Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023
NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3
Không thể xuyên tạc chính sách đối với người có công
Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng không ngừng quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công và đẩy mạnh phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa" với nhiều hoạt động thiết thực nhằm thể hiện tình cảm, trách nhiệm sâu sắc đối với những người đã chiến đấu, hy sinh tính mạng và một phần xương máu của mình vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc. Thế nhưng, bằng mọi thủ đoạn, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đã không ngừng xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người có công nhằm kích động chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc...
Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiện vì cách mạng với người ngả
xuống trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm
làm tay sai cho thực dân đế quốc, phản bội Tổ quốc; đồng thời, gây ra những
hành động cụ thể để hạ thấp, phủ nhận sự hy sinh, cống hiến của người có công;
cho rằng đất nước được giải phóng là do công sức của toàn dân tộc chứ không
riêng gì thương binh, liệt sĩ.
Lợi dụng những vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện
chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương, chúng viết bài,
đưa thông tin, hình ảnh… trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ,
đánh tráo giá trị, “đổi trắng, thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài
nghi về chính sách ưu đãi đối với người có công, đổ điều cho rằng, kinh kế Việt Nam chậm phát
triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho thương
binh, liệt sĩ. Mục đích kích động
chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Bất chấp đạo lý, các thế lực thù địch, phần tử
bất mãn, cơ hội chính trị, phản động luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để xuyên
tạc, chống phá. Họ hạ thấp sự hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, thương binh
trong quá trình giải phóng dân tộc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
đối với người có công nhằm kích động, chống phá chế độ, chia rẽ khối đại đoàn
kết toàn dân tộc.
Dẫu biết rằng, những thủ đoạn trên tuy không phải
chiêu trò mới mà các thế lực thù địch thực hiện trong chiến lược “diễn biến hòa
bình” đối với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy
sinh to lớn của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, người có công là thủ đoạn
thể hiện sự tột cùng của bản chất bất nhân, vô ơn, bạc nghĩa để phục vụ mục
tiêu chống phá, tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ
phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây
chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phủ nhận sự hy sinh to lớn của các Anh
hùng liệt sỹ, khoét sâu vào mất mát, nỗi đau chiến tranh, tổn thương thân nhân
gia đình liệt sỹ, thương binh, người có công với cách mạng.
Trước những dã tâm đen tối, thủ đoạn đê hèn, tàn độc của số cá
nhân cực đoan, những tổ chức phản động; là công dân Việt Nam, mỗi chúng ta cần
thẳng thắn lên án, vạch trần, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương
của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước ta trong tình hình hiện
nay. Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh tuyên
truyền giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ, giúp họ hiểu, biết
ơn và trân trọng những đóng góp hy sinh xương máu của các anh hùng liệt sĩ,
thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh có
hiệu quả với những biểu hiện sai trái, xuyên tạc về chính sách người có công
với cách mạng.
NÊU GƯƠNG - MỘT PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO HIỆU QUẢ CỦA ĐẢNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Trước âm mưu của các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; chúng đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong
Để làm tốt công tác bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là,
tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về ý nghĩa,
tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản
lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm tốt
công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để không ngừng nâng cao trình độ lý luận
chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho cán
bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Đẩy mạnh tuyên truyền về vị trí,
vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; phổ
biến những thành tựu mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng
tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc
đổi mới. Phát huy hiệu quả đội ngũ cộng tác viên trong tham gia viết bài đấu
tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các báo, tạp chí. Đồng thời, đề
cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ thông tin
tích cực, bài viết chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”,
“lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.
Hai là, tăng
cường xây dựng, chính đốn Đảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu
biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch, lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập
những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức
đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập
trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình.
Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng;
tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí
Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị,
tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức,
lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu
gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Ba là, kịp thời cung cấp thông
tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt
trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Kịp thời cung cấp thông tin,
định hướng dư luận xã hội trước các sự kiện, vấn đề nảy sinh, tạo thế chủ động
trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Thông tin kịp thời
các phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, chỉ rõ
mục tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác, làm cơ sở
cho các lực lượng viết tin, bài đấu tranh. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy
cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động
xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong
hoạt động đấu tranh.
