Thứ Hai, 7 tháng 4, 2025

Tinh gọn tổ chức bộ máy - đòi hỏi tất yếu của thực tiễn

 Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển đất nước, nhưng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện vẫn bộc lộ nhiều bất cập, như tổ chức cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, chức năng chồng chéo và cơ chế phối hợp vướng mắc. Thực trạng này dẫn đến hiệu suất làm việc thấp, thủ tục hành chính rườm rà, cán bộ quan liêu, trì trệ trong giải quyết công việc.

Nhiều bộ, ngành có nhiệm vụ tương đồng dẫn đến sự chồng chéo trong quản lý, khó xác định trách nhiệm. Việc phối hợp giữa các cơ quan còn nhiều vướng mắc, làm giảm hiệu quả thực thi chính sách. Tinh giản biên chế ở một số nơi vẫn mang tính cào bằng, chưa tính đến đặc thù từng đơn vị, làm giảm chất lượng hoạt động của bộ máy. Dù đã nỗ lực đề ra nhiều giải pháp để cải cách hành chính, nhưng nhiều thủ tục vẫn làm mất thời gian và gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Việc phải qua nhiều cấp trung gian khiến tiến trình xử lý kéo dài, làm giảm hiệu quả phục vụ của bộ máy nhà nước.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện cải cách bộ máy hành chính để nâng cao hiệu quả quản trị. Tại Xin-ga-po, chính phủ thực hiện chính sách “chính phủ thông minh”, giảm số lượng cơ quan và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong điều hành. Cơ quan công quyền của Xin-ga-po cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân. Với đội ngũ công chức tinh gọn, dù chỉ có 16 bộ, nhưng Xin-ga-po vẫn phát huy được hiệu quả quản trị. Tại Anh, từ những năm 80 của thế kỷ XX, chính phủ đã thực hiện cải cách theo mô hình “quản lý công mới”, chuyển nhiều dịch vụ công sang khu vực tư nhân, đồng thời tinh gọn bộ máy hành chính. Nhờ đó, số lượng nhân viên khu vực công giảm, nhưng hiệu suất làm việc lại tăng đáng kể...

Cách tiếp cận của nhiều nước trên thế giới cho thấy, để quản trị hiệu quả, không chỉ giảm bớt đầu mối tổ chức, mà còn phải thay đổi cách thức quản trị, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và cung cấp dịch vụ công. Một bộ máy tinh gọn, hiệu quả không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách, mà còn cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên giới

 Kế thừa truyền thống, kinh nghiệm coi “sức dân như sức nước”, “dân là gốc”(1) trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, với tư tưởng, quan điểm sâu sắc, toàn diện, như “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”(2), “trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân”(3), “sức mạnh của Đảng là sự gắn bó máu thịt với nhân dân”(4),...

Trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, Đảng và Nhà nước ta xác định: Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là chủ thể, “mỗi người dân biên giới là một cột mốc sống”. Đồng thời, khẳng định: Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ biên giới quốc gia.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, với vai trò là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, Bộ đội Biên phòng  đã quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời, có nhiều chủ trương, giải pháp chủ động, tích cực, sáng tạo trong triển khai phong trào, chương trình, mô hình giúp người dân phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; trực tiếp góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ở khu vực biên giới với các kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, phối hợp chặt chẽ với ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương tổ chức chương trình phối hợp, huy động sức mạnh cả nước cùng hướng về biên giới, hải đảo.

Thứ hai, triển khai trong toàn lực lượng các phong trào, chương trình, mô hình giúp dân phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh.

Thứ ba, kết hợp chặt chẽ giữa tham mưu, tham gia, phối hợp phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, Quân đội và cấp ủy, chính quyền các cấp; xây dựng “biên giới lòng dân” vững mạnh.

Thứ tư, gắn việc thực hiện các phong trào, chương trình, mô hình giúp dân phát triển kinh tế - xã hội với các phong trào bảo vệ biên giới và các hoạt động Ngày Biên phòng toàn dân, tạo sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia bảo vệ biên giới.

Lực lượng diễu binh được chào đón nồng ấm

 Đón đoàn có các đồng chí: Trung tướng Nguyễn Trường Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7; Đại tá Lê Xuân Bình, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 7; đại diện lãnh đạo tỉnh Đồng Nai.

Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa dẫn đầu đoàn công tác.
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Lãnh đạo Quân khu 7 tặng hoa chào đón thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu và đoàn công tác.
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai tặng quà động viên đoàn công tác. 

Tại ga Biên Hòa, các cơ quan, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ trong điều hành, điều phối đón tiếp các lực lượng làm nhiệm vụ diễu binh, diễu hành bảo đảm nhanh, gọn, có sơ đồ hướng dẫn rõ ràng, bảo đảm an ninh trật tự chặt chẽ.

Đến ga Biên Hòa trong ngày 5-4 gồm các khối của Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân khu 5, Binh chủng Thông tin liên lạc, Quân đoàn 12, Đoàn Nghi lễ Quân đội.

Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Đoàn tàu "đặc biệt" đến ga Biên Hòa.
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Lực lượng do Quân khu 1 đảm nhiệm xuống tàu.
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
Người dân tỉnh Đồng Nai phấn khởi chào đón các đoàn tham gia diễu binh, diễu hành đến miền Nam. 

Ngay sau khi xuống ga Biên Hòa, các khối được đưa về ăn nghỉ, sinh hoạt tại Lữ đoàn Công binh 25 (Quân khu 7), Sư đoàn 309 (Quân khu 7). Các đơn vị đã bảo đảm ăn ở cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ đầy đủ về công tác hậu cần, quân y.

Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
Các đoàn lên xe về đơn vị, chuẩn bị cho giai đoạn huấn luyện tiếp theo. 
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Nét rạng ngời của các nữ quân nhân.

Theo kế hoạch, ngày 6-4, các khối tiếp tục về đến ga Biên Hòa thuộc các đơn vị của Quân chủng Hải quân, Quân chủng Phòng không-Không quân, Binh chủng Đặc công, Binh chủng Tăng Thiết giáp...

Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Trung tướng Nguyễn Trường Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7 động viên các khối về đơn vị, chuẩn bị nhiệm vụ giai đoạn mới.
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Xe đưa các khối về nơi tập kết tại Lữ đoàn Công binh 25.
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Khối nữ sĩ quan Quân y nhận chỗ ở.
Lực lượng diễu binh, diễu hành vào đến miền Nam, được chào đón nồng ấm
 Bữa cơm đầu tiên tại miền Nam của khối nữ quân y.

Vinh dự 2 lần được chọn khối luyện tập diễu binh, diễu hành

 Trong hàng chục khối luyện tập diễu binh, diễu hành chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025), chúng tôi thực sự ngưỡng mộ các khối nữ quân nhân vì chị em đã nỗ lực rất nhiều để vượt qua khó khăn, thách thức của giới nữ vốn "chân yếu tay mềm", vượt qua cả những lo lắng cho gia đình khi mẹ, khi chị vắng nhà để không thua kém các khối nam quân nhân trong suốt quá trình luyện tập đầy gian nan, vất vả. 

Các "bóng hồng" nỗ lực tập diễu binh, diễu hành
  Lãnh đạo Bộ Quốc phòng với các nữ quân nhân của khối Nữ sĩ quan quân y. Ảnh: VIỆT TRUNG

Chia sẻ với phóng viên sau buổi hợp luyện, Đại úy QNCN Nguyễn Thị Huyền Trang (Lữ đoàn 205, Binh chủng Thông tin liên lạc) trong đội hình của khối Nữ sĩ quan thông tin, cho biết, cách đây 10 năm, chị đã vinh dự được tham gia diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Nay chị đã lập gia đình và có hai con nhỏ (7 tuổi và 3 tuổi), nhưng khi được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ tham gia luyện tập diễu binh, diễu hành, chị rất phấn khởi, cố gắng thu xếp việc gia đình để yên tâm làm nhiệm vụ. “Dù luyện tập cường độ cao, nhiều khó khăn, vất vả, nhưng chúng tôi cảm thấy rất vinh dự, tự hào, háo hức được diễu binh, diễu hành trên quảng trường và các tuyến đường của TP Hồ Chí Minh trong ngày lễ lớn của dân tộc”, Đại úy QNCN Nguyễn Thị Huyền Trang tâm sự.

