Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2023

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3


Lịch sử ngày 8/3 bắt đầu từ phong trào của nữ công nhân ngành dệt nước Mỹ vào cuối thế kỳ XIX. Ngày 8/3/1857, các công nhân ngành dệt đứng dậy chống lại những điều kiện làm việc khó khăn và tồi tàn của họ tại thành phố New York. Hai năm sau, cũng trong tháng 3, các nữ công nhân Hoa Kỳ trong hãng dệt thành lập công đoàn đầu tiên đã được bảo vệ và giành được một số quyền lợi.
Khoảng 50 năm sau, ngày 8/3/1908, 15.000 phụ nữ diễu hành trên các đường phố New York đòi tăng lương, giảm giờ làm việc và hủy bỏ việc bắt trẻ con làm việc. Sau đó, Đảng Xã hội Hoa Kỳ tuyên bố Ngày Quốc tế Phụ nữ là ngày 28/2/1909.
Tuy nhiên, đến ngày 8/3/1910, tại Hội nghị phụ nữ do Quốc tế thứ 2 (Quốc tế Xã hội chủ nghĩa) tổ chức, 100 đại biểu phụ nữ thuộc 17 nước đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Chủ tịch Hội nghị là bà Clara Zetkin, phụ nữ Đức, đã đề nghị chọn một ngày quốc tế phụ nữ để nhớ ơn những phụ nữ đã đấu tranh trên toàn thế giới. Hội nghị đã quyết định chọn ngày 8/3 làm Ngày Quốc tế Phụ nữ, ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với những khẩu hiệu: “Ngày làm việc 8 giờ”, “Việc làm ngang nhau”, “Bảo vệ bà mẹ và trẻ em”.
Từ đó, ngày 8/3 hàng năm trở thành ngày đấu tranh chung của phụ nữ lao động trên toàn thế giới, là biểu dương ý chí đấu tranh của phụ nữ khắp nơi trên thế giới đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội; vì quyền lợi hạnh phúc của phụ nữ và nhi đồng.
Ở nước ta, vào ngày 8/3 còn là dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ nguyên bờ cõi, giang sơn đất Việt.
Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa và nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của các Lạc hầu, Lạc tướng, của những người yêu nước ở khắp các thị quận và đông đảo lực lượng là phụ nữ tham gia khởi nghĩa.
Ý nghĩa ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3
Ở một số nước trên thế giới, ngày 8/3 được coi là ngày lễ chính trong năm và tổ chức rất lớn. Trong những xã hội này, đàn ông tặng hoa và quà cho những người phụ nữ trong đời của họ như mẹ, vợ, bạn gái…
Tại một số quốc gia, ngày Quốc tế Phụ nữ được kỷ niệm bằng những hoạt động liên hoan, diễu hành đòi quyền bình đẳng với nam giới, ở các vấn đề thực tiễn như mức lương, cơ hội giáo dục đào tạo, và thăng tiến trong nghề nghiệp, hay là điều kiện an sinh xã hội, chống mại dâm và bạo lực đối với phụ nữ…
Ngày Quốc tế Phụ nữ tại Việt Nam
Ở nước ta, ngày 8/3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, 2 vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại chủ quyền dân tộc. Niềm tự hào và ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam một phần cũng có cội nguồn từ truyền thống dân tộc độc đáo đó.
Tại Việt Nam, để thể hiện sự tôn vinh những người phụ nữ, một nửa thế giới, các cơ quan, đoàn thể, gia đình thường tổ chức kỷ niệm ngày 8/3 rất trang trọng, tràn ngập hoa và những lời chúc tốt đẹp. Ngày 8/3 cũng là ngày nam giới thể hiện sự chăm sóc yêu thương cho người phụ nữ mà họ yêu quý.
Có thể là hình ảnh về 4 người, mọi người đang đứng và văn bản cho biết 'NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3'
Tất cả cảm xúc:
3

Không thể xuyên tạc chính sách đối với người có công

     Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng không ngừng quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công và đẩy mạnh phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa" với nhiều hoạt động thiết thực nhằm thể hiện tình cảm, trách nhiệm sâu sắc đối với những người đã chiến đấu, hy sinh tính mạng và một phần xương máu của mình vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc. Thế nhưng, bằng mọi thủ đoạn, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đã không ngừng xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người có công nhằm kích động chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc... 

Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiện vì cách mạng với người ngả xuống trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân đế quốc, phản bội Tổ quốc; đồng thời, gây ra những hành động cụ thể để hạ thấp, phủ nhận sự hy sinh, cống hiến của người có công; cho rằng đất nước được giải phóng là do công sức của toàn dân tộc chứ không riêng gì thương binh, liệt sĩ.

Lợi dụng những vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương, chúng viết bài, đưa thông tin, hình ảnh… trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng, thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách ưu đãi đối với người có công, đổ điều cho rằng, kinh kế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho thương binh, liệt sĩ. Mục đích kích động chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. 

Bất chấp đạo lý, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, phản động luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để xuyên tạc, chống phá. Họ hạ thấp sự hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, thương binh trong quá trình giải phóng dân tộc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công nhằm kích động, chống phá chế độ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Dẫu biết rằng, những thủ đoạn trên tuy không phải chiêu trò mới mà các thế lực thù địch thực hiện trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, người có công là thủ đoạn thể hiện sự tột cùng của bản chất bất nhân, vô ơn, bạc nghĩa để phục vụ mục tiêu chống phá, tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phủ nhận sự hy sinh to lớn của các Anh hùng liệt sỹ, khoét sâu vào mất mát, nỗi đau chiến tranh, tổn thương thân nhân gia đình liệt sỹ, thương binh, người có công với cách mạng.

Trước những dã tâm đen tối, thủ đoạn đê hèn, tàn độc của số cá nhân cực đoan, những tổ chức phản động; là công dân Việt Nam, mỗi chúng ta cần thẳng thắn lên án, vạch trần, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước ta trong tình hình hiện nay. Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ, giúp họ hiểu, biết ơn và trân trọng những đóng góp hy sinh xương máu của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện sai trái, xuyên tạc về chính sách người có công với cách mạng.

NÊU GƯƠNG - MỘT PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO HIỆU QUẢ CỦA ĐẢNG

 

Nêu gương là một phương thức quản trị xã hội trong các lý thuyết triết học, chính trị từ rất lâu của loài người. Nêu gương cũng là truyền thống quý báu của dân tộc, của Đảng ta; là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng...
Qua các văn kiện của Đảng, có thể khái quát phương thức lãnh đạo của Đảng gồm: một là, Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; hai là, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; ba là, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị và bằng công tác tổ chức, cán bộ; bốn là, Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát; năm là, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên.
Nêu gương là một phương thức quản trị xã hội trong các lý thuyết triết học, chính trị từ rất lâu của loài người. Nêu gương cũng là truyền thống quý báu của dân tộc, của Đảng ta; là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng; là một trong những nội dung cơ bản, cốt yếu, cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”; “nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”. Người đặc biệt coi trọng trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao, đặc biệt là ở những thời điểm vô cùng khó khăn, đầy thử thách của sự nghiệp cách mạng. Trong suốt cuộc đời của mình, Bác Hồ luôn thực hành trách nhiệm nêu gương và Bác đã trở thành tấm gương sáng ngời, có sức lan tỏa và sức thuyết phục vô cùng mạnh mẽ để cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta học tập, noi theo.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng từng xác định phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát;... Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan Nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.
Ngày 18/5/2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số số 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Thực hiện trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những phương thức lãnh đạo rất quan trọng của Đảng. Việc gương mẫu, nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, chính là “mệnh lệnh không lời”, là phương thức lãnh đạo đúng đắn, hiệu quả, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ.
Nói đi đôi với làm, năm 1945, Chính phủ mới ra đời, phải đối mặt với “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Bác Hồ kêu gọi toàn dân cứu đói cho đồng bào, Bác đã nghiêm túc thực hiện trước để làm gương cho mọi người làm theo. Người nói: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Người cũng từng nói: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”.
Trong suốt các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, đã có rất nhiều sự thực hành nêu gương của các đồng chí lãnh đạo các cấp, của đông đảo cán bộ, đảng viên của Đảng thực sự có tính thuyết phục, lan tỏa trong mỗi địa phương, đơn vị và toàn xã hội, góp phần quan trọng để chiến thắng giặc ngoại xâm, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao vị thế của đất nước, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, Nhân dân với Đảng, với chế độ.
Những kết quả đạt được là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, việc học tập, quán triệt, thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn có những hạn chế nhất định. Vẫn có hiện tượng những người nêu gương tốt chủ yếu là những cựu chiến binh, người cao tuổi, người không giữ các chức vụ cao,... Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ chốt, học tập, quán triệt không nghiêm túc, nhận thức chưa thật đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, yêu cầu và nội dung, biện pháp nêu gương,... Vẫn có tình trạng chưa rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nêu gương; chưa thật sự đúng mực trong lời nói, ứng xử, việc làm; còn có những biểu hiện “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt là, một số cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước rất nghiêm trọng, thậm chí phải xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự, gây dư luận bức xúc, giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Muốn hoạt động nêu gương đạt được kết quả tốt, phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, quy định của Đảng, của các tổ chức, cấp ủy đảng về trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi tổ chức, cá nhân, nhất là những người ở cương vị chủ chốt phải có tổ chức ký cam kết cụ thể, tạo ra sự chuyển biến rõ nét qua từng thời gian, từng nội dung công việc. Chức vụ càng cao, vị trí càng quan trọng càng phải gương mẫu. Như vậy mới có tính thuyết phục, tạo ra sự lan tỏa, tác động thúc đẩy đối với cán bộ cấp dưới và toàn xã hội.
Thực hiện nêu gương cũng là cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên “tự soi”, “tự sửa”, phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong từng hoạt động cụ thể; đồng thời, là căn cứ để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, đảng viên theo dõi, giúp đỡ và kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện trách nhiệm nêu gương.
Hoạt động nêu gương cần được thường xuyên, liên tục, đưa vào theo dõi, nhận xét, đánh giá trong sinh hoạt định kỳ, đưa vào chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy các cấp, làm cơ sở cho việc đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay.
Anh Đặng
Nguồn: Báo Nghệ An

