Thứ Tư, 13 tháng 1, 2021

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin - Điều không thể xuyên tạc

 Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã không ngừng phủ nhận, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, mà một trong những thủ đoạn thâm độc của chúng là cố tình tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hành động này chẳng khác gì cắt đi một cái gốc quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài viết tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh chính là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin, đây là điều cần khẳng định, không ai có thể xuyên tạc được.

1. Nhìn lại cho đúng

Các thế lực chống đối chế độ chính trị hiện nay của Việt Nam tập trung tấn công vào thế chân vạc làm chỗ đứng cho chế độ ta: (1) Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Chủ nghĩa xã hội; (3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Hễ một trong ba điểm đó yếu thì chế độ chính trị sẽ yếu. Và, nếu hai hoặc cả ba điểm đó yếu thì thế chân vạc sẽ bị triệt tiêu.

Đáng chú ý là, sự bôi nhọ, xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra một cách rất dai dẳng, quyết liệt, thâm hiểm, với nhiều kiểu, nhiều dạng, lúc thì tinh vi, lúc thì “vòng vo tam quốc”, ẩn dụ, ném đá giấu tay, lúc thì trực diện “vỗ mặt” với lời lẽ hằn học, chát chúa. Có ý kiến cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là sự sao chép chủ nghĩa Mác - Lênin mà thôi. Có ý kiến ngược lại, cho rằng, Hồ Chí Minh không thực sự theo chủ nghĩa Mác - Lênin biểu hiện là ở chỗ Hồ Chí Minh nêu cao chủ nghĩa dân tộc, với ý đi ngược lại/xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin (đòi “xem xét lại chủ nghĩa Mác”(1)); rằng, Hồ Chí Minh coi trọng V.I.Lênin mà không coi trọng C.Mác, với ý là trong tác phẩm Đường cách mệnh (năm 1927), Hồ Chí Minh nhấn mạnh Các Mác “là (nhà) kinh tế học cách mệnh”(2) mà không nhấn mạnh rằng, C.Mác chính là người đã xác lập lý luận chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học, là “ông tổ” của học thuyết khoa học và cách mạng mà các Đảng Cộng sản (ĐCS) trên thế giới lấy đó làm cơ sở lý luận phát triển cho mình. Có một số ý kiến cho rằng, Hồ Chí Minh không hẳn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng Hồ Chí Minh chỉ coi chủ nghĩa Mác - Lênin như là một phương tiện hoạt động mà thôi; dẫn chứng là tại Đại hội II của Đảng (2-1951), Hồ Chí Minh còn đề cao cả J.Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông; rồi ở nhiều bài nói, bài viết khác, Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lênin “như cái cẩm nang thần kỳ”; Hồ Chí Minh tự nhận mình là “học trò nhỏ” của một loạt nhân vật mà các vị này không đồng chí hướng chính trị, tín ngưỡng: C.Mác, V.I.Lênin, Khổng Tử, Giêsu, Thích Ca Mâu Ni, Tôn Dật Tiên...Như vậy được hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là một trong nhiều luồng tư tưởng, học thuyết mà Hồ Chí Minh sử dụng để đạt mục đích hoạt động chính trị của mình mà thôi.

Những ý kiến trên đây đều không đúng, thậm chí có thể do cái tâm không lành hoặc do cách thức nghiên cứu, những người có ý kiến loại này đã cắt khúc, tách rời các luận điểm của Hồ Chí Minh, không đặt vào một hệ thống. Hồ Chí Minh khẳng định một cách chắc chắn rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là “mặt trời soi sáng”, là “trí khôn” của con người, là “bàn chỉ nam” cho con tàu đi. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa đó. Rồi Hồ Chí Minh dẫn một đoạn như là “đề từ” cho cả tác phẩm này ngay ở bìa 1, ý của V.I.Lênin trong tác phẩm Làm gì?: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động...Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”(3), nghĩa là đảng phải có một lý luận chính trị dẫn đường. Và, Hồ Chí Minh thấy rằng, bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin; “phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”(4). Theo cách của ngôn ngữ hiện nay, thì chủ nghĩa Mác - Lênin đúng là nền tảng tư tưởng (“trí khôn” của con người) và kim chỉ nam (“bàn chỉ nam”) cho hành động của tổ chức và người cộng sản chứ dứt khoát không phải là phương tiện.

Về thực chất, Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở để đạt mục đích tối cao là giải phóng con người một cách hoàn toàn và triệt để. Sự giải phóng này chỉ có thể thực hiện được dưới chế độ cộng sản chủ nghĩa - điều mà trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen khảm một ý bất hủ: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(5).

Tư tưởng Hồ Chí Minh là dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện rõ nhất ở 1) Vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, làm cho lý luận Mác - Lênin thấm vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; 2) Lấy yếu tố không thay đổi (nguyên lý cơ bản) để ứng với muôn vàn sự thay đổi của tình hình (như lời Hồ Chí Minh nói với Huỳnh Thúc Kháng năm 1946: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”); 3) Quá trình bảo vệ và phát triển lý luận Mác - Lênin.

2. Dòng tiếp nối của tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự tiếp nối tư tưởng/lý luận/học thuyết Mác - Lênin ở nhiều điểm. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung vào 5 điểm chính sau:

(1) Về mục tiêu và con đường phát triển của dân tộc Việt Nam.

Đó là mục tiêu chủ nghĩa cộng sản, con đường là làm cách mạng tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng. Sau này, trong văn kiện của Đảng, mục tiêu đó được diễn đạt bằng nhiều cụm từ như “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”, “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Trong tư duy của Hồ Chí Minh, mục tiêu này bao gồm nội dung giải phóng dân tộc, nội dung dân chủ (dân chủ ở đây chủ yếu là giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân) và nội dung cách mạng XHCN.

Một số người nhận định không đúng về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH do Hồ Chí Minh tìm và chọn những năm 1910 - 1920 của thế kỷ XX. Họ cho rằng, Hồ Chí Minh đã chọn sai, và hệ lụy, theo họ, là khiến cho đất nước Việt Nam lâm vào nhiều cuộc chiến tàn khốc không cần thiết; rằng, vì mục tiêu và con đường mà Hồ Chí Minh chọn không đúng, cho nên đất nước Việt Nam mới tiến chậm chạp trong khi tiềm lực, tiềm năng của đất nước rất lớn, nếu chọn đúng mục tiêu và con đường (mục tiêu và con đường tư bản chủ nghĩa), thì dân tộc Việt Nam sẽ sớm sánh vai với các cường quốc năm châu, chứ đâu phải như hiện thời, đất nước mới vừa thoát nghèo, GDP đầu người năm 2019 chỉ đạt gần 3 nghìn đôla Mỹ, vẫn chưa thoát ra khỏi cái bẫy của nước thu nhập trung bình, trong khi mức GDP bình quân đầu người thế giới đang đạt con số gần 9 nghìn đôla Mỹ.

Thực tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã kiểm nghiệm nhiều mục tiêu và con đường phát triển. Cần Vương ư? Vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp để rồi quay lại củng cố chế độ phong kiến thì chính là đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội Việt Nam, vì chế độ phong kiến Việt Nam đã bị khủng hoảng từ thế kỷ XVI, đến thế kỷ XIX lại càng khủng hoảng hơn. Dân chủ tư sản ư? Kể cả hình thức cộng hòa đại nghị và quân chủ lập hiến tuy là mới đối với Việt Nam nhưng đã là cũ và lỗi thời đối với thế giới. Các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học...đầy dũng khí nhưng đường lối, phương pháp cách mạng không hợp với đất nước. Do vậy, các phong trào đấu tranh yêu nước đó thất bại nhanh chóng, thất bại không phải chỉ vì Việt Nam có vũ khí thô sơ, kỹ thuật tác chiến thua kém so với lực lượng xâm lược Pháp, mà chủ yếu là do các phong trào yêu nước đó không hợp thời. Xu thế mới - con đường cách mạng vô sản theo lý luận C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã nêu lên, Hồ Chí Minh là người đáp ứng được yêu cầu của xu thế phát triển này một cách xuất sắc. Nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh là nhận thức, hành động của người đại diện, người đi tiên phong của xu thế đó.

Sự phủ nhận mục tiêu và con đường mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn chính là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, là sự về hùa cùng các thế lực thù địch nhằm đả kích, xuyên tạc lý luận Mác - Lênin, muốn “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh. Đành rằng, trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế đã từng xuất hiện một số kẻ độc tài, chuyên quyền; có một số hủ bại, thoái hóa, nhưng đó không phản ánh bản chất của lý luận về CNXH mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã nêu lên. Cũng tương tự như vậy, trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam, đã có một số tiêu cực, nhưng đó chỉ là những hiện tượng không phản ánh bản chất.

(2) Đối với cách mạng giải phóng dân tộc.

Hồ Chí Minh là người đã “đính chính”, nói cách khác là vận dụng, bổ sung, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chính quốc”. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đều có điểm chung khi khẳng định sự gắn kết chặt chẽ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Nhưng, vấn đề đặt ra là quan hệ giữa cách mạng vô sản ở “chính quốc” và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa là quan hệ ngang hàng nhau, hay đó là quan hệ chính - phụ, cái nọ phụ thuộc vào cái kia? Về vấn đề này, lý luận Mác - Lênin cho rằng, cách mạng vô sản ở “chính quốc” đóng vai trò quyết định, sẽ nổ ra và giành thắng lợi trước, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa thành công. C.Mác viết: “So với các nước khác, Anh là nước mà ở đó sự đối lập giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đã đạt tới trình độ phát triển cao hơn cả. Do vậy, thắng lợi của những người vô sản Anh đối với giai cấp tư sản Anh có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của tất cả những người bị áp bức đối với những kẻ áp bức họ. Đó là nguyên nhân vì sao mà phải giải phóng Ba Lan không phải ở Ba Lan, mà là ở Anh”(6). Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen xác định rằng, chế độ người bóc lột người chính là căn nguyên dẫn đến sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác, vì vậy, giải quyết vấn đề dân tộc ở các nước thuộc địa lại tùy thuộc vào việc giải quyết vấn đề giai cấp, trước hết là ở các nước “chính quốc”. Do đó, các ông chủ trương: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”(7).

