Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2022

XỎ MŨI CIA, DẮT MŨI MẬT THÁM PHÁP, QUA MẶT HOA NAM TÌNH BÁO CỤC - CHÂN DUNG CHIẾN SĨ TÌNH BÁO, ĐIỆP VIÊN HUYỀN THOẠI PHẠM NGỌC THẢO QUA TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH KINH ĐIỂN "VÁN BÀI LẬT NGỬA"!

KHÔNG THỂ TIN NỔI,
40 NĂM ĐÃ TRÔI QUA, ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM KHÔNG CÓ NỔI MỘT TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH ĐỦ TẦM CỠ SÁNH NGANG VỚI "VÁN BÀI LẬT NGỬA"

Ván bài lật ngửa là bộ phim nhựa trắng đen 8 tập về đề tài gián điệp do Xí nghiệp phim Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Hãng phim Giải Phóng) sản xuất trong những năm 1982–1987.

Bộ phim mô phỏng quãng đời hoạt động của các nhân vật tình báo có thật ngoài đời của Đảng Lao động Việt Nam hoạt động trong lòng địch trong kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là tình báo viên Phạm Ngọc Thảo. Bộ phim do Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) viết kịch bản, do Khôi Nguyên (Lê Hoàng Hoa) làm đạo diễn, có sự tham gia diễn xuất của các diễn viên Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân), ca sĩ Thanh Lan và Thúy An (vai nữ điệp viên tình báo Thùy Dung – vợ của Nguyễn Thành Luân).

Nên nhớ rằng, bộ phim được sản xuất vào năm 1982, đất nước vừa mới giải phóng được vài năm, điều kiện còn vô vàn khó khăn thiếu thốn, khó khăn đủ thứ, thiếu thốn đủ thứ, vậy mà vẫn sản xuất và cho ra mắt được bộ phim xuất sắc như thế này. Bộ phim như một tượng đài kinh điển, đứng sừng sững suốt 40 năm, mà cho đến tận bây giờ chưa có nổi một tác phẩm điện ảnh nào đủ sức ngang tầm với bộ phim này. 

Đừng thấy đây là phim đen trắng mà đánh giá thấp bộ phim này, nên nhớ thời điểm nó sản xuất, chưa có bất kỳ cái gì gọi là kỹ xảo điện ảnh hay CGI, hay diễn viên đóng thế, tất cả đều phải làm thủ công, diễn thật, làm thật, ăn thật, tất cả đều phải cố gắng hết sức bằng thực lực của mình. Phim hay bởi kịch bản cực hay, chặt chẽ, cuốn hút. Những màn đối đầu nảy lửa đầy kịch tính, những đoạn hội thoại dò xét nhau hồi hộp gay cấn, ý tại ngôn ngoại, những nút thắt mở tình tiết hợp lý, cắt dựng phim, chuyển cảnh mượt mà, xuất sắc. Phim kết hợp cả những đoạn phim tư liệu lịch sử nên cho cái nhìn chân thật, không khí phim căng thẳng hồi hộp gấp gáp khiến người xem như được sống trong thời khắc lịch sử đó. 

Vào thời điểm đó, Ván bài lật ngửa phô diễn tất cả những trang thiết bị xe cộ tối tân sành điệu nhất, những chiếc xe hơi đắt tiền, bóng loáng, mui trần, nếu để so sánh với thời đại ngày nay thì nó phải tương đương với những chiếc siêu xe 30-40 tỷ. Vào thời điểm đó mà đã huy động được trực thăng, máy bay, tăng thiết giáp, xe chở quân, súng đạn, bom rơi đạn nổ, vô cùng hoành tráng chân thật để đóng phim, những thiết bị tối tân nhỏ gọn như máy nghe lén, thiết bị chụp ảnh siêu nhỏ, đủ thứ cũng được đưa vào để làm tăng tính chân thật cho phim. 

Phim ảnh thời đó cũng tỏ ra rất thoáng, các diễn viên nam nữ hôn nhau cuồng nhiệt, bikini 2 mảnh phô diễn hết đường cong của các nữ diễn viên, thời đó chưa có internet như bây giờ, không phải lúc nào cũng có thể ngắm được những đường cong tuyệt mỹ khúc nào ra khúc đấy như vậy. Các diễn viên nữ chính vô cùng xinh đẹp, vẻ đẹp phồn thực, ấn tượng với cô nhà báo nữ Helene Fanfani do diễn viên Lan Chi thủ vai, không biết bây giờ bà đang ở đâu làm gì. Ngoài ra còn có diễn viên thủ vai Thùy Dung, và nhất là người vào vai Trần Lệ Xuân, ghê gớm, đanh đá, đáo để, bốc đồng, góp một phần không nhỏ dìm chết chế độ VNCH bằng những lời lẽ sôi sục đổ dầu vào lửa. 

Phim cũng có cái nhìn khá khách quan về chế độ VNCH thời kỳ Diệm Nhu. Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu không phải là những kẻ cục súc võ biền mà là những chính trị gia lão luyện, những bộ óc sừng sỏ, với những toan tính cẩn thận, luôn luôn nghi ngờ tất cả, nhưng cuối đời lại phạm phải hết sai lầm này đến sai lầm khác. Phim cũng lý giải rất rõ ràng, tại sao chế độ phi nghĩa VNCH chắc chắn phải sụp đổ, tại sao Diệm Nhu phải c.h.ế.t, nhận viện trợ của Mỹ, dựa vào Mỹ, mà dám bật lại Mỹ, thì chỉ có một kết cục, không còn con đường nào khác. Ngô Đình Nhu và Nguyễn Thành Luân vừa là đối thủ vừa là bạn bè của nhau, vừa đối đầu nhau, vừa tôn trọng nhau. Diễn viên Lâm Bình Chi vào vai Ngô Đình Nhu một cách xuất thần, thâm trầm, kín đáo, sâu sắc, lạnh lùng tàn nhẫn dứt khoát. 

Đạo diễn cũng rất chăm chút các khung hình, không chỉ các cảnh hành động, bắn súng, đấu trí, phản gián mà đạo diễn còn rất coi trọng vấn đề văn hóa, những phòng trà quán bar, những bản nhạc xưa, được những điệu múa cung đình ở Lào, Campuchia, những cung điện đền đài, thánh đường cầu nguyện, những buổi lễ của mỗi tôn giáo khác nhau, những sắc màu lễ hội của các dân tộc Tây Nguyên cũng được đạo diễn rất chú trọng trong phim. 

Không thể không kể đến linh hồn của bộ phim đó là cố diễn viên NSƯT Nguyễn Chánh Tín, kể cả bây giờ điện ảnh Việt Nam kiếm đâu ra được diễn viên có được cái thần thái như nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín ngày ấy. Dáng người dong dỏng cao, mũ phớt, áo măng tô, con nhà võ, tóc rẽ ngôi bồng bềnh lãng tử, lạnh lùng, quyết đoán, tỉnh táo phán đoán, nói năng từ tốn thuyết phục, điềm đạm tự tin, bật lửa châm điếu thuốc cũng đầy chất nghệ sĩ. Khung cảnh đầu phim, khi Nguyễn Thành Luân bước ra từ chiếc ô tô, khoác măng tô, đội mũ phớt, đi vào rừng dưới lá cây rơi rào rạc, trong ánh chiều tà, có lẽ là một phân cảnh kinh điển nhất của điện ảnh cách mạng Việt Nam.  

Nguyễn Chánh Tín thể hiện xuất sắc nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo, một con người, có lẽ chăng nên được xếp vào top 10 tình báo viên xuất sắc nhất mọi thời đại. Hoạt động một mình đơn tuyến, độc lập tác chiến, đi giữa rừng gươm và biển giáo, giữa muôn trùng vây, thập diện mai phục, mà vẫn hiên ngang bất khuất, đi thẳng vào lòng địch, tung hoành ngang dọc. Đối đầu với những đối thủ sừng sỏ, cả tình báo phòng nhì Pháp, Cục tình báo Trung ương Mỹ CIA, rồi cả Hoa Nam tình báo cục Trung Quốc, Sở mật vụ của VNCH, rồi có cả các đối tượng thành phần khác như Cao Miên, Fulro, đôi khi còn bị ám sát nhầm bởi chính các chiến sĩ của mình (do các chiến sĩ của mình không biết), vậy mà Đại tá Nguyễn Thành Luân - Phạm Ngọc Thảo vẫn bình tĩnh quyết đoán khôn khéo, xử lý hết tất cả mọi công việc một cách bình thản, vừa có lợi nhất cho sự nghiệp cách mạng, vừa cứu được các chiến sĩ cách mạng khỏi tù đày, vừa chuyển được những tin tức mật báo cho cách mạng, vừa lấy được sự tin tưởng của chính quyền VNCH, vừa không bị các đối thủ khác nghi ngờ phát giác thân phận lai lịch của mình.

Đỉnh cao nhất của nghề tình báo có lẽ là thực hiện đảo chính, thay đổi cả chế độ của quân địch, chia rẽ, gây rối loạn nội bộ hàng ngũ của quân địch. Một mình Đại tá Phạm Ngọc Thảo thực hiện những kế sách mang tầm vóc chiến lược, quyết định cục diện chiến tranh, ngang với một đạo quân hàng vạn người. Xem phim mới biết được, hòa bình độc lập thống nhất đất nước, không phải tự nhiên mà có được, không ai mang đến cho, mà phải tự chúng ta đứng lên dành lấy bằng máu của mình, máu của hàng triệu người Việt, của những anh hùng thương binh liệt sĩ đã đổ xuống để có được nền hòa bình độc lập tự chủ thống nhất như ngày hôm nay. 

