Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

NGƯỜI KẾ THỪA VĨ ĐẠI

 

NGƯỜI KẾ THỪA VĨ ĐẠI

Bác là ai?

Người kế thừa vĩ đại

Theo gót Bác Hồ sáng mãi trong tâm

Bao tháng ngày bác vì nước âm thầm

Lo việc nước đối đầu quân tham nhũng.

Bác là ai?

Đi sâu lòng dân chúng

Gốc là dân để xây dựng cơ đồ

Cùng toàn dân chống lại bọn tham ô

Giữ đất nước yên bình trong cuộc sống.

Bác là ai?

Đức nhân cao lồng lộng

Không bạc vàng nào mua nổi lương tâm

Chỉ vì dân, vì nước một lòng

Mong nước Việt nay mai thành cường quốc.

Bác là ai?

Người vì dân, vì nước

Cả một đời hiến trọn tuổi xuân

Đến hôm nay viên ngọc sáng trong ngần

Không vết nứt, không vết mờ khói ám.

Bác là ai?

Người lo dân dịch bệnh

Người đứng đầu lãnh đạo chống Cô vy

Từ việc to đến việc nhỏ thiếu gì?

Bác sáng suốt người điều hành đất nước.

Bác là ai?

Người bao năm về trước

“Cho việc tham ô là giặc nội xâm”

Dù tuổi cao nhưng bác vẫn âm thầm

Nhóm bếp lò để thiêu loài sâu bệnh.

Bác là ai?

Người đã ra mệnh lệnh

Chống tham ô “nếu sợ hãi tránh bên”

Đừng cản đường đất nước tiến lên

Lái con thuyền Việt Nam ra biển lớn.

Bác là một Bao Công thời hiện đại

Bác là người không sợ hãi cường quyền

Bác đã cho tham ô lũ đảo điên

Co rúm lại khi ôm tiền cướp được.

Cho cái bọn luôn tiêu tiền như nước

Những đồng tiền bẩn thỉu tham ô

Những đồng tiền ban phát biếu cho

Bây giờ đây sống run trong sợ hãi.

Cho cái bọn sống lá mặt lá trái

Sống nhóm đàn để vơ vét tiền dân

Sống trên tiền chia chác nhận phần

Giờ hối hận lo cuộc đời bóc lịch.

Bác với bọn tham ô là đối nghịch

Là Bao Công phân biệt rõ trắng đen

Cho vào lò những kẻ đê hèn

Cho Việt Nam sạch bọn sâu phá hoại.

Bác tiếp nối Hồ Chí Minh vĩ đại

Bác Trọng ơi! Chính là bác, bác ơi

Bác Trọng là viên ngọc sáng ngời

Người kế thừa Hồ Chí Minh vĩ đại. st3547

 

Tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

 - Đại hội XIII của Đảng định hướng rõ ràng việc đổi mới từng chức năng, từng loại công việc cụ thể của Quốc hội. Đó là: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao”(1).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với các đại biểu Quốc hội tại phiên bế mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV _Ảnh: TTXVN

Đặc điểm tổ chức bộ máy của Quốc hội

Tổ chức bộ máy của Quốc hội có cấu trúc gọn nhẹ, dễ vận hành (vận hành linh hoạt) và có đủ sức mạnh thì mới bảo đảm nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Quốc hội thuộc nhánh quyền lực lập pháp có tổ chức bộ máy khác xa với hai nhánh quyền lực khác là hành pháp và tư pháp. Trong khi nhánh quyền lực hành pháp có cơ cấu tổ chức mang tính chất “chuyên môn hóa cao”, ngoài Chính phủ, còn có nhiều cơ quan khác (bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ) có tính độc lập tương đối (có trụ sở riêng, nghị định hoạt động riêng...) theo từng lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực và có hệ thống theo chiều dọc từ Trung ương xuống tới địa phương; thì lập pháp chỉ có một cơ quan duy nhất, đó là Quốc hội, không có hệ thống dọc, nhưng phạm vi hoạt động là toàn bộ hoạt động của một xã hội.

Do phạm vi hoạt động của Quốc hội là toàn bộ hoạt động của một xã hội nên trong cấu trúc tổ chức bộ máy của Quốc hội được tổ chức theo dạng “cơ quan trong cơ quan”, nghĩa là có nhiều cơ quan trong một cơ quan - Quốc hội. Các cơ quan trong Quốc hội dù nhân lực ít (trên dưới 40 người) nhưng vị trí tương đương như các bộ, cơ quan ngang bộ bên hành pháp. Các cơ quan này được phân công hoạt động ở những lĩnh vực nhất định. Nhân sự (cán bộ, công chức, người lao động) thuộc các bộ, ngành bên hành pháp thường ổn định, lâu dài như một dòng chảy của thời gian, trừ người đứng đầu có thể thay đổi theo nhiệm kỳ; thì nhân sự của Quốc hội (đại biểu Quốc hội) cứ 5 năm thay đổi một lần, kể cả người đứng đầu. Trong đó có người làm việc với toàn bộ thời gian cho Quốc hội, nhưng cũng có người chỉ làm việc khoảng một phần ba thời gian (2/3 thời gian còn lại có thể làm việc ở cơ quan hành pháp, tư pháp hoặc ở các cơ quan chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, ở doanh nghiệp, hợp tác xã...).

