Uy tín, đạo đức, trí tuệ, tầm nhìn của Đảng được hiện thân trong đường lối, cương lĩnh, được cụ thể hóa thông qua nhận thức và hành động của các đảng viên. Bởi lẽ, sức mạnh của Đảng do sức mạnh của đội ngũ đảng viên tạo nên. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Do đó, tăng cường công tác rà soát, sàng lọc đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng là một đòi hỏi tất yếu, khách quan có tính quy luật, là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
.Rà soát, sàng lọc đảng viên - nhiệm vụ cấp thiết trong tình
hình mới
Từ
ngày thành lập đến nay, nhất là sau hơn 35 năm đổi mới, Đảng ta luôn đã đề ra
nhiều chủ trương, nghị quyết, quy định, hướng dẫn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
trong đó quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, rà soát, sàng lọc, đưa
những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng. Nghị quyết số 195-NQ/TW, ngày 6-3-1970 của Bộ
Chính trị về cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên
Lớp Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “Đối với những người không đủ tư cách là
đảng viên, thoái hóa về chính trị và đạo đức, vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp
luật của Nhà nước, làm tổn thương nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân, đến uy
tín của Đảng, không được quần chúng tín nhiệm, thì nói chung phải đưa ra khỏi
Đảng”. Cụ thể Nghị quyết số 195-NQ/TW, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số
175-CT/TW, ngày 14-4-1970 Hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về
cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên Lớp Hồ Chí
Minh. Chỉ thị nêu nhấn mạnh: “Đưa những người không đủ tư cách ra khỏi
Đảng là một điều rất cần thiết để giữ cho Đảng được trong sạch về chính trị, để
nâng cao sức chiến đấu và uy tín, ảnh hưởng của Đảng.
Bên
cạnh đó, Đảng ta đang đặt ra những yêu cầu mới ngày càng cao, đòi hỏi đội ngũ
đảng viên không chỉ đông về số lượng mà phải có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
nêu rõ: “Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên;
thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư
cách ra khỏi Đảng. Thường xuyên rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục và đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đảng viên”. Nghị
quyết số 21-NQ/TW Trung ương 5 khóa XIII về tăng cường củng cố, xây
dựng TCCSĐ và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới đặt ra
mục tiêu: “Tỉ lệ kết nạp đảng viên mới
hằng năm trong giai đoạn 2020-2025 đạt 3 - 4% tổng số đảng viên”; đồng thời, đưa ra giải pháp: “Thường
xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi
Đảng; kịp thời chấn chỉnh đối với đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, đảng
viên không thực hiện đúng quy định về chuyển sinh hoạt đảng; đảng viên bi phạm
kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước; đảng viên thiếu gương mẫu, uy tín thấp…”. Đây là tiền đề, cơ sở để công tác đảng
viên nói chung và việc rà soát, sàng lọc đảng viên triển khai sâu rộng và mạnh
mẽ hơn nữa trong toàn Đảng và hệ thống chính trị.
Công tác rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không
còn đủ tư cách ra khỏi Đảng có vai trò quan trọng trong việc kịp thời phát hiện
những đảng viên không thực hiện đúng quy định của Đảng, sàng lọc những đảng
viên yếu kém, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Đảng, góp phần nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, chất lượng đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Đó là yêu cầu cấp thiết
đặt ra đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, là do một số nguyên nhân chủ
yếu sau: (1) Một bộ phận đảng viên thiếu gương mẫu, thiếu bản lĩnh, bị cám dỗ
bởi lợi ích cá nhân, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; có việc làm,
phát ngôn sai nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng; (2)
Công tác rà soát, sàng lọc đảng viên thời gian qua chưa đáp ứng yêu cầu; việc
kết nạp người chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có động cơ không đúng đắn vào Đảng
còn diễn ra ở nhiều nơi; (3) Yêu cầu, quy luật khách quan của mọi đảng cầm
quyền để quyền lực được sử dụng đúng, phục vụ mục tiêu chính trị của chính
đảng.
