Thứ Năm, 8 tháng 7, 2021

Sản xuất chật vật vì 'giấy thông hành'

Không chỉ hàng thực phẩm, tiêu dùng gặp khó, các doanh nghiệp sản xuất trong và ngoài TP HCM cũng đang chật vật khâu tổ chức logistics. Duy Anh là một doanh nghiệp thực phẩm có cơ sở sản xuất tại huyện Củ Chi, TP HCM. Do nhân sự chủ yếu là người địa phương hoặc ở trọ gần đó nên không gặp khó khăn nhiều trong khâu tổ chức lực lượng lao động. Tuy nhiên, việc lưu thông hàng hóa lại bị ảnh hưởng vì tài xế công ty phải test nhanh Covid-19 mới có thể giao hàng cho đối tác. "Hiện tại, số nơi test ít mà nhiều người muốn được test nên việc xếp hàng hay tập trung đông cũng gây khó khăn", ông Lê Duy Toàn, Giám đốc Công ty Duy Anh, cho biết. Theo khảo sát của VnExpress, nhiều doanh nghiệp sản xuất tại TP HCM và các tỉnh lân cận có lưu thông nguyên vật liệu, thành phẩm với thành phố khá "chật vật" trong việc tổ chức logistics trong những ngày qua. Nguyên nhân bởi hàng loạt địa phương yêu cầu người ra vào địa giới hành chính phải có giấy kết quả xét nghiệm âm tính Covid-19, giới tài xế và doanh nghiệp hay gọi quen thuộc là "giấy thông hành". Từ 5/7, Thành phố Dĩ An (Bình Dương) thực hiện cách ly xã hội theo Chỉ thị 16 nên người ra vào phải có "giấy thông hành". Cùng ngày, các chốt kiểm soát dịch Covid-19 ở Đồng Nai bắt đầu kiểm tra giấy xét nghiệm âm tính Covid-19 của người từ TP HCM và Bình Dương đi vào tỉnh. Nhiều tỉnh Tây Nam Bộ cũng có lệnh tương tự. Ví dụ, Vĩnh Long đã quy định người đến tỉnh này từ vùng dịch phải có giấy xét nghiệm âm tính hiệu lực trong 72 giờ từ cuối tháng trước. Hay hôm 7/7, người đến Tiền Giang phải có kết quả xét nghiệm âm tính bằng phương pháp Realtime RT-PCR không quá 3 ngày. Ở đầu ra vào TP HCM, sáng 8/7, Bộ Giao thông Vận tải yêu cầu tất cả người điều khiển, người phục vụ, hành khách trên phương tiện vận chuyển hành khách, hàng hóa khi từ TP HCM đi các tỉnh, thành phố khác hoặc từ tỉnh, thành phố khác đến TP HCM bắt buộc phải có giấy xét nghiệm âm tính với nCoV. Bị thiếu hụt tài xế trong đợt bùng phát lần 4, AhaMove, một nền tảng giao hàng khu vực nội thành TP HCM và lân cận cho hay, từ 5/7, sau khi chính quyền một số khu vực yêu cầu giấy thông hành đối với người lao động di chuyển từ TP HCM đi Bình Dương và Đồng Nai, các đơn hàng liên tỉnh của họ và cả của các doanh nghiệp vận chuyển khác bị ùn ứ. "Diễn biến dịch bệnh quá nhanh khiến cho các lệnh ban hành và áp dụng khá đột ngột, thường chỉ trong vòng hơn một ngày. Trong khi đó, thực tế thời gian có kết quả xét nghiệm tập trung thường kéo dài hơn. Một số tài xế của chúng tôi chưa sắp xếp được thời gian để xét nghiệm đáp ứng điều kiện thông chốt kiểm dịch này", đại diện AhaMove cho biết. Một doanh nghiệp sản xuất ngành thiết bị điện yêu cầu giấu tên cho biết, vấn đề lớn nhất là ở việc các quy định thuộc Chỉ thị 16 (ra vào thành phố phải có giấy xét nghiệm trong bao nhiêu ngày, thủ tục ra sao, thời hạn có hiệu lực...) vẫn còn chưa thống nhất giữa các tỉnh thành lân cận và thường có sự thay đổi. "Do đó, doanh nghiệp sản xuất - nhất là doanh nghiệp có cơ sở sản xuất ở các tỉnh thành phụ cận sẽ vướng phải nhiều khó khăn trong vấn đề lưu thông hàng hoá hoặc bố trí nhân công làm việc", vị đại diện công ty nói. Ông Phạm Thanh Bình, Tổng giám đốc công ty Bích Chi, một doanh nghiệp thực phẩm trụ sở chính ở Đồng Tháp cho hay, các tỉnh lẻ có rất ít điểm xét nghiệm nên tài xế phải ngồi chầu chực chờ đợi. "Xét nghiệm liên tục vậy thời gian đâu nữa chở hàng. Nếu xoay không kịp giấy thì tài xế phải tạm nghỉ, hàng hoá phải dừng chứ không biết làm sao", ông Bình nói. Đó là chưa kể chi phí đang dội lên, khi một lần test nhanh Bích Chi phải tốn khoảng 300.000 đồng. Dù vậy, đây là mức giá đã tương đối "mềm". Hiện nay, giá xét nghiệm bằng phương pháp Realtime PCR mẫu đơn là hơn 700.000 đồng một lần. Xét PCR mẫu gộp thì hơn 600.000 đồng chia cho số mẫu (5 hoặc 10) cộng với 100.000 đồng một mẫu tiền công lấy mẫu và bảo quản bệnh phẩm. Lựa chọn "nhẹ nhàng" nhất là phương pháp test nhanh giá từ hơn 200.000 đồng đến 400.000 đồng mỗi lần, tùy mỗi cơ sở. Mới đây, Hiệp hội doanh nghiệp Logistics Việt Nam (VLA) vừa đưa ra kiến nghị không xét nghiệm PCR với lái xe ra vào vùng dịch để tiết kiệm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp với Sở Giao thông Vận tải, Công Thương TP HCM. Theo VLA, khi ra vào vùng dịch, tài xế được trang bị bảo hộ và chỉ ngồi trên cabin, không ra khỏi xe khi giao và nhận hàng. Đồng thời, tài xế thực hiện nghiêm theo văn bản 898 về hướng dẫn phòng chống dịch Covid-19 của Bộ Y tế. Do đó, theo hiệp hội, rủi ro lây nhiễm từ lái xe ra cộng đồng là rất hiếm. Một số doanh nghiệp nói rằng họ hiểu rõ các địa phương cũng đang phải căng thẳng chống dịch, nên khó có việc giới chức sẽ bỏ "giấy thông hành". Một số lãnh đạo cho rằng họ cũng "không biết đề xuất gì nhiều", vì tình thế đang tiến thoái lưỡng nan cho nhà quản lý lẫn doanh nghiệp. Trước mắt, doanh nghiệp kỳ vọng việc cấp giấy thông hành được thống nhất giữa TP HCM và các địa phương về thời hạn hiệu lực, quy trình thủ tục và mở rộng các điểm xét nghiệm để giải tỏa quá tải. "Tôi nghĩ ngoài nghiêm túc 5K, nên tạo điều kiện cho hoạt động giao nhận hàng, hoặc là tiêm đại trà vaccine cho lái xe để họ có chứng nhận mà giao hàng", ông Bình chia sẻ dù hiểu, giờ bỏ quy định giấy xét nghiệm âm tính cũng khó, mà cũng chưa thể tiêm ngay vaccine. Nhìn chung, các doanh nghiệp sản xuất cho biết đang gặp khó nhất ở khâu logistics. Một số khó khăn còn lại đều đã có lời giải tạm thời. Phía doanh nghiệp thiết bị điện cho hay đã có sự chuẩn bị phần nào nguồn hàng tại các kho trong nội thành TP HCM, vẫn đủ trong một thời gian dài sắp tới. "Các vấn đề về thiết hụt hàng hoá phục vụ nhu cầu người dân thành phố trong giai đoạn giãn cách sẽ không gặp quá nhiều hạn chế", đại diện công ty khẳng định. Công ty Duy Anh giờ không tuyển thêm người mới dù có đơn đặt hàng. Lao động tại xưởng chưa được tiêm vaccine, nên công ty sợ có F0 sẽ ảnh hưởng đến cả xưởng. Hàng ngày, ngoài lo sản xuất để kịp các đơn hàng đã ký, ông Lê Duy Toàn liên tục theo dõi tình hình để liên hệ khách cho thêm ngày xuất. Không chỉ lưu thông nội địa, công ty này còn bị ảnh hưởng bởi giá cước tàu vận chuyển tăng, cùng với việc thiếu container. "Mong muốn lớn nhất là dịch bệnh ổn và kết thúc nhanh chóng, chứ tính hình này mà kéo dài quá thì mọi người kiệt sức hết và cũng không chịu đựng nổi", ông Toàn chia sẻ.

