Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

Freedom House lại xuyên tạc tình hình dân chủ ở Việt Nam

Ngày 2/6 vừa qua, tổ chức Freedom House tung ra cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong”. Nội dung của báo cáo có nhiều thông tin bịa đặt, sai trái về tình hình thực tế tại Việt Nam.

Freedom House không còn là cái tên xa lạ. Theo tuyên bố được đưa ra, mục đích hoạt động của Freedom House là ủng hộ sự tiến bộ và thúc đẩy, mở rộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới. Hằng năm, tổ chức này xây dựng và công bố các báo cáo như: Báo cáo tự do trên thế giới, báo cáo tự do trên mạng, báo cáo tự do và truyền thông… Tuy nhiên, nhiều năm qua, những thông tin mà tổ chức này nêu ra liên quan đến nhiều nước, trong đó có Việt Nam lại sai lệch thực tế, mang động cơ tiêu cực về chính trị.

Vẫn như thường lệ, nội dung của cái gọi là “Báo cáo bảo vệ nền dân chủ khi sống lưu vong” được Freedom House tung ra hôm 2/6 tiếp tục là những thông tin sai sự thật, vu cáo về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Tổ chức này vu cáo rằng, Việt Nam là một trong số các quốc gia “thực hiện đàn áp xuyên quốc gia nhằm bịt miệng người đấu tranh ngay cả khi họ rời quê hương”; “tiến hành tấn công mạng vào các tổ chức hỗ trợ người Việt tị nạn và thúc đẩy nhân quyền”; “quấy rối, cấm xuất cảnh hoặc bị tịch thu hộ chiếu đối với các “nhà dân chủ” chỉ vì họ báo cáo vi phạm nhân quyền của Chính phủ lên các cơ chế nhân quyền Liên hiệp quốc”?!...

Ngay sau đó, một số trang báo nước ngoài có tư tưởng thù địch hoặc cái nhìn thiếu thiện cảm với Việt Nam cùng các kênh truyền thông do các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đã nhanh chóng khai thác, lan truyền những nội dung sai lệch trên để làm nhiễu loạn thông tin, bóp méo sự thật, tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Thực ra, đây là chiêu trò cũ lặp lại của Freedom House. Tổ chức này liên tục xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có quyền tự do, dân chủ. Việc đánh giá, xếp hạng của Freedom House không căn cứ vào những tài liệu chính thống, không dựa vào tình hình đời sống thực tế của người dân ở Việt Nam.

Thay vào đó, tổ chức này bắt tay với các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng các cá nhân, tổ chức nước ngoài có định kiến với Việt Nam để tiến hành phỏng vấn, thu thập thông tin, từ đó vu khống Việt Nam xâm phạm các quyền tự do, dân chủ.

Hoạt động của Freedom House thể hiện rõ sự định kiến, thù địch đối với Việt Nam. Tổ chức này luôn luôn đánh đồng, quy chụp rằng trong chế độ chính trị một đảng lãnh đạo là không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền. Không riêng Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng liên tục bị Freedom House cho vào “tầm ngắm”.

Mục đích của tổ chức này là thông qua chiêu bài dân chủ, nhân quyền để tấn công, can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Trong một bài trả lời phỏng vấn VTV, ông Yerlan Baizhanov - Đại sứ Kazakhstan tại Việt Nam đã đánh giá: “Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như Freedom House mà Nhà nước của chúng ta hoạt động để người dân có cuộc sống tốt lên trên thực tế. Đó mới là điều quan trọng nhất”.

Phải khẳng định rõ, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của người dân. Các chính sách phát triển con người được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện, từ xoá đói giảm nghèo đến phát triển giáo dục, y tế, lao động, việc làm.

Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để tất cả mọi người trong xã hội tiếp tục thừa hưởng, thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, có chất lượng, thực chất và hiệu quả hơn. Không chỉ riêng Việt Nam mà với tất cả các nước trên thế giới, nếu muốn đánh giá về sự tự do, dân chủ, nhân quyền thì chắc chắn phải dựa vào ý kiến của đại đa số người dân của đất nước đó.

Việc một số cá nhân, tổ chức như Freedom House không ở Việt Nam, không nhìn nhận bằng các khảo sát khách quan nhưng lại liên tục đưa ra đánh giá, phán xét về Việt Nam với gam màu xám cho thấy rõ chiêu trò quy chụp, và vì thế hiển nhiên không đủ độ tin cậy. 

Hiện nay Việt Nam là 1 trong 20 nước có tỉ lệ sử dụng Internet nhiều nhất thế giới với khoảng 70 triệu người dùng (chiếm gần 70% dân số). Vì vậy, nếu không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền thì chính người dân Việt Nam sẽ lên tiếng, đấu tranh bảo vệ các quyền của bản thân. Người dân Việt Nam không cần sự “ban phát tự do, nhân quyền” của Freedom House hay bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Với những cáo buộc của Freedom House khi cho rằng Việt Nam không có tự do, chính quyền đang tiến hành “tấn công mạng”, “đàn áp xuyên biên giới”, rõ ràng đây là những luận điệu phi lý, xuyên tạc một cách trắng trợn. Những dẫn chứng được tổ chức này đưa ra là hết sức kệch cỡm. Trong danh sách “nạn nhân” của “đàn áp xuyên biên giới” được Freedom House lấy làm ví dụ như A Ga và tổ chức VOICE, đây đều là thành phần chống phá đất nước, có nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Về A Ga, đây là đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ, đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai truy nã về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”.

Tháng 9/2020, A Ga chính thức thành lập cái gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” - một tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Thông tin về tổ chức này đã được Công an tỉnh Đắk Lắk công bố trên mạng Internet. Đối với cái gọi là “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại” - VOICE, đây thực chất là tổ chức phản động ngoại vi của Việt Tân.

Các cơ quan báo chí đã nhiều lần vạch trần bản chất của tổ chức này. Trong đó có thể kể đến như: bài báo “Về Trịnh Hội và tổ chức VOICE” đăng ngày 27/7/2015 trên Báo Nhân dân; loạt bài “Bản chất của các tổ chức “xã hội dân sự” - tổ chức ngoại vi của Việt Tân” đăng trên Báo CAND tháng 1/2022…

Rõ ràng, Freedom House và các đối tượng chống đối đã diễn một “màn kịch dân chủ” hết sức vụng về nhằm mục đích tấn công chống phá Việt Nam. Các hoạt động của Freedom House ngày càng khẳng định rõ bộ mặt gian trá, lợi dụng danh nghĩa thúc đẩy tự do, dân chủ để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là hoạt động lợi dụng dân chủ, vi phạm quy định của pháp luật quốc tế, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân Việt Nam.