Từ các đặc điểm trên, bộ máy làm việc của Quốc hội cũng cứ 5 năm được tổ chức lại một lần và làm việc theo cơ chế mà Luật Tổ chức Quốc hội quy định, đó là: “Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số” (Khoản 1, Điều 3 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020). Quốc hội khóa XV đã được tổ chức và kiện toàn, đủ khả năng, năng lực để kế thừa, phát huy và tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nhằm nâng chất lượng hoạt động của Quốc hội lên một tầm cao mới.

Thực trạng và phương hướng đổi mới tổ chức bộ máy của Quốc hội

Có thể nói, Quốc hội là cơ quan tiên phong trong việc tổ chức bộ máy tinh gọn theo phương châm: Bộ máy giản lược, nhân lực tối thiểu, hiệu quả công việc tối đa. Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020, thì Quốc hội có một số chức danh: Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH); Chủ tịch Hội đồng Dân tộc (HĐDT); Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội. Trong bộ máy nhà nước, các chức danh này được khẳng định và có thang lương và mức lương khác nhau. Vị thế của Ủy viên UBTVQH cao hơn Chủ tịch HĐDT và Chủ nhiệm các Ủy ban. Tuy nhiên từ Quốc hội khóa IX đến nay, các thành viên UBTVQH kiêm luôn Chủ tịch Hội đồng, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội. Từ khóa XI đến nay, Ủy viên UBTVQH kiêm luôn Trưởng Ban Công tác đại biểu và Trưởng Ban Dân nguyện. Như hiện nay là đã giảm bớt được 11 nhân sự cấp cao (tương đương bộ trưởng), tính ra lương, phụ cấp và các chế độ khác hằng năm đã tiết kiệm được rất lớn.

Trên thế giới có 3 mô hình tổ chức số lượng các cơ quan của Quốc hội (nghị viện). Khá nhiều nghị viện các nước có số ủy ban thường trực tương đương với số bộ của chính phủ; một số nghị viện có số ủy ban thường trực nhiều hơn số bộ; và nghị viện một số nước có số ủy ban thường trực ít hơn số bộ của chính phủ. Lẽ đương nhiên hai mô hình trên có ưu thế hơn, nhất là trong hoạt động giám sát. Ở nước ta, qua các khóa, Quốc hội được tổ chức theo mô hình thứ ba, số ủy ban thường trực của Quốc hội chỉ bằng trên dưới 30% số bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ (chưa tính các cơ quan thuộc Chính phủ). Khóa XIV, trong Quốc hội có 10 cơ quan thường trực, nhiều nhất so với nhiều khóa trước đây, nhưng cũng chỉ bằng 40% số bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ. Tuy nhiên, do chất lượng bộ máy, chất lượng nhân lực được nâng lên, do điều hành, phối hợp chặt chẽ và nhiều yếu tố đổi mới khác mà kết quả hoạt động của Quốc hội khóa XIV đã được đánh giá là “xuất sắc”.

Có thể nói bộ máy và hoạt động của Quốc hội luôn được tổ chức hợp lý, gọn nhẹ và hiệu quả. Nhưng, tất nhiên, theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, phải: “Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập, pháp, hành pháp, tư pháp”(2) và theo yêu cầu của thực tiễn thì còn phải đổi mới hơn nữa. Do sử dụng mô hình thứ ba (nói trên) nên 10 cơ quan của Quốc hội đối ứng với 22 bộ, cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ thì phạm vi hoạt động của mỗi cơ quan Quốc hội rất rộng, rất khó có thể bao quát hết, nhất là trong hoạt động giám sát. Mặt khác, trong 10 cơ quan của Quốc hội lại được tổ chức theo các mô hình khác nhau nên vẫn còn tình trạng chồng chéo công việc, nhưng lại có việc còn bỏ ngỏ. Và cứ 5 năm thay đổi nhân sự “toàn diện” một lần nên tổ chức công tác có khó khăn, nhất là sự kế thừa thành quả của các nhiệm kỳ trước. Từ đó rất cần thiết phải thực thi một số giải pháp sau đây.

Thứ nhấtphát huy hiệu lực của các tiểu ban.

Đối với Quốc hội, muốn thành lập tổ chức mới thì phải sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội. Trong điều kiện chưa thể thành lập thêm tổ chức (Ủy ban) thì phải phát huy cao độ nội lực của HĐDT và các Ủy ban đã có mà Luật cho phép. Đó là: “Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các tiểu ban để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng, Ủy ban. Trưởng tiểu ban phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban, các thành viên khác có thể không phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban hoặc không phải là đại biểu Quốc hội” (Khoản 4, Điều 67, Luật Tổ chức Quốc hội). Như vậy, một đại biểu có thể tham gia nhiều tiểu ban, hoặc là thành viên tiểu ban của HĐDT hoặc là thành viên tiểu ban của các Ủy ban khác (vì trong Quốc hội có một số đại biểu “đa năng” giỏi cả hai, ba chuyên môn nghiệp vụ). Mặt khác, trong điều kiện không thể tăng biên chế thì Hội đồng, Ủy ban có thể sử dụng nhiều chuyên gia giỏi mà không phải là đại biểu Quốc hội. Đây cũng là xu thế mà nhiều nghị viện trên thế giới đã và đang thực hiện có hiệu quả cao. Tổ chức làm việc theo cách này được gọi là tổ chức theo “mô hình báo chí”. Mỗi tòa soạn báo, tạp chí chỉ có một số phóng viên, biên tập viên nhất định, nhưng cái tài, cái giỏi của mỗi tòa soạn là khả năng thu hút được một đội ngũ đông đảo cộng tác viên có chất lượng cao.

