Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

NHẬN DIỆN CÁC TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG ĐỘI LỐT TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 


Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng, theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng về kinh kệ, đạo pháp... Ở một số nơi, các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo đã làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền nói xấu chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, làm cho các tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc, lợi ích của cách mạng và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.

Các thế lực thù địch đã và đang tìm cách tập hợp lực lượng trong số những người hoạt động tôn giáo bất hợp pháp kích động, lừa mị và lôi kéo những nhóm sinh hoạt đạo mà không có sự quản lý của chính quyền địa phương để biến thành tổ chức phản động và tổ chức quần chúng bị lợi dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Đã có những hoạt động ngấm ngầm tập hợp và móc nối tổ chức lực lượng bên trong với các tổ chức phản động ở nước ngoài.  

Các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ súy các phần tử cực đoan trong các tôn giáo, móc nối, liên kết với nhau cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng. Chúng kích động số bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền.

        Lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách tôn giáo để chống phá, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách tôn giáo để kích động tư tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố mất ổn định, gây rối, bạo loạn, biến vấn đề tôn giáo thành vấn đề chính trị, tạo cớ cho nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ nước ta.

khuctran

ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO LÀ BỘ PHẬN CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA

 


Đối với các giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, Đảng ta nhấn mạnh phải giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Vì đó là một nguồn quan trọng làm nên sức mạnh của dân tộc trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng thời góp phần tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo đúng pháp luật để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Đảng, Nhà nước khẳng định đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; bởi vì, đồng bào theo tôn giáo trước hết là người Việt Nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc như mọi người Việt Nam khác. Đây chính là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Mặt khác, tín đồ tôn giáo đại bộ phận là nhân dân lao động, họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng.

 Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Thực tiễn chứng minh, trong quá trình cách mạng, đồng bào tôn giáo đã có nhiều đóng góp to lớn cả sức người, sức của, nhiều tín đồ, chức sắc các tôn giáo đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Do vậy, phải luôn tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

khuctran

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA ĐỊCH KÍCH ĐỘNG GÂY MẤT ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Hiện nay các thế lực thù địch đang tăng cường kích động di cư trái phép đến các địa bàn trọng điểm, chiến lược và vượt biên ra nước ngoài, tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, làm cho vấn đề dân tộc trở thành vấn đề phức tạp, ngòi nổ để tạo cớ can thiệp. Những hoạt động tuyên truyền, kích động, tổ chức di cư tự do, vượt biên trái phép nhằm tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, vừa đưa người dân tộc về từng khu vực theo ý đồ để xây dựng "căn cứ" phản cách mạng, làm cho vấn đề dân tộc trở nên phức tạp, có thể trở thành "ngòi nổ", gây bạo loạn, tạo cớ để nước ngoài có thể can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

Mục đích cơ bản của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc ở nước ta là nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng do Đảng  Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; từng bước loại bỏ vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, vai trò quản lý của nhà nước Trung ương và chính quyền các cấp ở từng địa phương có các dân tộc thiểu số sinh sống. Tuyên truyền, kích động vượt biên trái phép, di dân tự do, gây mất ổn định ở các địa bàn có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, phá vỡ khối đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau trên địa bàn;

Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch để chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay rất đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm. Kết hợp các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng với tổ chức lực lượng và trực diện đấu tranh chống chính quyền, đòi quốc tế hóa vấn đề dân tộc để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, phản động có đạt được mục tiêu hay không còn phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của ta.

khuctran

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC ĐỂ PHÁT HUY PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG TÌNH

 

 HÌNH MỚI

Ngày 28-12-2021, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Nghị quyết số 847 đã đề cập đến hai thành tố quan trọng, có mối quan hệ biện chứng là “phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ” và “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”.

Đó cũng chính là hai vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói tới ở những mức độ và hoàn cảnh khác nhau trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như sáng lập và rèn luyện quân đội nhân dân Việt Nam.

Là một nhà văn hóa kiệt xuất, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ đầy đủ những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, điển hình của nhân cách con người Việt Nam. Một trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện đậm nét, mang dấu ấn riêng, rất đặc thù và rất Hồ Chí Minh đó là văn hóa ứng xử./.

Vũ Bão 24

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định

 


          Kỷ niệm 102 năm ngày sinh của Thiếu tướng Nguyễn Thị Định - Nữ tướng duy nhất trong chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam (15/03/1920 - 15/3/2022)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về Nguyễn Thị Định: “Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”. Bà giữ chức Phó Tư lệnh quân Giải phóng miền Nam (1964 - 1975) Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam, năm 1974 được phong hàm Thiếu tướng

          Sau chiến tranh, bà giữ nhiều chức vụ quan trong như: Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch hội đồng Nhà nước. Sau khi bà mất, đền thờ bà được lập tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm. Năm 1995, bà được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”./.

Vũ Bão 23

 

 

Hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ

 


 

          Tàu 016-Quang Trung cập cảng Cam Ranh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia Diễn tập MILAN 2022. Sáng 15-3, Tàu 016-Quang Trung và đoàn công tác của Hải quân nhân dân (HQND) Việt Nam do Đại tá Nguyễn Văn Ngân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân, làm trưởng đoàn đã cập Quân cảng Cam Ranh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia Diễn tập Hải quân đa phương MILAN năm 2022 (MILAN 2022) tại thành phố Visakhapatnam theo lời mời của Hải quân Ấn Độ.