Thêm 580.000 liều vaccine AstraZeneca về Việt Nam

580.000 vaccine phòng Covid-19 AstraZeneca theo hợp đồng VNVC đặt mua 30 triệu liều, đã về đến sân bay Tân Sơn Nhất, sáng 9/7. Đây là lần giao thứ ba trong hợp đồng 30 triệu liều mà Công ty Cổ phần Vắc xin Việt Nam (VNVC) đặt mua trước của AstraZeneca, sau đó chuyển giao theo nguyên tắc phi lợi nhuận cho Bộ Y tế. Đợt đầu tiên về ngày 24/2 với 117.600 liều và đợt hai về tối 25/5 với 287.600 liều. Ông Ngô Chí Dũng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc VNVC cho biết, 580.000 liều vaccine này sẽ tiếp tục được chuyển giao phi lợi nhuận cho Bộ Y tế, nhằm kịp thời triển khai tiêm chủng cho người dân, đặc biệt là các vùng dịch hiện nay. Ngoài ra, VNVC cũng cam kết đồng hành trong quá trình tiếp nhận vaccine từ nhà sản xuất AstraZeneca và chuyển giao cho Bộ Y tế. Ông Nitin Kapoor, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc AstraZeneca Việt Nam và các thị trường châu Á mới nổi, cho biết chuyến đưa vaccine về Việt Nam lần này được xem là đánh dấu sự gia tăng năng lực cung ứng của hãng cho châu Á - Thái Bình Dương, thông qua 7 chuỗi cung ứng được thiết lập trong khu vực. Theo ông Nitin Kapoor, AstraZeneca đang mở rộng năng lực sản xuất để cung ứng vaccine. Mỗi lô vaccine trải qua hơn 60 thử nghiệm kiểm soát chất lượng khác nhau trong suốt quá trình từ giai đoạn sản xuất đến tiêm chủng. "AstraZeneca tiếp tục hợp tác với Bộ Y tế, WHO, UNICEF và VNVC để cung cấp thêm hàng triệu liều cho Việt Nam trong những tháng tới", ông Nitin Kapoor nói. Cũng trong sáng nay, hơn 400.000 liều vaccine Covid-19 AstraZeneca do Nhật Bản hỗ trợ đã về tới sân bay Tân Sơn Nhất. Đây là số vaccine nằm trong một triệu liều mà Nhật Bản hôm 25/6 thông báo tiếp tục viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam. Trước đó, một phần của gói viện trợ đã đến TP HCM ngày 2/7. Hiện, hơn 5,7 triệu liều vaccine AstraZeneca được chuyển đến Việt Nam thông qua hợp đồng đặt mua trước, Cơ chế Covax và viện trợ song phương giữa chính phủ các nước. Trong đó, gần một triệu liều từ hợp đồng 30 triệu liều đặt mua trước của VNVC với AstraZeneca. Vaccine Covid-19 của AstraZeneca tên AZD1222, là loại đầu tiên được Việt Nam cấp phép sử dụng, hỗ trợ chương trình tiêm chủng quốc gia của Chính phủ và Bộ Y tế. Đến ngày 8/7, tổng cộng cả nước đã thực hiện tiêm khoảng 3,9 triệu liều vaccine AstraZeneca, cho nhân viên y tế, lực lượng tuyến đầu chống dịch và các nhóm ưu tiên diện mở rộng. Nghiên cứu của Cơ quan Y tế Công cộng Anh (PHE) trong hai tháng đầu quý hai năm 2021 cho thấy vaccine AZD1222 đạt hiệu quả 92% trong việc giảm số ca nhập viện do biến thể Delta, không có trường hợp tử vong trong số những người được tiêm chủng. AZD1222 đã được cấp phép lưu hành có điều kiện hoặc phê duyệt sử dụng khẩn cấp tại hơn 80 quốc gia, dưới dạng phác đồ hai liều cách nhau từ 4 đến 12 tuần cho người từ 18 tuổi trở lên. Hơn 600 triệu liều vaccine được cung cấp cho 170 quốc gia trên thế giới, trong đó hơn 100 quốc gia thông qua Cơ chế Covax.

CHÚNG TA CÓ QUYỀN TỰ HÀO VỀ DÂN TỘC VIỆT NAM


     Thật xấu hổ khi lòng tự hào, tự tôn dân tộc không còn ở một bộ phận người trong đất nước ta, nhất lại là tầng lớp có học; hễ mở miệng là họ ca ngợi các nước phương Tây, họ tự hạ thấp mình và họ cho đó mới là cách nhìn nhận đúng đắn để mình có thể vươn lên, trong khi đó các nhà nghiên cứu, các chính trị gia các nước kể cả Tổng thống Hoa Kỳ cũng đã ca ngợi đất nước ta là một quốc gia kỳ diệu hơn 40 năm qua nền kinh tế đã tăng trưởng gấp 30 lần ...Tất nhiên chúng ta không thể vì lời ca ngợi của bạn bè mà tự mãn và càng không thể vì lời khen của các nhà lãnh đạo của nước nào đó mà chủ quan cho rằng mình hơn mọi người; song không thể chấp nhận tính tự ti, đớn hèn, nhược tiểu đến mức như các vị đã nói ở trên.

Tôi đi nước ngoài khá ít song có thể nói rằng ta còn nhiều điều thua kém các nước phát triển, song không có nghĩa ta chẳng có cái gì hơn bạn bè mà ngược lại ta có không ít điều mà các nước khác phải phấn đấu theo ta. Chỉ đơn cử sau 30 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam chúng ta tăng trưởng gấp 25 lần, nhìn lại quanh ta chỉ có nước láng giềng phương Bắc là vượt ta còn lại đều có chỉ số tăng trưởng kém ta từ 3-4 lần, chỉ số giảm nghèo Việt Nam là quốc gia mà cả thế giới học tập, đến nay chúng ta chỉ còn khoảng 8% số hộ nghèo đa chiều, so sánh ngay các nước ASEAN ta chỉ thua Singapo, Bruney còn vượt trên các nước khác trong khối, chỉ số hạnh phúc, an toàn chúng ta cũng nằm trong nhóm dẫn đầu của châu Á, nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng chúng ta đứng tốp ten thế giới . Hãy nhìn đúng mình, đúng vị trí của mình đối với thế giới để có lòng tự hào, tự tôn dân tộc, mất nó mãi mãi là nhược tiểu, yếu hèn.