Thứ hai, tiếp tục điều chỉnh lại nhiệm vụ giữa các cơ quan của Quốc hội.

Quốc hội có 10 cơ quan, nhưng được tổ chức theo 3 mô hình khác nhau; trong đó, 8 Ủy ban được tổ chức theo lĩnh vực (Pháp luật; Tư pháp; Kinh tế; Tài chính và Ngân sách; Quốc phòng và An ninh; Các vấn đề xã hội; Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Đối ngoại). Một Ủy ban được tổ chức theo lĩnh vực kết hợp với đối tượng, đó là Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (văn hóa, giáo dục là lĩnh vực; thanh niên, thiếu niên và nhi đồng là đối tượng). Riêng HĐDT được tổ chức theo mô hình vừa là lĩnh vực, vừa là đối tượng, vừa là địa bàn (dân tộc là đối tượng, cũng là lĩnh vực; các dân tộc sinh sống trên các địa bàn khác nhau). Sự kết hợp giữa lĩnh vực, đối tượng và địa bàn dẫn đến có những việc trùng lắp, ai làm cũng được, không làm cũng không sao. Ví dụ, giám sát trẻ em nghiện hút thuốc phiện ở vùng núi phía Bắc, thì HĐDT, Ủy ban về các vấn đề xã hội hay Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, cả 3 cơ quan thực hiện đều đúng chức năng, nhiệm vụ. Hay các vấn đề kinh tế - xã hội trên địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa (mà HĐDT có trách nhiệm) thì cũng nằm trong các vấn đề kinh tế - xã hội của cả đất nước. Chính vì thế mà khi thực thi nhiệm vụ đôi khi xảy ra những vướng mắc nhất định. Việc định ra tiêu chí để quy định rạch ròi, tách bạch, “cưa đứt, đục suốt” cũng không dễ. Vì vậy, UBTVQH cần có văn bản phân công, điều chỉnh, có tính chất quy ước để mỗi cơ quan biết giới hạn, biết “đường biên” mà thực hiện. Như ở ví dụ trên (trẻ em là người các dân tộc thiểu số) thì nên quy định cho HĐDT chủ trì thực hiện, có sự tham gia của hai ủy ban liên quan. Nói một cách tổng quát là: Những loại việc hoàn toàn đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi đơn vị thì các đơn vị chủ động thực hiện; những loại công việc có các “mảng giao thoa” với một số đơn vị khác thì mảng giao thoa lớn nhất nghiêng về đơn vị nào thì giao cho đơn vị đó chủ trì thực hiện; các đơn vị khác phối hợp.

Thứ ba, tối ưu hóa việc sắp xếp các đại biểu vào các cơ quan của Quốc hội.

Việc sắp xếp các đại biểu vào HĐDT và các Ủy ban trong nhiều khóa nay chủ yếu theo yêu cầu của đại biểu, trên cơ sở chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với Hội đồng hoặc Ủy ban và có xu hướng ngày càng tăng số đại biểu tham gia. Khóa XI có 295/498 tổng số đại biểu là thành viên Hội đồng và các Ủy ban, bằng 59,24%; tương tự như vậy, khóa XII có 359/493, bằng 72,81%; khóa XIII: 390/500, bằng 78,00%, khóa XIV: 433/494, bằng 87,65% và khóa XV có 450/499, bằng 90,18%. Tuy có sự điều chỉnh một số trường hợp cho cân đối về số lượng giữa các Ủy ban, nhưng về chất lượng hoạt động cũng chưa tăng được bao nhiêu (vì không ít đại biểu đăng ký tham gia Hội đồng, Ủy ban thường tính toán kỹ về lợi ích, thậm chí không đúng chuyên môn, nghiệp vụ nhưng chắc chắn có lợi ích thì cũng tham gia). Từ nhiệm kỳ này, nên đặt ra một số tiêu chí có tính nguyên tắc để cơ cấu đại biểu vào Hội đồng, Ủy ban. Đại biểu tham gia Hội đồng, Ủy ban phải nhằm mục tiêu tối thượng là có đóng góp thiết thực, làm cho chất lượng hoạt động của Hội đồng, Ủy ban được nâng lên. Các tiêu chí đó gồm: Một là, ưu tiên đại biểu tái cử của Hội đồng, Ủy ban, nhất là đại biểu đã hoạt động chuyên trách. Hai là, có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp (tính đến cả chuyên môn hẹp, Hội đồng, Ủy ban đều cần các đại biểu có chuyên môn luật, nhưng phải là lĩnh vực luật mà Hội đồng, Ủy ban cần). Ba là, về số lượng chỉ nên vừa đủ đáp ứng chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng, Ủy ban, “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, khoảng 30 - 35 thành viên có chất lượng cao là được (tiêu chí này nhằm bảo đảm nguyên tắc phải có 2/3 số thành viên trở lên dự phiên họp thì các biểu quyết của Hội đồng, Ủy ban mới có giá trị).

Tổ chức bộ máy gọn nhẹ, các thành viên trong bộ máy làm việc tận tâm, “đều tay” cộng với việc điều hành nhạy bén, thanh thoát, nhất định sẽ góp phần đắc lực vào việc nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ gặp mặt nhóm đại biểu Quốc hội trẻ khoá XV _Ảnh: TTXVN

Dân chủ hóa, chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(3). Tại Đại hội XIII của Đảng, một trong những điểm mới được Đại hội quyết nghị về dân chủ, đó là: “Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân”(4).

