Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

RÀ SOÁT, SÀNG LỌC ĐẢNG VIÊN GÓP PHẦN NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

 Uy tín, đạo đức, trí tuệ, tầm nhìn của Đảng được hiện thân trong đường lối, cương lĩnh, được cụ thể hóa thông qua nhận thức và hành động của các đảng viên. Bởi lẽ, sức mạnh của Đảng do sức mạnh của đội ngũ đảng viên tạo nên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Do đó, tăng cường công tác rà soát, sàng lọc đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan có tính quy luật, là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

.Rà soát, sàng lọc đảng viên - nhiệm vụ cấp thiết trong tình hình mới

Từ ngày thành lập đến nay, nhất là sau hơn 35 năm đổi mới, Đảng ta luôn đã đề ra nhiều chủ trương, nghị quyết, quy định, hướng dẫn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi ĐảngNghị quyết số 195-NQ/TW, ngày 6-3-1970 của Bộ Chính trị về cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên Lớp Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “Đối với những người không đủ tư cách là đảng viên, thoái hóa về chính trị và đạo đức, vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm tổn thương nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân, đến uy tín của Đảng, không được quần chúng tín nhiệm, thì nói chung phải đưa ra khỏi Đảng”. Cụ thể Nghị quyết số 195-NQ/TW, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 175-CT/TW, ngày 14-4-1970 Hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên Lớp Hồ Chí Minh. Chỉ thị nêu nhấn mạnh: “Đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng là một điều rất cần thiết để giữ cho Đảng được trong sạch về chính trị, để nâng cao sức chiến đấu và uy tín, ảnh hưởng của Đảng.

Bên cạnh đó, Đảng ta đang đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao, đòi hỏi đội ngũ đảng viên không chỉ đông về số lượng mà phải có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên; thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng. Thường xuyên rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đảng viên”. Nghị quyết số 21-NQ/TW Trung ương 5 khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng TCCSĐ và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới đặt ra mục tiêu: Tỉ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm trong giai đoạn 2020-2025 đạt 3 - 4% tổng số đảng viên”; đồng thời, đưa ra giải pháp: “Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng; kịp thời chấn chỉnh đối với đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, đảng viên không thực hiện đúng quy định về chuyển sinh hoạt đảng; đảng viên bi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước; đảng viên thiếu gương mẫu, uy tín thấp…”. Đây là tiền đề, cơ sở để công tác đảng viên nói chung và việc rà soát, sàng lọc đảng viên triển khai sâu rộng và mạnh mẽ hơn nữa trong toàn Đảng và hệ thống chính trị.

Công tác rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng có vai trò quan trọng trong việc kịp thời phát hiện những đảng viên không thực hiện đúng quy định của Đảng, sàng lọc những đảng viên yếu kém, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đó là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, là do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (1) Một bộ phận đảng viên thiếu gương mẫu, thiếu bản lĩnh, bị cám dỗ bởi lợi ích cá nhân, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; có việc làm, phát ngôn sai nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng; (2) Công tác rà soát, sàng lọc đảng viên thời gian qua chưa đáp ứng yêu cầu; việc kết nạp người chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có động cơ không đúng đắn vào Đảng còn diễn ra ở nhiều nơi; (3) Yêu cầu, quy luật khách quan của mọi đảng cầm quyền để quyền lực được sử dụng đúng, phục vụ mục tiêu chính trị của chính đảng.

Những kết quả bước đầu

Từ Đại hội XI đến năm 2019, thực hiện các quy định, hướng dẫn của Trung ương, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, các cấp ủy đảng nhìn chúng đã tập trung siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; công tác rà soát, sàng lọc đảng viên được tăng cường, qua đó, phát hiện những đảng viên không còn đủ tư cách bằng các hình thức phù hợp.

Ngay sau khi Trung ương ban hành Chỉ thị 28-CT/TW, các cấp ủy, tổ chức đảng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc rà soát, sàng lọc đội ngũ đảng viên cơ bản đảm bảo đúng quy trình, quy định. Có 51/63 địa phương triển khai việc cụ thể hóa Quy định và Hướng dẫn của Trung ương với nhiều hình thức khác nhau: 33 địa phương ban hành kế hoạch; 2 địa phương ban hành quy định; 2 địa phương ban hành thông báo hoặc thông tri; 2 địa phương ban hành chỉ thị; 25 địa phương ban hành hướng dẫn; 28 địa phương ban hành công văn. Các cấp ủy đã nhận thức rõ hơn, cụ thể hơn, phân biệt rõ hơn giữa công tác rà soát sàng lọc đảng viên với công tác xử lý kỷ luật đảng viên theo Điều lệ Đảng; việc nhận diện đối tượng cần được giáo dục, sàng lọc được cụ thể hơn; trách nhiệm của cấp ủy các cấp, của đảng viên được nêu cụ thể rõ ràng hơn; các bước triển khai theo quy trình rà soát, sàng lọc gắn với công tác đánh giá, xếp loại đảng viên hàng năm được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm hơn, thực hiện dần đi vào nề nếp.

