt lên chính mình...; đồng thời, nhấn mạnh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội đang tập trung giải quyết điểm nghẽn và tạo lập những yếu tố nền tảng để đất nước có thể “cất cánh”, nhất là các vấn đề liên quan đến kết cấu hạ tầng, như hệ thống giao thông, hạ tầng năng lượng, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính,...

Với vai trò là Thủ đô, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới đặt ra nhiệm vụ ngày càng cao đối với Hà Nội trong việc đi trước, đi đầu, thúc đẩy đột phá; qua đó, tạo nguồn lực mới, động lực mới trong phát triển. Hướng tới  tầm nhìn mới, khát vọng mới, Thủ đô Hà Nội đang đứng trước cơ hội để bứt phá trong giai đoạn mới. Sớm xây dựng thành phố Hà Nội trở thành “Thủ đô xã hội chủ nghĩa” hình mẫu trên thế giới, góp phần cùng đất nước tiến vào kỷ nguyên mới.

Ngày 29-11-2024, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 284-KH/TU, “Về triển khai đợt sinh hoạt chính trị, nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền tư tưởng chỉ đạo, định hướng lớn của Đảng và Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, theo đó các chi bộ trong toàn Đảng bộ thành phố tổ chức sinh hoạt chuyên đề vào ngày 16-12-2024 và tổ chức sinh hoạt thường kỳ. Đây là một nội dung sinh hoạt chính trị quan trọng, được thành phố Hà Nội chủ động triển khai đầu tiên trong cả nước; qua đó, giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân Thủ đô nhận thức sâu sắc tư tưởng chỉ đạo, định hướng của Đảng và đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam; tạo sự thống nhất cao trong toàn hệ thống chính trị, đồng thuận trong nhân dân; đồng thời, tạo chuyển biến sâu sắc trong từng cán bộ, đảng viên về ý thức trách nhiệm, góp phần xây dựng Thủ đô và đất nước trong kỷ nguyên mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta. Tất cả chúng ta phải ra sức giữ gìn trật tự, an ninh, làm cho Thủ đô ta thành một Thủ đô bình yên, tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”(1). Theo tinh thần đó, Thủ đô Hà Nội luôn gương mẫu, đi đầu cả nước trong các phong trào thi đua, thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trong giai đoạn cách mạng mới, cùng với cơ hội, Thủ đô Hà Nội phải đối mặt với thách thức chưa từng có, đòi hỏi nỗ lực phấn đấu trong bối cảnh đầy biến động và những xu thế phát triển mới của khu vực và thế giới, như yêu cầu mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra cho Hà Nội: “không thể như với các địa phương khác, mà phải cao hơn, sâu hơn, mạnh hơn...(2). Trong quá trình triển khai nhiệm vụ, thành phố Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Tại cuộc làm việc ngày 9-8-2024 với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XVII của Đảng bộ thành phố Hà Nội, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, thành phố Hà Nội cần nhận thức đầy đủ, đúng đắn và sâu sắc hơn nữa về tiềm năng, lợi thế vượt trội, vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của Thủ đô trong sự nghiệp đổi mới, phát huy truyền thống văn hiến và anh hùng, vị thế đặc biệt quan trọng của Thủ đô đối với vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước; đồng thời, nâng cao tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tiếp tục đổi mới tư duy, nếp nghĩ, cách làm để đưa thành phố Hà Nội phát triển mạnh mẽ hơn nữa, toàn diện hơn nữa, trở thành thành phố tiêu biểu của cả nước về các mặt.

Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, phát triển nhanh, bền vững, kết hợp hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, bảo vệ môi trường; an ninh an toàn và hạnh phúc của người dân, với triết lý phát triển của Thủ đô dựa trên “5 trụ cột” là: Văn hóa, con người và di sản nghìn năm văn hiến - phát triển kinh tế xanh, kinh tế số - hạ tầng kết nối đồng bộ, hiện đại- xã hội số, đô thị thông minh - khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; trong đó, văn hóa, con người và di sản nghìn năm văn hiến là nền tảng xuyên suốt; cùng “3 chuyển đổi” là: Chuyển đổi xanh - chuyển đổi số - kinh tế tuần hoàn; với hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có tính kết nối cao; kinh tế số, đô thị thông minh; khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo,... Định hướng lớn rất quan trọng của Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm chính là cơ sở để thành phố Hà Nội tiếp tục vận dụng, cụ thể hóa vào chương trình, kế hoạch công tác, để tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị thành phố trong thời gian tới, thực hiện tốt nhất mục tiêu chiến lược trong phát triển nhanh và bền vững.

Phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt trong tiến trình phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, mục tiêu đặt ra trong nhiệm kỳ Đại hội đại biểu lần thứ XVIII của Đảng bộ thành phố Hà Nội sẽ mang đến cơ hội mới, động lực mới, để hoàn thành mục tiêu đến năm 2030 là thành phố “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”; trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới. Mục tiêu dự kiến được đặt ra là GRDP giai đoạn 2026 - 2030 tăng 8% - 8,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 12.000 USD - 13.000 USD. Tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 là thành phố kết nối toàn cầu, có mức sống và chất lượng cuộc sống cao, với GRDP/người đạt trên 36.000 USD; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển toàn diện, đặc sắc và hài hòa, tiêu biểu cho cả nước; có trình độ phát triển ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Đảng bộ thành phố Hà Nội là đơn vị có số lượng đảng viên lớn nhất cả nước, với trên 485 nghìn đảng viên, trong đó tập trung đông đảo đội ngũ cán bộ trung - cao cấp, văn nghệ sĩ, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân,... Đây là nguồn “tài nguyên” quý giá của Đảng bộ thành phố Hà Nội, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của Thủ đô, tạo động lực, tự tin, vững bước trong kỷ nguyên mới. Cùng với đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô luôn nhận thức đầy đủ, đúng đắn và sâu sắc về tiềm năng, lợi thế, vị trí, vai trò “Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người”, “Thủ đô anh hùng”, “Thành phố vì hòa bình”, “Thành phố sáng tạo”; khơi dậy và phát huy mạnh mẽ truyền thống nghìn năm văn hiến, anh hùng, hòa bình, hữu nghị, tinh thần chủ động, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, tình yêu Hà Nội và khát vọng vươn lên; tiếp tục đổi mới tư duy, hành động, phát huy sức sáng tạo, tiềm năng, nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, đô thị, văn hóa, xã hội,... và có chương trình, hành động cụ thể để triển khai 7 định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam; trong đó, tập trung một số nội dung quan trọng:

Một là, tăng tốc, quyết liệt chỉ đạo hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, công tác xây dựng Đảng, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân để tháo gỡ ách tắc, điểm nghẽn, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XVII của Đảng bộ thành phố Hà Nội, nhất là chỉ tiêu khó, đóng góp xứng đáng vào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Hai là, tập trung đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị Thủ đô trong sạch, vững mạnh, thực sự gương mẫu, đi đầu; quán triệt và thực hiện tốt phương châm “dân là gốc”, lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của mọi chiến lược phát triển, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền các cấp.

Ba là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là với thế hệ trẻ, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, của Bộ Chính trị, về “Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực công tác ngang tầm nhiệm vụ và phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; có tinh thần đoàn kết, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc; đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu, đi đầu, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy tinh thần, hào khí Thăng Long, niềm tự hào và khát vọng vươn lên trong mỗi cán bộ, đảng viên và người dân; tạo động lực, truyền cảm hứng để Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Thủ đô quyết tâm phấn đấu cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên mới.

