Thứ Tư, 9 tháng 4, 2025

Nâng cao tính Đảng, tính cách mạng để phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị

 

Để có tính Đảng cao, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy tinh thần trách nhiệm trong quá trình tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, coi đó như một nhu cầu tự nhiên, thiết thân để không ngừng hoàn thiện nhân cách, xứng đáng là chiến sĩ tiên phong, tấm gương mẫu mực để nhân dân học tập, noi theo. Điều có ý nghĩa sâu sắc hơn, nêu cao tính Đảng trong học tập, rèn luyện, công tác còn là giải pháp căn cơ, hữu hiệu để cán bộ, đảng viên phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính Đảng trong công tác cũng như trong cuộc sống, đó là phải đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia-dân tộc lên trên hết. Người chỉ rõ: “Một là phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết; hai là việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn; ba là lý luận và thực hành phải đi đôi với nhau”. 

Sau khi khẳng định: "Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên cần phải có tính Đảng, tính cách mạng mới làm được việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: “Kém tính Đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Nêu cao tính Đảng sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Trải qua 95 năm, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và mở ra kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam là do tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên đã tự nguyện suốt đời phấn đấu, hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân.

Để đạt được điều đó là do Đảng ta đã xây dựng, đào tạo, rèn luyện được một đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất tốt, tính Đảng cao, tận tụy trong công tác, sâu sát trong thực tiễn, giải quyết kịp thời những vấn đề đặt ra bằng việc vận dụng sáng tạo giữa lý luận và thực tiễn, nói đi đôi với làm, đánh giá đúng tình hình, vận dụng linh hoạt, sáng tạo đưa đường lối, chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống. Những thành tựu đó đã làm cho uy tín của Đảng, của cán bộ, đảng viên không ngừng được củng cố, tăng cường.

Tuy nhiên, những năm gần đây, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bên cạnh những ưu điểm, còn một số mặt hạn chế, khuyết điểm đáng quan ngại. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, đặc biệt là sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm kỷ luật Đảng.

Biểu hiện kém tính Đảng ở một số cán bộ, đảng viên là nói và làm trái với nghị quyết, nói một đằng, làm một nẻo, bị tiền tài vật chất cám dỗ, tha hóa. Đảng yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên trước hết phải lời nói đi đôi với việc làm, nhưng đối với những người kém tính Đảng thì hoàn toàn ngược lại. Những vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên kém tính Đảng đã làm sai lệch chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, giảm uy tín của tổ chức đảng, từ đó làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

2. Trong giai đoạn hiện nay, rèn luyện và nêu cao tính Đảng là một yêu cầu khách quan, một nguyên tắc cơ bản của các cấp ủy, tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên. Theo V.I.Lênin, người cộng sản phải luôn nêu cao và không ngừng rèn luyện tính tổ chức, kỷ luật của Đảng mới có thể làm tròn nhiệm vụ được giao. 

Trước thực tiễn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra, Đảng ta xác định rèn luyện và nêu cao tính Đảng vừa là yêu cầu cơ bản lâu dài, vừa là yêu cầu cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Đồng thời tăng cường sự thống nhất trong Đảng về nhận thức, ý chí và hành động, bởi lẽ có sự thống nhất thì Đảng mới có sức mạnh và làm cơ sở cho sự thống nhất, đoàn kết toàn dân, mới không bị kẻ địch và các phần tử chống đối, cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc, kích động. Sự thống nhất trong Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải nói và làm theo nghị quyết, thực hiện tốt Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng.

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, Đảng ta luôn quán triệt nguyên tắc tính Đảng trong toàn bộ hoạt động của mình, bắt đầu bằng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.

Trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cũng phải kiên định những quan điểm có tính nguyên tắc, đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng; Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, dựa trên nền tảng khối liên minh công nông và đội ngũ trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Đây là những vấn đề cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng; nếu tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên xa rời những quan điểm có tính nguyên tắc này sẽ dẫn đến nguy cơ chệch hướng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Thực hiện quan điểm có tính nguyên tắc không đồng nghĩa với việc hạn chế dân chủ mà những ý kiến khác nhau trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng sẽ được thảo luận rộng rãi. Đảng ta nhiều lần khẳng định, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên có quyền được bảo lưu ý kiến nhưng phải nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Chống dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan hoặc lợi dụng dân chủ để mưu đồ lợi ích riêng, cục bộ, bản vị.

3. Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, chống phá cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nêu cao tính Đảng trong mỗi cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, căn bản, lâu dài. Việc quán triệt thực hiện nghiêm nguyên tắc tính Đảng là một biện pháp căn cơ để nâng cao chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và nâng cao vai trò, trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên.

Muốn vậy, cần làm tốt công tác phổ biến, quán triệt, học tập, nghiên cứu lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy đảng, qua đó góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động.

Chú trọng chăm lo xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt Đảng, nội dung sinh hoạt phải cụ thể, thiết thực; nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức đảng; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Giữ vững và tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân; việc gì có lợi cho dân thì dù khó mấy cũng phải làm, việc gì có hại cho dân thì phải kiên quyết tránh. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương sáng cho quần chúng noi theo, phải thực sự yêu dân, trọng dân, gần dân để thấu hiểu dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, truyền niềm tin và cảm hứng cho nhân dân vững bước đi theo sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong tình hình hiện nay, cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, vì đây là giải pháp quan trọng trong việc giữ vững và nâng cao tính Đảng cho cán bộ, đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát đảng viên phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, từ việc thực hiện Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kịp thời phát hiện, xem xét, xử lý đúng nguyên tắc, quy trình, kỷ luật nghiêm minh đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm. Gắn kiểm tra, giám sát với đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Giữ vững và nâng cao tính Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Để có tính Đảng cao đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy tinh thần trách nhiệm trong quá trình tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, coi đó như một nhu cầu tự nhiên, thiết thân để không ngừng hoàn thiện nhân cách, xứng đáng là chiến sĩ tiên phong, tấm gương mẫu mực để nhân dân học tập, noi theo. Điều có ý nghĩa sâu sắc hơn, nêu cao tính Đảng trong học tập, rèn luyện, công tác còn là giải pháp căn cơ, hữu hiệu để cán bộ, đảng viên phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Nhận diện bản chất của chủ nghĩa tư bản ngày nay vf ngày xưa

 

Chủ nghĩa tư bản (CNTB) hiện đại đang trải qua những biến đổi sâu sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghệ cao và sự gia tăng ảnh hưởng của các tập đoàn kinh tế đa quốc gia. Dựa trên lý luận của Lênin về CNTB độc quyền nhà nước và những biểu hiện mới của nó, bài viết sẽ góp phần làm rõ bản chất của CNTB ngày nay.

