Thứ Tư, 9 tháng 4, 2025

Thói dối trá như một thứ vi trùng dịch hạch cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội

 

Sự dối trá trước đây chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, chủ yếu thuộc về đạo đức cá nhân, mà bây giờ đã lan rộng ra toàn xã hội, xuất hiện ở cả những lĩnh vực vốn được coi là nghiêm cẩn, thiêng liêng như thanh tra, tòa án, kiểm sát, hải quan, cảnh sát, nhà trường, tôn giáo...

Thói gian dối cũng không còn là hành vi của những cá nhân riêng lẻ, nhất thời mà có tổ chức, có dự mưu, không chỉ ở hạng thất phu, công chức cấp thấp mà ở cả những cấp cao giữ vai trò rường cột của một ngành, một địa phương, khiến tâm lý xã hội hoang mang, gây ra sự mất hướng của không ít người, làm băng hoại đạo đức xã hội, gây nguy hại đến thể chế chính trị quốc gia.                                                                               

1. Trong kho tàng truyện dân gian của bất cứ dân tộc nào cũng tồn tại những câu chuyện rất hay, rất đời về tật nói dối của tầng lớp chúng sinh. Xét về cấp độ, thói giả dối thể hiện các mức độ khác nhau về một hành vi, một thái độ không trung thực, một tập tính đã trở thành thuộc tính của con người và xã hội.

Như vậy có thể nói, con người ở thời nào cũng mắc phải những tật xấu này và ở thời nào người ta cũng phải rất vất vả để loại trừ nó ra khỏi đời sống, làm cho môi trường sống lành mạnh hơn. Dù không muốn, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, cuộc đấu tranh diệt trừ sự giả dối, thói gian dối như một căn bệnh xã hội là một cuộc đấu tranh lâu dài, song hành cùng với sự tồn tại của con người.

Tuy vậy, có những hoàn cảnh người ta buộc lòng phải nói tránh đi một sự thật không nên nói và lời nói dối lúc ấy không mang nghĩa xấu. Có một câu chuyện làm không ít người rơi nước mắt bởi “lời nói dối cao thượng”. Chuyện kể về một người lính ở chiến trường trở về sau chiến tranh và cưới người con gái anh yêu. Họ hạnh phúc tuy sống trong thiếu thốn. Chị sinh một bé gái, nhưng do chất độc dioxin anh nhiễm từ ngày ở chiến trường nên cháu bé bị thiểu năng. Do đời sống khó khăn và có những suy nghĩ không đúng, chị bỏ anh cùng đứa con tật nguyền để đi theo người khác. Anh phải nói dối con là mẹ đi công tác xa và lâu. Đứa bé lớn dần và tuy ý thức không bằng người song nó lờ mờ hiểu mẹ đã bỏ hai bố con.

Một hôm, anh liên lạc với chị nói là anh sắp đi công tác mấy tháng, nhờ chị trông con gái một thời gian vì con gái đã đến tuổi trưởng thành, rất cần mẹ chăm sóc. Không còn cách nào khác, chị phải nhận trông con. Sống với mẹ nhưng đứa con luôn nhớ cha, chỉ mong muốn được về nhà. Rồi một lần tỉnh dậy trong đêm, chị nghe thấy tiếng dương cầm ở phòng khách. Chị xuống, thấy con vừa đàn vừa khóc và đến lúc đó chị mới biết sự thật: Trước khi gửi con cho chị, anh đã bị ung thư giai đoạn cuối. Anh không muốn để con chứng kiến lúc mình ra đi và muốn chị sẽ chăm lo cho đứa bé khi anh không còn. Lời nói dối cùng sự ra đi mãi mãi của anh-thực ra là sự hy sinh tất cả vì con và tình cha con của họ đã thức tỉnh người đàn bà.

Về hình thức, đây là một hành vi sai sự thật, nhưng nó không xấu và không gây hại. Trái lại, nó tránh đẩy người khác vào hoàn cảnh khó xử và cũng không làm tổn thương người khác.

Còn trong nhiều trường hợp khác, sự gian dối bao giờ cũng mang nghĩa xấu, nó làm xói mòn lòng tin và đạo đức xã hội.

2. Về bản chất, sự giả dối, thói gian dối khi đã trở thành một căn bệnh xã hội là một điều xấu xa, không gì có thể biện minh. Hành vi không thật thà của một cá nhân nào đó, tùy theo mức độ ảnh hưởng của nó đến xã hội, bị lên án theo các mức độ khác nhau nhưng chủ yếu là từ góc nhìn đạo đức.

Ở bất kỳ thể chế nào, đạo đức bao giờ cũng là hệ thống những nguyên tắc ứng xử được pháp luật bảo hộ, nhưng về cơ bản, nó được tạo ra như những chuẩn mực xã hội để điều tiết các quan hệ và răn đe, đề phòng, phê phán cái xấu, sự dối trá chủ yếu từ góc nhìn đạo đức. Nó lệch chuẩn, gây hại cho xã hội, nhưng chưa bị khép vào các tội hình sự. Sự phê phán, lên án, dù ở mức gay gắt nhất, cũng chỉ như sự sửa sai những hiện tượng lệch chuẩn, đi ra ngoài quỹ đạo ứng xử của số đông.