Bốn là, đi đầu trong việc đưa thực hiện chuyển đổi số vào hoạt động của các cơ quan đảng, tạo sự đồng bộ với chuyển đổi số của chính quyền thành phố, phát huy hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành, cũng như cả hệ thống chính trị; trong đó, tiếp tục tập trung hoàn thiện hạ tầng số, hình thành dữ liệu lớn, phát triển ứng dụng công nghệ mới; đẩy mạnh phát triển kinh tế xanh, kinh tế số và nâng cao kiến thức, phát triển kỹ năng số cho người dân xây dựng xã hội số, xã hội thông minh. Mục tiêu hướng đến là Hà Nội trở thành một thành phố tiên phong về chuyển đổi số và phát triển bền vững trong nước và khu vực.

Năm là, tiếp tục triển khai hiệu quả các lĩnh vực, như đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền, tăng cường kết nối vùng, phân bố các không gian phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng xã hội học tập, gắn với xây dựng văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, xứng đáng với truyền thống nghìn năm văn hiến, tiêu biểu cho trí tuệ và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; xây dựng thành phố Hà Nội thực sự là trung tâm hội tụ, kết tinh và tỏa sáng văn hóa của cả nước. Làm tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, tập trung phát triển công nghiệp văn hóa, gắn với du lịch để công nghiệp văn hóa và du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm. Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số,...; phấn đấu giữ vững vị trí dẫn đầu cả nước trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ yêu cầu đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô và đất nước.

Sáu là, triển khai tích cực Luật Thủ đô năm 2024, phát huy hiệu quả cơ chế, chính sách vượt trội, đặc thù trong thực tiễn, nhất là việc tháo gỡ hiệu quả “điểm nghẽn”, “nút thắt”, giải phóng nguồn lực, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thành phố, gắn với tổ chức triển khai Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các dự án trọng tâm, trọng điểm, như Đường vành đai 4, Đường vành đai 5, các tuyến đường sắt đô thị, các cầu qua sông Hồng và định hướng phát triển theo 5 trục không gian chính, bao gồm trục sông Hồng, trục Hồ Tây - Ba Vì, trục Hồ Tây - Cổ Loa, trục Nhật Tân - Nội Bài và trục nam Hà Nội; tập trung nguồn lực để xây dựng hai thành phố trực thuộc là thành phố Bắc sông Hồng (Mê Linh - Sóc Sơn - Đông Anh), thành phố phía Tây (Hòa Lạc - Xuân Mai) và đô thị thông minh, tạo diện mạo Thủ đô trong kỷ nguyên mới...

Bảy là, chuẩn bị và tổ chức tốt đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ XVIII của Đảng bộ thành phố Hà Nội, trên cơ sở bám sát và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14-6-2024, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng” và kế hoạch tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Có tư duy đổi mới sáng tạo, quyết tâm với ý chí cao nhất, thể hiện vai trò gương mẫu, đi đầu của Thủ đô trong thực hiện khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, như tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm. Công tác chuẩn bị nhân sự phải được đặc biệt coi trọng giúp đại hội lựa chọn, bầu cử vào cấp ủy cán bộ, đảng viên thật sự gương mẫu, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực và tâm huyết, trách nhiệm cao với công việc chung.

Tám là, giữ vững ổn định chính trị trong mọi hoàn cảnh; thường xuyên củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh và phát huy sức mạnh thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, “thế trận lòng dân”, bảo vệ vững chắc Thủ đô trong mọi tình huống. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế. Chủ động, kịp thời đấu tranh hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá Ðảng, Nhà nước, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại thành quả của công cuộc đổi mới.

Thay lời kết

Truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng luôn là niềm tự hào, là động lực thôi thúc Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô phát huy hào khí Thăng Long, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, truyền thống gương mẫu, đoàn kết, thống nhất, chủ động, sáng tạo, trách nhiệm; không ngừng đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp làm việc; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, tiềm năng, thế mạnh, xây dựng Thủ đô phát triển toàn diện, bền vững, phồn vinh, hạnh phúc, xứng đáng với niềm tin yêu của đồng bào cả nước, xứng đáng với tầm vóc và vị thế của “Thủ đô nghìn năm văn hiến”, “Thủ đô anh hùng”; vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đưa đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu …/.

------------------------------