So với C.Mác và Ph.Ăngghen thì V.I.Lênin có điều kiện thực tế để quan tâm nhiều đến phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa và phụ thuộc, trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc đã thiết lập ách thống trị ở nhiều nước châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh. Song, rất tiếc là V.I.Lênin cũng có quan điểm giống C.Mác và Ph.Ăngghen về sự phụ thuộc của cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Là người xuất thân từ một nước thuộc địa, vận dụng thành công phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin vào phân tích điều kiện cụ thể của Việt Nam và một số thuộc địa khác, Hồ Chí Minh một mặt luôn khẳng định phải nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, không trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm vào sự giúp đỡ của bên ngoài; mặt khác, Người nhận thấy rằng, thuộc địa chính là nơi tập trung những mâu thuẫn gay gắt nhất của thế giới lúc đó, là nơi kết tụ những “nọc độc” và “sức sống” của “con rắn độc tư bản chủ nghĩa”. Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa vẫn có tính độc lập trong mối quan hệ với cách mạng vô sản ở “chính quốc” và điều này là quan trọng hơn cả: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể nổ ra, giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở “chính quốc”, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân ở “chính quốc” trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, giành chính quyền (tức là “đánh rắn đằng đầu”).

(3) Đối với vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.

Trong lý luận của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen thường đề cập vấn đề xây dựng và phát triển tổ chức cộng sản ở môi trường xã hội công nghiệp, khi giai cấp công nhân đại cơ khí/đại công nghiệp đã hình thành và phát triển. Từ môi trường xã hội đại công nghiệp, ĐCS tổ chức cho giai cấp công nhân liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Thực tế cho thấy, thời của C.Mác và Ph.Ăngghen, chưa có một tổ chức cộng sản nào cầm quyền trên thế giới, cho nên quan điểm của hai ông chưa được kiểm nghiệm một cách chắc chắn trong thực tế. Đến thời kỳ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, V.I.Lênin có khoảng 6 năm đứng đầu ĐCS cầm quyền, đã áp dụng nhiều chủ trương phát triển đất nước lên CNXH trong điều kiện rất đặc thù của nội chiến, của những năm sau Chiến tranh thế giới thứ I. V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, ngoài tính chất lý luận và bản chất giai cấp công nhân của Đảng bônsêvích, cần lưu ý phải đưa nhiều công nhân vào Đảng để cải thiện thành phần trong Đảng vì số lượng đảng viên xuất thân từ giai cấp công nhân ở nước Nga (sau này là cả ở Liên Xô) còn ít. Điều này có khác với thời kỳ khi C.Mác và Ph.Ăngghen sống. Nó có căn nguyên là, môi trường xã hội nước Nga, và sau này là Liên Xô, không phải là một nước công nghiệp, không như hoàn cảnh hình thành lý luận C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu khi đề cập đến vấn đề ĐCS.

Liệu có xây dựng được một tổ chức ĐCS theo chủ nghĩa Mác - Lênin ở môi trường kinh tế lạc hậu, chậm phát triển như ở Việt Nam không, khi mà đầu thế kỷ XX, có tới gần  95% dân số là nông dân, số lượng giai cấp công nhân rất ít so với tổng số dân cư (vào thời điểm Đảng bắt đầu cầm quyền, số lượng giai cấp công nhân khoảng hơn 200 nghìn người) và quá trình giai cấp công nhân tiến lên một giai cấp công nhân đại công nghiệp diễn ra rất chậm chạp? Hồ Chí Minh là người trả lời cả về mặt lý luận và thực tiễn là: hoàn toàn xây dựng được. Hồ Chí Minh nêu lên quy luật ra đời của ĐCS Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Nhưng, cần nhấn mạnh thêm: không những là quy luật ra đời mà còn là quy luật phát triển của Đảng nữa, vì nó có ý nghĩa lớn đối với một đảng cầm quyền như ĐCS Việt Nam. Chính việc đưa thêm yếu tố phong trào yêu nư­ớc vào kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân đã làm cơ sở cho tư­ tư­ởng chiến lư­ợc của Đảng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở xã hội của Đảng không chỉ là giai cấp công nhân mà còn là toàn thể nhân dân lao động. Hồ Chí Minh đã không ít lần bày tỏ quan điểm này khi cho rằng, bản chất giai cấp của Đảng là bản chất giai cấp công nhân. Nhưng Đảng không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà đồng thời còn là của nhân dân lao động và toàn dân tộc.

Thời kỳ của C.Mác và Ph.Ăngghen còn sống, chưa có cuộc cách mạng vô sản nào giành được thắng lợi. Công xã Pari năm 1871 là cuộc thể nghiệm đầu tiên của giai cấp vô sản Pháp vùng lên với khí thế xung thiên đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, phá bỏ nhà nước của giai cấp tư sản, lập nên nhà nước của giai cấp công nhân Pháp, nhưng lúc đó ĐCS Pháp chưa ra đời. Những tổng kết của C.Mác trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp, tuy biểu đạt năng lực tư duy rất nhanh nhạy của C.Mác (tổng kết ngay khi Công xã Pari đang diễn ra), nhưng đối với riêng vấn đề đảng của giai cấp công nhân lại chưa có gì để nói bởi thực tế chưa có. Quốc tế I, Quốc tế công nhân, thời của C.Mác và Ph.Ăngghen thì cũng chưa có một ĐCS riêng của một dân tộc nào. ĐCS cầm quyền, do đó, ngay trong dự đoán của hai ông cũng chưa có.

V.I.Lênin nêu lên một số vấn đề có tính nguyên tắc về đảng vô sản kiểu mới của giai cấp vô sản, rõ nhất là từ năm 1903 với việc hình thành ĐCS (b) Nga, khi có sự phân liệt trong Đảng Công nhân Dân chủ - Xã hội Nga thành hai phái: bolshevik và melshevik. Đây là những nội dung chung cho tất cả các thời kỳ, chứ không riêng cho thời kỳ ĐCS cầm quyền. “Đảng ta là Đảng cầm quyền”(8) là cụm từ do Hồ Chí Minh nêu lên rõ nhất trong Di chúc. Tính từ tháng 9-1945 đến tháng 9-1969, Hồ Chí Minh giữ trọng trách lãnh tụ của ĐCS cầm quyền trong 24 năm. Sự cầm quyền của ĐCS Việt Nam được xác lập thông qua Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi và được khảo nghiệm, thử thách qua hoàn cảnh vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trải qua kháng chiến, chiến tranh cách mạng. Hồ Chí Minh đã vận dụng những nguyên lý chung của V.I.Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản vào xây dựng ĐCS Việt Nam cầm quyền. Người bổ sung, phát triển lý luận của V.I.Lênin trên nhiều vấn đề, đặc biệt có ba vấn đề chủ yếu nhất: 1) Vấn đề Đảng của ai; 2) Xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng; 3) Nhấn mạnh những vấn đề Đảng cầm quyền trong điều kiện lãnh đạo Nhà nước.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh ĐCS Việt Nam cầm quyền là Đảng của đạo đức và văn minh. Muốn thế, Đảng phải tỏ rõ về thực chất Đảng “là đạo đức, là văn minh”(9). Tư cách của một ĐCS cầm quyền - đó chính là điểm bổ sung, phát triển lớn của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Mác - Lênin. Quyền mà Đảng cầm là từ nhân dân trao cho. Sự cầm quyền của Đảng không phải cứ tự nhận mà được, mà do uy tín của Đảng qua các thời kỳ cách mạng và từ đó mà nhân dân tin tưởng trao cho Đảng quyền lãnh đạo đất nước. Điều này cũng đi liền với một tất yếu khác: muốn bảo đảm sự cầm quyền thì Đảng phải thường xuyên tự đổi mới và tự chỉnh đốn, làm cho Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh; Đảng phải luôn luôn nâng cao vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền và sức chiến đấu của mình đối với sự phát triển của đất nước. Như vậy, vai trò cầm quyền của Đảng là chính đáng. Nhưng, sự cầm quyền của Đảng sẽ không còn, nếu Đảng bị thoái hóa, biến chất. Do đó, sự cầm quyền của Đảng là tất yếu, là chính đáng cần đi liền với quá trình Đảng rèn luyện, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải trong sạch, vững mạnh, không bị sa vào các tiêu cực - những nguy cơ rất dễ nhận thấy trong điều kiện họ có chức, có quyền trong bộ máy của hệ thống chính trị. Và, điều đặc biệt ở tư duy cũng như hành động của Hồ Chí Minh, là một điểm bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, là ở chỗ Hồ Chí Minh lưu ý đậm nét tới lãnh đạo - phục vụ của Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh coi lãnh đạo cũng tức là “làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”(10), “phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(11).

(4) Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền.