Còn trẻ, chưa lập gia đình, nhưng đây cũng là lần thứ hai Trung úy QNCN Hoàng Thị Thu (nhân viên Văn phòng Bộ tư lệnh Quân khu 3) vinh dự được chọn làm Khối trưởng khối Nữ sĩ quan gìn giữ hòa bình. Trước đó, Thu đã vinh dự tham gia diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 / 7-5-2024). Tại thao trường Trung tâm Huấn luyện quân sự Quốc gia 4, Trung úy QNCN Hoàng Thị Thu cùng hơn 100 chị em khối Nữ sĩ quan gìn giữ hòa bình luôn giữ đội hình thẳng tắp, động tác chuẩn xác và quân dung tươi tỉnh, nghiêm trang.

Các "bóng hồng" nỗ lực tập diễu binh, diễu hành

Khối Nữ sĩ quan gìn giữ hòa bình tập luyện diễu binh, diễu hành tại Trung tâm Huấn luyện quân sự Quốc gia 4. Ảnh: VIỆT TRUNG 

"Trong quá trình luyện tập ke chân, đi nghiêm, nhiều chị em bị đau chân, toàn thân nhức mỏi. Buổi tối, mọi người động viên nhau cùng ngâm chân bằng nước nóng để bớt đau, hôm sau tiếp tục luyện tập. Khổ luyện ắt sẽ thành công, giờ đây cảm giác ê mỏi, tê nhức hầu như không còn nữa. Chị em trong khối luôn đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chúng tôi luôn tâm niệm cố gắng luyện rèn để mỗi bước chân, động tác đánh tay và gương mặt trong ngày diễu binh, diễu hành thể hiện được ý chí, nghị lực, khí phách và vẻ đẹp của nữ quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam", Trung úy QNCN Hoàng Thị Thu bộc bạch.

Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, trong số các nữ quân nhân tham gia diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, có khá nhiều chị em từng được đứng trong đội hình vinh dự này ở những dịp đại lễ trước. Họ đều thu xếp việc nhà ổn thỏa và nỗ lực vượt qua khó khăn, vất vả; đoàn kết, động viên nhau, hướng dẫn, giúp đỡ những đồng chí tham gia diễu binh, diễu hành lần đầu nâng cao chất lượng luyện tập.

Đoàn QĐNDVN tặng thiết bị cứu hộ, cứu nạn cho Myanmar

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, trưa 7-4, tại Thủ đô Naypyidaw, đoàn Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đã trao các trang thiết bị cứu hộ, vật tư quân y, hậu cần và lương thực, thực phẩm mà đoàn mang theo tặng Myanmar, để giúp nước bạn tiếp tục triển khai khắc phục hậu quả động đất.

Trước khi hai bên ký biên bản bàn giao số trang thiết bị và vật tư nói trên, Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, Phó cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn (Bộ Tổng tham mưu), Trưởng đoàn QĐND Việt Nam tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar phát biểu nhấn mạnh, đây là tình cảm, sự chia sẻ của QĐND Việt Nam dành cho đất nước và nhân dân Myanmar; đồng thời cho rằng trong quá trình hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất ở Thủ đô Naypyidaw, đoàn QĐND Việt Nam đã phối hợp hiệu quả với lực lượng cứu hộ Myanmar, nhằm mục tiêu chung là giúp người dân địa phương giảm thiểu, vơi đi đau thương, mất mát.

“Chúng tôi muốn gửi tới các bạn lời chúc tốt đẹp nhất và chúc các bạn sớm vượt qua thảm họa động đất, xây dựng đất nước Myanmar phát triển”, Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ nhấn mạnh.

Đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam tặng trang thiết bị, vật tư cứu hộ cho Myanmar
Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ và Thiếu tướng U Myat Thu ký biên bản bàn giao số trang thiết bị, vật tư, lương thực.
Đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam tặng trang thiết bị, vật tư cứu hộ cho Myanmar
Hai bên chụp ảnh chung tại lễ bàn giao. 

Quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội

 Trong tiến trình đổi mới, lãnh đạo chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện quan điểm về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Quá trình này đồng thời cũng là quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trước tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, năm 1986, Đảng ta đã sáng suốt đề ra quan điểm đổi mới tại Đại hội VI là đổi mới tư duy và cơ chế kinh tế, chuyển nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.