Quan sát căn bệnh dối trá đang lộng hành trong xã hội ta hiện nay, có thể thấy rằng trong khoảng vài thập niên gần đây, nhất là từ khi Nhà nước thực hiện "mở cửa", xã hội dần dần chuyển động theo “cơ chế thị trường” ở cả các lĩnh vực ngoài kinh tế. Nói chính xác hơn, cơ chế thị trường đã tác động đến tận tế bào xã hội, làm thay đổi cả những yếu tố thuộc lĩnh vực tinh thần. Sự đan xen giữa các yếu tố tốt-xấu, đúng-sai, chân thật-giả dối... tạo nên những lẫn lộn cả trong nhận thức và đánh giá. Từ đó, nền tảng tinh thần xã hội có những chuyển động mạnh, những rạn nứt mới trong quan hệ giữa người với người ngày một lộ rõ, nhiều chuẩn mực xã hội truyền thống bị lung lay trước áp lực của lối sống thực dụng và mang tính cá nhân chủ nghĩa nhiều hơn.Sự dối trá trước đây chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, chủ yếu thuộc về đạo đức cá nhân, mà bây giờ lại lan rộng ra toàn xã hội, xuất hiện ở cả những lĩnh vực vốn được coi là nghiêm cẩn, thiêng liêng như thanh tra, tòa án, kiểm sát, hải quan, cảnh sát, nhà trường, tôn giáo... Thói gian dối cũng không còn là hành vi của những cá nhân riêng lẻ, nhất thời mà có tổ chức, có dự mưu, không chỉ ở hạng thất phu, công chức cấp thấp mà ở cả những cấp cao giữ vai trò rường cột của một ngành, một địa phương, khiến tâm lý xã hội hoang mang, dẫn đến sự mất hướng của không ít người, làm băng hoại đạo đức xã hội, gây nguy hại đến thể chế chính trị quốc gia.

Điều nguy hại hơn là hiện tượng dối trá vốn là một hành vi vô đạo đức, đáng bị lên án, bất thường đã dần trở nên “bình thường” trong mắt nhiều người. Sự giả dối nguy hiểm hơn vì nó lan đến cả nhà trường, đến những người trẻ (chạy điểm, mua điểm, chạy đua thành tích, bằng cấp giả)... làm mục ruỗng xã hội. Người giả dối có địa vị xã hội cao sẽ ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, có vai trò rất lớn trong tổ chức thực hiện những nhiệm vụ mà Nhà nước, nhân dân giao cho như bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư, chủ tịch tỉnh. Sự dối trá về bản chất gắn liền với lợi ích nên nó như là tiền đề đẻ ra tham nhũng, dối trá để tham nhũng, dối trá trong suốt quá trình để có địa vị cao hơn, quyền lực nhiều hơn, để có điều kiện tham nhũng lớn hơn.

Có thể nói chưa bao giờ tình trạng dối trá và tham nhũng lại gắn với nhau ở tất cả các mức độ, tinh vi và xảo trá đến thế, gây hại cho xã hội đến thế. Nhiều vấn đề được phanh phui, xử lý trong cuộc chiến chống tham nhũng thời gian qua đã đem lại những tin tưởng nhất định của xã hội vào cơ quan công quyền, nhưng quá nhiều vụ tham nhũng "khủng" đang gây mất lòng tin của xã hội, bởi không phải sự tham nhũng diễn ra trong một ngày mà có cả quá trình, có những nhóm lợi ích đã có dự mưu, tổ chức, thực hiện rất nhiều hành vi dối trá từ thấp lên cao. Hàng loạt lãnh đạo nhiều địa phương, bộ, ngành trong nhiều nhiệm kỳ gần đây như Phú Yên, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng, Bộ Công Thương, Bộ Y tế... là những minh chứng cho quá trình tha hóa của họ, gây mất uy tín của tổ chức, làm hại đến thanh danh các tổ chức chính quyền, cơ quan mà họ đại diện.

Ngay cả khi đại dịch Covid-19 gây ra bao nhiêu đau khổ, chết chóc cho xã hội mà một số người có chức quyền vẫn gian dối trong báo cáo, tham nhũng tiền của, làm ngơ trước những mất mát, đau khổ của đồng loại. Có người đã tổng kết, những đại án Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, Thuận An, Phúc Sơn, kit test của Nguyễn Quốc Việt, FLC của Trịnh Văn Quyết, AIC của Nguyễn Thị Thanh Nhàn... đều bắt đầu từ sự dối trá của cá nhân nhằm trục lợi, rồi dối trá có sự cấu kết giữa các nhóm lợi ích với một số quan chức lũng đoạn xã hội ở tầm vĩ mô, ở đề xuất chủ trương và hoạch định chính sách.

Có những vị hôm trước còn đăng đàn diễn thuyết, dạy dỗ người khác sống trong sạch, noi gương sáng người này, người khác, thậm chí viết sách để rao giảng những điều hay ho, nhưng không lâu sau thì bị xử lý kỷ luật vì dối trá, tham nhũng. Họ dối trá trước khi bị phát hiện, sống hai mặt, dối trá ngay cả khi đang khoác mặt nạ trong sạch, cao đạo. Nhiều người đã không tin họ bởi nhìn cách họ sống trong đời với những điều họ rao giảng cách nhau một trời một vực, biết họ giả dối nhưng không thể làm gì nên đành quay lưng.

Căn bệnh dối trá như thứ bệnh nan y ăn ruỗng cơ thể xã hội, đến mức có đồng chí lãnh đạo cấp cao đã nói “sờ vào đâu cũng thấy có vấn đề”, “nếu xử lý hết thì không còn người làm việc”. Điều đó nói lên một thực tế: Căn bệnh này đã gây ra những nguy cơ cho xã hội đến mức, sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi đó là nạn “nội xâm” và thừa nhận chống nó rất gian khổ, bởi những thói xấu và tội lỗi ấy có mầm mống và gây tác hại lớn vì nó nằm ngay trong lòng thể chế, có cái sinh ra từ chính thể chế, được những tổ chức, băng nhóm câu kết với nhau cố tình lừa dối xã hội, báo cáo sai lệch sự thật, bao che cho nhau trong nhiều năm.