Các bạn trẻ hiện nay, có lẽ sinh ra trong thời bình nên mặc nhiên hòa bình là điều đương nhiên phải có. Nhưng để có được nền hòa bình chưa bao giờ là dễ dàng. Cuộc sống chưa bao giờ dễ dàng, nếu bạn thấy nó dễ dàng thì đó là có người đã thay bạn gánh vác phần khó khăn đó. 

Phim đôi khi hơi khó xem, do kịch bản lời thoại của các diễn viên đôi khi thêm vào nhiều từ tiếng Tây, cả Anh, cả Pháp, rồi cả tiếng Hoa, kiến thức dữ liệu lịch sử rất nhiều làm bạn choáng ngợp, bạn nên hết sức tập trung chăm chú theo dõi, lắng nghe lời thoại, kết hợp với cả việc tra cứu lịch sử, để hiểu rõ hơn mới thấy đây là một bộ phim cực hay. 

40 năm trở lại đây cho đến hiện nay, 40 năm rồi đấy, đời người được mấy cái 40 năm. Điện ảnh Việt Nam bây giờ đang làm gì, ngoài mấy bộ phim truyền hình và điện ảnh chiếu rạp quanh đi quẩn lại yêu đương nhăng nhít, hài nhảm vớ vẩn, tiểu tam giật chồng, đánh ghen lố lăng, mẹ chồng nàng dâu, LGBT, sốc, sếch, sến, sẩm, câu view lăng nhăng. Đến bao giờ điện ảnh Việt Nam mới có một bộ phim đủ tầm vóc như Ván bài lật ngửa được ra rạp. Cần gì phải remake làm lại phim ở đâu xa, cần gì phải lấy bản quyền phim của nước ngoài. Cứ lấy kịch bản phim Ván bài lật ngửa làm lại cũng là quá tốt rồi. 

Lịch sử Việt Nam với hàng nghìn năm dựng nước giữ nước, trăm năm đối đầu với những cường quốc siêu cường hàng đầu thế giới, đánh Mỹ, chống Pháp, hất cẳng Nhật, diệt Ngụy, phang Tàu, cứu Cam, hàng trăm trận đánh, oai hùng biết mấy, hàng trăm anh hùng, oanh liệt biết bao. Chất liệu lịch sử phong phú biết bao, ngồn ngộn những tư liệu lịch sử với hàng trăm ngàn câu chuyện, nhân vật anh hùng, có thể chuyển thể thành hàng vạn kịch bản phim, hàng vạn bộ phim điện ảnh, hấp dẫn mãn nhãn đẹp mắt kịch tính, vô cùng phong phú mà không bộ phim nào giống bộ phim nào. 

Thế nhưng hiện nay, không ai chịu làm phim điện ảnh về đề tài lịch sử chiến tranh cách mạng. 

Truyền hình nhà nước không làm
Điện ảnh tư nhân không làm
Công ty cổ phần phim không làm
Vậy ai sẽ làm. Bây giờ chúng ta không làm thì còn định đến bao giờ chúng ta mới làm. 

Nếu bây giờ chúng ta không làm thì đành phải để cho các nước khác làm phim về chiến tranh Việt Nam cho chúng ta xem thôi.

Đương nhiên, nước ngoài làm phim về chiến tranh Việt Nam thì phải theo góc nhìn của họ, theo quan điểm của họ. Áp đặt về văn hóa, thay đổi về nhận thức, tự diễn biến, tự chuyển hóa là từ đây chứ từ đâu nữa.

Đọc hàng nghìn trang sách lịch sử cũng chẳng thể bằng xem một bộ phim. Phim ảnh lịch sử chính là cách truyền tải nhanh nhất, ngắn nhất thông điệp lịch sử đến khán giả. Phim ảnh lịch sử gieo vào lòng người xem lòng tự hào dân tộc, khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc, đoàn kết dân tộc, gắn kết quốc gia, giúp đất nước vượt qua khó khăn, đương đầu thử thách trong thời kỳ đầy rẫy những biến cố hiện nay./.
Yêu nước ST.

SỰ KÍNH TRỌNG CỦA LÍNH MỸ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VĨ ĐẠI!

         Ông Sedgwick Tourison,một người lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam vào năm 1961, nói rằng một kỷ niệm khiến ông không bao giờ quên đó là tình cảm đặc biệt của nhân dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông Sedwick kể lại câu chuyện bằng tiếng Việt:

“Tôi là cựu chiến binh, tôi nghĩ 99% người Mỹ đều biết Bác Hồ là ai. Tại vì ai cũng gọi ông là Bác Hồ giống như theo kiểu của người Việt Nam. Có một lần chúng tôi đi hành quân ở vùng bắc Bình Định, những người dân thường bị một đơn vị lính Mỹ bắt đưa về để khai thác. Lúc đó chúng tôi hỏi là có biết tên của tỉnh trưởng không? - Họ không biết. Có biết tên của quận trưởng không? - Họ cũng không biết luôn. Thế chúng tôi lại hỏi có biết tên của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa không? Họ cũng không biết. Cuối cùng chúng tôi hỏi thế có biết Bác Hồ không? - Họ trả lời ngay Biết chứ! Ai cũng biết mà”.

Riêng cá nhân tôi biết Ông là một người yêu nước, muốn đoàn tụ dân tộc Việt Nam như là câu nói của Ông “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Tôi nghĩ hai câu này đúng 100%”.

Hình ảnh bên dưới là những người lính Mỹ cầm trên tay ảnh Bác Hồ và nói về Người với sự hiếu kỳ về NGƯỜI CHA GIÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, bằng sự kính trọng của một người lính bị ép buộc vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, dành cho một con người vĩ đại lãnh đạo cuộc cách mạng chính nghĩa của dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST

BẢO VỆ LỊCH SỬ ĐẢNG!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá “lịch sử Đảng là pho lịch sử bằng vàng”. Bởi vậy, bảo vệ lịch sử Đảng cũng như bảo vệ báu vật, tài sản của quốc gia, chính là thiết thực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; kêu gọi từ bỏ lý tưởng cộng sản và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo, công lao, đóng góp của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; xuyên tạc và phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam; thổi phồng sai lầm, khuyết điểm; xuyên tạc đoàn kết nội bộ Đảng và thân thế, sự nghiệp, tư tưởng cách mạng, đời tư của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Bảo vệ lịch sử Đảng - ảnh 1
Lực lượng đoàn viên tình nguyện hỗ trợ người dân các công tác khai báo y tế

GIANG PHƯƠNG

Thế lực phản động, thù địch thường rêu rao: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là sai lầm, bảo thủ, giáo điều”; “một đảng cầm quyền không thể có dân chủ”; “Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một sai lầm lịch sử, đi theo vết xe đổ của Liên Xô”; “Đảng không phải là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nên không thể lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam”; “Đảng chỉ giỏi lãnh đạo trong chiến tranh, còn trong xây dựng kinh tế nên trao quyền cho lực lượng chính trị khác”.

Họ còn xuyên tạc tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1946 - 1954, hạ thấp ý nghĩa chiến thắng Điện Biên Phủ; âm mưu hạ bệ thần tượng lịch sử, phủ nhận tấm gương anh hùng Tô Vĩnh Diện, phủ nhận công lao của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Với lịch sử Đảng giai đoạn 1954 - 1975, họ xuyên tạc “cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là một sai lầm, không có bên thắng, bên thua mà tất cả cùng thua”; “là một cuộc nội chiến, nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn. Với lịch sử Đảng 1986 đến nay, họ phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới đất nước, xuyên tạc “sau 35 năm đổi mới mà Việt Nam vẫn tụt hậu, nhân dân đói nghèo”…

Còn có luận điệu khoét sâu sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo của Đảng, như: xuyên tạc cải cách ruộng đất giai đoạn 1953 - 1956 và cải tạo tư sản sau năm 1975 “là cuộc thanh trừng, tắm máu”; thổi phồng tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay; quy chụp “Đảng không có năng lực lãnh đạo cách mạng”… Mặt khác, một số kẻ lợi dụng khi xử lý vụ án tham nhũng để bịa đặt “Đây chẳng qua chỉ là đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực trong Đảng”; lợi dụng vụ việc mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở một số nơi chia rẽ quân đội với công an, dân với Đảng. Trên một số diễn đàn, các thế lực thù địch bịa đặt, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo, lãnh đạo Đảng, Nhà nước có tư tưởng thỏa hiệp với Tàu, xuyên tạc “Hồ Chí Minh là dân tộc chủ nghĩa, có gốc Tàu”.

Đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng như kể trên không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng, thành quả cách mạng, tổ chức và cán bộ, đảng viên của Đảng, mà còn là bảo vệ thanh danh, uy tín của Đảng đối với nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ. Nhận thức và thông tin chính xác, khoa học và biện chứng về lịch sử nói chung và lịch sử Đảng nói riêng chính là cách hiệu quả nhất để đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc như vậy.


Để làm được điều này, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, sinh viên cần có nhận thức đúng đắn về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” và nâng cao cảnh giác, tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc.