Những
kết quả bước đầu
Từ
Đại hội XI đến năm 2019, thực hiện các quy định, hướng dẫn của Trung ương, nhất
là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng
hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “tăng cường xây dựng, chỉnh
đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, các cấp ủy đảng
nhìn chúng đã tập trung siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; công tác rà soát,
sàng lọc đảng viên được tăng cường, qua đó, phát hiện những đảng viên không còn
đủ tư cách bằng các hình thức phù hợp.
Ngay
sau khi Trung ương ban hành Chỉ thị 28-CT/TW, các cấp ủy, tổ chức đảng đã
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc rà soát, sàng lọc đội ngũ đảng viên
cơ bản đảm bảo đúng quy trình, quy định. Có 51/63 địa phương triển khai việc cụ
thể hóa Quy định và Hướng dẫn của Trung ương với nhiều hình thức khác nhau: 33
địa phương ban hành kế hoạch; 2 địa phương ban hành quy định; 2 địa phương ban
hành thông báo hoặc thông tri; 2 địa phương ban hành chỉ thị; 25 địa phương ban
hành hướng dẫn; 28 địa phương ban hành công văn. Các cấp ủy đã nhận thức
rõ hơn, cụ thể hơn, phân biệt rõ hơn giữa công tác rà soát sàng lọc đảng viên
với công tác xử lý kỷ luật đảng viên theo Điều lệ Đảng; việc nhận diện đối
tượng cần được giáo dục, sàng lọc được cụ thể hơn; trách nhiệm của cấp ủy các
cấp, của đảng viên được nêu cụ thể rõ ràng hơn; các bước triển khai theo quy
trình rà soát, sàng lọc gắn với công tác đánh giá, xếp loại đảng viên hàng năm
được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm hơn, thực hiện dần đi vào nề nếp.
Từ
ngày 1-6-2019 đến ngày 15-12-2021, các cấp ủy, tổ chức đảng đã triển khai một
đợt rà soát 32.129 đảng viên theo Chỉ thị 28-CT/TW của Ban Bí thư. Qua rà soát, giúp cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp nắm
vững thực trạng công tác quản lý đảng viên; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ
của đảng viên; kịp thời rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư
cách ra khỏi Đảng.
Công
tác giáo dục, rèn luyện, giúp đỡ đảng viên được quan tâm thực hiện, nhiều đảng
viên vi phạm qua quá trình giáo dục, giúp đỡ của tổ chức đảng đã được công nhận
sự tiến bộ. Đồng thời, kịp thời chấn chỉnh những đảng viên có biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu tinh thần trách nhiệm,
thiếu gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ; từng bước nâng cao ý thức, tổ chức kỷ
luật, tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ. Kết quả
bước đầu đã góp phần sàng lọc, loại bỏ những đảng viên không đủ tiêu chuẩn,
điều kiện, làm trong sạch đội ngũ đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng. Riêng trong năm 2022, có 6.335 đảng viên được các
chi bộ đưa vào danh sách giáo dục, giúp đỡ, trong đó, 1.951 đảng viên được công
nhận sự tiến bộ, 1.854 đảng viên cần được tiếp tục giáo dục, giúp đỡ, 2.530
trường hợp bị đưa ra khỏi Đảng bằng hình thức khai trừ hoặc xóa tên. Việc
rà soát, sàng lọc đảng viên đã góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy
mạnh, xây dựng chỉnh đốn Đảng, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán
bộ, đảng viên suy thoái, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Rà
soát, sàng lọc đảng viên - khó nhưng không thể không làm
Đảng
như một cơ thể sống, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng. Tế bào khỏe
mạnh thì Đảng phát triển, tế bào hư hỏng thì Đảng ốm yếu, vì thế phải
đào thải tế bào hư hỏng, tránh để lâu trong đảng sẽ “di căn” sang tế bào khác.