Khi họ chưa bị trừng phạt, họ lại cùng cơ quan, có chức quyền, là đồng chí, đồng nghiệp của chúng ta nên việc đấu tranh với họ rất khó khăn. Nhiều vụ tham nhũng đã diễn ra hàng chục năm, nhiều cán bộ đứng đầu các tổ chức, cơ quan vi phạm pháp luật hàng chục năm liền, "một tay che trời", khuynh đảo xã hội vì họ phạm tội có tổ chức, có phe nhóm. Tội lỗi của đám người này không chỉ gây ra những thất thoát lớn cho Nhà nước, nhân dân mà còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ. Thói dối trá như một thứ vi trùng dịch hạch cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội.

3. Nhận thức được nguyên nhân và thực trạng nguy hại của sự dối trá, căn bệnh giả dối, cả xã hội đã chung tay trong cuộc chiến chống lại nó. Nhận ra thực chất của điều này cũng cần một quá trình, một sự đấu tranh gian khổ, bởi đám người giả dối thường sống ký sinh vào cơ chế, lợi dụng cơ chế, khoác những tấm áo khoác mỹ miều nhân danh tổ chức này nọ. Vạch mặt chỉ tên họ là cần thiết, lôi họ ra trừng trị là việc làm bắt buộc để xã hội chúng ta lành mạnh hơn, để bản chất tốt đẹp của Nhà nước do dân, vì dân, phụng sự dân trở về đúng nghĩa của nó.

Chúng ta đã nói đến sự giám sát của các tổ chức, cơ quan quyền lực, pháp luật và của nhân dân, nhưng cơ chế ấy thời gian qua đã để “lọt lưới” nhiều tội phạm. Họ lừa dối tổ chức và nhân dân bằng những chứng chỉ, bằng cấp, thành tích tự khai, những hứa hẹn trung thành, phụng sự Tổ quốc, nhưng miệng họ nói khác với những việc họ làm. Chỉ khi chiếc mặt nạ họ đeo bị rơi xuống thì bản chất thật của họ mới bị phơi bày trước xã hội. Những mất mát quá lớn cả về tiền của lẫn lòng tin, nhưng không thể không làm. Như xưa trong truyện dân gian cần “kính chiếu yêu" để các quan tham hiện rõ bộ mặt thật, thì ngày nay xã hội cũng cần nhiều "kính chiếu yêu" của tổ chức chính quyền, hệ thống luật pháp và sự giám sát của nhân dân để những quan tham không còn điều kiện gian dối, không dám dối trá.

Rõ ràng đã đến lúc cần đổi mới công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, đánh giá, đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật thật chặt chẽ, nghiêm minh để loại dần ra khỏi cơ chế những kẻ cơ hội, tìm mọi cách dối trá nhằm lọt vào cơ quan công quyền mưu cầu lợi ích riêng. Làm trong sạch bộ máy, sử dụng đúng người, đúng việc, thực hiện chính sách vừa giao việc, vừa giám sát và kiên quyết loại ra khỏi đội ngũ những kẻ bất tài, thiếu phẩm chất đạo đức là góp phần ngăn chặn, loại trừ dần sự dối trá. Cơ chế lựa chọn cán bộ phải trở thành bộ máy thanh lọc kẻ gian dối và tìm được, lựa chọn được người chân tài thực đức để kích thích năng lực sáng tạo của mọi người. Lúc ấy, dối trá sẽ không còn đất sống và không thể gây tác hại, hệ lụy cho đất nước, xã hội và thể chế chính trị.

Mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận

 

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là khi Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

Sự xuyên tạc, bịa đặt thâm độc 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là nhằm “hạ bệ thần tượng”,  thay đổi tình cảm của dân tộc với lãnh tụ Hồ Chí Minh; tạo tâm lý hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh; sâu xa là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng để thực hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. 

Các đối tượng khi xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh thường tập trung vào: Thứ nhất, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, xuyên tạc những tư tưởng cụ thể trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng hạn như: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, hoặc có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ là những lý thuyết giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “tư biện, lý thuyết, ảo tưởng, phi thực tế”... Thứ ba, xuyên tạc về bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước”; tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới...

Để xuyên tạc, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường lập luận dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, những hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén. Hoang đường hơn, chúng còn dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, những nhân chứng giả, bằng chứng giả và đưa ra những quy kết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy tính tư biện.

Các thế lực thù địch thường sử dụng các diễn đàn công khai như tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn... Đặc biệt, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, chúng triệt để lợi dụng vùng “lãnh thổ đặc biệt” là không gian mạng với hàng nghìn trang mạng xã hội, trong đó có nhiều trang giả mạo các cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền những nội dung chống phá....

Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta kỷ nguyên rực rỡ trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian qua, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang.

Tình cảm mà nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước dành cho Người là điều không thể phủ nhận. Không những vậy, những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), của các chính khách, giới nghiên cứu quốc tế, từ các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa... Do vậy, mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận.

Bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

Nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người ở vị trí quan trọng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đó, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức toàn diện về nội dung, bản chất và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin, trau dồi bản lĩnh chính trị, cung cấp cơ sở luận cứ đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả và sắc bén nhằm làm thất bại những chiêu bài xuyên tạc, bóp méo sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trái lại, nhận thức chưa đúng đắn, toàn diện có thể dẫn tới việc đấu tranh trở nên mơ hồ, thiếu căn cứ, kém hiệu quả. Do vậy, chúng ta cần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh với những phương pháp, cách thức sáng tạo và phù hợp hơn.