          Trong suốt hải trình đi và về vượt 4.700 hải lý, qua vùng biển Việt Nam, Eo biển Singapore, Eo biển Malacca, biển Andaman, Vịnh Bengal tới thành phố Visakhapatnam của Ấn Độ và hành trình diễn tập trên biển 500 hải lý, mặc dù thời tiết phức tạp nhưng đoàn công tác tổ chức hành quân, diễn tập đúng thời gian, kế hoạch, bảo đảm an toàn tuyệt đối về mọi mặt, bao gồm cả công tác phòng, chống dịch Covid-19.

          Tại hội nghị rút kinh nghiệm sau diễn tập, Đại tá Nguyễn Văn Ngân, Trưởng đoàn công tác, cho biết, HQND Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tham gia Diễn tập MILAN 2022 mặc dù dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ở Ấn Độ. Trong khuôn khổ diễn tập, HQND Việt Nam đã tham gia tích cực 27/30 khoa mục, nội dung ở hai giai đoạn tại bến và trên biển mà Ban tổ chức Diễn tập MILAN 2022 đưa ra, trong đó nhiều nội dung đạt kết quả xuất sắc, được các nước đánh giá cao. Nước chủ nhà Ấn Độ cảm ơn và nhấn mạnh sự tham gia tích cực của HQND Việt Nam ở các nội dung như Lễ khai mạc, Làng Văn hóa MILAN, diễu binh đường phố, hội thảo hàng hải, diễn tập trên biển…. đã góp phần làm nên thành công của Diễn tập MILAN 2022.

          Thông qua diễn tập, HQND Việt Nam đã cho thấy sự tinh nhuệ, chính quy và khả năng làm chủ vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, cũng như khả năng hoạt động độc lập xa căn cứ dài ngày. Đây cũng là cơ hội tốt để HQND Việt Nam giao lưu học hỏi, trao đổi chuyên môn, trau dồi kinh nghiệm và nâng cao khả năng phối hợp hiệp đồng giữa hải quân các nước trong các hoạt động đa phương quy mô lớn trên biển, góp phần khẳng định năng lực của HQND Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế./.

Vũ Bão 22

THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY

 


"Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".

Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị quân thù treo cổ, khi anh vừa thoát khỏi cái chết do bệnh thương hàn ở công trường Bayarka.

Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.

Lý tưởng cao đẹp nhất - sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người, không chỉ bó hẹp trong một giai đoạn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, không chỉ ở phạm vi một quốc gia nào, mà càng ngày, chúng ta càng thấy rõ sự nghiệp ấy chỉ mới bắt đầu. Nó không chỉ là một sự lựa chọn của một cá nhân, một giai cấp mà là sự nghiệp thống nhất của nhân dân toàn thế giới. Sau cuộc đấu tranh chống áp bức là cuộc đấu tranh chống đói nghèo bệnh tật, chống sự kỳ thị, khủng bố..., cuộc đấu tranh để hoàn thiện bản thân và dân tộc. Chỉ khi đó từ "giải phóng" mới có một ý nghĩa thật sự.

Vì vậy, "Thép đã tôi thế đấy" không chỉ là khúc tráng ca về thế hệ đầu tiên của thanh niên Xô-viết, những con người đã được tôi luyện trong lửa đỏ và nước lạnh như Pavel, Sergey, Valia, Rita, Pankratov, Okuniev... mà là những vấn đề của hôm nay và của tương lai./.

Vũ Bão 21

Bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho cán bộ đoàn

 

1.     Bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho cán bộ đoàn

Học tập và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là vinh dự, vừa là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta

Thời gian qua, đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (CNQP) đã tích cực học tập, làm theo Bác toàn diện cả về tư tưởng, đạo đức, phong cách; trong đó vấn đề bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho cán bộ đoàn

Lãnh đạo Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, kiểm tra sản phẩm của Nhà máy Z115

Phong cách làm việc Hồ Chí Minh là lề lối, phương pháp, cách thức làm việc tiêu biểu, ổn định, mang đặc trưng của Người trong quá trình hoạt động cách mạng, thể hiện tập trung ở phong cách làm việc quần chúng; dân chủ, tôn trọng tập thể; khoa học; làm việc cụ thể, đến nơi, đến chốn; nêu gương, nói đi đôi với làm. Thời gian qua, cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các cấp thuộc Tổng cục CNQP đã chú trọng, thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xác định, tiến hành nhiều chủ trương, biện pháp bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn, công tác đoàn và phong trào thanh niên của tổng cục, phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục CNQP ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục CNQP vẫn còn những hạn chế: Một số cấp ủy, cán bộ nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về sự cần thiết phải bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn; tư duy, cách nghĩ, cách làm có thời điểm còn chậm đổi mới. Nội dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡng có thời điểm chưa toàn diện, trọng tâm, cụ thể. Phong cách làm việc của một số cán bộ đoàn chưa tương xứng với mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ.

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo đảm cho Đảng thực sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ đang được tiến hành quyết liệt với những yêu cầu ngày càng cao. Nhiệm vụ của quân đội, của Tổng cục CNQP có bước phát triển mới. Để bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục CNQP, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết các cơ quan đơn vị thuộc tổng cục cần tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng đối với hoạt động bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn. Theo đó, cần tập trung tuyên truyền, giáo dục để mọi tổ chức, mọi lực lượng nắm được các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, của quân đội về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung, về phong cách làm việc của Người nói riêng.

Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, tổ chức đoàn trong bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn. Nội dung bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn cần bảo đảm tính toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm; yếu cái gì, thiếu cái gì bồi dưỡng cái đó.