Tôi nhớ khi đi cùng đoàn tham quan Paris hoa lệ , tôi đã gặp một đoàn khách nước ngoài, họ hỏi đoàn mình có phải Trung quốc không? Bọn mình trả lời Việt Nam ! Cả đoàn họ nhiều người cùng nói: Việt Nam - Hồ Chí Minh ! Thế là hai bên cùng bắt tay nhau rất thân tình và trong lòng mình thật vui vì mình là người Việt Nam và vì Việt Nam có Bác Hồ. Nay nhắc lại để thấy chúng ta có quyền tự hào về dân tộc mình./.


Yêu nước ST.

Cần tỉnh táo nhận diện những chiêu bài, thủ đoạn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đang ra sức đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” bằng việc chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chia rẽ nội bộ, gây mất ổn định về chính trị nhằm cản trở quá trình Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch về Đảng Cộng sản Việt Nam theo các hướng chủ yếu sau: * Thứ nhất, những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, bóp méo để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều sai lầm trong quá khứ, dù quá khứ có làm được một số việc thì bây giờ chuyển sang thời kỳ mới, Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ sức để lãnh đạo đất nước. Từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam so với các nước trong khu vực, các thế lực thù địch đã lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả nên cần phải “trả lại cho nhân dân Việt Nam quyền tự quyết định vận mệnh của chính mình và của đất nước”. Với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các thế lực thù địch đã khuyên nước ta cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập” vì Đảng có “một bộ máy đã tạo nên một xã hội không có tự do, dân chủ”. Chúng cho rằng: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Chúng lập luận rằng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội là theo “chế độ đảng trị = đảng chủ”, “thể chế Việt Nam hiên nay là không phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Chế độ một Đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền”, “Hiến pháp của Việt Nam là không chính danh, chỉ là Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam độc tài, toàn trị”. Như một thông lệ, trước thềm các kỳ đại hội của Đảng, các thế lực thù địch lại tấn công mạnh mẽ vào vai trò lãnh đạo của Đảng bằng những luận điệu xuyên tạc. Điển hình là trước khi Đại hội XII diễn ra, đã có những luận điệu vu khống cực kỳ phản động: “Cộng sản khinh dân, Đảng Cộng sản đã mạo nhận là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Trong lịch sử, không có khi nào Đảng Cộng sản phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà cộng sản chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi của Đảng Cộng sản”. Từ việc đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch còn lên tiếng đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo của Đảng. * Thứ hai, những quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận đường lối cách mạng của Đảng, phủ nhận công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bên cạnh việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong thời gian qua, các thế lực thù địch còn ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng qua các cương lĩnh, văn kiện. Các thế lực thù địch cho rằng, việc ban hành các cương lĩnh, văn kiện là thể hiện sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”, thể hiện sự “sự chuyên chính của một đảng”, “sự thống trị quan liêu của giới thượng lưu”. Những luận điệu này được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều nhằm phá hủy lòng tin của Nhân dân với Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng và Nhà nước với Nhân dân. Chúng tập trung tuyên truyền những luận điệu này ngày càng nhiều nhằm kêu gọi nhân dân phải “tỉnh ngộ”, từ bỏ đường lối lãnh đạo của Đảng. Trắng trợn hơn, chúng còn đưa ra luận điệu đòi “đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc để giữ gìn độc lập, chủ quyền của đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”. Trọng tâm của sự công kích, chống phá cương lĩnh, văn kiện của Đảng là sự xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch về con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vấn đề dân tộc, dân chủ, tôn giáo, nhân quyền… Dễ dàng nhận thấy thực chất của sự chống phá này là phủ nhận đường lối xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra trong các cương lĩnh chính trị; từ đó cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản nhằm gây nên sự hoang mang, dao động của nhân dân về con đường phát triển đất nước, sâu xa hơn nữa là nhằm phá vỡ từng mảng nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tạo ra sự khủng hoảng chính trị, làm chệch hướng con đường mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Bên cạnh những luận điệu phủ nhận về đường lối lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch còn ra sức tấn công vào công cuộc xây dựng Đảng hiện nay. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Chúng còn dự đoán tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng: “Trước tình hình cai trị độc tài, vô hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông”. * Thứ ba, những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về cán bộ lãnh đạo của Đảng. Trong hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, một mục tiêu mà các thế lực thù địch luôn hướng tới là các cán bộ lãnh đạo của Đảng. Vì xác định đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là “linh hồn” của Đảng nên các thế lực thù địch đã ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao của Đảng nhằm tạo nên sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân. Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng truyền thông, nhất là mạng xã hội để phát tán các bài viết, video, clip xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của các lãnh tụ của Đảng, các cán bộ lãnh đạo nhằm tạo ra sự bất mãn trong nhân dân, kích động “phản biện xã hội”, nhất là vào các dịp trước, trong và sau Đại hội Đảng. Gần đây, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”, các mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân đứng lên khiếu kiện tập thể, gây rối trật tư công cộng, bêu riếu một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; từ đó tạo điều kiện để cho các phần tử cơ hội chính trị nước ngoài tham gia gây nên tình trạng mất ổn định chính trị nghiêm trọng tại một số địa phương. Trước thềm Đại hội XIII, “đến hẹn lại lên”, các thế lực thù địch ra sức đồn đoán về tình hình nhân sự của Đại hội Đảng, tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi nhọ những đồng chí có tên trong danh sách bầu cử Đại hội Đảng các cấp, nhất là nhân sự của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch khi thực hiện sự chống phá này là chúng móc nối, xâm nhập vào nội bộ của Đảng, tìm cách phân hóa tổ chức để tìm ra “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. “Ngọn cờ” mà các thế lực thù địch hướng tới chính là những phần tử ở ngay trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng nhưng có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn chính trị. Đây chính là những kẻ “tay trong” được các thế lực thù địch lợi dụng nhằm lấy thông tin để thêu dệt, xuyên tạc về các lãnh tụ của Đảng nói riêng và công tác nhân sự của Đảng nói chung. Có thể nhận thấy, các thế lực thù địch đã dùng những chiêu bài, thủ đoạn rất tinh vi để xuyên tạc, phủ nhận Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích lớn nhất của những chiêu bài này là nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, kêu gọi thực hiện “đa nguyên chính trị”, từ đó tiến tới xây dựng một chế độ chính trị mới ở Việt Nam do các thế lực thù địch, phản động giật dây, điều khiển. Đây là một âm mưu rất nguy hiểm, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần được tỉnh táo nhận diện.