Thực thi dân chủ trong hoạt động của Quốc hội

Trong toàn xã hội nói chung, trong hoạt động của Quốc hội nói riêng, dân chủ đã được Quốc hội thể chế hóa, pháp luật hóa ngay từ khi Quốc hội mới ra đời. Một trong ba nguyên tắc của Hiến pháp năm 1946 là “đảm bảo các quyền tự do dân chủ” và ngay Điều thứ nhất của Hiến pháp năm 1946 đã quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa”. Ngay trong cả kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I nói chung và trong thảo luận thông qua Hiến pháp nói riêng, quyền dân chủ đã được bảo đảm và phát huy mạnh mẽ. Đến ngày nay thì quyền đó càng được bảo đảm và phát huy lên những tầm cao mới.

Ngày 2-11-1946, Quốc hội khóa I bắt đầu thảo luận để thông qua Hiến pháp. Qua nhiều phiên thảo luận, có nhiều ý kiến khác nhau trong cùng một vấn đề, nhưng qua tranh luận dân chủ, sôi nổi, thẳng thắn, rồi đi đến hoàn thiện từng điều, từng chương của dự thảo Hiến pháp, đến ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp với tỷ lệ gần như tuyệt đối là 240/242 đại biểu có mặt tán thành(5)

Ngày nay, trong hoạt động của Quốc hội, tính chất dân chủ ngày càng được phát huy mạnh mẽ, cao độ. Trong thảo luận xây dựng luật, trong hoạt động giám sát tối cao và trong việc quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, tất cả các ý kiến khác nhau (thậm chí trái chiều) đều được trình bày công khai, minh bạch trước Quốc hội. Khi thảo luận, giữa các đại biểu có sự tranh luận và tranh luận lại làm cho nghị trường sôi động, nóng lên. Từ những ý kiến với các góc nhìn khác nhau mà tiếp cận vấn đề toàn diện, sát với thực tiễn, tìm ra được phương án tối ưu cho mỗi vấn đề được thảo luận. Chính vì vậy mà dân chủ trong hoạt động của Quốc hội mang ý nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Quốc hội thảo luận tự do, dân chủ nhưng phải tuân thủ Quy chế làm việc của Quốc hội, tuân theo Nội quy kỳ họp và theo sự điều hành của chủ tọa. Bởi vậy mà dân chủ được gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, “phép nước”.

Chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội

Chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố cơ bản: Thứ nhất, đại biểu chuyên nghiệp (hoạt động chuyên trách); thứ hai, công việc của Quốc hội phải mang đầy đủ tính chất chuyên môn, nghiệp vụ chuyên lĩnh vực; trong đó yếu tố thứ hai đã được hiến định: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Hiến pháp năm 2013, Điều 69). Tuy nhiên, hiện nay chưa phải tất cả các ĐBQH đã dành toàn bộ thời gian thực hiện đầy đủ công việc của Quốc hội. Bởi vậy, mức độ chuyên nghiệp hóa hoạt động của Quốc hội phần lớn phụ thuộc vào tổ chức bộ máy của Quốc hội và số lượng cùng chất lượng của đại biểu hoạt động chuyên trách. Số đại biểu hoạt động kiêm nhiệm với thời gian chủ yếu (2/3) làm việc cho cơ quan, đơn vị, tổ chức của họ, hưởng lương, thành quả lao động tại đó thì lẽ thông thường phải dành công sức xứng đáng cho nơi đó.

Sở dĩ các khóa Quốc hội nước ta khi bước sang thế kỷ XXI đến nay ngày càng hoạt động có chất lượng, trong các nguyên nhân, có nguyên nhân quan trọng là số lượng và tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách (gồm cả ở Trung ương và địa phương đầu mỗi nhiệm kỳ) tăng lên liên tục: Khóa XI có 119 đại biểu chuyên trách (chiếm 23,90% so với tổng số đại biểu); tương tự như vậy, khóa XII có 144 đại biểu chuyên trách (29,21%); khóa XIII có 155 đại biểu chuyên trách (31,00%); khóa XIV có 167 đại biểu chuyên trách (33,80%). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, phải: “Bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách”(6). Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, số lượng đại biểu cơ cấu hoạt động chuyên trách trúng cử là 193 người (ở Trung ương là 126 người, ở địa phương là 67 người), chiếm 38,68% so với tổng số ĐBQH, xấp xỉ đạt 40% theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội. Các đại biểu hoạt động chuyên trách đều là những người đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết: Có năng lực, trình độ và phẩm chất chính trị, được rèn luyện qua thử thách, thực tiễn công tác. Đội ngũ đại biểu chuyên trách sẽ đóng vai trò làm nòng cốt trong các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đoàn ĐBQH ở địa phương.

Các đại biểu Quốc hội trao đổi bên hành lang Quốc hội _Ảnh: TTXVN

Để thực hiện đúng đắn sự chỉ đạo đó đối với đại biểu hoạt động chuyên trách thì trong tổ chức cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tuyệt đại bộ phận số đại biểu này nên là đại biểu tái cử, nhất là những đại biểu đã từng hoạt động chuyên trách. Tiếp đó là những đại biểu đã làm việc lâu năm trong các cơ quan phục vụ Quốc hội. Bởi vì, hai loại đại biểu này đã nắm được (đã thông thạo) quy trình, thủ tục làm việc của Quốc hội; đã “thiết kế” được mối quan hệ công tác trong và ngoài Quốc hội, có nhiều kinh nghiệm (có năng lực chuyên môn, có kỹ năng giao tiếp, thuyết phục, thương lượng, nắm chắc nhiều vấn đề...), nên bắt tay vào việc đầu nhiệm kỳ là thao tác được ngay.