Các cơ quan, đơn vị cần xác định đúng nội dung, vận dụng đa dạng các hình thức, biện pháp bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn ở tổng cục. Đồng thời, đội ngũ cán bộ đoàn cần phát huy tính tích cực, tự giác, tự bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Bồi dưỡng phong cách làm việc Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ đoàn ở Tổng cục CNQP vừa là nhiệm vụ thường xuyên, vừa là yêu cầu khách quan, cấp thiết hiện nay. Để quá trình này được thực hiện một cách có hiệu quả, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp; mỗi cán bộ đoàn và tùy vào điều kiện cụ thể của từng cơ quan, đơn vị mà lựa chọn, vận dụng các giải pháp cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập rèn luyện

 


          Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện; là một tập thể, một môi trường đặc biệt để mỗi người phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành. Với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác, Quân đội đã lập nhiều chiến công oanh liệt, cùng toàn dân đánh thắng “hai đế quốc to” (thực dân Pháp và đế quốc Mỹ), bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Trong chiến đấu, công tác, hàng nghìn đơn vị, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã lập chiến công, thành tích đặc biệt xuất sắc, được Đảng, Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và các phần thưởng cao quý khác… Những tập gương ấy luôn sống động, là niềm tự hào đối với mỗi đơn vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ. Trong điều kiện đất nước hòa bình, dưới tác động của tình hình chính trị, xã hội phức tạp hiện nay, Quân đội luôn quan tâm xây dựng phong trào thi đua trong học tập, rèn luyện, huấn luyện, làm chủ khoa học công nghệ, vũ khí trang bị… Đó là một động lực để Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, làm tròn trọng trách bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc./.

Vũ Bão 20

Hành trình đến Dinh Độc Lập

 

1.     Hành trình đến Dinh Độc Lập

Lữ đoàn Xe tăng 203 (Quân đoàn 2), tiền thân là Trung đoàn Xe tăng 203, thành lập ngày 22-6-1965, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Phát huy truyền thống anh hùng, cán bộ, chiến sĩ lữ đoàn luôn nỗ lực huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Có mặt ở thời khắc lịch sử

Tham quan nhà truyền thống của lữ đoàn, Thượng tá Nguyễn Đăng Nho, Phó chính ủy Lữ đoàn Xe tăng 203 giới thiệu: Trung đoàn Xe tăng 203 (nay là Lữ đoàn Xe tăng 203) thành lập ngày 22-6-1965, tại xã Lưu Quang, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1973, trung đoàn được điều động từ Binh chủng Tăng thiết giáp, tham gia chiến đấu trong đội hình Quân khu Trị-Thiên. Từ năm 1974 đến nay, trung đoàn phát triển thành lữ đoàn và biên chế trực thuộc Quân đoàn 2.

Ra đời vào thời điểm khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lữ đoàn đã nỗ lực, vượt mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, vừa xây dựng, củng cố lực lượng, vừa tham gia chiến đấu và là lực lượng cơ động đột kích, thọc sâu trong các chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược như: Đường 9-Khe Sanh (1968), Đường 9-Nam Lào (1971) và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (1975), góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Sau năm 1975, lữ đoàn cơ động tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng và hành quân thần tốc bảo vệ biên giới phía Bắc. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Lữ đoàn Xe tăng 203 và 6 tập thể, 3 cá nhân được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

https://file3.qdnd.vn/data/images/13/2022/04/13/phamthuthuy/1_ohdj35191516pm.jpg?dpi=150&quality=100&w=870

Xe tăng 390 của Lữ đoàn Xe tăng 203 tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975.

Nhìn những hiện vật gắn với các chiến công của lữ đoàn khiến tôi hình dung về những ngày lữ đoàn hành quân thần tốc tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đội hình xe tăng của lữ đoàn tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, cắm lá cờ chiến thắng lên nóc dinh-sào huyệt cuối cùng của địch vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Để có những chiến công đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ của lữ đoàn đã hy sinh anh dũng, tiêu biểu là Đại úy Ngô Văn Nhỡ, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 hy sinh ngay tại cửa ngõ Sài Gòn khi chỉ huy đội hình thọc sâu, vượt qua cầu Sài Gòn vào giải phóng thành phố.

Tôi nhớ lần gặp mặt truyền thống cựu chiến binh (CCB) Lữ đoàn Xe tăng 203 năm 2010, nhân kỷ niệm 45 năm Ngày thành lập lữ đoàn. Đại tá Bùi Quang Thận (1948-2012), nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Xe tăng 203, người trực tiếp cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975 kể: “Tháng 4-2010, tôi cùng các đồng chí thuộc kíp xe tăng 843 và 390 được trở lại thăm Dinh Độc Lập (nay là Dinh Thống Nhất). Thật xúc động trong lần trở lại này với tôi vì còn có nhiều anh em khác đã hàng chục năm rồi chưa trở lại thăm nơi đây, nơi chúng tôi chứng kiến sự sụp đổ của chính quyền ngụy Sài Gòn...”.

Trong số các thành viên kíp xe tăng 390 húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc Lập có CCB Lê Văn Phượng, nguyên Phó đại đội trưởng về kỹ thuật Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203 kiêm pháo thủ số 2. “Sở dĩ tôi kiêm pháo thủ số 2 kíp xe 390 vì trong trận đánh ở căn cứ Nước Trong (Đồng Nai) ngày 29-4-1975, pháo thủ số 2 bị thương. Để thay thế nhau được là do đơn vị thường tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, với phương châm “thành thạo vị trí của mình, biết thêm nhiều vị trí khác”, CCB Lê Văn Phượng cho biết.