Đổi mới cách thức tổ chức các hội thảo và tọa đàm khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chú trọng đến trao đổi, thảo luận có định hướng, gắn với những vấn đề thực tiễn trong nước và thế giới. Bên cạnh những sản phẩm có tính “hàn lâm”, nghiên cứu chuyên sâu, cần nhiều sản phẩm có tính “thường thức” với cách thể hiện giản dị, ngắn gọn, sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, nhất là đối với lớp trẻ. 

Giảng dạy về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được coi trọng ở tất cả các cấp. Trường học, các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống trường Đảng cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tư tưởng ngại học, lười học, học mà không vận dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất hơn nữa; cần có chế độ kiểm tra, giám sát việc học tập, thưởng-phạt công minh, đưa vào tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên...

Hai là, đẩy mạnh và triển khai các hướng nghiên cứu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là góp phần bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, nhất là khi các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng một số "khoảng trống" trong tư tưởng và tiểu sử Hồ Chí Minh để tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như Chủ nghĩa Mác, là một học thuyết mở. Sức sống của một tư tưởng mở nằm ở những chỉ dẫn có tính nguyên lý. Do vậy, trong việc học tập, chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc vận dụng sáng tạo và phát triển, bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới hiện nay.

Để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, một số hướng nghiên cứu cần được thực hiện, đó là: Tiếp tục hướng nghiên cứu cơ bản nhằm làm rõ những quan điểm, tư tưởng có giá trị bền vững, phản ánh quy luật vận động của xã hội, tiếp tục “soi đường” cho cách mạng Việt Nam; những quan điểm, tư tưởng trước kia đúng đắn nhưng hiện nay đã bị thực tiễn vượt qua, cần được thay đổi hoặc bổ sung, phát triển; những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, phù hợp nhưng chưa được hiểu đúng và đủ, hoặc vận dụng chưa đúng, chưa phù hợp dẫn đến chưa hiệu quả... 

Đẩy mạnh hướng nghiên cứu vận dụng nhằm định hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra gắn với các ngành, các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Tiếp tục hướng nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, nhất là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới...

Ba là, nâng cao hiệu quả và kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận diện một cách chính xác sự xuyên tạc (âm mưu, thủ đoạn, nội dung, động cơ, hình thức) và mức độ tác động đến xã hội của từng loại xuyên tạc để có phương pháp đấu tranh phù hợp và xử lý một cách kiên quyết. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên-lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng này; duy trì và phát huy tác dụng của các nhóm chuyên gia, các đội xung kích tại các cơ quan, đơn vị, nhất là những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh vững chắc, cung cấp cứ liệu và tư liệu đầy đủ, lập luận một cách chặt chẽ, logic, bẻ gãy từ gốc sự bịa đặt, sai trái, thù địch, phản động. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh; tích cực kiểm soát có hiệu quả các trang mạng độc hại, chấn chỉnh những phát ngôn thiếu trách nhiệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kiên quyết và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bốn là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Cần tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả hơn nữa.

Cùng với đó là xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tâm, có tầm, có đức, có tài, thực sự tiêu biểu về mọi mặt, luôn tiên phong, gương mẫu trong công tác, góp phần quan trọng vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Mọi sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được kiên quyết đấu tranh loại bỏ. 

Không để người dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Không để nhân dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là vấn đề có ý nghĩa cấp bách trước mắt, mà còn là giải pháp chiến lược, cơ bản, lâu dài để nhân lên sức mạnh tổng lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp giữ gìn, bảo toàn vị thế cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng và bảo vệ những thành quả cách mạng vĩ đại của dân tộc ta dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng.

1. Lịch sử dân tộc ta đã đúc rút ra một bài học kinh nghiệm có tính quy luật: Thời kỳ nào, vương triều nào được dân tin, dân theo, dân đồng lòng, dốc sức thì hưng thịnh; ngược lại, thời kỳ nào, vương triều nào làm mất lòng dân thì sụp đổ. Nhiều bài học điển hình đã được ghi lại trong sử sách, như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước” (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn) và “Lật thuyền mới biết sức dân như nước” (Nguyễn Trãi)... Còn nếu đi ngược lòng dân, khiến dân oán hận thì sẽ dẫn đến thất bại nhanh chóng, như trường hợp Nhà Hồ gây nên thảm họa lớn, làm mất nước, rơi vào tay giặc ngoại xâm.

Trên cơ sở sự kế thừa tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong lịch sử dân tộc và quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò to lớn của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” và mỗi khi “dân khí mạnh thì binh lính nào, súng ống nào cũng không chống lại được”. Đó là một minh chứng tiêu biểu thể hiện niềm tin vào sức mạnh của nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận một cách khoa học và phát triển ở tầm cao mới.

2. Hiện nay, các thế lực phản động, thù địch ra sức phủ nhận, chống phá, xuyên tạc, hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua âm mưu “diễn biến hòa bình”, chúng ra sức hạ bệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ly gián mối quan hệ đoàn kết máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Trong thời đại công nghệ số và bùng nổ thông tin, các thế lực thù địch lợi dụng triệt để internet và mạng xã hội để xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên trang thông tin tiếng Việt của một số cơ quan truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam và một số trang mạng YouTube, Twitter, Facebook của các tổ chức "Việt Tân", "Tiếng dân", "Hội anh em dân chủ"... thường sử dụng những thông tin, sự kiện có thật nhưng được chỉnh sửa, ngụy tạo, bóp méo, đánh tráo nhằm hô hào tụ tập đông người phản đối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động dư luận, gây mất an ninh, trật tự xã hội; tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tâm lý hoài nghi với chính quyền, thổi bùng bức xúc trong nhân dân, đồng thời cổ xúy các luận điệu dân chủ, nhân quyền cực đoan, không phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam.