Từ ngày 1-6-2019 đến ngày 15-12-2021, các cấp ủy, tổ chức đảng đã triển khai một đợt rà soát 32.129 đảng viên theo Chỉ thị 28-CT/TW của Ban Bí thư. Qua rà soát, giúp cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp nắm vững thực trạng công tác quản lý đảng viên; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đảng viên; kịp thời rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng.

Công tác giáo dục, rèn luyện, giúp đỡ đảng viên được quan tâm thực hiện, nhiều đảng viên vi phạm qua quá trình giáo dục, giúp đỡ của tổ chức đảng đã được công nhận sự tiến bộ. Đồng thời, kịp thời chấn chỉnh những đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ; từng bước nâng cao ý thức, tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ. Kết quả bước đầu đã góp phần sàng lọc, loại bỏ những đảng viên không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, làm trong sạch đội ngũ đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng. Riêng trong năm 2022, có 6.335 đảng viên được các chi bộ đưa vào danh sách giáo dục, giúp đỡ, trong đó, 1.951 đảng viên được công nhận sự tiến bộ, 1.854 đảng viên cần được tiếp tục giáo dục, giúp đỡ, 2.530 trường hợp bị đưa ra khỏi Đảng bằng hình thức khai trừ hoặc xóa tên. Việc rà soát, sàng lọc đảng viên đã góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh, xây dựng chỉnh đốn Đảng, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Rà soát, sàng lọc đảng viên - khó nhưng không thể không làm

Đảng như một cơ thể sống, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng. Tế bào khỏe mạnh thì Đảng phát triển, tế bào hư hỏng thì Đảng ốm yếu, vì thế phải đào thải tế bào hư hỏng, tránh để lâu trong đảng sẽ “di căn” sang tế bào khác. Trong quá trình hoạt động của mình, Đảng phải thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng những nhân tố mới là những quần chúng tích cực, có phẩm chất, năng lực, trí tuệ và uy tín; đồng thời, cũng phải thường xuyên rà soát, sàng lọc, đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng để làm trong sạch Đảng. Để làm tốt công tác rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng nhằm góp phần nâng cao chất lượng đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung một số nhiệm vụ sau:

Một lànâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng về tầm quan trọng của công tác kết nạp, sàng lọc đảng viên. Nâng cao nhận thức không chỉ bằng lời nói, bằng văn bản mà quan trọng là được chuyển thành ý thức tự giác, danh dự tự giác, động cơ tự giác, trách nhiệm tự giác, làm cơ sở cho hành động tự giác được thể hiện trong mỗi TCCSĐ và đảng viên. Chỉ khi các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên nhận thức những “đảng viên không còn đủ tư cách” là những cá thể có nguy cơ đe dọa đối với tập thể, cá nhân, đối với sự tồn vong của Đảng thì mới tự giác nghiêm túc thực hiện. Bên cạnh đó, phát huy vai trò và trách nhiệm nêu gương trong thực hiện chuẩn mực đạo đức và thực hiện nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu cấp ủy, đơn vị; đưa việc nêu gương trở thành nhiệm vụ thường xuyên của cán bộ, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị cũng là giải pháp rất quan trọng.

Hai là, nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên để Đảng ta có nhiều đảng viên có chất lượng, đủ sức đấu tranh, ngăn chặn loại bỏ những đảng viên suy thoái, biến chất. Để thực hiện tốt nội dung này của cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện chặt chẽ, đúng quy định các bước trong công tác kết nạp đảng viên; thực hiện đúng, đủ, công khai, minh bạch quy trình, từ khâu phát hiện, lựa chọn những quần chúng ưu tú để đưa vào nguồn kết nạp, bồi dưỡng, giúp đỡ đến khâu thẩm tra, xác minh và xem xét kết nạp vào Đảng. Thực hiện nghiêm túc quy định thẩm tra lý lịch và lấy ý kiến nhận xét của tổ chức chính trị - xã hội đối với người được xem xét kết nạp vào Đảng. Kiểm soát tốt “đầu vào” cũng chính là bước sàng lọc đầu tiên để đảm bảo chất lượng đảng viên đáp ứng yêu cầu của Đảng. Phát triển đội ngũ đảng viên phải luôn đi đôi với củng cố tổ chức đảng, coi trọng chất lượng hơn số lượng.