CCB Nguyễn Đình Đài, nguyên lái xe tăng 910 thuộc Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203, hiện ở xã Di Trạch (huyện Hoài Đức, TP Hà Nội), bồi hồi nhớ lại: “Tôi nhập ngũ tháng 1-1972. Sau khóa huấn luyện chiến sĩ mới, tháng 4-1972, tôi được trên cử đi học lái xe tăng. Khi ấy, tôi khá lo lắng vì ở nhà tôi còn chưa biết đi... xe đạp. Nhưng rồi bằng nỗ lực của bản thân, sự hướng dẫn của giáo viên, đồng đội giúp đỡ, tôi đã hoàn thành chương trình lái xe và nắm vững tính năng kỹ thuật, chiến thuật của xe tăng. Sau đó, tôi được biên chế về Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203, tham gia chiến đấu ở các chiến trường, từ Quảng Trị-Thừa Thiên Huế-Đà Nẵng đến hành quân thần tốc tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi lái xe tăng 910, cùng đơn vị đánh địch ở căn cứ Nước Trong rồi thọc sâu vào Sài Gòn. Trưa 30-4-1975, xe tăng 910 là chiếc xe thứ ba tiến vào Dinh Độc Lập, sau xe 843 và 390... Được chứng kiến giờ phút lịch sử trọng đại ấy, tôi và đồng đội vô cùng xúc động, tự hào. Sau này khi rời quân ngũ, tôi vào học ngành sư phạm, trở thành giáo viên giảng dạy môn Toán ở Trường THCS Dương Liễu (Hoài Đức, Hà Nội). Những dịp kỷ niệm Ngày chiến thắng, Ngày thành lập Quân đội nhân dân, tôi lại đến các trường, khu dân cư tham gia nói chuyện truyền thống, kể chuyện chiến đấu”...

Còn rất nhiều CCB Lữ đoàn Xe tăng 203 có mặt trong giờ phút lịch sử tiến vào Dinh Độc Lập, giải phóng miền Nam. Đó là khoảnh khắc vô cùng tự hào khiến họ ghi nhớ mãi.

Luôn huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao

Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Phạm Mạnh Phi, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Xe tăng 203 cho biết, truyền thống và kinh nghiệm chiến đấu đã được lữ đoàn phát huy, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn huấn luyện, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của bộ đội. Cụ thể là, lữ đoàn chú trọng giáo dục bộ đội nhận thức tốt nhiệm vụ; làm tốt công tác chuẩn bị huấn luyện, tập huấn cán bộ và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, giữ nghiêm kỷ luật huấn luyện, quản lý tốt mọi mặt. Quá trình huấn luyện, lữ đoàn bám sát phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu cho từng loại xe tăng, bảo đảm sát thực tế chiến đấu, đặc điểm địa bàn và đối tượng tác chiến; vận dụng tốt các quan điểm, nguyên tắc, mối kết hợp trong huấn luyện; tăng cường huấn luyện thực hành, huấn luyện đêm, huấn luyện phối hợp chiến đấu với bộ binh và các binh chủng trong điều kiện đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao và huấn luyện trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, cơ động dài ngày... Lữ đoàn đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào huấn luyện như: Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị giáo án huấn luyện trên máy tính, giảng dạy một số nội dung bằng trình chiếu PowerPoint... Cùng với đó, lữ đoàn đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện, thực hiện kiểm tra cán bộ trước khi kiểm tra đơn vị, cơ quan. Qua kiểm tra phát hiện những điểm yếu để kịp thời khắc phục. Nhờ đó, chất lượng huấn luyện của lữ đoàn ngày càng được nâng lên, kiểm tra hằng năm các đối tượng đều 100% đạt yêu cầu, trong đó có 86% khá, giỏi; hoàn thành tốt diễn tập và huấn luyện dã ngoại kết hợp công tác dân vận; tham gia hội thi cấp toàn quân và quân đoàn, lữ đoàn đều giành giải cao.

https://file3.qdnd.vn/data/images/13/2022/04/13/phamthuthuy/_dsc219637591337pm.jpg?dpi=150&quality=100&w=870

Cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng 203 triển khai ngày kỹ thuật hằng tuần.

“Để nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, lữ đoàn thường xuyên duy trì Phong trào Thi đua Quyết thắng, sáng tạo các hình thức, mô hình thi đua; xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến. Nhiều mô hình thi đua hiệu quả của lữ đoàn như: “Chi đoàn huấn luyện giỏi”, “Trung đội điểm giỏi”, “Khẩu đội 3 nhất”, “Kíp xe quyết thắng”... Trong những ngày tháng Tư lịch sử, lữ đoàn tổ chức thi đua “Hành trình về Dinh Độc Lập”, các cơ quan, đơn vị tổ chức chấm điểm, chọn những tập thể, cá nhân xuất sắc nhất để biểu dương, khen thưởng”, Đại tá Nguyễn Xuân Quý, Chính ủy Lữ đoàn Xe tăng 203 tiếp lời.

Mong muốn có vũ khí hiện đại cho bộ đội

 

1.     Mong muốn có vũ khí hiện đại cho bộ đội

Đại tướng Phùng Quang Thanh khi trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát, cụ thể, tạo điều kiện để phát triển khoa học, công nghệ (KHCN) quân sự.

