Thứ Tư, 9 tháng 4, 2025

Để người trẻ không chệch hướng sáng tạo

 

Thời gian gần đây, đời sống văn học-nghệ thuật (VHNT) xuất hiện khá nhiều tác giả trẻ được công chúng quan tâm, chú ý. Nhiều người bày tỏ lạc quan, kỳ vọng về sự bứt phá của thế hệ văn nghệ sĩ trẻ với những nhân tố xuất sắc. Để góp phần đưa VHNT nước nhà phát triển, hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn và chiến lược xây dựng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ có đức, có tài, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ chệch hướng...

Ý thức sáng tạo và tâm lý học đòi

Một nhà văn lão thành khá nổi tiếng ở phía Nam vừa chia sẻ với chúng tôi câu chuyện rất đáng suy ngẫm. Ông kể, có một tác giả trẻ nhờ ông viết lời giới thiệu cho cuốn sách sắp in. Vốn rất kỳ vọng và chờ đợi những nhân tố mới trong nghề, ngay khi nhận được bản thảo, ông đã dành thời gian đọc kỹ.

Theo cảm nhận của ông, đây là một cây bút có triển vọng. Cách tiếp cận đề tài, những góc nhìn hiện thực và các thao tác ngôn từ cho thấy tác giả là cây bút có nội lực, tác phẩm thể hiện những góc nhìn tươi mới, có tính phát hiện cao về hiện thực cuộc sống.

Nhưng khi đọc xong, ông thấy “gợn gợn” về một số chi tiết, nhân vật. Đáng chú ý là nhân vật người cha (dù chỉ là nhân vật phụ, đã qua đời, xuất hiện trong tác phẩm thông qua ký ức và lời thoại của những người con, người thân trong gia đình) được tác giả xây dựng là một sĩ quan ngụy quân, tử nạn trước ngày 30-4-1975.

“Nếu thay đổi thân phận nhân vật bằng một dạng khác như nông dân, ngư dân, người làm thuê... có đời sống vất vả, khổ cực thì nội dung tác phẩm cũng không bị ảnh hưởng gì. Tại sao lại phải “ấn” vào nhân vật cái “mác” lính ngụy để nói về cái khổ và nỗi đau thân phận trong khi nguồn cơn, bản chất của cái khổ, cái đau ấy không liên quan gì đến việc người cha có từng là lính ngụy hay không? Đưa một chi tiết văn học vào tác phẩm mà nó chẳng giúp ích gì, ngược lại còn có thể gián tiếp gây hại thì đó không phải là mục đích và thao tác sáng tạo của nhà văn. Những chi tiết đó cần phải sửa, bởi nếu để như vậy dễ tạo ra những suy diễn tiêu cực, tạo cớ cho các thế lực xấu lợi dụng bóp méo, xuyên tạc đời sống xã hội, nhất là trong lúc cả dân tộc đang hướng về đại lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tôi nói với cháu, nếu sửa thì tôi sẽ viết lời giới thiệu, còn không thì tôi đành phải từ chối...”, nhà văn cao niên bày tỏ.

Theo lời nhà văn thì sau khi được ông góp ý, tác giả trẻ đã lễ phép cảm ơn và nói sẽ tiếp thu để chỉnh sửa bản thảo.

Những chuyện tương tự như câu chuyện nhà văn lão thành kể diễn ra không hiếm trong môi trường văn học-nghệ thuật. Trong giới chuyên môn, người ta thường gọi đó là kiểu sáng tác ám chỉ, bóng gió... lấy tình tiết văn chương, nghệ thuật để ám chỉ về chính trị hoặc chỉ trích, bôi xấu, hạ bệ cá nhân, tổ chức. Việc này đến từ hai nguyên nhân chủ yếu. Một là từ ý định, ý thức chủ quan của tác giả.

Đây là biểu hiện rất nguy hại, thể hiện sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của văn nghệ sĩ. Những người có lối tư duy, khuynh hướng sáng tác kiểu này cần được nhận diện từ sớm, từ xa để có biện pháp chấn chỉnh, đấu tranh. Khâu biên tập, kiểm duyệt, xuất bản cần phải làm chặt, không để lọt vào đời sống VHNT những tác phẩm có nội dung tư tưởng xấu độc, phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng và lợi ích quốc gia, dân tộc.

Hai là từ sự vô ý thức, có tâm lý học đòi, muốn làm cho mới, cho lạ, cho khác người để được chú ý. Biểu hiện này dễ xảy ra ở một bộ phận người trẻ, khi bản lĩnh tư tưởng và trải nghiệm thực tiễn còn non, thiếu hụt vốn sống và cái phông văn hóa, trình độ lý luận chính trị còn hạn chế, kèm theo đó là tâm lý sính ngoại, bài nội, cổ xúy văn hóa lai căng...

Cùng với kiểu lấy VHNT ám chỉ chính trị, thực tiễn đời sống VHNT thời gian gần đây còn có những biểu hiện hư cấu thái quá làm sai lệch sự thật, làm méo mó các nhân vật lịch sử. Biểu hiện này có mấy dạng chủ yếu. Một là khai thác, hư cấu đời tư của các nhân vật nổi tiếng trong dân gian theo hướng “hài, nhảm”, khiến nhân vật bị méo mó, thậm chí trở nên dị dạng, dị biệt.

Hai là hư cấu, làm “biến dạng” các nhân vật lịch sử có công với nước, dẫn đến sai lệch về những sự kiện lịch sử. Ba là thổi phồng thành tích, công lao của một số nhân vật từng là tội đồ của dân tộc, biến họ thành “vĩ nhân”. Đây là những biểu hiện của “tẩy sử”, “lật sử”, làm cho công chúng, nhất là giới trẻ hiểu sai lệch về lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước, kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc...