Hai là, nếu là đại biểu chuyên trách mới, thì nên chọn những đại biểu biết nhiều chuyên môn, nghiệp vụ, những người có bề dày kiến thức, đã từng kinh qua công tác quản lý, lãnh đạo; những người đã từng làm công tác phân tích, tổng hợp, xây dựng chính sách, nhất là ở tầm vĩ mô.

Ba là, đã là đại biểu hoạt động chuyên trách thì phải làm được ít nhất hai nhiệm kỳ. Do đó, phải cơ cấu độ tuổi cho tương thích. Sở dĩ phải có bước đi hợp lý vì phải tính toán cả “đầu vào” và “đầu ra”. Một trong những đặc điểm của ĐBQH thuộc biên chế Nhà nước là, tuổi “đầu ra” đúng như tuổi của cán bộ, công chức các cơ quan hành pháp và tư pháp. Kinh nghiệm các nhiệm kỳ qua vừa cho thấy, không ít ĐBQH khi kết thúc nhiệm kỳ thì rơi vào tình trạng khó bố trí công việc, hưu trí thì chưa tới, làm ĐBQH tiếp thì ngoài khung tuổi của nhiệm kỳ mới đã được quy định, việc “gá lắp” công việc tiếp theo đôi khi là tạm chấp nhận vậy. Đây cũng là một loại vấn đề (một loại chính sách) mà Quốc hội cần sớm nghiên cứu, ban hành và thực thi.

Nhân đây xin được bàn thêm:

Thứ nhất, khi đã lựa chọn kỹ càng đại biểu hoạt động chuyên trách, trong đó có “tiêu chí” là nguồn nhân lực chất lượng cao thì nên tận dụng tối đa “chất xám” (năng lực, trình độ, trí tuệ, bản lĩnh, phẩm chất đạo đức) của họ. Theo tuổi nghỉ hưu, nếu còn một năm trở lên thì nên để họ được ứng cử, tái cử, tương đương như giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ có thể được làm việc tiếp một số năm so với tuổi nghỉ hưu hiện hành.

Thứ hai, nghiên cứu để thực hiện sớm chính sách tiền lương đối với ĐBQH hoạt động chuyên trách, theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đó là: “Cải cách chính sách tiền lương theo hướng gắn... với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả”(7).

Có thể nói, dân chủ hóa và chuyên nghiệp hóa vừa là mục tiêu, vừa là phương châm, lại vừa là động lực của đổi mới và phát triển. Quốc hội khóa XV và các khóa tiếp theo chắc chắn sẽ phát huy cao độ hơn nữa theo tư tưởng chỉ đạo tại Đại hội XIII của Đảng để nâng chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội lên những tầm cao mới./.

------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 175
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 174 - 175
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 84 - 85
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 174
(5) Xem: Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946 - 1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 102 - 105
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 176
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 149

ĐỪNG ĐỂ MẤT NIỀM TIN CỦA NGƯỜI DÂN!

         Vua Gia Long hay có tên khác Nguyễn Ánh cống rắn cắn gà nhà nó chết cách đây 200 năm nhưng ai là người muốn dựng nó lên ai muốn rửa tội cho tên bán nước cầu vinh bọn chúng không thể một tay che trời.
Bọn lật sử rõ như ban ngày đã lên đến QH đã lên đến Thủ tướng . Ai đã chống lưng cho bọn chúng đưa ra mà xử còn Nguyễn ánh thì sử sách đã ghi lại muôn đời như thế cần gì phải xem xét.
Đừng để mất niềm tin của người dân./.




Môi trường ST.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG”

 


          Các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên mọi lĩnh vực; trong đó, có lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Gần đây, nhân sự kiện chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga đang diễn ra ở Ukraine, chúng tìm mọi cách lại xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam.

          Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã và đang tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ về bản chất chính sách quốc phòng nước ta. Với nhan đề “Nga thiếu may mắn vì Ukraine không chọn “chính sách 4 không” của Trân Văn đăng trên Tiếng Dân News, ngày 04/3/2022... Họ đã viết: “Nếu Ukraine xác lập chính sách quốc phòng “ba không”: “Không tham gia liên minh quân sự”. “Không liên kết với nước này để chống nước kia”. “Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác” và đến năm 2019, long trọng bổ sung thêm một “không” nữa vào “Bạch thư Quốc phòng”: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” như Việt Nam, vị thế chính trị của Ukraine sẽ không như mọi người đã thấy suốt thời gian qua”. Viết vậy, nhưng Trân Văn suy diễn: “Khi phải làm hàng xóm với một quốc gia vừa nuôi tham vọng chi phối, dẫn dắt các lân bang... một dân tộc quật cường như dân Ukraine chắc chắn sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ đảng nào, chính phủ nào định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”(!).

          Thưa Trân Văn, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nói đến Tổ quốc có thể khái quát là sự hợp thành của hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội. Nếu thiếu một trong hai phương diện trên thì chưa phải Tổ quốc hoàn chỉnh. Đúng thế! Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 về phương diện tự nhiên lịch sử của đất nước ta vẫn còn nguyên đó, thực dân Pháp có “bê” được vùng đất, trời, biển của Việt Nam về lắp ghép với vùng đất, trời... của nước Pháp đâu mà nhân dân ta vẫn nói là nước mất nhà tan. Vì chính quyền phong kiến Việt Nam lúc đó chỉ là bù nhìn, làm tay sai cho thực dân Pháp mà thôi...