Trân trọng giá trị của hòa bình và độc lập dân tộc

“Chiến tranh là chuyện mất mát, đau thương, nên bác không muốn kể. Ngần này tuổi đầu rồi nên nghĩ lại ký ức có cái nhớ cái quên. Chỉ mong mãi về sau, đất nước hòa bình, không có bom đạn...” - Đó là chia sẻ của một cựu chiến binh (CCB) khi nhắc đến những kỷ niệm của bản thân trong kháng chiến chống Mỹ.

Với mong muốn để thế hệ trẻ thêm hiểu và trân trọng giá trị của hòa bình, độc lập dân tộc, người chiến sĩ năm xưa ấy cũng đồng ý mở cánh cửa ký ức. Từng câu chuyện, hình ảnh chiến trường những năm 70 của thế kỷ XX lần lượt được khắc họa lại rõ như một thước phim quay chậm...

Mặc dù đều đã hơn 70 tuổi, nhưng 3 người CCB thời kỳ chống Mỹ hiện cùng đang sinh sống tại địa bàn phường Him Lam, TP Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên) vẫn thi thoảng tụ họp để cùng ôn lại kỷ niệm xưa. Ông Tống Văn Thoóng, hiện ở tổ dân phố số 11, chậm rãi bắt đầu câu chuyện của mình: Khi vào Miền Nam chiến đấu, ông thuộc biên chế của Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148, Sư đoàn 316. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngay từ đêm 21-4-1975, đại đội của ông được giao nhiệm vụ chốt chặn Quốc lộ 22 nối Sài Gòn với Tây Ninh để ngăn sư đoàn 25 của địch rút chạy từ Tây Ninh về cố thủ tại Củ Chi, cửa ngõ Sài Gòn.

Cấp trên giao cho Đại đội 9 của ông đánh chặn cầu Bàu Lau để ngăn địch rút chạy về Sài Gòn. Nếu không chặn được, thì buộc phải đánh sập cầu để ngăn quân địch. Nhận nhiệm vụ, ông Thoóng cùng đồng đội tăng cường quan sát, hễ cứ thấy xe địch chuẩn bị qua cầu là lại dùng hỏa lực bắn chặn. Cả hướng chỉ có con cầu độc nhất đã bị chốt chặn, xung quanh lại toàn sình lầy, nên địch không thể nào qua được. Chúng cay cú dùng các loại hỏa lực và pháo binh điên cuồng bắn phá cả ngày lẫn đêm.

Hai bên giằng co nhau đến tận ngày 29-4-1975, thì Đại đội 9 được lệnh đánh chiếm giữ cầu. 15 giờ ngày 29-4, đơn vị ông Thoóng bắt đầu tấn công đầu cầu Bàu Lau. Nhấp ngụm nước chè, đưa ánh mắt nhìn xa xăm về phía ngọn đồi phía trước mặt, ông Thoóng tiếp tục câu chuyện của mình với giọng hào hứng: “Lúc đó tôi là tiểu đội trưởng đảm nhiệm tấn công địch ở mũi thứ yếu, do đồng chí Đại đội phó chỉ huy. Địch phản công mạnh, đánh trả rất ác liệt, khiến đồng chí Đại đội phó bị thương, nên tôi được lệnh thay thế chỉ huy. Sau khi tập trung tất cả các loại hỏa lực bắn vào đội hình của địch, bộ binh ta xung phong qua đường, chiếm được một phần bên cầu. Đến 17 giờ, thì ta chiếm được toàn bộ đầu cầu (hướng Sài Gòn) và 1/3 ấp Bàu Lau. Ban đêm, trực thăng của địch liên tục quần lượn từ Sài Gòn về hướng Tây Ninh. 1 giờ đêm, địch tập trung pháo binh và các loại hỏa lực bắn phá ác liệt vào trận địa của ta. Đến 8 giờ sáng, thêm một số đồng đội hy sinh, nhưng đơn vị vẫn giữ vững được đầu cầu. 10 giờ, đơn vị nhận được điện từ trung đoàn với thông tin rằng sư đoàn 25 ngụy sẽ mở đường máu trên Quốc lộ 22, tất cả phải chuẩn bị chiến đấu. Nhận lệnh, tất cả chúng tôi đều sẵn sàng vào vị trí, quyết tử chứ không lùi bước. Sau đó, xe tăng và bộ binh địch liên tục đột phá. Hai bên giao tranh đến giữa trưa, thì thấy địch kéo cờ trắng, xin đầu hàng vô điều kiện…”.

Lặng yên lắng nghe người đồng đội kể chuyện, CCB Đỗ Đức Ngọ, ở tổ dân phố số 21, cất lời nối tiếp câu chuyện chiến đấu bằng chất giọng trầm đặc: Khi đó, đơn vị của ông Ngọ tác chiến tại địa bàn Tây Nguyên. Ông thuộc biên chế của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Đặc công 198 (Quân đoàn 3). Sau khi giải phóng Buôn Mê Thuột, khí thế của bộ đội càng thêm hăng hái. Trên đường hành quân hướng về giải phóng Sài Gòn, có tầng tầng, lớp lớp các đơn vị, bộ binh, pháo binh, xe tăng... Đặc biệt, nhiều chiến sĩ của ta dù bị thương nhẹ vẫn nhất quyết ra trận. Trên đường hành quân, các đơn vị gặp nhau, bộ đội ta mừng vui rối rít. Người dân ủng hộ, giúp đỡ bộ đội rất nhiệt tình giúp đưa đò, dẫn đường, đưa cơm, gạo, khí thế sôi nổi, dồn dập.

Hành quân về gần đến Sài Gòn, thì đơn vị ông Ngọ nhận nhiệm vụ đánh chiếm mở cửa đầu cầu 2 cầu phía Tây Bắc Sài Gòn là cầu Bông và cầu Sáng. Lúc đó, ông Ngọ là Trung đội phó Trung đội trinh sát, trực tiếp tham gia đánh cầu Sáng. Cầu Sáng là một trong các cây cầu được xây dựng kiên cố, có lực lượng chốt giữ ở hai bên với lô cốt kiên cố, hỏa lực mạnh, các hàng rào thép gai bao quanh mố cầu và địch tổ chức canh gác, tuần tra nghiêm ngặt 24/24h.