Tôi nhiều lần được tháp tùng Đại tướng Phùng Quang Thanh những năm ông trên cương vị từ Tổng Tham mưu trưởng đến Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đến thăm và làm việc với các cơ quan, đơn vị nghiên cứu KHCN và các ngành kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng (CNQP). Ấn tượng của tôi về Đại tướng Phùng Quang Thanh là người chỉ huy luôn sâu sát, cụ thể. Thường thì ông tham quan các sản phẩm KHCN trước, sau đó mới làm việc và trực tiếp chỉ đạo các cơ quan chức năng giải quyết những kiến nghị, vướng mắc mà các cơ quan nghiên cứu, nhà khoa học đưa ra. Ở Đại tướng Phùng Quang Thanh không chỉ là sự quan tâm đến bộ đội, đến các nhà khoa học mà ông luôn mong muốn sao cho Quân đội ta tự chủ và làm chủ sản xuất được vũ khí, khí tài tiên tiến để đưa vào biên chế, phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nhất là trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao.

https://file3.qdnd.vn/data/images/13/2022/02/16/phamthuthuy/6099add9-5d26-4291-b3f0-7b6e836f81af.jpeg?dpi=150&quality=100&w=870

Đại tướng Phùng Quang Thanh tham quan sản phẩm khoa học, công nghệ do công nghiệp quốc phòng nước ta sản xuất, trưng bày tại Trung tâm Huấn luyện quốc gia Miếu Môn, tháng 4-2011. Ảnh: XUÂN GIANG

Tháng 8-2006, một số cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng chủ trì, tham gia các chương trình cấp Nhà nước về KHCN và khoa học xã hội-nhân văn tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả nghiên cứu giai đoạn 2001-2005. Trong lần đầu chủ trì hội nghị của Hội đồng Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng trên cương vị Chủ tịch hội đồng, đồng chí Phùng Quang Thanh đã yêu cầu Cục Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Cục Khoa học quân sự)-Bộ Quốc phòng báo cáo cụ thể về các chương trình này. Sau đó, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh trực tiếp đến các cơ sở nghiên cứu và bảo đảm kỹ thuật của quân đội như: Tổng cục Kỹ thuật, Tổng cục CNQP, Tổng cục II, Học viện Quân y, Học viện Kỹ thuật quân sự, Trung tâm Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ quân sự (nay là Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) để nắm tình hình. Từ các buổi thăm, làm việc đó, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh cùng tập thể Quân ủy Trung ương tham mưu với Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Chính phủ ban hành các văn bản lãnh đạo; cụ thể hóa đường lối, chính sách, tạo điều kiện phát triển KHCN quân sự. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch, ký kết hoạt động phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Quốc phòng, qua đó góp phần tạo nguồn lực đầu tư và nhân lực, từng bước tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế quản lý KHCN trong Bộ Quốc phòng. Thông qua sự phối hợp, hợp tác, các cơ quan, đơn vị và cán bộ khoa học quân đội có điều kiện chủ trì, tham gia nhiều chương trình, đề tài trọng điểm cấp Nhà nước, của các bộ, ngành. Bộ trưởng Phùng Quang Thanh còn quan tâm chỉ đạo các cơ quan chức năng, các ngành, cơ sở nghiên cứu xây dựng và triển khai các chương trình nghiên cứu phát triển vũ khí, khí tài công nghệ cao; chương trình, đề án nghiên cứu phát triển, cải tiến, nâng cấp và đồng bộ vũ khí trang bị kỹ thuật... Cũng từ yêu cầu thực tế quân đội, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh và Quân ủy Trung ương đã chủ trương triển khai các giải pháp đồng bộ, đột phá xây dựng quân đội từng bước tiến lên chính quy, hiện đại; trước mắt xây dựng 6 lực lượng là phòng không, không quân, hải quân, thông tin liên lạc, trinh sát kỹ thuật và tác chiến điện tử tiến thẳng lên hiện đại.

Cũng từ sâu sát, nắm tình hình cụ thể ngành CNQP, từ năm 2008, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng Pháp lệnh CNQP, nhằm tạo cơ sở pháp lý xây dựng ngành CNQP trở thành bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, sản xuất vũ khí cho quân đội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thúc đẩy CNQP phát triển, Đại tướng Phùng Quang Thanh cùng tập thể Quân ủy Trung ương tham mưu với Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về xây dựng và phát triển CNQP đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Từ nghị quyết này, Đề án KC.NQ.06 cấp Bộ Quốc phòng về “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo một số vũ khí mới giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020” được xây dựng và triển khai. Ngày 18-9-2015, Đại tướng Phùng Quang Thanh đến dự cuộc bắn trình diễn vũ khí mới là sản phẩm của Đề án KC.NQ.06 và một số nhiệm vụ độc lập cấp Bộ Quốc phòng do Tổng cục CNQP tổ chức. Cuộc bắn thử nghiệm đạt kết quả tốt. Đại tướng Phùng Quang Thanh rất vui và đánh giá cao nỗ lực của các nhà khoa học. Sự quan tâm cụ thể của Đại tướng Phùng Quang Thanh góp phần tạo động lực để các nhà khoa học, công nghệ quân sự lao động sáng tạo, nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới, có hàm lượng KHCN cao. Nhờ đó mà Quân đội ta hiện đang chuyển dần từ mua sắm, lắp ráp là chính sang làm chủ nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất trong nước nhiều chủng loại vũ khí trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới như: Vũ khí lục quân thế hệ mới, tàu quân sự hiện đại, khí tài thông tin liên lạc, radar và một số loại vũ khí công nghệ cao...