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

     Trước âm mưu của các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; chúng đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong

 Để làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Đẩy mạnh tuyên truyền về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước; phổ biến những thành tựu mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Phát huy hiệu quả đội ngũ cộng tác viên trong tham gia viết bài đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên các báo, tạp chí. Đồng thời, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu, thực hiện phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.

Hai là, tăng cường xây dựng, chính đốn Đảngnâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là tiền đề quan trọng để xây dựng cơ quan, đơn vị “mẫu mực, tiêu biểu”; đồng thời, tạo môi trường trong sạch, lành mạnh để ngăn ngừa sự xâm nhập những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào đơn vị. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng nâng cao chất lượng ra nghị quyết, sinh hoạt đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng; tập trung vào giáo dục “đạo đức người cán bộ, đảng viên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Gắn xây dựng Đảng về đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, cao đẹp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt phải nêu gương thực hành đạo đức, tạo sự lan tỏa thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

          Ba là, kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội trước các sự kiện, vấn đề nảy sinh, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch. Thông tin kịp thời các phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, chỉ rõ mục tiêu, luận điểm sai trái và cung cấp luận cứ đấu tranh phản bác, làm cơ sở cho các lực lượng viết tin, bài đấu tranh. Đối với các vấn đề phức tạp, nhạy cảm, phạm vi tác động, ảnh hưởng lớn cần bám sát định hướng của trên, chủ động xây dựng các văn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện, tạo sự thống nhất cao trong hoạt động đấu tranh.

Bốn là, thường xuyên nắm tình hình, tổ chức công tác đối thoại, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cán bộ đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tạo thế trận lòng dân vững chắc.

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới, tạo  điều kiện, tiền đề vững chắc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, quyết tâm mạnh mẽ hơn để phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên theo định hướng XHCN.

Yêu cầu đối với tăng cường hợp tác quốc phòng trong tình hình mới


Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, trong đó “hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn... Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan”; cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt. Theo đó, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đòi hỏi việc tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng cần thực hiện tốt một số yêu cầu cơ bản sau:

Một là, hợp tác quốc phòng phải góp phần giữ vững mục tiêu, con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