Các tổ chức đoàn thanh niên, hội sinh viên cần trang bị một số kỹ năng cần thiết cho thanh niên, lồng ghép vào các buổi sinh hoạt thường kỳ, tổ chức nhiều câu lạc bộ, đội nhóm; các cuộc thi tìm hiểu, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày, tìm cách vượt ngục, phong thái hiên ngang khi ra pháp trường. Đặc biệt coi trọng đấu tranh trên không gian mạng với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả: bài viết, thơ văn, chế nhạc, video clip, tranh ảnh, bình luận/chia sẻ thông tin; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, phản đối cái xấu.

Tri thức lịch sử cung cấp hiểu biết quá khứ để phục vụ cuộc sống hiện tại và đoán định tương lai. Bởi vậy, các nhà sử học Hy Lạp cổ đại kết luận: “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống, là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. C.Mác và Ph.Ănghen quan niệm: Sử học là khoa học duy nhất vì mọi khoa học đều phải dựa vào sự kiện từ lịch sử. V.I.Lênin khẳng định: Sử học là một bộ phận của khoa học xã hội kết hợp với giai cấp vô sản trở thành vũ khí mạnh mẽ. Lãnh tụ Hồ Chí Minh căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi trở thành nhà quân sự lỗi lạc, cũng là thầy giáo dạy lịch sử ở trường phổ thông.

“Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc sống an bình hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của nhân dân ta... Máu đào của các liệt sĩ ấy làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”. Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng cũng là bảo vệ nền tảng tư tưởng; vững tin vào thắng lợi cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo./.



Yêu nước ST.

CON ĐƯỜNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Khá nhiều luận điệu trên mạng xã hội cố tình xuyên tạc, phủ nhận con đường xây dựng CNXH của Việt Nam. Song nếu hiểu rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và xây dựng CNXH ở VN thì sẽ thấy chúng ta nhất định sẽ thành công.
Thuật ngữ CNXH, được Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng lần đầu tiên trong bài “Chính sách thuộc địa” viết năm 1920 và lần cuối cùng trong bài “Nói chuyện với các đồng chí lãnh đạo Tổng công đoàn Việt Nam” ngày 19.7.1969. Thống kê trong Hồ Chí Minh toàn tập (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, gồm 15 tập), thuật ngữ “CNXH” xuất hiện 1.065 lần, “xây dựng CNXH” xuất hiện 573 lần.

Về mặt khái niệm, trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có một cách định nghĩa khác nhau về CNXH, song tựu trung, Người khẳng định, CNXH là làm cho “dân giàu, nước mạnh”. Người chỉ rõ: “CNXH là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do”; “CNXH là no ấm và tự do cho toàn thể nhân dân. Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng; không còn người bóc lột người”. Người cũng khẳng định: “CNXH là tiền đồ chung của cả dân tộc”, “trong đó có tiền đồ riêng của mỗi cá nhân”; đồng thời CNXH là “do nhân dân tự xây dựng lấy”.

Về bản chất xây dựng CNXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “phấn đấu để cải tạo, để thực hiện CNXH là một sự nghiệp vĩ đại nhất trong lịch sử loài người”, “xây dựng CNXH là thay đổi cả xã hội, thay đổi cả thiên nhiên, làm cho xã hội không còn người bóc lột người, không còn đói rét, mọi người đều được ấm no và hạnh phúc”. Người khẳng định, đây là “một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài. Nhân dân ta hãy đoàn kết chặt chẽ dựa trên nền tảng liên minh công nông, bền bỉ phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, thì chúng ta nhất định thắng lợi”.

Theo Người, CNXH là chế độ do nhân dân là chủ và làm chủ, có nền kinh tế, văn hóa phát triển, chuẩn mực đạo đức, khoa học kỹ thuật hiện đại, con người mới. Thông qua hoạt động lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ra kết luận rất sâu sắc về bản chất xây dựng CNXH với tư cách là một chế độ có khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Về mục tiêu xây dựng CNXH ở Việt Nam, đây không chỉ là ước mơ, lý tưởng mà cần thực hiện từng bước ngay ở nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Theo Người, “mục đích của CNXH là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”. Mục tiêu “trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”, “làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ”, về lâu dài thì “tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng” .


Bởi vậy, từ năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm “phải lao động thật sự, có năng suất, chất lượng và kỷ luật mới có thể xây dựng được CNXH”. Đầu năm 1960, Người chỉ rõ “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng XHCN, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài” .

Về động lực xây dựng CNXH, Hồ Chí Minh cho rằng: Quyết định nhất là con người, vì con người, nhân dân lao động, nòng cốt là công - nông - trí thức. Trong thực hiện, phải kết hợp giữa cá nhân (sức mạnh cá thể) với xã hội (sức mạnh cộng đồng), cần kết hợp nguồn lực bên trong với nguồn lực bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực là quyết định nhất, ngoại lực là rất quan trọng.

Theo Hồ Chí Minh, “muốn xây dựng CNXH trước hết cần có những con người XHCN”. Truyền thống yêu nước của dân tộc, sự cố kết cộng đồng, sức lao động sáng tạo của nhân dân là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực quan trọng của CNXH. Người luôn xây đắp khối đoàn kết dân tộc và nhấn mạnh: đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh vô địch. Cùng với động lực tinh thần, Hồ Chí Minh rất coi trọng động lực kinh tế, sản xuất, kinh doanh, giải phóng mọi năng lực sản xuất vì ích nước, lợi nhà.

Với cách diễn giải của Hồ Chí Minh về CNXH như trình bày ở trên, chúng ta thấy hoàn toàn thực hiện được ở VN. Thực chất xã hội VN hiện nay đã chứa đựng những yếu tố của CNXH, do đó việc hoàn thiện nó chỉ là vấn đề thời gian. CNXH không phải là một cái gì siêu phàm, mà là từ chính hiện thực cuộc sống của chúng ta. Đó là “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là CNXH”. Điều đó thể hiện rõ trong mỗi bước đi của cách mạng VN dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc; đồng nghĩa theo thời gian ngày càng cho thấy rõ ràng hơn về mô hình CNXH mà Việt Nam đã, đang, sẽ xây dựng. Trong đó, Đại hội XIII sẽ là dấu mốc quan trọng đưa Việt Nam tiến thêm một bước tới gần đích CNXH hơn.

Hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH để thấy sự lựa chọn con đường CNXH ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh - mục tiêu cao cả hướng tới của văn minh nhân loại. Từ đó, sẽ thêm tin tưởng vào con đường CNXH ở Việt Nam, biết trân trọng giá trị và bảo vệ thành quả cách mạng, không tùy tiện phát ngôn sai sự thật, không phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH, sẽ phản bác được những luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ Việt Nam./.
Yêu nước ST.

KỶ NIỆM 152 NĂM NGÀY SINH V. I. LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2022)

     Vơlađimia Ilich Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) là một lãnh tụ của phong trào cách mạng vô sản Nga, là người phát triển học thuyết của Các Mác và Phriđơrich Ăngghen. Ông là người sáng lập ra Quốc tế Cộng sản; đồng thời lãnh đạo nhân dân Nga tiến hành Cách mạng tháng Mười Nga, thành lập ra Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo (7/11/1917). Ông là trong 100 người có ảnh hưởng nhất đến toàn thế giới.

Vơlađimia Ilich Lênin(Vladimir Ilyich Lenin) sinh ngày 22 tháng 4 năm 1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk). Vơlađimia Ilich Lênin tên thật là Vơlađimia Ilich Ulianôp (Vladimir Ilyich Ulianov), các bí danh đã dùng là V. Ilin, K. Tulin, Karpov và những bí danh khác.

Năm 1887, V. I. Lênin tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học được nhận Huy chương vàng nên được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga. Ông xin vào học khoa Luật của Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, V. I. Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko-Simbirskoe. Do tham gia tuyên truyền cách mạng trong sinh viên, tháng Chạp 1887, V. I. Lênin bị đuổi học và bị phát lưu đến làng Kokushino Kazan. Tháng 10 năm 1888, trở về Kazan gia nhập nhóm Mácxít. V. I. Lênin có nghị lực rất cao trong việc tự học. Chỉ trong vòng hai năm miệt mài đèn sách, năm 1891, V. I. Lênin đã thi đỗ tất cả các môn học của chương trình 4 năm khoa Luật trường ĐH Tổng hợp Kazan với tư cách thí sinh tự do. Sau khi tốt nghiệp khoa luật V. I. Lênin làm trợ lý luật sư ở Samara. Tháng 8/1893, chuyển về Peterburg. 

Năm 1894, trong cuốn Thế nào là những người bạn dân và học chiến đấu chống lại những người xã hội dân chủ như thế nào? Và năm 1899, trong cuốn Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở Nga, V. I. Lênin được thừa nhận là người lãnh đạo của nhóm Mácxít ở Nga.

Mùa thu 1895, V. I. Lênin thành lập ở Pêtecbua (Peterburg) Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, tập hợp các nhóm cách mạng ở Pêtecbua. Ở Mátxcơva, Kiep, Iarôxlap và những thành phố khác cũng thành lập các hội liên hiệp tương tự. V. I. Lênin đã gặp Nadơgiơđa Conxtantinôva Cơrupxcaia (Nadegiơda Konstantinovna Krupskaia). Hai người yêu nhau và trở thành bạn đời chung thuỷ. Đêm mồng 9 tháng Chạp năm 1895, do bị tố giác, nhiều hội viên của Hội liên hiệp, trong đó có V. I. Lênin bị cảnh sát bắt. Sau 14 tháng bị cầm tù, tháng Hai năm 1897, V. I. Lênin bị đi đày 3 năm ở làng Shushenkoe (miền Đông Sibir). Trong thời gian lưu đày, V. I. Lênin đã viết xong hơn ba mươi tác phẩm, trong đó có cuốn khá đồ sộ: Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga (1899). 