          Mặt khác, nếu không có phương diện tự nhiên lịch sử, thì dù có đầy đủ bộ máy nhà nước thì họ cũng đâu có Tổ quốc. Trên thực tế, một số tổ chức lưu vong có thâm thù với Đảng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam luôn tìm cách nhằm lật đổ chế độ, như: Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời (từ 1990 đến nay), do Đào Minh Quân lãnh đạo; Việt Nam Quốc dân Đảng (1927 đến nay), do Trần Tử Thanh, Trần Thắng lãnh đạo; Đại Việt Cách mạng Đảng (1965 đến nay) do Trần Dzũng Minh Dân, Nguyễn Văn Lung lãnh đạo; Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (1982 đến nay) do Hoàng Cơ Minh, Đỗ Hoàng Điềm, Lý Thái Hùng, Hồng Thuận lãnh đạo,... dù các tổ chức này có bộ máy, nhưng họ đâu có Tổ quốc. Vì họ làm gì có vùng đất, vùng trời, biển... nào để mà làm chủ. Thế mà, Trân Văn lại cho rằng: “...định ra và đeo đuổi “chính sách ba không”, thậm chí tạo thêm một... “không” chỉ để duy trì... “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho đảng của mình, chính phủ của mình, chứ không phải giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”! Xin nhắc lại, chính sách quốc phòng “ba không”, rồi “bốn không” của Việt Nam là để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trên cả hai phương diện: tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội; không thể chỉ bảo vệ “sự toàn vẹn của đặc quyền, đặc lợi” cho Đảng và Chính phủ mà không “giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ, duy trì và phát triển các lợi ích của quốc gia, dân tộc”. Vì hai mặt này thống nhất biện chứng với nhau tạo nên Tổ quốc; nên không thể chỉ có mặt này mà không có mặt kia và ngược lại.

          Việc cố tình lờ đi tính lịch sử của chính sách quốc phòng Việt Nam nói trên của Trân Văn để y hòng “buộc tội” cho việc “sai lầm” của chính sách này. Đây là việc làm không khách quan với chủ ý xấu của kẻ tiểu nhân. Nhân đây xin nhắc lại chính sách quốc phòng “ba không” lần đầu tiên xuất hiện trong sách trắng quốc phòng của Việt Nam năm 1998 và sau đó, tái xuất hiện trong sách trắng quốc phòng các năm: 2004 và 2009. Chính sách này cũng được nêu ra trong Luật Quốc phòng của Việt Nam, được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2019. Chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam (từ ba không thêm một không: “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”) xuất hiện trong sách trắng quốc phòng năm 2019. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình. Chúng ta kiên định chính sách quốc phòng "Không liên kết với nước này chống nước kia". Việt Nam không liên minh quân sự, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng nhằm mở rộng sự ủng hộ quốc tế, phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết của chúng ta.

          Thực tế cho thấy, đối với nước nhỏ trước những nước lớn, thế lực lớn đan xen thì phải khôn khéo trong chính sách đối ngoại, làm sao để dân tộc mình giữ được mối quan hệ tốt với các nước, đặc biệt là với các nước lớn, để tận dụng tốt thời cơ phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam là nhằm mục đích đó.

          Mới đây, trả lời phỏng vấn của Báo Tuổi trẻ về chiến dịch quân sự đặc biệt giữa Nga và Ukraine, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh: Chúng ta không thể đứng ngoài sự việc này, bởi trước hết Nga và Ukraine đều là bạn của Việt Nam, những bên can dự vào đều là đối tác của chúng ta. Việt Nam chúng ta có 3 thế mạnh để có thể tham gia, đóng góp giúp tạo lập lại hòa bình. Thứ nhất, chúng ta đã chiến thắng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, để kiến lập nền hòa bình bền vững cho đất nước. Thứ hai, chúng ta cũng có kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng vẫn giữ được hòa bình. Trong hơn 1/4 thế kỷ qua, sóng gió như vậy nhưng Việt Nam giữ vững được toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, giữ được độc lập tự chủ và những gì chúng ta đang có, đồng thời giữ được hòa bình. Thứ ba, chúng ta có quan hệ đa phương rộng rãi với hầu hết các quốc gia, các tổ chức quốc tế.

 

          Cho nên, quốc gia muốn yên ổn và phát triển phải giữ được sự độc lập, tự chủ, không lệ thuộc nước nào, không là đồng minh với nước này để chống lại nước kia, không có những hành động gây ảnh hưởng tới an ninh cho quốc gia khác, bình thường hóa với tất cả các nước, coi các nước đều là đối tác, nếu có hành động tạo sự căng thẳng với một nước lớn nào đó thì rất nguy hiểm. Vì thế, trong quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, không để đụng độ, va chạm xảy ra làm ảnh hưởng đến môi trường hòa bình phát triển đất nước. Chính sách quốc phòng “ba không”, “bốn không” của Việt Nam cũng nhằm mục đích đó, cớ sao lại suy diễn nhằm mục đích xấu?./.