Ba là, tăng cường công tác quản lý đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đảng viên; thường xuyên kiểm tra chi bộ, đảng viên thực hiện chế độ sinh hoạt đảng. Nắm chắc những biểu hiện về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, kịp thời phát hiện những đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo 27 biểu hiện. Quản lý việc lập và sử dụng các trang thông tin trên in-tơ-nét, mạng xã hội, đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động… Thực hiện nghiêm Quy định số 213-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc “Đảng viên đang công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, đảng uỷ cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú”. Triển khai thực hiện nghiêm việc đảng viên xây dựng cam kết tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng (nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, trách nhiệm nêu gương theo Quy định 08-QĐ/TW, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm). Nghiên cứu giải pháp phù hợp tạo thuận lợi trong việc chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên là sinh viên sau khi tốt nghiệp, đảng viên đi làm ăn xa…

Bốn làlàm tốt công tác đánh giá cán bộ, đảng viên để có căn cứ sàng lọc, loại bỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Cấp ủy các cấp nâng cao nhận thức cho các tổ chức đảng, đảng viên về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên, tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định chặt chẽ việc thực hiện, đảm bảo dân chủ, khách quan, đúng thực chất; khắc phục triệt để tình trạng nể nang, né tránh, bệnh thành tích trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại đảng viên. Việc đánh giá đúng đảng viên sẽ khắc phục được tâm lý “duy tình”, ngại phê bình, là nhân tố cản trở việc rà soát, sàng lọc đã chỉ ra ở trên. Đồng thời, cần phải đề cao tính kỷ luật, kỷ cương của Đảng, tính chiến đấu, tự phê bình, phê bình và nâng cao trách nhiệm đảng viên trong sinh hoạt chi bộ tập trung củng cố các tổ chức đảng yếu kém, có biện pháp giúp đỡ, giáo dục đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ; xây dựng lộ trình sửa chữa, khắc phục khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình.

Năm làthường xuyên rà soát, đơn giản hoá quy trình, thủ tục và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đảng viên. Xây dựng, hoàn thiện quy định, thể chế về công tác đảng viên và quản lý đảng viên; nhất là các quy định liên quan đến rà soát, sàng lọc và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong tình hình mới. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý đảng viên, bảo đảm đồng bộ, liên thông trong toàn đảng bộ. Nghiên cứu triển khai, nhân rộng mô hình “Sổ tay đảng viên điện tử” ở những nơi có đủ điều kiện để kịp thời cung cấp thông tin, học tập các nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận của Đảng; hỗ trợ các tính năng sinh hoạt chi bộ; giúp cấp ủy, tổ chức đảng tiếp nhận và phản hồi các ý kiến của đảng viên…

Sáu là, xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với đảng viên. Xác định đúng tiêu chuẩn của người đảng viên tạo điều kiện cho mỗi đảng viên phấn đấu để giữ gìn hình ảnh người đảng viên cộng sản, giữ gìn uy tín cho Đảng. Ngoài việc xây dựng tiêu chuẩn chung, các cấp ủy, tổ chức đảng cần cụ thể hóa tiêu chuẩn đảng viên trong một số lĩnh vực như: đối với đảng viên là công nhân; đối với đảng viên ở nông thôn; đối với đảng viên trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; đối với đảng viên là thanh niên, học sinh, sinh viên và trí thức; đối với đảng viên trong lực lượng vũ trang…

Bảy làcấp ủy cấp trên tăng cường kiểm tra công tác đảng viên, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tập trung kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là những quy định về đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, quy định về nêu gương và đề cao tính tiền phong, gương mẫu, trách nhiệm đối với người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị... thực hiện việc sơ, tổng kết, phát huy các đơn vị điển hình thực hiện tốt, uốn nắn những nơi làm chưa tốt công tác đảng viên; kiên quyết xóa tên những đảng viên không còn thiết tha với Đảng. Kịp thời phát hiện, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng những tấm gương đảng viên tiêu biểu; đồng thời, phê bình, xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Tám là, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; phát hiện những đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tạo điều kiện để các tổ chức tham gia đóng góp ý kiến, giám sát việc rà soát, sàng lọc đảng viên; nhất là những đảng viên thuộc diện đưa vào danh sách để chi bộ giáo dục, giúp đỡ, cần lấy thêm ý kiến của chi bộ nơi cư trú để làm căn cứ đánh giá kết quả tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của đảng viên.

XÂY DỰNG PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ, coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng. Người thường xuyên căn dặn cán bộ phải rèn luyện phương pháp, tác phong công tác, trong đó phong cách làm việc dân chủ được Người đặc biệt coi trọng. Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ rất cần thiết, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng dân chủ, coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Trong Đảng, Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”(1); “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thậtdân chủ, phải thực hành chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” và phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ”(2). Đối với Nhà nước, Người cho rằng: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”(3).

Người luôn coi trọng cán bộ, khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(4), “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(5). Phong cách, tác phong công tác của cán bộ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc. Bởi vậy Người luôn căn dặn cán bộ “Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”(6). Muốn có tác phong dân chủ, “cán bộ phải đi sát sản xuất, đi sát quần chúng và phải dân chủ với dân”(7). Như vậy, vừa là phát huy dân chủ nhân dân, vừa rèn luyện tác phong dân chủ của người cán bộ.

Trong cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách làm việc giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc, quyết đoán, hòa mình vào quần chúng nhân dân, coi nhân dân là cội nguồn của mọi thắng lợi. Người coi dân chủ là “chìa khóa vạn năng” để khơi dậy tính sáng tạo của nhân dân, huy động và sử dụng nguồn lực nhân dân vào các lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động khác nhau, bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Người đã nhấn mạnh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”(8).