Mọi hoạt động hợp tác quốc tế phải nhằm góp phần hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong đó “tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”. Hợp tác quốc phòng phải hướng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” . Trong đó hướng đến mục tiêu “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”. Hợp tác quốc phòng phải trực tiếp góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tăng cường uy tín, vị thế, ảnh hưởng của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế, đưa Việt Nam trở thành một trong những thành viên giữ vai trò quan trọng trong các cơ chế hợp tác quốc phòng của khu vực. Đồng thời, hợp tác quốc phòng góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộctạo cơ sở nền tảng để phát triển toàn diện đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Hai là, hợp tác quốc phòng luôn bám sát đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Hợp tác quốc phòng phải “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại” trên tinh thần “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Thường xuyên quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn. Đồng thời, mọi hoạt động hợp tác quốc phòng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng giữ quyền độc tôn lãnh đạo hoạt động đối ngoại quốc phòng; quyền lãnh đạo đó không san sẻ, chia sẻ cho các lực lượng, tổ chức chính trị - xã hội khác. Mọi hoạt động hợp tác quốc phòng đều phải bám sát quan điểm, chủ trương, phương châm, mục tiêu, nội dung, phương thức mà Đảng xác định. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động này được cụ thể hóa thông qua vai trò quản lý của Nhà nước, trực tiếp là Bộ Quốc phòng và chỉ huy các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ba là, đẩy mạnh hợp tác song phương, nâng tầm hợp tác đa phương về quốc phòng, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phương châm đối ngoại: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”Đặc biệt, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ hiện đại và toàn cầu hóa cần “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”  để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Do vậy, cần đẩy mạnh hợp tác quốc phòng song phương với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Tiếp tục đưa các quan hệ hợp tác quốc phòng đã được thiết lập giữa Việt Nam với các nước, nhất là các nước lớn đi vào chiều sâu, thực chất, thiết thực và hiệu quả, phù hợp với từng đối tác, tình hình thế giới và điều kiện, nhu cầu của đất nước; tạo sự đan xen, gắn kết, ràng buộc và cân bằng lợi ích về chính trị với quốc phòng, an ninh giữa Việt Nam với các nước.

Nâng tầm hợp tác quốc phòng đa phương nhằm góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia; chủ động, tích cực cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh; tham gia và đóng góp định hình các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh mà Việt Nam là thành viên, trước hết là các cơ chế do ASEAN giữ vai trò trung tâm, như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Sẵn sàng tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh phù hợp với khả năng và lợi ích của Việt Nam, trong đó có các cơ chế quốc phòng, an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Liên minh châu Âu và Liên hợp quốc. Tiếp tục đóng góp thực chất, hiệu quả và mở rộng quy mô, phạm vi tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn; hợp tác quốc tế khắc phục hậu quả chiến tranh; tích cực tham gia nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chủ động và tích cực tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng, an ninh đa phương và cơ quan pháp lý quốc tế khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia.

Hợp tác bảo vệ và giao lưu hữu nghị biên giới là một trong những ưu tiên đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nhằm củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển. Tăng cường hợp tác tuần tra chung, trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia có chung đường biên giới trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, di cư, nhập cư bất hợp pháp; tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai ở khu vực biên giới. Đẩy mạnh quan hệ hợp tác với hải quân và lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các nước nhằm tăng cường xây dựng lòng tin, ngăn ngừa xung đột và ứng phó với những thách thức an ninh chung, tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong việc chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nguồn lực giúp Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh.

Bốn là, hợp tác quốc phòng phải tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả.

Hợp tác quốc phòng phải tích cực, chủ động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhưng phải có lộ trình phù hợp với điều kiện, khả năng và yêu cầu trong từng giai đoạn; phải chắc chắn, thận trọng, không chủ quan, nóng vội, không bị động, bất ngờ; kiên định về chiến lược, nguyên tắc, nhưng linh hoạt về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, luôn làm chủ tình thế, “biết thời, biết thế”, “cương nhu kết hợp”, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Đồng thời, hợp tác quốc phòng phải đạt được hiệu quả, đạt được mục tiêu đã xác định trong từng công việc, từng thời điểm cụ thể; ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, làm phá sản mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”. Hợp tác quốc phòng phải quán triệt và thực hiện tinh thần chủ động tiến công, mềm mại, khôn khéo, nhưng kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. Chủ động dự báo, nắm chắc tình hình, xu thế vận động của thế giới, nhất là quan hệ giữa các nước lớn có liên quan trực tiếp đến Việt Nam để đề ra chính sách quốc phòng và chủ trương hợp tác quốc phòng phù hợp; làm chủ tình hình, kiên định, kiên trì những vấn đề có tính nguyên tắc nhưng phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên tinh thần “thêm bạn, bớt thù”. Để thực hiện được điều đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại nhân dân; thường xuyên chú trọng công tác tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng có đủ bản lĩnh chính trị và năng lực, trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Trước diễn biến mau lẹ của tình hình thế giới, khu vực, hoạt động hợp tác quốc phòng nói riêng, hội nhập quốc tế nói chung phải luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện "một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Trong đó, luôn xác định lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ môi trường hòa bình, xây dựng lòng tin chiến lược, ngăn ngừa nguy cơ xung đột là mục tiêu cao nhất. Thường xuyên nắm vững đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; sáng tạo, linh hoạt trong quá trình chỉ đạo, tổ chức các hoạt động đối ngoại quốc phòng. Để thực hiện được điều đó, phải luôn đặt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong tổng thể hội nhập quốc tế và đối ngoại chung của cả nước; kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với đối ngoại, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong điều kiện mới.