Lười học tập, nghiên cứu nghị quyết chính là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

Theo quy định của Đảng, hằng năm tùy vào tình hình cụ thể, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đều xây dựng kế hoạch tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập, nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Phương pháp, hình thức tổ chức học tập, nghiên cứu cũng được tiến hành phù hợp với điều kiện thực tế, trong đó cần đặt chất lượng học tập, nghiên cứu lên hàng đầu. Đặc biệt, những năm gần đây, 100% cán bộ, đảng viên sau mỗi kỳ học tập, nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đều phải tiến hành viết bài thu hoạch hoặc làm bài kiểm tra. Kết quả kiểm tra nhận thức sau mỗi đợt học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng trở thành tiêu chí trong xem xét, đánh giá trình độ, năng lực của từng cán bộ, đảng viên. Về hình thức tổ chức học tập cũng có sự đổi mới đáng kể, nhất là trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển nhanh. Không ít lớp học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã được tổ chức bằng hình thức trực tuyến với sự tham gia của hàng chục nghìn cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở. Để chống bệnh lười học tập, nghiên cứu nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước là vấn đề tồn tại trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Ngay từ năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”. Theo đó, Người cảnh báo đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nhận thức một cách đầy đủ việc chủ động, tích cực học tập, nghiên cứu nghị quyết của Đảng. Trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tập trung triển khai thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 9/3/2021 của Bộ Chính trị về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, thì đây là vấn đề cần được cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên hết sức lưu tâm. Soi chiếu vào thực tế, tuy việc tổ chức học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng được tiến hành rất công phu với những quy định chặt chẽ và rất cụ thể, nhưng điều rất đáng bàn là chất lượng lại chưa đạt như mong muốn. Không ít cán bộ, đảng viên tham gia học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã có sẵn tư tưởng mang theo một số cuốn truyện, hay một số tờ báo để “nghiên cứu”, nên sau mỗi buổi học hoàn toàn không hay biết báo cáo viên đề cập vấn đề gì, thậm chí tiêu đề cũng không nhớ mà chưa nói tới nội dung. Đặc biệt, ở hầu hết các lớp học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng, phần lớn cán bộ, đảng viên chỉ nghe, rất ít người ghi chép. Quả thật, nếu ai đó có biệt tài nghe rồi nhớ thì thật đáng nể phục, nhưng sự thật là nhiều người... quên. Vậy nên, dù việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng có được tổ chức công phu đến mức nào, nếu tư tưởng học tập như trên thì vẫn chỉ là việc học thì thật, nhưng kiến thức là giả. Khi nêu vấn đề này, không ít người cho rằng, nói thế chưa thật chính xác, vì qua kiểm tra, đánh giá sau mỗi đợt học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của cán bộ, đảng viên do cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiến hành cho thấy kết quả khá cao; tỷ lệ cán bộ, đảng viên có bài thu hoạch hoặc bài kiểm tra đạt điểm khá, giỏi chiếm phần lớn. Đúng là vậy, nhưng điểm số trong từng bài thu hoạch chưa hẳn đã phản ánh thực chất chất lượng học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của mỗi cán bộ, đảng viên khi mà phần lớn các bài viết thu hoạch đều được sao chép gần như nguyên xi so với nghị quyết. Trước thực trạng này, không ít cán bộ, đảng viên “lý luận” rằng: Đã là nghị quyết của Đảng thì viết thu hoạch không thể khác được. Điều này không sai, nhưng quan trọng hơn là sau khi nghiên cứu, học tập nghị quyết thì yêu cầu đặt ra đối với từng cán bộ, đảng viên không chỉ là chuyện thuộc nghị quyết, mà cần phải hiểu nghị quyết và vận dụng hiệu quả vào đời sống thực tế trên cương vị công tác của mình. Căn cốt của việc học tập nghị quyết là để thực hành nghị quyết. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế... Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế”. Người chia lý luận làm hai loại: “Lý luận suông, vô ích” và “lý luận thiết thực, có ích”. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là “lý luận suông”. “Lý luận thiết thực” là những vấn đề do thực tế nảy sinh đòi hỏi phải giải quyết trên cơ sở lý luận, chẳng hạn “muốn biết ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào thì trước hết... phải biết chủ nghĩa xã hội là gì”. Dẫn lại lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thấy rằng, việc nghiên cứu, học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng là rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên; nhưng điều quan trọng hơn, cần thiết hơn là việc vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn với mục đích nâng cao chất lượng công tác để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chỉ khi nào và lúc nào mọi cán bộ, đảng viên có nhận thức đầy đủ như vậy thì việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng mới khắc phục được tình trạng: Học thật nhưng kiến thức giả. Như vậy, việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở mỗi cán bộ, đảng viên cần được tiến hành thường xuyên, liên tục. Thực tế, hiện sự chủ động trong nghiên cứu, học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở nhiều cán bộ, đảng viên hoàn toàn phụ thuộc vào các lớp học tập trung do cấp ủy, tổ chức đảng ở từng cấp triệu tập. Chất lượng, việc tổ chức học tập tập trung như phần trên bài viết này đã phân tích. Do không thường xuyên học tập, nghiên cứu nên có không ít cán bộ, đảng viên hiểu và vận dụng chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đúng với thực tiễn, thậm chí cá biệt có trường hợp vận dụng trái ngược với nghị quyết. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng công việc của cá nhân, đơn vị mà còn gây ra rất nhiều hệ lụy cho người dân, gây rối bận cho tổ chức. Tình trạng đơn thư vượt cấp kéo dài có một phần nguyên nhân chính từ việc đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức ở cơ sở không nắm vững chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải quyết trước những đòi hỏi chính đáng của người dân. Nói về vai trò của lý luận, Bác Hồ từng ví đó như “trí khôn của con người”. Sẽ chẳng ai có thể đọc một lần nghị quyết là hiểu ngay, nhớ ngay. Vì vậy, nếu chỉ phụ thuộc vào việc học tập, nghiên cứu nghị quyết của Đảng theo hình thức tập trung, điều chắc chắn là sẽ không mang lại hiệu quả. Bởi vậy, sự chủ động, tích cực, tự giác trong học tập, nghiên cứu nghị quyết của từng cán bộ, đảng viên chính là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Lý luận về giáo dục và quá trình nhận thức đã được các nhà khoa học phân tích kỹ, xin không nhắc lại nhưng ai cũng hiểu rằng: Tự học, tự nghiên cứu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp nhận tri thức và sử dụng tri thức. Khi và chỉ khi nào từng cán bộ, đảng viên hiểu được thực chất của vấn đề, nắm vững vấn đề thì khi đó mới biết cách để vận dụng hiệu quả vào thực tiễn. Hiểu phương phưởng, đại khái, không nắm được bản chất sẽ không bao giờ hy vọng có được kết quả tốt trong hoạt động thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nghiên cứu lý luận chính trị không chỉ dừng ở phạm vi trường lớp mà phải nêu cao tinh thần tự học, học ở mọi nơi, mọi lúc: “Học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân”. Xuất phát từ thực tiễn và vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng của việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng để mỗi cán bộ, đảng viên suy ngẫm, tự kiểm điểm lại những việc mà mình đã làm, đang làm và sẽ làm. Chúng ta đều biết, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ ra một trong số biểu hiện để nhận diện sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng thẳng thắn thừa nhận: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức”. Như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức một cách đầy đủ rằng: Lười học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng chính là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đặc biệt là tự đánh mất “trí khôn” của mình. Bởi vậy, nếu không sớm nhận diện, sớm có giải pháp khắc phục thì sự suy thoái này sẽ gây nguy hại khôn lường, không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân, một tập thể, một địa phương, đơn vị mà còn ảnh hưởng đến uy tín, năng lực, sức chiến đấu của Đảng. Bởi, "Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt". Theo đó, trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tiến hành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về tổ chức học tập, nghiên cứu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, hy vọng mỗi cấp ủy, tổ chức đảng sẽ có nhiều cách thức đổi mới trong tổ chức học tập, nghiên cứu, nhưng điều quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến chất lượng học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự giác của từng cán bộ, đảng viên./.