Lý luận của Lênin về chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

Lênin, trong tác phẩm “Chủ nghĩa đế quốc - Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”, đã tập trung phân tích sự chuyển biến của CNTB từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, trong đó nhà nước trở thành công cụ phục vụ lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Theo Lênin, CNTB độc quyền nhà nước là sự kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh kinh tế của các tập đoàn độc quyền và quyền lực chính trị của nhà nước tư sản. Trong giai đoạn này, nhà nước không còn trung lập mà trực tiếp can thiệp vào kinh tế để bảo vệ và mở rộng quyền lợi cho các tập đoàn tư bản thông qua những chính sách tài chính, thuế và luật pháp, đồng thời thực hiện các hoạt động kinh tế như đầu tư cơ sở hạ tầng, quân sự hóa nền kinh tế và cứu trợ những doanh nghiệp lớn khi xảy ra khủng hoảng.

CNTB độc quyền nhà nước có những đặc điểm nổi bật như tập trung sản xuất và vốn ở mức cao, dẫn đến sự hình thành các tập đoàn tài chính - công nghiệp khổng lồ và sự kết hợp lợi ích kinh tế với chính trị. Nhà nước trở thành công cụ để các tập đoàn độc quyền mở rộng thị trường, khai thác thuộc địa và cạnh tranh trên phạm vi quốc tế. Đồng thời, nhà nước tư sản cũng sử dụng quyền lực chính trị và quân sự để đàn áp phong trào công nhân, bảo vệ trật tự tư bản và thúc đẩy chiến tranh đế quốc nhằm phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền.

Lênin khẳng định, CNTB độc quyền nhà nước là giai đoạn phát triển cao nhất của CNTB và là cơ sở kinh tế của chủ nghĩa đế quốc, trong đó xuất khẩu tư bản trở thành yếu tố chủ đạo thay vì chỉ xuất khẩu hàng hóa. Giai đoạn này chứng kiến sự phân chia thế giới giữa các cường quốc tư bản thông qua khai thác thuộc địa, dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa các quốc gia đế quốc và bùng nổ chiến tranh thế giới. Lênin nhấn mạnh rằng, CNTB độc quyền nhà nước không chỉ làm gia tăng sự bóc lột giai cấp lao động mà còn làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn nội tại của CNTB.

Lý luận của Lênin về CNTB độc quyền nhà nước giúp làm sáng tỏ bản chất bóc lột và phi nhân đạo của CNTB giai đoạn cuối, đồng thời cung cấp cơ sở lý luận để các phong trào cách mạng vô sản nhận thức rõ vai trò của nhà nước tư sản trong việc bảo vệ lợi ích của tư bản độc quyền. Lênin cũng cho rằng, sự phát triển của CNTB độc quyền nhà nước tạo tiền đề cho cuộc đấu tranh cách mạng nhằm lật đổ nhà nước tư sản và thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân. Lý luận này không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn mang tính thời sự trong việc phân tích mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự chi phối của các tập đoàn kinh tế lớn hiện nay.

Biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản ngày nay

Trong thời đại ngày nay, CNTB đã chuyển dịch từ lĩnh vực sản xuất truyền thống sang lĩnh vực công nghệ và dịch vụ. Các tập đoàn công nghệ không chỉ thống trị các ngành kinh tế mà còn sở hữu dữ liệu cá nhân và định hình hành vi tiêu dùng, làm tăng sức mạnh vượt trội so với các tập đoàn truyền thống. Với đặc điểm này, sự chi phối quyền lực chính trị của các tập đoàn công nghệ bộc lộ ngày càng rõ. Các tỷ phú công nghệ không chỉ là doanh nhân mà còn là các nhân vật chính trị có ảnh hưởng lớn. Thực tiễn hiện nay minh họa rõ ràng cho sự hòa quyện giữa quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị, như Lênin đã mô tả.

Nhiều tỷ phú không chỉ nắm giữ quyền lực kinh tế mà còn có khả năng tác động mạnh mẽ đến chính sách công và dư luận. Bằng cách tác động mạnh mẽ tới truyền thông, các tỷ phú đang trở thành cầu nối giữa các tập đoàn và chính phủ, định hình cả chính trị lẫn kinh tế.

Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả các cuộc bầu cử ở các nước tư bản. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh của các ứng cử viên. Các kênh truyền thông, bao gồm báo chí, truyền hình và mạng xã hội, giúp công chúng hình dung về phong cách, lập trường chính trị và các cam kết của từng ứng cử viên. Các chiến lược truyền thông có thể làm nổi bật hoặc làm mờ nhạt những điểm mạnh, yếu của ứng viên, từ đó ảnh hưởng đến sự ủng hộ của cử tri.

Bên cạnh đó, truyền thông còn chi phối thông tin và định hướng dư luận. Các sự kiện, phát ngôn hoặc hành động của ứng cử viên có thể được phóng đại hoặc giảm nhẹ tùy thuộc vào cách thức truyền thông xử lý, từ đó thay đổi cảm nhận của cử tri về các vấn đề quan trọng như kinh tế, y tế và chính sách đối ngoại. Mặt khác, sự lan tỏa của tin giả, thông tin sai lệch trên mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến cũng là một yếu tố quan trọng. Tin giả có thể làm lệch lạc thông tin, gây hoang mang và ảnh hưởng đến quyết định bỏ phiếu của cử tri. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tin giả dễ dàng lan truyền và có thể tác động mạnh đến các nhóm cử tri cụ thể.

Ngoài ra, các chiến dịch tranh cử sử dụng truyền thông để quảng bá hình ảnh và chính sách của ứng cử viên. Các quảng cáo chính trị, dù trên truyền hình hay trên nền tảng trực tuyến, có thể tác động mạnh mẽ đến cảm nhận của cử tri, đặc biệt khi được thiết kế để nhắm vào các nhóm đối tượng cụ thể. Các cuộc tranh luận trực tiếp và phỏng vấn với các phóng viên cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức của cử tri. Những câu trả lời và phát ngôn của ứng cử viên trong các sự kiện này có thể gây ấn tượng mạnh mẽ và ảnh hưởng đến quyết định của cử tri.