HAIVAN


Hợp tác quốc tế về quốc phòng phát triển ngày càng sâu rộng và thực chất


Những năm qua, thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, mà trực tiếp là Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế”, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 806-NQ/ QUTW, ngày 31-12-2013, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, đưa hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trở thành trụ cột quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, là một trong những kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Hợp tác quốc phòng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới, đồng thời là yếu tố để thực hiện các mục tiêu quốc phòng của Việt Nam. Đây trở thành một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của quân đội trong thời bình, gắn chặt với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, sản xuất và công tác.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, hợp tác quốc phòng không ngừng được mở rộng cả bề rộng lẫn chiều sâu. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và 3 tổ chức quốc tế. Thiết lập quan hệ quốc phòng với các đối tác chủ chốt, gồm: 3 nước quan hệ đối tác hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện; 4 nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, 13 nước có quan hệ đối tác chiến lược; 13 nước có quan hệ đối tác hợp tác toàn diện.

Quan hệ hợp tác quốc phòng song phương tiếp tục được củng cố và đi vào chiều sâu, thực chất. Với các nước có biên giới liền kề, hợp tác quốc phòng tiếp tục là ưu tiên hàng đầu nhằm giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ, xây dựng và giữ vững tuyến biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác, hữu nghị và phát triển. Với các nước lớn, hợp tác quốc phòng góp phần xử lý tốt mối quan hệ, tạo thế đan xen chiến lược, vừa hợp tác, vừa đấu tranh để bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc. Với các nước đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, hình thức và nội dung hợp tác ngày càng được mở rộng và làm sâu sắc hơn trên nhiều lĩnh vực. Hợp tác quốc phòng cũng được củng cố, bảo đảm sự ủng hộ của các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đối với các lợi ích chính đáng của Việt Nam trong khu vực. Với các nước bạn bè truyền thống, hợp tác quốc phòng được duy trì phù hợp với nhu cầu của Việt Nam và khả năng của các nước bạn.

Trên cơ sở đó, quan hệ quốc phòng song phương của Việt Nam với các đối tác được thực hiện với nhiều nội dung, hình thức khác nhau, mang lại hiệu quả thiết thực. Trong đó, thúc đẩy công tác đối ngoại biên giới thông qua việc ký kết, thực hiện hiệu quả các văn bản, thỏa thuận hợp tác với lực lượng bảo vệ biên giới của các nước Trung Quốc, Lào, Campuchia; phối hợp đấu tranh chống các loại tội phạm xuyên biên giới, di cư trái phép; tăng cường các hoạt động tuần tra chung trên bộ, trên biển; tổ chức giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới với Trung Quốc, Lào và xúc tiến với Campuchia, giao lưu biên cương thắm tình hữu nghị; kết nghĩa đồn - trạm, cụm bản; trao đổi kinh nghiệm; đào tạo cán bộ, góp phần xây dựng đường biên giới trên bộ hòa bình, ổn định, hợp tác, hữu nghị và phát triển. Giai đoạn 2016 - 2021, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng chủ trì, tham mưu cho Bộ Quốc phòng tổ chức ký kết 30 văn bản hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hợp tác biên phòng, phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới. Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng 25 tỉnh biên giới đất liền tổ chức ký kết biên bản hợp tác thuộc lĩnh vực biên phòng với 60 đại diện lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới tương ứng (cấp tỉnh) của các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia. Hai bên thường xuyên, luân phiên theo định kỳ tổ chức gặp gỡ, tọa đàm theo các cấp (cấp Bộ Tư lệnh; bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố và cấp đồn, trạm biên phòng), trao đổi, phối hợp hiệu quả trên các lĩnh vực hợp tác biên phòng. Tích cực, chủ động, phối hợp hiệu quả hoạt động tuần tra song phương với lực lượng quản lý, bảo vệ biên giới các nước láng giềng được 1.817 lần/18.939 lượt cán bộ, chiến sĩ hai bên tham gia, qua đó, quản lý, kiểm soát chặt chẽ cửa khẩu, phối hợp đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, hoạt động buôn lậu, xuất - nhập cảnh trái phép, đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy; bảo đảm an ninh, trật tự khu vực biên giới với các nước láng giềng.