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin hầu như chưa đề cập hoặc đề cập rất ít vấn đề nhà nước pháp quyền trong chế độ XHCN. Trong các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh không đề cập khái niệm “Nhà nước pháp quyền”, nhưng tinh thần vẫn toát lên nội dung đó. Đó là những vấn đề: Nhà nước hợp hiến, hợp pháp; Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi tổ chức chính trị - xã hội, kể cả Đảng cầm quyền, mọi cá nhân đều có trách nhiệm thực hiện pháp luật với tinh thần thượng tôn pháp luật; bảo đảm bản chất giai cấp nhưng đồng thời mang tính dân tộc sâu sắc; trong hoạt động mang tính nhân văn, nhân đạo, nhân nghĩa - tất cả vì sự nghiệp giải phóng con người - mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng theo tư tưởng Hồ Chí Minh về Giải phóng dân tộc - Giải phóng xã hội - giai cấp - Giải phóng con người. Cũng như về Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh luôn chú trọng tới trách nhiệm phục vụ của Nhà nước, của tất cả cán bộ, công chức. Điều này hoàn toàn phù hợp với xã hội hiện đại, khi vấn đề bảo đảm và phát huy quyền con người, quyền công dân được coi trọng hơn. Hồ Chí Minh chính là người nhấn rất mạnh tới Nhà nước với vai trò chức năng quản lý, phục vụ nhân dân, trong khi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin lại coi trọng hơn tính cai trị, thống trị của một giai cấp - vốn bản chất gốc của nhà nước. Từ chính phủ của nhà nước cai trị đến chính phủ phục vụ dân là cả những bước tiến dài về nhận thức và hành động của Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền Việt Nam, không có chỗ đứng cho cái gọi là “Đảng trị”, nghĩa là Đảng tranh/soán quyền Nhà nước.

(5) Đối với xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh kế thừa phương pháp luận của chủ nghĩa Mác khi xem xét xã hội cộng sản là kết quả vận động tự nhiên trong sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội. Ở nước Nga và về sau là Liên Xô, sau khi V.I.Lênin mất, đã trải qua nhiều thời kỳ, dần dần trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế định hình mô hình Xôviết. Trong quá trình xây dựng CNXH, có nhiều ĐCS cầm quyền vận dụng thành công những quan điểm của V.I.Lênin về CNXH vào điều kiện của nước mình. Song, bên cạnh đó, nhiều đảng cũng đã vận dụng sai, rõ nhất là tư duy đốt cháy giai đoạn, duy ý chí, giáo điều, bao cấp, mệnh lệnh hành chính trong khi lý luận Mác - Lênin luôn nhấn mạnh tính phong phú, tính sáng tạo khi xây dựng CNXH ở mỗi nước.

ĐCS Việt Nam đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào xây dựng CNXH và đạt được những kết quả nhất định nhưng cũng bộc lộ những khiếm khuyết như nhiều ĐCS cầm quyền khác trong cùng hệ thống, phổ biến nhất là tư duy cải tạo nền kinh tế; xác lập hai thành phần kinh tế: nhà nước và tập thể; xác định một cách chủ quan các bước đi; nhận thức chưa đúng về các quy luật kinh tế - xã hội mà chúng có giá trị chung chứ không phải chỉ của xã hội tư bản (kinh tế thị trường, kinh tế hàng hóa, quy luật giá trị, v.v..).

Hồ Chí Minh luôn chú ý đến hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam qua các thời kỳ để vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này là những kinh nghiệm của Liên Xô cũng như của hệ thống các nước XHCN trong xây dựng đất nước với hoàn cảnh rất đặc biệt: đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, nửa nước đang tiến hành chiến tranh giải phóng, đất nước đi lên CNXH trong hoàn cảnh nước tiểu nông, kinh tế lạc hậu...Hồ Chí Minh đã vận dụng xây dựng một chế độ kinh tế bằng hai chân (công nghiệp và nông nghiệp, trong đó nông nghiệp và công nghiệp nhẹ là cơ sở); quản lý kinh tế phù hợp với bước đi dần dần, tiến hành xây dựng xã hội mới với con người XHCN.

Nhìn một cách tổng quát, Hồ Chí Minh chính là nhân vật lịch sử đặc biệt của cách mạng Việt Nam. Điều làm nên tính đặc biệt của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự tiếp nối của Người trong dòng chảy của chủ nghĩa Mác - Lênin, với tư cách là dòng chảy văn hóa phát triển nhân loại.

__________________

Cần hiểu đúng luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” và “làm cho tôn giáo đi đến chỗ tiêu vong thực sự” của Chủ nghĩa Mác - Lênin

 Khi bàn về tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhận được sự quan tâm rất lớn của nhiều học giả từ các lập trường tư tưởng, ý thức hệ, lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới. Bên cạnh số học giả ủng hộ, đồng tình và làm rõ thêm các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo thì cũng có khá nhiều học giả, đảng phái, lực lượng phủ nhận một phần hoặc toàn bộ quan điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một trong số những luận điểm phủ nhận, phê phán cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chủ trương tuyên chiến với tôn giáo và thủ tiêu tôn giáo. Quan điểm “tôn giáo tiêu vong” đã lạc hậu, lỗi thời và sai lầm ngay trong chính thời đại của C.Mác, V.I.Lênin. Bài viết dưới đây sẽ phân tích, làm rõ luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” và “tôn giáo tiêu vong” để hiểu đúng chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, chống lại các luận điệu xuyên tạc, chia rẽ người cộng sản và người tôn giáo.

1. Đấu tranh chống tôn giáo không phải là để xóa bỏ tôn giáo, thiết lập một xã hội không có chỗ cho tôn giáo mà là để giải phóng triệt để quần chúng nhân dân lao động

Trong các tác phẩm kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin như: Tình cảnh nước Anh; Tomat Caclailơ, quá khứ và hiện tại; Chiến tranh nông dân ở Đức; Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức; Chống Đuy Rinh; B.Bauơ và bản chất đạo Kitô giáo nguyên thủy; Gia đình thần thánh; Hệ tư tưởng Đức; Chủ nghĩa xã hội và tôn giáo; Về thái độ của Đảng Công nhân đối với tôn giáo; Thái độ của các giai cấp và của các đảng phái đối với tôn giáo và giáo hội; Những nhà triết học duy tâm; Các đảng phái trong triết học và các nhà triết học không đầu não; Giới tu hành và chính trị; Bệnh ấu trĩ tả khuynh và tính tiểu tư sản,... Các nhà kinh điển đã đặt vấn đề, xét cho đến cùng mọi lý luận hay phong trào cách mạng đều phải đi đến đích cuối cùng là giải phóng triệt để nhân dân lao động khỏi ách áp bức về giai cấp, về kinh tế, về chính trị và cả ách áp bức về tinh thần mà tôn giáo là một nguyên nhân. Vì sao?

Trong lịch sử, tôn giáo đã từng “xóa sổ” nền triết học, chính trị, luật học cổ đại để bắt đầu một nền văn minh Kitô giáo độc quyền trí dục và một nền giáo dục cũng mang một tính chất thuần túy thần học, “Trong tay bọn giáo sĩ, chính trị và luật học, cũng như tất cả những khoa học khác, vẫn chỉ là những ngành của khoa thần học, và những nguyên lý thống trị trong thần học cũng được áp dụng cho chính trị và luật học. Những giáo lý của giáo hội đồng thời cũng là những định lý chính trị, và những đoạn kinh thánh cũng có hiệu lực trước mọi tòa án như là luật pháp,... Và sự thống trị tối cao ấy của thần học trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tinh thần đồng thời cũng là hậu quả tất yếu của cái vị trí mà giáo hội đã chiếm với tính cách là sự tổng hợp chung nhất và sự phê chuẩn chung nhất của chế độ phong kiến hiện tồn”(1). Thời của C.Mác, nhà nước Đức, đứng đầu là vua Phổ đã lợi dụng triệt để tôn giáo để chống lại những xu hướng chính trị tiến bộ, lấy tôn giáo làm liều thuốc ru ngủ người dân trong ảo tưởng và nhẫn nhục về ách áp bức để họ quên đi đấu tranh, quên đi những điều họ có quyền đòi hỏi để được sống một cuộc đời xứng đáng là một con người. Ở nước Nga, đạo Chính thống giữ vị trí quốc giáo, nhà nước Nga Sa hoàng đã sử dụng tôn giáo để củng cố quyền uy. Các đảng phái ở Nga khi đó đang cố gắng tuyên truyền cho tôn giáo, nâng nhu cầu tôn giáo của người dân lên để kéo quần chúng ra khỏi cuộc đấu tranh cách mạng, chú ý về phía tôn giáo mà quên đi các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ. Chứng kiến ở châu Âu, lãnh tụ tôn giáo đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính trị của giai cấp tư sản thống trị nhân dân lao động bằng sự thể chế hóa tôn giáo. Một thời gian dài, giáo hội thực thi quyền “thống trị tất cả chỉ thuộc về Thiên chúa” để phán xử những ai không cùng quan điểm với mình, kể cả vương triều và vương quốc chính trị cũng có thể bị giáo hội xử “tuyệt thống”. Các nhà nước Tây Âu nằm dưới sự thống trị và chịu sự chi phối hoàn toàn bởi Giáo hội La Mã, hoàng đế phải nhận sắc phong của giáo hoàng mới có chính danh để cai quản, thống trị ở vùng đất của mình. Và do vậy, hoàng đế phải ủng hộ giáo hoàng không chỉ bằng niềm tin mà còn bằng cả sức mạnh kinh tế và quân sự. Nhờ đó, giáo hoàng được coi là “vua của các vị vua” ở Tây Âu, giáo hoàng không chỉ có quyền lực thần quyền mà có cả thế quyền. Các nhà lập pháp trong giáo hội đã đặt đức tin của mình lên trên tất thảy để đưa ra những luật lệ thách thức các quyền dân sự khác, nhiều quyết định của giáo hội đã ảnh hưởng quá mức tới thiết chế nhà nước, phản đối các quyết định chính trị mà nhà nước buộc phải chấp hành.