Bởi vậy, Người nhắc nhở cán bộ, trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác…

Phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải “nói đi đôi với làm”. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tức là để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm. Ở bất kỳ đâu, làm bất cứ việc gì, ở cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mọi người, phát huy trí tuệ của tập thể, đề cao những kinh nghiệm, sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong công việc. Người chỉ rõ: “Gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống… Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”(9).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí dân chủ, cởi mở trong làm việc, cũng như trong cuộc sống; từ đó, tạo động lực, niềm tin cho mỗi người có thể tham mưu, hiến kế, đề xuất những cách thức, biện pháp nâng cao năng suất lao động, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đồng thời, đề cao phong cách làm việc dân chủ nhưng không đồng nghĩa với dân chủ quá trớn, mạnh ai người nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; làm bất kỳ việc gì phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên…

Bồi dưỡng phong cách làm việc dân chủ cho đội ngũ cán bộ hiện nay

Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách làm việc dân chủ đã đạt nhiều kết quả, góp phần chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ. Song, trước yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược nâng cao hơn nữa về chất lượng, vững kiến thức chuyên môn, có năng lực quản lý, điều hành, phong cách làm việc dân chủ, khoa học... Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, đưa ra được những quyết định sáng suốt, hiệu quả, phù hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), triển khai kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12-6-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng phải vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”(10). Có thể thấy, yêu cầu xây dựng, bồi dưỡng phong cách làm việc cho cán bộ, trong đó có phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết.

Để công tác này thực hiện có hiệu quả, trước hết, cần thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022 về luân chuyển cán bộ; Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ… Việc thực hiện nghiêm các quy định trong công tác cán bộ là cách thức để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mỗi tổ chức đảng. Đồng thời để cán bộ phải tự ý thức rèn luyện phong cách làm việc dân chủ.

Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ, bảo đảm tính chặt chẽ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho cán bộ có môi trường rèn luyện, phấn đấu, phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới công tác tác đánh giá cán bộ, bởi đây là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá không đúng về cán bộ dẫn tới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ không đúng,  có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng; triệt tiêu nhân tố tích cực, thúc đẩy chủ nghĩa cơ hội, tiêu cực, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ được đánh giá khách quan, công tâm, được lựa chọn và bố trí đúng sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực… Để đánh giá đúng cán bộ, cần đánh giá đa chiều, thông qua năng lực, phẩm chất và uy tín; dựa vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc cụ thể. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và tham khảo ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân cán bộ tự đánh giá, tập thể đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá, huy động các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia đánh giá cán bộ.

Cần có cơ chế, chính sách thu hút, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương gắn với các chế độ, chính sách như tiền lương, thu nhập, cải thiện cuộc sống, môi trường, điều kiện làm việc… cho cán bộ. Việc đổi mới, thực hiện tốt cơ chế, chính sách trên cơ sở kiểm soát tốt quyền lực, vừa đảm bảo chất lượng cán bộ, vừa phát huy dân chủ, phòng, chống được tiêu cực…

Thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cũng là cách để rèn luyện tác phong dân chủ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng đều nêu rõ vấn đề về vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” cũng đã khẳng định quan điểm đó. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trong nhiệm kỳ qua, “việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”(11).

Cán bộ phải sâu sát cơ sở, nắm vững thực tiễn, kịp thời giúp cơ sở giải quyết các khó khăn và vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là tác phong công tác cần phải có của mỗi cán bộ. Đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, để có phong cách lãnh đạo sâu sát, cần phải dành thời gian đi cơ sở, trực tiếp trao đổi, đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…, từ đó tránh được bệnh quan liêu, hạn chế tình trạng ra các quyết định, chủ trương thiếu tính thực tiễn, duy ý chí. Mặt khác, cần xem phong cách sâu sát cơ sở, thực tiễn là một tiêu chí, một yêu cầu cần thiết trong quy hoạch, đề bạt cán bộ giữ vị trí người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cùng với làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”. Như vậy đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao về chất lượng, góp phần thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng.

CHỦ ĐỘNG, ĐỒNG BỘ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH VỚI HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ PHÁ HOẠI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   

Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu.

ĐẤU TRANH, BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU PHẢN ĐỘNG XUYÊN TẠC VỀ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

 Gần đây, các đối tượng chống phá vin vào việc một số thanh niên tìm cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự đã bị xử lý, tung luận điệu đánh đồng rằng: "Lớp thanh niên Việt Nam hiện nay đang tìm mọi cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự", "không ai yêu nước” (!) và rằng "cơ đồ này không còn chỗ dựa" vì thanh niên không còn tin tưởng vào chế độ (!)...