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 15/3

 


          "Giặc Mỹ đã thua to, nhưng chúng vẫn ngoan cố chưa chịu từ bỏ những âm mưu tàn bạo và quỷ quyệt. Quân và dân ta đang thắng lớn, càng phải kiên quyết chiến đấu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn".

          Lời khẳng định trên là một phần nội dung bức thư khen Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi quân và dân Hải Phòng nhân sự kiện quân và dân ở đây bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 của Mỹ vào ngày 6 tháng 3 năm 1968.

          Lời thư của Bác ngợi khen thành tích của quân và dân Hải Phòng cũng chính là lời ngợi khen đối với thành tích của quân và dân miền Bắc nói chung trong quá trình chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ. Trong những tháng năm đánh Mỹ, nhân dân hậu phương miền Bắc thực hiện khẩu hiệu "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng", vừa đẩy mạnh sản xuất vừa triển khai thế trận chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Địa phương nào, nhà máy xí nghiệp nào lập nhiều thành tích đều được Bác Hồ gửi thư khen ngợi, động viên, biểu dương thành tích sản xuất, chiến đấu, chi viện chiến trường miền Nam.

          Những bức thư khen của Bác như tiếp thêm động lực để quân và dân Hải Phòng nói riêng, quân và dân miền Bắc nói chung “ra sức thi đua với quân và dân miền Nam anh hùng, nâng cao cảnh giác, sản xuất tốt hơn nữa, chiến đấu giỏi hơn nữa, sát cánh cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

          Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc khen thưởng, biểu dương những địa phương, tập thể, đơn vị, cá nhân có thành tích trong lao động sản xuất, học tập, công tác nhằm kịp thời động viên, khích lệ tinh thần thi đua, nhân rộng điển hình tiên tiến, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa, giá trị của công tác động viên như lúc sinh thời Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt. Những gương “người tốt, việc tốt” được tập hợp, in thành sách, tạo ra tủ sách “người tốt, việc tốt”. Học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chúng ta cần hiểu đúng, hiểu rõ, có hành động thiết thực quan tâm, chăm lo những tập thể, cá nhân lập nhiều thành tích; tạo thêm động lực, xây dựng điển hình để nhân rộng “giá trị” của “người tốt, việc tốt”./.

Vũ Bão 19

 

 

 

Người cộng sản lớp đầu tiên của Đảng

 

Người cộng sản lớp đầu tiên của Đảng

Cuộc đời cách mạng gần 70 năm của đồng chí Lê Văn Lương là tấm gương sáng về sự mẫu mực, bản lĩnh, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Với những cống hiến lớn lao, đồng chí được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Vượt sóng gió - vững vàng, kiên trung 

Đồng chí Lê Văn Lương tên thật là Nguyễn Công Miều, sinh ra trong một gia đình Nho học, khoa bảng tại xã Nghĩa Trụ (huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Ngay từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Công Miều cùng những người anh em, họ hàng như: Tô Hiệu, Lê Giản, Tô Chấn (sau này đều là những nhà cách mạng nổi tiếng)... sớm có điều kiện tiếp cận với những tư tưởng mới. Năm 1925, tốt nghiệp tiểu học ở quê nhà, Nguyễn Công Miều vào học bậc tú tài ở Trường Bưởi (nay là Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội). Năm 1927, 15 tuổi, Nguyễn Công Miều tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Từ đây, ông tích cực hoạt động và cống hiến, đóng góp cho cách mạng.

Vào Đảng khi đang học ở Trường Bưởi, sau đó với tên mới là Lê Văn Lương, đồng chí vào Sài Gòn vô sản hóa cùng đồng chí Ngô Gia Tự, hoạt động trong phong trào công nhân và tham gia lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh chống chính quyền thực dân ở Sài Gòn-Chợ Lớn. Đồng chí bị kẻ thù kết án tử hình, nhưng do không đủ chứng cứ, chúng phải giảm xuống chung thân và đày ra Côn Đảo. Bị giam cầm trong nhà lao đế quốc, chịu đủ mọi cực hình tra tấn, nhưng đồng chí vẫn tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ nhà tù, cùng các đảng viên lãnh đạo đấu tranh chống lại kẻ thù. Kể lại những năm tháng ấy, đồng chí đã viết trong hồi ký: “Chúng tôi ra Côn Đảo, thoát âm ti dưới đất, lại sa vào âm ti trần gian. Mười một năm, anh Hùng (đồng chí Phạm Hùng-PV) và tôi chung banh, chung còng, chung xiềng. Lại đấu tranh, lại hoạt động...”.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí cùng 2.000 người tù khác được Chính phủ ta đưa tàu ra đón về Nam Bộ và được sắp xếp vào đội ngũ lãnh đạo kháng chiến khi cách mạng bước vào cuộc chiến đấu mới. Sau khi đánh bại cuộc tập kích chiến lược của quân Pháp lên Chiến khu Việt Bắc cuối năm 1947, để kiện toàn bộ máy của Trung ương, đồng chí Lê Văn Lương được bầu bổ sung làm Ủy viên Trung ương dự khuyết và chỉ định làm Chánh văn phòng Trung ương Đảng. Trong bài viết gửi gia đình đồng chí Lê Văn Lương nhân tưởng niệm 5 năm ngày mất của ông, đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng kể: “Chánh văn phòng Lê Văn Lương là người tổng quản lý nhiều việc, sắp xếp và xây dựng nền nếp, bảo đảm sự vận hành có hiệu quả công việc của Đảng, giữ vững sự liên hệ giữa Trung ương với các khu ủy, tỉnh ủy. Mỗi lần chuẩn bị một chiến dịch lớn, bộ máy của Trung ương phải di chuyển đến một khu an toàn mới đều do anh một tay thu xếp. Cuối năm 1948, anh được chỉ đạo thay Lê Đức Thọ làm Trưởng ban Đảng vụ. Ngoài công tác bình thường của ban này, anh vẫn phải giúp Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ đạo nhiều công việc chung, chuẩn bị về mặt tổ chức Đại hội Đảng lần thứ hai, soạn thảo điều lệ mới, lập danh sách những người sẽ ứng cử vào Ban Chấp hành mới... Chúng tôi rất khâm phục sự liêm khiết và sức làm việc quên mình của anh”.