Dù xuất phát từ nguyên nhân nào và biểu hiện ở hình thức nào thì khi người trẻ sáng tạo theo hướng này sẽ dễ trở thành đối tượng bị các phần tử cực đoan, bất mãn và các thế lực thù địch lợi dụng, tác động, lôi kéo. Nguy cơ chệch hướng trong đời sống VHNT là hiện hữu, nguy hại khó lường...

Giúp người trẻ không bị chệch hướng

Những biểu hiện chệch hướng trong tư duy, tư tưởng sáng tạo VHNT không phải hiện nay mới diễn ra mà đã được Đảng ta chỉ ra và cảnh báo từ lâu. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đặt ra yêu cầu: Đồng thời “xây” phải đi đôi với “chống” những tư tưởng, hành vi, sản phẩm văn hóa lệch lạc, sai trái, lạc hậu, phản động... Nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “đổi màu”...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ đã chỉ rõ một trong những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống là: Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước...

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, tồn tại trong lĩnh vực văn hóa, VHNT: Chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc; nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách lố lăng, phản cảm, không có chọn lọc (nói nặng ra là vô văn hóa, phản văn hóa)...

Như vậy, để nhận diện, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện chệch hướng, “đổi màu” trong lao động sáng tạo của văn nghệ sĩ, nhất là người trẻ, không hề là việc dễ dàng. Cảm thụ, thẩm định tác phẩm VHNT là công việc thiên về cảm tính.

Để đi đến sự thống nhất về nhận thức, mục tiêu, khuynh hướng sáng tạo theo quan điểm của Đảng trong tư duy, tư tưởng sáng tạo của người trẻ hiện nay là vấn đề khó khăn, phức tạp. Ở tầm vĩ mô, chiến lược, Đảng ta đã có định hướng rõ ràng. Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 xác định: Đặc biệt chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ làm công tác văn hóa, VHNT. Đội ngũ này có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp văn hóa nói riêng và trong sự nghiệp cách mạng nói chung...

Giải pháp căn cơ, lâu dài, bền vững cho vấn đề này chính là công tác giáo dục-đào tạo, bồi dưỡng thế giới quan, nhân sinh quan. Đặc biệt là bồi dưỡng lý luận chính trị, đạo đức cách mạng cho nguồn nhân lực VHNT. Đây là sự nghiệp phải tiến hành thường xuyên, liên tục, tuyệt đối không được sao nhãng, coi nhẹ.

Thời gian gần đây, chúng ta tập trung đẩy mạnh các hoạt động sáng tác, quảng bá tác phẩm VHNT hướng đến những ngày lễ lớn của đất nước trong năm 2025. Việc xuất hiện thái độ ám chỉ, bóng gió, lấy VHNT để xuyên tạc lịch sử, đả kích chính trị, làm phương hại đến nền tảng tư tưởng của Đảng... không thể xem thường. Cùng với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác biên tập, xuất bản, kiểm duyệt... của các cơ quan chức năng; các tổ chức hội, đoàn cần đa dạng hóa các hình thức sinh hoạt, tọa đàm, giao lưu nghiệp vụ...

Người trẻ rất cần những sân chơi bổ ích để được tiếp nhận, trao truyền lửa nghề, ý thức chính trị trong lao động nghề nghiệp. Sứ mệnh của VHNT là bảo tồn tâm hồn, bản sắc dân tộc và trách nhiệm, bổn phận của văn nghệ sĩ là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết. Đó cũng là môi trường, điều kiện sinh nở, nuôi dưỡng tác giả lớn và tác phẩm xuất sắc...

Làm sao để nghị quyết thực hiện được ngay

 

Hiện là thời điểm các cấp ủy, tổ chức đảng từ cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương đang có những bước chuẩn bị quan trọng cho đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Tinh thần chỉ đạo quyết liệt của Trung ương đó là văn kiện trình đại hội đảng các cấp (nghị quyết) phải bám sát hơi thở cuộc sống, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện. Trung ương nhấn mạnh, hạn chế tối đa việc phải tiếp tục ban hành các nghị quyết, chỉ thị tiếp theo để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. 

Nghị quyết phải là sách giáo khoa, là từ điển

Lâu nay vẫn có thực trạng: Nghị quyết quá dài, ôm đồm nội dung, xác định nhiều mục tiêu, chỉ tiêu nhưng vấn đề quan trọng là giải pháp, nguồn lực, kế hoạch để thực hiện lại chưa thực sự được chú trọng. Những nghị quyết được xây dựng mà không bám sát thực tiễn, không phản ánh hơi thở cuộc sống thường không đủ cơ sở để thực hiện. Trong thực tiễn đã có những nghị quyết như vậy. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) đề ra mục tiêu: “Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Tuy nhiên, đến năm 2016, Đại hội XII của Đảng đánh giá đến năm 2020, nước ta chưa thể trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại nên đã điều chỉnh lại mục tiêu thành “phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Nhiều ý kiến cho rằng, quá trình đề ra mục tiêu ở Đại hội VIII là chưa đánh giá đúng tình hình, nhất là nền tảng, nguồn lực để thực hiện còn yếu, điểm xuất phát thấp.

Đối với công tác chuẩn bị văn kiện trình Đại hội XIV lần này, trong các chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm và Ban Chấp hành Trung ương đều toát lên tinh thần: Văn kiện phải bám sát hơi thở cuộc sống, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện. Văn kiện phải trở thành "sách giáo khoa", thành "từ điển" để khi cần thì tra vào đó và sẽ thấy ngay "ánh sáng soi đường".