Nhận diện các phương thức, thủ đoạn mới nhằm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT

Hiện nay, bản chất của chiến lược “Diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch tiến hành chống phá cách mạng Việt Nam không hề thay đổi. Thực ra, các biện pháp “Diễn biến hòa bình” bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, bóp nghẹt về kinh tế... làm suy yếu, tan rã đối phương nhằm mục tiêu “không đánh mà thắng” đã được các nhà chính trị, quân sự nhiều nước thực hiện từ lâu. Các thủ đoạn mới chỉ là việc thay hình, đổi dạng cho phù hợp với tình hình và diễn biến của thời cuộc. Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch dùng mọi phương thức trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để chống phá cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, các thế lực thù địch đã coi thủ đoạn “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang (LLVT) là một trong những mục tiêu, nội dung tấn công chủ yếu nhằm tìm cách thủ tiêu, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT. LLVT nhân dân là một trong những yếu tố cấu thành của tổ chức quyền lực nhà nước, có vai trò vô cùng quan trọng để bảo vệ chính thể, bảo vệ quyền lực nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, thể hiện tập trung ý chí, nguyện vọng của lực lượng lãnh đạo xã hội và của toàn dân nên việc quy định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với LLVT là cần thiết. Vì vậy, để thực hiện “phi chính trị hóa” LLVT, trong thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng tìm mọi thủ đoạn để tán phát, truyền bá các quan điểm sai trái, phản động, công kích sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục tung ra những luận điệu đòi “phi chính trị hóa” LLVT nhân dân Việt Nam. Thực chất âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” LLVT là nhằm tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND và CAND, làm cho hai lực lượng trọng yếu này không còn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Để thực hiện âm mưu, thủ đoạn này, các thế lực thù địch đã không ngừng gia tăng các hoạt động nhằm “phi chính trị hóa” LLVT. Mục đích không có gì khác hơn của họ là làm cho LLVT ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu và hòng vô hiệu hóa, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND và CAND. Thứ nhất, chúng đã và đang triển khai mạnh mẽ các mũi tấn công vào đạo đức, lối sống bằng các chiêu bài dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong LLVT dần dần bị suy thoái về đạo đức, lối sống, quen dần với cuộc sống hưởng thụ, đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích vật chất, sao nhãng, xem nhẹ việc tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Thứ hai, trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta; làm lu mờ bản chất, truyền thống của Quân đội, Công an; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ, làm mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu của LLVT. Đồng thời, ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với LLVT; đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Quân đội. Chúng xuyên tạc các sự kiện lịch sử có Quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị Quân đội, Công an,… hòng làm mất uy tín của Quân đội, Công an. Bằng những hoạt động tinh vi, xảo quyệt, chúng thâm nhập, móc nối, cài cắm người có tư tưởng chống đối vào Quân đội, Công an; triệt để lợi dụng mặt trái của kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội những hiện tượng tiêu cực để xuyên tạc truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội, Công an, làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, CAND... Đồng thời, trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, chúng lợi dụng ưu thế của internet để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, các blog có nội dung kích động, chống phá Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là sử dụng các hình ảnh cắt ghép, có nội dung lệch lạc nhằm bôi nhọ, làm mất uy tín của lực LLVT với nhân dân, cùng với đó, chúng triệt để sử dụng thủ đoạn dùng mạng xã hội để nhanh chóng kết nối thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chia rẽ Đảng, Nhà nước, LLVT với nhân dân; tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội và đặc biệt là trước các vấn đề nhạy cảm, vào các thời điểm nhạy cảm như tổ chức đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và kỷ niệm các sự kiện lớn của đất nước. Trước thực tiễn đó, việc tiến hành đánh giá, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hoá” LLVT nhằm chống phá cách mạng trong giai đoạn hiện nay; đồng thời đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh với âm mưu, hoạt động đòi “phi chính trị hoá” LLVT là vấn đề mang tính thời sự, có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết hơn bao giờ hết. Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ TRẮNG TRỢN TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM NHỮNG CHIÊU TRÒ NHÀM CHÁN CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CỰC ĐOAN, THIẾU THIỆN CHÍ

 

Nhằm xuyên tạc tình hình, bôi nhọ tự do báo chí Việt Nam là một chiêu trò luôn được những tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí, nhất là tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên sử dụng. Gần đây các trang mạng phi pháp hùa vào đăng tải, kèm theo “bình luận” của một số nhân vật “có uy tín” của RSF. Trong Bảng xếp hạng này, RSF đã xuyên tạc, bôi nhọ trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, khi cho rằng Việt Nam là “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger”. Thực tế cho thấy, bất cứ tổ chức, cá nhân nào tôn trọng sự thật khách quan đều thấy rõ, ở Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí được Nhà nước bảo đảm ngày càng tốt hơn. Điều đó được thể hiện trên cả hai phương diện.

Về phương diện pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế về quyền con người. Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,…Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Báo chí, Luật An ninh mạng, Luật Tiếp cận thông tin và các luật, bộ luật có liên quan, quy định rõ về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản lý nhà nước về báo chí.

Trên thực tế, với khung pháp luật khoa học, phù hợp thực tiễn, rõ ràng, được Nhà nước ủng hộ, tạo điều kiện bảo đảm cho nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Đến tháng 01/2021, ở Việt Nam có đầy đủ các loại hình báo chí, với 779 cơ quan báo chí và hơn 21.000 người làm báo đã được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan báo chí thực sự là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, diễn đàn của nhân dân. Trong hành nghề, các cơ quan báo chí, nhà báo luôn tuân thủ đúng pháp luật, thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân.

Với tôn chỉ, mục đích của mình, các cơ quan báo chí không chỉ tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu trên mọi lĩnh vực của đất nước và thế giới, mà còn góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin, văn hóa lành mạnh của nhân dân; bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương “người tốt, việc tốt”, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; phòng, chống những hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Không những vậy, báo chí còn góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam; mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc; tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững.

Hiện nay, một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử đã được đưa vào vận hành, hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ đã thực hiện kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia. Nhiều đơn vị đã áp dụng chữ ký số cá nhân trong gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi trường điện tử, như: Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Ủy ban Dân tộc,... tạo sự thay đổi về lề lối làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng như việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp.

Cùng với việc đảm bảo ngày càng tốt hơn về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết trừng trị những tổ chức, cá nhân lợi dụng vấn đề này để có những hành vi tung tin xấu độc, xuyên tạc, bôi nhọ, kéo bè, lập phái chống đối nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cơ quan chức năng Nhà nước Việt Nam đã điều tra, bắt giữ, truy tố một số đối tượng vi phạm pháp luật, tự xưng là “Nhà đấu tranh cho dân chủ”, “nhà báo tự do”,… dưới dạng là bloger chuyên viết bài, làm video clip,… với nội dung xuyên tạc sự thật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,… hay là những lời “kêu gọi” lập đảng, lập hội… chống đối chế độ để tung lên mạng xã hội như (Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,…).

Những việc làm đó đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, làm cho người dân vô cùng phẫn nộ. Vì thế, bắt giữ, điều tra, xét xử, truy tố những đối tượng như trên là việc làm cần thiết, vừa đúng quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, vừa nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mọi tổ chức và cá nhân. Việc một số tổ chức, cá nhân cố tình xuyên tạc bóp méo sự thật và cho rằng Nhà nước Việt Nam điều tra, bắt giữ, truy tố những kẻ trên là “vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí” và trở thành “một nhà tù lớn nhất trên thế giới dành cho các nhà báo và blogger” là hết sức phi lý, xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, chà đạp, bôi nhọ pháp luật Việt Nam, chuyên bảo kê cho tội phạm, không xứng với tôn chỉ mục đích, danh xưng mỹ miều “Phóng viên không biên giới”.

Ở Việt Nam nếu còn các nhà báo “dởm, phản động” như Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh…thì pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục điều tra, bắt giữ, truy tố và nhổ tận gốc rễ những kẻ xưng danh nhà báo, nhưng lại không có lương tâm làm báo, chuyên soi mói, bóp méo sự thật để đạt được mục đích của cá nhân mà thôi./.