Trong quá trình hoạt động của mình, Đảng phải thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng
và kết nạp vào Đảng những nhân tố mới là những quần chúng tích cực, có phẩm
chất, năng lực, trí tuệ và uy tín; đồng thời, cũng phải thường xuyên rà soát,
sàng lọc, đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng để làm
trong sạch Đảng. Để làm tốt công tác rà
soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng nhằm góp
phần nâng cao chất lượng đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung một
số nhiệm vụ sau:
Một
là, nâng cao nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng về tầm quan
trọng của công tác kết nạp, sàng lọc đảng viên. Nâng cao nhận thức không
chỉ bằng lời nói, bằng văn bản mà quan trọng là được chuyển thành ý thức tự
giác, danh dự tự giác, động cơ tự giác, trách nhiệm tự giác, làm cơ sở cho hành
động tự giác được thể hiện trong mỗi TCCSĐ và đảng viên. Chỉ khi các cấp ủy, tổ
chức đảng và cán bộ, đảng viên nhận thức những “đảng viên không còn đủ tư cách”
là những cá thể có nguy cơ đe dọa đối với tập thể, cá nhân, đối với sự tồn vong
của Đảng thì mới tự giác nghiêm túc thực hiện. Bên cạnh đó, phát huy vai trò và
trách nhiệm nêu gương trong thực hiện chuẩn mực đạo đức và thực hiện nhiệm vụ
được giao của cán bộ, đảng viên, nhất là những người đứng đầu cấp ủy, đơn vị;
đưa việc nêu gương trở thành nhiệm vụ thường xuyên của cán bộ, đảng viên trong
toàn hệ thống chính trị cũng là giải pháp rất quan trọng.
Hai là, nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên để Đảng ta có
nhiều đảng viên có chất lượng,
đủ sức đấu tranh, ngăn chặn loại bỏ những đảng viên suy thoái, biến chất. Để
thực hiện tốt nội dung này của cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện chặt chẽ, đúng
quy định các bước trong công tác kết nạp đảng viên; thực hiện đúng, đủ, công
khai, minh bạch quy trình, từ khâu phát hiện, lựa chọn những quần chúng ưu tú
để đưa vào nguồn kết nạp, bồi dưỡng, giúp đỡ đến khâu thẩm tra, xác minh và xem
xét kết nạp vào Đảng. Thực hiện nghiêm túc quy định thẩm tra lý lịch và lấy ý
kiến nhận xét của tổ chức chính trị - xã hội đối với người được xem xét kết nạp
vào Đảng. Kiểm soát tốt “đầu vào” cũng chính là bước sàng lọc đầu tiên để đảm
bảo chất lượng đảng viên đáp ứng yêu cầu của Đảng. Phát
triển đội ngũ đảng viên phải luôn đi đôi với củng cố tổ chức đảng, coi trọng
chất lượng hơn số lượng.
Ba
là, tăng cường công tác quản lý đảng viên. Các
cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng và nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng của đảng viên; thường xuyên kiểm tra chi bộ, đảng viên thực
hiện chế độ sinh hoạt đảng. Nắm chắc những biểu hiện về đạo đức, lối sống của
cán bộ, đảng viên, kịp thời phát hiện
những đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo 27 biểu hiện.