Theo Quy định số 66-QĐ/TW ngày 6-2-2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII “Về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng” thì “Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch hoặc các vấn đề cụ thể”. Quá trình chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng được Trung ương xây dựng công phu, kỹ càng, khoa học, bao gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế-xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới.

Chỉ đạo của Trung ương, văn kiện phải bám sát hơi thở cuộc sống, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện. Đây là vấn đề xuất phát từ chính thực tiễn quá trình thực hiện để đưa nghị quyết vào cuộc sống. Điều hiển nhiên, nếu nghị quyết dài sẽ khiến đảng viên không nhớ hết các nội dung, gây khó cho học tập, nghiên cứu, quán triệt, không xác định được các trọng tâm, trọng điểm để lãnh đạo và thực hiện. Trong lịch sử, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ban hành những Cương lĩnh chính trị, nghị quyết, quyết định rất ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Điển hình như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng (1930); Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943...

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, đòi hỏi đại hội đảng các cấp từ chi bộ trở lên phải là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, thảo luận, đóng góp Văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIV, đặc biệt là về tầm nhìn và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước. Những vấn đề được góp ý, thảo luận phải xuất phát từ thực tiễn, từ thực tiễn đặt ra cần thúc đẩy phát triển, tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn. Đó là những vấn đề mang hơi thở cuộc sống, được mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân quan tâm, có ảnh hưởng thiết thực đến đời sống xã hội, đến sự phát triển của đất nước.

Một tinh thần rất mới trong chỉ đạo của Trung ương: Văn kiện phải trở thành "sách giáo khoa", thành "từ điển" để khi cần thì tra vào đó và sẽ thấy ngay "ánh sáng soi đường". Hạn chế tối đa việc phải tiếp tục ban hành các nghị quyết, chỉ thị tiếp theo để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Điều này không chỉ bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất, toàn diện của Đảng về thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu chung mà còn khẳng định rõ một trong những phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng là lãnh đạo bằng nghị quyết, là năng lực trong việc xây dựng, ban hành nghị quyết.

Quá trình xây dựng các văn kiện đại hội rất công phu, tốn nhiều công sức, trí lực của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi đó, khi ban hành được nghị quyết rồi mà không thực hiện được hoặc thực hiện không thành công là rất lãng phí. Trong thực tiễn, tình trạng phải ban hành các nghị quyết, chỉ thị để thực hiện một nghị quyết không phải là hiếm, trong khi nghị quyết cần thực hiện không phải đặc biệt, cần thiết phải ban hành thêm một nghị quyết nữa. Tránh tình trạng có quá nhiều nghị quyết được ban hành. Từ thực tế, đã có nhiều ý kiến cho rằng, nghị quyết chỉ nên được ban hành khi thực tiễn đòi hỏi phải có chủ trương lãnh đạo. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới” cũng đã nhấn mạnh: “Chỉ ban hành văn bản mới khi thật sự cần thiết”.

Để có nghị quyết thực hiện... không "gay trăm bề"

Xây dựng nghị quyết có chất lượng là vấn đề rất khó, đòi hỏi tâm sức, trí lực, trí tuệ của toàn Đảng. Nghị quyết, nhất là nghị quyết đại hội đảng là quá trình tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, phân tích và dự báo tương lai, nó phản ánh những quy luật khách quan của thực tiễn, xu thế vận động mới của thực tiễn. Bởi thế, những nội dung, nhất là mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp, giải pháp thực hiện đều phải xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, từ quá trình vận dụng lý luận vào thực tiễn và đúc rút từ thực tiễn khái quát thành lý luận; tuyệt đối tránh tình trạng ngồi “salon”, “máy lạnh” để xây dựng nghị quyết. Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIV của Đảng do Bộ Chính trị ban hành ngày 14-6-2024 nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng chuẩn bị văn kiện. Theo đó, Báo cáo chính trị phải đánh giá trung thực, khách quan, toàn diện tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết nhiệm kỳ trước; chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Đồng thời, xác định rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ tới sát với tình hình thực tế và có tính khoa học, khả thi cao; chú ý các nhiệm vụ, giải pháp đột phá với tầm nhìn dài hạn.

Xây dựng nghị quyết cần có tinh thần quyết liệt đổi mới để nội dung ngắn gọn, thật sự cô đọng, súc tích, tránh tình trạng nặng về văn chương cho êm tai hoặc hô hào lý thuyết suông. Quá trình xây dựng nghị quyết, trọng trách đặt lên vai người đứng đầu và cấp ủy đảng cùng bộ phận tham mưu, chắp bút xây dựng. Nghị quyết là công trình tập thể, trí tuệ tập thể, trong đó bộ phận tham mưu, chắp bút là hạt nhân thực hiện nhiệm vụ đó. Nếu những người đảm nhiệm trọng trách không toàn tâm toàn ý, không quy tụ được những bộ óc tinh hoa, có kinh nghiệm thì khó có được nghị quyết tốt.

Lãnh đạo bằng nghị quyết là một trong những phương thức lãnh đạo chủ chốt của Đảng để bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất, toàn diện, bởi thế, quá trình xây dựng nghị quyết ở các cấp cần thực hiện đúng chủ trương: Văn kiện của cấp dưới phải bám sát, cụ thể hóa được văn kiện của cấp trên. Từ nội dung dự thảo văn kiện của cấp trên, cấp ủy cấp dưới lấy đó làm cơ sở xây dựng nội dung báo cáo chính trị, phương hướng, nhiệm vụ công tác cho các văn kiện của cấp mình; xác định cụ thể những mục tiêu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

Điều rất quan trọng mà Trung ương nhấn mạnh đó là nghị quyết phải xác định rõ các biện pháp, giải pháp và nguồn lực để thực hiện. Trên thực tế, có những nghị quyết mà vấn đề xác định nguồn lực thực hiện chưa được chú trọng. Bởi, xác định được nguồn lực thực hiện luôn có ý nghĩa quyết định. Ví dụ vấn đề tăng lương. Tăng lương là vấn đề rất quan trọng, thiết thực và sự cần thiết của tăng lương là không phải bàn cãi. Tuy vậy, muốn tăng được lương, phải xác định rõ được nguồn lực để thực hiện. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu: Khắc phục tình trạng ban hành văn bản không sát với thực tiễn, thiếu nguồn lực tổ chức thực hiện.

Sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói: “Nghị quyết thì thật là hay/ Xem ra thực hiện còn gay trăm bề” chỉ ra thực trạng còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục trong xây dựng, ban hành và thực thi nghị quyết. Đảng ta đang quyết tâm từng bước khắc phục những hạn chế đó.

Chặn biến tướng trong phong tục, văn hóa Tết

 

Tết Nguyên đán không chỉ là ngày lễ quan trọng trong năm mới, đây còn là dịp để người dân tôn vinh những giá trị truyền thống, gắn kết gia đình và xã hội. Tuy nhiên, trong đời sống hiện đại, một số phong tục, văn hóa Tết có nguy cơ bị biến tướng, mai một.

Lạm dụng tín ngưỡng, rình rang lễ lạt

Dịp tháng Chạp, phố Hàng Mã (Hà Nội)-khu phố có nhiều mặt hàng kinh doanh đồ thờ cúng-trở nên nhộn nhịp. Tại đây, nhiều hàng quán bày bán đa dạng các chủng loại, “mặt hàng thời thượng” bằng giấy như: Điện thoại, xe máy, ô tô... để người dân mua về cúng lễ. Hiện tượng trên là một trong những biến tướng về phong tục thường gặp vào dịp cuối năm, khi không ít người dân quan niệm muốn có nhiều tài lộc thì phải bày biện, dâng mâm cao cỗ đầy, sắm nhiều đồ vàng mã.

Tục cúng ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp theo phong tục truyền thống mang ý nghĩa cầu mong sự no đủ. Tuy nhiên, phong tục ấy đang bị hiểu sai và có ít nhiều biến tướng về tư duy văn hóa. Từ việc cúng tiễn Táo quân với mâm cỗ, trầu cau, hương hoa, nay nhiều người sắm thêm đủ các loại hàng mã: Quần, áo, nhà lầu, xe hơi... để Táo quân “báo cáo” với Ngọc Hoàng xin cho nhà mình có nhiều lộc. Khi cúng xong, người dân mang tro đốt hàng mã, mang cá ra sông, hồ để thả. Nhiều người thản nhiên vứt cả túi đựng cá làm không ít sông, hồ tràn ngập túi ni lông, giấy, rác làm ô nhiễm môi trường. Phong tục hái lộc đầu xuân vốn mang ý nghĩa cầu may cũng bị biến tướng thành hành vi chặt cây, bẻ cành ở nơi công cộng, gây mất mỹ quan và ý nghĩa văn hóa...

Khi cuộc sống của người dân được cải thiện, nhu cầu tìm về nguồn cội và nhu cầu tâm linh cũng được quan tâm, chú ý hơn. Ở cấp độ làng xã, nhiều hoạt động lễ hội diễn ra sôi động mỗi khi tết đến, xuân về. Hàng nghìn lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng được tổ chức ở khắp nơi. Tuy nhiên, không ít lễ hội truyền thống vào dịp đầu xuân bị biến thành cơ hội kinh doanh, làm cho yếu tố linh thiêng và giá trị văn hóa bị lu mờ. Việc lạm dụng tín ngưỡng khiến một số lễ hội được tổ chức để trục lợi, xuất hiện tại lễ hội những hành vi gây mất trật tự công cộng.

Cùng với đó là việc có quá đông du khách tham gia dẫn tới quá tải, ô nhiễm môi trường. Nhiều người tham gia lễ hội nhưng không hiểu rõ giá trị linh thiêng và ý nghĩa thật sự của các phong tục. Không ít đơn vị và cá nhân chịu ảnh hưởng bởi lợi nhuận, làm mất đi yếu tố văn hóa.Ngày 11-12-2024, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW về việc tổ chức Tết Ất Tỵ 2025, trong đó yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm công tác quản lý và tổ chức lễ hội theo quy định. Chỉ thị còn nhấn mạnh tới việc bảo đảm các hoạt động vui xuân, kỷ niệm ngày truyền thống, tổng kết năm, gặp mặt đầu năm... thiết thực, an toàn, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức, lãng phí. Bởi thực tế có không ít cơ quan, đơn vị, địa phương thường có những cuộc lễ lạt rình rang vào dịp tổng kết năm, gặp mặt đầu xuân, kèm theo đó là sự lãng phí tiền bạc, thời gian, công sức.

Thực tế cho thấy, thay vì chú trọng vào những việc làm tri ân thiết thực, không ít cơ quan, đơn vị vẫn nặng về phô trương, hình thức, cốt để "vui vẻ" mỗi dịp lễ, tết.

Mai một giá trị truyền thống

Năm nào cũng vậy, khi thời điểm tết cận kề thì câu chuyện biếu, tặng quà tết là chủ đề được nhiều người quan tâm, bàn luận. Về vấn đề này, Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư ngày 11-12-2024 đã nhấn mạnh: “Tăng cường công tác phòng, chống lãng phí, tiêu cực; không tổ chức thăm, chúc tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; không tổ chức đoàn của Trung ương thăm, chúc tết cấp ủy, chính quyền các địa phương; nghiêm cấm việc biếu, tặng quà tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức...”.