3. Phát huy truyền thống quý báu của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh về dựa vào nhân dân để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và thành tựu của công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn xác định “dân là gốc”, “nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới”. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định, cần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng và bảo vệ Đảng.

Đảng ta luôn coi trọng phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy nguồn lực từ nhân dân để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vì nhân dân là “tai mắt” của Đảng trong xây dựng và bảo vệ Đảng. Nhân dân có vai trò như “tấm khiên” kiên cố, vững chắc, góp phần đấu tranh phản bác, đẩy lùi các quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng và mục tiêu, sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, trước hết cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể quần chúng (đoàn thanh niên, hội phụ nữ, liên đoàn lao động, hội nông dân, hội cựu chiến binh) từ Trung ương đến cơ sở. Đa dạng hóa các hình thức tổ chức và phương thức tập hợp, vận động nhân dân; tổ chức các hội, nhóm, câu lạc bộ trong các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ sở với số lượng đoàn viên, hội viên đông đảo, giàu lòng yêu nước, yêu quê hương, nhiệt tình, trách nhiệm, sẵn sàng tham gia các hoạt động xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng ở địa phương cần khơi dậy, phát huy tiềm năng, sức mạnh to lớn của các tổ chức đó để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng từ cơ sở.      

Chú trọng chăm lo làm tốt công tác vận động quần chúng, giữ yên lòng dân. Giữ được lòng dân chính là giải pháp căn cơ để dân tin Đảng, chính quyền, tin cán bộ, từ đó nhân dân luôn có ý thức cảnh giác, kiên quyết không nghe theo các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực xấu. Ý nghĩa sâu xa hơn, chính niềm tin và sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ tạo nên sức mạnh đồng thanh, đồng lòng, góp phần tham gia đẩy lùi, làm thất bại các luận điệu sai trái, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Quan tâm giáo dục, truyền bá tư tưởng của Đảng đến với người dân bằng nhiều hình thức và phương pháp đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu những vấn đề cơ bản về bảo vệ Đảng, làm cơ sở để nhận diện được các luận điệu sai trái và biết cách tham gia đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đặc biệt coi trọng giáo dục thế hệ trẻ nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tin tưởng và ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng.

Làm tốt công tác định hướng dư luận. Để định hướng được dư luận đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ chuyên trách ở mỗi địa phương có đủ cả tâm, tầm, tài, trách nhiệm chính trị cao. Họ vừa phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, bản lĩnh chính trị vững vàng, vừa có nhãn quan chính trị sắc bén, tiếp nhận thông tin chính thống để xử lý, cung cấp thông tin cho phù hợp với đối tượng ở địa phương; đồng thời nắm bắt diễn biến tâm trạng, tư tưởng và dư luận nhân dân để kịp thời tác động, định hướng một cách phù hợp, hiệu quả, mang lại lợi ích tối đa cho sự nghiệp chung. 

Trong công tác thông tin tuyên truyền cần coi trọng phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”; tăng cường quảng bá, lan tỏa cái hay, cái tốt trong đời sống xã hội. Hiện nay, sự phát triển ồ ạt của các trang mạng xã hội kéo theo nhiều nguy cơ nan giải. Thông tin trên các mạng xã hội rất đa chiều, phức tạp, đan xen cả tích cực và tiêu cực. Do vậy, sau khi nhận diện, phân loại đúng-sai, tốt-xấu, hay-dở, các cấp ủy, tổ chức đảng và đoàn thể quần chúng cần hướng dẫn, động viên, khích lệ người dân tích cực tham gia tương tác, chia sẻ, lan tỏa những thông tin tích cực, tiến bộ, nhân văn; đồng thời chủ động đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ những thông tin xấu độc, sai trái, gây hại cho Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Có thể khẳng định rằng, việc không để nhân dân đứng ngoài “cuộc chiến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là vấn đề có ý nghĩa cấp bách trước mắt, mà còn là giải pháp chiến lược, cơ bản, lâu dài để nhân lên sức mạnh tổng lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp giữ gìn, bảo toàn vị thế cầm quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng và bảo vệ những thành quả cách mạng vĩ đại của dân tộc ta dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Suy diễn chủ quan, phiến diện - mảnh đất màu mỡ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 

Ở cơ quan, đơn vị hay trong đời sống, chúng ta có thể bắt gặp những người chuyên chắp nối các sự việc, hiện tượng riêng lẻ mà họ nắm bắt được để từ đó suy diễn, hình thành nên câu chuyện mang màu sắc của “thuyết âm mưu”. Suy diễn như vậy luôn tạo ra sự ngờ vực, mất đoàn kết, mất niềm tin, là mảnh đất màu mỡ của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nhận diện suy diễn chủ quan

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Suy diễn là suy ra điều này, điều nọ một cách chủ quan”. Nghĩa là trước một vấn đề, một sự kiện nào đó nổi cộm hoặc liên quan đến quyền lợi của một người, họ sẽ nhìn nhận, suy đoán, phán xét, hướng lái vấn đề theo quan điểm cá nhân. Như vậy, các vấn đề, sự kiện, nội dung suy diễn sẽ bị chi phối bởi lợi ích và trình độ nhận thức của người suy diễn.              

Tiếp cận theo góc độ đó thì suy diễn là hoạt động tâm lý âm thầm diễn ra trong tư tưởng của một con người. Sau một quá trình suy diễn, họ thường có xu hướng tìm những người đồng cảm, nhóm đồng cảm, nhóm chung để chia sẻ, cùng bình luận về vấn đề đang được bản thân họ “mổ xẻ”. Như vậy, suy diễn có thể diễn ra trong suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng của một cá nhân; cũng có thể diễn ra trong nhóm chung, trong nhóm người cùng sở thích, trong câu lạc bộ với nhau để thể hiện ý kiến, thái độ, bình luận, chia sẻ của mình đối với những vấn đề mà cá nhân và nhóm đang quan tâm.