Năm 1900, thời hạn lưu đày của V. I. Lênin kết thúc. Người lại tập hợp những người Mácxít cách mạng thành lập đảng. Chính quyền Nga hoàng cấm V. I. Lênin sống ở Thủ đô và các thành phố lớn. V. I. Lênin phải ra nước ngoài (1900), cùng với Pơlêkhanôp (Plekhanov) lập ra tờ báo Tia lửa. Năm 1903, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội dân chủ Nga. V. I. Lênin phát biểu phải xây dựng một đảng Mácxít kiểu mới có kỷ luật nghiêm mình, có khả năng là người tổ chức cách mạng của quần chúng. Nhóm số đông ủng hộ V. I. Lênin gọi là những người Bônxêvich (Bolshevik), nhóm số ít chủ trương thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị viện gọi là những người Menxêvich (Menshevik). Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảng kiểu mới này V. I. Lênin đã trình bày trong cuốn Làm gì (1902) và cuốn Một bước tiến hai bước lùi (1904). Trong thời kỳ cách mạng 1905 - 1907, V. I. Lênin đã phát triển tư tưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội trong cách mạng dân chủ năm 1905. 
Tháng Tư năm 1905, tại Luânđôn tiến hành Đại hội lần thứ III Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Đại hội. Tại Đại hội này, Uỷ ban Trung ương đã được bầu ra do V. I. Lênin đứng đầu. Tháng Mười Một năm 1905, V. I. Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng Chạp 1907, V. I. Lênin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật. Trong cuốn Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908) V. I. Lênin phê phán sự xét lại về mặt triết học chủ nghĩa Mác và phát triển những cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác. Tháng Giêng năm 1912 lãnh đạo Hội nghị lần thứ VI (Praha) toàn Nga Đảng Công nhân xã hội dân chủ. Tháng Sáu năm 1912 từ Paris chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Thời kỳ này, V. I. Lênin soạn thảo xong Đề cương Mácxít về vấn đề dân tộc. Cuối Tháng Bảy năm 1914, bị cảnh sát áo bắt nhưng sau đó ít lâu được trả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ. Trong thời gian Đại chiến thế giới lần thứ I, V. I. Lênin đưa ra khẩu hiệu biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. 

Trong tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản (1916) và những tác phẩm khác, V. I. Lênin đã phát triển chính trị kinh tế học Mácxít và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiện toàn những vấn đề cơ bản của triết học Mácxít (Bút ký triết học). Tại Hội nghị quốc tế những người theo chủ nghĩa quốc tế tại Thuỵ Sĩ (1915), V. I. Lênin đã tập hợp những người xã hội dân chủ cánh tả đoàn kết lại. Sau cách mạng Tháng Hai năm 1917, ở Nga tồn tại tình trạng hai chính quyền song song, một bên là chính phủ lâm thời tư sản (chuyên chế của giai cấp tư sản) và một bên là Xôviết các đại biểu công nhân và binh sĩ (chuyên chính vô sản). Những mâu thuẫn kinh tế và chính trị sâu sắc ở nước Nga lúc bấy giờ đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc đời sống chính trị nước Nga. Ngày 16 tháng Tư V. I. Lênin đến Petrograd để trình bày Luận cương Tháng Tư thực chất là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần thứ VII toàn Nga (Tháng TƯ 1917) của Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga đã nhất trí thông qua đường lối do V. I. Lênin đề ra.

Sau cuộc khủng hoảng chính trị ở nước Nga (Tháng Bảy năm 1917), V. I. Lênin buộc phải về vùng Pazzliv cách Pêtrôgrat (Petrograd), nay là Pêtecbua, 34km để tránh sự truy lùng của Chính phủ lâm thời. Từ nơi hoạt động bí mật, V. I. Lênin thường xuyên chỉ đạo phong trào cách mạng nước Nga. Đầu tháng Tám năm 1917, Đại hội lần thứ VI Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga họp bán công khai ở Pêtrôgrat, V. I. Lênin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy chính quyền. Trong thời gian này, V. I. Lênin viết xong cuốn Nhà nước và cách mạng đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải giành lấy chính quyền bằng con đường đấu tranh vũ trang. Đầu tháng Mười năm 1917, V. I. Lênin từ Phần Lan bí mật trở về Pêtrôgrat. Ngày 23 tháng Mười năm 1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của V. I. Lênin đề ra được Hội nghị Uỷ ban trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga thông qua. 

Tối ngày 6 tháng 11 năm 1917, V. I. Lênin đến Cung điện Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7 tháng Mười một năm 1917, toàn thành phố Pêtecbua nằm trong tay những người khởi nghĩa, và đến đêm ngày 7 tháng Mười Một 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Chính quyền đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời. Tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V. I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên nhân dân (Hội đồng Dân uỷ). Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, theo đề nghị của V. I. Lênin, Hoà ước Brest với nước Đức đã được ký kết (ngày 3 tháng Ba năm 1918). Ngày 11 tháng Ba năm 1918, V. I. Lênin cùng với Trung ương Đảng và Chính phủ Xô Viết trở về Mátxcơva, V. I. Lênin đã có công lao to lớn trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nước Nga Xô Viết chống sự can thiệp quân sự của nước ngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước; trong việc lãnh đạo quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nước Nga. V. I. Lênin thi hành chính sách đối ngoại Xô Viết, đề ra những nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau. 

Ngày 30 tháng 8 năm 1918, V. I. Lênin bị ám sát và bị thương nặng, nhưng sau đó ít lâu sức khoẻ hồi phục, V. I. Lênin là người sáng lập Quốc tế Cộng sản (1919). Tháng Ba năm năm 1919, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Nga đã thông qua Cương lĩnh mới của Đảng, V. I. Lênin được bầu là chủ tịch Uỷ ban soạn thảo Cương lĩnh Mùa xuân năm 1920, V. I. Lênin viết cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh của chủ nghĩa cộng sản trình bày những vấn đề chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản. Thời gian này, V. I. Lênin soạn thảo xong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội (công nghiệp hóa đất nước, hợp tác hóa gia cấp nông dân, cách mạng văn hóa) là người sáng lập ra Kế hoạch điện khí hóa toàn Nga (GOELRO), người đề ra chính sách kinh tế (NEP). Năm 1921, chính sách NEP của V. I. Lênin được thông qua tại Đại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Nga.

Năm 1922, V. I. Lênin ốm nặng. Trong diễn văn cuối cùng đọc tại hội nghị toàn thể Xô Viết đại biểu thành phố Mátxcơva (ngày 20 tháng 11 năm 1922), V. I. Lênin tin tưởng rằng thi hành chính sách NEP nước Nga sẽ trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Tháng Chạp năm 1922 đến tháng Ba năm 1922, V. I. Lênin đọc ghi âm lại một số bài báo quan trọng như: Những trang nhật ký, Bàn về hợp tác hóa, Bàn về cách mạng của chúng ta, Thà ít mà tốt, Thư gửi Đại hội.

Ngày 21 tháng Tư năm 1924, V. I. Lênin qua đời ở làng Gorki, gần thủ đô Mátxcơva. Thi hài được lưu giữ trong lăng Lênin trên Quảng trường Đỏ, Mátxcơva cho tới nay. Tại nước Nga hiện nay, tên của ông được đặt cho 1 tỉnh của Nga (tỉnh Lêningrat (Leningrad), nằm sát cố đô Xanh Pêtecbua (Saint Petersburg), nơi Lênin lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười; thành phố quê hương của Lênin thì được đặt tên là Ulianôp (Ulyanovsk) để tưởng nhớ ông (Lênin có họ là Ulianôp)./.
Yêu nước ST.

ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN - NGƯỜI CHỈ HUY TÀI BA, NHÀ THAM MƯU CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ XUẤT SẮC CỦA QĐND VIỆT NAM!

         Binh vô thường thế, thuỷ vô thường hình, năng nhân địch biến hoá nhi thủ thắng giả, vị chi thần, tức là: Dụng binh tác chiến giống như nước chảy, không có hình mẫu và phương thức cố định. Có thể căn cứ vào sự biến đổi của tình hình quân địch mà giành thắng lợi thì đó là dụng binh như thần.

Trong các danh tướng Việt Nam thời chống Mỹ cứu nước thì có một vị Đại tướng xứng danh với câu nói trên của Tôn Tử. Đó chính là Đại tướng Lê Trọng Tấn, vị dũng tướng có thể xoay chuyển cục diện trận đánh trăm trận trăm thắng. Lê Trọng Tấn là con át chủ bài ở các trận đánh có tính chất quyết định để tạo thế thượng phong cho chính trị trên bàn đàm phán.

Tài năng chỉ huy của Lê Trọng Tấn thể hiện qua rất nhiều trận đánh, tên ông gắn liền với chiến trận như mở màn đánh điểm Him Lam bắt sống de Castries và tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, phó tư lệnh chiến dịch Mậu Thân, tư lệnh chiến dịch Trị Thiên, Tư lệnh chiến dịch Đường 9 Nam Lào, phó tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm tư lệnh cánh quân phía Đông....

Nhưng trận đánh mang tầm vóc chiến lược thì chính là trận Huế - Đà Nẵng. Trong 3 ngày ông đánh tan khu quân sự liên hiệp Đà Nẵng, thần tốc đưa binh từ Đà Nẵng vào La Ngà vừa đi vừa đánh mở đường đưa một đạo quân hơn bốn vạn người hàng ngàn xe các loại, vượt hơn nghìn km, đánh tan ba quân khu địch, tiến vào Dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ quân Nguỵ trong vòng 18 ngày đêm.