Tặng quà là để thể hiện sự biết ơn, tình cảm quý mến của người tặng, song ý nghĩa truyền thống ấy đã dần bị mai một, thay vào đó là những món quà mang tính vụ lợi. Trong một cuộc trao đổi về chủ đề “Biến tướng quà tết”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, cho rằng, quà tết không chỉ là một hiện tượng mà đã trở thành một thói quen. Tuy nhiên, hiện nay quà tết bị biến tướng, nó đã chuyển từ những món quà đơn giản, gửi gắm tình cảm của người tặng sang những món quà đắt tiền mang tính thực dụng, ẩn chứa “thông điệp” nhờ vả.

Cách đây vài năm, tác giả bài viết có quen một người giữ chức vụ khá cao. Khi vừa nhậm chức vào dịp chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, anh bảo: “Có lẽ tôi cần phải thay đổi quan niệm về chuyện nhận quà tết thôi ông ạ, bởi mình đâu có thiếu thốn mà cứ để hết người này tới người khác tới biếu quà...”. Nhưng rồi sau đó, quan niệm, ý tưởng có vẻ chân thành của anh không dễ thành hiện thực, bởi biếu quà tết là một thói quen khó thay đổi; việc biếu, nhận quà tết không phải là bối cảnh của hai người mà đã trở thành câu chuyện của cả xã hội. Nếu người cán bộ kia không nhận quà tết thì những người xung quanh anh sẽ phản ứng thế nào? Họ sẽ nhìn anh ra sao? Nhiều khi họ cũng không thích cái việc “từ chối quà tết để làm gương” của anh, bởi với nhiều người, cả năm họ chỉ trông vào mỗi “khoản” này, và tết chính là dịp mang lại nguồn thu nhập không nhỏ cho họ...

Từ chuyện biến tướng trong việc biếu, nhận quà tết của người lớn, tục lì xì người già và con trẻ cũng có những lệch chuẩn.

Lì xì, mừng tuổi... vốn là một phong tục đẹp, khi mà trong mỗi bao lì xì có một chút tiền lẻ được biếu, tặng, mong người già có thêm sức khỏe, mong con trẻ ngoan ngoãn, khỏe mạnh. Giờ đây, câu chuyện vật chất đã len vào những bao lì xì, khiến không ít gia đình phải dặn kỹ con em mình mỗi khi nhận lì xì thì đừng làm mất mặt người lớn, rằng nhận xong thì chớ có mở ra để... đếm tiền trước mặt khách. Rõ ràng, bao lì xì hiện không còn mang ý nghĩa tượng trưng mà đã mang nặng giá trị vật chất, ảnh hưởng không nhỏ tới quan niệm, hành vi ứng xử của con trẻ, làm mai một giá trị truyền thống.

Nói về giới trẻ hiện nay, nhiều người đặt câu hỏi: Phải chăng giới trẻ đang dần quay lưng với phong tục tết? Vào dịp cuối năm, thấy không ít bạn trẻ lên mạng xã hội ta thán: “Đang yên đang lành, tự dưng lại tết, nghỉ gần chục ngày chẳng biết đi đâu, làm gì”; “Ui, thế là lại tết, ước gì sau một ngày ngủ nướng, thức dậy đã là... mồng 6 tết”. Sở dĩ có hiện tượng trên là do ngày nay, một số người trẻ đã không còn dành thời gian cho các phong tục tết truyền thống như trước. Trên các diễn đàn dành cho dân du lịch, đi phượt..., nhiều bạn trẻ hào hứng bàn bạc, rủ nhau tết này đi du lịch ở đâu, dùng mấy ngày nghỉ tết vào việc gì... Có người rủ nhau xuất ngoại du lịch, có người tính chuyện khoác ba lô đi phượt xuyên Việt.

Trào lưu đi du lịch thay vì đón tết đang trở nên phổ biến không chỉ trong giới trẻ mà còn lan rộng tới các gia đình có điều kiện, dư dả về kinh tế. Nhiều người không còn coi tết là dịp sum vầy mà họ lựa chọn du lịch để tận hưởng kỳ nghỉ tết theo cách riêng. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cách sống, quan niệm và nhu cầu giải trí của xã hội hiện đại. Một bộ phận người trẻ lựa chọn đi chơi xa như một hình thức "trốn" tết. Họ xem tết như một kỳ nghỉ để "xả stress" thay vì dành thời gian cho gia đình.

Lối sống, quan niệm ấy đã phần nào khiến ý nghĩa đoàn viên, sum vầy của ngày tết bị xem nhẹ, đồng thời giá trị gắn kết gia đình và xã hội của Tết Nguyên đán cũng đang dần bị mai một.

 Tự giác, nêu gương để giữ gìn văn hóa tết

Để ngăn biến tướng và giữ gìn văn hóa tết, rất cần sự làm gương từ các gia đình, trong đó cha mẹ, ông bà phải là những người lan tỏa ý nghĩa văn hóa tết cho con cháu; chú trọng tổ chức tết đơn giản, tiết kiệm, tránh lãng phí, tập trung vào giá trị tinh thần của ngày tết như sự sum vầy, đoàn tụ gia đình và tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc.

Ngoài ra, các địa phương cần tổ chức các hoạt động lễ hội, trò chơi dân gian mang bản sắc truyền thống, không để diễn ra tình trạng nhiều lễ hội “không quản được thì cấm”, thiếu trách nhiệm với văn hóa truyền thống và nhu cầu chính đáng của nhân dân. Để hạn chế những biểu hiện mê tín dị đoan, trục lợi và các hình ảnh phản cảm trong lễ hội, ngành văn hóa-du lịch đã có nhiều nỗ lực thông qua các biện pháp quản lý, tuyên truyền và giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên, để xây dựng môi trường lễ hội văn minh, giàu bản sắc văn hóa, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và sự đồng lòng của người dân.