CẦN NĂNG CAO CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, cần vạch trần những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng, qua đó chủ động phòng ngừa, đấu tranh, năng cao cảnh giác cho mỗi cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.   

Trong tình hình hiện nay, khi lĩnh vực truyền thông được hưởng lợi ích từ những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4., nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, lại bị tác động không mong muốn, ngoài sự kiểm soát bởi “lợi ích phi truyền thống” từ truyền thông đưa lại. Cụ thể, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đã, đang tiếp tục triệt để lợi dụng, khai thác tính lan tỏa nhằm đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng, kích động hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mục tiêu làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi sảo quyệt hơn.

Thường lợi dụng trang thông tin điện tử, mạng xã hội để đăng tải, đưa các thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất thông tin trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ trạng thái, bình luận gây hiệu ứng tâm lý xã hội trước những vấn đề có tính thời sự của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan tâm, theo dõi của người đọc thì các thế lực thù địch và phần tử xấu sẽ đưa vào những thông tin giả mạo, xấu độc, lồng ghép với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế của đất nước, làm người đọc không phân biệt được những thông tin thật - giả, gây hoang mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, chúng lợi dụng tiến bộ khoa học của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ trạng thái, kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc, thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Nguy hiểm hơn nữa, chúng khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động.

Nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng của không gian mạng; thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Kết luận số 53-KL/TW ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội. Các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên quán triệt cho cán bộ chiến sỹ nhận thức đúng đắn tình hình, nâng cao tinh thần cảnh giác đối với những thủ đoạn mới của các thế lực phản động, thù địch. Đặc biệt trong thời gian này, khi dịch Covid còn diễn biến hết sức phức tạp ở nhiều địa phương... Các đơn vị cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện công tác bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, phát huy tinh thần tự giác cho cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, trong đơn vị mình về việc phòng, chống thông tin xấu, độc trên không gian mạng đạt được hiệu quả cao nhất.

CẦN TỈNH TÁO, CẢNH GIÁC ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BÓP MÉO SỰ THẬT

 

Thời gian qua, tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ cho rằng, Việt Nam lợi dụng phòng, chống dịch Covid - 19 có những hành động vi phạm nhân quyền, quyền tự do thân thể. Chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật này. Chúng ta đặt câu hỏi: Tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ họ có đại diện cho tiếng nói của người Mỹ hay không? Câu trả lời rằng: Xét về bản chất, tổ chức theo dõi nhân quyền là một tổ chức phi chính phủ, không chính thống, tổ chức hoạt động dựa trên những quyền lợi về mặt chính trị và kinh tế. Tiếng nói của nhóm người này mang quan điểm cá nhân, suy diễn một chiều, không đại diện cho nước Mỹ. Chính vì vậy, cách hành xử thiếu thiện chí theo lối bôi bẩn bức tranh đẹp, vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết của tổ chức này là một điều dễ hiểu, chỉ nhằm mục đích phục vụ cho những cá nhân, những tổ chức phá hoại, phản động.

Như chúng ta đã biết, Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất bị tổ chức này xuyên tạc, bóp méo. Do đó, chúng ta cần phải tỉnh táo, cảnh giác đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc này. Họ quy chụp Việt Nam lợi dụng Covid - 19 là một điều nực cười và thể hiện tầm tư tưởng hẹp hòi, ích kỷ, họ cố tình không hiểu rằng đại dịch Covid - 19 là một hiểm họa lớn trong lịch sử nhân loại, không quốc gia nào muốn, không ai muốn Covid - 19 tới, không ai mong nó tồn tại và không ai có nhu cầu lợi dụng nó làm bàn đạp cho sự ổn định của quốc gia, dân tộc mình.

Trong những đợt dịch bùng phát; Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, đồng lòng, cùng chung một ý chí, quyết tâm đẩy lùi đại dịch Covid - 19. Để chủ động phòng, chống dịch Covid - 19, Bộ Y tế đã ra thông điệp 5K “Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo y tế”, kêu gọi mọi người cùng nhau thực hiện việc chung sống an toàn với dịch bệnh. Chính vì thực hiện tốt thông điệp này, ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến chống dịch bệnh Covid - 19, Việt Nam đã nhanh chóng khống chế, dập tắt dịch bệnh, không để lây lan trong cộng đồng, như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phát biểu: “Có thể nói, chúng ta đã thắng trong chiến dịch mở màn, giai đoạn đầu của cuộc chiến chống dịch, chúng ta chưa chiến thắng cả cuộc chiến, nhưng nhất định chúng ta phải chiến thắng”.

Dưới tác động của dịch bệnh, rất nhiều người dân Việt Nam bị ảnh hưởng, bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc hoặc nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập. Do đó, hàng triệu người dân Việt Nam đều lo lắng dõi theo bước chân truy vết những ca lây nhiễm trong cộng đồng, nhất là vào các thời điểm bùng phát của ổ dịch ở Đà Nẵng đầu tháng 7/2020 hay ở Hải Dương vào cuối tháng 01/2021. Đặc biệt làn sóng dịch lần thứ tư, tại Bắc Ninh, Bắc Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, tại thời điểm đó, Đảng, Nhà nước cùng các cơ quan chức năng đã đưa ra những chỉ đạo quyết liệt và nhanh chóng, làm hết sức mình với khẩu hiệu “Chống dịch như chống giặc”, “Quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau” nhằm mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Các hành động đã mang hiệu quả tốt đẹp, là nhờ sự phối hợp của các cơ quan chức năng, cùng ý thức tự giác chi phối hành vi của người dân Việt Nam trong nghiêm túc thực hiện các quy định pháp luật đồng lòng chống dịch Covid - 19.

Một tờ báo Mỹ dành lời ca ngợi công tác chống dịch nhanh và mạnh mẽ của Việt Nam, bài báo dẫn lời ông trưởng đại diện Liên hợp quốc tại Việt Nam, theo đó ba yếu tố được coi là chìa khóa quyết định thành công của Việt Nam đó là truy vết, xét nghiệm và truyền thông đến từng người dân... Cũng đề cập cuộc chiến chống Covid - 19 ở Việt Nam tờ báo Nhân Đạo của Pháp nêu: Sự kết hợp phòng, chống Covid - 19 ở Việt Nam và tăng trưởng kinh tế, bài báo có tiêu đề: Diệt vi rút là động lực của tăng trưởng, tờ báo này cho rằng Việt Nam đang dựa vào chính thành tích chống dịch để thúc đẩy kinh tế và phát triển con người.

Việt Nam đã cho thế giới thấy cách chống dịch rất hiệu quả, nhờ sự vào cuộc sớm và mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị, cách chống dịch của Việt Nam rất bài bản và chia cụ thể theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn Việt Nam chứng minh phương án của mình hiệu quả bằng những con số ấn tượng. Điều đáng nói là Việt Nam bám rất sát với thực tế diễn biến dịch và linh hoạt điều chỉnh phương án chống dịch để phù hợp với hoàn cảnh biến đổi liên tục. Tổ chức y tế thế giới đồng tình với cách làm nới lỏng từ từ của Chính phủ trên cơ sở đánh giá rủi ro, làm từ từ để lắng nghe kết quả và hành động quyết liệt khi có biến động mới, và như thế Việt Nam mới không bị vỡ trận và những người yếu thế sẽ không bị bỏ lại phía sau.