Trận đánh thứ hai đưa tên tuổi của Lê Trọng Tấn lưu danh thiên cổ chính là trận Phản Công Biên Giới Tây Nam đánh thẳng vào sào huyệt của Pol-pot, dưới sự chỉ huy của ông, quân đội ta tiến vào Cao Miên không đến ba ngày. Các nước trong khu vực chưa kịp phản ứng gì thì không lưu sân bay Phnom - Penh đã phát đi thông báo giải phóng bằng tiếng Việt, khiến cho các nước trong khối Asean và thậm chí cả Trung Hoa đái ngập cả bỉm Bobby.

Tài năng đánh trận kiệt xuất của Lê Trọng Tấn có thể được ví ngang tầm với cả Hàn Tín của Trung Hoa và Zhukov của Liên Xô. Không dám xưng là thiên hạ vô địch, nhưng nói về đánh trận bách chiến bách thắng thì tướng Tấn chúng ta đến lúc này vẫn chưa hề có đối thủ.
Xin thành kính tưởng nhớ ông với lòng thành kính và biết ơn vô hạn trong những ngày tháng tư lịch sử./.
Yêu nước ST.

Kỷ niệm 76 năm ngày truyền thống ngành Quân y!


 Ngày 16-4-1946, thành lập Bộ đội quân y. Ra đời vào nǎm đầu tiên của nền Cộng hòa, Bộ đội quân y Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập và trở thành bộ phận cấu thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những năm gần đây, được sự quan tâm của các cấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành quân y được đầu tư nâng cấp; bộ mặt của các bệnh viện, nhà trường, cơ sở quân y ngày càng khang trang; chất lượng chuyên môn được củng cố và nâng cao. Nhiều bệnh viện, cơ sở quân y được xây dựng mới, trang bị hiện đại, tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo, cấp cứu, điều trị, cứu chữa bộ đội và nhân dân.
Thời gian tới, nhiệm vụ của quân đội đặt ra yêu cầu mới, ngày càng cao với ngành Quân y. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, toàn ngành xác định quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; trước hết quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị về công tác quân y. Tập trung nâng cao khả năng bảo đảm quân y cho SSCĐ và các nhiệm vụ đột xuất; ưu tiên bảo đảm cho các lực lượng làm nhiệm vụ đặc biệt, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới, ở địa bàn trọng yếu và các đơn vị mới thành lập, các lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.
Ngày 16-4-1946: Ngày truyền thống ngành Quân y
Trung tâm điều trị bệnh nhân Covid-19, Bệnh viện Quân y 175 được triển khai thần tốc và đi vào hoạt động. Ảnh: Benhvien175.vn
Cục Quân y sẽ tham mưu với cấp trên phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện tốt công tác kết hợp quân dân y, xây dựng và củng cố các đơn vị quân y trong khu vực phòng thủ. Tập trung hoàn thành những đề án lớn của ngành, chú trọng đề án quy hoạch hệ thống bệnh xá, bệnh viện toàn quân; nâng cao năng lực hệ thống y học dự phòng quân đội. Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quân y; tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc... góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
x

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG SUY THOÁI VỀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CỦA ĐỘI NGŨ SĨ QUAN TRẺ TRONG QUÂN ĐỘI

Đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Điều đó đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng các cấp toàn quân, cần có nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quan trọng này.


Đội ngũ sĩ quan trẻ là lực lượng “rường cột” kế tục sự nghiệp cách mạng trong Quân đội, hay nói cách khác, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ này. Đảng ta đã chỉ rõ, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “giặc nội xâm” đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đội ngũ sĩ quan trẻ, ít nhiều cũng có những biểu hiện suy thoái như Đảng ta đã chỉ ra. Tuy nhiên, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ thường hay biểu hiện trước và có khả năng làm trầm trọng suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bởi, họ là thế hệ trẻ, đang cần tiếp tục được rèn luyện về nhân cách. Đạo đức, lối sống là điều căn bản, gốc của nhân cách mà bị suy thoái, thì khi đó con người cũng dễ đánh mất mình. Khi giá trị làm người đã không giữ được thì sĩ quan trẻ rất dễ ngả nghiêng, dao động về lập trường tư tưởng và bị dụ dỗ, mua chuộc, từ đó suy thoái, biến chất là điều khó tránh khỏi.


Suy thoái về đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là trạng thái suy giảm và sa sút dần về phẩm chất đạo đức, xuống cấp về lối sống, lệch lạc trong nhận thức và thực hành các giá trị chuẩn mực đạo đức, lối sống, không tương xứng với chuẩn mực, yêu cầu nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”. Biểu hiện sự suy thoái của đội ngũ cán bộ này cũng là những biểu hiện suy thoái mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra, nhưng thường biểu hiện và có nguy cơ trầm trọng hơn ở những mặt, như: sống thực dụng, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn của đồng đội, háo danh, thổi phồng thành tích, che dấu khuyết điểm, “chạy chức”, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, quân phiệt, quan liêu, thiếu sâu sát đơn vị, lười biếng, ngại khổ, ngại khó, ngại rèn luyện, v.v.


Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài. Cấp bách bởi vì sự suy thoái này làm hư hỏng đội ngũ sĩ quan trẻ, từ đó làm cho hoạt động của bộ máy chỉ huy, tổ chức đảng trong Quân đội suy yếu: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”1. Đây cũng là vấn đề lâu dài, bởi vì không phải làm một lần là xong. Và sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ là việc làm thường xuyên, như “rửa mặt” hàng ngày. Hơn nữa, đấu tranh với những hư hỏng, suy thoái trong mỗi con người có lúc còn khó hơn chống giặc ngoại xâm, vì nó là kẻ thù vô hình ở trong chính bản thân mỗi chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh: “Có thể những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi. Cho nên bom đạn của địch không nguy hiểm bằng “đạn bọc đường” vì nó làm hại mình mà mình không trông thấy”2. Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, đối với nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ những giá trị gần gũi, như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tiền bạc, lợi ích kinh tế có sức thu hút và quan tâm hàng đầu, đôi khi còn trên cả các giá trị tinh thần. Những mặt trái của nó đã, đang làm giới trẻ, trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ có xu hướng quá đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị đạo đức, tinh thần. Những tiêu cực đó làm cho lối sống tự do cá nhân cực đoan, thực dụng, thích hưởng thụ vượt quá khả năng bảo đảm của gia đình, xã hội ngày càng nảy nở. Đội ngũ sĩ quan trẻ, nếu không nghiêm túc rèn luyện đạo đức, lối sống sẽ rất dễ bị những tác động tiêu cực trên chi phối. Để chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:


Một là, tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là một trong những nội dung cơ bản của công tác bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tế đôi khi vì quá nhấn mạnh yêu cầu về năng lực chuyên môn của đội ngũ sĩ quan trẻ mà công tác giáo dục đạo đức, lối sống chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt là lĩnh vực thực hành đạo đức. Việc thực hành đạo đức, lối sống chuẩn mực đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ phải tự nguyện, tự giác chứ không chỉ xuất phát bằng mệnh lệnh. Khi đạo đức, lối sống của sĩ quan trẻ đạt tới chuẩn mực, thì suy nghĩ, lời nói và hành động luôn thống nhất với nhau; luôn đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, Nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân; hết lòng, hết sức thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong khi đó, những phẩm chất này không phải lúc nào cũng tự nhiên, có sẵn mà phải thông qua giáo dục, rèn luyện; do đó, thực hiện tốt giải pháp này càng có ý nghĩa quan trọng. Để đạt hiệu quả trong giáo dục, lãnh đạo, chỉ huy mỗi đơn vị phải xây dựng được môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh để tạo dư luận tích cực trong đấu tranh, phê phán những hành vi đạo đức, lối sống thiếu chuẩn mực của đội ngũ sĩ quan trẻ. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; bởi, nó là kẻ thù của đạo đức cách mạng, là căn nguyên của sự suy thoái đạo đức, lối sống trong đội ngũ sĩ quan trẻ. Do đó, cần phải thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực.


Hai là, thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình. Đây là vũ khí sắc bén, nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Khéo sử dụng tự phê bình và phê bình là phương cách tốt nhất để rèn luyện đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ. Tuy nhiên, đó là vấn đề liên quan đến phẩm chất, nhân cách và lợi ích của con người nên rất nhạy cảm, dễ làm tổn thương đồng chí, đồng đội. Thậm chí, trong thực tiễn, có một số người còn bao biện, cho rằng, tự phê bình và phê bình là cần thiết, nhưng nên “nhẹ nhàng”, “nhân văn”, thông cảm, “vuốt ve nhau”, bởi ai chẳng có lúc va vấp,… nên dễ dàng cho qua những sai lầm, vi phạm đạo đức, lối sống của đồng đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh”3. Đại đa số sĩ quan trẻ được sinh hoạt, rèn luyện trong các tổ chức đảng. Vì vậy, thường xuyên, kiên trì thông qua tự phê bình và phê bình thẳng thắn, trung thực là phương cách tốt nhất để đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Tự phê bình và phê bình trong đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ chỉ có hiệu lực, hiệu quả khi cấp trên, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cấp ủy các cấp tự giác nêu gương về đạo đức, lối sống. Nếu người đứng đầu và cấp ủy không gương mẫu, không đặt lợi ích của tập thể lên trên hết, trước hết thì tự phê bình và phê bình dễ bị biến tướng trở thành nơi nịnh bợ cấp trên, “dĩ hòa vi quý”, nể nang, né tránh hoặc lợi dụng phê bình để trù dập, hạ bệ lẫn nhau.