Đại hội VI đã chỉ ra khiếm khuyết cơ bản của cơ chế quản lý kinh tế mang tính mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, coi kế hoạch là tuyệt đối, cơ quan quản lý can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với quyết định của mình(1). Đi liền với đó, quan điểm khởi đầu về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế hàng hóa cũng được nêu rõ: “Ngay sau khi giành được chính quyền, nắm được những mạch máu kinh tế chủ yếu của đất nước, Nhà nước xã hội chủ nghĩa có điều kiện và nhất thiết phải quản lý nền kinh tế quốc dân theo một kế hoạch thống nhất. Tính kế hoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản lý kinh tế ngay từ buổi đầu của thời kỳ quá độ... Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế mới về quản lý kinh tế mà chúng ta đang xây dựng. Việc sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ đòi hỏi sản xuất phải gắn với thị trường... Kế hoạch hóa phải luôn gắn liền với việc sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế...”(2).

Cùng với nhận thức bước đầu quan trọng về mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường (trước hết là tôn trọng các quy luật thị trường và quyền tự chủ của đơn vị sản xuất, kinh doanh xã hội chủ nghĩa), Đại hội VI khẳng định vai trò quản lý của cơ quan nhà nước thể hiện ở việc tạo môi trường và điều kiện cho đơn vị sản xuất, kinh doanh hoạt động: “Vai trò quản lý kinh tế của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, nói cho cùng, là nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở kinh tế hoạt động có hiệu quả. Nhà nước kiểm soát và điều khiển các xí nghiệp và đơn vị sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế bằng pháp luật, chính sách kinh tế, chính sách tiến bộ kỹ thuật thay cho can thiệp sâu và hoạt động sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp...”(3).

Như vậy, ở đây, trong quan điểm của Đại hội VI, Đảng ta đã xác định được mối quan hệ rất trúng về bản chất giữa Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý - tạo lập môi trường với đơn vị sản xuất, kinh doanh với tư cách là lực lượng chủ thể biểu hiện hình thái của thị trường. Về quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh trong mối quan hệ với thị trường, Đại hội VI nhấn mạnh: “các đơn vị kinh tế cơ sở chủ động tiếp nhận nhu cầu của thị trường, khai thác mọi khả năng để phát triển sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch của nhà nước. Hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị sản xuất, kinh doanh vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch vừa là công cụ pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện kế hoạch… Để kích thích sản xuất phát triển, lập lại trật tự và ổn định thị trường, phải có chính sách mở rộng giao lưu hàng hóa, xóa bỏ tình trạng ngăn sông, cấm chợ, chia cắt thị trường theo địa giới hành chính”(4)

Bước sang Đại hội VII, trên tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, nhiều quan điểm được cụ thể hóa trong các nghị quyết, trong đó có vấn đề về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường. Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội tiếp tục được giải quyết rõ hơn trong luận điểm về xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa: “Xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế mới, kiên trì quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước. Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cần thiết cho cơ chế thị trường hoạt động hiệu quả... Nhà nước chỉ trực tiếp định giá đối với một số ít những hàng hóa - dịch vụ hoặc vì ý nghĩa kinh tế xã hội đặc biệt quan trọng, hoặc vì tính chất độc quyền cao, song cũng không thoát ly cơ sở thị trường”(5).

Mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường được Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII đề cập cụ thể hơn trong thực hiện chức năng của Nhà nước với chức năng của thị trường: “Tăng cường quản lý vĩ mô của Nhà nước nhằm định hướng và chỉ đạo sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội, tạo môi trường kinh tế và khuôn khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy mặt tích cực, ngăn ngừa và khống chế những tác động tự phát, tiêu cực, khắc phục những mặt khiếm khuyết vốn có của cơ chế thị trường, làm cho thị trường thật sự trở thành công cụ quan trọng trong việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân…”(6).

Về thành tố xã hội, trên cơ sở quan điểm: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”(7), Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII chủ trương phát huy thành tố xã hội là các thành viên trong xã hội trong việc tự vươn lên “làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo. Coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho phát triển”(8); cùng với đó, “đề cao trách nhiệm của mỗi công dân tự giải quyết những vấn đề của bản thân và gia đình mình; đồng thời tăng cường cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội, phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc ta”(9).

Chuyển sang Đại hội VIII của Đảng, mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội được đặt trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội gắn với huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được Đảng ta xác định cụ thể.