Đây là những luận điệu phản động, phiến diện, âm mưu thâm độc của bọn chúng hòng làm cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự nói riêng dao động tư tưởng, hoài nghi dẫn đến phai nhạt lý tưởng. Không những thế, những người thiếu bản lĩnh khi tiếp nhận thông tin trên sẽ mất niềm tin vào thế hệ trẻ, xa hơn là không tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, những năm gần đây, dưới sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, mạng xã hội, một bộ phận nhỏ thanh niên bị ảnh hưởng bởi lối sống hưởng thụ, thực dụng. Họ bắt đầu có những so đo, tính toán thiệt hơn về việc nhập ngũ vì sợ vất vả, ngại rèn luyện; thậm chí có hiện tượng tìm cách trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, đây chỉ là hiện tượng cá biệt và những hành vi vi phạm Luật Nghĩa vụ quân sự đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Thực tế cho thấy, trong các cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, đã có hàng triệu thanh niên tình nguyện nhập ngũ. Nhiều lá đơn được viết bằng máu, thể hiện ý chí, trách nhiệm, quyết tâm của lớp lớp thanh niên đối với đất nước. Tiếp nối truyền thống đó, thanh niên ngày nay luôn nhận thức rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc; cảm thấy vinh dự khi trở thành người chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tại lễ giao, nhận quân của các địa phương vừa qua, hầu hết thanh niên nhập ngũ đều bày tỏ niềm tự hào và hăng hái lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự. Tỷ lệ thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ ngày càng cao. Ví dụ như ở TP Hà Nội, năm 2023, có gần 1.000 công dân viết đơn tình nguyện nhập ngũ; 100% thanh niên nhập ngũ của huyện Long Mỹ (tỉnh Hậu Giang) và huyện Long Hồ (tỉnh Vĩnh Long) viết đơn tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự... Rất nhiều thanh niên là đảng viên, công chức, có trình độ đại học, cao đẳng cũng viết đơn xung phong nhập ngũ; có gia đình có 2-3 người con tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự. Không khí của ngày hội tòng quân ở các địa phương trong cả nước rất sôi nổi, phấn khởi và tuyệt đại đa số quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự đều có nhiều kỷ niệm sâu sắc trong thời gian tại ngũ, tình cảm đẹp đối với Quân đội và đơn vị.

Từ những minh chứng trên cho thấy, việc một số đối tượng cố tình quy chụp, xuyên tạc, rêu rao rằng hầu hết thanh niên hiện nay đều trốn tránh nhập ngũ vì không yêu nước, không tin tưởng vào chế độ là hoàn toàn sai trái, phản động. Âm mưu thâm độc, bịa đặt này cần phải lên án và đấu tranh bác bỏ.

Nhận diện và phòng ngừa các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc

Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...  

 Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TINH THẦN QUỐC TẾ CAO CẢ CỦA QUÂN ĐỘI TA

 Một trong những phẩm chất cao quý làm nên nhân cách tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần tám thập niên qua là cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp vào cuộc sống hòa bình của nhân loại. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến sai trái, lạc lõng nhằm phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta.

Ý kiến sai trái tự phơi bày âm mưu đen tối

Đêm 12-2-2023, Đoàn cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất. Việc tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục thảm họa động đất thể hiện chính sách đối ngoại ưu việt, trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Việc làm này cũng khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm và năng lực tác chiến trong thời bình của Quân đội ta trước các vấn đề an ninh phi truyền thống và góp phần thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng vì hòa bình của Việt Nam.

Tuy nhiên, những người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta lại không nghĩ như thế. Họ cho rằng, “tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ là việc làm không cần thiết”, “là ôm rơm nặng bụng”. Thậm chí có người còn cho rằng, việc làm đó của Quân đội ta là “khôn chợ, dại nhà”, “việc nhà thì lười nhác, việc chú bác thì siêng năng” (!). Ác ý hơn có người còn cho rằng, “đất nước còn nghèo, nhân dân còn đói khổ, tại sao quân đội lại đem tiền của ra nước ngoài mà không dùng nó để cứu giúp đồng bào ta”, lại “lăng xăng đi cứu người” (!)...

Những luận điệu nêu trên là sai trái, hết sức vô cảm, cần phải lên án, bác bỏ. Nó không những tạo ra tâm lý nghi ngờ, bất an, sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với một bộ phận người dân, nhất là một số thân nhân, gia đình có quân nhân nhận nhiệm vụ đến Thổ Nhĩ Kỳ tham gia cứu hộ, cứu nạn, mà còn bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta; làm phai mờ hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.  

 Tỏa sáng tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội Việt Nam

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và người dân của hai quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Syria về những thiệt hại vô cùng to lớn do thảm họa động đất gây ra, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng.

Thấu hiểu, sẻ chia về những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn ấy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định cử đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, giúp bạn tìm kiếm các nạn nhân xấu số và cứu chữa những nạn nhân còn sống, đưa họ về trạng thái an toàn; tiếp tục giúp giải quyết, khắc phục hậu quả thảm họa, sớm đem lại cuộc sống bình thường mới cho người dân nơi xảy ra động đất ở đất nước này.

Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.

Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau.

Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Từng thành viên trong đoàn công tác sẵn sàng nhận nhiệm vụ, họ đã rất khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan để lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, đáp ứng yêu cầu, sự chờ đợi lực lượng của các quốc gia đến cứu hộ, cứu nạn, trong đó có Việt Nam.

Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong số các quân nhân sang Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện nhiệm vụ lần này có một quân nhân chỉ ít ngày nữa sẽ xây dựng gia đình, nhưng vẫn xung phong lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để làm quà kỷ niệm ngày cưới. Đó là bằng chứng sinh động thể hiện tinh thần cống hiến, hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình. Vì việc chung, lợi ích chung nên sẵn sàng gác lại việc riêng, lợi ích riêng - đó là phẩm chất, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng đã được giáo dục, nuôi dưỡng, tôi rèn bền bỉ trong môi trường quân đội.

Tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống

Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo.

Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế.

Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình. Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu.

NHẬN DIỆN, PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CỔ XÚY “XÃ HỘI DÂN SỰ”

 Ý đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” cũng không ngoài mục đích làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ đó loại bỏ vị trí, vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi theo con đường khác, xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN.

Âm mưu tinh vi, xảo quyệt: Khái niệm “xã hội dân sự” (civil society) được hiểu là không gian xã hội công cộng nằm ngoài khu vực nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các thiết chế và thể chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội...

Tuy nhiên, bản thân “xã hội dân sự” cũng tiềm ẩn những rủi ro, nếu không nhận diện đúng, không quản lý đầy đủ sẽ dễ bị lợi dụng, trở thành công cụ chính trị để cho những phần tử cơ hội, phản động gây ra những bất ổn chính trị. Những kẻ cố tình cổ xúy “xã hội dân sự” thực chất là lợi dụng các hội, nhóm, diễn đàn... để phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây áp dụng vào Việt Nam, từng bước chuẩn bị lực lượng để tiến hành các cuộc “cách mạng màu”, chính trị hóa các tổ chức này trở thành lực lượng đối lập, cạnh tranh trực tiếp với vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó thực hiện mục tiêu lật đổ chế độ XHCN bằng biện pháp “bất bạo động”, “phi vũ trang”.

Ý đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” nhằm làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó loại bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi theo con đường khác, xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN.

Để đạt được mục tiêu này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền những luận điệu sai trái, thù địch nhằm phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phủ định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam; đòi đa nguyên, đa đảng; đòi tư nhân hóa hoạt động báo chí, xuất bản... Bên cạnh đó, chúng tích cực tuyên truyền, cường điệu hóa vai trò của các tổ chức “xã hội dân sự” là hiện thân của tự do, dân chủ; xuất bản, lưu hành bất hợp pháp các bài viết, tài liệu công khai cổ vũ, đề cao mô hình “xã hội dân sự” kiểu phương Tây; hô hào và tìm cách tác động áp dụng mô hình này vào xã hội Việt Nam để mở rộng diễn đàn dân chủ, phát huy đa nguyên... từng bước hình thành các “phong trào”, “mặt trận” dân chủ, trở thành lực lượng đối trọng, đối lập với Đảng và Nhà nước ta trong tương lai.

Các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người bất đồng chính kiến trong nước, những người bất mãn trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư... hoạt động theo khuynh hướng độc lập, hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” đối lập theo mô hình của phương Tây. Thời gian qua, các tổ chức phản động lưu vong như: “Chính phủ Việt Nam tự do”; “Việt Nam canh tân cách mạng Đảng”; “Đảng nhân dân hành động”; “Đảng dân chủ nhân dân”; “Đảng vì dân”; “Tập hợp dân chủ đa nguyên”; “Hội đồng dân quân cứu quốc”... liên tục chỉ đạo, tài trợ, cung cấp phương tiện cho một số đối tượng chống đối trong nước tiến hành hoạt động chống phá như: Khiếu kiện đông người, vượt cấp, đình công, biểu tình, qua đó tạo thành các điểm nóng về an ninh trật tự rồi tìm cách gây bạo loạn, lật đổ chính quyền.

 Ngoài ra, chúng lợi dụng triệt để internet và mạng xã hội để tuyên truyền, liên tục tổ chức các cuộc “phỏng vấn”, “hội thảo”, “hội luận” nhằm vào các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, các phần tử cực đoan, quá khích trong tôn giáo bàn về chủ đề “tổng nổi dậy”, “biểu tình” và “quyền thành lập tổ chức chính trị đối lập”; tập trung tuyên truyền đòi đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, “phi chính hóa” lực lượng vũ trang; kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tạo tâm lý hoài nghi trong quần chúng nhân dân về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Đề cao cảnh giác các luận điệu cổ xúy “xã hội dân sự”: Thực tiễn tại Liên Xô từ những năm 80 của thế kỷ 20 đã hình thành các công đoàn, tổ chức hội có xu hướng tách khỏi quản lý của nhà nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức xã hội dân sự” nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Đến cuối thập niên 1980, nhiều tổ chức “xã hội dân sự” nhận tài trợ nước ngoài, vận động ngầm hoặc công khai truyền bá tư tưởng phủ nhận Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô; nhiều cơ quan xuất bản, phát thanh, truyền hình được phương Tây tài trợ đã quay sang chỉ trích lịch sử cách mạng, khiến tư tưởng chính trị của đảng viên và nhân dân Liên Xô trở nên dao động dữ dội, lòng tin vào sự nghiệp cách mạng sụt giảm nghiêm trọng. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của Liên Xô.