Bốn là, thường xuyên nắm tình
hình, tổ chức công tác đối thoại, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân
dân, vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội tăng
cường công tác tuyên truyền, vận động cán bộ đoàn viên, hội viên, các tầng lớp
nhân dân nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tạo thế trận lòng dân vững
chắc.
Đấu
tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với
Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn
chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu,
thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động trong tình hình
mới, tạo điều kiện,
tiền đề vững chắc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quyết
tâm mạnh mẽ hơn để phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước
đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm
2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên theo định hướng
XHCN.
Yêu cầu đối với tăng cường hợp tác quốc phòng trong tình hình mới
Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có
những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự
báo, trong đó “hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang
đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn... Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục
tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước
lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan”; cạnh tranh chiến lược, cạnh
tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt. Theo đó, tình hình thế
giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen,
đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đòi hỏi việc tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng cần thực hiện tốt một số yêu cầu cơ bản sau:
Một là, hợp tác quốc phòng phải
góp phần giữ vững mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và nhân dân ta đã lựa chọn.
Mọi hoạt động hợp tác quốc tế phải nhằm góp phần hiện thực hóa
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong đó “tiếp tục phát huy
vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất
nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Hợp
tác quốc phòng phải hướng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà
nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân
tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh
con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” . Trong đó hướng đến mục tiêu
“bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản
của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có
lợi”. Hợp tác quốc phòng phải trực tiếp góp phần tăng cường tiềm lực
quốc phòng, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại. Tăng cường uy tín, vị thế, ảnh hưởng của đất nước và Quân đội
nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế, đưa Việt Nam trở thành một trong những
thành viên giữ vai trò quan trọng trong các cơ chế hợp tác quốc phòng của khu
vực. Đồng thời, hợp tác quốc phòng góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo
tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tạo cơ sở nền tảng để phát triển toàn
diện đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Hai là, hợp tác quốc phòng luôn
bám sát đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.
Hợp tác quốc phòng phải “thực hiện nhất quán đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa,
đa phương hóa quan hệ đối ngoại” trên tinh thần “Việt Nam là
bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng
đồng quốc tế”. Thường xuyên quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc,
hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, phù hợp với yêu
cầu, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn. Đồng thời, mọi hoạt động hợp tác quốc
phòng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý
của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đảng Cộng sản
Việt Nam là lực lượng giữ quyền độc tôn lãnh đạo hoạt động đối ngoại quốc
phòng; quyền lãnh đạo đó không san sẻ, chia sẻ cho các lực lượng, tổ chức chính
trị - xã hội khác. Mọi hoạt động hợp tác quốc phòng đều phải bám sát quan điểm,
chủ trương, phương châm, mục tiêu, nội dung, phương thức mà Đảng xác định. Sự
lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động này được cụ thể hóa thông qua vai trò quản
lý của Nhà nước, trực tiếp là Bộ Quốc phòng và chỉ huy các cấp trong Quân đội
nhân dân Việt Nam.
Ba là, đẩy mạnh hợp tác song phương, nâng tầm
hợp tác đa phương về quốc phòng, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ
quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phương châm đối ngoại: “Làm
bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Đặc
biệt, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ hiện đại và toàn cầu
hóa cần “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng” để bảo
vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Do vậy, cần đẩy mạnh hợp tác quốc phòng song phương
với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển
trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Tiếp tục đưa các quan hệ hợp
tác quốc phòng đã được thiết lập giữa Việt Nam với các nước, nhất là
các nước lớn đi vào chiều sâu, thực chất, thiết thực và hiệu quả,
phù hợp với từng đối tác, tình hình thế giới và điều kiện, nhu cầu
của đất nước; tạo sự đan xen, gắn kết, ràng buộc và cân bằng lợi ích về
chính trị với quốc phòng, an ninh giữa Việt Nam với các nước.