Lời Bác Hồ dạy “…Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp những ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần…”. Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời ông Hoàng Phan Kính và ông Trần Lê Hữu ngày 2 tháng 4 năm 1949. Bản chất câu nói đó của Bác, chính là sự đổi mới. Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ đã lỗi thời, lạc hậu, bằng cách nghĩ, cách làm mới khoa học hơn, hiệu quả hơn, hợp với quy luật của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm, nghệ thuật trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha, ông; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, Bác đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, với bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, không phủ định sạch trơn… với mục tiêu: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã và đang đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng. Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi, Đảng ta đã đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; đó là: Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cùng với đổi mới và phát triển, phải kiên quyết đấu tranh xoá bỏ những tàn dư của xã hội cũ, nhất là những tập tục, nếp nghĩa, cách làm đã lạc hậu; đổi mới, phát triển, đồng thời phải biết kế thừa những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp.. Thấm nhuần lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân đã luôn đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong lộ trình tiến lên hiện đại đã lựa chọn, ưu tiên, đầu tư cho một số quân, binh chủng, vừa bảo đảm việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, vừa không ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội. Trên mọi lĩnh vực công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, huấn luyện, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật hiện có và mới, hiện đại được biên chế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. st3547

 

Lời Bác Hồ dạy

“…Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp những ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần…”.

Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời ông Hoàng Phan Kính và ông Trần Lê Hữu ngày 2 tháng 4 năm 1949. Bản chất câu nói đó của Bác, chính là sự đổi mới. Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ đã lỗi thời, lạc hậu, bằng cách nghĩ, cách làm mới khoa học hơn, hiệu quả hơn, hợp với quy luật của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm, nghệ thuật trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha, ông; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, Bác đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, với bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, không phủ định sạch trơn… với mục tiêu: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã và đang đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng.

Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi, Đảng ta đã đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; đó là: Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cùng với đổi mới và phát triển, phải kiên quyết đấu tranh xoá bỏ những tàn dư của xã hội cũ, nhất là những tập tục, nếp nghĩa, cách làm đã lạc hậu; đổi mới, phát triển, đồng thời phải biết kế thừa những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp..

Thấm nhuần lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân đã luôn đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong lộ trình tiến lên hiện đại đã lựa chọn, ưu tiên, đầu tư cho một số quân, binh chủng, vừa bảo đảm việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, vừa không ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội. Trên mọi lĩnh vực công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, huấn luyện, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật hiện có và mới, hiện đại được biên chế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. st3547

 

 

“…Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp những ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần…”.

Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời ông Hoàng Phan Kính và ông Trần Lê Hữu ngày 2 tháng 4 năm 1949. Bản chất câu nói đó của Bác, chính là sự đổi mới. Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ đã lỗi thời, lạc hậu, bằng cách nghĩ, cách làm mới khoa học hơn, hiệu quả hơn, hợp với quy luật của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm, nghệ thuật trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha, ông; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, Bác đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, với bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, không phủ định sạch trơn… với mục tiêu: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã và đang đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng.

Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi, Đảng ta đã đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; đó là: Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cùng với đổi mới và phát triển, phải kiên quyết đấu tranh xoá bỏ những tàn dư của xã hội cũ, nhất là những tập tục, nếp nghĩa, cách làm đã lạc hậu; đổi mới, phát triển, đồng thời phải biết kế thừa những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp..

Thấm nhuần lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân đã luôn đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong lộ trình tiến lên hiện đại đã lựa chọn, ưu tiên, đầu tư cho một số quân, binh chủng, vừa bảo đảm việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, vừa không ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội. Trên mọi lĩnh vực công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, huấn luyện, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật hiện có và mới, hiện đại được biên chế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. st3547

 

 

BÁC HỒ MUÔN VÀN KÍNH YÊU

 

BÁC HỒ MUÔN VÀN KÍNH YÊU

“…Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta

Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình, cho hết thảy

Như dòng sông chảy, nặng phù sa.

Như đỉnh non cao tự giấu hình

Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh

Bác mong con cháu mau khôn lớn

Nối gót ông cha, bước kịp mình.

Ta vào thǎm Bác, gặp Lê-nin

Trán rộng yêu thương, dõi mắt nhìn

Người đến cùng ta, ngồi với Bác

Như hình với bóng, một anh linh..”

Trích “ Theo chân Bác - Tố Hữu”

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Một tình yêu bao la với nhân dân Việt Nam! Người đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi phong ba bão táp để đi từ thắnhg lợi này đến thắng lợi khác và cập bến vinh quang. Người là niềm tin chiến thắng st3547

 

 

Xem gì đây?

 

Xem gì đây?

KÊNH YOUTUBE “VÌ VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG” CÓ THẬT SỰ VÌ MỘT VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG?

Thời gian gần đây kênh YouTube “Vì Việt Nam thịnh vượng” đăng tải nhiều bài viết hàm chứa nhiều nội dung trái luật pháp và đạo lý con người Việt Nam.

Đơn cử như câu nói “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, “chủ thớt” đã cố tình hướng lái dư luận về vai trò của người đàn ông khi vận nước lâm nguy. “Chủ thớt” cho rằng mọi người phải có trách nhiệm với sự tồn vong của dân tộc và vận mệnh của quốc gia theo chiều hướng tiêu cực.

Xin thưa “chủ thớt” người Việt Nam từ trước đến nay, trước sự lâm nguy của dân tộc thì triệu người như một. Nhưng phải dưới sự lãnh đạo của một người yêu nước thương dân hoặc một chính Đảng đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Hiến pháp quy định mọi người dân được sống tự do, dân chủ, bình đẳng; được thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật (trước khi Hiến pháp được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực thì đã được xin ý kiến của tất cả mọi người dân).