Khắc phục những dấu hiệu lệch chuẩn trong văn hóa tết, cần đẩy mạnh giáo dục văn hóa trong cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, để họ hiểu và trân trọng ý nghĩa thực sự của các phong tục tết. Đồng hành trong việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong trong hành động, không tham gia hoặc khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan; không sử dụng ngân sách cho các hoạt động lễ lạt rình rang, gây lãng phí trong dịp tết; tránh tổ chức tiệc tùng, lễ nghi mang tính hình thức hoặc quá mức cần thiết.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong “Sửa đổi lối làm việc”: “Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong ta đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Vì vậy, đạo đức của cán bộ trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa không chỉ là việc thực hiện trách nhiệm công vụ mà còn thể hiện qua lối sống, hành vi và thái độ gương mẫu. Tinh thần tự giác của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền chính là lá chắn đầu tiên và quan trọng nhất để ngăn chặn biến tướng quà tết, bởi việc biếu, tặng quà tết với mục đích mưu cầu lợi ích không chỉ làm sai lệch ý nghĩa của việc tặng quà mà còn gây bức xúc trong xã hội.

Để làm được điều này, cán bộ, đảng viên phải thực sự nêu gương, tránh tình trạng gắn “mác” văn hóa trong diễn ngôn, nhắc nhiều đến văn hóa trong các lĩnh vực nhưng lại chưa thực tâm hành xử vì văn hóa.

Trui rèn bản lĩnh trước thông tin xấu độc

 

Sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch trên không gian mạng khiến công chúng liên tục phải đối diện với nhiều thông tin xấu độc. Giữa cái “chợ” thông tin vàng thau lẫn lộn, cách để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là phải xây dựng, củng cố, trui rèn bản lĩnh, kỹ năng cho cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước...

Nhắc chuyện xưa, ngẫm chuyện nay 

Trong cuộc gặp mặt tân niên Ất Tỵ giữa các cán bộ lão thành và đại biểu nhà báo, văn nghệ sĩ tại TP Hồ Chí Minh, một vị tướng cao niên kể câu chuyện rất đáng suy ngẫm. Vào thập niên 1980, ông là một sĩ quan trẻ, tham gia chiến đấu, làm nghĩa vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia. Trong một lần nghỉ phép, ông mua chiếc radio làm quà biếu cha mẹ.

Hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, nhà nào có được chiếc xe đạp, chiếc đài... là được xếp vào hạng khá giả trong làng. Cứ tối đến, sau giờ ra đồng cày cấy, hàng xóm lại tụ tập đến nhà ông nghe đài. Một lần vào đêm khuya, người anh của ông mang đài ra sân ngồi nghe. Bên ấm chè xanh và mớ lạc rang, ông anh cao hứng vặn to âm thanh, nghe đài địch phát tiếng Việt bình luận xuyên tạc về tình hình Việt Nam. Sự việc bị hàng xóm phát hiện, báo lên bí thư chi bộ. Thân phụ ông là đảng viên, bị chi bộ yêu cầu làm tường trình, kiểm điểm.

Vị tướng kể lại: “Ông cụ nhà tôi nghiêm chỉnh chấp hành, nhận khuyết điểm trước chi bộ vì đã buông lỏng quản lý, giáo dục, để con cái nghe đài địch, ảnh hưởng đến an ninh chính trị tại địa phương và sẵn sàng nhận hình thức kỷ luật của tổ chức đảng. Chi bộ xét thấy gia đình có công với cách mạng, có con là bộ đội, mới vi phạm lần đầu nên chỉ nhắc nhở, phê bình. Từ đó về sau, ông cụ luôn lấy đó làm bài học để răn dạy con cháu về tinh thần yêu nước, bản lĩnh của đảng viên. Một trong những yêu cầu khắt khe, nghiêm minh của gia đình cách mạng là tuyệt đối không nghe đài địch...”!


Kể lại chuyện xưa, vị tướng về hưu đúc kết rằng, trong suốt thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, kiến thiết xây dựng đất nước, đại đa số cán bộ, đảng viên rất tự giác chấp hành quy định của Đảng, không nghe đài địch trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Đó là sự thể hiện bản lĩnh của cán bộ, đảng viên và công dân yêu nước.

Xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên vừa là mục tiêu vừa là giải pháp để Đảng ta củng cố vững chắc niềm tin, tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong các tầng lớp nhân dân. Bài học “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy ít địch nhiều” của Việt Nam khi đối đầu với các loại kẻ thù của cách mạng được xây dựng, hun đúc, phát triển dựa trên bản lĩnh chính trị vững vàng ấy. Bản lĩnh ấy tạo nên cốt cách Việt Nam, làm nên sức mạnh Việt Nam...

Ngày nay, sự vận động, phát triển không ngừng của khoa học-công nghệ đòi hỏi công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên phải không ngừng đổi mới, sáng tạo. Trong môi trường số, thông tin trên không gian mạng bùng phát không thể kiểm soát. Không gian mạng giống như cái “chợ” thông tin. Bên cạnh những thông tin tích cực là hằng hà sa số thông tin độc hại do các thế lực thù địch tán phát, xuyên tạc, tạo môi trường, công cụ chống phá Đảng, chống phá đất nước.