Về mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, Đại hội VIII nêu rõ: “Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta, thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một thể thống nhất với nhiều lực lượng tham gia sản xuất và lưu thông, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới. Thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch... Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh… Nhà nước quản lý thị trường bằng pháp luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách; các công cụ đòn bẩy kinh tế và bằng các nguồn lực của khu vực kinh tế nhà nước”(10).

Về mối quan hệ với thành tố xã hội, tiếp tục tinh thần của Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII về tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển, Đại hội VIII nêu định hướng trong thực hiện chính sách xã hội hóa về vai trò của xã hội trong mối quan hệ với Nhà nước: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữa vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”(11). Trong đó, Đại hội VIII nhấn mạnh trong những năm trước mắt, phải giải quyết tốt một số vấn đề, như tập trung tạo việc làm, thực hiện xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và hoạt động nhân đạo, từ thiện,...

Bước sang Đại hội IX của Đảng, mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội tiếp tục được Đảng ta đưa ra trên cơ sở tổng kết 15 năm tiến hành công cuộc đổi mới và đi liền với đó là quá trình thực hiện giải quyết mối quan hệ trong thực hiện phát triển kinh tế thị trường. Đại hội IX khẳng định: “Đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sách nhiễu gây phiền hà. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển…”(12).

Về mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường, Đại hội IX đưa ra quan điểm về tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường; nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước. Đại hội IX chủ trương: “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ. Phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ… Mở thêm thị trường nước ngoài”(13).

Về khía cạnh xã hội, Đại hội IX tiếp tục khẳng định tinh thần phát huy vai trò của thành tố xã hội hóa trong thực hiện chính sách xã hội. “Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội”(14). Theo đó, tinh thần của việc giải quyết vấn đề xã hội là nhằm hướng vào lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp.

Đại hội X đánh dấu thực hiện phát triển 5 năm đầu của thế kỷ XXI, trên cơ sở thành tựu của nhiệm kỳ Đại hội IX, Đại hội X tiếp tục nhấn mạnh quan điểm về mối quan hệ Nhà nước, thị trường và xã hội. Trong đó, nêu quan điểm rõ hơn về tiếp thục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở nội dung quan trọng về nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường; nâng cao vai trò quản lý của nhà nước; phát triển đồng bộ và quản lý hiệu quả các loại thị trường. Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường trước hết thể hiện ở việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công  bằng, văn minh”, không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện xóa đói, giảm nghèo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Về nâng cao vai trò quản lý của nhà nước, Đại hội X nhấn mạnh vai trò điều tiết, tác động của Nhà nước vào thị trường bằng công cụ chính sách, xóa bỏ cơ chế chủ quản, tách chức năng quản lý với chức năng kinh doanh, thực hiện phân định rõ chức năng của cơ quan nhà nước. Về phát triển đồng bộ các loại thị trường, Đại hội X chủ trương phát triển và tiếp tục hoàn thiện các loại thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường bất động sản, thị trường tài chính, thị trường khoa học - công nghệ.

Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội X, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X “Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Nghị quyết số 21-NQ/TW), ngày 30-1-2008, nêu quan điểm cụ thể hơn về mối quan hệ Nhà nước, thị trường và xã hội, trong đó, khẳng định mục tiêu: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, hội nhập quốc tế thành công, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(15). Trên cơ sở mục tiêu, Nghị quyết nêu rõ: “Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại được phát triển tới trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản nhưng tự bản thân kinh tế thị trường không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản”(16). Về định hướng hoàn thiện thể chế, nâng cao vai trò của Nhà nước, của tổ chức dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, Hội nghị Trung ương 6 khóa X nêu: “Đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với những yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay. Vận dụng và phát huy mặt tích cực, hạn chế, ngăn ngừa mặt trái của cơ chế thị trường và tiếp tục tạo ra những tiền đề, điều kiện để nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới mạnh mẽ hơn phương thức quản lý của Nhà nước… Chuyển giao những công việc Nhà nước không nhất thiết phải làm cho các tổ chức xã hội; tinh giản bộ máy nhà nước, tập trung nguồn lực vào một số lĩnh vực quan trọng nhất trong phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao vai trò của các tổ chức dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp và của nhân dân trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...”(17).

Đại hội XI của Đảng cụ thể hóa hơn về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong định hướng lớn về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện ở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Theo đó, Cương lĩnh khẳng định: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng, ngày càng phát triển. Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa… Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất”(18).