Quản lý việc lập và sử dụng các trang thông tin trên in-tơ-nét, mạng xã hội,
đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động…
Thực hiện nghiêm Quy định số 213-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc “Đảng viên đang
công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thường xuyên giữ mối
liên hệ với chi uỷ, đảng uỷ cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi
cư trú”. Triển khai thực hiện
nghiêm việc đảng viên xây dựng cam kết tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện các nghị
quyết, quy định của Đảng (nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Kết
luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, trách nhiệm nêu gương
theo Quy định 08-QĐ/TW, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được
làm). Nghiên cứu giải
pháp phù hợp tạo thuận lợi trong việc chuyển sinh hoạt đảng cho đảng viên là
sinh viên sau khi tốt nghiệp, đảng viên đi làm ăn xa…
Bốn
là, làm tốt công tác đánh giá cán bộ, đảng viên để
có căn cứ sàng lọc, loại bỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất. Cấp ủy các
cấp nâng cao nhận thức cho các tổ chức đảng, đảng viên về mục đích, ý nghĩa,
tầm quan trọng của công tác đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng
viên, tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định chặt chẽ việc thực
hiện, đảm bảo dân chủ, khách quan, đúng thực chất; khắc phục triệt để tình
trạng nể nang, né tránh, bệnh thành tích trong kiểm điểm tự phê bình và phê
bình, đánh giá, xếp loại đảng viên. Việc đánh giá đúng đảng viên sẽ khắc phục
được tâm lý “duy tình”, ngại phê bình, là nhân tố cản trở việc rà soát, sàng
lọc đã chỉ ra ở trên. Đồng thời, cần phải đề cao tính kỷ luật, kỷ cương của
Đảng, tính chiến đấu, tự phê bình, phê bình và nâng cao trách nhiệm đảng viên
trong sinh hoạt chi bộ tập trung củng cố các tổ chức đảng yếu kém, có biện pháp
giúp đỡ, giáo dục đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ; xây dựng lộ trình sửa
chữa, khắc phục khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình.
Năm
là, thường xuyên rà soát, đơn giản hoá quy trình, thủ tục và
đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đảng viên. Xây dựng,
hoàn thiện quy định, thể chế về công tác đảng viên và quản lý đảng viên; nhất
là các quy định liên quan đến rà soát, sàng lọc và nâng cao chất lượng đội ngũ
đảng viên trong tình hình mới. Đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý đảng viên, bảo đảm đồng bộ, liên
thông trong toàn đảng bộ. Nghiên cứu triển khai, nhân rộng mô hình “Sổ
tay đảng viên điện tử” ở những nơi có đủ điều kiện để kịp thời cung
cấp thông tin, học tập các nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận của Đảng; hỗ
trợ các tính năng sinh hoạt chi bộ; giúp cấp ủy, tổ chức đảng tiếp nhận và phản
hồi các ý kiến của đảng viên…
Sáu là, xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với đảng viên. Xác định đúng tiêu chuẩn của người đảng viên tạo điều kiện cho mỗi
đảng viên phấn đấu để giữ gìn hình ảnh người đảng viên cộng sản, giữ gìn uy tín
cho Đảng. Ngoài việc xây dựng tiêu chuẩn chung, các cấp ủy, tổ chức đảng cần cụ
thể hóa tiêu chuẩn đảng viên trong một số lĩnh vực như: đối với đảng viên là
công nhân; đối với đảng viên ở nông thôn; đối với đảng viên trong các cơ quan
hành chính, đơn vị sự nghiệp; đối với đảng viên là thanh niên, học sinh, sinh
viên và trí thức; đối với đảng viên trong lực lượng vũ trang…
Bảy là, cấp ủy cấp trên tăng cường kiểm
tra công tác đảng viên, nâng cao hiệu quả công tác
kiểm tra, giám sát; tập trung kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên trong việc
chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhất là những quy định về đấu tranh,
ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống của cán bộ, đảng viên, quy định về nêu gương và đề cao tính tiền phong,
gương mẫu, trách nhiệm đối với người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính
trị... thực hiện việc sơ, tổng kết, phát huy các đơn vị điển hình thực hiện
tốt, uốn nắn những nơi làm chưa tốt công tác đảng viên; kiên quyết xóa tên
những đảng viên không còn thiết tha với Đảng. Kịp thời phát hiện, biểu dương,
khen thưởng, nhân rộng những tấm gương đảng viên tiêu biểu; đồng thời, phê
bình, xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.
Tám là, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận
Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện, đạo đức, lối sống của cán bộ,
đảng viên; phát hiện những đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, có biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tạo điều kiện để các tổ chức tham gia
đóng góp ý kiến, giám sát việc rà soát, sàng lọc đảng viên; nhất là những đảng
viên thuộc diện đưa vào danh sách để chi bộ giáo dục, giúp đỡ, cần lấy thêm ý
kiến của chi bộ nơi cư trú để làm căn cứ đánh giá kết quả tu dưỡng, rèn luyện,
phấn đấu của đảng viên.