Nâng tầm hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc
phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia; chủ động, tích cực cùng các nước
ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh; tham gia và đóng góp định hình các cơ
chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà Việt Nam là thành viên, trước hết là
các cơ chế do ASEAN giữ vai trò trung tâm, như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng
các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng
(ADMM+), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Sẵn sàng tham gia các cơ chế hợp tác
quốc phòng, an ninh phù hợp với khả năng và lợi ích của Việt Nam, trong đó có
các cơ chế quốc phòng, an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Liên minh
châu Âu và Liên hợp quốc. Tiếp tục đóng góp thực chất, hiệu quả và mở rộng quy
mô, phạm vi tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện,
diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn; hợp tác
quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh; tích cực tham gia nỗ lực chống phổ biến
vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chủ động và tích cực tham gia
các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương và cơ quan pháp lý quốc tế
khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can
thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia.
Hợp tác bảo vệ và giao lưu hữu nghị biên giới là một trong những
ưu tiên đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nhằm củng cố đường biên giới hòa
bình, an ninh, hợp tác và phát triển. Tăng cường hợp tác tuần tra chung, trao
đổi kinh nghiệm với các quốc gia có chung đường biên giới trong công tác quản
lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia,
di cư, nhập cư bất hợp pháp; tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai ở
khu vực biên giới. Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với hải quân và lực lượng thực thi
pháp luật trên biển của các nước nhằm tăng cường xây dựng lòng tin, ngăn ngừa
xung đột và ứng phó với những thách thức an ninh chung, tiếp tục thúc đẩy giải
quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng
không trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hợp tác với các nước, các tổ chức quốc
tế trong việc chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nguồn lực giúp Việt Nam khắc phục hậu
quả chiến tranh.
Bốn là, hợp tác quốc phòng phải
tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả.
Hợp tác quốc phòng phải tích cực, chủ động, dám nghĩ, dám làm,
dám chịu trách nhiệm nhưng phải có lộ trình phù hợp với điều kiện, khả năng và
yêu cầu trong từng giai đoạn; phải chắc chắn, thận trọng, không chủ quan, nóng
vội, không bị động, bất ngờ; kiên định về chiến lược, nguyên tắc, nhưng linh
hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “phải nhìn cho rộng, suy
cho kỹ” để biết mình, biết người, luôn
làm chủ tình thế, “biết thời, biết thế”, “cương nhu kết hợp”,
bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Đồng thời, hợp tác quốc phòng
phải đạt được hiệu quả, đạt được mục tiêu đã xác định trong từng công việc,
từng thời điểm cụ thể; ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, làm phá sản mọi
âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù
địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa
phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết,
kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế
lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”. Hợp tác
quốc phòng phải quán triệt và thực hiện tinh thần chủ động tiến công, mềm mại, khôn khéo, nhưng kiên cường, quyết liệt;
linh hoạt, sáng tạo nhưng bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách,
khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân
ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu,
biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái,
“tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. Chủ động dự báo, nắm chắc
tình hình, xu thế vận động của thế giới, nhất là quan hệ giữa các
nước lớn có liên quan trực tiếp đến Việt Nam để đề ra chính sách
quốc phòng và chủ trương hợp tác quốc phòng phù hợp; làm chủ tình hình,
kiên định, kiên trì những vấn đề có tính nguyên tắc nhưng phải hết sức linh
hoạt, mềm dẻo, vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”.