Với hiện trạng đó, các nhà kinh điển mác xít đã ví tôn giáo như thứ “gông cùm” trói buộc tinh thần con người trong một vòng hào quang thần thánh khiến họ đang bị gông cùm vẫn tự cảm thấy mình được tự do, đang bất hạnh nhưng vẫn cảm thấy mình hạnh phúc, đang bất bình đẳng vẫn cảm thấy mình được bình đẳng, nhưng đó chỉ là thứ hạnh phúc (hay thứ tự do) trên “thiên đường tưởng tượng” mà thôi. Sự bình đẳng (dù chỉ là trước Chúa) cũng chẳng tồn tại bao lâu, khi giáo hội xác lập sự đối lập giữa giáo sĩ và tín đồ thì tư tưởng bình đẳng phôi thai ban đầu của tôn giáo cũng chấm dứt. Nói chung, tôn giáo đã xoa dịu, an ủi con người bằng cách tạo ra một “vương quốc thiên đàng toàn mỹ” mà ở đó “người tín đồ luôn luôn gặp lại - dưới một dạng cải biến - những cái đã làm cho cuộc sống của họ ở trên cõi trần này được ngọt ngào hơn”(2).

Như vậy, chủ nghĩa duy linh là kẻ thù của chủ nghĩa nhân đạo cần phải bóc trần và phê phán. Như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Nhất thiết không để cho người Đức có một phút tự dối mình và khuất phục. Cần phải làm cho ách áp bức hiện thực càng nặng nề hơn nữa bằng cách gắn vào nó cái ý thức về sự áp bức, cần phải làm cho sự nhục nhã càng nhục nhã hơn nữa, bằng cách công bố sự nhục nhã ấy... Cần phải bắt nhân dân khiếp sợ bản thân mình để tiêm dũng khí vào cho họ”(3).

Trong tình hình như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt vấn đề phải đấu tranh “chống tôn giáo”, nhưng chống tôn giáo ở đây phải được hiểu là:

(i) Chống cái xã hội trần tục, chống cái nhà nước đã sản sinh ra tôn giáo và lợi dụng tôn giáo, biến nó thành công cụ tinh thần để nô dịch quần chúng trong vòng ngu muội và cam chịu, chứ “không phải lao vào những cuộc phiêu lưu đấu tranh chính trị chống tôn giáo”(4).

Chống tôn giáo là để giải phóng quần chúng khỏi tình trạng bị nô dịch, bị giam cầm bởi những tư liệu sản xuất do chính họ làm ra nhưng lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắc phục nổi. Chống tôn giáo là để giải phóng con người khỏi sự sợ hãi bởi “bóng ma” tôn giáo bằng cách tạo nên một cảnh “cực lạc” ngay trên trái đất này để con người tự giải phóng mình khỏi sự trông chờ vào cuộc sống cực lạc ở thế giới bên kia. “Nhiệm vụ của lịch sử sau khi cái chân lý của thế giới bên kia đã mất đi - là xác lập chân lý của thế giới bên này. Sau khi cái hình tượng thần thánh của sự tự tha hóa của con người đã bị bóc trần thì nhiệm vụ cấp thiết của cái triết học đang phục vụ lịch sử là bóc trần sự tự tha hóa trong những hình tượng không thần thánh của nó. Như vậy, phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị”(5). Xóa bỏ tôn giáo là xóa bỏ những tình cảnh đang cần có “ảo tưởng”, là yêu cầu từ bỏ những ảo tưởng, vứt bỏ khỏi xiềng xích các bông hoa giả trang điểm cho chúng, giơ tay hái lấy bông hoa thật. Việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cuộc sống khổ ải, để con người suy nghĩ, hành động, xây dựng tính hiện thực của mình.

(ii) Chống tôn giáo không phải là tấn công trực diện vào tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo bằng sắc lệnh, để thiết lập một xã hội không có chỗ cho tôn giáo và cấm tất cả mọi sinh hoạt tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội vẫn tôn trọng quyền tự do theo tôn giáo và không theo tôn giáo của quần chúng. “Bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào”(6). Người theo hay không theo tôn giáo đều bình đẳng về quyền lợi, “Mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đều hoàn toàn không thể dung thứ được”(7). Thậm chí, “Trong các văn kiện chính thức tuyệt đối phải vứt bỏ thậm chí mọi sự nhắc đến tôn giáo nào đó của công dân”(8).

Ph.Ăngghen đã từng phê phán “Ông Đuyrinh không thể chờ đợi cho đến khi tôn giáo chết cái chết tự nhiên của nó. Ông ta làm một cách căn bản hơn. Ông ta tỏ ra là Bi-xmác hơn cả Bi-xmác; ông ta ra những đạo luật tháng Năm còn nghiêm ngặt hơn, không chỉ chống đạo Thiên chúa, mà còn chống cả mọi tôn giáo nói chung nữa; ông ta tung bọn hiến binh tương lai của ông ta ra truy kích tôn giáo, và do đó, ông ta giúp cho tôn giáo đạt tới chỗ thực hiện tinh thần tử vì đạo và kéo dài thêm sự tồn tại của nó”(9).

Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không cổ vũ cho quan điểm thủ tiêu tôn giáo bằng cách chế giễu hay sỉ vả nó. Không chống tôn giáo một cách nông cạn, thô thiển, V.I.Lênin coi sai lầm lớn nhất và tệ hại nhất của người mác xít là lầm tưởng rằng chỉ cần giáo dục chủ nghĩa Mác là có thể làm cho quần chúng bừng tỉnh khỏi giấc mê tôn giáo. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng không đồng tình với quan điểm xã hội xã hội chủ nghĩa phải phế bỏ mọi trang bị của sự mê hoặc tinh thần hay phế bỏ tất cả những yếu tố của sự thờ cúng và cũng không nên cấm đoán tôn giáo “thành lập những nhà trường riêng của họ bằng những phương tiện riêng của họ và dạy ở đó những điều”(10) mà họ cho là chân lý dù “chân lý” đó có thể là sự nhận thức sai lầm hay hư ảo.

 (iii) Chống tôn giáo là chống “đám mây mù tôn giáo” để bảo vệ thế giới quan duy vật khoa học, “giai cấp vô sản hiện đại đứng về phía chủ nghĩa xã hội, là chủ nghĩa đưa khoa học vào cuộc đấu tranh chống các đám mây mù tôn giáo và làm cho công nhân khỏi tin vào một cuộc đời ở thế giới bên kia, bằng cách đoàn kết họ lại vì cuộc đấu tranh thực sự nhằm giành lấy một cuộc đời tốt đẹp hơn trên trần thế”(11). Chống tôn giáo là chống cách tôn giáo dùng bạo lực và lừa mị, ép buộc người dân theo tôn giáo, V.I.Lênin nhấn mạnh “Những người dân chủ - xã hội không tán thành những quan điểm của Cơ đốc giáo... Nhưng trong khi tuyên bố như thế, tôi thấy có nhiệm vụ phải tức khắc nói rõ ràng, minh bạch rằng, Đảng dân chủ - xã hội đấu tranh đòi được hoàn toàn tự do tín ngưỡng và chúng tôi rất kính trọng mọi sự tin tưởng thành thật trong lĩnh vực tín ngưỡng, chừng nào mà người ta không dùng bạo lực và lừa bịp để truyền bá lòng tin tưởng đó”(12).

(iv) Chống tôn giáo cũng là vì tôn giáo trở thành công cụ ngụy trang tư tưởng cho sự thống trị giai cấp, trở thành vật sở hữu độc quyền của các giai cấp thống trị. Trừ các tôn giáo trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy, những tôn giáo về sau đều ít nhiều bị các lực lượng chính trị lợi dụng, làm méo mó, biến dạng để phục vụ cho ý đồ, mục đích riêng. Nói chung, một khi tôn giáo đã biến thành tôn giáo nhà nước, thì nó “quên” đi những tín điều “ngây thơ” của nó lúc sơ khai với một tinh thần dân chủ và cách mạng. V.I.Lênin lưu ý “Tất cả những giai cấp áp bức đều cần đến hai chức năng xã hội, để giữ gìn nền thống trị của mình: chức năng đao phủ và chức năng giáo sĩ. Đao phủ phải dẹp tan sự phản kháng và sự căm phẫn của những người bị áp bức. Giáo sĩ phải an ủi những người bị áp bức, vạch ra cho họ thấy triển vọng”(13). Nên, người cộng sản phải vạch trần sự liên kết giữa tổ chức tôn giáo với những thế lực phản động, dùng tôn giáo để bảo vệ chế độ bóc lột và đầu độc giai cấp công nhân, giam hãm người dân trong vòng ngu muội, khổ ải mà vẫn tưởng mình được sung sướng, hạnh phúc.

Tóm lại, luận điểm “đấu tranh chống tôn giáo” của chủ nghĩa Mác - Lênin là hết sức rõ ràng, nhưng những người chỉ trích chủ nghĩa Mác - Lênin đã lấy sự đối lập ý thức hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tôn giáo để xuyên tạc luận điểm của các ông, để quy kết chủ nghĩa Mác - Lênin có cái nhìn cực đoan về tôn giáo, chỉ thấy những mặt hạn chế và tiêu cực của tôn giáo mà không thấy những điểm tích cực của nó, chủ trương truy kích tôn giáo. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo như vậy là một định kiến chính trị nông cạn, một thái độ ấu trĩ tả khuynh, một khuynh hướng tư tưởng “không đầu não”.