Vậy mà, tổ chức theo dõi nhân quyền ở Mỹ đã không có được thông tin đầy đủ về Việt Nam hoặc họ cố tình không tiếp nhận những thông tin đúng về Việt Nam, thay vào đó họ căn cứ vào các bài viết của các phần tử phản động để suy diễn, bóp méo Việt Nam vi phạm quyền con người. Theo tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 quy định rõ: Ai cũng có quyền được sống tự do và an toàn thân thể, đó là quyền được sống, quyền bảo vệ môi trường sống một cách chính đáng, bất kể cá nhân, tổ chức nào vi phạm đến quyền được sống, quyền bảo vệ môi trường sống của số đông thì đều là hành vi vi phạm quyền con người.

Chính vì vậy, những người vi phạm lệnh giãn cách xã hội, trốn cách ly, tụ tập không theo quy định của Nhà nước, gây nguy hiểm đến sự an toàn cũng như tính mạng của các cá nhân khác trong cộng đồng mới là vi phạm nhân quyền. Việt Nam đang tập trung mọi nguồn lực để chống dịch Covid - 19, nhưng một số đối tượng vì thỏa mãn lợi ích cá nhân, lợi dụng tự do ngôn luận đã tung tin giả, sai sự thật, gây hoang mang dư luận, bị xử lý theo pháp luật và là hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai coi thường luật pháp. Việc này không vi phạm tự do ngôn luận, vi phạm tự do cá nhân. Đây chính là câu trả lời rõ nhất Vì sao Việt Nam đang rất thành công trong công tác dập dịch, vì Chính phủ Việt Nam có sự đồng thuận và niềm tin của người dân Việt Nam.

Chống dịch Covid - 19 và đảm bảo quyền con người là hai lĩnh vực không thể tách rời nhau ở Việt Nam. Là một quốc gia còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng, Chính phủ và Nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, đồng lòng cùng ý chí xây dựng một đất nước phồn vinh, một môi trường sống hòa bình và trong lành. Do đó, nói Việt Nam vi phạm nhân quyền, quyền về tự do thân thể là xúc phạm tới quyết tâm chung của toàn cầu để phòng, chống sự lây lan của dịch bệnh. Các tổ chức theo dõi nhân quyền ở hải ngoại dù cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật như thế nào chăng nữa, thì hơn 90 triệu người dân Việt Nam cũng không quan tâm đến những đánh giá, bình luận nhảm nhí đó của họ; bởi chúng ta đang làm đúng với lương tâm và trách nhiệm của mình.

 

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO TUYỆT ĐỐI, TOÀN DIỆN CỦA ĐẢNG SỰ QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CỦA NHÀ NƯỚC VỚI BÁO CHÍ

 

Những năm gần đây, lợi dụng báo chí điện tử, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị coi đây là “mảnh đất” màu mỡ để chống phá cách mạng Việt Nam, xuyên tạc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Chính vì vậy, báo chí cách mạng cần phải nâng cao năng lực, trình độ, tính chuyên nghiệp, xung kích, đi đầu đấu tranh bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, xứng đáng là vũ khí sắc bén “phò chính, trừ tà”.

Thực tiễn đã cho thấy, chỉ khi nào có sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách mạng mới thực sự là vũ khí sắc bén, phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền, định hướng dư luận; nâng cao nhận thức của toàn dân, tạo “thế trận tư tưởng” vững chắc trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, các cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước về báo chí, cơ quan báo chí tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới. Trọng tâm là, Chỉ thị số 22/CT-TW, ngày 17/10/1997 của Bộ Chính trị (khóa VIII ) về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo quản lý công tác báo chí; Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trong tình hình mới; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng  cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới”. Từ đó, thống nhất ý chí, hành động, thực hiện nhất quán quan điểm hoạt động báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan báo chí thường xuyên coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo để các ấn phẩm của mình thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, quy định của Luật Báo chí, phát huy tốt vai trò định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh phản bác tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực phản động.

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, báo chí luôn vận động, phát triển liên tục, nhưng đi kèm với đó là phát sinh những vấn đề mới, bất cập, đòi hỏi phải đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý của Nhà nước phù hợp với yêu cầu thực tiễn hoạt động báo chí và xu hướng mới. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách của Nhà nước đối với báo chí, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi để báo chí phát triển đúng hướng, đóng góp tích cực vào việc quản lý, giám sát, phản biện xã hội, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ vữn chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

HIỂU RÕ BẢN CHẤT TRUYỀN THỐNG QUÂN ĐỘI

 

Khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025: “Cán bộ, chiến sỹ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, giúp dân xóa đói, giảm nghèo; phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Đồng thời, Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; qua đó, ngày càng làm sâu sắc hơn, toả sáng hơn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới; khẳng định vai trò của “Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất”. Đặc biệt, trong những nỗ lực phòng, chống đại dịch COVID-19 thời gian qua cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sỹ toàn quân đã thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân”…

Gần đây, lợi dụng một số vụ việc xảy ra đối với các quân nhân, các thể lực thù địch tung bài xuyên tạc, kích động lôi kéo nhằm giảm uy tín của Quân đôi, hòng thực hiện âm mưu xấu xa can thiệp vào độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia của đất nước ta. Những khảng định của Tổng bí thư như những minh chứng sắc bén được lãnh đạo Đảng nhấn mạnh đã bẻ gãy mọi luận điệu xuyên tạc về truyền thống của Quân đội, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý.

5 năm phán quyết Biển Đông: Không có chuyện sức mạnh tạo ra công lý

 

5 năm phán quyết Biển Đông: Không có chuyện sức mạnh tạo ra công lý

Phán quyết Biển Đông đóng vai trò “dẫn đường” cho các nước liên quan trong cuộc đấu tranh vì một trật tự dựa trên luật lệ chứ không phải dựa trên “sức mạnh tạo ra công lý”. 

Ngày 12/7/2016, Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục 7 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) đã ra phán quyết lịch sử về việc Philippines yêu cầu giải thích một số điều khoản của Công ước trong quan hệ với Trung Quốc.

Những đóng góp quan trọng của phán quyết là:

- Khẳng định tính thống nhất và phổ cập của UNCLOS trong việc tạo ra khung pháp lý điều chỉnh quy chế pháp lý của lãnh thổ, đảo, đá, thực thể nửa nổi nửa chìm, bề rộng các vùng biển và các hoạt động hợp pháp trên biển. Tòa khẳng định các quyền và nghĩa vụ trên biển của quốc gia chỉ được điều chỉnh theo quy định của UNCLOS, bác bỏ mọi yêu sách trái với quy định của UNCLOS.

- Giải thích rõ mối quan hệ giữa quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế và các quyền lịch sử. Các quy định của Công ước đã thay thế tất cả các quyền lịch sử có nội hàm trái với quy định của Công ước. Trên cơ sở đó, Tòa đã bác bỏ yêu sách đường 9 đoạn trong Biển Đông

Lần đầu tiên, một cơ quan tài phán quốc tế đã giải thích cặn kẽ về điều 121 liên quan đến quy chế pháp lý của đảo, đá. Trên cơ sở đó, Tòa đã làm sáng tỏ bức tranh tranh chấp ở quần đảo Trường Sa và Scarborough. Tất cả các thực thể nổi ở quần đảo Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý. Tất cả bãi nửa nổi nửa chìm ở quần đảo Trường Sa không phải là đối tượng chiếm hữu và không có vùng biển nào. 

Tòa bác bỏ mọi khả năng áp dụng đường cơ sở quần đảo cho các thực thể ở Trường Sa.

Tòa khẳng định nghĩa vụ của các nước trong việc bảo vệ môi trường biển, phê phán các hành động phá hoại san hô, làm thay đổi tính tự nhiên của thực thể để xây dựng các căn cứ trên biển.