Để thực hiện được điều đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại
giao của Nhà nước và đối ngoại nhân dân; thường xuyên chú trọng công tác
tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đối
ngoại quốc phòng có đủ bản lĩnh chính trị và năng lực, trình độ,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Trước diễn biến mau lẹ của tình hình thế giới, khu vực, hoạt
động hợp tác quốc phòng nói riêng, hội nhập quốc tế nói chung phải luôn quán
triệt sâu sắc và thực hiện "một trường phái
đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm
bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Trong đó, luôn xác định lợi ích quốc
gia - dân tộc, bảo vệ môi trường hòa bình, xây dựng lòng tin chiến
lược, ngăn ngừa nguy cơ xung đột là mục tiêu cao nhất. Thường xuyên nắm
vững đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, bám
sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng;
sáng tạo, linh hoạt trong quá trình chỉ đạo, tổ chức các hoạt động
đối ngoại quốc phòng. Để thực hiện được điều đó, phải luôn đặt công tác
hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong tổng thể hội nhập quốc
tế và đối ngoại chung của cả nước; kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an
ninh với đối ngoại, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong điều kiện mới.
HAIVAN
Hợp tác quốc tế về quốc phòng phát triển ngày càng sâu rộng và thực chất
Những năm qua, thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, mà trực
tiếp là Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập
quốc tế”, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 806-NQ/ QUTW, ngày 31-12-2013,
“Về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp
theo”, đưa hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trở thành trụ cột quan
trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, là một trong những kế sách bảo vệ Tổ
quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Hợp
tác quốc phòng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì hòa bình, ổn
định trong khu vực và trên thế giới, đồng thời là yếu tố để thực hiện các mục
tiêu quốc phòng của Việt Nam. Đây trở thành một nhiệm vụ quan trọng, thường
xuyên của quân đội trong thời bình, gắn chặt với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng
chiến đấu, sản xuất và công tác.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ
Quốc phòng, hợp tác quốc phòng không ngừng được mở rộng cả bề rộng lẫn chiều
sâu. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước, trong đó có
đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và 3 tổ chức
quốc tế. Thiết lập quan hệ quốc phòng với các đối tác chủ chốt, gồm: 3 nước
quan hệ đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện; 4
nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước có quan hệ đối tác chiến
lược; 13 nước có quan hệ đối tác hợp tác toàn diện.
Quan hệ hợp tác quốc phòng song phương tiếp tục được củng cố và
đi vào chiều sâu, thực chất. Với các nước có biên
giới liền kề, hợp tác quốc phòng tiếp tục là ưu tiên hàng đầu nhằm giải quyết
các vấn đề về biên giới lãnh thổ, xây dựng và giữ vững tuyến biên giới hòa
bình, ổn định, hợp tác, hữu nghị và phát triển. Với các nước lớn, hợp tác quốc
phòng góp phần xử lý tốt mối quan hệ, tạo thế đan xen chiến lược, vừa hợp tác,
vừa đấu tranh để bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc. Với
các nước đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, hình thức và nội dung hợp tác ngày
càng được mở rộng và làm sâu sắc hơn trên nhiều lĩnh vực. Hợp tác quốc phòng
cũng được củng cố, bảo đảm sự ủng hộ của các nước Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) đối với các lợi ích chính đáng của Việt Nam trong khu vực. Với
các nước bạn bè truyền thống, hợp tác quốc phòng được duy trì phù hợp với nhu
cầu của Việt Nam và khả năng của các nước bạn.
Trên cơ sở đó, quan hệ quốc phòng song phương của Việt Nam với
các đối tác được thực hiện với nhiều nội dung, hình thức khác nhau, mang lại
hiệu quả thiết thực. Trong đó, thúc đẩy công tác đối ngoại biên giới thông qua
việc ký kết, thực hiện hiệu quả các văn bản, thỏa thuận hợp tác với lực lượng
bảo vệ biên giới của các nước Trung Quốc, Lào, Campuchia; phối hợp đấu tranh
chống các loại tội phạm xuyên biên giới, di cư trái phép; tăng cường các hoạt
động tuần tra chung trên bộ, trên biển; tổ chức giao lưu hữu nghị quốc phòng
biên giới với Trung Quốc, Lào và xúc tiến với Campuchia, giao lưu biên cương
thắm tình hữu nghị; kết nghĩa đồn - trạm, cụm bản; trao đổi kinh nghiệm; đào
tạo cán bộ, góp phần xây dựng đường biên giới trên bộ hòa bình, ổn định, hợp
tác, hữu nghị và phát triển. Giai đoạn 2016 - 2021, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên
phòng chủ trì, tham mưu cho Bộ Quốc phòng tổ chức ký kết 30 văn bản hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực hợp tác biên phòng, phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới.
Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng 25 tỉnh biên giới đất liền tổ chức ký kết biên bản
hợp tác thuộc lĩnh vực biên phòng với 60 đại diện lực lượng quản lý, bảo vệ
biên giới tương ứng (cấp tỉnh) của các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia. Hai
bên thường xuyên, luân phiên theo định kỳ tổ chức gặp gỡ, tọa đàm theo các cấp
(cấp Bộ Tư lệnh; bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố và cấp đồn, trạm
biên phòng), trao đổi, phối hợp hiệu quả trên các lĩnh vực hợp tác biên phòng.
Tích cực, chủ động, phối hợp hiệu quả hoạt động tuần tra song phương với lực
lượng quản lý, bảo vệ biên giới các nước láng giềng được 1.817 lần/18.939 lượt
cán bộ, chiến sĩ hai bên tham gia, qua đó, quản lý, kiểm soát chặt chẽ cửa
khẩu, phối hợp đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, hoạt động buôn lậu,
xuất - nhập cảnh trái phép, đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy; bảo đảm an
ninh, trật tự khu vực biên giới với các nước láng giềng.
Ngoài ra, hợp tác quốc phòng với các nước, các tổ chức khu vực
và quốc tế được triển khai dưới nhiều hình thức để bảo vệ an ninh biển. Lực
lượng hải quân, cảnh sát biển và các lực lượng hoạt động trên biển tăng cường
giao lưu, hợp tác với các đối tác của các nước có vùng biển liền kề để thúc đẩy
sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và giải quyết các vấn đề an ninh biển, thực hiện
kiểm soát các vấn đề nảy sinh trên biển để phòng ngừa xung đột. Duy trì tốt
công tác bảo đảm an ninh và thực thi pháp luật trên biển thông qua các cơ chế
tham vấn song phương và ký kết các văn bản hợp tác; tổ chức tuần tra chung với
hải quân và lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các nước; phối hợp trao
đổi, chia sẻ thông tin về tìm kiếm cứu nạn và tham gia tích cực các hoạt động
trong khuôn khổ đa phương. Xây dựng các cơ chế song phương và đa phương để đối
phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống trên Biển Đông, hợp tác chặt chẽ
với các nước thành viên ASEAN trong quá trình thực hiện Tuyên bố về ứng xứ của
các bên ở Biển Đông (DOC), xây dựng và thực hiện Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông
(COC).
Hợp tác về đào tạo, trao đổi chuyên môn, nghiên cứu khoa học
được chú trọng với số lượng cán bộ cử đi học ở nước ngoài ngày càng tăng,
chuyên ngành được mở rộng, có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời, ta tiếp nhận
hàng trăm học viên quân sự quốc tế tham gia các khóa học tại Việt Nam. Trong
giai đoạn 2016 - 2021, ta cử 3.954 cán bộ, học viên tham gia các khóa đào tạo
dài hạn và ngắn hạn tại 39 quốc gia, như Nga, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ,
Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc… Với Lào, ta tiếp nhận 970 học viên
quân sự sang đào tạo dài hạn và 2.066 cán bộ sang tập huấn ngắn hạn; với
Campuchia, tiếp nhận 1.500 học viên quân sự sang đào tạo dài hạn và 3.683 cán
bộ sang tập huấn ngắn hạn. Ngoài ra, thông qua các hoạt động giao lưu, huấn
luyện, diễn tập chung với các nước, ta tranh thủ học hỏi nhiều kinh nghiệm,
công nghệ tiên tiến của đối tác, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, cũng
như khả năng phối hợp hoạt động giữa các lực lượng quân đội của ta với lực
lượng các nước trong khu vực và quốc tế.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đầu tư, thương mại quân sự được
quan tâm thúc đẩy và tiến hành chặt chẽ, hiệu quả; đa dạng hóa các quan hệ
thương mại quốc phòng, cung cấp cho quân đội những trang thiết bị, vũ khí phù
hợp với yêu cầu tác chiến. Trong khi duy trì các mối quan hệ thương mại với các
bạn hàng truyền thống, Việt Nam mở rộng quan hệ thương mại với các đối tác tiềm
năng, thực hiện kết hợp chặt chẽ các hoạt động thương mại, kinh tế và hợp tác
công nghiệp quốc phòng với các hoạt động quốc phòng khác. Tranh thủ và tận dụng
mọi nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, sự hỗ trợ về vật chất, trang bị...