2. Tôn giáo chỉ tiêu vong thực sự khi xóa bỏ được hết các nền tảng quan hệ xã hội, các thể chế xã hội, các hiện tượng tạo ra sự “tha hóa” cần đến tôn giáo của con người

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt vấn đề, dù tôn giáo đã và đang tồn tại trong xã hội, dù “tiếng đàn” tôn giáo đã rung lên, thức tỉnh hàng triệu trái tim, bắt đế chế La Mã phục tùng hay phần lớn nhân loại đang tôn thờ ngưỡng mộ thì nó vẫn là một phạm trù lịch sử, là một hiện tượng xã hội, ra đời trên những cơ sở trần tục nhất định thì cũng sẽ mất đi khi những cơ sở đó không còn nữa. Chủ nghĩa Mác - Lênin dự báo về thời điểm tôn giáo sẽ tiêu vong khi:

(i) Quan hệ giữa người - người, người - giới tự nhiên hết sức rõ ràng, hợp lý. “Nói chung, sự phản ánh có tính chất tôn giáo của thế giới thực tại chỉ có thể mất đi khi nào mà những quan hệ trong đời sống thực tiễn hàng ngày của con người được biểu hiện bằng những mối liên hệ rõ ràng và hợp lý giữa người ta với nhau và với thiên nhiên”(14).

(ii) Xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và thực hiện chế độ sở hữu (chiếm hữu xã hội về tư liệu sản xuất). Khi xã hội sử dụng tư liệu sản xuất một cách có kế hoạch. Và khi con người ta không chỉ mưu sự mà thành sự cũng tại nhân, thì tôn giáo hay thánh thần sẽ chui xuống cái hầm “trú ẩn” của nó, con người không còn cần phải viện đến thánh thần để cầu xin những gì mà họ bất lực trong thế giới thực tại này, tôn giáo sẽ chết cái chết tự nhiên của nó. Ph.Ăngghen viết: “Khi nào thông qua việc nắm toàn bộ các tư liệu sản xuất và sử dụng những tư liệu ấy một cách có kế hoạch, xã hội tự giải phóng mình và giải phóng tất cả mọi thành viên trong xã hội khỏi tình trạng bị nô dịch, trong đó hiện nay họ đang bị giam cầm bởi những tư liệu sản xuất do chính tay họ đã làm ra nhưng lại đối lập với họ như một sức mạnh xa lạ không sao khắc phục nổi; do đó khi nào con người không chỉ mưu sự mà lại còn làm cho thành sự nữa, thì chỉ khi đó cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh vào tôn giáo sẽ mất đi, và cùng với nó bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ không có gì để phản ánh nữa”(15).

(iii) Với mỗi bước ngoặt lớn của lịch sử, của trật tự xã hội sẽ kéo theo mọi sự biến đổi và chuyển biến lớn trong tôn giáo. Trong tương lai, cuộc biến chuyển lớn hiện nay khác hẳn với tất cả những cuộc chuyển biến trước đây chính là ở chỗ con người, cuối cùng, đã giải đáp được điều bí ẩn của quá trình lịch sử và bởi vậy, lẽ ra họ lại thần thánh hóa các quá trình thực tiễn “bên ngoài” này dưới hình thức “siêu nghiệm” của thứ tôn giáo mới, thì nay họ sẽ vứt bỏ mọi thứ tôn giáo đi, “Một khi các cơ sở của các tôn giáo ấy bị phá vỡ, những hình thái xã hội kế thừa cái thiết chế chính trị và nền độc lập dân tộc bị phá vỡ thì tất nhiên là tôn giáo tương ứng với chúng cũng bị sụp đổ theo”(16). Trong mỗi dân tộc, đều có một vị thần bảo hộ, bảo vệ cho dân tộc ấy, “lĩnh vực chi phối của các vị thần đó không vượt quá biên giới của lãnh thổ dân tộc mà các vị thần ấy phải bảo vệ và ngoài biên giới đó thì do các vị thần khác tiến hành một sự thống trị không ai tranh giành được. Tất cả các vị thần ấy chỉ có thể tiếp tục tồn tại trong trí tưởng tượng chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy còn tồn tại, khi dân tộc đó tiêu vong thì các vị thần ấy tiêu vong theo”(17) và “Một khi các dân tộc không thể bảo vệ được nền độc lập, tự chủ của dân tộc mình nữa thì bản thân các vị thần ấy cũng tự bẻ gẫy cổ mình”(18).

(iv) Tôn giáo sẽ tiêu vong khi lịch sử nhân loại đạt đến chủ nghĩa cộng sản, khi cơ sở kinh tế (chế độ tư hữu và bóc lột) cần thiết tạo ra tôn giáo bị thủ tiêu hoàn toàn.

Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã dự báo tôn giáo có thể tồn tại lâu dài bởi những lý do sau:

 (i) Tư hữu không phải là lực lượng “tha hóa” duy nhất cho sự ra đời và tồn tại của tôn giáo. Dù đã cải tạo chế độ tư hữu thành sở hữu xã hội/ sở hữu công cộng, nhưng xã hội vẫn chưa thể sử dụng tư liệu sản xuất một cách có kế hoạch, chưa hoàn toàn nắm được quy luật khách quan và phát triển sức sản xuất tới trình độ cao, chưa xóa bỏ tất cả những lực lượng “tha hóa” khác chi phối cuộc sống hàng ngày của con người, chưa xây dựng được một chế độ xã hội tự quản và đặt dưới sự kiểm soát tự giác và có kế hoạch của chính mình, chưa làm chủ được tự nhiên, chưa làm chủ được xã hội và làm chủ cuộc đời mình, dư âm của tôn giáo truyền thống vẫn còn sâu đậm thì những nguồn gốc sản sinh ra tôn giáo vẫn còn tồn tại và như thế tôn giáo vẫn còn tiếp tục tồn tại.

(ii) Những điều kiện để tôn giáo tiêu vong không tự xuất hiện hoặc xuất hiện một cách dễ dàng, kể cả khi đã xóa bỏ thiết chế tư bản chủ nghĩa và chế độ tư hữu. Để có được kết quả đó là một quá trình tự nhiên, phát triển lâu dài và gian khổ.

(iii) Tôn giáo vẫn có thể tiếp tục tồn tại với tư cách là một hình thức trực tiếp, hình thức cảm xúc trong quan hệ của con người đối với các lực lượng tự nhiên, xã hội “xa lạ” và đang “đè nặng” lên họ mà chưa biết làm cách nào để thoát ra được. Không những thế, tôn giáo còn có tính thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh, trong thời kỳ cổ đại, “đạo Cơ đốc toàn thế giới mà đế chế La mã vừa mới thừa nhận và phù hợp với tình trạng kinh tế, chính trị, tinh thần của nó”(19), đến thời kỳ Trung cổ, “đạo Cơ đốc cũng phát triển theo sự phát triển của chế độ phong kiến mà trở thành tôn giáo phù hợp với chế độ ấy, và có một tôn ti phong kiến tương ứng. Và khi tầng lớp thị dân ra đời thì dị giáo Tin Lành đối lập với đạo Thiên chúa phong kiến”(20). Hơn thế, “các tôn giáo mà bắt đế chế La Mã thế giới phải phục tùng và đã thống trị một phần hết sức to lớn loài người văn minh trong suốt 1800 năm thì người ta không thể nào thanh toán được nếu chỉ tuyên bố một cách giản đơn nó là cái vô nghĩa do những kẻ lừa dối tạo ra”(21).

(iv) Tôn giáo vừa là sự phản ánh đời sống hiện thực, do đời sống hiện thực sản sinh ra, vừa tác động trở lại hiện thực, phản kháng chống lại tình trạng khốn cùng của đời sống hiện thực. Chính ý thức hệ Kitô giáo nguyên thủy là sự phản ánh thất bại lịch sử của những người nô lệ khởi nghĩa chống lại đế quốc La Mã, đặc biệt là sau thất bại thảm hại của cuộc khởi nghĩa Spataquyt, khi ấy đạo Kitô ra đời, nó phán ánh những khát vọng giải phóng mà con người ta không đạt được trong thế giới hiện thực này thì họ sẽ tìm ra sự “giải phóng” trong thế giới thần linh của họ. Đồng thời, tôn giáo còn là động lực tinh thần thúc đẩy sự hình thành thiết chế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu, đặc biệt sau cuộc cải cách Tin Lành Calvan (Pháp).

Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin không chủ trương chống tôn giáo hay tiêu diệt tôn giáo. Việc C.Mác mô tả tôn giáo như là “trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”(22), việc tuyên bố “đối với nước Đức việc phê phán tôn giáo đã kết thúc”, “Việc phê phán tôn giáo là hình thức manh nha của sự phê phán cuộc sống khổ ải mà tôn giáo là vòng hào quang thần thánh của nó”(23) đã cho thấy rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin không chủ trương tiêu diệt tôn giáo, chỉ chống các hành động xã hội của tôn giáo đi ngược lại lợi ích con người và tiến bộ xã hội. Xóa bỏ tôn giáo cũng chỉ là xóa bỏ đi các nền tảng quan hệ xã hội, các thể chế xã hội, các hiện tượng tạo ra sự tha hóa cần đến tôn giáo của con người, nhằm nỗ lực thay đổi thế giới. Việc phán xét, phê phán các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo mà không gắn với bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể thời của các ông, không gắn với văn mạch và hoàn cảnh của tác phẩm để hiểu thì đó là một sự phê phán phi nguyên tắc, hời hợt không có giá trị khoa học, một sự thành kiến chính trị ngu dốt. 

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo khi áp dụng vào cách thức mà các tôn giáo đang hiện diện và hoạt động hiện nay vẫn đúng. Xét cho đến cùng, tôn giáo đã đưa ra một mục tiêu lý tưởng và cách thức để cải thiện cuộc sống con người là có được một vị trí trên “thiên đường”, nhưng con người vẫn lựa chọn một vị trí thích hợp trong xã hội “trần thế” để từ đó họ có thể nâng cao đời sống bản thân mình và xã hội. Nên, chủ nghĩa duy linh đáng ra phải biết ơn chủ nghĩa Mác - Lênin vì chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa thần linh xuống “mặt đất” và nâng nhân loại lên mức độ “thần thánh” khiến tôn giáo có cơ hội để tồn tại lâu dài.