Để chuẩn bị cho trận đánh, ông Ngọ cùng các đồng đội bí mật tiếp cận, cắt rào chui vào, dùng lối đánh “cường tập”, phá từng lớp hàng rào. Do lực lượng địch đông, lại được trang bị hỏa lực mạnh, nên đồng đội của ông bị thương vong nhiều. Nhận lệnh của trên, ông Ngọ tổ chức tập hợp lực lượng còn lại và trực tiếp chỉ huy trên cương vị là đại đội trưởng với quyết tâm mãnh liệt, tiếp tục đánh cường tập, chiếm bằng được cầu Sáng. Giằng co với địch từ lúc 5 giờ 30 phút đến 8 giờ 30 phút, thì đơn vị của ông cũng chiếm được cầu Sáng. Sau khi chiếm được cầu, đơn vị ông Ngọ tổ chức chốt giữ cầu để các đơn vị của ta vượt qua, tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Trong khi các đồng đội hừng hực khí thế xông pha trận chiến cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thì thời điểm ấy, ông Hà Minh Lợi, tổ dân phố số 11 cũng đang trải qua những ngày gian khó, ác liệt tại tỉnh Xiêng Khoảng (Lào). Ông Lợi kể lại: Tháng 9-1970, đơn vị ông nhận lệnh sang Xiêng Khoảng, biên chế thuộc Tiểu đoàn 4 của Binh trạm 13, Cục Vận tải (Tổng cục Hậu cần) làm nhiệm vụ chính là đảm bảo tuyến đường phục vụ hậu cần cho Quân khu Xiêng Khoảng.

Ở Việt Nam, ngày 27-1-1973 ký Hiệp định Paris, nhưng bên Lào thì tận ngày 28-2-1973 mới ký Hiệp định Viêng Chăn. Sau khi hiệp định được ký, đơn vị của ông Lợi vẫn duy trì ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, hỗ trợ cho bạn đấu tranh thực hiện thắng lợi hiệp định. Trước đó, hằng ngày không quân của địch vẫn liên tục hoạt động, chúng đánh dồn dập cả ngày lẫn đêm bằng tất cả các loại máy bay. Cùng với đó, xen lẫn với bom đạn là các loại truyền đơn viết bằng tiếng Lào và tiếng Việt. Bất chấp bom, đạn, ông Lợi và các đồng đội của mình vẫn bám dân, bám đất, thông đường đưa hàng về phía trước cho mặt trận. Bỗng giọng ông Lợi như chùng xuống: “Ấn tượng khó quên nhất là khu vực ngã ba Noọng Pẹt, ngay từ buổi sáng cũng không nhìn thấy chút màu xanh nào hết, chỉ duy nhất một màu đất đỏ lừ được xới lên bởi bom đạn. Cứ chiều tối là địch ném bom khiến mặt đường lỗ chỗ, lồi lõm. Không dừng lại ở đó, sau các trận bom phá, địch tiếp tục rải bom vướng nổ, rồi bom từ trường và cuối cùng thì bắn phá thêm một đợt nữa. Ban đêm, ngay khi dứt các loạt bom, chúng tôi dàn lực lượng ra, lần lượt giải quyết từng loại bom, rồi tìm cách lấp hố. Mới sáng sớm, là máy bay địch đã bu đến thay nhau trút bom. Tuy là lực lượng phục vụ chiến đấu và chiến đấu khi địch đánh lấn, nhưng đơn vị tôi hy sinh rất nhiều. Nhiệm vụ của mình ở đấy thì chạy đi đâu bây giờ, nó đến ném bom thì mình ẩn nấp... Dù không được trực tiếp tham gia giải phóng miền Nam, nhưng chúng tôi đã góp sức đánh đuổi quân Mỹ và xây dựng sự nghiệp cách mạng chung của Đông Dương”.

Dừng lại vài giây, ông Lợi nghẹn ngào xúc động: “Chiều 30-4-1975, nhiều anh em bảo nhau, không biết ở nước mình giờ ra sao và miền Nam như thế nào rồi. Khi mở đài, nghe được tin chiến thắng, chúng tôi chỉ biết ôm lấy gốc cây, lặng đi không nói được câu nào. Một lúc sau mới cùng nhau hò reo sung sướng”. Ông Hà Minh Lợi cũng tâm sự: “Chúng tôi nhảy lên reo hò khi nghe tin chiến thắng, nhưng rồi lại nhớ đồng đội mình mất trước giờ giải phóng mà xót xa. Chiến tranh kết thúc rồi, đêm đồng đội nằm kể chuyện với nhau, thằng bảo về đi cày, thằng đi học, nhưng buồn vì nhiều anh em, bạn bè đã nằm xuống đất lạ, không còn trở về với gia đình, quê hương, với giảng đường được nữa...”.

Chiến tranh đã lùi xa, đất nước ta ngày càng phát triển. Ký ức chiến tranh nhiều đau buồn, chính người trong cuộc không muốn kể lại, nhưng những cống hiến, hy sinh đó vẫn cần được khắc ghi, bởi cuộc sống tự do, bình yên mà chúng ta đang sống là thành quả từ xương máu của bao thế hệ đi trước.

Không thể mượn danh nhân quyền để dung túng, cổ vũ đối tượng vi phạm pháp luật

    Lâu nay, dân chủ, nhân quyền là vấn đề mà các thế lực thiếu thiện chí thường lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc trao cái gọi là Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals cho một đối tượng vi phạm pháp luật là hành động mới nhất.

Mượn cớ bảo vệ nhân quyền

Mới đây, tại Geneva, Thụy Sĩ, Giải thưởng nhân quyền Martin Ennals đã được trao cho Phạm Đoan Trang, người mà Ban tổ chức giải thưởng tung hô là “nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền”. Phạm Đoan Trang là ai và có phải là người “bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của người dân” như mô tả của những người tổ chức giải thưởng nhân quyền Martin Ennals hay không?

Với nhiều người, Phạm Đoan Trang không còn là cái tên xa lạ. Đây là người có hành vi chống đối Nhà nước quyết liệt. Ngày 14-12, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt bị cáo Phạm Đoan Trang (43 tuổi, trú quận Đống Đa, Hà Nội, được biết đến là blogger, từng làm việc cho một số trang báo) 9 năm tù về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, quy định tại điều 88 Bộ luật Hình sự 1999.

Phạm Đoan Trang là tác giả của nhiều tài liệu có nội dung hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”… Theo hồ sơ vụ án, năm 2013, do xuất cảnh đi nước ngoài không xin phép nên Trang đã bị cơ quan chủ quản kỷ luật buộc thôi việc. Trong chuyến xuất cảnh trái phép này, Trang đã bị một số đối tượng chống đối chính quyền dẫn dắt, móc nối, lôi kéo.

Trở về nước, Trang trực tiếp thành lập và tham gia điều hành nhiều hội, nhóm bất hợp pháp, đồng thời tụ tập, khuếch trương lực lượng chống đối trong nước, tập hợp lực lượng chống đối trong giới văn nghệ sĩ, trí thức trẻ. Đoan Trang đã viết, phát tán nhiều bài viết, cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động lật đổ chế độ.

Tòa án nhận định hành vi xuyên tạc đường lối chính sách, phỉ báng chính quyền của bị cáo Phạm Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với mục đích cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân.

Sự thật rõ ràng như vậy, ấy thế nhưng dưới cái cớ bảo vệ nhân quyền, tự do ngôn luận, một số tổ chức nước ngoài, đại diện trong cơ quan ngoại giao của một số nước lại sẵn sàng dùng nhiều mỹ từ ca ngợi, bênh vực Phạm Đoan Trang. Họ sẵn sàng đăng đàn, công bố những cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền”, “Tự do truyền thông quốc tế”, “Phụ nữ can đảm quốc tế”, “danh sách nạn nhân cần bảo vệ”… dành cho Phạm Đoan Trang. Tất nhiên, đi kèm với những việc làm này là “thông điệp” gây sức ép, phản đối và những cáo buộc vô căn cứ, phi lý với Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam.

Lộ liễu chiêu trò, dung túng, cổ vũ cho đối tượng vi phạm pháp luật

Không chỉ Phạm Đoan Trang, thời gian qua, cơ quan bảo vệ pháp luật đã xử lý một số đối tượng khác dựa trên những căn cứ cụ thể của từng bộ luật, trong đó có Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình bắt giữ, xử lý các đối tượng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân đều căn cứ vào những quy định của pháp luật để xử lý đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không làm oan sai. Vì vậy, có thể nói, bản án dành cho Phạm Đoan Trang cũng như các đối tượng chống đối khác trong thời gian qua là hoàn toàn đúng quy định, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Những luận điệu bóp méo, xuyên tạc rằng Việt Nam xử lý các đối tượng trên bằng “bản án mơ hồ” “theo ý chí chủ quan”, “áp đặt”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến” là hoàn toàn vô căn cứ. Điều này cho thấy một số tổ chức, cá nhân nước ngoài tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để gây sức ép đối với Việt Nam. Với cái nhìn tiêu cực, thiếu thiện chí với Việt Nam, các cá nhân, tổ chức này lợi dụng triệt để việc Việt Nam xử lý số đối tượng vi phạm pháp luật thuộc nhóm chống đối trong thời gian qua, trong đó có Phạm Đoan Trang để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tạo cớ cho một số tổ chức, cá nhân tiếp tục có hoạt động chống phá Việt Nam.

Đây có thể coi là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Những tổ chức và cá nhân này luôn “ngộ nhận” về những giá trị “tốt đẹp” và “cao quý” của nền dân chủ tư sản phương Tây. Vì muốn áp đặt các giá trị này mà họ sẵn sàng can thiệp vào chính sách nhân quyền của quốc gia khác, kể cả những quốc gia có không ít nỗ lực và thành tựu về dân chủ, nhân quyền được cộng đồng quốc tế thừa nhận như Việt Nam. Với học thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, họ sẵn sàng ca ngợi, “bao bọc”, trợ giúp những đối tượng có tư tưởng bất mãn, chống đối chính quyền như Phạm Đoan Trang, kể cả khi các đối tượng này đã bị kết án bởi những phiên tòa công khai, khách quan, dân chủ từ phía các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Việt Nam.

Mỗi đất nước có quyền lựa chọn con đường riêng của mình. Sự khác biệt về thể chế chính trị và những đặc thù riêng về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam và các nước phương Tây đương nhiên sẽ tạo nên những hệ giá trị khác nhau, ngay cả với những vấn đề liên quan đến dân tộc, nhân quyền. Nhưng không vì thế mà các giá trị của phương Tây nghiễm nhiên trở nên ưu việt hơn, nổi trội hơn.

Thực tế thời gian qua cho thấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên trì, nhất quán chính sách đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển. Những thành tựu về nhân quyền của Việt Nam trong thời gian qua là không thể phủ nhận. Điều này đã được nhân dân ủng hộ và các tổ chức uy tín hàng đầu quốc tế công nhận.

Vì vậy, việc các tổ chức, cá nhân xuyên tạc, vu cáo vấn đề dân chủ, nhân quyền của quốc gia khác là xâm phạm vào công việc nội bộ của quốc gia đó. Điều này không thể chấp nhận được đối với một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam. Việc ủng hộ, dung túng, cổ vũ cho những đối tượng vi phạm pháp luật, bị đưa ra xét xử, có hành vi chống đối một quốc gia có độc lập, có chủ quyền là điều cần phải lên án.

Đảng và Nhà nước ta luôn hoan nghênh những ý kiến đóng góp xây dựng, phát triển đất nước, đồng thời nỗ lực bảo đảm quyền tự do, dân chủ, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, mỗi công dân khi thực thi quyền này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Bất kỳ hành vi nào lợi dụng quyền tự do của bản thân mình để xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đều chịu xử lý của pháp luật và trật tự, kỷ cương chỉ có thể được giữ vững khi pháp luật được thượng tôn. Đó là cơ sở cho sự phát triển ổn định của đất nước, là tiền đề quan trọng để thúc đẩy, bảo đảm và phát huy các giá trị về quyền con người không chỉ ở Việt Nam mà còn ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ CHỦ TRƯƠNG THÀNH LẬP BAN CHỈ ĐẠO PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC CẤP TỈNH

 

          Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã tán thành Tờ trình của Bộ Chính trị về chủ trương thành lập ban chỉ đạo (BCĐ) cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN,TC). Lợi dụng sự kiện trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

          Trên nhiều trang mạng xã hội của các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ, các hãng truyền thông hải ngoại chống phá Việt Nam như RFA, VOA, RFI… phát tán nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), trong đó tập trung đả phá Đề án thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC.

          Các thế lực thù địch quy kết công tác PCTN “chỉ là mị dân”, ngụy biện “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam”, quy kết “tham nhũng do chế độ độc đảng cầm quyền”! Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, chủ trương thành lập BCĐ PCTN,TC cấp tỉnh là “không cần thiết, chỉ tốn tiền của dân”, cho rằng việc làm này là “giả tạo”, vẽ ra câu chuyện “ta đánh ta”, “cộng sản thì ai cũng tham nhũng”… Mục đích các bài viết nhằm quy kết tham nhũng là “bản chất của chế độ”, từ đó kêu gọi muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải đa nguyên, đa đảng, phải “xã hội dân sự”…

          Đây thực chất là trò chống phá kiểu “bình mới rượu cũ” của số đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Số này cố gắng vẽ ra bức tranh tối màu về công tác PCTN của Việt Nam, phớt lờ thực tế hiệu quả công tác PCTN, phủ nhận mọi cố gắng, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong việc đẩy lùi vấn nạn tham nhũng; tìm cách gieo rắc tâm lý bất an, gây ra sự hoài nghi về các chủ trương, quyết sách của Đảng về PCTN, TC, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng, lấy cớ kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo ra sự đối lập, bất ổn từ bên trong.

          Tham nhũng là vấn nạn của nhiều quốc gia

          Thực chất, tham nhũng là hiện tượng xã hội đã xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, nó tồn tại trong mọi chế độ chính trị khác nhau, gắn liền với nhà nước và quyền lực. Bản chất của tham nhũng gắn liền với quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế và cho dù chế độ chính trị nào, chủ nghĩa xã hội hay tư bản chủ nghĩa, chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì vẫn có nạn tham nhũng. Một số ví dụ điển hình về tham nhũng ở các nước có chế độ đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị như: Vụ Watergate - vụ bê bối về quyền lực chính trị để trục lợi từ 1972 - 1974 của Tổng thống Mỹ Richard Nixơn. Trước nguy cơ bị Quốc hội phế truất ngày 9/8/1974, Tổng thống Mỹ Richard Nixơn buộc phải từ chức, đây là Tổng thống đầu tiên và duy nhất trong lịch sử nước Mỹ phải từ chức khi đang là Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai.

          Tổng thống Philippines Joseph Estrad (1998 - 2001) phạm tội tham nhũng phải ngồi tù chung thân; Thủ tướng Ukraine (1996 - 1997) Pavlo Lazarenko đã biển thủ 200 triệu USD từ ngân sách nhà nước (tương đương nửa triệu USD/ngày trong thời gian làm Tổng thống) phải bỏ trốn sang Hoa Kỳ; Tổng thống Hàn Quốc Park Geun - hye bị Quốc hội Hàn Quốc phế truất vào tháng 12/2016 do bị buộc tội tham nhũng, dính líu đến vụ bê bối chính trị dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính…

          Tham nhũng là một vấn đề nan giải, một căn bệnh nhức nhối với những biến dạng rất phức tạp, đang hoành hành trên nhiều lĩnh vực, gây ra những hậu quả tiêu cực ở các quốc gia với chế độ xã hội khác nhau. Vì vậy, đấu tranh bài trừ tham nhũng được các nước rất quan tâm, thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp, trên nhiều phương diện như pháp luật, hành chính, chính trị, kinh tế, đạo đức, văn hóa, lối sống… Trung Quốc ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chính trong cán bộ Đảng và Nhà nước.

          Trong khi đó, Luật Chống tham nhũng (năm 1989) của Singapore cho phép tòa án tịch thu tài sản của công chức nếu họ không giải thích được nguồn gốc tài sản đó. Thái Lan yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên. Một số nước như Colombia, Brazil… còn thiết lập các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng.

          Không thể phủ nhận kết quả PCTN, TC ở Việt Nam

          Ở nước ta, cuộc chiến PCTN,TC đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm “không có vùng cấm” và đã đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt. Thành quả đó để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao và quốc tế ghi nhận.

          Theo số liệu của BCĐ Trung ương về PCTN tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, từ năm 2013 đến 2020, cả nước đã có hơn 1.900 vụ án tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; 131.000 đảng viên, trong đó có hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang) đã bị xử lý kỷ luật. Chỉ tính riêng năm 2021, cơ quan có thẩm quyền đã kỷ luật 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 132 so với năm 2020), trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đây là những con số biết nói, khẳng định công tác đấu tranh PCTN “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

          Chính những thành quả trong công tác PCTN đã góp phần loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, làm trong sạch đội ngũ, nhằm xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Việc xử lý nghiêm minh có ý nghĩa cảnh cáo, răn đe phòng ngừa chung, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ; khẳng định vị thế, uy tín của Đảng, đất nước ta trên trường quốc tế. Điều này cũng bác bỏ những luận điệu xảo trá, suy diễn của các lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

          Thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC là cần thiết, quan trọng

          Năm 2006, BCĐ Trung ương về PCTN được thành lập và được xác định là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, có chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc công tác PCTN trong phạm vi cả nước. Năm 2007, các BCĐ PCTN cấp tỉnh được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN (năm 2007) và Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12, ngày 27/9/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, hoạt động của BCĐ Trung ương về PCTN trong giai đoạn này còn một số hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

          Do vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012), đã quyết định tổ chức lại BCĐ về PCTN, chuyển đổi mô hình BCĐ trực thuộc Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu sang mô hình BCĐ trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu. Hội nghị cũng quyết định không tổ chức BCĐ tỉnh, thành phố về PCTN.

          Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác PCTN và có trách nhiệm phối hợp với BCĐ Trung ương về PCTN khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương. Mục đích của sự thay đổi này nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN, tăng cường tính độc lập tương đối của BCĐ với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong công tác đấu tranh PCTN.

Mô hình BCĐ Trung ương trực tiếp do Tổng Bí thư làm Trưởng ban đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong công tác PCTN. Điều đó thể hiện rất rõ ở nhiệm kỳ khóa XII, XIII khi số lượng vụ, việc tham nhũng, kinh tế được phát hiện, xử lý tăng lên rất nhiều. Thực tiễn hoạt động của BCĐ Trung ương là bài học kinh nghiệm quý giá để công tác PCTN,TC ở các cấp, ngành, địa phương học hỏi, làm theo.

          Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác trong chỉ đạo PCTN được cọ xát qua thực tiễn. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đi vào nền nếp, bài bản, khoa học. Các thành viên, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Sau khi BCĐ Trung ương về PCTN hoạt động thể hiện được tính hiệu quả, ưu việt thì có đủ lộ trình, thời gian và sự chuẩn bị nguồn lực phù hợp để thành lập BCĐ cấp tỉnh đủ mạnh, có thực quyền, trở thành “cánh tay nối dài” của BCĐ Trung ương, phục vụ đắc lực cho hoạt động PCTN, tiêu cực ở địa phương.

          Tham nhũng hiện vẫn diễn biến rất phức tạp, được xem là một trong các nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Mặc dù kết quả PCTN,TC thời gian qua đạt được là rất quan trọng song công tác PCTN,TC ở nhiều ngành, địa phương chưa có sự chuyển biến rõ nét; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả; vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong đấu tranh PCTN,TC.

          Một số cấp ủy, tổ chức đảng quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN,TC tại địa phương đã bộc lộ bất cập, nhất là trong chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực, do đó nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã đề xuất, kiến nghị thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN,TC. Những tồn tại, hạn chế này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng PCTN,TC chưa thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cơ chế chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan chức năng PCTN,TC ở địa phương chưa được tập trung, thống nhất.

          Như vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là chủ trương quan trọng, cần thiết, thể hiện rõ tinh thần triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!”. Đây là những cơ sở để phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch xung quanh vấn đề này./.

                                                                                      St

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 08/6

 

           “Mọi người phải ra sức trau dồi đạo đức xã hội chủ nghĩa. Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang”

          Đây là lời của Chủ tịch trong bài nói tại Hội nghị toàn Đảng bộ khu Việt Bắc ngày 08 tháng 6 năm 1959. Thời kỳ này, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, song cũng đặt ra những khó khăn, thử thách mới trong cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

          Lời nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, chỉ rõ tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của nhiệm vụ cải tạo xã hội cũ thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp lâu dài, vất vả, nhưng rất vẻ vang. Do đó, đòi hỏi cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải có ý thức giác ngộ cách mạng cao, một lòng một dạ phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng cách mạng; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực hành tự phê bình một cách nghiêm túc, từ trong cấp uỷ ra ngoài đảng bộ, từ trên xuống dưới để loại bỏ tư tưởng cũng như chủ nghĩa cá nhân ra khỏi mỗi con người.

          Thực hiện lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên đã ra sức học tập, trau dồi phẩm chất đạo đức, mục tiêu lý lưởng cách mạng; tích cực lao động sản xuất, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

          Hiện nay, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân sa vào chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, sùng bái quyền lực và đồng tiền; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, lối sống… làm cản trở sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải đấu tranh, lên án. Do vậy, học tập và làm theo lời Bác dạy về đạo đức cách mạng càng có giá trị thực tiễn sâu sắc; là cơ sở để cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; một lòng, một dạ thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

          Thấm nhuần lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về công tác xây dựng Đảng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, phong trào thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động của các cấp, các ngành, phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.

                                                                                                          st

LAN TỎA PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ VỚI BẠN BÈ QUỐC TẾ

 

          Phát huy truyền thống "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua" của Quân đội nhân dân Việt Nam, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam tham gia sứ mệnh Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc (LHQ) không chỉ góp phần khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Bộ đội Cụ Hồ mà còn giới thiệu những giá trị của phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ với thế giới...

          “Cảm ơn các bạn vì đã ở đây!”, “Các bạn hãy hứa sẽ quay trở lại”... là những câu nói đầy tình cảm mà những đồng nghiệp quốc tế tại Phái bộ Nam Sudan và người dân bản địa dành cho các bác sĩ mũ nồi xanh Việt Nam, những người họ đã coi như “điểm tựa tinh thần” quan trọng ở vùng đất nghèo đói và xung đột.

          Các thê đội Bệnh viện dã chiến (BVDC) cấp 2 của Việt Nam không chỉ chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh với chất lượng cao cho đội ngũ nhân viên LHQ và người dân bản địa mà còn tích cực thực hiện những hoạt động trao đổi chuyên môn, huấn luyện kỹ năng y tế, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ cho các bệnh viện địa phương và các bệnh viện tại địa bàn.

          Đặc biệt, BVDC 2.3 của Việt Nam đã áp dụng nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân phù hợp với điều kiện dã chiến, có những kỹ thuật lần đầu tiên thực hiện ở Nam Sudan được các chỉ huy quân y phái bộ đánh giá cao. BVDC 2.2 và BVDC 2.3 của Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò là đơn vị trên tuyến đầu ngăn chặn dịch Covid-19 tại địa bàn.

          Bà Hiroko Hirahara, Trưởng căn cứ Bentiu của Phái bộ Nam Sudan cho biết đã nhận được những phản hồi tích cực về những gì BVDC Việt Nam làm được. Bà đánh giá cao sự cống hiến, tận tâm và chuyên nghiệp của các y, bác sĩ mũ nồi xanh Việt Nam. Còn Đại tá Waleed Elazizy-Trưởng quân y Phái bộ khẳng định, các nhân viên LHQ ở đây đều cảm thấy an toàn và thoải mái khi tới BVDC Việt Nam điều trị.

          Trong điều kiện khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, điều kiện an ninh bất ổn... các chiến sĩ quân y mũ nồi xanh Việt Nam không chỉ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn mà còn tích cực, chủ động tham gia những hoạt động từ thiện, nhân đạo giúp cải thiện phần nào đời sống của người dân bản địa.

          Các thê đội BVDC cấp 2 của Việt Nam nối tiếp nhau không chỉ tiếp tục khẳng định uy tín và trình độ chuyên môn mà còn chủ động thực hiện nhiều hoạt động CIMIC, được sự hoan nghênh của các cơ quan phái bộ. Qua đó, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam không chỉ phát huy các phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, ghi những dấu ấn đậm nét trong lòng bạn bè quốc tế mà còn góp phần lan tỏa tinh thần nhân văn của người lính mũ nồi xanh luôn được LHQ khuyến khích.

          Chuẩn tướng Dhananjay Joshi, Quyền Tổng tư lệnh lực lượng LHQ tại Nam Sudan đã hoan nghênh BVDC 2.3 mặc dù rất bận rộn với công việc chuyên môn vẫn nỗ lực tham gia các hoạt động CIMIC ý nghĩa như tư vấn HIV/AIDS, hỗ trợ Bệnh viện Bentiu, chia sẻ thuốc men và trang thiết bị cho các cơ quan chức năng địa phương... Các bác sĩ quân y mũ nồi xanh Việt Nam đã hướng dẫn người dân, nhất là phụ nữ bản địa biết cách tự chăm sóc sức khỏe cho mình trong điều kiện y tế thiếu thốn ở địa phương.

          Nhiệm vụ chính là chăm sóc sức khỏe cho nhân viên LHQ tại địa bàn, nhưng các bệnh viện dã chiến Việt Nam không từ chối bất kỳ ca bệnh nào là dân thường Nam Sudan khi họ cần tới sự giúp đỡ với sự cho phép của cơ quan y tế phái bộ. Các hoạt động giúp đỡ người dân được thực hiện ngày càng nhiều hơn, với những hình thức phong phú hơn và được kế thừa, tiếp nối, phát huy từ BVDC 2.1 cho đến BVDC 2.4 hiện nay.

          Thực thi sứ mệnh quốc tế cao cả, những người lính quân y mũ nồi xanh Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò “sứ giả”, giới thiệu rộng rãi tới các nước và bạn bè quốc tế hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ đầy bản lĩnh, trí tuệ và giàu lòng nhân ái.

                                                                                                st

Càng quyết liệt càng đáp ứng kỳ vọng, niềm tin của nhân dân

    Việc xử lý nhanh chóng, quyết liệt, dứt khoát với nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có điểm dừng, bất kỳ ai dù giữ chức vụ cao đến đâu nếu vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật là minh chứng, là sự khẳng định mạnh mẽ quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, từ năm 2013 đến 2020, cơ quan chức năng đã xử lý kỷ luật 131.000 đảng viên, trong đó có nhiều trường hợp liên quan đến tham nhũng.

    Cũng từ năm 2013 đến 2020, đã có 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý (trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang). Cùng thời gian này, cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra truy tố xem xét hơn 1.900 vụ án tham nhũng với 4.400 bị cáo trong đó có 18 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự, trong đó có: 1 Ủy viên Bộ Chính trị, 7 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Bộ trưởng và nguyên Bộ trưởng, 7 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang

    Từ đầu năm 2022 đến nay, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 1.264 vụ/2.038 bị can, truy tố 742 vụ/1.594 bị can, xét xử sơ thẩm 737 vụ/1.567 bị cáo về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ (trong đó, khởi tố mới 125 vụ án, 259 bị can về tội tham nhũng). Riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, đã khởi tố mới 4 vụ án/23 bị can, khởi tố mới 7 bị can trong 3 vụ án, khởi tố bổ sung tội danh 4 bị can trong 2 vụ án… Đáng chú ý, đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án lớn, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, đã khởi tố 10 cán bộ diện Trung ương quản lý (1 bộ trưởng, 1 Chủ tịch UBND TP, 1 thứ trưởng; 1 nguyên thứ trưởng; 1 nguyên Chủ tịch UBND tỉnh; 5 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang).

    Có thể khẳng định, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đã thu được những kết quả quan trọng, góp phần vào thành tựu chung của đất nước, tạo không khí phấn khởi trong xã hội, tăng cường niềm tin trong nhân dân với Đảng và chế độ. Những việc làm và kết quả bước đầu trong cuộc đấu tranh với tệ nạn tham nhũng, tiêu cực thời gian qua thêm một lần nữa khẳng định, không có vùng cấm, cả cán bộ có chức quyền, dù ở cương vị nào, các vụ tham nhũng liên quan đến lợi ích nhóm, tham ô tiền của dân, tài sản Nhà nước làm giàu bất chính… đều bị xử lý nghiêm trước pháp luật.

    Đâu đó đã có những băn khoăn về việc đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng với tham nhũng, tiêu cực như vậy có làm mất cán bộ, làm cán bộ e ngại không dám nghĩ, dám làm… Thế nhưng, cũng chính thực tế đã xóa tan những băn khoăn ấy khi càng đấu tranh mạnh mẽ chống lại thứ nội xâm nguy hại này, đất nước chúng ta càng phát triển, niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ và tương lai đất nước càng được nâng lên; niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế với môi trường đầu tư, kinh doanh của nước ta càng được nhân lên.

    Tất nhiên, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ không tránh khỏi mất cán bộ khi những người vi phạm pháp luật bị xử lý, nhưng đó là loại bỏ cán bộ hư hỏng, suy thoái, biến chất ra khỏi bộ máy. Những người này chính là những “con sâu làm rầu nồi canh”, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước, cản trở quá trình phát triển đi lên của đất nước, của nền kinh tế. Loại bỏ những “con sâu” khi vậy ra khỏi bộ máy cũng chính là để đưa vào những cán bộ có tâm, có tầm, đầy đủ phẩm chất đạo đức; giúp củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo động lực to lớn để phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

    Công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vì thế sẽ không có điểm dừng, mang lại chuyển biến căn bản và kết quả toàn diện, đáp ứng được sự kỳ vọng và niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ ta.

Vi phạm pháp luật là bị xử lý cho dù đó là ai

    Người dân cả nước đang dõi theo với sự quan tâm sâu sắc và tin tưởng trong việc xử lý các vụ tham nhũng, tiêu cực nổi cộm thời gian qua, đặc biệt là những vụ tham nhũng, tiêu cực lớn thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi và chỉ đạo. Đó là những vụ án khiến dư luận và nhân dân cả nước bức xúc, bất bình như như: Vụ án Công ty Việt Á, vụ án đưa và nhận hối lộ trong các chuyến bay “giải cứu” xảy ra tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), vụ án thao túng thị trường chứng khoán xảy ra tại Tập đoàn FLC, vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Tập đoàn Tân Hoàng Minh…

    Một trong những vụ án gây bức xúc, thậm chí phẫn nộ cho không ít người, là vụ án Công ty Việt Á và vụ án đưa và nhận hối lộ trong các chuyến bay “giải cứu” khi các đối tượng trong các vụ án đã nhẫn tâm trục lợi trong bối cảnh đất nước phải căng sức gồng mình chống chọi đại dịch Covid-19. Có thể nói đại dịch nguy hiểm này gây ra những tổn thất, mất mát vô cùng to lớn với đất nước và nhân dân ta khi đã có hơn 10,7 triệu người nhiễm bệnh, hơn 43.000 người tử vong và thiệt hại vật chất khó có thể cân đo đong đếm được.

    Song những người đã dính líu tới tham nhũng, tiêu cực đều đã và đang phải trả giá đắt, bị lôi ra ánh sáng pháp luật, đối mặt với các biện pháp tố tụng. Trong đó, tính riêng vụ án Công ty Việt Á và chỉ trong hơn 5 tháng (từ khi khởi tố vụ án vào giữa tháng 12-2021 đến hết tháng 5 vừa qua), cơ quan điều tra Bộ Công an, cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng và công an các địa phương đã khởi tố, bắt giam 58 người liên quan vụ án gây chấn động dư luận cả nước này.

    Trong diễn biến mới nhất liên quan tới vụ án Công ty Việt Á, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã tiến hành khởi tố, bắt tạm giam ông Nguyễn Thanh Long, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế và ông Chu Ngọc Anh, nguyên Chủ tịch UBND TP Hà Nội. Đây là hai cán bộ từng giữ chức vụ cao nhất bị xử lý hình sự trong vụ án Công ty Việt Á cho tới thời điểm này.

    Điều đáng nói là quy trình và thời gian xử lý với hai ông Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh diễn ra trong thời gian rất ngắn. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trong cuộc họp bất thường chiều 6-6 quyết định thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với hai ông Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh thì ngay sáng hôm sau (7-6) Quốc hội đã tiến hành bãi nhiệm tư cách đại biểu Quốc hội và cách chức Bộ trưởng Bộ Y tế với ông Nguyễn Thanh Long, trong khi HĐND TP Hà Nội cũng bãi nhiệm đại biểu HĐND và chức vụ Chủ tịch UBND TP với ông Chu Ngọc Anh. Ngay sau đó, hai vị nguyên cán bộ cấp cao này đã bị khởi tố, bắt tạm giam.

NHỮNG CON RỐI LƯU VONG KIẾM ĂN BẤT CHẤP ĐẠO LÝ!

     Trong một clip đăng tải trên kênh YouTube những ngày qua, Nguyễn Văn Đài, đối tượng đang lưu vong tại Cộng hòa Liên bang Đức, với thái độ huênh hoang kiểu “ngụy hàn lâm”, đã lấy hình ảnh rác thải sinh hoạt để “bình loạn” về tình hình chính trị trong nước. Bằng nhận thức của một người bình thường cũng đủ nhận ra, Nguyễn Văn Đài đang cố tình khoe mẽ, muốn chứng tỏ bản thân là người hiểu biết, kiến thức “uyên thâm”, am hiểu thời cuộc. Thực chất, những thông tin cóp nhặt và mớ kiến thức lỗ mỗ ấy không thể che giấu được sự thật là Nguyễn Văn Đài và những thành phần phản động lưu vong đang phải đương đầu với cuộc sống thường nhật nơi xứ người. Người dùng MXH không khỏi bật cười khi xem clip Nguyễn Văn Đài trò chuyện với “Người buôn gió” Bùi Thanh Hiếu. Trong lúc Đài huênh hoang giới thiệu là đã đến xem “các cơ sở sản xuất của Bùi Thanh Hiếu” ở Đức thì “Người buôn gió” mặt ỉu xìu nói rằng, hoàn toàn không có “cơ sở sản xuất” nào cả, mà Hiếu chỉ là người đang đi làm thuê kiếm ăn. Ngay từ khi còn ở trong nước, tính ảo tưởng, thích khoe mẽ, dương dương tự đắc của Nguyễn Văn Đài đã bị dư luận tẩy chay, lên án, cho đến khi đã lưu vong xứ người, Đài vẫn chứng nào tật ấy. Tương tự, những đối tượng như Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Hoài An… cũng luôn huênh hoang khoe mẽ kiểu “ngụy hàn lâm”, thực hiện các clip với thái độ trịch thượng, giễu cợt… để bôi nhọ đất nước.

Ai cũng biết, các đối tượng có tư tưởng phản bội quê hương, cho dù là ai, làm gì, sống ở quốc gia, vùng lãnh thổ nào… cũng đều khó ngẩng đầu lên được. Bởi, khó có một nền văn hóa nào, không một tổ chức tiến bộ nào lại dung túng, dung nạp những kẻ vong ân bội nghĩa với nơi chôn nhau cắt rốn. Trên các nền tảng MXH, nhiều tài khoản đã thẳng thắn lên tiếng rằng, đến quê hương, đất nước mình mà còn chối bỏ thì còn sống được ở đâu? Hiện nay, nhiều người trong số đó, để kiếm tiền mưu sinh, những người này đã lập các tài khoản trên MXH, kiếm ăn bằng công việc chửi bới để “câu view”, bất chấp đạo lý. Một số thì được các thế lực thù địch lợi dụng, tận dụng như những con rối…
Yêu nước ST.

“Tiền đồ của mỗi người nằm trong tiền đồ của cách mạng, của dân tộc”

    Câu nói trên trích trong bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại hội chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp lần thứ nhất được tổ chức từ ngày 31-5 đến ngày 5-6-1956, tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 354 đại biểu là chiến sĩ thi đua và đại diện cho các đơn vị tiên tiến thuộc ngành thương nghiệp cả nước.

    Lời của Bác, khẳng định lợi ích của dân tộc phải được đặt lên trước lợi ích của cá nhân. Thực tiễn đã chứng minh, nước độc lập thì ai cũng được tự do; nếu mất nước thì ai cũng làm nô lệ. Cách mạng giải phóng dân tộc giành được thắng lợi, không chỉ dân tộc được giải phóng mà các giai cấp, tầng lớp trong xã hội cũng được giải phóng. Quan điểm đó đã góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và cả cộng đồng đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
    Quan điểm trên của Người, tiếp tục được Đảng ta vận dụng vào đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam; toàn bộ hoạt động của Đảng đều xuất phát và phục vụ lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, phai nhạt lý tưởng cách mạng, quá coi trọng đến lợi ích cá nhân, đã và đang làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ, thì việc nắm vững những quan điểm của Người về đặt lợi ích chung của dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân có giá trị thực tiễn sâu sắc; là nội dung, phương hướng rèn luyện đạo đức của mỗi người theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.

    Quân đội ta là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn thấm nhuần lời dạy của Bác về việc phải biết đặt lợi ích của đất nước lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân, kiên định với mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng và Bác đã lựa chọn; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nêu cao ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; luôn chủ động tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến  bình” của các thế lực thù địch; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững phẩm chất "Bộ đội cụ Hồ"

 

    “Đồng bào miền Bắc tuy có khó khăn do chiến tranh để lại, nhưng ai cũng an cư lạc nghiệp, được hưởng tự do dân chủ và phấn đấu cho một tương lai vẻ vang. Cho nên đồng bào miền Bắc càng phải thương xót và phải giúp đỡ đồng bào miền Nam đấu tranh”.

    Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong bài viết: “Nhà triệu phú biến thành người ăn xin”, ký tên C.B, đăng trên Báo Nhân dân, số 457, ngày 03 tháng 6 năm 1955. Trong điều kiện chiến tranh, đất nước tạm thời chia cắt hai miền Nam - Bắc, ở miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên xây dựng một chế độ xã hội mới - chế độ xã hội chủ nghĩa. Còn đồng bào miền Nam bắt đầu bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều gia đình mất hết nhà cửa, của cải, mất tự do, trở thành nghèo đói. Thấu hiểu hoàn cảnh của đồng bào miền Nam, Bác Hồ viết bài “Nhà triệu phú biến thành người ăn xin” nhằm kêu gọi tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong khó khăn, hoạn nạn, với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, chia sẻ những khó khăn của nhân dân miền Nam trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

    Lời kêu gọi của Bác có ý nghĩa vô cùng lớn lao không chỉ động viên, cổ vũ đồng bào miền Bắc vượt lên những khó khăn, thách thức để khắc phục hậu quả của chiến tranh mà còn cảm thông, chia sẻ trước những khó khăn, hy sinh của đồng bào miền Nam, biến tình cảm thương xót thành hành động cách mạng, tích cực tăng gia sản xuất, trở thành hậu phương lớn cho miền Nam, không tiếc sức người, sức của để chi viện, ủng hộ giúp đỡ đồng bào miền Nam cả về tinh thần và vật chất để đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Đồng thời, động viên, khích lệ tinh thần hăng say chiến đấu, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân miền Nam.

    Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, song lời Bác dạy vẫn còn giá trị thực tiễn sâu sắc. Thực hiện lời dạy của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước vẫn luôn phát huy truyền thống đoàn kết, cùng hướng về đồng bào mỗi khi bị thiên tai, hoạn nạn, bão lũ... với tinh thần “thương người như thể thương thân ”, “chia sẻ ngọt bùi”, “lá lành đùm lá rách”… đó chính là đạo lý, là truyền thống, là nghĩa cử cao đẹp, thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn, nhân đạo cao cả của dân tộc ta và chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, là quân đội của dân, do dân, vì dân. Quán triệt và thực hiện lời Bác dạy, quân đội đã phát huy tốt tinh thần “đồng cam, cộng khổ”; đoàn kết một lòng trong công cuộc kháng chiến, kiến quốc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã trở thành một biểu tượng cao đẹp về tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội, là lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng. Ngày nay, quân đội đã và đang thực hiện có hiệu quả chức năng đội quân công tác, tham gia tích cực các hoạt động tuyên truyền, ủng hộ, giúp đỡ, đồng bào gặp khó khăn, các chiến sỹ nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cả về vật chất, tinh thần và sức lực, cho dù phải hy sinh tính mạng. Những việc làm ý nghĩa đó càng tô thắm thêm truyền thống của quân đội và làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.St