Cuối cùng, truyền thông cũng góp phần làm gia tăng sự phân hóa chính trị trong xã hội. Các đài truyền hình, báo chí và các nền tảng trực tuyến thường thiên về một phía chính trị nhất định, dẫn đến việc cử tri chỉ tiếp nhận thông tin từ các nguồn mà họ đồng ý với quan điểm. Điều này làm giảm khả năng đối thoại và hiểu biết lẫn nhau giữa các nhóm cử tri có quan điểm khác biệt. 

Việc một doanh nhân giàu có công khai ủng hộ một ứng viên trong cuộc bầu cử tổng thống chẳng hạn và ngay sau đó tham gia trực tiếp vào chính quyền đã đặt ra câu hỏi về sự công bằng trong hệ thống chính trị. Nó cho thấy một thực tế rằng, quyền lực chính trị đang ngày càng trở thành đặc quyền của tầng lớp giàu có, thay vì phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội.

Bản chất không thay đổi nhưng hình thức tinh vi hơn

CNTB ngày nay tiếp tục thể hiện bản chất mà Lênin đã chỉ ra: Sự tập trung tư bản, sự hòa quyện giữa kinh tế và chính trị; sự chi phối của các tập đoàn lớn đối với xã hội. Tuy nhiên, các phương thức mà nó vận hành đã trở nên tinh vi hơn nhờ công nghệ, dữ liệu lớn và toàn cầu hóa. Trong thời đại 4.0, tư bản không chỉ là các tài sản vật chất mà bao gồm cả dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo. Các tỷ phú công nghệ sở hữu hoặc kiểm soát các nền tảng truyền thông xã hội, dẫn đến khả năng ảnh hưởng sâu rộng đến dư luận và chính trị. Bất bình đẳng kinh tế ngày càng gia tăng khi các tập đoàn công nghệ đang tích lũy tài sản vượt xa tốc độ tăng trưởng thu nhập của toàn bộ phần còn lại của xã hội.

CNTB ngày nay là nấc thang phát triển cao hơn của CNTB độc quyền nhà nước, nó vẫn mang đầy đủ bản chất lũng đoạn cả về kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản.

Kẻ phá hoại mang tên "nặc danh"

Chuyện tán phát đơn thư nặc danh nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, gây tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ, nhất là trước thềm đại hội đảng các cấp vốn không có gì xa lạ. Gần đây, hành vi tiêu cực, phá hoại, đáng lên án này có xu hướng diễn biến phức tạp, khó dự báo.Nặc danh là thoái hóaHành vi tố cáo nặc danh là trò "ném đá giấu tay", vốn là hành vi của những kẻ xấu xa, đáng buồn là trong số đó có cả cán bộ, đảng viên.

Theo Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn vẫn tiềm ẩn phức tạp, còn tình trạng công dân gửi đơn đến nhiều nơi, vượt cấp, có nhiều đơn trùng, đơn khuyết danh, mạo danh hoặc hết thời hiệu xử lý; một số vụ việc đã được các cấp, các ngành giải quyết hết thẩm quyền, có lý, có tình, nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo. Còn tại Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng, từ năm 2020 đến nay, Ban Nội chính Tỉnh ủy đã tiếp nhận và xử lý tổng số 54 đơn tố cáo nặc danh. 

Xét về bản chất, tố cáo nặc danh là hành vi xấu xí của những người không có ý thức xây dựng tập thể; thiếu tinh thần trung thực, thẳng thắn; thiếu “chí công vô tư” đối với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, tình trạng tố cáo nặc danh ngày càng trở nên phức tạp và khó lường. Không chỉ đơn thư nặc danh mà còn có những biến tướng như: Cuộc gọi, tin nhắn thoại, tin nhắn văn bản, thư điện tử, đáng chú ý là hiện tượng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để thu âm giọng nói giả, dàn dựng, cắt ghép video clip, nhất là video clip “nóng” để đe dọa, tống tiền...

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nhấn mạnh: Cần giải quyết dứt điểm, đúng quy định đơn, thư tố cáo, khiếu nại, trước hết là đối với những tổ chức đảng, đảng viên có liên quan trực tiếp đến nhân sự đại hội; kiên quyết xử lý đối tượng lợi dụng dịp tổ chức đại hội để tố cáo sai sự thật, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến nhân sự đại hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi nặc danh nhưng về cơ bản là xuất phát từ tư tưởng vị kỷ, hẹp hòi, lòng hận thù, sự ganh ghét, đố kỵ, nhất là những mâu thuẫn liên quan đến tình cảm, kinh tế, quyền lợi, địa vị...

Tình trạng này không chỉ tồn tại ở riêng một cơ quan, đơn vị nào mà diễn ra ở nhiều tổ chức, đoàn thể, địa phương. Đối tượng tiến hành cũng rất đa dạng, bao gồm những người có mâu thuẫn trực tiếp và cả thành phần bị xúi giục, cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc...

Thông qua đó nhằm thực hiện mục đích tống tiền hoặc bôi xấu, làm giảm sút niềm tin của tập thể đối với cá nhân, tiến tới “hạ bệ” đối phương. Nếu không chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý, ngăn chặn kịp thời sẽ trở thành mầm mống nguy hiểm dẫn đến tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ; làm vướng bận lãnh đạo, chỉ huy; gây phương hại cho tập thể, cá nhân; nguy hiểm hơn là tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá.

Phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ cương

Đơn thư nặc danh là hành vi không có giá trị, bởi lẽ: “Khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật này thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý theo quy định của Luật này”(1).

Trong Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm cũng đã chỉ rõ, đảng viên không được: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Gửi hoặc tán phát đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết”.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, cần tăng cường phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Bởi lẽ, phát huy rộng rãi dân chủ sẽ góp phần khơi dậy, động viên trí tuệ, sáng tạo của tập thể; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân; củng cố, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng và toàn xã hội; đồng thời, là biện pháp quan trọng để ngăn chặn, phòng ngừa những biểu hiện tiêu cực.

Mặt khác, siết chặt kỷ luật, kỷ cương sẽ góp phần tạo sức răn đe để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nâng cao tinh thần “thượng tôn pháp luật”; khắc phục tình trạng “dân chủ” quá trớn, “dân chủ” vô nguyên tắc mà nặc danh chính là một biểu hiện cụ thể.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần thường xuyên học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, đặc biệt là Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 9-12-2021 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung Quy định số 22-QĐ/TW; Luật Tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành...; đồng thời, xác định đây là bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân.

Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị cần tăng cường các biện pháp quản lý, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết thỏa đáng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các đối tượng thuộc quyền; triển khai chặt chẽ, thận trọng, đúng quy trình ở từng khâu, từng bước các mặt công tác, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm như: Công tác nhân sự cán bộ, công tác thi đua-khen thưởng, công tác chính sách... không để xảy ra tình trạng quan liêu, độc đoán, mất dân chủ, gây bức xúc dẫn đến tố cáo sai quy định, tố cáo vượt cấp hoặc tố cáo nặc danh...

Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, đảng viên khi tham gia sinh hoạt thì “nhất ngồi lỳ, nhì đồng ý” nhưng sau khi có quyết nghị của tập thể lại cố tình thực hiện hành vi phá hoại.

Bằng chứng khoa học và thực tiễn phủ nhận luận điệu xuyên tạc về thời đại ngày nay

 

Xác định đúng tính chất thời đại là nhiệm vụ hệ trọng nhằm giúp các quốc gia, dân tộc lựa chọn được hướng đi thuận chiều lịch sử. V.I.Lenin từng khẳng định: Khi và chỉ khi hiểu đúng về thời đại, chúng ta mới có thể định ra đúng đắn sách lược của chúng ta. “Thời đại ngày nay”, “thời đại hiện nay”, “thời đại mới”, “thời đại chúng ta” là những khái niệm đồng nghĩa, có phạm vi thời gian từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đến nay.

Với dã tâm ngăn chặn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) hiện tồn, các thế lực thù địch đã đưa ra các luận điệu xuyên tạc về thời đại ngày nay. Vạch trần các luận điệu sai trái đó là một nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

“Thời đại” là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử với các nấc thang phát triển khác nhau của xã hội loài người. Với phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, K.Marx và F.Engels coi hình thái kinh tế xã hội là cơ sở khách quan để phân chia thời đại. Theo quan niệm của hai ông, lịch sử xã hội loài người cho đến thế kỷ 19 là sự thay thế của các hình thái từ thấp đến cao: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa. Sự chuyển biến từ hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác tiến bộ hơn, không diễn ra một cách tự phát mà phải thông qua hoạt động của giai cấp đứng ở vị trí trung tâm và đóng vai trò là động lực chi phối sự vận động của thời đại đó.

Vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Marx vào nước Nga, V.I.Lenin và Đảng Bolshevik Nga đã lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân lao động Nga làm nên “mười ngày rung chuyển thế giới”. Cách mạng Tháng Mười năm 1917 không chỉ mở ra trang sử mới cho nước Nga mà còn mở ra thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Sau Cách mạng Tháng Mười, CNXH từ lý thuyết đã trở thành thực tiễn. Chỉ trong thời gian ngắn, Liên Xô trở thành đối thủ không thể tiêu diệt của các nước tư bản. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống các nước XHCN ra đời với ảnh hưởng ngày càng gia tăng. Điều này làm cho quy mô và ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản (CNTB) bị thu hẹp. Từ thực tế đó, Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân quốc tế (tháng 11-1960) đưa ra khái niệm “thời đại chúng ta” như sau: “Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là sự quá độ từ CNTB lên CNXH mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại, là thời đại cách mạng XHCN và cách mạng giải phóng dân tộc”.Kế thừa và phát triển những quan điểm của Chủ nghĩa Marx-Lenin về thời đại, trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với các chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”.

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về thời đại ngày nay của các thế lực thù địch

Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đã đẩy phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lâm vào thoái trào. Lợi dụng vấn đề đó, các thế lực thù địch đưa ra các luận điệu sai trái về thời đại ngày nay, tập trung vào một số luận điệu sau đây:

Thứ nhất, họ cho rằng, thời đại quá độ lên CNXH kết thúc khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

Đây là sự cố tình bóp méo sự thật hòng lung lạc niềm tin của nhân loại vào CNXH. Các đối tượng chống phá thừa hiểu rằng, sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, đi lên CNXH đã trở thành một sự lựa chọn của nhiều nước trên thế giới. Sức mạnh của Liên Xô và hệ thống các nước XHCN đã làm tổn hại lợi ích chính trị của giai cấp tư sản; CNTB không thể “làm mưa làm gió” như trước. Vì vậy, “nhổ cái gai Liên Xô”, làm cho Liên Xô và hệ thống XHCN sụp đổ là dã tâm thường trực của các thế lực đế quốc. Khi chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, kẻ thù của CNXH hí hửng rêu rao “thời đại ngày nay không còn là thời kỳ quá độ lên CNXH”. Với luận điệu này, họ đã mắc vào sai lầm mà V.I.Lenin từng cảnh báo, là lấy một sự kiện trong giai đoạn lịch sử cụ thể làm đặc trưng cho cả một thời đại. Luận điệu đó cũng thể hiện cách nhìn thiển cận, thiếu tri thức lịch sử bởi sự thay thế thời đại này bằng thời đại khác luôn là quá trình rất lâu dài, không loại trừ các “khúc quanh” và bước thụt lùi nhất định. Chẳng hạn, sự thay thế thời đại phong kiến bằng thời đại tư bản chủ nghĩa từng diễn ra trong mấy trăm năm; cách mạng tư sản Pháp phải làm nhiều lần mới thành công.

Mặt khác, các thế lực thù địch cũng cố tình “lờ” đi một thực tế: CNXH hiện thực vẫn đứng vững với khoảng 1/5 dân số thế giới; các nước đi theo chế độ XHCN như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba... đã đạt được những thành tựu to lớn trong tiến trình cải cách, đổi mới; ở châu Mỹ Latin đã xuất hiện khuynh hướng XHCN thế kỷ 21. Rõ ràng, sự sụp đổ của chế độ xã hội ở Liên Xô và Đông Âu không làm thay đổi tính chất thời đại. Càng ra sức phủ nhận tính chất quá độ từ CNTB lên CNXH của thời đại ngày nay, các thế lực thù địch càng hiện “nguyên hình” cố tình ngăn trở bước tiến văn minh của lịch sử.

Thứ hai, phủ nhận ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười. Sau đổ vỡ của Liên Xô, những kẻ chống cộng vội vã “hô hoán” rằng: Cách mạng Tháng Mười đã mất hết giá trị.

Sự thật là những ai hiểu biết lịch sử đều phải thừa nhận cuộc cách mạng này đã mở ra một xu thế phát triển mới cho nhân loại, mở ra phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nhờ đó, chủ nghĩa thực dân-“vết nhơ” trong tiến trình phát triển của nhân loại đã được loại bỏ. Nhà nước Liên Xô-sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười đã đưa những người lao khổ lên vị trí chủ nhân của xã hội, đã cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt vong của chủ nghĩa phát xít. Sau Cách mạng Tháng Mười, ba dòng thác cách mạng cùng tấn công CNTB, buộc CNTB phải điều chỉnh chính sách để cạnh tranh. Do đó, không chỉ nhân dân các nước XHCN mà cả nhân loại nói chung, đều được hưởng thành quả của Cách mạng Tháng Mười.