Về vai trò của thị trường, Đại hội XI nêu rõ: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt... Phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội. Mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Phát triển kinh tế thị trường, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế…”(19).

Về thành tố xã hội, Đại hội XI tiếp tục khẳng định thành tố xã hội tham gia tích cực vào việc thực hiện bảo đảm chính sách xã hội, an sinh xã hội: “Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công”(20).

Trên cơ sở tổng kết 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đại hội XII của Đảng nêu quan điểm rõ hơn về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong phương hướng, mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XII chỉ rõ: “thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội”(21).

Điểm phát triển về mặt lý luận của Đảng về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội thể hiện trong Văn kiện Đại hội XII: Sau ba thập niên đổi mới, quan hệ giữa Nhà nước, thị trường được đặt trong hệ thống mối quan hệ phản ánh yêu cầu: “hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; bảo đảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được thể hiện trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội”(22).

Cụ thể hơn, Đại hội XII nêu phương hướng: “Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng; tăng cường lãnh đạo việc thể chế hóa và việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng... Nhà nước thể chế hóa nghị quyết của Đảng, xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách, bảo đảm các loại thị trường ngày càng hoàn thiện và vận hành thông suốt... Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân; bảo đảm quyền tự do, dân chủ trong hoạt động kinh tế của người dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và sự tham gia hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng và giám sát việc thực hiện thể chế kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội”(23). So với các kỳ đại hội trước, Đại hội XII đã cụ thể hóa hơn thành tố xã hội, bao gồm nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Đây cũng là tiền đề lý luận để Đại hội XIII khái quát rõ hơn, thể hiện rõ hơn quan điểm về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.

Đại hội XIII khẳng định: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ”(24). Trong đó, “Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế... Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với các yêu cầu và quy luật của nền kinh tế thị trường. Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp các hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện pháp luật”(25).

Như vậy, với gần 40 năm không ngừng bổ sung, phát triển, quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội dần rõ hơn, cụ thể hơn, phản ánh bản chất hơn vai trò, chức năng và cấu trúc của các thành tố Nhà nước, thị trường, xã hội trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển này thể hiện sự sáng tạo của Đảng trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Xét về mặt lý luận, điểm phát triển cơ bản trong quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội thể hiện ở việc nhận thức ngày càng rõ chức năng, vị trí, vai trò của mỗi thành tố, từ chỗ khái quát chung, bước đầu của thời kỳ đổi mới, đến Đại hội XIII vai trò của Nhà nước, thị trường, xã hội được chỉ rõ và phân tách biện chứng hơn, chuẩn xác hơn, sát với đặc trưng của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy, bên cạnh đó, một số vấn đề đặt ra cần được làm sáng tỏ hơn.

Thứ nhất, với vai trò như đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ ra, đây là đặc trưng không khác so với vai trò kinh tế nhà nước trong các nền kinh tế thị trường trên thế giới. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để gắn kết được các chức năng như vậy xét theo véc-tơ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để chủ thể kinh doanh cũng như quản lý thực hiện được một cách thuận lợi trên thực tế. Cách thức gắn kết một cách trực tiếp, thường xuyên giá trị định hướng xã hội chủ nghĩa vào từng chính sách, kế hoạch, quy hoạch phát triển để hiện thực hóa chủ trương về vai trò nhà nước trong thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề rất căn cốt, nếu không có sự luận giải rõ sẽ thì rất khó hiện thực hóa trong thực tế.