Ở Việt Nam, các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã tiếp tay, nuôi dưỡng các tổ chức phi chính phủ bằng những khoản viện trợ, tài trợ để giương cao khẩu hiệu “dân chủ, tự do, nhân quyền”, lợi dụng mâu thuẫn xã hội, kích động, xúi giục, lừa dối và lôi kéo đông đảo người dân tham gia các hoạt động biểu tình, khiếu kiện đông người, tạo ra những điểm nóng chính trị-xã hội. Thực tế thời gian qua, chúng đã thành lập các tổ chức “xã hội dân sự” với tên gọi, khẩu hiệu dễ gây ấn tượng với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như: “Diễn đàn xã hội dân sự”; “hội tù nhân lương tâm”; “hội phụ nữ nhân quyền”; “hội bầu bí tương thân”; “hội nhà báo độc lập”; “hội anh em dân chủ”...

Trước hành động cổ xúy “xã hội dân sự” hiện nay của một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, chúng ta cần chủ động nhận diện, đấu tranh, phản bác và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Trước hết, các cấp ủy đảng và chính quyền, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ về “xã hội dân sự” và có cách ứng xử phù hợp với các thế lực có yêu sách đòi hình thành và phát triển “xã hội dân sự” theo kiểu xã hội phương Tây; thẳng thắn bác bỏ và phê phán, đấu tranh kiên quyết với những quan điểm khuyến khích, cổ vũ “xã hội dân sự” một cách mù quáng, bất chấp những hệ lụy, với ý đồ thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị-xã hội đối lập ở nước ta.

Các cơ quan chức năng, các cơ quan nghiên cứu kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp hạn chế đến mức thấp nhất những hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực của “xã hội dân sự” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam. Đảng, Nhà nước tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hiệp hội; thúc đẩy phát triển các tổ chức này phù hợp với luật pháp, điều kiện thực tế của đất nước, phù hợp với cơ chế vận hành của thể chế chính trị, giữ vững bản chất chế độ XHCN.

Cùng với đó, các cơ quan, mặt trận, đoàn thể, các ngành, các cấp tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn cảnh giác, ngăn chặn kịp thời không để du nhập, áp đặt hình thành mô hình “xã hội dân sự” theo kiểu xã hội phương Tây không phù hợp với điều kiện đất nước; không để các thế lực nước ngoài chi phối các tổ chức xã hội ở nước ta. Bảo đảm sự hình thành, hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hiệp hội thực sự xuất phát từ nhu cầu thiết thực, hợp pháp của nhân dân và được định hướng, tổ chức, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

“Xã hội dân sự” hiện nay là vấn đề chính trị-xã hội phức tạp, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nhận thức đúng đắn, hành động cẩn trọng, bảo đảm cơ sở chính trị, pháp lý rõ ràng, không để các tổ chức “xã hội dân sự” phát triển một cách tự phát; nâng cao cảnh giác và chủ động phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu của thế lực thù địch cổ xúy “xã hội dân sự” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên để bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước.

THỰC HIỆN ĐỒNG BỘ "4 KHÔNG" ĐỂ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG HIỆU QUẢ TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" thì chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"...

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao... Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Trong đó, công tác phòng, chống tham nhũng đóng vai trò hết sức quan trọng, được coi là cuộc “tự cách mạng” triệt để, góp phần làm trong sạch nội bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, bảo đảm không có vùng cấm, qua đó đã tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá cao, đồng tình ủng hộ. Tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và hệ thống chính trị từng bước được kiềm chế, ngăn chặn.

Đặc biệt, là Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quyết tâm chính trị rất cao và mẫu mực nêu gương, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá, gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Qua đó, tạo được sự thống nhất cao trong hệ thống chính trị và nhân dân với tinh thần “tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; không chấp nhận những cán bộ, đảng viên ngả nghiêng, dao động.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn còn những mặt hạn chế cần phải thẳng thắn nhìn nhận và quyết tâm khắc phục bằng được để ngăn chặn hiệu quả cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái, biến chất, vi phạm pháp luật và đạo đức, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, đồng thời là cái cớ để các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chống phá nhằm thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta.

Trước hết, chúng ta cần thấy rằng, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng thời gian qua có mặt còn hạn chế, nhất là trong vận động xây dựng văn hóa sống liêm khiết, tiết kiệm, không tham nhũng, tiêu cực. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân chưa nhận thức đầy đủ các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của các tổ chức trong phòng, chống tham nhũng, thiếu tự giác chấp hành.