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BAO VỆ NEN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRAI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Hiện nay, các thế lực thù địch triệt để sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền các thông tin xấu, độc và các luận điệu sai trái, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh). Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, chúng ta cần tập trung thực hiện một số giải pháp như sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội; nâng cao trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội; tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch không ngừng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chúng sử dụng rất nhiều các hình thức, phương pháp tinh vi, trong đó có mạng xã hội.       

Quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là những quan điểm sai lệch hoặc đối lập với nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam được đăng tải trên không gian mạng với mục đích gây nhiễu loạn thông tin, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của các đoàn thể xã hội và cả sự hợp tác quốc tế.

1. Sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và tổ chức xã hội với các hình thức đa dạng, phong phú

Một là, các cơ quan trong hệ thống chính trị phải thường xuyên bám sát các chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị (khóa XII) về đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cụ thể là cần thường xuyên bám sát các thông tin và định hướng của Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của cấp mình gắn với việc thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Hai là, các cơ quan trong hệ thống chính trị tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình, hàng năm cần xây dựng kế hoạch, chương trình, giải pháp cụ thể để thực hiện nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từng cơ quan phải đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.

Ba là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát để chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động của các đối tượng chống phá, xuyên tạc. Rà soát thường xuyên, nắm tình hình, phát hiện các trang blog, trang facebook, trang website, các diễn đàn thường đăng tải các thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, ban tuyên giáo các cấp, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh.

Năm là, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, lấy thông tin tích cực đẩy lùi các thông tin tiêu cực. Vì vậy, cần xây dựng và tổ chức các trang thông tin chính thống có uy tín để thường xuyên cập nhật, đưa các thông tin chính xác, nhanh nhạy.

Sáu là, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng. Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảy là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; nâng cao trình độ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tám là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, ngăn chặn sớm các tin tức xấu độc trên các trang mạng xã hội. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Chín là, nâng cao nhận thức và đề cao cảnh giác với các biểu hiện của bệnh giáo điều, cơ hội, thực dụng và xét lại trên mạng xã hội ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội XII của Đảng nhận định: “...một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”(1).

Nếu là thông tin xấu do các thế lực phản động, thù địch tấn công độc hại một thì các thông tin xấu do chính những kẻ cơ hội, bất mãn, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội sẽ nguy hại gấp nhiều lần. Bởi vậy, phải kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Lãnh đạo các cơ quan của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội cần sớm phát hiện, kịp thời giáo dục và xử lý kỷ luật thích đáng, nếu cần thiết thì đưa ra khỏi tổ chức mình cán bộ, đảng viên cơ hội, thực dụng và xét lại ở mức độ nghiêm trọng để làm trong sạch đội ngũ.

2. Phân định rõ trách nhiệm các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội

a. Trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và các cơ quan quản lý của Nhà nước

Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, rất cần sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo 35, Ban Tuyên giáo các cấp và các cơ quan chức năng của Nhà nước như Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông... và chính quyền các cấp.

Một là, các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở phải coi đây là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Trong quá trình xây dựng nền tảng tư tưởng của Đảng phải luôn luôn đi đôi với chống sự phá hoại và coi nhiệm vụ xây là cơ bản, chống là cần thiết nhưng bối cảnh hiện nay phải tập trung chống nhiều hơn, quyết liệt hơn. Trung ương Đảng kịp thời ban hành các chỉ thị, nghị quyết liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, đồng thời chỉ đạo sát sao với các cơ quan chuyên môn của Đảng như Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh... có những hoạt động cụ thể, quyết liệt để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này. Các cấp ủy đảng đưa nội dung đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội vào chương trình, kế hoạch lãnh đạo của cấp mình và thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng khắp; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong nội bộ tổ chức đảng.

Hai là, cơ quan Công an, Thông tin - Truyền thông và chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở thể chế hóa, cụ thể hóa văn bản lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo việc thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội mà trọng tâm là thực hiện nghiêm Luật An ninh mạng. Bên cạnh đó, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin chính thống bằng nhiều kênh và tăng cường đối thoại với nhân dân về những vấn đề bức xúc, nhạy cảm; chủ động, linh hoạt tham gia giải quyết các vấn đề thiết thực của xã hội.

Chính quyền các cấp thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng như thông tin truyền thông, an ninh mạng...; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội.

b. Trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn làm công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng

Các cơ quan chức năng như Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, các viện nghiên cứu, hệ thống trường Đảng, trường chính trị... cần huy động nguồn lực và tổ chức xây dựng lý luận sắc bén và trang bị cho các thành viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Từ đó, nâng cao tính tích cực phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch trên mạng xã hội cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội.

Các cơ quan tuyên giáo các cấp phải thường xuyên tổ chức các hội nghị báo cáo viên, thường xuyên cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân để giúp cán bộ, đảng viên có hiểu biết đầy đủ, chính xác, trung thực những vấn đề chính trị của đất nước đang diễn ra. Chỉ khi làm được như vậy mới giúp mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực chuyên môn, nắm vững các quan điểm, đường lối của Đảng, hiểu rõ tình hình trong nước và quốc tế, nhận thức rõ “đối tượng” và “đối tác” để vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.

c. Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội

Các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân) tham gia tích cực trong công tác này. Các tổ chức chính trị - xã hội thường xuyên nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các thành viên của tổ chức mình để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Một là, tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho các thành viên của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là cán bộ chủ chốt về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó kiên định lập trường tư tưởng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, từ sau sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, do đó, cần nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để tiếp tục bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị đến đông đảo nhân dân, nhất là những người của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội để nắm chắc hơn, sâu sắc hơn những nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, cần nhận thức rõ những giá trị lý luận bền vững; những luận điểm lý luận đã bị lịch sử vượt qua, hoặc từng bị hiểu sai; những luận điểm lý luận không còn phù hợp với thực tế hiện nay trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, cán bộ, đảng viên và nhân dân mới có niềm tin có cơ sở khoa học về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để kiên định lập trường tư tưởng trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

Hai là, nâng cao tính tích cực phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch đối với những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho thành viên của hệ thống chính trị và các tổ chức xã hội. Hiện nay, các thế lực thù địch thường sử dụng các luận điệu xuyên tạc, thù địch trên mạng xã hội đối với những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng nhiều hình thức tinh vi khác nhau. Trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội là phải giúp cho đoàn viên, hội viên hiểu về những luận điệu xuyên tạc này.

d. Trách nhiệm của các tổ chức xã hội

Các tổ chức xã hội thường xuyên bám sát định hướng của Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Tăng cường giáo dục ý thức cảnh giác cho các thành viên tổ chức mình tránh bị lôi kéo, lợi dụng, mắc mưu mà vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho các thế lực bất mãn, phản động truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng

xã hội.

Ngoài ra, đối với các tổ chức xã hội có chức năng, nhiệm vụ có thể có những kế hoạch, chương trình thực hiện phù hợp. Chẳng hạn Hội Nhà báo Việt Nam cần hướng dẫn Hội Nhà báo các cấp, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Tất nhiên, cần chú trọng các thông tin đấu tranh. Yêu cầu các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta.

3. Tăng cường hợp tác quốc tế

a. Chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm các quan điểm sai trái, thù địch chống phá trên mạng xã hội

Cơ quan chức năng cần chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá trên mạng xã hội để đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội. Cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng. Kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền chống phá các nước XHCN như Lào, Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba và Việt Nam...

Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan quản lý các mạng xã hội cần sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này; khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý.

b. Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan trong việc quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội ở Việt Nam

Tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan trong việc quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram..., tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định.

c. Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, rút kinh nghiệm với các nước có cùng chế độ chính trị về đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội với các nước Trung Quốc, Lào, Triều Tiên, Cu Ba. Chẳng hạn, tháng 8-2019, các thế lực thù địch đã lợi dụng một số vấn đề có liên quan đến vấn đề biên giới giữa Lào và Campuchia nêu lên những thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội Facebook nhằm mục đích gây ra sự hiểu lầm về quan hệ giữa Lào và Campuchia. Văn phòng Ủy ban biên giới Quốc gia của Lào (Office of the National Boundary Committee, Ministry of Foreign Affairs) đã kịp thời tổ chức họp báo ở Thủ đô Viêng Chăn để phản bác lại các quan điểm này, góp phần thuyết phục các đảng viên, nhân dân trong nước và bạn bè thế giới nắm bắt thực chất vấn đề biên giới giữa Lào và Campuchia.

Ngoài ra, cần thường xuyên trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý mạng xã hội của các nước tiên tiến khác trên thế giới.

d. Tập hợp rộng rãi các nhân sĩ, trí thức, Việt kiều yêu nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia phòng - chống các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trên mạng xã hội

Các thế lực phản động đã thiết lập hàng nghìn trang Website, blog, tài khoản Facebook, trang Fanpage với hầu hết máy chủ đặt ở nước ngoài, tổ chức hàng trăm chiến dịch tuyên truyền, phát tán với tần suất và số lượng lớn các tin, bài bình luận, videoclip... có nội dung xấu, độc, thật, giả, trắng đen lẫn lộn, thậm chí công khai các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Từ đó, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán nản thậm chí thù hận không chỉ một số người trong nước mà ngay cả Việt kiều và người nước ngoài, dẫn đến thiếu niềm tin vào Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam. Do vậy, chúng ta cần huy động, thu hút được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức, Việt kiều yêu nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với Đảng và Nhà nước Việt Nam thông qua đẩy mạnh thông tin đối ngoại để giúp họ hiểu rõ bản chất tốt đẹp và những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng và phát triển đất nước. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng.