Ba là, làm tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ. Với ưu điểm được đào tạo cơ bản, nhanh nhạy với sự phát triển khoa học, kỹ thuật và trong tương lai nhiều sĩ quan trẻ sẽ tiếp tục trưởng thành, nắm giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy cao cấp trong Quân đội. Do đó, thông qua thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần thường xuyên bồi dưỡng đạo đức, lối sống cho đội ngũ sĩ quan trẻ. Cương quyết không bổ nhiệm sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đặc biệt là suy thoái về đạo đức, lối sống lên vị trí cao hơn.


Về cơ bản, đội ngũ sĩ quan trẻ có khát vọng cống hiến, năng nổ, nhiệt tình công tác. Thực hiện tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng đội ngũ sĩ quan trẻ chính là động lực cơ bản, quan trọng để họ phấn đấu, cống hiến và tự rèn luyện đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ, chưa trải qua nhiều gian khổ, nên khi gặp khó khăn, một bộ phận dễ nản chí. Do đó, cần phải tiếp tục rèn luyện, thử thách đạo đức, lối sống của đội ngũ này. Kịp thời đề xuất quy hoạch, tạo điều kiện phát triển cho sĩ quan trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, có cơ chế, biện pháp bảo vệ sĩ quan trẻ dám nghĩ, dám làm, tiên phong trong công tác.


Bốn là, thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, giám sát đội ngũ sĩ quan trẻ. Đây là nội dung rất quan trọng, xuyên suốt trong ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức, lối sống đối với đội ngũ sĩ quan trẻ; bởi nó thể hiện sự chủ động của cấp ủy, chỉ huy các cấp, lấy phòng ngừa là chính. Khi chủ động phát hiện, ngăn ngừa hành vi suy thoái đạo đức, lối sống sẽ góp phần hạn chế tổn thất, ngăn ngừa sự suy thoái của đội ngũ sĩ quan trẻ khi sự vi phạm còn nhỏ, mới hình thành. Quá trình kiểm tra, giám sát cần gắn việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trẻ với cam kết của bản thân trong chấp hành kỷ luật, quy định về cán bộ, đảng viên của Đảng, cũng như thực hiện chỉ tiêu các phong trào thi đua của Quân đội và đơn vị. Khi phát hiện, sĩ quan trẻ có biểu hiện suy thoái và vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cần xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, tuyệt đối không bao che, dung túng cho hành vi vi phạm. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.


Đấu tranh phòng, chống suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ sĩ quan trẻ đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ, tổng hợp nhiều biện pháp. Quá trình đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ và cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đặc biệt là phòng, chống sự suy thoái đạo đức, lối sống. Khi giữ được đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh thì những khuyết điểm, sự suy thoái khác sẽ ít dần đi.


TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.


Nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng”. Trong quá trình cách mạng, Đảng ta thường xuyên cảnh giác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng; đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao nhận thức, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, nên đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường, biện pháp tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và là cơ sở vững chắc để Đảng đề ra chủ trương, đường lối lãnh đạo; là kim chỉ nam định hướng cho mọi hành động của mình. Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được cấu thành bởi hai thành tố có mối quan hệchặt chẽ, khăng khít với nhau là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.


Thế giới mà chúng ta sống đang diễn ra những quá trình, những xu hướng quá độ mà sự vận động của nó là điều rất khó dự lường, tác động mạnh mẽ và sâu sắc, làm thay đổi toàn bộ đời sống nhân loại. Thế giới hiện nay vẫn đang quá độ từ trật tự thế giới cũ của thời kỳ chiến tranh lạnh sang trật tự thế giới mới, nhưng vẫn chưa được định hình rõ nét, đặc biệt trở nên rất khó đoán lường sau khi ông Joe Biden làm Tổng thống Mỹ. Thế giới cũng bắt đầu bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, (cách mạng công nghiệp 4.0), với sự phát triển vô cùng nhanh chóng, mà hiện nay chúng ta chưa có thể nắm bắt và tiên lượng hết mọi điều sẽ diễn tiến và hệ quả của nó đối với cuộc sống con người, mọi quốc gia dân tộc và cộng đồng nhân loại. Thế giới hiện nay lại đang chứng kiến sự nổi lên của chủ nghĩa dân tộc và dân túy, những nguy cơ phá vỡ nhiều luật lệ và tổ chức, thiết chế quốc tế tưởng như đã phát triển ổn định, bền vững của thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Thế giới vẫn đang phải đối mặt với sự gia tăng sức mạnh quốc phòng, quân sự, đặc biệt là sự ra đời nhiều loại vũ khí trang bị mới, kể cả vũ khí hạt nhân với những chính sách cực đoan của nhiều nước, đặc biệt là các nước lớn, các nước phát triển, treo lơ lửng trên đầu nhân loại nguy cơ xung đột, chiến tranh quy mô lớn, có thể bùng phát vào bất kỳ ở đâu và thời điểm nào.


Toàn bộ những quá trình, những xu hướng quá độ nêu trên đang vận động, biến đổi và phát triển nhanh chóng trong điều kiện mới của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa phát triển hết sức mạnh mẽ và sâu rộng; phản ánh sâu sắc tính chất gay go, phức tạp mới của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu trong bối cảnh lịch sử mới. Những quá trình, những xu hướng đó tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng vừa gián tiếp vừa trực tiếp đến nền tảng tư tưởng  và hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay.


Sự phát triển của mạng xã hội và sự lợi dụng không gian mạng chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay... Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam, gây nhiều khó khăn đối với các đơn vị cung cấp thông tin, quản lý mạng xã hội hiện nay.


Thực tiễn hoạt động mạng xã hội & âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam


Mạng xã hội ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ, có thể phân thành hai loại: 


Thứ nhất, mạng xã hội của Việt Nam do các doanh nghiệp trong nước cung cấp và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Ở Việt Nam không thiếu các mạng xã hội xưng danh là mạng xã hội Việt, nhưng rất ít trong số đó tồn tại được quá một năm trước khi phải khai tử. Các mạng xã hội Ở Việt Nam, đặc biệt là các trang mạng xã hội đã được cấp phép hoạt động phần lớn đều tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành. Số ít trường hợp để xảy ra sai phạm và nội dung vi phạm chủ yếu là do thành viên chia sẻ, trao đổi các nội dung vi phạm về thuần phong mỹ tục, dung tục và phản cảm.


Thứ hai, mạng xã hội của nước ngoài, do các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt Nam, điển hình như: Facebook, Google, Youtube, Twitter, Microsoft... cung cấp vào Việt Nam, được người Việt Nam lựa chọn sử dụng nhiều nhất hiện nay là Facebook và Youtube. Theo báo cáo của Google, Việt Nam là một trong nhóm 10 nước có lượng người dùng Youtube vào loại cao trên thế giới. Cả hai loại mạng xã hội này đều hoạt dộng và cạnh tranh lẫn nhau ở Việt Nam.


Trong môi trường phát triển số hóa mạnh mẽ như ngày nay, mạng xã hội cũng như “con dao hai lưỡi”. Không thể phủ nhận tiện ích mà mạng xã hội đem lại cho con người trong đời sống hiện đại; thế nhưng, đây lại là một thế giới ảo, thật giả lẫn lộn, có những điều tốt nhưng có cả “thuốc độc”. Tính chất thật, giả lẫn lộn không chỉ trên phương diện cá nhân, đối với từng con người, mà còn đối với phương diện xã hội, càng đặc biệt trở nên nguy hiểm khi nó được sử dụng vào các hoạt động chính trị. Với khả năng tương tác và tính lan truyền nhanh, làm cho sự thật giả của những thông tin trên mạng xã hội càng trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, vấn đề không phải là cấm mạng xã hội, nhưng mạng xã hội bộc lộ nhiều mặt trái mà chúng ta cần phải hạn chế, quản lý, đặc biệt là sự lợi dụng mạng xã hội để công kích, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. Một hệ thống luật pháp đầy đủ để quản lý và điều chỉnh hành vi những người sử dụng mạng xã hội và thiết bị trực tuyến là đòi hỏi bức thiết của tình hình.


Thực tế mạng xã hội ở nước ta hiện nay cho thấy, tình trạng mất an toàn thông tin mạng xã hội diễn biến rất phức tạp, mang tính phổ biến; ý thức bảo đảm an toàn thông tin của một số cá nhân, tổ chức trong sử dụng công nghệ thông tin chưa được đề cao; ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của một số cán bộ, chiến sĩ, nhất là số chiến sĩ trẻ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo đảm an toàn, an ninh mạng thông tin quốc gia, về giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng chưa thật đồng bộ, hiệu lực thi hành chưa cao… Các hành vi tiêu cực như: Tung tin giả mạo, phát tán tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, phát ngôn gây thù ghét... chủ yếu tồn tại trên các mạng xã hội nước ngoài do nhận thức của người sử dụng cho rằng mạng xã hội là môi trường ảo, nên có thể tự do phát ngôn, tự do thông tin mà không phải chịu trách nhiệm.