Vẫn còn tình trạng thờ ơ, ngại đấu tranh với biểu hiện tham nhũng trong nội bộ; trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chưa được thực hiện nghiêm túc, tính tiền phong, gương mẫu chưa cao; một bộ phận không nhỏ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lợi dụng chức vụ, quyền hạn và những sơ hở của chính sách, pháp luật, sự lơi lỏng trong công tác quản lý để tham nhũng, trục lợi. Thực tế những vụ án nổi cộm về tham nhũng, tiêu cực liên quan đến Công ty Việt Á và các "chuyến bay giải cứu", hay trong hoạt động đăng kiểm ô tô vừa qua đã cho thấy rõ điều này. 

Cùng với đó, các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình chưa được quan tâm thực hiện đầy đủ ở một số cơ quan, tổ chức; những quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn chậm được triển khai và chưa thực hiện quyết liệt.

Việc kiểm soát quyền lực, công tác kiểm tra theo phân cấp còn chưa thường xuyên và thiếu nghiêm túc; có nơi chưa chủ động phát hiện, xử lý chưa kiên quyết và dứt điểm đối với các trường hợp vi phạm, dẫn đến từ vi phạm nhỏ thành vi phạm lớn...

Vẫn để xảy ra một số vụ việc, vụ án tham nhũng phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và uy tín của quốc gia trên trường quốc tế; đồng thời là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Đảng đưa công tác phòng, chống tham nhũng lên tầm cao hơn, là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể nhân dân, với tinh thần phải làm quyết liệt, thể hiện qua 3 vấn đề: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, lãng phí, bảo đảm không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự.

Công tác phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, nhiều khó khăn, phức tạp, phải tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì ở tất cả các cấp, ngành, lĩnh vực, với những cách làm vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm. Đảng ta chủ trương phải xây dựng được cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; bảo đảm chế độ chính sách để “không cần tham nhũng” và xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn tham nhũng”.

Theo tinh thần thực hiện đồng bộ "4 không" nêu trên, trước hết chúng ta cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về đạo đức công vụ, sự liêm chính, chí công vô tư, kiên trì xây dựng văn hóa tiết kiệm, trọng danh dự, liêm sỉ, không tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là sự gương mẫu của người đứng đầu và đội ngũ cán bộ chủ chốt của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Cần nghiên cứu đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương trình giảng dạy cho học sinh, sinh viên, hình thành đức tính liêm chính từ lúc còn trẻ tuổi.

Chú trọng tuyên truyền, nhân rộng cá nhân điển hình tiên tiến; bảo vệ, khen thưởng, động viên khích lệ những người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Cùng với thông tin kịp thời, minh bạch về những vụ án, vụ việc tham nhũng, cần chủ động đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch, lợi dụng chống tham nhũng để chống phá Đảng, Nhà nước, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. 

Về hình thành cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng, đầu tiên chúng ta cần kiên quyết chỉ đạo rà soát, bổ sung quy chế làm việc của các cấp ủy, chính quyền bảo đảm chặt chẽ, công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý, lãnh đạo, điều hành và chấp hành. Hoàn thiện các cơ chế về kiểm soát quyền lực trong những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, công chức, viên chức. Bảo đảm kịp thời tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị, tố cáo của người dân, doanh nghiệp đối với những hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà của tổ chức, cá nhân trong khi thi hành công vụ...

Việc vô cùng quan trọng là phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, có kiến thức, năng lực toàn diện, đặc biệt là có đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, không tham vọng quyền lực và tham nhũng, cơ hội, cửa quyền, tư duy nhiệm kỳ.

Chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ quy hoạch vào vị trí lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhiều đơn thư phản ánh, tố cáo. Phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng; ngăn chặn có hiệu quả các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán phải được tiến hành thường xuyên, toàn diện, công khai, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, những vấn đề nổi cộm gây bức xúc trong xã hội. Kịp thời phát hiện, giải quyết từ sớm, ngăn chặn từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.

Cuối cùng, như người xưa đã đúc rút: "Có thực mới vực được đạo", chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập và có chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, có ý thức tự giác “không cần tham nhũng”. 

Thực tế cho thấy, mức thu nhập chính thức của đại đa số cán bộ, công chức hiện nay còn rất thấp so với nhu cầu cuộc sống bình thường, nên không ít người thiếu bản lĩnh đã có tư tưởng kiếm chác, làm liều để lo cho cuộc sống gia đình, dễ bị cám dỗ, mua chuộc, dẫn đến thoái hóa, biến chất. Đảng, Nhà nước cần thẳng thắn nhìn nhận thực tế này để nghiên cứu chế độ chính sách chăm lo cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phù hợp, khắc phục tình trạng "đói ăn vụng, túng làm liều" và tư tưởng "hy sinh đời bố, củng cố đời con" theo chiều hướng tiêu cực.  

Quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để bảo đảm "4 không" (không thể tham nhũng, không dám tham nhũng, không cần tham nhũng, không muốn tham nhũng) thì chắc chắn tham nhũng, tiêu cực sẽ được đẩy lùi, giảm nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và các thế lực thù địch cũng không còn cớ để lợi dụng quy chụp, xuyên tạc nhằm chống phá nước ta.