Chúng triệt để khai thác, tận dụng các nền tảng mạng xã hội, đánh vào tâm lý tò mò, hiếu kỳ của công chúng để thực hiện các chiến dịch truyền thông chống phá với mức độ, cấp độ, tần suất ngày càng mạnh. Chúng bám vào dòng thời sự chủ lưu, các sự kiện quan trọng của đất nước để ký sinh, tán phát tư tưởng phản động, thù địch với mưu đồ làm xói mòn lòng tin của công chúng, tổn hại đến uy tín của Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước.  

Để thực hiện hiệu quả công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên, không thể cực đoan áp dụng các hình thức, giải pháp như trước đây. Khi không thể cấm cán bộ, đảng viên theo dõi thông tin xấu độc, cách tốt nhất chúng ta thực hiện đó là xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên trước các luồng tư tưởng độc hại.

Gạn đục khơi trong, lấy xây để chống 

Trước sự bùng phát ngày càng dữ dội thông tin xấu độc trên không gian mạng, Đảng ta đã nhận thức sâu sắc những nguy cơ, thách thức trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Một trong những vấn đề mấu chốt là công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ nguyên nhân chủ quan dẫn đến các biểu hiện suy thoái trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là: Lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài... Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới...

Những tác động từ bên ngoài chính là sự xâm nhập, lôi kéo của các thế lực thù địch bằng nhiều hình thức, thủ đoạn, gây tâm lý hoang mang, dao động, hoài nghi, dẫn đến suy giảm lòng tin vào Đảng, bàng quan với khát vọng của dân tộc.

Giải pháp để thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, giáo dục, xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta quy định cụ thể bằng điều lệ và các nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận... Có thể nói, chưa bao giờ hệ thống văn bản về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lại cụ thể, đầy đủ, đồng bộ như hiện nay. Vấn đề còn lại là phương thức, hiệu quả triển khai thực hiện từ các tổ chức đảng và ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên.

Bản lĩnh của cán bộ, đảng viên trước thông tin sai trái, xấu độc của các thế lực thù địch phải là: “Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”. Có được bản lĩnh vững vàng ấy mới có được ý chí, trách nhiệm đấu tranh phản bác quan điểm sai trái để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở hệ thống nguyên tắc, mỗi tổ chức đảng có cách vận dụng, triển khai thực hiện phù hợp, nhưng tựu trung là phải nhất quán phương châm lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu.

Vừa rồi chúng tôi có cuộc khảo sát các mô hình hiệu quả từ cơ sở ở một số tỉnh, thành phố phía Nam, thấy rằng ở một số tổ chức đảng có cách làm rất hay. Đảng bộ thành phố Đồng Xoài (Bình Phước) là một ví dụ. Thực hiện chủ trương của Thành ủy Đồng Xoài, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị đồng lòng, trách nhiệm thực hiện mô hình “Mỗi ngày một thông tin tích cực”. Theo đó, hằng ngày, mỗi người sẽ chia sẻ trên tài khoản cá nhân của mình một hoặc nhiều thông tin tốt đẹp để lan tỏa năng lượng tích cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu. Nét đẹp này được duy trì thường xuyên thành phong trào, trở thành hành động tự giác trong hệ thống chính trị...

Việc gạn đục khơi trong, trui rèn bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên trước thông tin xấu độc không phải là chuyện mới, nhưng nó luôn là đề tài thời sự, là công việc phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Phải nhấn mạnh điều này, bởi ngay sau dịp Tết Ất Tỵ, khi cả hệ thống chính trị của đất nước bắt tay ngay vào công việc mới thì trên không gian mạng xuất hiện đầy rẫy thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đáng bàn là nhiều thông tin mang tư tưởng phản động từ các trang tin điện tử hải ngoại lại được một số đối tượng cực đoan, bất mãn trong nước cổ xúy, tung hô, gây rối ren dư luận.

Bản lĩnh cán bộ, đảng viên được hình thành, duy trì từ quá trình giáo dục sang tự giáo dục. Đó là một quá trình đòi hỏi cao ở tính tự giác, tự chủ, thực tâm, thực chất. Dù các thế lực thù địch có tung hỏa mù thông tin ở cấp độ, mức độ, tần suất như thế nào cũng không thể lay chuyển được niềm tin, ý chí của mình. Và để quá trình tự giáo dục ngày càng đạt hiệu quả thực chất, việc trước mắt cũng như lâu dài là các tổ chức đảng, các cơ sở giáo dục trong hệ thống chính trị phải đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.

Giáo dục và tự giáo dục phải luôn song hành để mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng duy trì được sức mạnh, sức chiến đấu cao. Hình thức, phương pháp phải luôn đổi mới, nhưng ý chí, bản lĩnh, thái độ trước cái sai, cái xấu độc thì cần giữ được chất “lửa” như thế hệ ông, cha, anh chúng ta đã làm.

Nâng cao tính Đảng, tính cách mạng để phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị

 

Để có tính Đảng cao, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy tinh thần trách nhiệm trong quá trình tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, coi đó như một nhu cầu tự nhiên, thiết thân để không ngừng hoàn thiện nhân cách, xứng đáng là chiến sĩ tiên phong, tấm gương mẫu mực để nhân dân học tập, noi theo. Điều có ý nghĩa sâu sắc hơn, nêu cao tính Đảng trong học tập, rèn luyện, công tác còn là giải pháp căn cơ, hữu hiệu để cán bộ, đảng viên phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tính Đảng trong công tác cũng như trong cuộc sống, đó là phải đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia-dân tộc lên trên hết. Người chỉ rõ: “Một là phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết; hai là việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn; ba là lý luận và thực hành phải đi đôi với nhau”. 