Mạng xã hội trở thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù ghét tràn lan; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nhiều thông tin không chính thống trên mạng xã hội đã làm nhiễu loạn, ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chỉ đạo, điều hành. Tuy nhiên, không thể chỉ ngăn cấm mạng xã hội bằng những mệnh lệnh hành chính, mà phải biết tận dụng mặt tích cực của nó để định hướng dư luận đến với cái đúng, cái tốt, đấu tranh với cái sai, cái xấu. Điều đó chỉ có thể được thực hiện khi cơ quan chức năng chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời đến với người dân. 


Trong tình hình mới, không gian mạng sẽ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch ngày càng lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện đó, vấn đề bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Thông qua hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, chúng còn triển khai hướng tiến công “mềm” thông qua việc đẩy mạnh việc sử dụng các mạng thông tin, mạng quốc tế để tuyên truyền chống phá cách mạng nước ta với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khó lường. Trong đó đáng lưu ý là, việc Mỹ đang lợi dụng những cơ hội của toàn cầu hoá kinh tế để thực hiện chiến lược “Mỹ hoá" toàn cầu. Sự du nhập lối sống phương Tây từ việc mở rộng kết nối Internet đang thách thức sự kiểm soát của Nhà nước ta; sự suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào khả năng xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế; sự lẫn lộn về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, phai nhạt ý thức quốc gia dân tộc, suy giảm ý thức quốc phòng trong một bộ phận nhân dân, trước hết là một bộ phận trong thế hệ trẻ là không tránh khỏi.


Với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự, chúng triệt để lợi dụng những vấn đề "dân tộc", "tôn giáo", "dân chủ", "nhân quyền"…; kết hợp "diễn biến hoà bình" với bạo loạn lật đổ chống phá từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khi cần thiết và có điều kiện thì phát động chiến tranh xâm lược quy mô lớn. “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”.


Đặc biệt, các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu nhằm ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng. Chúng tuyên truyền rằng chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của lịch sử loài người, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là một xã hội áp bức, bóc lột nữa. Đồng thời, chúng cho rằng con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn là “mù mờ”, là “không tưởng”, hoặc cho rằng “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn dân giàu, nước mạnh”. Chúng cố tình tách rời và đối lập độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; đối lập một cách sai lầm chủ quyền dân tộc với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa; tuyên truyền luận điệu thù địch cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ý thức hệ cao hơn chủ quyền dân tộc”…


Các thế lực thù địch thông qua việc phát tán các ấn phẩm, tài liệu sách, báo, băng hình trên các phương tiện thông tin, trên các trang mạng xã hội,... nhằm xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc, chứ không lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Chúng vin vào một số khuyết điểm, sai lầm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm cho cách mạng nước ta có lúc gặp khó khăn, đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu nhằm bôi xấu, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.


Được sự hậu thuẫn mạnh của các thế lực phản động bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước tăng cường viết và phát tán các tài liệu đưa ra những luận điệu, quan điểm, sai trái phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng. Họ cho rằng, đã đến lúc phải xét lại cả những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những nguyên lý về giai cấp, đấu tranh giai cấp, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội… Các thế lực thù địch đã và đang điều chỉnh một số vấn đề về chủ trương, giải pháp sử dụng các thủ đoạn “mềm, ngầm, sâu, điểm”, mở rộng địa bàn hoạt động, nhất là các địa bàn trọng yếu; tích cực móc nối, liên kết các nhóm, tổ chức phản động và tìm mọi cách xâm nhập vào nội bộ ta (nhất là các cơ quan lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể) nhằm tạo dựng “ngọn cờ” chuẩn bị thời cơ gây bạo loạn, ly khai ở một số vùng hoặc nhiều vùng có tính chất độc lập để chia cắt nước ta, hy vọng tạo dựng nhà nước “tự do”, “độc lập” chịu sự chi phối của bên ngoài,... Phương thức chống phá của các thế lực thù địch hết sức đa dạng, có lúc lợi dụng sự công khai của báo chí, truyền thông, lợi dụng sự tự do tư tưởng; có lúc ngụy trang dưới nhiều hình thức, vỏ bọc tinh vi, đặc biệt là chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội.


Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới “không gian mạng” mang lại những cơ hội, vận hội mới để các quốc gia, dân tộc cùng nhau  hợp tác và phát triển. Các thế lực thù địch, phản động đang tận dụng những ưu thế vượt trội của công nghệ số, mạng xã hội để tuyên truyền những tư tưởng độc hại; thu thập thông tin, bí mật nhà nước, bí mật quân sự, phá vỡ niềm tin và cắt đứt sợi dây liên kết giữa Đảng với nhân dân; xuyên tạc, phủ nhận những thành quả cách mạng trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Với sự phát triển rất sôi động và phong phú của mạng thông tin toàn cầu, thì đó lại là một "điều kiện", "thời cơ" thuận lợi để các thế lực thủ địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, truyền thông hiện đại như báo chí, đài phát thanh đặt ở ngoài nước, internet, các trang mạng xã hội, các blog, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn trực tiếp tiến công vào báo chí cách mạng nước ta, làm nhiễu mạng điện tử, tiến công vào những nhà báo cách mạng.


Sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt lợi dụng báo chí, mạng xã hội chống phá cách mạng nước ta, làm cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay gặp những khó khăn, thách thức mới. Trong Báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, Jon Aloisi (cựu Phó Đại sứ Mỹ tại Việt Nam) từng viết: “Thành công lớn nhất là đã thực hiện việc đưa vào Việt Nam mạng lưới internet. Đó là phương tiện hữu hiệu cho chiến dịch truyền bá các tư tưởng phương Tây nằm trong chiến lược nhằm thay đổi chính thể ở quốc gia này”.


Trong tình hình mới, “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam càng quyết liệt và nguy hiểm hơn. Cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng phức tạp, khó khăn. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, trong đó tập trung tuyên truyền, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những thời điểm Quốc hội thông qua các văn bản pháp luật mới; phủ nhận thành quả cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc chủ trương củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội; bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội; đả kích bản sắc văn hóa dân tộc; làm giảm sút lòng tin của nhân dân ta đối Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch.

QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VÀ TÁC HẠI CHỐNG PHÁ

 Quan điểm sai trái, thù địch là một dạng thông tin xấu, độc; biểu hiện cụ thể của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch với tầm nhìn, thái độ, nhận thức, quan điểm của những người đối lập với Đảng, Nhà nước ta, trái ngược với lập trường, lợi ích giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam; đối lập với hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ta; tuyên truyền sai sự thật; kích động, gây rối loạn, làm mất ổn chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra sự “suy thoái”, biến chất ở một bộ phận người dân đến mức “chuyển hóa” chế độ ta theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Các thế lực lực thù địch đã và đang tuyên truyền hệ quan điểm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, tập trung ở ba nhóm chính: (1) Nhóm người nghiên cứu lý luận - thực tiễn, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ thông qua cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Nhóm này bao gồm một số phần tử chống cộng khét tiếng và một số lãnh đạo ở một số quốc gia phương Tây. (2) Nhóm phần tử cực đoan người Việt sống ở nước ngoài luôn lôi kéo, tập hợp lực lượng lưu vong kết hợp với một số văn nghệ sĩ, trí thức, công chức bất mãn ở trong nước, lập ra các tổ chức phản động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. (3) Nhóm cán bộ, đảng viên (có một số đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và một số người dân do nhận thức lệch lạc, bị lôi kéo, bị mua chuộc và kích động, theo đuôi bọn xấu. Đây là những người phản bội dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, luôn đề cao chủ nghĩa cá nhân, sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chủ trương, chính sách, trong cách ứng xử, giải quyết vấn đề lợi ích của những người lãnh đạo cơ quan, đơn vị nơi những người này công tác.

Quan điểm sai trái, thù địch và thông tin xấu, độc có sự khác nhau nhất định. Tất cả quan điểm sai trái, thù địch đều là thông tin xấu, độc nhưng không phải tất cả thông tin xấu, độc đều là quan điểm sai trái, thù địch. 

Quan điểm sai trái, thù địch có thể là những lời nói, bài viết, hành động của cá nhân, nhóm xã hội, phản ánh xuyên tạc sự thật đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hoặc thổi phồng mâu thuẫn, các tệ nạn, tiêu cực xã hội, xuyên tạc, bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với mục đích đen tối: làm thay đổi chế độ chính trị, tan rã hệ thống chính quyền, gây mất đoàn kết trong nhân dân nhằm thiết lập chế độ chính trị mới theo ý muốn chủ quan của giới lãnh đạo chóp bu phản động bằng cách tung ra các khẩu hiệu, lời tuyên bố, lời hứa; đánh giá không đúng sự thật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; khiêu khích, gây mâu thuẫn trong nội bộ hệ thống chính trị và mâu thuẫn giữa chính quyền với các tầng lớp nhân dân; giữa Việt Nam với các quốc gia khác để chuyển hóa lập trường, ý thức xã hội, tiến tới thành lập “xã hội dân sự” để xóa bỏ chế độ ta. 

Giữa quan điểm sai trái, thù địch với “ý kiến khác” có sự khác nhau. Ý kiến khác là loại ý kiến nhằm mục đích chống đối nhưng cũng có thể là ý kiến xây dựng. Ý kiến khác có ba dạng: 1) Ý kiến của những đối tượng có động cơ, mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, nhất thiết chúng ta phải đấu tranh, loại bỏ nó; 2) Ý kiến của những đối tượng có nhận thức còn hạn chế, thông tin chưa đầy đủ, chúng ta cần phải giáo dục; 3) Ý kiến của những người có mong muốn góp ý với tinh thần khách quan, vô tư, trong sáng, với mục đích xây dựng, phát hiện những hạn chế, bất cập để bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách, chúng ta cần tiếp thu có chọn lọc. 