Mỗi ngày, con người thường chịu tác động của nhiều thông tin trong công việc, cuộc sống, vì vậy có hàng nghìn suy nghĩ về nhiều vấn đề. Do đó, những vấn đề mà con người có thể suy diễn cũng rất đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, thường con người hay suy diễn tập trung vào những vấn đề mang tính nổi cộm trên các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến quyền lợi của bản thân.

Những vụ việc “nổi cộm”, “chấn động” thường thu hút sự chú ý và suy diễn, như vấn đề cán bộ giữ các trọng trách ở Trung ương, địa phương bị kỷ luật, bị xử lý hình sự vì tham nhũng, tiêu cực, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống; chính sách A, quy định B đang dự thảo để ban hành; doanh nghiệp A, doanh nghiệp B phát triển “khủng”; tình hình chính trị - xã hội, vấn đề an ninh, an toàn; vấn đề nhân sự cán bộ trong bộ máy hệ thống chính trị, nhất là trước kỳ đại hội đảng... Hẹp hơn có thể là vấn đề liên quan đến nhân sự cán bộ trực tiếp ở cơ quan, đơn vị; vấn đề khen thưởng; kỷ luật nội bộ; chế độ, chính sách; mối quan hệ đoàn kết nội bộ...

Nếu như các lực lượng thù địch suy diễn rồi đơm đặt các vấn đề dẫn tới nhiễu loạn thông tin, thật giả lẫn lộn, tạo hỏa mù chỉ là sự tác động từ bên ngoài đến đối tượng người nghe, người xem, người tiếp nhận thông tin thì suy diễn lại chịu tác động kép, nó vừa diễn ra ngay trong chính bản thân của một người, vừa chịu tác động của những thông tin nhiều chiều từ bên ngoài xoay quanh vấn đề đó. Vì vậy, nguy cơ tiềm ẩn lớn hơn và nguy hiểm hơn là khi bản thân họ tin, hành động theo suy diễn của chính mình và được cộng hưởng bởi những thông tin nhiễu loạn khác.

Trước một sự kiện, một nhiệm vụ, một vấn đề, một vụ việc nổi cộm nào đó, nếu con người có bản lĩnh, biết cách suy nghĩ theo chiều hướng tích cực sẽ rất tốt. Ngược lại, sẽ rất nguy hiểm nếu trong tư tưởng của họ diễn ra quá trình suy diễn theo chiều hướng tiêu cực. Vì đó chính là khi người suy diễn tự đưa bản thân vào vòng xoáy của vấn đề tiêu cực, dẫn tới luẩn quẩn, hoài nghi, hoang mang, lung lay niềm tin, chính mình tạo ra “mảnh đất màu mỡ” cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nếu không kịp thời tỉnh ngộ. Kế tiếp, nguy hiểm hơn là sự lan tỏa những suy nghĩ tiêu cực, những bình luận, những đánh giá vấn đề thiếu căn cứ, thiếu lập luận, thiếu kiểm chứng ấy cho nhiều người khác, gây ra “hiệu ứng” dây chuyền, mức độ ảnh hưởng rộng hay hẹp tùy thuộc vào vị thế xã hội của người suy diễn.

Hậu quả nguy hại

Bắt đầu từ sự hoài nghi hoặc tò mò về những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, vấn đề nội bộ, do thiếu định hướng và bị chi phối bởi quan điểm cá nhân nên người suy diễn chủ quan sẽ đi càng ngày càng xa bản chất của vấn đề. Càng suy diễn càng tò mò, càng mông lung, rơi vào vòng luẩn quẩn không biết đâu là điểm dừng. Điều đó dễ dẫn tới sự ngụy biện, quy kết, thậm chí phát ngôn mang tính áp đặt, định kiến, thiếu ý thức xây dựng. Chẳng hạn từ vấn đề phòng, chống tham nhũng, vấn đề vi phạm kỷ luật, pháp luật của một số cán bộ các cấp, người suy diễn có thể sẽ “mổ xẻ” thêm những vấn đề như hiệu quả quy hoạch, sử dụng, phát hiện đội ngũ cán bộ; truy trách nhiệm công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ thuộc về ai, tổ chức, cá nhân nào; thậm chí cố tình quy chụp vấn đề đó là mất đoàn kết, đấu đá phe cánh, thanh trừng nội bộ...

Suy diễn này rất nguy hiểm, bởi đó là lối suy nghĩ vấn đề theo hướng tiêu cực, áp đặt cá nhân, thiếu định hướng. Khi những vấn đề, những suy nghĩ mang tính áp đặt cá nhân đó được chia sẻ sẽ nhanh chóng lan ra và tác động đến nhận thức, tư tưởng của những người khác trong nhóm, rồi từ nhóm này lan sang nhóm khác. Chớp cơ hội này, các thế lực thù địch sẽ cóp nhặt, thêu dệt, khoét sâu thậm chí tìm cách tương tác, bình luận theo hướng “thêm dầu vào lửa”, kích động nếu đó là những vấn đề nhạy cảm, nhất là vấn đề chính trị.