Thứ hai, mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường cần tiếp tục được nghiên cứu. Khi khẳng định thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ, vậy căn cứ nào và thể chế nào để thị trường thực hiện được vai trò này trong khi Nhà nước vẫn cần có vai trò quản lý nhà nước về các yếu tố của thị trường, trong đó có giá cả. Các công cụ kế hoạch và lực lượng kinh tế của Nhà nước cần được phối hợp sử dụng như thế nào trong mối quan hệ với vai trò quyết định của thị trường trong xác định giá cả. Bên cạnh đó, xét về mặt hình thái, thị trường cần được định hình vào các hệ quy chiếu cụ thể nào để bảo đảm không gán ghép thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa mà phải là một thực thể thống nhất là thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để phân biệt với thị trường phi định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, về thành tố xã hội, đây là khía cạnh có sự chưa nhất quán về mặt nhận thức, từ các đại hội đầu thời kỳ đổi mới đến Đại hội XII, thành tố xã hội chưa thật rõ, khi được đặt trong cấu trúc thực hiện chính sách xã hội, khi lại được đặt trong phát huy quyền làm chủ của người dân trong hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội XIII, vai trò của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được phát huy theo hướng tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này đặt ra yêu cầu về việc tiếp tục nghiên cứu, luận giải về vai trò của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để tạo gắn kết bảo đảm sự tương tác với thị trường, với Nhà nước cần có hệ quy chiếu và thể chế phù hợp. Trong khi đó, hiện nay thể chế về tổ chức xã hội chưa thật rõ. Tổ chức xã hội hoạt động đa dạng trong khi thể chế cho sự vận hành và phát huy vai trò của tổ chức xã hội chưa thật đồng bộ. Tình hình làm cho khả năng giám sát, phản biện chính sách, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức mang nặng tính hình thức. Đây là vấn đề đặt ra cần tiếp tục được bổ sung, phát triển rõ hơn về quan điểm sao cho thể hiện đúng được cấu trúc Nhà nước, thị trường và xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./..

 

 

 

Kịp thời chuyển hàng hóa giúp bạn

 Lữ đoàn 971, Cục Xe máy-Vận tải (Tổng cục HC-KT) được giao phối hợp với Công ty Cổ phần 22 (Tổng cục HC-KT) vận chuyển 40 tấn lương khô, tập kết tại sân bay Nội Bài.

Kịp thời chuyển hàng hóa giúp bạn
Khẩn trương bốc xếp lương khô lên xe để vận chuyển sang cứu trợ nhân dân Myanmar. 

Gần 6 giờ ngày 30-3, trời chưa sáng rõ và lạnh buốt nhưng trong khuôn viên Công ty Cổ phần 22, hàng trăm người khẩn trương bốc xếp hàng hóa lên thùng xe. Túc trực tại trụ sở Công ty từ đêm hôm trước để sẵn sàng triển khai nhiệm vụ, Trung tá Nguyễn Trung Dũng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần 22 chia sẻ: “Sau khi nhận được chỉ đạo của thủ trưởng Tổng cục HC-KT về bảo đảm lương khô phục vụ cứu trợ nhân dân Myanmar, Công ty đã nhanh chóng kiểm tra sản phẩm hiện có trong kho cũng như quy cách đóng gói, tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm kỹ lưỡng trước khi xuất kho, đồng thời huy động cán bộ, nhân viên tham gia bốc xếp lương khô. Mặc dù là ngày nghỉ, thời tiết lạnh nhưng mọi người đều sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ”.

Là đơn vị chủ lực trong lĩnh vực vận tải của Tổng cục HC-KT, thường xuyên tham gia vận chuyển hàng hóa phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn nên tinh thần “có lệnh là lên đường” của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 971 luôn thường trực. Theo Trung tá Trần Ngọc Hà, Phó lữ đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Lữ đoàn 971, chiều 29-3, ngay sau khi nhận được chỉ đạo của thủ trưởng Cục Xe máy-Vận tải, Lữ đoàn đã tổ chức lực lượng gồm 55 cán bộ, chiến sĩ cùng 8 xe tải sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. 5 giờ 30 phút ngày 30-3, khi có lệnh, các xe lập tức cơ động, phối hợp với Công ty Cổ phần 22 tổ chức bốc xếp lương khô và vận chuyển, tập kết tại nhà ga hàng hóa của sân bay Nội Bài. Bên cạnh đó, đơn vị cũng bố trí xe tải chở 15 nhà bạt hơi của Quân khu 2 để bàn giao cho Binh chủng Công binh thực hiện nhiệm vụ tại Myanmar. “Cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 971 luôn sẵn sàng trong công tác vận chuyển, bởi đó là nhiệm vụ chính trị trung tâm của đơn vị nhằm đáp ứng tốt yêu cầu phục vụ sẵn sàng chiến đấu. Với nhiệm vụ vận chuyển phục vụ cứu trợ, cứu nạn và làm nhiệm vụ quốc tế thì đơn vị càng nêu cao trách nhiệm để thực hiện tốt nhất", Trung tá Trần Ngọc Hà khẳng định.