Thứ ba, phủ định sức sống, giá trị của Chủ nghĩa Marx-Lenin trong thời đại ngày nay.

Giáo sư người Anh Terry Eagleton trong cuốn sách “Tại sao Marx đúng” đánh giá: “Chủ nghĩa Marx là sự phê phán CNTB. Đó là sự phê phán sâu sắc, toàn diện và khắt khe nhất từ trước đến nay”. Vì lý do đó mà ngay từ khi ra đời, Chủ nghĩa Marx luôn bị các thế lực chống cộng công kích, vu cáo, xuyên tạc. Khi CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đổ vỡ, các thế lực chống cộng hả hê quy chụp: Sự đổ vỡ này bắt nguồn từ sai lầm của bản thân học thuyết Marx-Lenin, nay mô hình Xô viết sụp đổ thì học thuyết Marx-Lenin cũng sụp đổ theo. Ở đây đã có sự “đánh đồng” khái niệm “CNXH Xô viết”-một mô hình CNXH hiện thực còn nhiều khiếm khuyết và không được sửa chữa kịp thời với khái niệm "CNXH" nói chung.

Ngoài ra, các thế lực chống cộng còn “lập luận” rằng, “hệ thống tư bản chủ nghĩa đã thay đổi nhiều đến mức không còn nhận biết được nữa so với thời của Karl Marx và do đó, những tư tưởng của Karl Marx không còn phù hợp nữa”. Họ cố tình không nhận thấy những biến đổi đó vẫn không vượt ra ngoài những quy luật, nguyên lý chung nhất mà Chủ nghĩa Marx-Lenin đã khám phá. Họ cũng “quên” rằng, Karl Marx, Lenin với tinh thần khiêm tốn, khoa học, đã luôn nhấn mạnh, học thuyết của mình là “học thuyết mở”; nó đòi hỏi ở hậu thế một tinh thần luôn đổi mới, sáng tạo.

Thứ tư, khuếch trương "thời đại ngày nay là thời đại của CNTB-tương lai vĩnh hằng của nhân loại".

Luận điệu về tương lai vĩnh hằng của CNTB chứa đựng thực tại đầy mâu thuẫn, không thể hóa giải của chính CNTB. Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đã dẫn đến mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với giai cấp tư sản; sự bất bình đẳng về thu nhập kéo theo sự bất bình đẳng về mọi mặt trong xã hội tư bản. Các mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển trong cuộc cạnh tranh “sống còn” vì vị thế quốc gia và lợi ích của tập đoàn tư bản đã biến thành các cuộc chiến tranh thương mại khốc liệt. Đó còn là mâu thuẫn giữa các nước tư bản và các nước đang phát triển khi các nước phát triển giữ vai trò “nhà cái”, đặt ra các “luật chơi” có lợi cho mình trong tiến trình toàn cầu hóa, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo với các nước đang phát triển. Sự phát triển theo hướng lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích của CNTB còn gây tác hại khủng khiếp cho môi trường toàn cầu. Một xã hội với những bất ổn trầm trọng như thế, tất yếu phải được thay thế bằng một xã hội tốt đẹp hơn; do đó, CNTB không thể là tương lai vĩnh hằng của loài người.

Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh tư tưởng, bảo vệ chân giá trị của Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, những người cộng sản và nhân dân Việt Nam phải giữ cho mình “trí sáng, tâm trong” trong “cuộc chiến” không khói súng này. Điều quan trọng hơn, chúng ta phải đồng tâm nỗ lực xây dựng thành công CNXH vì thực tiễn là thước đo chân lý, thắng lợi trên thực tiễn sẽ phủ định mọi điều đơm đặt, xuyên tạc của các thế lực thù địch về thời đại ngày nay.

Phạt nặng có xứng đáng không?

 

Cuối chiều, ông Nam và mấy người bạn cùng xóm đang ngồi uống trà ở bàn đá ngoài sân thì con trai ông thất thểu đi bộ về.

- Thế xe máy của con đâu mà lại đi bộ?

- Con chào bố và các chú! Con vừa bị thu giữ xe rồi. Đang vội về thì điện thoại đổ chuông, con mở ra đọc tin nhắn nên không biết đèn tín hiệu giao thông đã chuyển từ xanh sang đỏ. Con bị phạt 5 “củ” và trừ điểm bằng lái xe. Lúc đó, con còn không cài dây mũ bảo hiểm nữa. Thế là mất toi nửa tháng lương. Công an phạt dã man quá!

Nghe cháu Tiến kể, cả 3 người bạn của ông Nam đều bảo rằng mức phạt vi phạm giao thông theo Nghị định số 168/2024/NĐ-CP là quá nặng. Đặc biệt, ông Hoàng làm nghề kinh doanh nông sản còn “phán”:

- Việc tăng mức phạt chẳng khác gì làm lợi cho lực lượng chức năng. Trên trang Facebook của Việt Tân có rất nhiều ý kiến như thế.

Thấy mọi người nhìn nhận vấn đề chưa đúng, thậm chí còn bị “sập bẫy” âm mưu chống phá của bọn phản động, ông Nam liền nghiêm giọng:

- Tôi đề nghị tất cả nghe tôi nói. Đầu tiên, bố hỏi Tiến: Bố đã nhắc con bao nhiêu lần về việc tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm luật để không gây tai nạn cho mình và mọi người, nhất là đã uống rượu, bia thì không lái xe, đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm cẩn thận và tuyệt đối không sử dụng điện thoại?

- Dạ... bố nhắc nhiều lần quá, con... không nhớ hết ạ!

- Đấy, hầu như lần nào con dắt xe ra là bố cũng đi theo để nhắc và đóng cổng giúp con. Thế mà con vẫn không thực hiện đúng luật giao thông, vậy thì việc bị phạt nặng có xứng đáng không? Nếu con không vi phạm thì sợ gì phạt nặng? Con phải thấy, mức phạt vi phạm giao thông để hạn chế gây ra tai nạn, hạn chế làm chết người hoặc thương tật, đau khổ suốt đời, thì đó là biện pháp cần thiết để ngăn chặn cái dã man chứ?

Tiến đỏ mặt ấp úng:

- Vâng... con hiểu rồi.

Ông Nam hỏi tiếp:

- Nếu nhà mình có người thân bị tai nạn giao thông do những người không chấp hành nghiêm luật gây ra thì chúng ta có thông cảm, bỏ qua được không, hay chúng ta bất bình, bức xúc?