Sau khi khẳng định: "Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên cần phải có tính Đảng, tính cách mạng mới làm được việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: “Kém tính Đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Nêu cao tính Đảng sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Trải qua 95 năm, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và mở ra kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam là do tuyệt đại đa số cán bộ, đảng viên đã tự nguyện suốt đời phấn đấu, hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân.

Để đạt được điều đó là do Đảng ta đã xây dựng, đào tạo, rèn luyện được một đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất tốt, tính Đảng cao, tận tụy trong công tác, sâu sát trong thực tiễn, giải quyết kịp thời những vấn đề đặt ra bằng việc vận dụng sáng tạo giữa lý luận và thực tiễn, nói đi đôi với làm, đánh giá đúng tình hình, vận dụng linh hoạt, sáng tạo đưa đường lối, chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống. Những thành tựu đó đã làm cho uy tín của Đảng, của cán bộ, đảng viên không ngừng được củng cố, tăng cường.

Tuy nhiên, những năm gần đây, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bên cạnh những ưu điểm, còn một số mặt hạn chế, khuyết điểm đáng quan ngại. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo cấp cao chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu, đặc biệt là sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm kỷ luật Đảng.

Biểu hiện kém tính Đảng ở một số cán bộ, đảng viên là nói và làm trái với nghị quyết, nói một đằng, làm một nẻo, bị tiền tài vật chất cám dỗ, tha hóa. Đảng yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên trước hết phải lời nói đi đôi với việc làm, nhưng đối với những người kém tính Đảng thì hoàn toàn ngược lại. Những vi phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên kém tính Đảng đã làm sai lệch chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, giảm uy tín của tổ chức đảng, từ đó làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

2. Trong giai đoạn hiện nay, rèn luyện và nêu cao tính Đảng là một yêu cầu khách quan, một nguyên tắc cơ bản của các cấp ủy, tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên. Theo V.I.Lênin, người cộng sản phải luôn nêu cao và không ngừng rèn luyện tính tổ chức, kỷ luật của Đảng mới có thể làm tròn nhiệm vụ được giao. 

Trước thực tiễn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra, Đảng ta xác định rèn luyện và nêu cao tính Đảng vừa là yêu cầu cơ bản lâu dài, vừa là yêu cầu cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI, XII, XIII đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Đồng thời tăng cường sự thống nhất trong Đảng về nhận thức, ý chí và hành động, bởi lẽ có sự thống nhất thì Đảng mới có sức mạnh và làm cơ sở cho sự thống nhất, đoàn kết toàn dân, mới không bị kẻ địch và các phần tử chống đối, cơ hội chính trị lợi dụng xuyên tạc, kích động. Sự thống nhất trong Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải nói và làm theo nghị quyết, thực hiện tốt Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng.

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, Đảng ta luôn quán triệt nguyên tắc tính Đảng trong toàn bộ hoạt động của mình, bắt đầu bằng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.

Trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cũng phải kiên định những quan điểm có tính nguyên tắc, đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng; Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, dựa trên nền tảng khối liên minh công nông và đội ngũ trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Đây là những vấn đề cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng; nếu tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên xa rời những quan điểm có tính nguyên tắc này sẽ dẫn đến nguy cơ chệch hướng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Thực hiện quan điểm có tính nguyên tắc không đồng nghĩa với việc hạn chế dân chủ mà những ý kiến khác nhau trong quá trình thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng sẽ được thảo luận rộng rãi. Đảng ta nhiều lần khẳng định, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy cơ sở đến Ban Chấp hành Trung ương. Đảng viên có quyền được bảo lưu ý kiến nhưng phải nói và làm theo nghị quyết của Đảng. Chống dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan hoặc lợi dụng dân chủ để mưu đồ lợi ích riêng, cục bộ, bản vị.

3. Hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, chống phá cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nêu cao tính Đảng trong mỗi cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, căn bản, lâu dài. Việc quán triệt thực hiện nghiêm nguyên tắc tính Đảng là một biện pháp căn cơ để nâng cao chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và nâng cao vai trò, trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên.

Muốn vậy, cần làm tốt công tác phổ biến, quán triệt, học tập, nghiên cứu lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy đảng, qua đó góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động.

Chú trọng chăm lo xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt Đảng, nội dung sinh hoạt phải cụ thể, thiết thực; nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong các cấp ủy, tổ chức đảng; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương trong sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Giữ vững và tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân; việc gì có lợi cho dân thì dù khó mấy cũng phải làm, việc gì có hại cho dân thì phải kiên quyết tránh. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương sáng cho quần chúng noi theo, phải thực sự yêu dân, trọng dân, gần dân để thấu hiểu dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, truyền niềm tin và cảm hứng cho nhân dân vững bước đi theo sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong tình hình hiện nay, cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, vì đây là giải pháp quan trọng trong việc giữ vững và nâng cao tính Đảng cho cán bộ, đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát đảng viên phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, từ việc thực hiện Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Kịp thời phát hiện, xem xét, xử lý đúng nguyên tắc, quy trình, kỷ luật nghiêm minh đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm. Gắn kiểm tra, giám sát với đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Giữ vững và nâng cao tính Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Để có tính Đảng cao đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải phát huy tinh thần trách nhiệm trong quá trình tự tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện, coi đó như một nhu cầu tự nhiên, thiết thân để không ngừng hoàn thiện nhân cách, xứng đáng là chiến sĩ tiên phong, tấm gương mẫu mực để nhân dân học tập, noi theo. Điều có ý nghĩa sâu sắc hơn, nêu cao tính Đảng trong học tập, rèn luyện, công tác còn là giải pháp căn cơ, hữu hiệu để cán bộ, đảng viên phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.