Trong bối cảnh cả nước đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần nâng cao cảnh giác đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội để giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự kiên định tư tưởng trong Đảng và toàn xã hội thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhận diện những nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

 Xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải xác định rõ những động lực thúc đẩy cũng như những nhân tố cản trở đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, bài viết sẽ phân tích làm rõ những nguy cơ đang đe dọa đến sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mối quan hệ giữa các nguy cơ này. 


Ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta đã xác định 4 nguy cơ cản trở thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đó là: “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệnh hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau”(1).

Đến Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: “Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ nêu lên cho đến nay vẫn là những thách thức lớn. Các nguy cơ ấy có mối liên hệ tác động lẫn nhau và đều nguy hiểm, không thể xem nhẹ nguy cơ nào”(2). Gần đây nhất, tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục nhận định: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ diễn biến hòa bình của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí”(3). Biểu hiện của những nguy cơ này ở nước ta cụ thể như sau:

Thứ nhất, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là một thực tế

Tụt hậu về kinh tế được biểu hiện trên rất nhiều mặt như thu nhập bình quân theo đầu người; năng suất lao động; năng lực cạnh tranh... Tất cả các mặt này chúng ta vẫn còn có nhiều hạn chế. Năng suất lao động vẫn còn thấp so với nhiều nước trên thế giới, do nền kinh tế vẫn đang trong mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, dựa trên khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với sức ép cạnh tranh rất gay gắt mà nếu không đáp ứng được có thể bị thua ngay trên sân nhà. Thu nhập bình quân đầu người của nước ta tăng lên, chúng ta đã bước vào các quốc gia có thu nhập trung bình nhưng vẫn còn khoảng cách lớn về thu nhập so với thế giới. Năm 1990, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế của thế giới là 4.168 USD và Việt Nam là 98 USD, chênh tới 4.070 USD(4). Đến 2017, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam khoảng 2.385 USD, thế giới khoảng 10.700 USD, chênh nhau là 8.315 USD; năm 2018, Việt Nam khoảng 2.590 USD, thế giới khoảng 11.000 USD, chênh tới 8.410 USD(5). Như vậy, xét về tỷ lệ, GDP trên đầu người của Việt Nam đã rút ngắn so với thế giới, từ thua kém 42,5 lần năm 1990, còn 4,4 lần năm 2017 và 4,2 lần năm 2018, song về con số tuyệt đối thì vẫn tăng lên. Nếu năm 1990 là 4.000 USD, thì năm 2018 là 8.000 USD. Sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng thấy rõ. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2017 chỉ tương đương mức GDP bình quân đầu người của Malaysia năm 1990 (2.441 USD); của Thái Lan năm 1993 (2.208 USD); của Indonesia năm 2008 (2.300 USD). Như vậy, Việt Nam đi sau Malaysia 27 năm; Thái Lan 23 năm; sau Indonesia và Philippines 9-10 năm... theo các tính toán như trên(6). Mặc dù chúng ta tự hào tốc độ tăng GDP cao hơn nhiều nước trên thế giới nhưng vì quy mô GDP của Việt Nam nhỏ hơn nhiều nước nên dù tốc độ tăng cao thì về mặt giá trị tuyệt đối GDP lại tăng không bằng các nước khác. Giá trị tăng 7% trên 1 quy mô GDP nhỏ như Việt Nam thua xa so với giá trị tăng dù chỉ 1-2% trên 1 quy mô GDP gấp chúng ta nhiều lần. Sau 15 năm, tổng GDP của Việt Nam mới chỉ tăng 160 tỷ USD, trong khi với Thái Lan, con số này là 270 tỷ USD, Malaysia là 200 tỷ USD, đặc biệt là Indonesia có mức tăng trưởng kỷ lục với 700 tỷ USD và Hàn Quốc là 850 tỷ USD(7). Việt Nam dù có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa lọt vào danh sách ASEAN 6 mà vẫn nằm ở top cuối của ASEAN.

Thứ hai, nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tiềm ẩn

Nguy cơ chệch hướng về chính trị là sai lầm về đường lối, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học. Về văn hóa thể hiện ở xu hướng coi nhẹ văn hóa, không giữ gìn và phát huy được bản sắc, truyền thống văn hóa của dân tộc, chạy theo giá trị bên ngoài. Về mặt kinh tế, nguy cơ chệnh hướng thể hiện ở chỗ nhiều doanh nghiệp, kể cả tư nhân và nhà nước thoát ly khỏi sự quản lý của nhà nước, chỉ biết làm giàu, thu lợi nhuận bằng mọi cách, không gắn vì lợi ích của đất nước, dân tộc và nhân dân. Doanh nghiệp vì lợi nhuận của mình mà xả thải gây ô nhiễm môi trường, gian lận thương mại, trốn thuế, không đảm bảo lợi ích của người lao động và người tiêu dùng, doanh nghiệp móc nối với một bộ phận công chức thoái hóa biến chất trong cơ quan quản lý nhà nước để có đặc quyền, đặc lợi, hình thành lợi ích nhóm không trong sáng. Kinh tế nhà nước chưa thể hiện được vai trò chủ đạo, đầu tàu và dẫn dắt nền kinh tế.

Thứ ba, nguy cơ từ những âm mưu, hành động “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch vẫn thường trực và có những biểu hiện mới

Thuật ngữ “diễn biến hòa bình” xuất hiện lần đầu trong đời sống chính trị thế giới vào năm 1949 để chỉ sự chuyển hóa các nước XHCN thành tư bản chủ nghĩa. “Diễn biến hòa bình” sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn chỉnh thành chiến lược vào cuối thập niên 80 của thế kỷ XX. Ban đầu chiến lược này được coi như biện pháp hỗ trợ, bổ sung cho các hành động tiến công quân sự sau đó trở thành chiến lược toàn cầu và là biện pháp chính trong cuộc tấn công của các nước tư bản chủ nghĩa vào các nước xã hội chủ nghĩa. Bản chất của “diễn biến hòa bình” là hoạt động của các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền nhằm vào các nước có chế độ chính trị mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh... để chuyển hóa chế độ chính trị của các nước này theo quỹ đạo có lợi cho họ(8). Chiến lược “diễn biến hòa bình” được tiến hành bằng tăng cường tiếp xúc, giao lưu, hợp tác kinh tế, văn hóa, thông tin, khoa học, giáo dục; đổ tiền của vào các nước XHCN để làm cho các giá trị Mỹ xâm nhập vào các nước này, đồng thời dùng mọi biện pháp để làm cho nhân dân, đảng viên ở các nước này chán ghét, căm phẫn Đảng Cộng sản và nhà nước XHCN, làm xuất hiện những nhân tố mới xa lạ dần với giá trị chuẩn mực của chủ nghĩa Cộng sản để thay đổi chế độ. Chiến lược “diễn biến hòa bình” thực chất là từng bước chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ, tư tưởng, tâm lý của cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhất là thế hệ trẻ, từ chỗ tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vào con đường đi lên CNXH đến chỗ phủ nhận, cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản, tham gia vào các hoạt động chính trị để lật đổ chế độ XHCN.

Thứ tư, tình trạng tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn, đẩy lùi

Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, mưu lợi cá nhân. Ngay từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII khi xác định tham nhũng là 1 trong 4 nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của chế độ XHCN. Đại hội VIII tiếp tục khẳng định 4 nguy cơ này vẫn còn tồn tại. Đến Đại hội IX, Đảng nhấn mạnh: “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ đe dọa sự sống còn của chế độ ta”(9). Đại hội X nhấn mạnh hơn nữa khi nói tham nhũng là nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta: “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là quyết tâm chính trị của Đảng ta, nhằm xây dựng một bộ máy lãnh đạo và quản lý trong sạch, vững mạnh, khắc phục một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ ta”(10). Đảng ta dùng các từ phổ biến, nghiêm trọng, kéo dài để nói về tình trạng tham nhũng ở nước ta. Tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi, liên kết thành các lợi ích nhóm. Do đó, phòng, chống chống tham nhũng là một cuộc chiến cam go, quyết liệt, kéo dài nhằm chống lại kẻ thù “nội xâm” từ chính trong nội bộ của chúng ta, thậm chí là những cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Nếu không chiến thắng trong cuộc chiến này thì chúng ta không thể hiện thực hóa các mục tiêu của CNXH.

Thứ năm, nguy cơ từ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, kể cả ở cấp cao chưa được ngăn chặn, đẩy lùi

Vấn đề suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống lần đầu tiên được Đảng ta chỉ rõ tại Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII: “trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: sự suy thoái về tư tưởng, chính trị; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn”(11). Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Trong công tác xây dựng Đảng, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng, chính trị và đạo đức lối sống”(12). Đến Đại hội X, tình trạng này đã diễn ra phổ biến hơn, từ chỗ trong một bộ phận đảng viên mở rộng hơn thành trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đầy lùi... Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”(13). Mức độ nghiêm trọng của tình trạng này tiếp tục được nhấn mạnh ở Đại hội XI của Đảng: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp... làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe doạ sự ổn định, phát triển của đất nước”(14) và đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã có nghị quyết riêng về vấn đề này.

Cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng (năm 2011): “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”. “Tự diễn biến” đối với cá nhân là sự thay đổi về nhận thức chính trị - xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực, xấu đi, nhận thức và hành động đi ngược lại với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. “Tự diễn biến” đối với tổ chức là có những thay đổi ở tầm vĩ mô về đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị, thậm chí làm suy yếu và tan rã tổ chức đó. “Tự diễn biến” từ từ, thầm lặng, làm mục ruỗng chế độ XHCN từ bên trong, dẫn tới “tự chuyển hóa”, làm sụp đổ chế độ XHCN. “Tự diễn biến” diễn ra trước hết trong cá nhân cán bộ, đảng viên và nếu không được ngăn chặn kịp thời, có thể dẫn đến sự suy thoái của tổ chức, và về lâu dài, sẽ dẫn đến chuyển hóa chế độ chính trị.

Như Đảng ta khẳng định, các nguy cơ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tham nhũng có mối quan hệ tác động đến nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế ở nước ta hiện nay. Hậu quả của tham nhũng đối với sự phát triển kinh tế là rất lớn. Những nước có mức độ tham nhũng cao thì đồng nghĩa với tỷ lệ nghèo đói cao. Trước hết, tham nhũng làm thất thoát nguồn thu ngân sách nhà nước. Bởi lẽ, các cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ của các doanh nghiệp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp trốn thuế. Ngân sách là nguồn tài chính quan trọng để Nhà nước tái đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nhưng thất thu ngân sách do tham nhũng trong ngành thuế làm giảm nguồn đầu tư phát triển. Bản thân ngân sách nhà nước đã ít ỏi do tham nhũng thì cũng chính tham nhũng lại tiếp tục làm lãng phí các nguồn chi ngân sách nhà nước. Tham nhũng làm giảm hiệu quả của đầu tư công. Tham nhũng dẫn tới nhiều chương trình, dự án được xây dựng không chú ý đến mục tiêu, hiệu quả đầu tư mà do cán bộ các tỉnh “chạy” công trình về tỉnh mình để kiếm chác chứ không phải vì hiệu quả mang lại cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cộng đồng. Tham nhũng trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội sử dụng vốn ngân sách, dẫn tới xây dựng công trình dự án kém chất lượng, ảnh hưởng đến hiệu quả của công trình đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Có thể nói, tham nhũng làm giảm những lợi ích mà đầu tư công có thể đem đến cho xã hội, do đó nhiều nguồn lực của quốc gia cứ mãi ở dạng tiềm năng.

 Tham nhũng cũng làm giảm hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế đất nước vì tham nhũng làm cho hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng tồn tại và hoành hành phá hoại nền kinh tế trong nước. Những hàng lậu từ bên ngoài được một số kẻ hối lộ cho một số cán bộ hải quan biến chất, tuồn vào nước ta không phải đóng thuế, cạnh tranh thiếu lành mạnh với các mặt hàng trong nước dẫn tới ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước.

Tham nhũng làm giảm năng suất lao động do lãng phí sức lực, trí tuệ, tiền của của nhân dân, nếu không tham nhũng thì họ chăm lo sản xuất, lao động chân chính để tăng năng suất lao động, không phải đầu tư suy nghĩ cho việc hối lộ vòng vèo, vì vậy sẽ làm tăng năng suất lao động và tốc độ tăng trưởng. Cán bộ, công chức để có thể nhũng nhiễu, vòi vĩnh tiền của người dân và doanh nghiệp đặt ra những quy trình, thủ tục hành chính rườm rà, khiến cho người dân phải đi lại nhiều lần, mất thời gian nhiều khi làm mất cơ hội kinh doanh, đồng thời phải thêm các chi phí bôi trơn, các khoản phi chính thức làm cho tổng chi phí hoạt động tăng giá thành sản phẩm xã hội tăng cao và lợi nhuận giảm, sức cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế bị giảm sút nghiêm trọng.

Tham nhũng làm hỏng môi trường kinh doanh và các quan hệ kinh doanh đúng đắn, quan hệ cạnh tranh lành mạnh, bằng việc đưa và nhận hối lộ, một số doanh nghiệp năng lực yếu kém nhưng lại giành lợi thế kinh doanh, lợi thế cạnh tranh bất chính làm bóp méo hoạt động kinh doanh đúng đắn và các quan hệ cạnh tranh lành mạnh, xâm phạm đến lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh doanh hợp pháp, kìm hãm, hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, từ đó suy giảm động lực phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Công ước Luật dân sự về chống tham nhũng của Hội đồng châu Âu cũng nhấn mạnh rằng “tham nhũng... đe dọa đến sự vận hành đúng đắn và công bằng của các nền kinh tế thị trường”(15).

Tham nhũng phát triển càng thúc đẩy nguy cơ chệnh hướng XHCN ở nước ta bộc lộ rõ, đặc biệt là chệnh hướng trong phát triển kinh tế. Tham nhũng làm cho bộ phận kinh tế nhà nước ngày càng yếu đi, không thể hiện tốt vai trò chủ đạo của mình. Những hành vi tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước đã bòn rút, chuyển nguồn tài sản công thành tài sản tư, làm giảm hiệu quả và năng lực của kinh tế nhà nước - một trụ cột quan trọng đảm bảo tính định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Tất cả những hành vi tham nhũng này đang làm suy giảm giá trị đóng góp của vốn nhà nước, chuyển vào túi một số cá nhân khiến tỷ lệ vốn nhà nước đã ít lại ngày càng ít đi về mặt tuyệt đối cũng như tỷ lệ tương đối so với vốn của các thành phần kinh tế. Tham nhũng được coi là tệ nạn của mọi tệ nạn, tham nhũng đã dung túng cho những doanh nghiệp tư nhân móc nối với một số cán bộ chính quyền hoạt động ngoài sự kiểm soát của pháp luật nhà nước như trốn thuế, gian lận thương mại, buôn bán hàng cấm, hàng lậu... dẫn đến các nguy cơ chệnh hướng XHCN trong phát triển kinh tế.

Tham nhũng phát triển tạo cơ hội, mảnh đất màu mỡ cho các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Đại hội VIII nhận định: “Tệ quan liêu, tham nhũng và suy thoái về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ bị xói mòn, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bị thi hành sai lệch, dẫn tới chệch hướng... đó là mảnh đất thuận lợi cho diễn biến hòa bình”(16). Sở dĩ như vậy vì các thế lực thù địch luôn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội; khai thác thông tin từ những vụ việc tiêu cực xảy ra trong đời sống để xuyên tạc, thổi phồng; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất, xuyên tạc vai trò lãnh đạo, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Những hiện tượng tham nhũng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là cơ hội để chúng xuyên tạc bản chất của chế độ, Đảng và Nhà nước ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho nhân dân chán ghét và có thái độ thù địch với Đảng và Nhà nước. Các hiện tượng tham nhũng là cơ hội cho các thế lực thù địch tuyên truyền, tung hô các quan điểm, giá trị phương Tây, giá trị của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch quy chụp tham nhũng chỉ tồn tại và nở rộ ở chế độ một đảng như Việt Nam, thuộc về bản chất thể chế, vì vậy để chống tham nhũng phải đa nguyên đa đảng...

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng. Khi cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân chi phối, chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân, gia đình, lối sống thực dụng ít quan tâm đến lợi ích chung của cộng đồng đã dẫn tới việc lạm dụng chức vụ quyền hạn để mưu lợi cá nhân. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức chỉ một lòng phấn đấu cho lý tưởng của Đảng là mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân thì sẽ không có hành vi tham nhũng. Hơn nữa, lối sống xa hoa, lãng phí, tiêu xài quá mức, tiền lương không thể đáp ứng được dẫn tới tham ô, bòn rút công quỹ hoặc tiền của nhân dân để phục vụ cho lối sống hưởng thụ đó. Tham nhũng thực chất là hành vi thiếu văn hóa mà nguyên nhân là sự phai nhạt lý tưởng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cũng có quan hệ với nguy cơ chệnh hướng XHCN ở nước ta. Cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược mà suy thoái về tư tưởng chính trị, không kiên định con đường đi lên CNXH, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời tôn chỉ mục đích của Đảng thì sẽ làm cho đường lối, chính sách của Đảng không còn giữ được định hướng XHCN nữa. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống và tư tưởng chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi đã mắc căn bệnh này thì sẽ bị lây nhiễm bệnh khác và đều do sự suy thoái về tư tưởng chính trị gây nên. Khi cán bộ, đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, chỉ chạy theo chủ nghĩa cá nhân dẫn tới quay lưng với những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc (các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc hướng tới cộng đồng, đất nước), tôn vinh các giá trị phương Tây, chạy theo chủ nghĩa thực dụng, hưởng thụ... chính là đang chệnh hướng XHCN trong lĩnh vực văn hóa.

Đặc biệt, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống có mối quan hệ chặt chẽ với nguy cơ “diễn biến hòa bình”. Điều này đã được Đảng ta nhiều lần khẳng định. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta lại tiếp tục nhấn mạnh: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(17). Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là bằng những biện pháp tác động bên ngoài để làm thay đổi tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ở trong nước, tạo ra sự tự diễn biến bên trong, hoài nghi vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên CNXH ở nước ta, chạy theo chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, quay lưng với nhân dân, đất nước, thúc đẩy các hoạt động chống đối ngay bên trong nội bộ. Từ chỗ hoài nghi đến chỗ chống Đảng, chống chế độ, truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch là rất gần. Các thế lực thù địch sẽ lợi dụng những cán bộ, đảng viên bị suy thoái này để thực hiện “tự chuyển hóa”, tiến tới bạo loạn chính trị, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, nếu tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên không được khắc phục kịp thời sẽ là nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của chế độ XHCN.

Có thể nói, các nguy cơ đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở Việt Nam mà Đảng ta khẳng định có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu một nguy cơ nào đó tăng hoặc giảm sẽ làm cho các nguy cơ khác tăng và giảm theo. Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải quan tâm xóa bỏ tất cả các nguy cơ, không được xem nhẹ nguy cơ nào.