Ngoài ra, hợp tác quốc phòng với các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế được triển khai dưới nhiều hình thức để bảo vệ an ninh biển. Lực lượng hải quân, cảnh sát biển và các lực lượng hoạt động trên biển tăng cường giao lưu, hợp tác với các đối tác của các nước có vùng biển liền kề để thúc đẩy sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và giải quyết các vấn đề an ninh biển, thực hiện kiểm soát các vấn đề nảy sinh trên biển để phòng ngừa xung đột. Duy trì tốt công tác bảo đảm an ninh và thực thi pháp luật trên biển thông qua các cơ chế tham vấn song phương và ký kết các văn bản hợp tác; tổ chức tuần tra chung với hải quân và lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các nước; phối hợp trao đổi, chia sẻ thông tin về tìm kiếm cứu nạn và tham gia tích cực các hoạt động trong khuôn khổ đa phương. Xây dựng các cơ chế song phương và đa phương để đối phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống trên Biển Đông, hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên ASEAN trong quá trình thực hiện Tuyên bố về ứng xứ của các bên ở Biển Đông (DOC), xây dựng và thực hiện Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Hợp tác về đào tạo, trao đổi chuyên môn, nghiên cứu khoa học được chú trọng với số lượng cán bộ cử đi học ở nước ngoài ngày càng tăng, chuyên ngành được mở rộng, có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời, ta tiếp nhận hàng trăm học viên quân sự quốc tế tham gia các khóa học tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2016 - 2021, ta cử 3.954 cán bộ, học viên tham gia các khóa đào tạo dài hạn và ngắn hạn tại 39 quốc gia, như Nga, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc…  Với Lào, ta tiếp nhận 970 học viên quân sự sang đào tạo dài hạn và 2.066 cán bộ sang tập huấn ngắn hạn; với Campuchia, tiếp nhận 1.500 học viên quân sự sang đào tạo dài hạn và 3.683 cán bộ sang tập huấn ngắn hạn. Ngoài ra, thông qua các hoạt động giao lưu, huấn luyện, diễn tập chung với các nước, ta tranh thủ học hỏi nhiều kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến của đối tác, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, cũng như khả năng phối hợp hoạt động giữa các lực lượng quân đội của ta với lực lượng các nước trong khu vực và quốc tế.

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đầu tư, thương mại quân sự được quan tâm thúc đẩy và tiến hành chặt chẽ, hiệu quả; đa dạng hóa các quan hệ thương mại quốc phòng, cung cấp cho quân đội những trang thiết bị, vũ khí phù hợp với yêu cầu tác chiến. Trong khi duy trì các mối quan hệ thương mại với các bạn hàng truyền thống, Việt Nam mở rộng quan hệ thương mại với các đối tác tiềm năng, thực hiện kết hợp chặt chẽ các hoạt động thương mại, kinh tế và hợp tác công nghiệp quốc phòng với các hoạt động quốc phòng khác. Tranh thủ và tận dụng mọi nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, sự hỗ trợ về vật chất, trang bị... của các đối tác, nhất là các nước công nghiệp phát triển để tăng cường tiềm lực quốc phòng. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp quân đội Việt Nam được đẩy mạnh; đến năm 2021, có 11 doanh nghiệp quân đội Việt Nam triển khai hoạt động đầu tư ra nước ngoài với tổng số 43 dự án tại 13 quốc gia. Hợp tác kỹ thuật quân sự có những bước phát triển mới về chất, từ chủ yếu mua sắm trước đây sang giai đoạn chuyển giao công nghệ, tự sửa chữa, cải tiến và sản xuất.