Mục đích của quan điểm sai trái, thù địch là phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, gây tâm lý hoang mang trong các tầng lớp nhân dân, từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng ta lãnh đạo. Động cơ của các quan điểm sai trái, thù địch là dùng mọi thủ đoạn để tấn công, đánh sập nền tảng tư tưởng của Đảng, từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị, tiến tới xóa bỏ chế độ ta. Vì vậy, chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội như “một chiến trường không tiếng súng” để chống phá Đảng, Nhà nước ta, thông qua việc xây dựng các trang web, blog, tài khoản ở các máy chủ đặt ở nước ngoài làm “các máy cái, hà hơi, tiếp sức” cho các blog, tài khoản trong nước chống phá Việt Nam.

Các chiêu trò và thủ đoạn chống phá của quan điểm sai trái, thù địch là vô cùng nham hiểm, rất thâm độc thông qua âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, không thể xem thường, đó là: (1) Tạo dư luận phản cách mạng, tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông để tiến hành tuyên truyền xuyên tạc, lừa gạt, làm nhiễu loạn thông tin trên lĩnh vực nghe, nhìn và lĩnh vực tư tưởng, từ đó làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản của mọi người dân, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. (2) Xâm nhập tư tưởng, tiến hành nhiều hoạt động gián điệp, “ngoại giao thân thiện”, “viện trợ nhân đạo”, tạo cớ để tăng cường tiếp xúc với nhân dân ta, kết hợp với trao đổi văn hóa, y tế, giáo dục… qua đó truyền bá tư tưởng chính trị, lối sống thực dụng của phương Tây cho người dân. (3) Kiềm chế về kinh tế, sử dụng nhiều chiêu bài để kinh tế nước ta lệ thuộc hoặc thêm khó khăn về kinh tế, từ đó gây áp lực, đặt ra yêu sách về vấn đề chính trị như: viện trợ kinh tế, kỹ thuật, công nghệ kèm theo điều kiện để xâm nhập, chuyển hóa, khống chế và khi cần sẽ thúc ép trả nợ hoặc đưa ra các đòn “trừng phạt kinh tế” buộc chúng ta phải nhượng bộ về chính trị. (4) Nuôi dưỡng các “thế lực dân chủ”, phá hoại “bức tường đồng, vách thép” của chủ nghĩa xã hội; “gieo trồng hạt giống tự do”, nuôi dưỡng những “chiến sĩ dân chủ”… tiến tới “giải phóng dân chủ” ở Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chính quyền cách mạng, thay đổi chế độ chính trị nước ta theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch là một số quốc gia, tổ chức quốc tế thù địch, chống phá Việt Nam; các tổ chức phản động lưu vong nước ngoài; các đối tượng phản động, chống đối; cơ hội chính trị, có quan điểm chính trị rất phức tạp ở trong nước; các đối tượng xấu, tung tin sai trái, thù địch, thông tin độc hại nhằm trục lợi. Ngoài ra, những người đã từng vi phạm pháp luật Việt Nam, có lòng hận thù Đảng, Nhà nước, chế độ và Quân đội ta. 

Nội dung của quan điểm sai trái, thù địch là chống phá, xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận những cống hiến, đóng góp của Người cho dân tộc, cho nhân loại; kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; phủ nhận thành tựu cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo; thổi phồng khuyết điểm, hạ thấp và phủ nhận thành tựu đổi mới đất nước; xuyên tạc, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vị thế của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an…

Phương thức chống phá của các quan điểm sai trái, thù địch rất đa dạng với nhiều chiêu trò tinh vi, thâm độc, đó là: (1) Lợi dụng các trang mạng lớn trên thế giới để chống phá Việt Nam; (2) Sử dụng và nhân rộng mạng lưới cộng tác viên để viết bài, đưa tin chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta; (3) Sử dụng các thông tin chống phá Việt Nam của các quốc gia, tổ chức quốc tế lớn, những cá nhân có ảnh hưởng lớn đến người dân ở trong và ngoài nước để tán phát thông tín xấu, độc; (4) Tạo dựng các trang web, blog các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội, đặc biệt là trên facebook, youtube để chia sẻ (share), phát tán thông tin; (5) Nắm bắt, tận dụng thời cơ, thời điểm quan trọng, nhất là lợi dụng các vấn đề, sự cố lớn của đất nước để phát tán thông tin xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước…

Các thủ đoạn, chiêu bài chống phá cũng rất đa dạng, đó là: Gửi “kiến nghị”, “thư ngỏ” của hội, nhóm, “thư riêng”, các tài liệu của cá nhân (có danh và mạo danh) đến cơ quan, tổ chức và các đồng chí lãnh đạo cấp cao: Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Biên tập và phát tán các tin, bài ấy trên mạng xã hội để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của xã hội, truyền bá quan điểm chính trị sai trái và gây áp lực đối với Đảng, Nhà nước. Ra “tuyên ngôn”, “tuyên bố” (với tư cách là nhóm xã hội hoặc các cá nhân có uy tín) về một vấn đề nào đó. Phát tán trên mạng xã hội tin, bài, bằng các hình thức bình luận (comment), hoặc thể hiện trạng thái (status) video clip, hình ảnh ở tài khoản cá nhân trên facebook, youtube…

Vì lẽ đó, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả là một nội dung cơ bản, rất hệ trọng, mang ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta; trong đó, cán bộ, chiến sĩ quân đội là một trong những lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu; là niềm vinh dự, tự hào của các cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng./.

NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Thời gian qua, các thế lực thù địch đã ra sức công kích, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Việt Nam. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Chúng hàm hồ dự đoán, tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng. Những suy luận vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm vừa nhằm xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vừa nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

Ngoài ra, trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thời gian qua; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các thế lực thù địch còn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và hơn nữa là cổ súy hành động “từ bỏ”  Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”

Họ tìm cách thổi phồng, bịa đặt, xuyên tạc đời tư của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước…, gieo rắc sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân về lòng trung thành, tinh thần tận tụy phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà lúc sinh thời của Hồ Chí Minh cũng như Đảng ta luôn quan tâm xây dựng, củng cố. Theo họ, đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép thôi” … Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Không chỉ xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị còn công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ đã lên tiếng rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”(4). Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chỉ trích Đảng vì đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

Gần đây, khi Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII diễn ra, các thế lực thù địch lại được dịp lên tiếng công kích, xuyên tạc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng những luận điệu mang tính quy chụp, suy diễn vô căn cứ. Ngày 6/10/2021, trên trang VOA giật tít dòng chữ: “Điều quan tâm duy nhất là sự sống còn của đảng, của chế độ”. Họ xuyên tạc rằng, đang trong thời điểm dịch bệnh phức tạp, người lao động ở các tỉnh phía Nam rơi vào cảnh khó khăn do COVID-19 nhưng Trung ương lại tổ chức “họp trong phòng lạnh” để tung hô, khen ngợi các thành tích “vinh quang thuộc về Đảng”, còn “đau thương trút lên đầu nhân dân”. Thậm chí họ còn vu cáo rằng “Đảng không bận tâm về hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 mà chỉ quan tâm làm sao để Đảng “muôn năm trường trị”…

Những luận điệu xuyên tạc trên vẫn là trò “rượu cũ bình mới” nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Vẫn là những quan điểm dân túy thường thấy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đứng về phía nhân dân để chỉ trích Đảng và Nhà nước nhằm kích động một bộ phận nhân dân chống lại những quy định của Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch. Mục đích sâu xa của chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận chế độ của ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo tình hình Việt Nam, các thế lực thù địch cũng cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, điểm mới của Hội nghị lần này là Đảng ta đã mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị. Đây là một yêu cầu khách quan bởi lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam tuy giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội nhưng Đảng không đứng ngoài hệ thống chính trị, không phải là nhân tố độc lập hoàn toàn với hệ thống chính trị. Hơn nữa, “Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”(8).


Thực tiễn cho thấy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam thời gian qua được tiến hành đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở, không chỉ góp phần củng cố, gia tăng thêm sức mạnh của Đảng mà còn nâng cao uy tín của Đảng với nhân dân nên được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Do đó, một trong những điểm mới quan trọng được Đại hội XIII đưa ra là “Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. 
Đại hội khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”(10). Việc phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng trong việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nước ta thời gian qua, góp phần làm cho Đảng ngày càng trọng sạch, vững mạnh. Do đó, không thể cố tình phủ nhận những quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.Những năm qua
, sở dĩ Đảng ta nhấn mạnh hơn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vì muốn củng cố, gia tăng thêm sức mạnh cho Đảng; từ đó tiến đến xây dựng cả hệ thống chính trị. Đây là những bước đi thận trọng, chắc chắn, có lộ trình rõ ràng trong từng giai đoạn cụ thể. Thời gian qua, khi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được gia tăng đáng kể nên Đảng ta đã gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị. Điều này đã từng được đặt ra ngay từ chủ đề của Đại hội XIII: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(9) và đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII lại được nhấn mạnh thêm. Do đó, không thể cố tình phủ nhận, xuyên tạc nỗ lực lớn, quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay. Đó là những luận điệu của những kẻ cố tình “nhắm mắt làm ngơ”, thiếu thiện chí nên cần phải cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác.