Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện mới

 TCCS - Trên cơ sở quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội theo hướng đồng bộ, hiệu quả, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XV tại huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng_Ảnh: TTXVN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội - cơ sở lý luận và thực tiễn

Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy định, quy trình, phong cách, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo, nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ phương thức lãnh đạo của Đảng, tập trung vào các nội dung chính là: Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ; Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị(1).

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội được triển khai, tổ chức nghiên cứu trên cơ sở các nội dung nêu trên. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Thông qua luật và nghị quyết, Quốc hội thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Đại hội XIII của Đảng xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị... Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao”(2).

Đại hội XIII của Đảng đề ra yêu cầu đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội, đặt trong tổng thể nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thực hiện Chương trình công tác toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Hội nghị Trung ương 6 đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” và Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17-11-2022, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”, trong đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong sự đổi mới tổng thể tổ chức bộ máy nhà nước.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Thực tiễn những năm qua cho thấy, vai trò lãnh đạo của Đảng với Quốc hội trong thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng ngày càng rõ ràng, hạn chế sự chồng lấn, bao biện, làm thay. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội thể hiện ở việc xác định đúng vai trò, vị trí của Quốc hội, đề ra định hướng cơ bản, phát huy dân chủ, tăng cường vai trò chủ động, sáng tạo và tạo điều kiện thuận lợi để Quốc hội hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Về quan điểm, nguyên tắc:

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo Cương lĩnh và các quan điểm, chủ trương của Đảng về tổ chức, hoạt động của Quốc hội; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà Hiến pháp, pháp luật quy định.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần đi đôi với đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và đặt trong tổng thể yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị theo phương châm thực hiện từng bước, có lộ trình hợp lý, phù hợp.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng tuân thủ nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tiễn của Việt Nam và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng; bảo đảm phát triển bền vững trong tương lai.

Về mục tiêu:

Mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là nhằm xây dựng Quốc hội vì nhân dân, thực sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, phát huy dân chủ, pháp quyền, khoa học, tăng tính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045; cụ thể là:

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để thực hiện hiệu quả hơn nữa chức năng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, vừa bảo đảm phát huy vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, vừa bảo đảm dân chủ trong hoạt động của Quốc hội. Tăng tính chuyên nghiệp, phát huy dân chủ, tính pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong khuôn khổ Hiến pháp; xác định rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội theo hướng rành mạch, chủ động, trách nhiệm, chuyên sâu, chuyên nghiệp, tăng tính nghiên cứu khoa học, nhạy bén, bao quát được hiệu lực hoạt động, đề xuất được sáng kiến nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Chất lượng hoạt động lập pháp được nâng cao, đổi mới quy trình, đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thực chất hơn; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát. Tăng tính công khai, minh bạch, bảo đảm thực hiện chức năng đại diện của nhân dân; đổi mới hình thức hoạt động của Quốc hội; xây dựng Quốc hội điện tử. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và cơ chế bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm các nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện bộ máy giúp việc khoa học, chủ động, chuyên nghiệp, chuyên sâu.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng Quốc hội khoa học, hiện đại, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch, dân chủ, hướng tới hoạt động thường xuyên, thực sự vì nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; thực hiện đầy đủ, chuyên nghiệp chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy và nhân sự cấp cao của các cơ quan nhà nước, hiến định vị trí, vai trò của Hội đồng bầu cử quốc gia, của cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Phát huy vị trí, vai trò trung tâm của đại biểu Quốc hội; xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, đồng bộ, thống nhất, ổn định, khả thi, công khai, minh bạch, thúc đẩy sáng tạo, bền vững, ứng phó kịp thời trước những chuyển biến nhanh của thực tiễn và hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo đảm giữ vững quốc phòng - an ninh trong điều kiện mới.

Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai biểu quyết thông qua nghị quyết về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV_Ảnh: Tư liệu

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách lớn

Trong thời gian qua, Quốc hội đã làm tốt nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành luật và nghị quyết của Quốc hội. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định nội dung thẩm tra bắt buộc về sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương của Đảng. Đảng đoàn Quốc hội đã phát huy vai trò tích cực, chủ động trong việc lãnh đạo, chỉ đạo đối với các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Các chủ trương, chính sách lớn, phức tạp đều được kịp thời báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư để có phương án giải quyết phù hợp, hiệu quả. Đảng đoàn Quốc hội luôn thực hiện nghiêm túc việc xin ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những định hướng lớn về nội dung các hoạt động của Quốc hội, những vấn đề chủ yếu của một số dự án luật, pháp lệnh quan trọng, có tác động và ảnh hưởng đến tình hình chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân.

Quốc hội kịp thời phản ánh với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư những ý kiến, kiến nghị của nhân dân về xây dựng đất nước nhằm góp phần vào việc định hướng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, hoạt động của Đảng đoàn Quốc hội đã có nhiều đổi mới trong việc xin ý kiến Bộ Chính trị. Các nội dung báo cáo xin ý kiến được phân thành nhóm vấn đề, để vừa bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, vừa phát huy dân chủ trong thảo luận của Quốc hội, bao gồm vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo cụ thể, vấn đề báo cáo để Bộ Chính trị nắm thông tin và xin được trình Quốc hội xem xét, thảo luận.

Kế thừa những kết quả trong thời gian qua, trong giai đoạn tiếp theo cần đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính sách, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối chính trị để giúp Đảng lãnh đạo Nhà nước toàn diện, trong đó có lãnh đạo Quốc hội. Với vai trò của mình, Quốc hội có nhiệm vụ thực hiện đường lối chính trị được tuyên ngôn trong Cương lĩnh và những chủ trương lớn của Đảng. Đường lối chính trị được xác định cụ thể trong văn kiện các kỳ đại hội Đảng và cụ thể hóa tại các hội nghị Trung ương bằng các nghị quyết chuyên đề xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chính sách xuất phát từ yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai, nâng cao chất lượng thảo luận về các vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, quốc phòng - an ninh, ban hành kịp thời nghị quyết; trong đó, xác định rõ các mục tiêu, gợi ý giải pháp và công cụ chính sách phù hợp để Nhà nước thực hiện. Một mặt, Quốc hội là một thành tố trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu chính sách này; mặt khác, là cơ quan thực hiện quyền lập pháp và giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng các chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, ổn định, công khai, minh bạch, có sức cạnh tranh quốc tế theo yêu cầu, định hướng của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045. Đổi mới phương thức lãnh đạo gắn liền với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các mục tiêu chính sách trong các lĩnh vực, ngành trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đã được hoạch định.

Đổi mới phương thức lãnh đạo bằng các chủ trương, đường lối, chính sách bảo đảm Đảng không làm thay Nhà nước, trong đó có Quốc hội, trong việc tổ chức thực hiện chính sách trên tất cả các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội; đồng thời, trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách lớn, Đảng lãnh đạo Nhà nước, trong đó có Quốc hội, tiếp tục hoàn thiện các chính sách cụ thể và thực hiện chính sách, đánh giá chính sách qua các chức năng của Quốc hội, như ban hành các nghị quyết, chương trình pháp luật, quyết định những vấn đề quan trọng, giám sát tối cao... Các mục tiêu chính sách cần được đo lường cụ thể bằng các chỉ số, các tiêu chí định lượng để thuận lợi cho việc thực hiện, giám sát đánh giá.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để Quốc hội thực hiện chính sách bằng chương trình pháp luật (thông qua các luật) và chương trình giám sát, thực hiện chính sách thông qua các quyết định quan trọng; trong đó, quá trình thực hiện ngân sách Quốc hội cũng là việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, từ việc phân bổ ngân sách, quyết toán ngân sách. Do đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, qua các hoạt động của Quốc hội đều gắn với việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng với tư cách là thành tố cốt lõi lãnh đạo hệ thống chính trị đã hoạch định và xây dựng. Như vậy, đổi mới phương thức lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng gắn liền với đổi mới hoạt động của Quốc hội, tạo thành xung lực lớn thúc đẩy quản trị quốc gia hiệu quả, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Thời gian qua, các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, như giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, phòng, chống tham nhũng, ứng phó với biến đổi khí hậu, tự chủ và xã hội hóa cung ứng dịch vụ công, giáo dục - y tế, phòng, chống đại dịch COVID-19,... đều gắn với chương trình pháp luật và quyết định những vấn đề quan trọng, như quyết định ngân sách, quyết định đầu tư công phục hồi kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19. Yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, đổi mới hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ ban hành luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo lập khung khổ pháp lý để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, định hướng đến năm 2045.

Thứ ba, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn liền trách nhiệm kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách. Nhà nước, trong đó có Quốc hội, thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách thông qua chương trình pháp luật, thông qua các luật, bảo đảm hiệu lực các luật và hệ thống pháp luật, sự tuân thủ pháp luật thông qua hoạt động giám sát, căn cứ vào các mục tiêu chính sách của từng lĩnh vực, từng ngành với các chỉ tiêu, tiêu chí cụ thể.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng Đảng kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện các chính sách, tác động chính sách (sau thực hiện), thông qua sơ kết, tổng kết các nghị quyết được ban hành vào giữa nhiệm kỳ hoặc kết thúc nhiệm kỳ của Nhà nước, Quốc hội, để bảo đảm việc kiểm tra, giám sát đánh giá kết quả thực hiện, tác động của các chủ trương, chính sách một cách đầy đủ nhất.   

Thứ tư, nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm tăng cường chất lượng phân tích chính sách, tham vấn chính sách, bảo đảm các mục tiêu chính sách phù hợp, đồng thuận đối với Nhà nước, nhất là Quốc hội với cộng đồng xã hội. Mấu chốt của việc đổi mới ở đây là, trên cơ sở đường lối chính trị thể hiện trong Cương lĩnh, các nghị quyết được ban hành “đúng” và “trúng”, nhất là các nghị quyết chuyên đề, tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho Quốc hội tổ chức thực hiện. 

Thứ năm, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để tạo sự chủ động, sáng tạo trong hoạt động của Quốc hội, nhất là hoạt động lập pháp đối với một số chủ trương, đường lối, chính sách mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị quyết định khung để Quốc hội thảo luận, quyết định cụ thể trong phạm vi chủ trương của Đảng; đồng thời, giúp Bộ Chính trị kịp thời điều chỉnh các nội dung chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề quan trọng, mà qua thảo luận tại Quốc hội còn có ý kiến khác nhau. Với từng nhiệm kỳ Quốc hội, Đảng có định hướng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cho cả nhiệm kỳ.

Đoàn Giám sát Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thực hiện giám sát tiến độ Dự án sân bay Long Thành tại tỉnh Đồng Nai_Ảnh: TTXVN

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác tổ chức cán bộ

Đại hội VI của Đảng đánh dấu sự đổi mới trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, trong đó có quan điểm đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Báo cáo chính trị của Đại hội VI chỉ rõ: “Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước. Nêu cao vị trí và vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho các cơ quan dân cử thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo Hiến pháp quy định. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật... Chấn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh, gọn, có đủ năng lực thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách cụ thể”(3).

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã đề cập thêm một nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội là quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước(4). Nhiệm vụ đặt ra với Quốc hội là kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, đổi mới quy trình ban hành luật. Quốc hội cần làm tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Thời gian qua, Đảng đoàn Quốc hội đã thực hiện nhiều quy trình chặt chẽ nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng với Quốc hội và công tác tổ chức cán bộ của Quốc hội. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn những nhiệm kỳ vừa qua, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội về công tác tổ chức cán bộ như sau:

Một là, trước mỗi kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, Đảng đoàn Quốc hội xây dựng đề án công phu về các nội dung lớn của cuộc bầu cử, trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến; đồng thời, triển khai nghiêm túc kết luận của Bộ Chính trị về đề án bầu cử. Tuy nhiên, Đảng không làm thay, cụ thể là không ấn định về cơ cấu đại biểu, không quy định cơ cấu “cứng” phân bổ cho cơ quan, tổ chức. Thời gian qua, hầu hết người giới thiệu ứng cử trong cơ cấu “cứng” là lãnh đạo cơ quan, tổ chức làm cho tỷ lệ đại biểu là nhà khoa học và các giới, các ngành chưa cao, dẫn đến việc tỷ lệ không nhỏ đại biểu Quốc hội “gánh nhiều cơ cấu”. Xu hướng tăng dần đại biểu Quốc hội chuyên trách từ khoảng 5 - 6% tổng số đại biểu Quốc hội đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX lên 25,1% ở Quốc hội khóa XI(5), khoảng 35 - 40% ở Quốc hội khóa XIII và tăng khoảng 5% ở mỗi nhiệm kỳ tiếp theo là tín hiệu tốt; bởi vì, việc tăng số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách sẽ giúp Quốc hội hoạt động hiệu quả, chất lượng hơn.

Hai là, đổi mới công tác cán bộ, lựa chọn người đủ đức, đủ tài tham gia vào Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nhân sự cấp chiến lược phải chịu trách nhiệm trước Đảng về thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, tức là gắn việc lựa chọn nhân sự cấp chiến lược với thực hiện chính sách; nói cách khác là tích hợp phương thức lãnh đạo bằng công tác cán bộ với phương thức lãnh đạo bằng chính sách. Nhân sự cơ cấu vào các ủy ban của Quốc hội như hiện nay về cơ bản là phù hợp, bảo đảm sự kết nối giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các ủy ban, các cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm có 3 cơ quan giúp việc về các lĩnh vực công tác đại biểu, dân nguyện, lập pháp(6). Đặc biệt, Ban Công tác đại biểu làm tốt công tác tham mưu, việc phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân đi vào nền nếp; nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Trong thời gian qua, Đảng đã lãnh đạo Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ là cơ quan thường trực của Quốc hội, chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phân công Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, nghị quyết và các báo cáo, dự án khác theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; thực hiện các nội dung thuộc chương trình giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ba là, cần có cơ chế tăng cường vai trò, sự tham gia của Đảng đoàn Quốc hội và tổ chức đảng ở Thường trực Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội từ sớm, từ xa trong tham mưu với Đảng để quyết định chủ trương, đường lối, chính sách; có quy định về sự phối hợp giữa Đảng đoàn Quốc hội và cơ quan trình nội dung nghị quyết ra Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhằm tạo sự đồng thuận trong hoạt động của Quốc hội. Đề cao vai trò của Bí thư, Phó Bí thư Đảng đoàn Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả hoạt động của Quốc hội, mở rộng thêm phạm vi đánh giá và cụ thể hóa bằng việc đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách mà Đảng đã hoạch định.

Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo qua các tổ chức đảng trong Quốc hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội đồng Dân tộc và 9 ủy ban(7) (từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII) thông qua các tổ chức đảng tại đây. Hội đồng Dân tộc và các ủy ban có thường trực, gồm chủ tịch/chủ nhiệm, phó chủ tịch/phó chủ nhiệm và ủy viên hoạt động chuyên trách. Cần sớm hoàn thiện tổ chức đảng trong Quốc hội để gắn kết, quản lý chặt chẽ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quy định rõ vai trò của tổ chức đảng ở Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong lãnh đạo cơ quan tương ứng của Quốc hội; có mô hình tổ chức đảng đặc thù trong Quốc hội khi tăng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.

Năm là, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn đại biểu Quốc hội, tập trung vào các đại biểu Quốc hội chuyên trách, giúp Đoàn đại biểu Quốc hội phát huy được vai trò là cầu nối giữa đại biểu và công dân cử tri, cung cấp thêm nhiều thông tin, dữ liệu minh bạch hơn cho hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, giúp đại biểu Quốc hội thực hiện tốt nhiệm vụ.

Sáu là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng qua tìm kiếm, lựa chọn nhân tài là nhân sự cấp chiến lược vào bộ phận hỗ trợ, tham mưu cho Quốc hội, điển hình như vị trí Tổng Thư ký Quốc hội và tăng cường kỷ cương hành chính, mục tiêu cải cách hành chính đối với Văn phòng Quốc hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng công tác vận động, tuyên truyền

Quốc hội thông qua cử tri, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là vận động nhân dân thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ nhất, Đảng chú ý lắng nghe ý kiến, tiếng nói của mọi tầng lớp nhân dân. Để đổi mới hiệu quả phương thức lãnh đạo của Đảng bằng công tác vận động, tuyên truyền, mỗi đảng viên tham gia Quốc hội phải ra sức rèn luyện đạo đức gắn với học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là về phát huy sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... để có phương pháp đúng đắn, hiệu quả trong việc vận động, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Thứ hai, đại biểu Quốc hội là cầu nối giữa cử tri và Quốc hội, lắng nghe tiếng nói của cử tri về những vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, tập hợp những ý kiến đó, chuyển tải đến Đảng; đồng thời, tập hợp, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan, hội đồng, các ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội có nhiệm vụ tham vấn minh bạch đối với nhu cầu, ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân về các chủ trương, đường lối và chính sách, đánh giá tác động của chính sách, pháp luật trong chương trình pháp luật, đánh giá thực hiện chính sách, tác động chính sách; từ đó, tham mưu với Đảng hoạch định “đúng” và “trúng”, kịp thời những vấn đề phát triển kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh trong bối cảnh mới.

Thứ tư, công tác dân nguyện không chỉ tham mưu thực hiện tốt công tác dân nguyện của Quốc hội, mà còn chủ động tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn, thư của công dân, đi sâu phân tích, đánh giá kiến nghị cử tri, đôn đốc các cơ quan giải quyết kiến nghị của cử tri; từng bước khắc phục được tình trạng chuyển đơn, thư qua lại giữa các cơ quan của Quốc hội, thực hiện khẩn trương, hiệu quả hơn việc trả lời và thực hiện kiến nghị của cử tri. Chú trọng nắm bắt tâm tư, ý chí, nguyện vọng của nhân dân về các chủ trương, đường lối, chính sách, thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội kịp thời chuyển tải đến các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Thứ năm, thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên của Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội cần phải ra sức học tập đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thực hiện “nói đi đôi với làm”, trở thành tấm gương sáng trong cơ quan và bên ngoài xã hội; từ đó, tạo uy tín, sức hút tự nhiên đối với các tầng lớp nhân dân trong xã hội./.

Tuyển người nào, chắc người đó

 

Với phương châm “Tuyển người nào, chắc người đó”, Hội đồng nghĩa vụ quân sự (NVQS) các cấp tại TP Hồ Chí Minh đã triển khai hiệu quả, bảo đảm chất lượng công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ năm 2023.

Thiếu tướng Lê Xuân Thế, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh đã có cuộc trao đổi với phóng viên (PV) Báo Quân đội nhân dân về công tác tuyển quân năm nay.

PV: Thưa đồng chí, công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ năm 2023 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã được triển khai như thế nào?

Thiếu tướng Lê Xuân Thế: Phát huy truyền thống, vận dụng những bài học kinh nghiệm từ những năm trước, thành phố đã chủ động triển khai công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ từ rất sớm, trọng tâm là việc quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm các văn bản, quyết định của Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu 7 và các cấp về việc tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, nhất là thực hiện nghiêm Chỉ thị số 98/CT-BQP ngày 26-10-2019 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc tăng cường biện pháp nâng cao chấ`t lượng công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ trong tình hình mới. Với đặc thù riêng của TP Hồ Chí Minh, Hội đồng NVQS các cấp đã tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 09-CT/TU ngày 28-4-2021 của Ban Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh về nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ gắn với đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho bộ đội xuất ngũ giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo; Quyết định số 887/QĐ-UBND ngày 15-3-2021 của UBND TP Hồ Chí Minh phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng và bố trí công tác cho đảng viên vừa hoàn thành NVQS phục vụ tại ngũ trên địa bàn thành phố. Cùng với đó, các quận, huyện và TP Thủ Đức tiếp tục thực hiện tuyển quân tròn khâu với phương châm “Tuyển người nào, chắc người đó”.

PV: Trong công tác tuyển quân năm 2023, những giải pháp, cách làm hiệu quả nào đã được triển khai, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Lê Xuân Thế: Hội đồng NVQS các cấp đã tham mưu ban hành đầy đủ các văn bản trong thực hiện công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, tổ chức triển khai chặt chẽ, đúng quy trình các bước gọi công dân nhập ngũ, đặc biệt thực hiện tốt phương châm tuyển quân tròn khâu. Công tác bình cử và công khai được thực hiện nghiêm túc, rộng khắp từ cấp ủy, chính quyền, Hội đồng NVQS, khu phố, ấp, tổ dân phố đến từng gia đình. Đồng thời, tổ chức công khai danh sách và thông báo kết quả khám sức khỏe, bình cử lấy ý kiến nhân dân trước khi phát lệnh gọi nhập ngũ, được nhân dân đồng tình, nhất trí cao. Một trong những cách làm hiệu quả của thành phố là Hội đồng NVQS và các cấp, các ngành, địa phương đã chủ động thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về NVQS với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, dễ hiểu và sát với tình hình thực tế của thanh niên thành phố. Các quận, huyện và TP Thủ Đức chủ động hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị nhận quân tổ chức đưa công dân chuẩn bị nhập ngũ đến các đơn vị Quân đội tìm hiểu về truyền thống, môi trường hoạt động trong Quân đội; đưa công dân đến thăm các khu căn cứ cách mạng, khu di tích, giao lưu với nhân chứng lịch sử, cựu chiến binh tiêu biểu... bồi đắp niềm tin, lý tưởng, xác định tốt trách nhiệm, tự giác thực hiện Luật NVQS cho thanh niên và gia đình. 

PV: Chất lượng tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ năm 2023 của thành phố đã nâng lên như thế nào, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Lê Xuân Thế: TP Hồ Chí Minh luôn xác định quyết tâm không chỉ bảo đảm giao quân đủ về số lượng mà chất lượng thanh niên nhập ngũ phải ngày càng nâng cao, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Thành phố luôn ưu tiên tuyển chọn cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, con em cán bộ, đảng viên, công dân có trình độ học vấn cao và chuyên môn phù hợp với yêu cầu của Quân đội. Các cấp thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, ngoài việc sơ tuyển ban đầu về trình độ học vấn, sức khỏe còn xem xét đến các yếu tố khác như chính trị, đạo đức, gia cảnh, tư tưởng của công dân chuẩn bị gọi nhập ngũ. Năm nay, thành phố phấn đấu cử tuyển đảng viên chính thức nhập ngũ đạt từ 1% trở lên so với chỉ tiêu, công dân nhập ngũ có trình độ học vấn đại học, cao đẳng, trung cấp từ 35% trở lên, công dân nhập ngũ có sức khỏe loại 1 và loại 2 đạt từ 70% trở lên... Trên thực tế, các địa phương đã tổ chức thực hiện tốt việc sơ tuyển ban đầu, chọn số lượng điều khám phù hợp, hạn chế những sai sót trong khám tuyển. Từ đó, chất lượng khám sức khỏe đã bảo đảm tốt với tỷ lệ công dân có sức khỏe loại 1, loại 2 đều tăng hơn so với năm 2022.

PV: Đề nghị đồng chí cho biết những công việc trọng tâm cho lễ giao quân và công tác tiếp nhận, huấn luyện chiến sĩ mới?

Thiếu tướng Lê Xuân Thế: Bộ tư lệnh TP Hồ Chí Minh chỉ đạo các cơ quan theo dõi, hướng dẫn các quận, huyện và TP Thủ Ðức thực hiện tốt công tác chuẩn bị giao quân, tổ chức hội trại tòng quân, lễ giao nhận quân phải bảo đảm về hình thức, nội dung và chương trình; hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị nhận quân để thống nhất hồ sơ, danh sách theo chỉ tiêu, thời gian, địa điểm giao nhận quân. Bộ tư lệnh thành phố cũng đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và Trung đoàn Gia Định phối hợp với địa phương chốt hồ sơ danh sách theo chỉ tiêu tuyển nhận chiến sĩ mới năm 2023; chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, tổ chức biên chế khung huấn luyện từ tiểu đội đến tiểu đoàn, cán bộ khung huấn luyện được lựa chọn và tập huấn, chuẩn bị sân, bãi, thao trường, vật chất huấn luyện theo quy định... giúp chiến sĩ mới yên tâm tư tưởng, xác định tốt quyết tâm ngay khi vào đơn vị.

Nguồn: QĐND.

Chiến sĩ thành đồng: Con gái mẹ sắp thành chiến sĩ

 

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Quý Mão 2023, ngôi nhà của cô gái trẻ Huỳnh Trần Diễm Thúy (sinh năm 1999, ngụ tại ấp Hòa Hiệp, xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh) luôn rộn tiếng cười khi có nhiều bạn bè, người thân đến chúc mừng Thúy trước khi lên đường nhập ngũ năm 2023.

Diễm Thúy tâm sự: “Tôi vẫn còn vẹn nguyên niềm xúc động, vui mừng khi được biết tin trúng tuyển thực hiện nghĩa vụ quân sự năm nay. Tôi mừng vì ước mơ trở thành nữ quân nhân từ lâu đã thành hiện thực. Tuy nhiên, tôi cũng lo lắng vì đây là lần nhập ngũ chính thức, sẽ khác nhiều so với các chương trình giáo dục quốc phòng, an ninh hay học kỳ quân đội mà tôi từng tham gia”.

Vốn yêu mến màu áo Bộ đội Cụ Hồ nên qua tìm hiểu quy định tuyển nữ công dân phục vụ trong Quân đội, Thúy đã quyết tâm học tập, rèn luyện để đủ điều kiện nhập ngũ. Năm 2022, sau khi hoàn thành chương trình học tập ngành lưu trữ học tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội phân hiệu TP Hồ Chí Minh, Diễm Thúy đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ. “Tôi rất tự hào khi được bố mẹ đồng thuận và động viên nhập ngũ. Mẹ tôi là cán bộ ngành công an, bố tôi từng phục vụ trong Quân đội. Đây là điểm tựa truyền thống gia đình vững chắc để tôi phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ trong môi trường mới sắp tới”, Diễm Thúy bày tỏ.

Chiến sĩ thành đồng: Con gái mẹ sắp thành chiến sĩ
Bố mẹ động viên, dặn dò Huỳnh Trần Diễm Thúy trước ngày nhập ngũ. 

Những ngày qua, Đại úy Trần Thị Yên, công tác tại Công an huyện Cần Giờ, mẹ của Diễm Thúy cũng sống cùng tâm trạng háo hức chờ đón ngày nhập ngũ của con gái. Chuẩn bị hành trang cho con gái trước khi lên đường nhập ngũ, chị Yên ân cần dặn dò, truyền thụ kinh nghiệm sống, học tập, rèn luyện trong môi trường có kỷ luật nghiêm minh. Chị Yên cho biết: “Gia đình rất tự hào khi con gái đã có suy nghĩ mong muốn được rèn luyện trong môi trường quân ngũ. Là người mẹ, tôi mong rằng khi con gái khoác trên người bộ quân phục, sẽ luôn mạnh mẽ, vững bước với niềm tin, khát vọng của tuổi trẻ để trưởng thành hơn. Gia đình sẽ luôn là hậu phương động viên Thúy thực hiện ước mơ của bản thân”.

Thời gian tới, Diễm Thúy sẽ cùng hàng nghìn thanh niên ưu tú của Thành phố mang tên Bác lên đường nhập ngũ. Bằng tri thức, tài năng, chuyên môn đào tạo, Diễm Thúy mong muốn sẽ được đóng góp vào sự phát triển của Quân đội. “Tôi đã chuẩn bị tốt cho bản thân về tư tưởng và sức khỏe để có thể vượt qua mọi khó khăn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong "trường học lớn". Tôi mong muốn sẽ được phục vụ, cống hiến lâu dài trong Quân đội”-Thúy tâm sự.

Nguồn: QĐND.

GẮN GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG

 

GẮN GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn. Cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác. Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận.

Phải tăng cường tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới.

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Bác luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế Việt Nam”

 Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc chiến lâu dài, gay go, quyết liệt. Chính vì sự quyết tâm trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã củng cố niềm tin trong nhân dân và đó cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

BỌN DỊ HỢM, KHÁC NGƯỜI SỬ DỤNG MẶC ĐỒ LÍNH NGỤY PHẢI CÓ CHẾ TÀI XỬ LÝ NGHIÊM!

     Trên mạng xã hội gần đây đang lan truyền nhiều hình ảnh tại một số tỉnh, các hội nhóm ‘thích đồ lính’ với những bộ trang phục như côn đồ thường xuyên tụ tập, đi tốp đông vào những khu du lịch, quán cà phê, đi bộ ngoài đường phố để khoe gu thời trang dị hợm của bản thân nơi đông người.
     Câu chuyện mặc đồ “ngụy” không phải lần đầu tiên được nhắc tới, thậm chí còn bị người dân cả nước lên án, tẩy chay nhưng vẫn có nhiều thành phần nhận thức và tâm lý có vấn đề, mà tiếp tục khoác lên mình bộ quần áo đại diện cho những kẻ khát nước, thậm chí còn tự cho mình oai phong lẫm liệt.
     Không hiểu oai chỗ nào khi trong những thời điểm nóng như khi Việt Nam xảy ra tranh chấp chủ quyền biển đảo thì không thấy tăm hơi câu lạc bộ thủy quân lục túi, lính thủy đánh bạc này đâu, nhưng trong thời bình thì lại kéo bè kéo cánh nghênh ngang giữa chốn đông người. Có lẽ họ đã quên bộ trang phục trên người cũng là trang phục của những kẻ cách đây và chục năm đã từng rước hơn năm vạn quân Mỹ giẫm đạp lên đất đai của Tổ tiên, đưa máy bay ném bom tàn phá nhà cửa, đường xá, bệnh viện, trường học...
Yêu nước ST.

Thủ đoạn viết lại lịch sử, làm sai lệch chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

 50 năm đi qua, đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, ý nghĩa chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Những số liệu đưa ra đã được thẩm định, đánh giá với bằng chứng xác thực, cả phía Mỹ và Việt Nam đều thừa nhận chứ không phải là những con số tự nghĩ ra hay thích thì ghi số này, sau lại sửa số khác. Cần khẳng định rõ, chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” có được nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn và nghệ thuật quân sự tài tình của Việt Nam.

VÀI Ý VỀ SỰ CỰC KỲ NGU VÀ LÁO CỦA ÔNG GS NGUYỄN ĐÌNH CỐNG!

     Tôi đã viết rất nhiều về nhiều lĩnh vực, Mai Nam Thắng (đại tá, nhà thơ), trong một hội nghị của Hội đồng Lý luận Phê bình VHNT Trung ương ngồi bên tôi, nói: “Người ta đồn phải có một tập đoàn mang danh Đông La mới viết được như thế”. Tôi bảo: “Nếu đúng có một tập đoàn như vậy mà không có tôi thì cũng đếch viết được”. Thực tế tôi lại không phải là người ham hố chuyện phê phán người khác, nhưng người ta cứ chuyển thông tin đến cho tôi, mà khổ cái, tôi đã thấy sai trái thì lại không thể không lên tiếng. Suốt cả trên hai chục năm đã là như thế. Như vừa rồi một cô bạn đọc cứ gởi những đường link năn nỉ tôi viết về “thằng bin” (Nguyễn Đình Bin), và mới hôm qua, nhân tôi viết về giáo dục, một bạn lại muốn tôi viết về “thằng cống” (GS Nguyễn Đình Cống). Bạn ấy nhắn tin: “Chú ơi chú đánh giá sao về bài viết "Đổi mới giáo dục" của ông Nguyễn Đình Cống?” và gởi đường link dẫn đến bài “AI VÀ CÁI GÌ GÂY RA TỆ NẠN GIÁO DUC” mà ông Cống đã viết trên facebook. Tôi vô đọc lướt, trả lời: “nói về thực trạng thì có cái đúng, nhưng về nguyên nhân thì rất ngu, tôi đã viết nhiều về thằng già này rồi”/ “Vâng! bài chú viết lâu chưa ạ. Điều tệ là ông ta phỉ nhổ vào cuộc kháng chiến của dân tộc”/ “tôi sẽ đăng lại vài bài về thằng già này”/ “Vâng , chú”.

Trong bài mới viết về giáo dục, Nguyễn Đình Cống chửi CNML (Chủ nghĩa Mác-Lê) là chính, và công khai kết tội “những người lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước”. Cụ thể ông ta viết: “CNML, ngoài một số điều tốt đẹp dùng để tuyên truyền thì nó chứa những điều trái với Đạo Trời, không thuận lòng người. Đó là những độc hại do sự tàn bạo, dối trá của chuyên chính vô sán cùng với độc quyền đảng trị. Còn việc ai phải chịu trách nhiệm chinh? Đó là những người lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và nhà nước”.

Vậy hôm nay, bắt chước anh Nguyễn Văn Lưu, tôi sẽ “chỉ điểm” sự phản động của Nguyễn Đình Cống cho các vị lãnh đạo và cơ quan chức năng xử lý. Nếu lại “im lặng đáng sợ” thì hoặc Nguyễn Đình Cống đúng, hoặc với vụ “Nguyễn Đình Cống” này cũng như nhiều chuyện tôi đã viết, pháp luật VN đã tỏ ra bất lực.

Có điều, Nguyễn Đình Cống không thể đúng được. Khi viết về Triết học Mác thì Nguyễn Đình Cống dốt ngang Trần Mạnh Hảo. Có thể do làm về bê tông, cầu cống, đầu óc ông GS đã hoá đặc như bê tông rồi. 

*** 

Nguyễn Đình Cống viết: “Bản chất của CNML là làm cách mạng để tiêu diệt giai cấp hữu sản, để chôn vùi chế độ tư bản, để công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, để thiết lập nền chuyên chính vô sản với độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản”. 

Viết vậy, Nguyễn Đình Cống đã nhai lại như con vẹt những luận điệu xuyên tạc Mác để chống Mác. Sự thực, Chủ nghĩa Mác như tôi đã viết:

“Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen viết: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản... là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất... trên cơ sở những người này bóc lột những người kia” (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb Chính trị Quốc gia, H., 1998, tr.107); “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác” (Sđd, tr.114), rồi: “Cái sở hữu làm ra, kiếm được một cách lương thiện... chúng tôi có cần gì phải xóa bỏ cái đó” (Sđd, tr.108). 

Như vậy, nội hàm chính của khái niệm “đấu tranh giai cấp” chính là “tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu để nô dịch người khác”, “Lật đổ sự thống trị”, xóa bỏ chế độ “Người bóc lột người”. 

***

Tôi đã viết mấy bài về Nguyễn Đình Cống. Hôm nay chỉ nhắc lại mấy ý.
Nguyễn Đình Cống viết: 

“Khi ĐCS còn trong giai đoạn vận động làm CM, để lôi kéo được đông đảo quần chúng đi theo thì có nhu cầu tuyên truyền về sự chính nghĩa, về lực lượng hùng hậu, về tài năng và đạo đức của lãnh tụ, về tương lai tươi sáng của xã hội. Những thứ đó phần lớn là chưa có thật, phải dùng lối ngụy biện để bịa ra, bịa một thời gian dài rồi người nói và người nghe đều tưởng như thế thật”.

          Theo cái nhìn của lương tri, cuộc cách mạng giành lại nền độc lập, chủ quyền đất nước tất phải là chính nghĩa; tài năng và đạo đức của lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng là sự thật; Nguyễn Đình Cống thật láo xược khi cho là “phần lớn là chưa có thật”.

***

Về Bác Hồ, để trở thành lãnh tụ kính yêu, ngoài thiên tài, Bác Hồ cũng phải có một cái Đức cao cả. Chỉ như vậy Bác mới thu phục được nhân tâm của cả một dân tộc. Trường hợp Giáo sư Bác sĩ Tôn Thất Tùng theo cách mạng có thể là thí dụ điển hình. Trong một cuộc phỏng vấn của báo Pháp, ông cho biết dù xuất thân từ một gia đình quý tộc nhà Nguyễn, từ nhỏ ông đã rất sợ người Pháp vì chứng kiến cảnh binh lính Pháp đánh đập dân An Nam. Lớn lên, ông càng thấy sự phân biệt giữa người Pháp và người Việt. Nhưng những ai đỗ đạt và có tài năng như ông thì sẽ bị mua chuộc để phục vụ cho chế độ bảo hộ. Từ khi còn là học sinh ông đã hâm mộ nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc. Lần đầu tiên ông gặp Việt Minh là được họ mời đi chữa bệnh cho một ông cụ già mà ông rất ấn tượng bởi cụ có “hai con mắt rất sáng”. Ông thấy cụ là một con người khác thường, kỳ lạ, có sức mạnh vô hình lôi cuốn ông. Sau thì ông được biết đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã gọi Chủ tịch là “cụ” xưng “con” vì cảm thấy trước Người, ông bé nhỏ như đứa con nít. Vì cảm phục tinh thần yêu nước, con đường cứu nước của Bác, ông đã dễ dàng từ bỏ hết cuộc sống sang trọng, tiện nghi vào rừng theo kháng chiến, mang theo người vợ mới cưới mới 16 tuổi và đứa con mới 6 tháng. Ông kể Bác thường không nói chuyện chính trị mà chỉ nói chuyện đạo đức bình thường, nghi Bác chính là Nguyễn Ái Quốc, nhiều lần tính hỏi nhưng gặp Bác lại sợ. Ông nói: “có cái gì đó, cái thương, cái nể lắm, làm cho tôi gắn bó với ông cụ lắm”.

Với phát minh “cắt gan có kế hoạch”, GS Bác sĩ Tôn Thất Tùng đã được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học nhiều nước. Ngót một phần tư thế kỷ, ông đã sống, làm việc và trưởng thành dưới sự quan tâm ân cần của Bác Hồ. Khi nghe tin Bác mất ông đã viết những dòng vô cùng xúc động như sau:

“Bác ơi! Công ơn Bác với con thật như trời, như bể. Con nhắc lại mấy kỷ niệm đánh dấu từng chặng đời con, để ghi vào lòng, tạc vào dạ rằng, chính Bác là người đã thay đổi đời con, quyết định cả sự nghiệp khoa học của con. Bác là cha, người thầy đã tái sinh và dạy dỗ con”.

Việc khâm phục và kính trọng những bậc vĩ nhân có công với dân tộc là lẽ tự nhiên với những người có lương tri và thiện tính. Vậy mà Nguyễn Đình Cống cho tài năng và đạo đức của lãnh tụ “phần lớn là chưa có thật” thì ông ta đúng là một kẻ bất lương.

***

Chi với con mắt mù lịch sử, phản động, Nguyễn Đình Cống đã nhai lại những luận điệu xuyên tạc như thế này:

“Trong lúc cần duy trì chế độ và sự thống trị của mình Đảng lại phải ngụy biện, phải gian dối trong tuyên truyền. Sau 1954 đất nước bị chia cắt. Thống nhất là nguyện vọng của toàn dân. Cả hai Hiệp định Genève và Paris đều ghi là sẽ thống nhất bằng đường lối hòa bình, thông qua tổng tuyển cử. Thế nhưng cả 2 hiệp định đều bị phá hoại, dẫn tới cuộc chiến tàn khốc 20 năm và ĐCS đã thắng trong cuộc chiến đó. Ai đã phá hoại hiệp định. Chúng ta dựa vào một phần sự thật để tuyên truyền là chính Mỹ-Ngụy (Diệm, Thiệu) phá hoại hiệp định và gây chiến tranh, nhưng phía bên kia và phần lớn thế giới lại nêu đầy đủ chứng cứ là chính Bắc Việt mới là bên phá hoại hiệp định trước tiên và chủ động gây chiến”.

Sự thật, Việt Nam Cộng hòa, hậu thân của Quốc gia Việt Nam, với sự giật dây của Mỹ, đã vi phạm Hiệp định Genève, từ chối tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước; rồi trở thành cái cầu bắc cho Mỹ và chư hầu trực tiếp tham chiến tại VN. Để khách quan, tôi trích dẫn chính “tài liệu phía bên kia”.

Theo https://vi.wikipedia.org/, về Ngô Đình Diệm, trong chuyện “Từ chối tổng tuyển cử”, viết:

“Theo Mortimer T. Cohen thì Ngô Đình Diệm không chấp nhận tổng tuyển cử, vì ông biết rằng mình sẽ thua. Không ai có thể thắng cử trước Hồ Chí Minh, vì ông là một George Washington của Việt Nam”; “Báo cáo của CIA gửi Tổng thống Mỹ Eisenhower cũng cho rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu mở cuộc tổng tuyển cử”; “Năm 1956, Ngoại trưởng Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Trong tình thế này, Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Theo Cecil B. Currey, Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không”. 

Chính TT Mỹ Eisenhower cũng tự tay viết: “… nếu các cuộc bầu cử được tổ chức vào thời điểm xảy ra giao tranh, có thể 80 phần trăm dân số sẽ bầu cho Hồ Chí Minh Cộng sản làm lãnh đạo của họ chứ không phải Quốc trưởng Bảo Đại. Thật vậy, việc Bảo Đại thiếu khả năng lãnh đạo và động lực là một yếu tố khiến người Việt Nam cảm thấy phổ biến rằng họ không có gì để đấu tranh”. (… had elections been held as of the time of the fighting, possibly 80 per cent of the population would have voted for the Communist Ho Chi Minh as their leader rather than Chief of State Bao Dai. Indeed, the lack of leadership and drive on the part of Bao Dai was a factor in the feeling prevalent among Vietnamese that they had nothing to fight for). (Nguồn: Dwight D. Eisenhower, Nhiệm vụ thay đổi, 1953-56 (Garden City, NY: Doubleday & Compnay, Inc., 1963), tr. 372).

Vậy mà Nguyễn Đình Cống viết: “… nhưng phía bên kia và phần lớn thế giới lại nêu đầy đủ chứng cứ là chính Bắc Việt mới là bên phá hoại hiệp định trước tiên và chủ động gây chiến”, chứng tỏ ông ta hiện nguyên hình là một kẻ phản động ngu xuẩn, điên cuồng. Những đoạn tài liệu của chính phía Mỹ trên y như những cái tát vả vào mồm một thằng già đã trắng trợn xuyên tạc sự thật.

***

Chưa hết, không ngờ một GS, từng là trưởng khoa tại một trường đại học “dưới chế độ XHCN”, lại có một lý sự kỳ quái như thế này:

“Thực chất là chế độ Diệm đàn áp cộng sản nhưng người ta lại dùng cách đánh tráo khái niệm để ngụy biện thành “Đàn áp những người yêu nước, đàn áp nhân dân”. Đánh tráo như vậy nhằm kích động hận thù dân tộc”.

Chỉ là một kẻ thù điên cuồng của chế độ, một kẻ bất lương mới có một cái nhìn lộn ngược chính, tà, thiện, ác như vậy.

Trước bao linh hồn của các chiến sĩ hy sinh trong tù ngục, trước bao linh hồn các chiến sĩ hy sinh trong hai cuộc kháng chiến khốc liệt để có được ngày hòa bình hôm nay, trong đó có đồng đội của tôi, tôi không chửi Nguyễn Đình Cống là một “thằng già láo” thì tôi không còn là tôi nữa!

“Thằng già” này cần phải hiểu lý lẽ của lương tri, bất cứ ai chống lại sự bán nước, chống lại sự xâm lược của ngoại bang tất sẽ là người yêu nước. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, thực chất là con bài giúp Pháp thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương. Khi Pháp thua tại Điện Biên Phủ, Eisenhower muốn có một chính phủ khác chính phủ của một ông Vua bù nhìn để làm giảm sự hấp dẫn của Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm đã được Mỹ chọn là quân bài giúp Mỹ thế chân Pháp. Bảo Đại đã phải cho Diệm một chức vụ Thủ tướng. Nhưng chỉ hơn 1 năm sau, Diệm đã dùng tiền của CIA tổ chức cuộc Trưng Cầu Dân Ý gian lận để phế bỏ Bảo Đại và lên làm TổngThống. Hãy xem đoạn văn dưới đây gởi những quan thầy Pháp của Ngô Đình Thục, anh ruột Ngô Đình Diệm, người đã dựa vào thế lực công giáo, giúp em mình đoạt quyền từ Bảo Đại, để xem rõ hơn cái tính “chính nghĩa” của Ngô Đình Diệm:

     "...Với tư cách là người con của một gia đình mà thân phụ tôi đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi (Ngô Đình Khả) cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tịnh.

      Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin – cho đến khi được chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp...."(http://www.sachhiem.net/TCN/TCNls/TCNls06.php)

Về sự thế chân Pháp duy trì cuộc chiến ở VN, Cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara, “công trình sư” của Mỹ trong chiến tranh VN trong hồi ký của mình đã phải thú nhận: “Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp!” Maxwell Taylor, từng là đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH, đã nói: “Tất cả chúng ta đều có phần của mình trong thất bại của Mỹ ở Việt Nam và chẳng có gì là tốt đẹp cả. Không hề có một anh hùng nào mà toàn là những kẻ ngu xuẩn. Chính tôi cũng nằm trong số đó”. (We all have a share in it, and none of it is good. There are no heroes, just bums. I include myself in that.https://en.wikiquote.org/wiki/Maxwell_D._Taylor)
     Vậy có lẽ nào những người cộng sản tiến hành cuộc chiến giành lại chủ quyền đất nước, chống Diệm, chống lại cuộc chiến mà những người gây ra đã tự thừa nhận sai lầm như trên lại không phải là “người yêu nước” như cái nhìn thù địch, ngu xuẩn của Nguyễn Đình Cống?
Yêu nước ST.

TRÍ THỨC TRỞ CỜ, ĐẠI VIỆT GIAN HÀ SĨ PHU!

         Hà Sĩ Phu có tên khai sinh Nguyễn Xuân Tụ, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1940 tại huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, cùng quê với Nguyễn Quang A cũng là một nhân vật trở cờ chống lại chế độ đã từng nuôi nấng, che chở, đào tao để trở thành các tri thức. 
     Mới đây Hà Sỹ Phu hoang tưởng đến mức, cho rằng "Tổng Bí thư (ĐCSVN) là do Tàu duyệt nên chỉ bán nước cho Tàu..." rồi đổ lỗi cho Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng là do Cộng sản Việt Nam, do Công Hàm của Chính phủ Việt Nam gửi cho Trung Quốc. Thật buồn cười, đến đứa trẻ con cũng cười cho thối cả mặt vì nhận thức ấu trĩ, "có mắt không tròng", hợm hĩnh đến mù quáng khi cho rằng vì Việt Nam cùng chế độ với Trung Quốc nên Hoàng Sa là của Trung Quốc theo lập luận của ông ta.
     Với Hoàng Sa (chưa bàn về Trường Sa vì nhiều luận cứ làm dài bài viết), Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm năm 1974 là hành động xâm lược trắng trợn chủ quyền của Việt Nam từ tay ngụy quyền Sài Gòn dưới sự thông đồng của đế quốc Mỹ thời điểm đó. Việt Nam chưa bao giờ từ bỏ tuyên bố chủ quyền kể từ khi Trung Quốc Chiếm đóng trên quần đảo này từ tay ngụy Sài Gòn.
     Công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc năm 1958 công nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc không bao hàm Hoàng Sa và Trường Sa. Tại thời điểm đó Trung Quốc cũng chưa hề chiếm giữ bất kỳ hòn đảo nào trên hai quần đảo Hoàng Sa. Như vậy, Khẳng định Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không bao giờ công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà còn khẳng định lãnh hải của Trung Quốc mọi thời đại, cả về không gian và thời gian chỉ 12 hải lý và không có chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa.
     Thực tế, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, cách thời gian Công thư 1958 ra đời 16 năm, đánh chiếm đảo Gạc Ma và 1 số đảo phía Đông Quần đảo Trường Sa năm 1988 cách thời điểm Công thư 1958 ra đời 30 năm. Sau khi chiếm Hoàng Sa năm 1974. Lịch sử pháp lý từ thời Tiền Lê, Hậu Lê, thời nhà Nguyễn cho đến thời Pháp đô hộ, thời Mỹ xâm lược nước ta và cướp quyền điều hành miền Nam Việt Nam của VNDCCH đều do người Việt Nam quản lý và sử dụng Quần đảo Hoàng sa và Trường Sa. Như vậy, về tính lịch sử, tính pháp lý, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Mọi người dân Việt Nam phải lên tiếng bảo vệ Công Thư 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Đó chính là chúng ta đang đấu tranh bảo vệ tính pháp lý của hai quần đảo Hoàng Sa và một phần phía Đông Quần đảo Trường Sa của Việt Nam đang bị Trung Quốc xâm lược. 
     Sự thật của Công Thư Phạm Văn Đồng không hề làm thay đổi ý chí của người Việt Nam khẳng định chủ quyền Trung Quốc trên biển chỉ trong phạm vi 12 hải lý. Đồng thời khẳng định, Trung Quốc không có bất cứ chủ quyền nào trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vì lãnh thổ Trung Quốc tình từ Hải Nam đến Hoàng Sa gần 200 hải lý và đến quần đảo Trường Sa hơn 1.000 hải lý . 
     Kẻ nào xuyên tạc Nội dung của Công Thư 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là đang tiếp tay cho Trung Quốc hiện thực hóa phi pháp Hai Quần đảo Hoàng sa và Trường Sa của Việt Nam, không cần phân tích dài dòng. Phát ngôn như Hà Sĩ phu khác gì việt gian bán nước!
Yêu nước ST.

Dẹp "chuyện nhỏ" để tránh họa to

 

Lâu nay có những việc mà nhiều người coi là "chuyện nhỏ" nhưng lại gây hậu quả rất nghiêm trọng, là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng thổi phồng, chống phá, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, thậm chí ảnh hưởng tới uy tín của đất nước. Những việc này cần được nghiêm túc chấn chỉnh, khắc phục, không để "chuyện nhỏ" gây họa to!

Thói hống hách, trịch thượng

Cuối năm 2022 vừa qua, dư luận không khỏi bất bình trước việc ông Nguyễn Viết Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Bí thư Chi bộ Công ty Cổ phần Tập đoàn Đất Quảng, đại biểu HĐND tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2021-2026, trong lúc bực dọc đã dùng gậy golf đánh nữ nhân viên phục vụ tại sân golf khiến cô này phải vào bệnh viện sơ cứu. Trước đó, một cán bộ của Trung tâm Phát triển quỹ đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường TP Đà Nẵng có hành vi ném trả tiền lẻ mà chủ quán ăn trả lại cho con mình và dùng những lời bất nhã đe dọa sự tồn tại của quán này.

Đây là hai ví dụ về cán bộ, đảng viên-những người có trách nhiệm phải nêu gương phẩm chất đạo đức, ứng xử, tôn trọng nhân dân thì lại thể hiện sự hống hách, có hành vi xúc phạm người dân, bị dư luận lên án mạnh mẽ. Thực tế đã có không ít video clip chia sẻ trên mạng xã hội hình ảnh cán bộ, công chức, viên chức ở cấp cơ sở thể hiện sự hách dịch, trịch thượng, thiếu văn hóa, cậy quyền cậy thế, rõ ràng mình sai mà vẫn ngang ngược dọa dẫm kiểu "Biết tao là ai không?"-khiến người dân rất bức xúc.

Không chỉ hống hách với người dân, một số cán bộ còn "quân phiệt miệng", thiếu tôn trọng cấp dưới, nhất là đối với những nhân viên trẻ tuổi. Biểu hiện rõ nhất là quát mắng vô cớ, làm cho nhân viên sợ sệt, khi cấp dưới đến gặp thì lạnh lùng, đe nẹt, thái độ xem thường, không hướng dẫn, giúp đỡ mà chỉ tìm cớ quát tháo, chì chiết, phê bình không phải trên tinh thần đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp mà cố tình thể hiện uy quyền, tạo khoảng cách trên-dưới nhằm bắt cấp dưới phải cầu cạnh, cung phụng mình. Cá biệt, có cán bộ còn "nói một đằng, làm một nẻo", ví dụ như yêu cầu cấp dưới phải triệt để thực hành tiết kiệm nhưng bản thân mình thì lãng phí, tùy tiện sử dụng tài sản công vào những việc riêng, thậm chí phục vụ cả gia đình, họ hàng... Cán bộ cấp trên mà như vậy khiến cấp dưới chán nản, mất niềm tin và động lực phấn đấu, thậm chí sinh ra bất mãn. Hiện tượng này cần phải phê phán, đấu tranh mạnh mẽ vì đó là nguyên nhân gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, suy yếu tổ chức và vô cùng nguy hiểm khi các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.

Vấn nạn "gây khó để có phong bì"

Tham nhũng là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, đang được Đảng, Nhà nước ta quyết liệt đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi. Sự kiên quyết và những kết quả rất đáng ghi nhận trong công tác đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai" đã củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào kỷ cương, phép nước, vào sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên hiện nay, tình trạng "tham nhũng vặt" vẫn diễn ra ở khá nhiều nơi, gây bức xúc cho người dân, doanh nghiệp. Đặc biệt, các thế lực thù địch luôn lợi dụng những vụ việc "tham nhũng vặt", hành vi vòi vĩnh của một số cán bộ, công chức, viên chức mà báo chí, mạng xã hội phản ánh để quy chụp, thổi phồng, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thực tế là bên cạnh đại đa số cán bộ, công chức, viên chức thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm, giữ gìn đạo đức, lối sống thì vẫn còn một bộ phận nhũng nhiễu, cố tình "gây khó để có phong bì". Ví dụ như ở không ít bệnh viện có hiện tượng nhân viên y tế "gợi ý" tặng quà cho bác sĩ để được khám, chữa bệnh nhanh hơn, tốt hơn; khi người dân hoặc cấp dưới cần giải quyết các thủ tục, giấy tờ thì cán bộ, nhân viên cơ quan chức năng bắt đi lại nhiều lần, chỉnh sửa nhiều lần không thực sự cần thiết, cá biệt còn có hiện tượng giả vờ không nhận được thông tin qua thư điện tử, qua phần mềm gửi-nhận văn bản theo đúng quy định của nhà nước để đối tượng phải trực tiếp đến gặp (thường mang theo phong bì "cảm ơn"); rồi một số "con sâu" trong các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra cũng "gợi ý" tặng quà để bỏ qua vi phạm... Nạn vòi vĩnh này gây mất lòng tin của nhân dân ghê gớm!

Theo báo cáo kết quả Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2021 do Bộ Nội vụ công bố, tình trạng công chức gây phiền hà, sách nhiễu vẫn còn ở 46/63 tỉnh, thành phố; 22/63 tỉnh, thành phố để xảy ra tình trạng người dân, tổ chức phải nộp tiền ngoài phí/lệ phí. Đặc biệt, khảo sát Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2021, có 41,4% doanh nghiệp cho biết vẫn phải trả các chi phí không chính thức; năm 2020 có 54% doanh nghiệp cho rằng vẫn còn hiện tượng nhũng nhiễu... 

Những phát ngôn khiến dư luận bất bình

Bên cạnh thói hống hách, trịch thượng và nạn "tham nhũng vặt" thì việc một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có những phát ngôn bột phát, thiếu suy nghĩ, thậm chí hết sức vô lý không chỉ gây cười mà còn khiến dư luận bất bình và các thế lực thù địch lợi dụng để đặt điều, xuyên tạc, ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín của tổ chức, nhất là trong thời đại thông tin lan truyền rất nhanh qua internet.

Thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến không ít trường hợp cán bộ, công chức, viên chức có phát ngôn thiếu nghiêm túc, nực cười (cả phát biểu trực tiếp và viết trên mạng xã hội), chủ yếu để bao biện, né tránh trách nhiệm... Điển hình gần đây là một cán bộ Sở Xây dựng TP Hà Nội lý giải rằng đá lát vỉa hè (loại mà trước đó được khẳng định có độ bền 70 năm) bị nứt vỡ một phần là do mưa nhiều thì giãn nở, tự vỡ (!). Bên cạnh đó, thi thoảng vẫn có một số địa phương, cơ quan ban hành các văn bản có nội dung không đúng, thiếu tính khả thi, thậm chí vi phạm pháp luật... nhưng khi dư luận phát hiện thì người ký văn bản lại đổ lỗi cho... nhân viên đánh máy (!).

Trên thực tế, có những cán bộ, công chức, viên chức thực sự lỡ lời, vô tình nói thiếu câu từ, diễn đạt chưa hết ý dẫn đến sự hiểu lầm đáng tiếc. Nhưng cũng không hiếm người có trách nhiệm phát ngôn tùy tiện, thiếu cả tâm và tầm, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của cán bộ đó mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, Nhà nước; trở thành cái cớ, cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng thổi phồng, kích động nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, chống phá cách mạng nước ta. Vì vậy, các cơ quan, tổ chức cần xem xét xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phát ngôn thiếu tâm và tầm, nhất là để bao biện, né tránh trách nhiệm một cách vô lý, nực cười, khiến dư luận bất bình.

Không để những "chuyện nhỏ" ảnh hưởng xấu tới đất nước

Thời gian qua, trên một số trang mạng, các thế lực thù địch, phản động không chỉ thường xuyên đăng tải theo kiểu thổi phồng (cả quy chụp, xuyên tạc, bịa đặt) những vụ việc tiêu cực ở Việt Nam, trong đó có hiện tượng tham nhũng và cán bộ, công chức ứng xử, phát ngôn không đúng, mà chúng còn tìm đăng những hình ảnh về cảnh nhếch nhác, rồi "bình loạn", chụp mũ rằng Việt Nam nghèo đói, kém phát triển, môi trường sống không an toàn... Với thủ đoạn cố tình lờ đi tất cả những điều tốt đẹp, những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước, nhân dân ta đã làm được; chỉ xoi mói, tìm kiếm những sự việc tiêu cực, hình ảnh xấu để bêu riếu, các đối tượng thiếu thiện chí đã khiến không ít bạn bè quốc tế có cái nhìn chưa khách quan, toàn diện về đất nước và con người Việt Nam. Vì thế, bên cạnh công tác đấu tranh, vạch trần những âm mưu, luận điệu sai trái, chúng ta phải kiên quyết chấn chỉnh, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật trong nội bộ; kiên quyết xử lý những tập thể, cá nhân thiếu trách nhiệm, để xảy ra cảnh xấu xí, nhếch nhác, làm tổn hại tới uy tín, hình ảnh của đất nước, ví dụ như việc để sân vận động quốc gia Mỹ Đình bị chê là mất vệ sinh, không chuẩn bị chu đáo cho các trận thi đấu bóng đá với các đội tuyển quốc tế cuối năm 2022 vừa qua, hay vấn nạn xả rác tùy tiện, nạn ăn xin đeo bám, "chặt chém" khách du lịch...   

Âm mưu của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta không bao giờ thay đổi, đồng thời, phương thức, thủ đoạn chống phá của chúng ngày càng tinh vi, nham hiểm, quyết liệt, triệt để lợi dụng mọi sơ hở của ta để công kích. Do đó, chính chúng ta phải kiên quyết và nỗ lực khắc phục những hạn chế, yếu kém, tự làm đẹp mình hơn nữa để nhân dân thêm tin tưởng vào Đảng, Nhà nước; bạn bè quốc tế thêm hiểu và yêu mến đất nước, con người Việt Nam. Thực tế thời gian qua, nước ta đã đạt được nhiều thành quả ấn tượng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh; tích cực tham gia đóng góp vào giữ gìn hòa bình, ổn định, vì sự phát triển của khu vực và thế giới; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đây là sự thật hiển nhiên mà không ai có thể phủ nhận. Thế nhưng những chuyện "tưởng nhỏ" nêu trên đang tiềm ẩn nguy cơ lớn, cần được Đảng, Nhà nước và toàn dân ta quyết tâm chấn chỉnh, khắc phục bằng được để đất nước phát triển vững mạnh, góp phần củng cố "thế trận lòng dân", không để kẻ xấu lợi dụng chống phá.

HUY QUANG

Vạch trần mưu đồ lừa phỉnh, kích động công nhân đình công, biểu tình

 

Lợi dụng tình hình khó khăn trong bảo đảm ổn định thu nhập, việc làm của một số doanh nghiệp xuất khẩu trong thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết kích động công nhân đình công, biểu tình.

Các bài viết này phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, cho rằng Công đoàn Việt Nam không đấu tranh đòi tăng lương cho người lao động, và rằng chỉ có các tổ chức công đoàn độc lập với Công đoàn Việt Nam mới chăm lo tốt cho quyền lợi của người lao động. Đây là âm mưu nguy hiểm, với ý đồ muốn phá hoại ổn định chính trị, phá hoại môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Luôn quan tâm, quyết liệt đề nghị tăng lương cho người lao động

Thời gian qua, những khó khăn của tình hình thế giới tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quan hệ lao động tại khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhất là tại các doanh nghiệp thâm dụng lao động như: Da giày, dệt may, gỗ... Có ít đơn hàng xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp buộc phải giảm việc làm, thậm chí cắt giảm lao động ngay vào thời điểm cuối năm 2022 và cận Tết Quý Mão năm 2023, làm ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập, đời sống của công nhân, người lao động.

Do kinh tế thế giới khá ảm đạm, lạm phát cao, nhu cầu tiêu dùng thấp nên theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), số người thất nghiệp năm 2022 có thể lên tới 207 triệu người. Như thế, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang là khó khăn chung của các nước trên thế giới.

Bất chấp thực tế khách quan đó, có quan điểm sai trái được lan truyền trên mạng cho rằng, Công đoàn Việt Nam hiện nay bỏ mặc, không còn quan tâm tới đấu tranh đòi quyền lợi, không đòi tăng lương cho người lao động, mà chỉ quan tâm kết nạp đoàn viên công đoàn.

Thực tế là vấn đề đấu tranh đòi tăng lương, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho người lao động luôn là mối quan tâm hàng đầu của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thực tế là trong các cuộc họp của Hội đồng Tiền lương quốc gia, tiếng nói của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn là tiếng nói đầy trọng lượng và rất quyết liệt. Mỗi lần họp bàn về tăng mức lương tối thiểu vùng, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam luôn đưa ra một mức đề xuất cao nhất so với các ý kiến khác và đấu tranh quyết liệt với đại diện người sử dụng lao động để bảo vệ đề xuất ấy.

Cụ thể, ngay trong năm 2022 vừa qua, từ những đề xuất của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong Hội đồng Tiền lương quốc gia, ngày 12-6-2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định tăng lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Nghị định đã có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2022. Theo đó, mức lương tối thiểu tháng đã tăng bình quân 6% (tương ứng tăng từ 180.000-260.000 đồng/tháng) so với mức cũ. Về mức lương tối thiểu giờ, nghị định cũng quy định các mức lương tối thiểu giờ theo 4 vùng: Vùng I là 22.500 đồng/giờ, vùng II là 20.000 đồng/giờ, vùng III là 17.500 đồng/giờ, vùng IV là 15.600 đồng/giờ. Các mức lương tối thiểu trên là mức lương thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp thỏa thuận và trả lương đối với người lao động.

Để bám sát tình hình, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam yêu cầu các cấp công đoàn chỉ đạo công đoàn cơ sở chủ động tham gia với người sử dụng lao động trong quá trình xây dựng thang, bảng lương của doanh nghiệp theo quy định mới về mức lương tối thiểu.

Đồng thời liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành, công đoàn tại các tổng công ty trực thuộc tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội... của các doanh nghiệp, nhất là việc thực hiện nghị định của Chính phủ.

Đồng thời, các cấp công đoàn cũng nắm bắt thông tin, tâm tư, nguyện vọng của người lao động, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội.

Theo Cục Quan hệ lao động và Tiền lương (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), năm nào nhà nước có điều chỉnh lương tối thiểu vùng thì tiền lương thực tế của người lao động sẽ được tăng cao hơn mức tăng bình quân khoảng 2%. Trong 10 năm qua, tiền lương của người lao động tăng bình quân 6-7% mỗi năm. Năm Covid-19 tác động mạnh, Nhà nước không điều chỉnh lương tối thiểu, tỷ lệ tăng có giảm còn 5-6%. Những năm kinh tế phát triển tốt, mức tăng đạt 8-9%. Chỉ khi thiếu giờ làm, tiền lương của người lao động mới phải giảm do doanh nghiệp cũng không có nguồn để bảo đảm. Tuy nhiên, hụt đơn hàng, thiếu việc cũng chỉ ở nhóm ngành sản xuất. Một số ngành như dịch vụ ăn uống vẫn có sự tăng trưởng.

Kịp thời giải quyết khi có tranh chấp lao động tập thể

Khi có tranh chấp lao động tập thể, ngừng việc tập thể, đình công tự phát, các cấp công đoàn đều chủ động phối hợp với UBND và các cơ quan chức năng trên địa bàn kịp thời giải quyết, bảo đảm quyền lợi của tập thể người lao động, không để xảy ra điểm nóng về an ninh trật tự.

Đồng thời cần khẳng định rằng, việc chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động không phải chỉ là trách nhiệm của Công đoàn Việt Nam mà còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa luôn quan tâm chăm lo, bảo vệ, đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

Khi dịch Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế-xã hội, nhiều người lao động mất việc, cả hệ thống chính trị của Việt Nam đã quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ công nhân, người lao động, trong đó vai trò của Công đoàn Việt Nam rất nổi bật.

Từ việc các cấp công đoàn quan tâm, phát hiện những khó khăn của người lao động, đề xuất các giải pháp hỗ trợ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 1-7-2021 tập trung hỗ trợ 2 nhóm đối tượng là người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng sâu bởi đại dịch Covid-19, chủ yếu là công nhân và người lao động trực tiếp. Sau hơn một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, cả nước đã hỗ trợ cho gần 36,5 triệu người lao động, người dân, 394.000 đơn vị sử dụng lao động và 500.000 hộ kinh doanh với tổng số tiền là 45.600 tỷ đồng.

Nghị quyết số 68/NQ-CP được ban hành nhanh chóng, kịp thời, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất, sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho đời sống người dân, người lao động và người sử dụng lao động trước tác động của đại dịch, được người dân, doanh nghiệp, người lao động tích cực ủng hộ thực hiện, qua đó ngày càng tạo được niềm tin của công nhân, người lao động cũng như toàn thể nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Không tổ chức nào thay thế được Công đoàn Việt Nam

Cũng do luôn sâu sát, nắm bắt đời sống, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động nên ngay từ cuối quý III năm 2022, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã lên kế hoạch chăm lo Tết Quý Mão 2023. Theo đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam dự kiến sẽ chủ trì, trực tiếp tổ chức 21 Chương trình "Ngày hội công nhân-Phiên chợ nghĩa tình năm 2023" tại các địa phương có đông công nhân, người lao động, vùng sâu, vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn; dành gói hỗ trợ khoảng 500 tỷ đồng phân bổ về các công đoàn ngành, địa phương, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở để chăm lo, hỗ trợ cho đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh thực sự khó khăn, mức hỗ trợ 500.000 đồng/người, được chi bằng tiền mặt (ước có khoảng 1 triệu đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ-bằng 10% tổng số đoàn viên công đoàn).

Bên cạnh đó, công đoàn cơ sở căn cứ vào nguồn lực hiện có, tự quyết định mức chi chăm lo cho đoàn viên, người lao động. Ví dụ như, Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch số 61/KH-LĐLĐ về tổ chức các hoạt động chăm lo cho đoàn viên công đoàn, người lao động nhân dịp Tết Quý Mão 2023 với phương châm “Tết đến với mọi đoàn viên, người lao động”.

Dự trù kinh phí chăm lo Tết Quý Mão năm 2023 cho đoàn viên, người lao động khó khăn của Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh khoảng 140 tỷ đồng, trong đó, cấp thành phố bảo đảm từ 25-28 tỷ đồng, công đoàn cấp trên chăm lo 110 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các đơn vị, doanh nghiệp, đoàn thể khác có hỗ trợ chăm lo Tết cho công nhân. Các hoạt động như tặng quà Tết, tặng vé xe về Tết, tổ chức chợ Tết bình ổn giá... rất thiết thực với công nhân, người lao động.

Như thế có thể thấy, ý kiến cho rằng người lao động bị Công đoàn Việt Nam bỏ mặc, Công đoàn Việt Nam không quan tâm đến đấu tranh đòi tăng lương, không quan tâm đấu tranh cho đời sống người lao động là ý kiến hoàn toàn sai trái. Nguy hại hơn nữa là mưu đồ kích động người lao động đình công tự phát, biểu tình để đòi tăng lương. Cần nhận thức rằng doanh nghiệp chính là môi trường làm việc, là nơi trả lương và bảo đảm đời sống cho người lao động.

Vì thế, công nhân, người lao động phải có trách nhiệm cùng xây dựng để doanh nghiệp phát triển, từ đó mới có nguồn lực để tăng lương, bảo đảm đời sống. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, bảo đảm quyền lợi hài hòa, cùng chia sẻ khó khăn giữa công nhân và người sử dụng lao động là một chủ trương đúng đắn của Công đoàn Việt Nam. Môi trường kinh doanh có ổn định thì các doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư vào Việt  Nam. Do đó, việc kích động công nhân biểu tình, đình công tự phát là lừa phỉnh họ, xui họ làm điều sai trái, để rồi tự hủy hoại nồi cơm của chính mình.

Có thể khẳng định, từ khi ra đời cho tới nay, Công đoàn Việt Nam vẫn luôn là tổ chức có vai trò chính trị quan trọng, có uy tín cao, hiệu quả cao trong việc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, người lao động, chưa có tổ chức nào có thể thay thế vai trò của Công đoàn Việt Nam. Không sự bôi nhọ, xuyên tạc nào có thể phủ nhận được thực tế rõ ràng đó.

HỒ QUANG PHƯƠNG