Chờ một lúc không thấy ai trả lời, ông Nam hạ giọng:

- Thực tế những năm qua, chúng ta đã thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm luật giao thông, nhưng rất nhiều người vẫn không tự giác chấp hành, dẫn đến tình trạng vi phạm và tai nạn giao thông vô cùng nhức nhối, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. Không có gì quý bằng sức khỏe và tính mạng con người, nhưng mỗi năm có hàng vạn người thiệt mạng và bị thương vì tai nạn giao thông. Đau xót lắm! Thế nhưng, từ khi tăng mức phạt thì vi phạm giao thông và tai nạn giao thông đã giảm mạnh. Cục Cảnh sát giao thông vừa thống kê: Từ đầu năm 2025 đến ngày 14-3, so với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giao thông bị xử phạt giảm gần 300.000 vụ (giảm 38,8%), đồng thời, tai nạn giao thông cũng giảm sâu. Cụ thể là cả nước xảy ra 3.535 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 1.933 người, bị thương 2.436 người; so với cùng kỳ năm 2024 giảm 1.635 vụ, giảm 290 người chết, giảm 1.621 người bị thương. Điều đó cho thấy sự đúng đắn của Nghị định 168. Ngay chúng ta cũng thấy rõ hiện nay, hiếm ai uống rượu, bia rồi lái xe và hầu như không còn tình trạng đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng. "Thuốc đắng dã tật" phải không nào?

Nghe ông Nam phân tích và dẫn chứng thuyết phục, cả 3 người bạn của ông và con trai ông đều thực sự tâm phục, khẩu phục. 

 BẢN LĨNH, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN TRƯỚC MỖI BƯỚC NGOẶT QUAN TRỌNG