Tại Đại hội Đảng lần thứ hai, đồng chí Lê Văn Lương được bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, phụ trách Ban Tổ chức và chỉ đạo Văn phòng Trung ương, làm công việc thường trực hằng ngày của Trung ương bên cạnh Bác Hồ. Năm 1954, đồng chí được cử làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Cùng làm việc với cụ Phan Kế Toại, ông đã tranh thủ được sự tin cậy và sự hợp tác nhiệt thành của người nổi tiếng “kỹ tính” này...

Năm 1956, khi công tác cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức của ta bộc lộ một số bất cập và cả sai lầm, đồng chí Lê Văn Lương bị rút khỏi Bộ Chính trị và Ban Bí thư, xuống làm Ủy viên Trung ương dự khuyết, bị miễn nhiệm chức vụ Trưởng ban Tổ chức Trung ương, về làm Bí thư Khu ủy Tả ngạn. Trước biến cố này, đồng chí có thái độ rất đúng đắn. Ông thấy rõ phần trách nhiệm của mình và vui vẻ làm tròn công tác mới với tâm thế vững vàng của người chiến sĩ cộng sản, tiếp tục tu dưỡng, phấn đấu. Tại Đại hội Đảng lần thứ ba, đồng chí Lê Văn Lương lại được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương và được cử vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, điều hành công việc hằng ngày của Ban Bí thư bên cạnh Tổng Bí thư Lê Duẩn. Năm 1968, khi đồng chí Lê Đức Thọ đi Paris, ông lại chuyển sang làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Tiếp đó, tại Đại hội IV, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, phân công làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Tại Đại hội V, ông được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục làm Bí thư Thành ủy Hà Nội... Đồng chí Vũ Oanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trưởng ban Dân vận Trung ương, hiện vẫn sống cạnh gia đình đồng chí Lê Văn Lương ở phố Đội Cấn (Hà Nội) nhận xét: “Tưởng rằng có thể phải bỏ xương ở hòn đảo hoang vu hay khó có cơ hội cống hiến khi phải chịu án kỷ luật, thế mà người cộng sản Lê Văn Lương vẫn tồn tại và hoạt động hơn 60 năm vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Lúc rỗi rãi, tôi thường được anh kể chuyện tâm tình về thuở gian truân. Những đức tính vốn có của anh được giữ vững trước sau như một. Anh được mọi người, trong đó có tôi vô cùng quý mến!”.

 

“Nói đến đồng chí Lê Văn Lương, ngoài vấn đề công tác trên nhiều trọng trách mà Đảng đã giao phó, cần nhấn mạnh đến con người, đến đạo đức cách mạng, chí công vô tư, đến lối sống khiêm tốn trong sáng, giản dị, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng của một người cộng sản mẫu mực”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

“Lương - Thuận đoàn kết chặt chẽ”

Khi thực hiện bài viết này, chúng tôi đã tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu và tìm gặp các lão thành cách mạng, những cộng sự cũng như người thân trong gia đình đồng chí Lê Văn Lương. Tất cả đều có chung đánh giá, ông là người cộng sản mẫu mực lớp đầu của Đảng, khiêm tốn và gần gũi. Đặc biệt, chúng tôi từng nhiều lần được gặp Đại tá Nguyễn Thị Bích Thuận (1922-2018), nguyên Phó cục trưởng Cục Cảnh vệ (nay là Bộ tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an)-phu nhân của đồng chí Lê Văn Lương và được nghe kể nhiều kỷ niệm, trong đó có mối nhân duyên “thầy trò” của hai người.

https://file3.qdnd.vn/data/images/13/2022/03/14/phamthuthuy/20220215_08422272890739am.jpg?dpi=150&quality=100&w=870