của các đối tác, nhất là các nước công nghiệp phát triển để tăng cường tiềm lực
quốc phòng. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp quân
đội Việt Nam được đẩy mạnh; đến năm 2021, có 11 doanh nghiệp quân đội Việt Nam
triển khai hoạt động đầu tư ra nước ngoài với tổng số 43 dự án tại 13 quốc gia.
Hợp tác kỹ thuật quân sự có những bước phát triển mới về chất, từ chủ yếu mua
sắm trước đây sang giai đoạn chuyển giao công nghệ, tự sửa chữa, cải tiến và
sản xuất.
Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế về tình báo quốc phòng tiếp tục
được duy trì, thúc đẩy thông qua các cơ chế hợp tác tình báo, góp phần nắm bắt
quan điểm, chủ trương của các nước đối với những vấn đề quốc tế, khu vực có
liên quan đến an ninh, lợi ích của Việt Nam. Tích cực vận động các nước, các tổ
chức quốc tế ủng hộ công tác khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc da
cam/dioxin tại Việt Nam. Hoạt động hợp tác quốc phòng đa phương tiếp
tục có những bước phát triển tích cực cả về lượng và chất. Đối ngoại
quốc phòng đa phương có sự chuyển biến mạnh từ “tham dự” sang “chủ động đóng
góp xây dựng định hình luật chơi chung”. Tham gia đầy đủ, liên tục các cơ chế
hợp tác quân sự, quốc phòng do ASEAN dẫn dắt, tham gia có trách nhiệm vào các
diễn đàn an ninh quốc tế lớn, các tổ chức đa phương quốc tế và khu vực. Việt
Nam đảm nhận và chủ trì thành công các hoạt động hợp tác thực chất; tích cực cử
lực lượng quân đội tham gia các hoạt động thực tế trong khuôn khổ ASEAN và hoạt
động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Lãnh đạo cấp cao Bộ Quốc phòng thường
xuyên tham dự và phát biểu tại các diễn đàn an ninh quốc tế lớn, như Hội nghị
thượng đỉnh an ninh châu Á (Singapore), Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh (Trung
Quốc), Hội nghị An ninh quốc tế Moscow (Nga)... tạo dư luận tốt cả trong nước
và quốc tế về vai trò tích cực, chủ động và trách nhiệm của Việt Nam, góp phần
bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam. Việt Nam coi Liên hợp quốc là đối
tác hợp tác quốc phòng quan trọng, ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện các
sáng kiến hợp tác quốc phòng đa phương có lợi cho hòa bình, ổn định và hợp tác
phát triển trong khu vực và trên thế giới. Trong
lĩnh vực gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, sự tham gia của Việt Nam mở rộng
cả về hình thức, quy mô và địa bàn, góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam trong
mắt bạn bè quốc tế, cũng như tăng cường khả năng hội nhập quốc tế và làm việc
trong môi trường đa phương của Quân đội nhân dân Việt Nam, được Liên hợp quốc
và các đối tác quốc tế đánh giá cao, góp phần củng cố lòng tin chiến lược, nâng
cao vị thế và uy tín của đất nước và quân đội trên trường quốc tế.
HAIVAN
Xây dựng và phát huy phẩm chất liêm, chính, nhằm xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải đi đầu trong việc xây dựng phẩm chất liêm, chính thời đại mới, phải rèn luyện, thực hành liêm, chính từ trong tư tưởng đến hành động, có ý thức thực hiện liêm, chính trong công vụ, trong sử dụng quyền lực, trong tự tu dưỡng, rèn luyện, trong lối sống cá nhân, gia đình... Cán bộ, đảng viên phải giữ vững sứ mệnh, trách nhiệm, giữ vững niềm say mê cống hiến cho lý tưởng và niềm tin cách mạng, tri thức phải gắn với thực tiễn, lời nói phải đi đôi với hành động để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, giàu mạnh. Cụ thể là:
Trước hết, để nuôi dưỡng phẩm chất liêm, chính, trong sạch, đội
ngũ cán bộ, đảng viên phải củng cố niềm tin và lý tưởng cách mạng.
Đây chính là trụ cột tinh thần để người cộng sản có bản lĩnh vững
vàng trước mọi thử thách. Một khi đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp lung
lay niềm tin, mất tính đảng, mất mục đích chính trị, mất sự trong sáng về lý
tưởng, đạo đức cách mạng thì có thể bị sa vào vòng “chệch hướng”, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất. Chỉ bằng cách chăm chỉ vun
đắp gốc rễ đạo đức và củng cố nền tảng tư tưởng, niềm tin, người cán bộ, đảng
viên mới ngăn chặn, vượt qua được sự cám dỗ của những lợi ích vật chất tầm
thường và tránh được thói xa hoa, hình thức. Chỉ khi có lý tưởng và niềm
tin vững vàng, tầm vóc của những người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh
đạo mới cao hơn, tầm nhìn mới bao quát hơn, trí tuệ mới rộng mở hơn; từ đó,
kiên định đường lối chính trị đúng đắn, vững vàng trước những thử thách, khó
khăn, có ý thức chống lại sự xói mòn về tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống
và mãi mãi giữ vững bản lĩnh chính trị của người cộng sản chân chính.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương liêm khiết, góp
phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển văn hóa chính trị tích cực,
lành mạnh; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Cần nâng cao nhận thức toàn diện về lịch sử của Đảng ta, củng cố ý
thức về truyền thống của Đảng và lòng tự hào về Đảng, tăng cường tính liên kết,
hiệu quả và sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Từ khi thành lập đến nay, Đảng
luôn xác định hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân là mục đích, sứ mệnh của Đảng;
coi liêm, chính là yêu cầu cơ bản đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ
lãnh đạo trong toàn hệ thống chính trị. Đảng luôn đặt việc thực hiện kỷ luật
đảng ở vị trí quan trọng; chính vì thế, hệ thống quy định về liêm, chính cần
được coi là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các quy tắc, quy định của Đảng
nhằm tạo nên kỷ luật nghiêm minh trong Đảng và kỷ cương trong toàn hệ thống
chính trị.
Đảng ta xác định rằng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch,
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay là vấn đề
sinh tử của Đảng và chế độ. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một hiện tượng
toàn cầu, là một căn bệnh nhức nhối, dai dẳng. Vì vậy, việc xây dựng một nền
chính trị trong sạch cũng là một vấn đề thực tế, là mục tiêu mà mọi quốc gia và
chế độ phải hướng tới. Trong những năm gần đây, một số đảng chính trị trên thế
giới mất vị trí cầm quyền, hầu hết đều liên quan đến việc đảng chính trị mất đi
sự trong sạch và bản chất tiên tiến, do xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực trong nội bộ, không theo kịp yêu cầu của sự phát triển và tiến bộ xã
hội, không kiên cường củng cố, xây dựng nội bộ, đánh mất khả năng đối phó, giải
quyết các vấn đề phức tạp, và cuối cùng là đánh mất lòng dân. Thực tiễn
sinh động này là bài học sâu sắc, nhắc nhở chúng ta rằng, lòng dân như nước,
bởi thế nước có thể đẩy thuyền, nhưng cũng có thể lật thuyền. Chính vì lẽ đó,
phát triển văn hóa chính trị trong sạch, nêu gương liêm khiết, trung thực, ra
sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là kinh nghiệm và bài học vô
cùng quý báu mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các
cấp, bắt buộc phải thực hiện trong quá trình lãnh đạo xã hội, đất nước; đồng
thời, cần gắn với phát huy và lan tỏa giá trị của sự liêm, chính thẩm thấu vào
hoạt động của chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng và mọi tầng lớp nhân dân.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách
nhiệm và dám chịu trách nhiệm.