Như vậy, từ sự suy diễn trong tư tưởng một người vô tình tiếp tay, “nối giáo cho giặc”, tạo cho chúng thêm cơ hội để lợi dụng chống phá chế độ. Sự tác động ngược trở lại của những người trong nhóm và lực lượng thù địch, chống phá khiến người suy diễn tiếp tục suy diễn vấn đề theo hướng tiêu cực hơn, khi đến giới hạn nào đó sẽ dẫn tới phát ngôn, hành động để thể hiện hoặc bảo vệ quan điểm của mình. Lúc này, người suy diễn bắt đầu bước sang một giai đoạn mới, đó là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Cần làm gì để phòng, chống suy diễn chủ quan, phiến diện

Để ngăn ngừa hiện tượng suy diễn chủ quan trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân thì cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng. Theo đó, cần làm tốt công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, tạo sự thống nhất, đồng thuận trong xã hội, trong tổ chức đối với sự nghiệp cách mạng. Đây là vấn đề căn cốt để từng con người trong xã hội, trong tổ chức nhìn nhận khách quan, đúng định hướng các vấn đề.

Trên cơ sở được tuyên truyền, giáo dục, định hướng, mỗi người phải tự mình nâng cao nhận thức, bản lĩnh, trách nhiệm chính trị, chủ động suy nghĩ có trách nhiệm với các vấn đề nảy sinh, từ đó tạo ra “bộ lọc” ngay trong chính mỗi người. Còn việc tạo “bộ lọc” trong môi trường xã hội, môi trường công tác là trách nhiệm thuộc về cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.

Trọng tâm là làm tốt công tác theo dõi, tổng hợp, sàng lọc thông tin, phát hiện sớm những vấn đề nổi cộm của dư luận, những âm mưu, thủ đoạn chống phá, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch, từ đó kịp thời định hướng nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân... Đồng thời thông qua nhiều kênh để cung cấp thêm thông tin, những minh chứng xác đáng, minh bạch về các vấn đề mà dư luận quan tâm, các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân. Đối với tổ chức, cần tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kịp thời phát hiện những tư tưởng, nhận thức lệch lạc trong mỗi cá nhân, trong từng nhóm để có giải pháp định hướng, khắc phục phù hợp, ngăn chặn sự suy diễn trước khi nó chuyển sang giai đoạn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

“Bệnh lãnh đạo”

 

Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy Nhà nước được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, ở một số cơ quan, đơn vị, “bệnh lãnh đạo” vẫn tồn tại như một căn bệnh mãn tính, không chỉ làm giảm sút hiệu quả công việc mà còn ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, gây ra bức xúc trong dư luận về sự chậm trễ, kém hiệu quả.

“Bệnh lãnh đạo” là gì?

“Bệnh lãnh đạo” thực chất là những người lãnh đạo thiếu năng lực, thiếu phẩm chất, không đủ tư duy và khả năng để đưa ra những quyết sách đúng đắn, điều hành công việc hiệu quả. Những người mắc “bệnh lãnh đạo” thường thể hiện sự bảo thủ, trì trệ, thiếu quyết đoán, không chịu lắng nghe ý kiến của cấp dưới và quần chúng nhân dân. Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, những người lãnh đạo mắc bệnh chủ quan, duy ý chí, không sát dân, thiếu năng lực, không chịu học hỏi và cải tiến công tác sẽ gây hậu quả nghiêm trọng: “Làm việc phải có kế hoạch, phải chú ý đến tình hình, phải biết lắng nghe và sửa chữa những sai lầm của mình... Nếu lãnh đạo mà chỉ chăm chăm vào lợi ích cá nhân, mà không chú ý đến lợi ích của dân, của đất nước, thì dù có giỏi, có tài đến đâu cũng chẳng làm nên trò trống gì”.

Biểu hiện rõ nét của “bệnh lãnh đạo” qua 3 yếu tố: Năng lực, trách nhiệm và đạo đức. Trong đó, năng lực lãnh đạo yếu kém là biểu hiện dễ nhận thấy nhất. Những người cán bộ thiếu năng lực không thể xây dựng kế hoạch, quyết sách đúng đắn; thiếu khả năng phân tích, đánh giá tình hình; thiếu sự nhạy bén trong công tác lãnh đạo, dẫn đến tình trạng công việc trì trệ, không thực hiện được mục tiêu đề ra. Thiếu trách nhiệm trong công tác lãnh đạo là một biểu hiện nghiêm trọng của “bệnh lãnh đạo”. Người cán bộ không nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của mình, thường xuyên đùn đẩy, né tránh hoặc không chủ động giải quyết công việc; khiến công việc trì trệ, gây ra những hậu quả lâu dài cho tổ chức và xã hội.

Thực tế đã và đang cho thấy, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống không chỉ tiềm tàng ở một nơi nào đó mà nó hiện diện tại không ít nơi, không chỉ ở một vài người hay nhóm người nào đó mà đáng lo ngại là, hiện diện khá rộng và phức tạp trong một bộ phận đáng kể, nhất là đối với đội ngũ lãnh đạo. Những biểu hiện này hết sức phức tạp, tinh vi, dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau; từ không giữ vững được bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trực tiếp gây tổn hại đến vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín chính trị của Đảng, chức năng, vai trò và trọng trách quản lý, điều hành của Nhà nước và sức mạnh của hệ thống chính trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hệ lụy của “bệnh lãnh đạo”