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế về tình báo quốc phòng tiếp tục được duy trì, thúc đẩy thông qua các cơ chế hợp tác tình báo, góp phần nắm bắt quan điểm, chủ trương của các nước đối với những vấn đề quốc tế, khu vực có liên quan đến an ninh, lợi ích của Việt Nam. Tích cực vận động các nước, các tổ chức quốc tế ủng hộ công tác khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam. Hoạt động hợp tác quốc phòng đa phương tiếp tục có những bước phát triển tích cực cả về lượng và chất. Đối ngoại quốc phòng đa phương có sự chuyển biến mạnh từ “tham dự” sang “chủ động đóng góp xây dựng định hình luật chơi chung”. Tham gia đầy đủ, liên tục các cơ chế hợp tác quân sự, quốc phòng do ASEAN dẫn dắt, tham gia có trách nhiệm vào các diễn đàn an ninh quốc tế lớn, các tổ chức đa phương quốc tế và khu vực. Việt Nam đảm nhận và chủ trì thành công các hoạt động hợp tác thực chất; tích cực cử lực lượng quân đội tham gia các hoạt động thực tế trong khuôn khổ ASEAN và hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Lãnh đạo cấp cao Bộ Quốc phòng thường xuyên tham dự và phát biểu tại các diễn đàn an ninh quốc tế lớn, như Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (Singapore), Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh (Trung Quốc), Hội nghị An ninh quốc tế Moscow (Nga)... tạo dư luận tốt cả trong nước và quốc tế về vai trò tích cực, chủ động và trách nhiệm của Việt Nam, góp phần bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam. Việt Nam coi Liên hợp quốc là đối tác hợp tác quốc phòng quan trọng, ủng hộ và tích cực tham gia thực hiện các sáng kiến hợp tác quốc phòng đa phương có lợi cho hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới. Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, sự tham gia của Việt Nam mở rộng cả về hình thức, quy mô và địa bàn, góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế, cũng như tăng cường khả năng hội nhập quốc tế và làm việc trong môi trường đa phương của Quân đội nhân dân Việt Nam, được Liên hợp quốc và các đối tác quốc tế đánh giá cao, góp phần củng cố lòng tin chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước và quân đội trên trường quốc tế.

HAIVAN    

Xây dựng và phát huy phẩm chất liêm, chính, nhằm xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

 

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải đi đầu trong việc xây dựng phẩm chất liêm, chính thời đại mới, phải rèn luyện, thực hành liêm, chính từ trong tư tưởng đến hành động, có ý thức thực hiện liêm, chính trong công vụ, trong sử dụng quyền lực, trong tự tu dưỡng, rèn luyện, trong lối sống cá nhân, gia đình... Cán bộ, đảng viên phải giữ vững sứ mệnh, trách nhiệm, giữ vững niềm say mê cống hiến cho lý tưởng và niềm tin cách mạng, tri thức phải gắn với thực tiễn, lời nói phải đi đôi với hành động để xây dựng và phát triển đất nước phồn vinh, giàu mạnh. Cụ thể là:

Trước hết, để nuôi dưỡng phẩm chất liêm, chính, trong sạch, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải củng cố niềm tin và lý tưởng cách mạng.

Đây chính là trụ cột tinh thần để người cộng sản có bản lĩnh vững vàng trước mọi thử thách. Một khi đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp lung lay niềm tin, mất tính đảng, mất mục đích chính trị, mất sự trong sáng về lý tưởng, đạo đức cách mạng thì có thể bị sa vào vòng “chệch hướng”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất. Chỉ bằng cách chăm chỉ vun đắp gốc rễ đạo đức và củng cố nền tảng tư tưởng, niềm tin, người cán bộ, đảng viên mới ngăn chặn, vượt qua được sự cám dỗ của những lợi ích vật chất tầm thường và tránh được thói xa hoa, hình thức. Chỉ khi có lý tưởng và niềm tin vững vàng, tầm vóc của những người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo mới cao hơn, tầm nhìn mới bao quát hơn, trí tuệ mới rộng mở hơn; từ đó, kiên định đường lối chính trị đúng đắn, vững vàng trước những thử thách, khó khăn, có ý thức chống lại sự xói mòn về tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống và mãi mãi giữ vững bản lĩnh chính trị của người cộng sản chân chính.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương liêm khiết, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển văn hóa chính trị tích cực, lành mạnh; tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Cần nâng cao nhận thức toàn diện về lịch sử của Đảng ta, củng cố ý thức về truyền thống của Đảng và lòng tự hào về Đảng, tăng cường tính liên kết, hiệu quả và sức chiến đấu của các tổ chức đảng. Từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn xác định hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân là mục đích, sứ mệnh của Đảng; coi liêm, chính là yêu cầu cơ bản đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo trong toàn hệ thống chính trị. Đảng luôn đặt việc thực hiện kỷ luật đảng ở vị trí quan trọng; chính vì thế, hệ thống quy định về liêm, chính cần được coi là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các quy tắc, quy định của Đảng nhằm tạo nên kỷ luật nghiêm minh trong Đảng và kỷ cương trong toàn hệ thống chính trị.