Hay đơn cử như từ đầu năm 2022 đến nay, tổng số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam là 10,8 tỷ USD. Trong đó, vốn đầu tư tăng thêm là 5,29 tỷ USD, tăng 92,5% so với cùng kỳ. Vốn điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần tăng mạnh, lần lượt là 92,5% và 74,5% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy sự tin tưởng của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư kinh doanh và các giải pháp, chính sách phục hồi kinh tế sau dịch COVID-19.

Với môi trường chính trị ổn định và quyết tâm cao của Chính phủ trong việc triển khai các giải pháp phục hồi kinh tế sau đại dịch, quý I/2022, GDP của Việt Nam tăng trưởng 5,03% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng trưởng 4,7% của quý I/2021 và mức 3,7% của quý I/2020, cho thấy đà phục hồi kinh tế đã trở nên rõ nét hơn.

Đặc biệt, hoạt động xuất nhập khẩu trở thành điểm sáng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục có đóng góp quan trọng khi khu vực này đạt tổng trị giá xuất nhập khẩu 168,37 tỷ USD, tăng gần 15%.

Đáng chú ý, việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong bối cảnh nhu cầu hàng hóa của thế giới tăng cao sẽ càng tăng cường vị thế của Việt Nam - một điểm đến hấp dẫn cho các nhà sản xuất, một phần của chuỗi cung ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay.

Vậy ai là người “thất phu, hữu trách” đây?

Đừng đánh tráo khái niệm một cách thô lỗ như vậy. Việc các bạn đang làm là đi ngược lại lợi ích của chúng tôi. Không ai tin và nghe theo các bạn đâu.

Tốt nhất, các bạn nên ca ngợi, vinh danh những việc làm tốt đẹp của dân tộc, những thành quả mà không quốc gia và người dân nào phủ nhận (những thành quả mà ngay cả nước Mỹ cũng phải thừa nhận)như vậy các bạn sẽ được nhiều người quan tâm hơn. Và tất nhiên lợi nhuận cũng sẽ nhiều lên. Còn các bạn vẫn giữ quan điểm của mình, thì sẽ bị nhiều người xa lánh, không quan tâm nữa.

Lý do các bạn nói sai, nói nhảm và chính các bạn là những người “KHÔNG VÌ MỘT VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG” st3547

TRE VIỆT NAM

 

TRE VIỆT NAM

Tre xanh,

Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh.

Thân gầy guộc, lá mong manh,

Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?

Ở đâu tre cũng xanh tươi,

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu.

Có gì đâu, có gì đâu,

Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều.

Rễ siêng không ngại đất nghèo,

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù.

Vươn mình trong gió tre đu,

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành.

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh,

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.

Bão bùng thân bọc lấy thân,

Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm.

Thương nhau tre không ở riêng,

Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người.

Chẳng may thân gãy cành rơi,

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng.

Nòi tre đâu chịu mọc cong,

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường.

Lưng trần phơi nắng phơi sương,

Có manh áo cộc tre nhường cho con.

Măng non là búp măng non,

Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre.

Năm qua đi, tháng qua đi,

Tre già măng mọc có gì lạ đâu.

Mai sau,

Mai sau,

Mai sau...

Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh. St3547

Lời Bác dạy

 

                                                           Lời Bác dạy

“Du kích như cá, dân chúng như nước. Cá không có nước thì cá chết, du kích không có dân chúng thì du kích chết”

Là lời của Bác trong bài viết “Cách đánh du kích” Người viết tháng 5 năm 1944, gồm 13 chương. Đây là tài liệu quan trọng thể hiện sự sáng tạo của Bác trong sử dụng từ ngữ quân sự và vận dụng tài tình nghệ thuật đánh giặc của cha ông trong quá trình dựng nước và giữ nước để huấn luyện cho du kích ta đánh giặc. Trong đó, Bác đã viết về mối quan hệ cá - nước giữa du kích và nhân dân rất mộc mạc, nhưng dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện. Mối quan hệ giữa du kích với nhân dân là mối quan hệ tự thân, bởi du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc. Chiến tranh du kích là một phương thức để phát động toàn dân, mà chủ yếu là nông dân tham gia kháng chiến, nó được sinh sôi, nẩy nở giữa vùng địch chiếm đóng, tạo điều kiện thuận lợi để cho mọi người dân tham gia đánh giặc giải phóng quê hương, đất nước. Với lực lượng tại chỗ, vũ khí tại chỗ, thông thuộc địa hình, địa thế, thời tiết, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng… với những lối đánh giặc chưa từng có trong từ điển quân sự, thoắt ẩn, thoắt hiện, xuất quỷ, nhập thần… làm cho địch khiếp đảm, kinh hoàng đã góp phần làm nên thắng lợi trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Từ mối quan hệ giữa du kích và nhân dân, được Bác nhân lên trong quan hệ giữa bộ đội với nhân dân, Người khẳng định: “Không có dân thì không có bộ đội”. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân và vì dân. Cội nguồn sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của “Bộ đội Cụ Hồ” cũng đều bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, nhất là thông qua công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân, toàn quân đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình dân vận khéo; tiêu biểu: “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Nâng bước em tới trường”, “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”… đã và đang góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./. st3547