Là cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo thì phải nâng cao
tinh thần trách nhiệm, phải nắm bắt, triển khai công việc đến cùng và làm cho
tốt, cho có hiệu lực, hiệu quả. Để có đủ dũng khí, bản lĩnh và dám chịu
trách nhiệm trong công việc, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải
bám sát nội dung công việc, chủ động và sáng tạo trong tổ chức thực hiện, tăng
cường kiểm tra, giám sát, xử lý dứt điểm những vấn đề nảy sinh; đồng thời, cần
có động cơ trong sáng, có tinh thần thượng tôn pháp luật, định vị rõ vị trí,
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình. Đây chính là “nguồn gốc”, điều kiện
để trở thành tấm gương của sự trung thực và liêm, chính.
Quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên là do Đảng và nhân dân
giao phó. Điều lệ Đảng và Hiến pháp đều quy định rõ cán bộ, đảng viên phải thực
hiện đúng quyền hạn, tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, của tổ chức; hành động
theo pháp luật; trung thực, liêm khiết, phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân
dân. Bối cảnh mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn cẩn trọng,
giữ mình, tự kiểm tra, giám sát, tự phê bình, tự học hỏi và bồi dưỡng, rèn
luyện nhằm nâng cao hiệu quả trong công việc, quản lý thật chặt chẽ, nghiêm túc
đời sống bản thân, gia đình, cơ quan, đơn vị.
Thứ tư, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương xây dựng gia đình
nền nếp, văn hóa.
Xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa là một bộ phận quan trọng của
việc xây dựng phong cách, lề lối làm việc của người cán bộ, đảng viên, đồng
thời cũng là yêu cầu cơ bản để tăng cường xây dựng phẩm chất liêm, chính của
họ. Thực tiễn hiện nay cho thấy, có một bộ phận cán bộ, đảng viên vì gánh nặng
tình cảm gia đình mà trượt chân xuống vực sâu của tham nhũng, lãng phí, tiêu
cực. Do đó, một yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là mọi cán bộ, đảng viên
không chỉ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, mà còn phải quản lý tốt
gia đình, nêu gương xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa, văn minh.
Cán bộ, đảng viên trước hết phải quản trị tốt bản thân, chấp hành
nghiêm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có ý thức thực hành cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ra sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực; làm người trong sạch, làm việc trong sáng. Bên cạnh đó, mỗi người cần
nghiêm khắc yêu cầu vợ, chồng, con cái và người thân không được phép đặc quyền,
đặc lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để mưu cầu lợi ích cá nhân và có
những hành vi bất chính. Việc vợ, chồng, con cái và người thân của cán bộ, đảng
viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, tuân thủ hay không tuân thủ đạo đức xã hội, đạo
đức nghề nghiệp, đạo đức gia đình thường được xã hội hết sức quan tâm, liên
quan đến hình ảnh, uy tín của bản thân người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ
lãnh đạo và ảnh hưởng trực tiếp đến sự đánh giá cũng như niềm tin của quần
chúng nhân dân đối với Đảng. Do vậy, các cán bộ, đảng viên cần quan tâm
hơn nữa đến vợ, chồng, con cái và người thân của mình, giám sát, hướng dẫn họ
giữ gìn sự tự trọng; kế thừa và tiếp nối những nét văn hóa truyền thống tốt
đẹp, nền nếp gia phong của các bậc tiền bối cách mạng, nêu gương về tuân thủ
pháp luật, giữ gìn liêm, chính, xây dựng văn hóa gia đình và nếp sống tốt đẹp
thông qua tự tu dưỡng, rèn luyện.
HAIVAN