Đảng ta xác định rằng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay là vấn đề sinh tử của Đảng và chế độ. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là một hiện tượng toàn cầu, là một căn bệnh nhức nhối, dai dẳng. Vì vậy, việc xây dựng một nền chính trị trong sạch cũng là một vấn đề thực tế, là mục tiêu mà mọi quốc gia và chế độ phải hướng tới. Trong những năm gần đây, một số đảng chính trị trên thế giới mất vị trí cầm quyền, hầu hết đều liên quan đến việc đảng chính trị mất đi sự trong sạch và bản chất tiên tiến, do xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ, không theo kịp yêu cầu của sự phát triển và tiến bộ xã hội, không kiên cường củng cố, xây dựng nội bộ, đánh mất khả năng đối phó, giải quyết các vấn đề phức tạp, và cuối cùng là đánh mất lòng dân. Thực tiễn sinh động này là bài học sâu sắc, nhắc nhở chúng ta rằng, lòng dân như nước, bởi thế nước có thể đẩy thuyền, nhưng cũng có thể lật thuyền. Chính vì lẽ đó, phát triển văn hóa chính trị trong sạch, nêu gương liêm khiết, trung thực, ra sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là kinh nghiệm và bài học vô cùng quý báu mà Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, bắt buộc phải thực hiện trong quá trình lãnh đạo xã hội, đất nước; đồng thời, cần gắn với phát huy và lan tỏa giá trị của sự liêm, chính thẩm thấu vào hoạt động của chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng và mọi tầng lớp nhân dân.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và dám chịu trách nhiệm.

Là cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo thì phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, phải nắm bắt, triển khai công việc đến cùng và làm cho tốt, cho có hiệu lực, hiệu quả. Để có đủ dũng khí, bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm trong công việc, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo phải bám sát nội dung công việc, chủ động và sáng tạo trong tổ chức thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý dứt điểm những vấn đề nảy sinh; đồng thời, cần có động cơ trong sáng, có tinh thần thượng tôn pháp luật, định vị rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình. Đây chính là “nguồn gốc”, điều kiện để trở thành tấm gương của sự trung thực và liêm, chính. 

Quyền lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên là do Đảng và nhân dân giao phó. Điều lệ Đảng và Hiến pháp đều quy định rõ cán bộ, đảng viên phải thực hiện đúng quyền hạn, tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, của tổ chức; hành động theo pháp luật; trung thực, liêm khiết, phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân. Bối cảnh mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn cẩn trọng, giữ mình, tự kiểm tra, giám sát, tự phê bình, tự học hỏi và bồi dưỡng, rèn luyện nhằm nâng cao hiệu quả trong công việc, quản lý thật chặt chẽ, nghiêm túc đời sống bản thân, gia đình, cơ quan, đơn vị.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu gương xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa. 

Xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa là một bộ phận quan trọng của việc xây dựng phong cách, lề lối làm việc của người cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng là yêu cầu cơ bản để tăng cường xây dựng phẩm chất liêm, chính của họ. Thực tiễn hiện nay cho thấy, có một bộ phận cán bộ, đảng viên vì gánh nặng tình cảm gia đình mà trượt chân xuống vực sâu của tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Do đó, một yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay là mọi cán bộ, đảng viên không chỉ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, mà còn phải quản lý tốt gia đình, nêu gương xây dựng gia đình nền nếp, văn hóa, văn minh.

Cán bộ, đảng viên trước hết phải quản trị tốt bản thân, chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có ý thức thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ra sức phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; làm người trong sạch, làm việc trong sáng. Bên cạnh đó, mỗi người cần nghiêm khắc yêu cầu vợ, chồng, con cái và người thân không được phép đặc quyền, đặc lợi, lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để mưu cầu lợi ích cá nhân và có những hành vi bất chính. Việc vợ, chồng, con cái và người thân của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, tuân thủ hay không tuân thủ đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức gia đình thường được xã hội hết sức quan tâm, liên quan đến hình ảnh, uy tín của bản thân người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo và ảnh hưởng trực tiếp đến sự đánh giá cũng như niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng. Do vậy, các cán bộ, đảng viên cần quan tâm hơn nữa đến vợ, chồng, con cái và người thân của mình, giám sát, hướng dẫn họ giữ gìn sự tự trọng; kế thừa và tiếp nối những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp, nền nếp gia phong của các bậc tiền bối cách mạng, nêu gương về tuân thủ pháp luật, giữ gìn liêm, chính, xây dựng văn hóa gia đình và nếp sống tốt đẹp thông qua tự tu dưỡng, rèn luyện.

HAIVAN