Tòa đề cao nguyên tắc tự do biển cả và chỉ ra khả năng tồn tại biển cả ở Biển Đông cũng như các quyền đánh cá của ngư dân Philippines, Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác. 

Nhìn nhận lại chính sách Biển Đông

Phán quyết là cơ sở để các nước nhìn nhận lại chính sách của mình trên Biển Đông. Sau nhiều lưỡng lự và chịu tác động của các yếu tố chính trị - kinh tế, Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin ngày 8/6 vừa qua tuyên bố phán quyết là ngôi sao Bắc Đẩu đang chỉ đường cho chúng ta trong hiện tại, và cũng chỉ ra con đường đúng trong tương lai.

Phán quyết là chung thẩm và Philippines phản đối mạnh mẽ mọi mưu toan hạ thấp giá trị của phán quyết, xóa bỏ nó khỏi luật pháp, lịch sử và trí nhớ tập thể. Theo ông, phán quyết đã trở thành và sẽ tiếp tục là hòn đá tảng trong luật quốc tế và có giá trị với cả các nước khác có cùng các thực thể biển có vấn đề như Philippines.

Bằng việc giải thích các thực thể ở Trường Sa không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng, phán quyết đã góp phần giảm thiểu tối đa các vụ tranh chấp phân định trong tương lai cũng như phạm vi các vùng biển chồng lấn. Các nước xung quanh Biển Đông có quyền bảo toàn các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình được xác định từ đất liền phù hợp với  UNCLOS và nguyên tắc “Đất thống trị biển”.

Phán quyết là lý do để ngày 12/12/2019, Malaysia đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS) của Liên hợp quốc yêu sách về một thềm lục địa mở rộng (ECS) ngoài phạm vi 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải về phía Bắc. Việc mở rộng này là hợp pháp nếu nó không tạo ra các vùng chồng lấn với thềm lục địa mở rộng từ Việt Nam hay Philippines.

Phán quyết là cơ sở thúc đẩy các quốc gia trong và ngoài khu vực thể hiện rõ hơn lập trường của mình về các vấn đề ở Biển Đông. Cuộc chiến trao đổi công hàm 2020-2021 với 25 công hàm, 2 thư ngoại giao và 1 tuyên bố (1 tuyên bố từ Brunei, 9 công hàm và 1 công thư từ Trung Quốc, 3 công hàm từ Malaysia, 3 công hàm từ Philippines, 3 công hàm từ Việt Nam, 2 công hàm từ Indonesia, 1 công hàm từ Australia, Pháp, Anh, Đức, Nhật và 1 công thư từ Mỹ).

Trừ Trung Quốc, nội dung các công hàm này đều thể hiện:

- Kêu gọi công nhận sự thống nhất và tính phổ quát của UNCLOS trong việc quy định khung pháp lý cần thiết cho mọi hoạt động trên biển và đại dương phải tuân theo. UNCLOS là cơ sở pháp lý căn bản để giải quyết các tranh chấp biển.

- Phán quyết ngày 12/6/2016 là chung thẩm và bắt buộc với các bên tranh chấp, Philippines và Trung Quốc.

- Các thực thể ở Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý.

- Quyền tự do hàng hải và hàng không trong Biển Đông cần phải được tôn trọng.

- Phương pháp vẽ đường cơ sở quần đảo chỉ được áp dụng cho các quốc gia quần đảo và chúng không thể được áp dụng một cách bất hợp pháp cho các đảo xa bờ của quốc gia ven biển.

- Các hoạt động cải tạo đất và tất cả các hình thức chuyển hóa nhân tạo khác không làm thay đổi quy chế pháp lý và sự phân loại các thực thể trên biển theo UNCLOS.

- Yêu sách liên quan đến thực thi “các quyền lịch sử” tại Biển Đông là không phù hợp với luật quốc tế và UNCLOS.

Nền tảng tạo nên sự thống nhất

Phán quyết tác động đến lập trường của ASEAN trong việc khẳng định vị trí trung tâm của tổ chức. Tuyên bố Chủ tịch hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36 và 37 trong năm 2020 nêu rõ tính chất phổ quát và thống nhất của UNCLOS trong xác định các danh nghĩa vùng biển, các quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích hợp pháp của quốc gia ven biển. 

Mọi hoạt động trên biển cần được thực thi trên cơ sở phù hợp với khung pháp lý mà UNCLOS quy định. Phán quyết có thể trở thành nền tảng tạo nên sự thống nhất của ASEAN trong thúc đẩy giải quyết vấn đề Biển Đông.

Các tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ cũng thể hiện chính sách nhất quán từ chính quyền Trump tới chính quyền Biden ủng hộ phán quyết. Tuyên bố báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 19/2/2021 nêu rõ: 

Lập trường của Mỹ tương tự như các kết luận của Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông năm 2016 về các yêu sách không có cơ sở pháp lý của Trung Quốc trong những khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa của Philippines. 

Mỹ phản đối bất kỳ yêu sách vùng nước bên ngoài lãnh hải 12 hải lý của các đảo yêu sách tại quần đảo Trường Sa.

Việc Trung Quốc xua đuổi hoạt động thăm dò và đánh cá của các nước trong các vùng biển của các quốc gia yêu sách khác, hoặc đơn phương khai thác các nguồn tài nguyên đó là phi pháp. Các vùng biển này được nêu đích danh là vùng Bãi Cỏ Rong (Phillipines), Tư Chính (Việt Nam) hay Luconia (Malaysia). Đây là cơ sở để Mỹ và các nước đồng minh Australia, Pháp, Đức, Anh triển khai các hoạt động tự do hàng hải của tàu chiến trong những tháng gần đây. 

Sự tham gia của nhiều nước trong tranh luận công hàm không phải là sự hình thành liên minh chống lại yêu sách của Trung Quốc mà là sự thể hiện lập trường chung về mặt pháp lý. Các vấn đề tranh chấp phải được giải quyết dựa trên luật pháp chứ không phải mạnh ai nấy làm, đi ngược lại nguyên tắc của Liên hợp quốc là các quốc gia đều bình đẳng.

Chính sách đơn phương của Trung Quốc

Trung Quốc tiếp tục duy trì chính sách đơn phương không chấp nhận thẩm quyền của Tòa, không chấp nhận phán quyết và không thực thi phán quyết. 

Nước này không chỉ tập trung các nhà nghiên cứu để viết lập luận nhằm bác bỏ lập luận phán quyết. Trung Quốc còn đẩy mạnh cuộc chiến pháp lý và thúc đẩy thực thi pháp luật Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông như thành lập các quận hành chính, đặt tên thực thể, tên các thực vật cây cỏ, thông qua Luật cảnh sát biển 2021…

Phán quyết buộc Trung Quốc có những điều chỉnh khi đưa ra khái niệm Tứ Sa thay thế cho yêu sách đường 9 đoạn. Trung Quốc tiếp tục vận dụng các quy định UNCLOS có lợi và lảng tránh các quy định bất lợi. Điều này không đúng với tinh thần “chấp nhận cả gói - package deal” mà UNCLOS yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết thực hiện.

Phán quyết đã bắt đầu được các bên viện dẫn để giải quyết những tranh chấp mới nảy sinh như vụ đá Ba Đầu tháng 2 năm nay.

Mỗi sự thay đổi cần có thời gian để đi đến nhận thức thống nhất giữa các bên. Phán quyết đã là một phần của lịch sử không thể chối bỏ. Nó sẽ đóng vai trò “dẫn đường” cho các nước liên quan trong cuộc đấu tranh vì một trật tự dựa trên luật lệ chứ không phải dựa trên “sức mạnh tạo ra công lý”.