Vợ chồng đồng chí Lê Văn Lương. Ảnh tư liệu gia đình

Số là giữa năm 1947, Trung ương mở lớp đào tạo cán bộ khóa 5 tại Trường Văn Lãng ở chân đèo Khế (Thái Nguyên). Bà Thuận là học viên, còn giáo viên là đồng chí Lê Văn Lương. Với dáng người cao gầy, nước da trắng, lúc nào cũng mặc bộ quần áo nâu, ông đến lớp là giảng bài, giảng xong là về, không hề trò chuyện với nữ học viên. Bài giảng đã khô khan, giảng viên lại ít nói và hầu như không giao lưu nên thầy trò không mấy thân thiết. Vậy mà sau một tháng học tập, không hiểu sao hai người lại được bạn bè ghép đôi “Tờ, Lờ” và hết sức vun vén. Bà Thuận kể: “Một buổi chiều, trên căn nhà sàn của đồng bào dân tộc ngay cạnh trường, anh Lê Đức Thọ gọi tôi lên nói chuyện. Anh khen anh Lương về nhiều mặt và tỏ ý muốn giới thiệu cho tôi. Chúng tôi chưa ai có người yêu, nhưng đều chưa muốn lập gia đình, để dành thời gian cho công tác. Nghe tôi bày tỏ, anh Thọ phê phán là thiếu thực tế. “Anh chỉ muốn những đồng chí tốt gặp được nhau”-câu nói này của anh Thọ đã làm tôi phải suy nghĩ. Bế giảng lớp học, trước lúc chia tay, chúng tôi gặp nhau nói chuyện tại “quán ông già”. Toàn những chuyện chẳng đâu vào đâu. Khi ra về, anh hỏi địa chỉ để viết thư nhưng tôi từ chối vì e ngại các chị ở cơ quan trêu đùa. Sau này, anh Thọ biết đã trách tôi và tự cho anh Lương địa chỉ viết thư cho tôi. Ngẫm lại, anh Thọ chính là ông tơ xe duyên cho chúng tôi”.

Khi đồng chí Lê Văn Lương ở lại An toàn khu Định Hóa còn bà Thuận về cơ quan phụ nữ khu Việt Bắc thì những lá thư chính là cầu nối để hai người dần cảm mến nhau. Thư ông viết cho bà luôn là những lời lẽ chân tình, khiêm tốn, không bay bướm. Thư nào cũng kết bằng “mong thư em” vì sợ bà không viết thư trả lời...

Một thời gian ngắn sau đó, bà Thuận về công tác tại Ban Tổ chức Trung ương do đồng chí Lê Đức Thọ phụ trách, còn đồng chí Lê Văn Lương ở Văn phòng Trung ương. Hai cơ quan lúc đó vẫn ở nhà dân cách nhau một thửa ruộng và một ngọn đồi thấp. Chiều chiều, ông hay sang trao đổi, nói chuyện với đồng chí Lê Đức Thọ. Từ đây, sau những lá thư, họ có điều kiện gặp và hiểu nhau hơn, trọng rồi tin, yêu nhau trong tình đồng chí lẫn tình yêu đôi lứa. Bà Thuận kể: “Ngày 28-3-1948, chúng tôi thành hôn. Bác Tôn Đức Thắng làm chủ hôn. Bác Hồ gửi đến một mảnh giấy nhỏ ghi “Chúc Lương-Thuận đoàn kết chặt chẽ”. Anh Trường Chinh, anh Lê Đức Thọ và anh Hoàng Quốc Việt cũng dự. Còn có cả các anh trong cơ quan. Anh Lương vẫn mặc bộ quần áo nâu. Tôi còn giữ được cái áo dài lanh nâu để mặc. Bác Tôn phát biểu công nhận chúng tôi thành hôn. Anh Vũ Năng An chụp cho chúng tôi mấy bức ảnh kỷ niệm. Gần nửa thế kỷ sống bên nhau qua các giai đoạn lịch sử cách mạng cho đến khi anh về cõi vĩnh hằng ngày 25-4-1995, chúng tôi đã luôn bên nhau, cùng cống hiến cho đất nước”.

Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc

 


          Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres mới đây lên tiếng cảnh báo về khả năng cuộc khủng hoảng Ukraine-Nga có thể leo thang thành chiến tranh hạt nhân, theo National Review. "Việc nâng cao mức độ cảnh báo của các lực lượng hạt nhân Nga là một diễn biến lạnh thấu xương. Viễn cảnh xung đột hạt nhân, từng là điều không thể tưởng tượng được, giờ đã quay trở lại và có khả năng xảy ra", ông António Guterres nói với các phóng viên hôm thứ Hai 14/3, được Reuters dẫn lại.

          Ông Guterres kêu gọi đàm phán và hòa giải, lưu ý những thiệt hại mà dân thường Ukraine phải chịu đựng do chiến sự.

“Đã đến lúc đi trên con đường ngoại giao và hòa bình để ngăn chặn nỗi kinh hoàng gây ra cho người dân Ukraine. Những lời kêu gọi hòa bình phải được lắng nghe. Thảm kịch này phải dừng lại", ông Guterres nói.

          Trong bối cảnh các cuộc giao tranh gần đây diễn ra xung quanh các nhà máy hạt nhân ở Ukraine, chẳng hạn như cơ sở đào tạo nhà máy Zaporizhzhia ở miền đông Ukraine bốc cháy, ông Guterres đã yêu cầu bảo vệ các cơ sở hạt nhân của Ukraine. Liên Hợp Quốc đang chuyển 40 triệu USD từ quỹ Ứng phó Khẩn cấp Trung ương của mình để viện trợ nhân đạo cho người dân Ukraine, ông nói thêm.

"Khoản tài trợ này sẽ giúp đưa các nguồn cung cấp thực phẩm, nước, thuốc men và các viện trợ cứu sinh quan trọng khác vào Ukraine cũng như cung cấp hỗ trợ tiền mặt cho người dân”, ông Guterres nói.

Bốn ngày sau khi Nga bắt đầu chiến dịch quân sự đặc biệt vào Ukraine hôm 24/2, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đặt các lực lượng răn đe hạt nhân của mình trong tình trạng "cảnh giác cao độ" liên quan đến "chế độ nhiệm vụ chiến đấu đặc biệt", để đáp lại những gì ông tuyên bố là sự bành trướng của NATO./.

Vũ Bão 18