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, mỗi bước ngoặt quan trọng đều đặt ra những lựa chọn đòi hỏi bản lĩnh, trách nhiệm, thậm chí là tinh thần dũng cảm chấp nhận hy sinh lợi ích của mỗi cá nhân.
Hiện nay, cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị lại tiếp tục đặt ra những đòi hỏi ấy đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên và mỗi người Việt Nam yêu nước...
Cách đây 50 năm, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải, một kỷ nguyên mới mở ra với dân tộc Việt Nam-kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Như một sự lựa chọn của lịch sử, sau ngày giải phóng miền Nam tròn nửa thế kỷ, chúng ta lại vững bước tiến vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên phát triển giàu mạnh và thịnh vượng.
Để tạo đà vươn, sức bật, củng cố nền tảng thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược trong giai đoạn mới, Đảng ta đang quyết liệt, khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một cuộc cách mạng mới-cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
Từ khi có chính quyền, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua muôn vàn thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác để Việt Nam "chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay". Vậy nhưng, không có chiến thắng nào được “trải bằng hoa hồng”, mà đòi hỏi những người dấn thân với cách mạng và những người Việt Nam yêu nước phải kiên gan, bền chí, dám chấp nhận hy sinh lợi ích cá nhân vì mục tiêu chung của cả dân tộc.
Với cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hiện nay cũng vậy. Tuy không phải đối đầu với kẻ thù thực dân, đế quốc nhưng vẫn đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần phải kiên định, bản lĩnh, trách nhiệm trước những đòi hỏi từ bước ngoặt lịch sử của dân tộc.
Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã được Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền xác định chủ trương, xây dựng kế hoạch với lộ trình, bước đi cụ thể và công khai tới toàn thể nhân dân. Mục đích của sắp xếp, tinh gọn nhằm nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy; giảm bớt đầu mối tổ chức, giảm tầng nấc trung gian, giảm biên chế; tiết kiệm chi ngân sách, nâng cao chất lượng thực hiện các nhiệm vụ chính trị và phục vụ người dân, doanh nghiệp, đồng thời mở rộng không gian phát triển của mỗi địa phương... Vì vậy, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc thực hiện nghiêm túc của các ban, bộ, ngành, địa phương, theo thông tin được Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương công bố đầu tháng 3-2025, công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đã đạt được những kết quả đáng kể: Giảm 4 cơ quan Đảng trực thuộc Trung ương; 25 ban cán sự đảng; 16 đảng đoàn trực thuộc Trung ương; 5 cơ quan Quốc hội; 5 bộ và 3 cơ quan trực thuộc Chính phủ; 30 đầu mối cấp tổng cục; 1.025 đơn vị cấp cục, vụ và tương đương; 4.413 đầu mối cấp chi cục, phòng và tương đương; 240 đơn vị sự nghiệp. Cùng với đó, tại các địa phương cũng đã giảm 466 sở, ngành và cấp tương đương; 644 đoàn, đảng đoàn và ban cán sự đảng; 3.984 đơn vị cấp phòng và tương đương; 27 đảng bộ cấp trên trực tiếp và các tổ chức cơ sở đảng. Hiện nay, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được triển khai khẩn trương, quyết liệt.
Một kết quả có ý nghĩa quan trọng khác là cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; nhiều người đã đạt được nhận thức chung rằng, đây chính là thời điểm, thời cơ lịch sử đưa đất nước phát triển mạnh mẽ. Việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của chúng ta cũng được bạn bè quốc tế đánh giá cao, có những quốc gia coi đây là mô hình để nghiên cứu, học hỏi. Ở các ban, bộ, ngành, địa phương, thời gian qua, nhiều cán bộ có chức vụ đã tự nguyện xin nghỉ hưu trước tuổi để tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng, hiệu quả sắp xếp bộ máy cơ quan, đơn vị, địa phương mình.
Tuy nhiên, thực tế quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy cũng xuất hiện những vấn đề liên quan đến nguyện vọng, tâm tư, tình cảm, nhất là những tổ chức, cá nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp. Đó là những vấn đề đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng đánh giá, dự liệu từ sớm để xây dựng cơ chế, chính sách hợp lý, nhằm giải quyết thấu tình, đạt lý. Nhìn ở góc độ khác, có nhiều ý kiến tích cực cho rằng, quá trình sắp xếp, tinh gọn cũng là cơ hội để nhiều người bước ra khỏi “vùng an toàn”, thể hiện bản lĩnh, khả năng và sự năng động, sáng tạo ở những lĩnh vực mới, môi trường mới. Về vấn đề sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, không tổ chức đơn vị hành chính cấp huyện, dư luận xã hội cũng xuất hiện những băn khoăn, như nên sáp nhập đơn vị nào với đơn vị nào; nên đặt tên tỉnh, xã mới thế nào; việc sáp nhập liệu có làm mai một hay mất đi lịch sử, truyền thống, văn hóa của các địa phương?...
Có thể khẳng định, việc sắp xếp đơn vị hành chính đã được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu kỹ lưỡng, bảo đảm phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của từng địa phương, khu vực, vùng miền; có tính toán, cân nhắc cụ thể những yếu tố lịch sử, văn hóa; có nghiên cứu, tham khảo mô hình chính quyền của một số quốc gia... Cũng phải thẳng thắn rằng, thỏa mãn mong muốn của tất cả mọi người trong sắp xếp đơn vị hành chính là bất khả thi và dễ dẫn đến tình trạng “đẽo cày giữa đường”, trong khi những đòi hỏi từ thực tiễn không cho phép chúng ta có thể chậm trễ hơn, mà ngược lại, phải nỗ lực, khẩn trương theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”. Thực tiễn cũng đã chứng minh, những trầm tích lịch sử, văn hóa truyền thống đã ăn sâu, bén rễ, tích tụ trong mỗi vùng đất, hiện hữu sinh động trong sinh hoạt và đời sống xã hội, luôn tồn tại trong nhận thức, tình cảm của mỗi người dân, sẽ trường tồn cùng năm tháng nếu mỗi người biết giữ gìn, phát huy, lan tỏa, không dễ mất đi chỉ vì việc sáp nhập, đổi tên vùng đất ấy.
Dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hẳn nhiều người sẽ nhớ đến video clip từng lan truyền trên mạng xã hội, gây xúc động lòng người, trong đó có hình ảnh một người mẹ liệt sĩ móm mém, bật khóc khi nhớ người con đã hy sinh, nhưng vẫn khẳng định rằng: “Nếu giữ con thì mất nước”. Cũng trong dịp này, một vị Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân đã chia sẻ với phóng viên báo chí rằng, ngày 29-4-1975, trên đường tiến vào giải phóng Sài Gòn trên cương vị đại đội trưởng xe tăng, khi cấp trên hỏi ông rằng: “Cậu có sợ chết không?”, không do dự, ông trả lời ngay: “Báo cáo, chết thì ai cũng sợ, nhưng thủ trưởng giao nhiệm vụ, tôi sẵn sàng hoàn thành!”. Rồi ông được giao nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tiến lên giữ cây cầu phía trước không bị đánh sập, để quân ta tiến qua. Ông đã chỉ huy 4 xe tăng của đơn vị đánh thắng 24 xe tăng địch. Thời khắc đầu tiên sau giải phóng, ngồi trên xe tăng, điều trước tiên mà ông nghĩ đến là sẽ về quê thăm bố mẹ. Dẫu biết mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhưng vẫn cần dẫn giải như vậy để thấy rằng, ở mỗi thời khắc đòi hỏi sự cống hiến cho Tổ quốc, người Việt Nam luôn sẵn sàng gác lại lợi ích riêng. Từ hai câu chuyện trên lại càng thêm thấm thía ý nghĩa sâu xa trong phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại cuộc làm việc với Tiểu ban Kinh tế-Xã hội Đại hội XIV của Đảng ngày 17-3-2025. Sau khi chia sẻ với tâm trạng của nhân dân trong vấn đề sắp xếp địa giới đơn vị hành chính, người đứng đầu Đảng ta đã gửi gắm đến mọi người: “Đất nước là quê hương!”.
Để cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được tiến hành hiệu quả, cùng với phát huy trách nhiệm của các cấp, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng trong tổ chức thực hiện, cần tuyên truyền, giáo dục, động viên để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, hưởng ứng, tích cực tham gia bằng tinh thần xây dựng và những việc làm cụ thể, thiết thực. Song song với đó, cần thực hiện nghiêm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước về việc chống tư tưởng vụ lợi, chống “chạy chọt” trong sắp xếp, tinh gọn; chống thái độ làm việc cầm chừng, chờ đợi; chống tư tưởng cục bộ địa phương sau sáp nhập; chống biểu hiện nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị lại khác... Đặc biệt, kiên quyết không để các hoạt động chỉ đạo, điều hành cũng như các dịch vụ công đối với người dân bị đứt gãy, gián đoạn trong quá trình sắp xếp, tinh gọn; đồng thời phải lựa chọn được những người có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, trách nhiệm cao, bảo đảm cho bộ máy hệ thống chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả sau sắp xếp, tinh gọn...
Những bước chân thần tốc của các cánh quân 50 năm trước đã mang lại một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất. Ở thời điểm mang tính bước ngoặt lịch sử này, mỗi người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nêu cao bản lĩnh, trách nhiệm để vững vàng hòa cùng bước đi thần tốc của cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, góp phần đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên giàu mạnh và thịnh vượng./.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TUYÊN DƯƠNG LỰC LƯỢNG CỨU HỘ HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ TẠI MYANMAR!

     Chiều 9/4, Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tổ chức Lễ tuyên dương lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Việt Nam hỗ trợ Myanmar khắc phục hậu quả động đất, hoàn thành nhiệm vụ trở về nước!

Tham dự buổi lễ có: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình; Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng Cục chính trị QĐND Việt Nam; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Thứ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Phạm Hoài Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; ông Phạm Tất Thắng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; ngài Tin Win Aung Moe, Phó Đại sứ Myanmar tại Việt Nam cùng lãnh đạo các bộ, ngành và các cán bộ, chiến sĩ QĐND và Bộ Công an tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn tại Myanmar vừa qua.
Trưa 28/3/2025, tại Myanmar đã xảy ra trận động đất với cường độ rất mạnh (7,7 độ), gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về người và tài sản. Chính phủ Myanmar đã ban bố tình trạng khẩn cấp và kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ, khắc phục hậu quả.
Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quyết định cử Đoàn công tác, gồm 80 đồng chí và gần 60 tấn hàng hóa, trang thiết bị sang Myanmar hỗ trợ, khắc phục hậu quả thảm họa động đất từ ngày 30/3/2025 đến ngày 7/4/2025.
Tại thủ đô Naypyidaw, Đoàn Quân đội được giao tìm kiếm người mất tích tại 3 khu vực. Đoàn đã kịp thời sử dụng chó nghiệp vụ và các thiết bị chuyên dụng, radar xuyên tường, radar dò tìm hình ảnh để phát hiện 32 vị trí có nạn nhân và trực tiếp tổ chức tìm kiếm tại 20 vị trí, bàn giao cho bạn 12 vị trí. Kết quả, Đoàn phát hiện và đưa ra 21 thi thể; phối hợp với lực lượng cứu hộ của Myanmar và Thổ Nhĩ Kỳ, UAE cứu sống được một nam thanh niên 26 tuổi và bàn giao cho gia đình nạn nhân trước sự trân trọng người dân địa phương và lực lượng cứu hộ của nước bạn. Ngoài ra, đoàn cũng tìm và đưa ra nhiều tài sản, trang thiết bị có giá trị lên tới hàng trăm nghìn USD để bàn giao cho gia đình nạn nhân và bệnh viện…