Những hệ lụy mà “bệnh lãnh đạo” gây ra là vô cùng lớn, không chỉ làm suy giảm hiệu quả công tác lãnh đạo mà còn gây tổn hại trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, đánh mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Xin dẫn chứng một ví dụ: Theo báo cáo của Thanh tra Chính phủ, từ đầu năm 2016 đến nay, có đến 8/88 trạm thu phí trên cả nước gặp phải sự phản đối của người dân, trong đó nhiều dự án bị đình trệ hoặc phải điều chỉnh do thiếu sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời, sát sao từ các cấp lãnh đạo. Chính biểu hiện chủ quan, nóng vội, bảo thủ, quan liêu của “bệnh lãnh đạo” đã đưa đến quyết định sai lầm, không phù hợp thực tiễn, gây thiệt hại lớn về kinh tế, giảm sút niềm tin của nhân dân. Theo Báo cáo của Đoàn Giám sát Quốc hội về thực hiện chính sách, pháp luật về tiết kiệm và chống lãng phí trong giai đoạn 2016-2021 cho thấy nhiều dự án đầu tư công với quyết định chậm chạp, thiếu minh bạch đã dẫn đến sai phạm, gây thất thoát gần 32.000 tỷ đồng. Những con số này phần nào phản ánh chất lượng, hiệu quả còn thấp kém của công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Một hệ lụy khác của “bệnh lãnh đạo” là sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào chính quyền. Những vụ án tham nhũng liên tiếp bị phanh phui đã làm dấy lên sự hoài nghi trong công chúng về sự minh bạch và trách nhiệm trong công tác lãnh đạo. Những vụ việc này không chỉ làm xói mòn niềm tin của người dân mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước, gây bức xúc đối với nhân dân, tạo dư luận xấu trong xã hội. Bên cạnh đó, “bệnh lãnh đạo” còn gây hệ lụy lớn đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội, tạo “khe hở” cho tham nhũng, gây lãng phí, thất thoát tài sản của Nhà nước, của nhân dân. 

Hiện nay, quá trình thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy, “bệnh lãnh đạo” đã và đang bộc lộ những ảnh hưởng tiêu cực, gây khó khăn lớn cho tiến trình thực hiện chủ trương, biểu hiện rõ nét nhất là sự “ngại thay đổi”, thiếu quyết liệt và lúng túng trong lãnh đạo, chỉ đạo. Điều này không chỉ làm chậm tiến độ thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy mà còn gây lãng phí nguồn lực, làm mất thời cơ “vươn mình” của cả dân tộc. Ở những thời điểm “nước sôi lửa bỏng” nhưng khi được hỏi về quá trình đã giải quyết công việc đến đâu, có đồng chí cán bộ vẫn trả lời rằng: “Chưa thấy cấp dưới trình lên”. Người lãnh đạo không chỉ đợi trình lên mà trong những hoàn cảnh cụ thể phải xắn tay vào việc. Có như vậy, việc mới nhanh, mới thông và người cán bộ mới xứng đáng là công bộc của dân.

Kiên quyết loại bỏ tình trạng “bệnh lãnh đạo” hiện nay

Để loại bỏ “bệnh lãnh đạo” trong bộ máy Nhà nước, trước hết cần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu các cấp về vai trò và trách nhiệm của bản thân. Đồng thời, người lãnh đạo phải thường xuyên tu dưỡng, tự chỉnh đốn mình, tự khép mình vào kỷ luật một cách toàn diện và triệt để, tự biết xấu hổ khi không chấp hành kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không hoàn thành nhiệm vụ và tự giác từ nhiệm, từ chức khi bản thân không xứng đáng với vị trí đảm nhiệm.

Song song với đó, cần xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình mới, trong đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần được thực hiện một cách có hệ thống, khoa học và hiệu quả. Các chương trình đào tạo cần gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương, đơn vị. Việc bồi dưỡng không chỉ chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn mà còn phải đặc biệt coi trọng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, những cán bộ yếu kém về năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cần được đào thải, trái lại, những người có năng lực, phẩm chất tốt cần được khuyến khích phát triển, tạo cơ hội thăng tiến.

Để giải quyết triệt để "bệnh lãnh đạo", một giải pháp then chốt là tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt định kỳ và bất thường trong toàn hệ thống chính trị. Quán triệt quan điểm: Không ai, không một tổ chức nào được nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật và pháp luật. Các cơ chế kiểm tra cần được triển khai một cách chặt chẽ, công khai, minh bạch, bảo đảm  tính khách quan và hiệu quả. Những cán bộ lãnh đạo là đảng viên hư hỏng, thoái hóa, biến chất thì một mặt, phải bị khai trừ ra khỏi Đảng; mặt khác, nhất định phải bị sa thải ra khỏi bộ máy công quyền; kết hợp chặt chẽ giữa chống “diễn biến hòa bình” với chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Cùng với đó, khắc phục tình trạng “chuyên quyền, độc đoán” và “quan liêu, xa dân” cũng là một biện pháp quan trọng trong loại bỏ “bệnh lãnh đạo”. Theo đó, cần tăng cường việc gần dân, sát dân của đội ngũ cán bộ lãnh đạo; phải thường xuyên lắng nghe, tiếp xúc và thấu hiểu những tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, từ đó kịp thời đưa ra các quyết sách sát thực tiễn, giải quyết hiệu quả những vấn đề bức xúc trong đời sống. Lãnh đạo các cấp cần tự ý thức rõ trách nhiệm, chủ động tháo gỡ khó khăn cho người dân, nâng cao hiệu quả công việc, đồng thời củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Đây chính là yếu tố quan trọng để xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh và thực sự phục vụ nhân dân.

Một vấn đề quan trọng, đó là thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình là một yêu cầu cấp thiết để phát hiện và khắc phục kịp thời những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo. Đây là một trong những phương thức quan trọng để lãnh đạo các cấp nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời tự rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo. Công tác phê bình và tự phê bình không chỉ giúp xây dựng đội ngũ lãnh đạo trong sạch, vững mạnh mà còn góp phần quan trọng trong việc duy trì kỷ luật, kỷ cương, gia tăng niềm tin của nhân dân về công tác lãnh đạo với Đảng, Nhà nước, góp phần phê phán, loại bỏ “bệnh lãnh đạo” hiện nay.