Thực hiện chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, đoàn đã tiến hành các hoạt động nhân đạo đối với nhân dân địa phương, đã bàn giao cho Bộ Anh sinh và Tái thiết Myanmar 50 tấn lương khô, 3.026 lều bạt, hơn 20 tấn trang bị, máy nổ, lương thực, thực phẩm, thuốc y tế và trang bị, vật dụng khác; thành viên đoàn đã quyên góp 5.000 USD trao tặng cho Bộ An sinh xã hội Myanmar để hỗ trợ cho gia đình các nạn nhân; tổ chức khám và phát thuốc cho hơn 200 người dân.
Cùng với lực lượng quân đội, Đoàn công tác của Bộ Công an gồm 26 cán bộ, chiến sỹ thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trường Đại học PCCC, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Công an thành phố Hà Nội và các đơn vị có liên quan cùng với 2 chó nghiệp vụ và hơn 11 tấn vật tư, hàng hóa, trang thiết bị chuyên dụng phục vụ tác chiến, gần 3 tấn vật tư y tế đã lên đường tới Myanmar.
Đoàn đã tiến hành khảo sát tại 7 hiện trường, trong đó được giao trực tiếp thực hiện hoạt động cứu hộ cứu nạn tại 4 hiện trường. Đoàn đã trực tiếp đưa ra ngoài khu vực sập đổ 7 thi thể nạn nhân, đồng thời tham gia phối hợp phát hiện vị trí và hỗ trợ các lực lượng chức năng, các đoàn quốc tế khác đưa 7 người bị nạn và bàn giao cho các gia đình và cơ quan chức năng…
Đoàn cũng đã tiến hành viện trợ 2 đợt thuốc, trang thiết bị y tế, nhu yếu phẩm, vật dụng phục vụ lưu trú (lều, giường bạt cá nhân, chăn, gối, màn…) cho Myanmar với tổng khối lượng 11 tấn. Bên cạnh đó, Đội cứu nạn cứu hộ Bộ Công an đã trực tiếp hỗ trợ tài chính cho 7 gia đình nạn nhân thiệt mạng, tặng quà cho 185 bệnh nhân tại 2 bệnh viện dã chiến và ủng hộ người dân bị thiên tai thông qua cơ quan cứu trợ thiên tai Myanmar; tổ chức khám chữa bệnh, cấp phát thuốc cho hơn 50 bệnh nhân; dựng nhiều lều bạt làm nơi tạm trú cho nạn nhân tại các khu tập trung do mất nhà cửa và các bệnh nhân thuộc Bệnh viện dã chiến…
Nỗ lực vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ
Tại buổi lễ, Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, Phó Cục trưởng Cục Cứu hộ-cứu nạn (Bộ Tổng Tham mưu), Trưởng Đoàn công tác của Bộ Quốc phòng cho biết, trong quá trình thực hiện cứu hộ cứu nạn, một số đoàn cứu hộ nước ngoài đã đến từ trước nhưng đều rời đi do tính chất phức tạp, nguy hiểm.
"Tại những vị trí đó, nước bạn tin tưởng giao cho 2 đoàn của Việt Nam. Kết quả tất cả các vị trí mà nước bạn đề nghị chúng ta thực hiện nhiệm vụ, có bao nhiêu nạn nhân mất tích còn bị vùi lấp thì chúng ta đều quyết liệt và đưa ra được hết. Chúng tôi thấy rằng đấy chính là niềm động viên để đoàn chúng ta về nước không thấy ân hận, không thấy có lỗi với nhân dân nước sở tại", Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ bày tỏ.
Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ cho biết thêm, trước khi Myanmar thông báo chuyển giai đoạn để tái thiết vào tối 6/4, Đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam còn tìm thấy một thi thể cuối cùng là một bác sĩ điều trị. "Cả bệnh viện và nhân dân vỡ òa, người ta nói không thể tin được chúng tôi có thể đưa được hết 17/17 thi thể ở bệnh viện ra ngoài", Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ nói.

Đại tá Nguyễn Minh Khương, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát PCCC&CNCH, Trưởng đoàn Công tác Bộ Công an cũng chia sẻ, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, môi trường ô nhiễm và nguy cơ cao dẫn đến sụp đổ thứ cấp nhưng các chiến sĩ Bộ Công an Việt Nam luôn nỗ lực vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ.
"Có trường hợp nạn nhân là cụ bà 81 tuổi và chúng tôi mất 2 ngày để đưa được cụ bà ra. Trước đó đã có 2-3 đoàn cứu hộ quốc tế đến và phải rời đi. Sau khi lực lượng cứu nạn cứu hộ Bộ Công an thực hiện được 3 trường hợp khó như vậy thì chúng tôi đều nhận được sự ngưỡng mộ và thán phục của lực lượng cứu hộ các nước khác", Đại tá Nguyễn Minh Khương cho biết.
Ngoài ra, Trưởng Đoàn công tác của Bộ Quốc phòng khẳng định, trong điều kiện hết sức khó khăn, khắc nghiệt, nếu không có lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm thì chắc chắn các chiến sĩ không thể hoàn thành nhiệm vụ.
"Đứng trước sự kỳ vọng của nhân dân nước bạn, kỳ vọng của các lực lượng cứu hộ khác, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ bằng nhiệt huyết và trách nhiệm", Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ nói.
Có được kết quả như trên, Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ nhấn mạnh Đoàn luôn nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, sự động viên kịp thời của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cùng lãnh đạo các ban, bộ, ngành… Đây là sự động viên khích lệ để mỗi thành viên trong đoàn quyết tâm cao hơn, nỗ lực cao hơn để hoàn thành nhiệm vụ quốc tế cao cả. Kết quả ở trên tiếp tục chứng minh cho tình cảm, trách nhiệm của đất nước ta, nhân dân ta và quân đội ta trước bạn bè qốc tế nói chung và nhân dân, đất nước Myanmar nói riêng.
Tại sự kiện, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hoà Bình đã trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc Hạng 3 của Chủ tịch nước tặng 2 tập thể và 3 cá nhân; trao Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng 8 tập thể, 17 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar./.
Môi trường ST.